Friday, June 27, 2014

VẤN ĐỀ TẨY NÃO - Thanh Thủy

VẤN ĐỀ TẨY NÃO
Thanh Thủy

Vấn đề tẩy não con người dường như có từ đời Tần Thủy Hoàng, một nhà vua độc tài và tàn bạo, trị vì nước Trung Quốc từ năm 221 trước Công nguyên cho đến năm 207 trước Công Nguyên thì sụp đổ. Tần Thủy Hoàng vì tẩy não giới nho sinh để bắt họ theo chế độ độc tài toàn trị của ông không được nên đem tất cả đi chôn sống và đốt sạch các sách vở của họ để mong diệt trừ mầm mống đối kháng.

Từ đó đến nay đã hơn hai ngàn năm, qua biết bao giai đoạn lịch sử, hầu như tất cả mọi người đều lên án sự tàn bạo vô nhân của Tần Thủy Hoàng, nhưng trớ trêu thay, từ khi đảng Cộng sản ra đời thì chánh sách của đảng nầy lại ca tụng Tần Thủy Hoàng và việc làm của họ càng tàn bạo, tinh vi và táo tợn hơn cả Tần Thủy Hoàng của hơn hai ngàn năm trước. Không nói đâu xa, cứ nhìn cách cai trị của bọn Việt cộng từ sau ngày 30/4/1975 cho đến nay thì đủ rõ:

1. Tẩy não đồng bào trong nước: Sau khi cướp được chính quyền, bọn chúng quyết tâm tẩy não ngay tức khắc những thành phần quân cán chính Việt Nam Cộng Hoà, những đảng phái chính trị, những Tôn giáo bằng cách tập trung tất cả vào những nhà tù khổ sai mà chúng mệnh danh là trại học tập cải tạo, hiểu đúng nghĩa là Trại Tù Tẩy Não. Nhưng vì biết chắc rằng những thành phần nầy khó lòng tẩy não được theo như ý muốn, cho nên bọn chúng áp dụng một chính sách nhục hình, khổ sai với mục đích giết hết một cách âm thầm nơi rừng thiêng nước độc để có thể vừa che mắt thế gian, vừa để diệt trừ hậu hoạn. Trong khi đó thì bên ngoài xã hội, bọn chúng tổ chức rất nhiều toán thanh niên mang băng đỏ đi lục soát từng nhà xuất bản, từng nhà sách, từng những khu nhà trong xóm để tịch thâu tất cả những sách vở được xuất bản tại Miền Nam, kể cả sách giáo khoa để tập trung đốt sạch.

Riêng về thường dân không dính líu vào những thành phần trên, từ những người già cả cho đến thanh thiếu niên nam nữ, sau mỗi buổi chiều đều bị tập trung để Tẩy Não tại những khu phố để nghe cán bộ Cộng sản nhồi sọ về chủ nghĩa Cộng sản cho tới khuya mới được về nhà, trong thời gian bị nhồi sọ như thế, nếu người dân nào có lời phát biểu trái với đường lối của họ, nhẹ thì bị mời lên công an thẩm vấn bằng những hâm dọa đủ điều còn nặng thì đi tù biệt tăm.

Nếu đem so sánh thì bọn Việt cộng chẳng những áp dụng một chính sách giống hệt như chính sách của Tần Thủy Hoàng mà mức độ còn rộng lớn và quy mô hơn nhiều. Tần Thủy Hoàng bắt dân đi xây Vạn Lý Trường Thành, còn bọn Việt cộng thì lùa dân đi khai rừng hoang đầy bôm đạn chưa nổ, còn sót lại trong hơn suốt hai mươi năm chiến tranh tang tốc mà chúng gọi là “Vùng Kinh Tế Mới”.

Bọn chúng thừa hiểu rằng dân Miền Nam đã sống trong chế độ tự do dân chủ từ lâu, vì vậy khó có thể nhồi sọ một cách dễ dàng bằng lý thuyết Cộng sản, cho nên, chính sách của bọn chúng là giết chết hoặc đài ải người dân Miền Nam vào các vùng tử địa nhiều chừng nào thì bọn chúng đỡ lo chừng ấy. Biểu ngữ đã được bọn chúng dán khắp nơi trong các thành phố với hàng chữ: “Nhà sạch nhà, phố sạch phố mới xứng đáng mang tên Bác Hồ” đã chứng minh điều đó.

2. Sự hiện diện của đồng bào vượt biên, tị nạn Cộng sản ở hải ngoại: Thành phần nầy hiện diện trong cộng đồng quốc tế là cái gai nhọn khiến bọn chúng rất bực bội vì khó ăn nói trong lãnh vực ngoại giao, tuyên truyền, cho nên chính tên tưởng thú Việt cộng Phạm Văn Đồng năm xưa đã không ngần ngại thốt lên lời “hàng tôm, hàng cá” tại Pháp Quốc, đại khái quy chụp những người vượt biên là những hạng người đĩ điếm, xì ke, ma tuý, biếng nhác không muốn làm việc nên mới bỏ nước ra đi.

Khối người Việt tị nạn Cộng sản ở hải ngoại dần dà có cuộc sống ổn định, lớn mạnh và tổ chức thành các Cộng đồng, các tổ chức chánh trị, các tổ chức Tôn Giáo, lúc nào cũng lên tiếng vạch trần những hành vi bất chánh, vô nhân của chế độ Cộng sản Hà nội và tập đoàn cai tri tàn bạo của chúng.

3. Nguyên nhân trở thành đại gia: Nhận thấy rằng sự lớn mạnh của Người Việt Tị Nạn Cộng sản đã ảnh hưởng rất lớn đến công cuộc vận động quốc tế, qua đó, các nước Tây phương càng ngày càng thấy rõ bản chất vô nhân, lọc lừa và xảo trá của tập đoàn Việt cộng, cho nên những điều sỉ nhục của họ đối với tập thể Người Việt Tị Nạn trở nên trơ trẽn, điều nầy đã gây rất nhiều khó khăn cho đảng Cộng sản Việt Nam khi họ đang ra sức kêu gọi sự đầu tư của các nước Tây phương, vì vậy bọn chúng mới thay đổi thái độ, mở cửa cho những Người Việt tị nạn Cộng sản có cơ hội về thăm quê hương, mục đích để đánh lừa dư luận là họ không có tinh thần thù hận. Sau vài năm mở cửa, bọn chúng nhận thấy được “những người áo gấm về làng” đã mang đến cho họ những số ngoại tệ lớn lao bất ngờ, tạo cơ hội cho họ thi hành những thủ đoạn làm giàu bất chính. Quả đúng vậy, chỉ trong một thời gian ngắn sau đó, những tên Việt cộng lãnh đạo đảng, lãnh đạo công an, tư lịnh quân đội đã cùng nhau chia chác quyền hành, thi nhau tham ô và đã nhanh chóng trở thành những tên trọc phú, mà người ta thường gọi là đại gia hay tư bản đỏ.

Sự làm giàu nhanh chóng của tập đoàn Việt Cộng đã khiến cho một số ký giả Tây phương ngạc nhiên, đặt câu hỏi với tên Việt cộng Tổng Bí Thư đương thời là Lê Khả Phiêu là làm ăn như thế nào mà mau làm giàu đến như thế. Tên Tổng Bí Thư nầy không dám trả lời thẳng câu hỏi mà chỉ nói một câu ngắn ngủi, đại khái là Việt Nam chỉ có những tỷ phú như vậy là còn quá ít cho sự phát triển. Câu nói nầy đã mở đường cho chánh sách tham ô, cho nên, từ đó sự giàu có của những tên Việt cộng có quyền hành đã trở nên phát triển rần rộ và vô tận cho đến ngày nay.

4. Thay đổi ngôn từ và chính sách tẩy não ở hải ngoại: Từ sự làm giàu nhanh chóng nầy, tập đoàn Việt cộng mới nhận chân rằng những Người Việt Tị Nạn Cộng sản ở hải ngoại chính là những con bò sữa mà chúng cần phải tận dụng để khai thác, cho nên từ những lời xỉ vả là xí ke, ma tuý, đĩ điếm, biếng nhác trước kia, nay đổi thành lời hoa mỹ là Khúc Ruột Ngàn Dậm không thể tách rời, v.v… dành cho Người Việt Tị Nạn Cộng sản.

Tuy nhiên, mưu sự không chỉ dừng lại ở chỗ đó, lợi dụng sự bang giao quốc tế và trao đổi mậu dịch, tập đoàn Việt cộng không ngớt tung ra hải ngoại thật nhiều cán bộ tình báo để tuyên truyền, mục đích tẩy não một số người bằng cách đưa ra những miếng mồi quyền lợi và địa vị hảo để chiêu dụ, từ đó mới nẩy sinh ra những tên Việt gian, làm phân hóa và ung thối một số tổ chức, đầu tiên có thể kể là vụ Trần Trường ở Cali, bọn Trịnh Vĩnh Bình ở Hòa Lan, một số báo chí trở cờ ở Mỹ, một bọn làm văn nghệ lật lộng, một nhóm lãnh đạo đê hèn của vài đoàn thể đấu tranh và một bọn trí thức ở rải rác tìm mọi thủ đoạn để gây chia rẽ và lũng đoạn Cộng đồng, đồng thời thi hành nghị quyết 36 dưới chiêu bài hòa hợp, hòa giải với Việt cộng mới vừa chính thức xuất hiện trong thời gian gần đây để có dữ kiện thẩm định thành quả đạt được sau mười năm ban hành nghị quyết nầy.

5. Lý luận của bọn người Quốc gia bị tẩy não: Lý luận của bọn người nầy là chính sách của Việt cộng đã thay đổi thì Người Việt Quốc Gia cũng phải thay đổi cách tranh đấu cho phù hợp với trào lưu. Lý luận ngụy biện nầy biểu lộ một xảo trá nếu không muốn nói là thủ đoạn để lường gạt một số người nhẹ dạ, dễ tin. Thật sự trước mắt là chính sách của Việt cộng không có gì thay đổi cả.

Trước đây, Việt cộng cấm tự do ngôn luận, không cho tự do Tôn Giáo, không để cho dân có quyền làm người theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, cướp nhà, cướp đất, cướp ruộng vườn và tài sản của dân, tham ô, bán nước, v.v…thì ngày nay cũng vẫn y như vậy, sau đây là một vài thí dụ:

Về tự do ngôn luận: Người dân hiện nay vẫn không có quyền ngôn luận như trước, thực tế là những nhà bất đồng chính kiến, các Blogger trong nước đều bị cấm đoán và bị phạt tù với những bản án nặng nề, xảy ra thường xuyên và luôn luôn bị chỉ trích trên các diễn đàn quốc tế.

Không cho tự do Tôn Giáo: Các Tôn Giáo trong nước vẫn đều bị kiểm soát nghiêm nhặt và liên tục bị đàn áp triệt để như trước, đặc biệt đối với Phật Giáo Hòa Hảo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đạo Tin Lành, đạo Thiên Chúa, đạo Cao Đài, đến nổi Ủy Ban Tôn Giáo của Quốc Hội Hoà Kỳ đã bao lần và cũng như hiện nay đang yêu cầu chính phủ của họ đưa nước Việt Nam trở lại danh sách (CPC) liệt kê các quốc gia không có tự do Tôn Giáo trên thế giới.

Quyền làm người cũng không được Việt cộng chấp nhận như trước, cho nên đã xảy ra hàng loạt những thỉnh nguyện thư của các giới yêu chuộng nhân quyền trên thế giới, gởi đến Liên Hiệp Quốc, Quốc Hội Hoa Kỳ và các quốc gia Tây Phương để yêu cầu dùng áp lực buộc Việt cộng phải tôn trọng Nhân Quyền.

Trầm trọng và tệ hại hơn nữa là sự cướp đất, cướp nhà, cướp ruộng vườn và tài sản của dân để khai thác, bán mua trục lợi còn tệ hại hơn trước. Tình trạng đã không giảm thiểu mà ngày càng gia tăng, khiến nẩy sanh ra những đoàn Dân Oan Khiếu Kiện khắp nơi từ Bắc chí Nam mà những lời kêu oan của họ chẳng những không được hồi đáp mà còn bị đàn áp thô bạo, không nương tay, một số người dân không thể chịu đựng nổi nên liều mạng phản ứng tự vệ, chống lại công an, điển hình nhứt là vụ gia đình Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng, và mới đây nhứt là ngày 29/4/2014, công an Saigon đàn áp dã man những người Dân Oan Khiếu Kiện. Những sự kiện nầy chỉ thấy xảy ra trong những quốc gia Cộng sản mà trong đó nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là một tiêu biểu.

Vấn đề tham ô cũng vậy, ngày càng trầm trọng và xảy ra hàng ngày, bọn quyền thế ngày càng giàu sang trước bao cảnh đói khổ, lầm than của dân tộc, những trường hợp tham ô khổng lồ, ăn cắp của công tại hai đại công ty như Vinaline, Vinashin chỉ là trường hợp bất ngờ được phát giác mà thôi.

Vấn đề bán nước cũng vẫn tiếp tục, chánh thức được phơi bày từ bức Công Hàm của Thủ tướng Việt cộng Phạm Văn Đồng gởi cho Thủ tướng Tàu Chu Ân Lai năm 1958, từ đó mới phát sanh ra những tiếng nói yêu nước của nhân dân chống bá quyền Trung Cộng xăm lăng và bọn Việt cộng lộ diện là những tên thái thú cho Tàu cộng.

Trên đây chỉ là một vài sự kiện cụ thể đã và đang xảy ra trong nước cho chúng ta nhận thấy rõ ràng là chính sách cai trị của bạo quyền Việt cộng từ trước cho đến nay không hề thay đổi, ngày trước như thế nào, bây giờ cũng vẫn y như vậy, có chăng là hình thức hành xử bên ngoài có vẻ tinh vi hơn.

6. Kết luận: Những nhà đấu tranh chống cộng ở hải ngoài từ sau ngày mất nước 30/4/1075, một số người hiện nay đã thay đổi lập trường, không còn nhiệt thành chống Cộng như trước kia nữa, với luận điệu là chánh sách cai trị của Việt cộng đã thay đổi thì họ cũng phải thay đổi cách tranh đấu cho thích hợp với trào lưu qua chiêu bài hòa hợp hòa giải giả hiệu. Lời ngụy biện nầy cho thấy họ là những người, vì nhiều lý do thấp hèn đã để cho bọn cán bộ tình báo Việt cộng nhồi sọ, biến thái không còn là những Người Quốc Gia chân chánh như trước kia nữa, có nghĩa là đã bị tẩy não, phản bội đồng bào và bị người đời sỉ nhục là Việt Gian.

Gọi là chiêu bài hòa hợp hòa giải giả hiệu thật không ngoa chút nào vì những Việt gian nầy lấy hậu thuẫn và tư cách gì để điều đình hòa hợp hòa giải với bạo quyền Việt cộng? Lấy hậu thuẫn và tư cách gì để hợp tác với bạo quyền Việt cộng chống xâm lăng? Ngoài hai bàn tay không và mang tiếng là Việt gian thì thử hỏi họ làm được gì cho chiêu bài hòa hợp hòa giải ? ngoại trừ việc cúi đầu thừa hành chỉ thị của Việt cộng qua trung gian của những tên như Nguyễn Thanh Sơn để làm những trò bung xung phá rối Cộng Đồng hầu được bạo quyền ban phát cho chút hơi hám nào đó. Quyền lợi trước mắt như thế nào thì chưa biết, nhưng thảm cảnh bỏ của chạy lấy người là việc xảy ra bình thường trong xã hội của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Nhìn những gương thảm hại của những Trần Trường ở Cali, những Trịnh Vĩnh Bình ở Hòa Lan vẫn chưa đủ để sáng hai con mắt hay sao?.

Mang tiếng là Việt gian thì có lẽ không còn nỗi ô nhục nào lớn hơn, người đời phỉ nhổ không chỉ riêng họ mà còn ảnh hưởng đến cả gia đình và con cháu của họ nữa.

Rất may là thành phần Việt gian nầy chỉ có một số ít ỏi, không đáng kể và đã bị đồng bào cùng Cộng đồng sớm vạch mặt chỉ tên.

Thanh Thủy


No comments:

Post a Comment