Thursday, September 18, 2008

BẢO TOÀN ĐẤT TỔ HAY TIẾP TAY VỚI BỌN BÁN ĐẤT TỔ?

Phùng Ngọc Sa


I. Hội Nghị Bảo Toàn Đất Tổ Kỳ II.

Nhật báo Người Việt số 6963, phát hành 30 tháng 12, năm 2004 đưa tin: Theo thông cáo báo chí của Hội Đồng Nam California Bảo Toàn Đất Tổ cho biết, Hội Nghị Diên Hồng Bảo Toàn Đất Tổ Kỳ II (HNDHBTĐT) sẽ diễn ra tại thành phố Anaheim, California trong các ngày 1 và 2 tháng 1 năm 2005 để nghe Ủy Ban Phối Hợp Hành Động của Hội Đồng Việt Nam Bảo Toàn Đất Tổ (HĐVNBTĐT) và một số đông đảo diễn giả tên tuổi tường trình về những hoạt động của Ủy Ban.

Mặc dầu đảng Việt Tân (VT) đã hao tốn nhiều công sức cũng như phải mất lắm thời gian vận động, quảng cáo, rung chuông gióng trống inh ỏi, nhưng đồng bào của ta vốn rõ biết mặt thật và sở trường của VT tức thối thân của MT là một tổ chức chuyên môn lường gạt, bịp bợm và rình rập để «chôm credit» nên ngoài một số «trí thức» và băng đảng của họ thì không mấy ai tham gia. Vì thế số người đếm được trong hội nghị tính cả ban tổ chức chỉ vỏn vẹn 106 người.

Đây quả thật là một thất bại ê chề của đảng VT, và cái được gọi là Hội Nghị Diên Hồng Bảo Toàn Đất Tổ chỉ là một chuyện đầu voi đuôi chuột.

Mặt khác, sau khi hội nghị bế mạc, đặc biệt là lúc biến cố xảy ra vào ngày 8-1-05 khi tập thể người Việt Tị Nạn hải ngoại biết được tin Trung Cộng (TC) đã dã man giết 9 ngư phủ Việt Nam và bắt đi một số nạn nhân khác mà chúng vu khống họ là hải tặc, thì tất cả mọi người đều nôn nóng mong chờ để được nghe những tin tức cập nhật mới nhất của Ủy Ban.

Tiếc thay, đợi mãi chẳng một ai thấy được tin tức và tài liệu nào của Ủy Ban phổ biến trên báo . Cuối cùng mới hay, là ai muốn có tài liệu thì theo địa chỉ gửi tiền để mua. Thật ra, hành động nầy chẳng có gì là sai trái, vì đảng Việt Tân đã bỏ tiền chi phí cho việc tổ chức ắt phải tìm cách thu vốn. Hơn nữa họï là một tổ chức chuyên kinh doanh chỉ biết đến lợi nhuận; «kháng chiến ma, khu chiến giả» họ còn dựng lên được để mua bán, thì xá gì là thông tin và tài liệu liên quan đến «Bảo Toàn Đất Tổ».


II. Vai Trò Của Đảng Việt Tân Trong Hội Nghị Diên Hồng Bảo Toàn Đất Tổ

Đồng bào hải ngoại khi nghe danh một ủy ban đứng ra lo bảo vệ đất đai của tiền nhân thì mọi người đều hoan hỉ đón chào. Tuy nhiên, khi nhận diện và sưu tra lý lịch biết được nhiều ủy viên cốt cán trong ủy ban là cán bộ cao cấp của Mặt Trận; (MT) trước đây họ từng liên lạc chặt chẻ với bạo quyền cộng sản trong nước; hoặc ủy cho một cán bộ cao cấp đảng VT đích thân nhận làm tay sai cho VC bằng cách đưa tên Nguyễn Xuân Phong Tổng Lãnh Sự CSVN tại San Francisco đến tòa thị chính Portland, Oregon, giới thiệu và vận động cho chế độ Hà Nội được tham gia một chiếc xe hoa nhân lễ truyền thông Festival tháng 6-2001 của tiểu bang, nhưng bọn VC bị nơi đây từ chối. Những hành động điển hình nầy, cọng thêm với nhiều thành tích tự nguyện làm tay sai VC khác của cán bộ MT khiến tập thể hải ngoại kết án họ là công cụ của CSVN rồi xa lánh. Thế mà họ lại đứng trong chủ động Ủy Ban Bảo Toàn Đất Tổ thì mấy ai tin được.

Ngoài ra, một điều đáng ngạc nhiên, là theo đúng tinh thần của chương trình phổ biến trong thông cáo báo chí, thì sau phần nghi thức khai mạc, giới thiệu quan khách tham dự, hội nghị sẽ được nghe lời phát biểu và chúc mừng từ quốc nội gửi tới. Sự kiện nầy hé lộ cho ta thấy, đảng VT đứng ra tổ chức «Bảo Toàn Đất Tổ» là làm theo đơn đặt hàng của bạo quyền Hà Nội. Ý CSVN muốn sử dụng đảng VT đứng ra vận động hải ngoại lên tiếng phản đối Trung Cộng, giúp Hà Nội có cớ dễ dàng thương lượng xin TC giảm bớt phần nào áp lực trong vụ lấn chiếm đất đai Việt Nam hiện nay. Do đó, khi nghe tập thể Người Việt hải ngoại lên tiếng phản đối TC, thì đã có nhiều đảng viên cộng sản ở quận Cầu Giấy Hà Nội nhại giọng chế diễu bọn đương quyền Hà Nội nói với Bắc Kinh: «Xin các Ngài (TC) giảm bớt đòi hỏi và nới tay cho, chúng con cũng muốn làm vừa lòng các Ngài lắm, nhưng bọn phản động hải ngoại nó quậy quá không tiến hành được như ý các Ngài, mong các Ngài cứ từ từ nhé.»

Riêng cái mục chúc mừng của quốc nội đũ khiến nhiều người thắc mắc và tự hỏi, bạo quyền CSVN hiện nay là một chế độ công an trị, mọi phương tiện thông tin liên lạc đều do nhà nước kiểm soát; phản gián cộng sản từng tìm phương pháp ngăn chặn mọi tin tức của chế độ không để tin tức bị rò rĩ ra ngoài, cụ thể là chúng đã nhờ chuyên gia Pháp sử dụng phương tiện điện tử tối tân nhứt lập ra một bức tường lửa để khống chế hệ thống internet cũng như e-mail, không để tin tức trong nước bị tiết lộ. Thế thì làm sao lại có chuyện người «từ quốc nội» công khai chúc mừng và phát biểu đến hội nghị, đó quả thật là một chuyện quá hoang đường. Điều nầy cho thấy, Hội Đồng Việt Nam Bảo Toàn Đất Tổ đã làm theo lệnh của cộng sản Hà Nội, nên hai bên quốc nội và hải ngoại mới hoạt động nhịp dàng và «đồng bộ» như thế.

Sở dĩ Hà Nội sử dụng Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam trước đây, đứng ra tổ chức HĐVNBTĐT Kỳ I năm 2002, và đảng Việt Tân trong HĐVNBTĐT Kỳ II vào năm 2004 vì chúng biết là đảng VT tuy bị mang nhiều tai tiếng, bị tập thể Người Việt Tị Nạn hải ngoại bất tín nhiệm và tẩy chay, nhưng dù sao đó cũng là một tổ chức từng có nhiều kinh nghiệm, đặc biệt có tài dụ dỗ phỉnh gạt.; hơn nữa MT vốn có sẵn người, lắm tiền bạc, đầy đũ phương tiện và ưu thế nhất là có nhiều cán bộ dày dạn kinh nghiệm mà Hà Nội đã cài sâu trong tổ chức, vì thế Hà Nội đã ủy cho đảng VT đứng «lãnh thầu», đóng vai cò mồi để vận động đồng bào hải ngoại; dùng tình tự dân tộc đánh động lòng yêu nước của tập thể Người Việt ở xa quê hương, đang bị đau xót trước việc đất đai của tổ tiên bị TC xâm lấn; người dân Việt Nam bị Trung Cộng giết. VC rõ biết, khi MT lên tiếng kêu gọi chắc chắn một số người vì tình yêu quê hương đồng bào sẽ đi biểu tình vận động quốc tế lên tiếng làm áp lực TC, đồng thời phản đối hành vi cướp đất giết người của kẻ thù Phương Bắc, và nhờ thế hải ngoại một phần nào sẽ đở đòn giùm cho bạo quyền cộng sản trong nước.

Ủy Ban Bảo Toàn Đất Tổ theo chiều hướng trên đã cụ thể chứng minh, đảng VT hăng hái tiếp tay với đương quyền Hà Nội mục đích là để giảm bớt sức ép của TC, họ giúp Hà Nội gở được thế bí vì, nếu xảy ra hoàn cảnh bi đát không thể tránh được việc TC gây hấn bằng võ lực, thì đã có đảng VT, một tổ chức đang muốn đóng vai đối lập cuội nhảy ra nhân danh những người yêu nước đóng góp sức người và của tiếp tay cho CSVN chống TC. Việc nầy đưa tập thể hải ngoại ở vào thế tiến thoái lưỡng nan:

- Do «máu chảy ruột mềm», nếu hải ngoại nghe lời đảng VT tiếp tay với Hà Nội, tức phải hy sinh xương máu và tài sản, nhảy vào trậïn chiến tiếp sức cho CSVN được tiếng chống lại TC, là tự nguyện không những đở đòn cho CSVN mà còn thêm nanh tăng vuốt cho bọn ác quy bám quyền.

- Còn nếu mình không nghe lời kêu gọi của đảng VT, cụ thể là không tham gia biểu tình chống TC, thì Việt Cộng (VC) sẽ rêu rao rằng, bọn hải ngoại chỉ là một bọn hèn, chúng chỉ biết đánh võ mồm, chứ đụng chuyện thì nó lánh mặt chẳng giúp đở gì; chúng là bọn tham sinh úy tử nên đâu dám xông vào chổ nguy hiểm. Cuối cùng, nếu không còn gì để dâng thêm làm vừa lòng quan thầy TC, thì cộng sản lại lùa dân đi làm bia đở đạn, lại tiếp tục hy sinh xương máu của người dân Việt Nam lương thiện, cộng sản lại giả vờ chiến đấu chống TC và lấy lại chính nghĩa là «cứu nước» để rữa đi những tội ác mà chúng đã vấy máu đồng bào hơn nửa thế kỷ qua, đồng thời lên án hải ngoại.

Thái độ của đảng VT trong những cuộc biểu tình chống TC vừa qua đã chứng minh điều đó. Một mặt họ kêu gọi đồng bào hải ngoại đi biểu tình phản đối trước Tổng Lãnh Sự Quán TC, nhưng họ đã tính kỷ, đồng bào hải ngoại một khi đã tham gia biểu tình thì không những sẽ phản đối TC, mà còn nguyền rũa luôn bọn VC, vì ai cũng biết CSVN chính là kẻ tội đồ của dân tộc, bọn người đã bán đất dâng biển cho TC. Nếu sự việc đó xảy ra ắt là mất mặt cộng sản Hà Nội, không lợi cho đảng VT. Do đó dù, ở đâu , bất cứ địa phương nào có biểu tình chống TC thì người ta chẳng tìm ra được một bóng dáng cán bộ nào thuộc đảng VT, họ chỉ núp trong bóng tối, lấy danh nghĩa Ủy Ban Bảo Toàn Đất Tổ kêu gọi đồng bào biểu tình chống TC, còn bản thân họ thì lánh mặt, vừa tránh ngừa không để mất lòng cộng sản Hà Nội vừa nêu cao danh nghĩa, chống Trung Cộng Bảo Toàn Đất Tổ như VT rêu rao.

- Chúng ta cũng rõ biết là tiếng kêu cứu và phản đối của tập thể Người Việt Tị Nạn hải ngoại chắc chắn được quốc tế đồng tình, và dưới mọi hình thức ắt dư luận thế giới sẽ yểm trợ nguyện vọng của chúng ta, nhờ đó CSVN có cớ để thương lượng với Trung Cộng xin nhẹ tay đối với bọn đương quyền CSVN. Tuy nhiên, chúng ta hãy nhận định rõ:

Hà Nội vốn mang nhiều nợ nần với TC; nhận viện trợ của TC từ khẩu súng, viên đạn đến lương thực, thậm chí đến đôi dép râu. Nợ quá nhiều thành phải trả, không trả nổi thì đành lấy đất dâng biển để trừø nợ. Lãnh thổ có bị cướp đoạt, điều đó đối VC chúng đâu cần để ý ,vì có mất thì nhân dân thiệt thòi chứ chúng có rụng sợi lông chân nào đâu mà chúng lo. Do đó, kẻ gây nên tội là bạo quyền Hà Nội, và TC thì như cụ Lý Đông A trước đây từng khẳng định: «kẻ thù Phương Bắc là tối hậu địch nhân của nhân dân Việt.» Cũng nên nhắc lại kinh nghiệm lịch sử cận đại để chứng minh: Trong cuộc kháng chiến chống Pháp vào những năm 1945-1946, nhân dân Việt Nam đã hy sinh, đóng góp không những tài lực vật lực và đổ quá nhiều xương máu, không những thế, VC còn tìm cách bóc lột bằng cách bày ra tuần lể đồng, tuần lễ vàng để vơ vét tài sản của nhân dân. Thế mà khi kháng chiến thành công, mà kháng chiến lại do chúng làm đầu nậu nên chúng dành hưởng trọn và chỉ biết nghĩ đến quyền lợi đảng, còn nhân dân là đối tượng mà chúng trở mặt hảm hại .

III. Bảo Toàn Đất Tổ Như Thế Nào?

Khi thỉnh giáo một vị thâm nho về ý nghĩa của hai chữ Bảo Toàn, và sau khi được chiết tự thì vị này đã giảng giải, Bảo tức bảo vệ; Toàn, tức là sự toàn vẹn; dùng sức lực để bảo vệ lãnh thổ được vẹn toàn. Và, bảo toàn là cố giữ cho được những gì mình đang kiểm soát và có trong tay. Với sự giải thích nầy, người viết thay mặt một số độc giả xin hỏi đảng VT và những vị trí thức khoa bảng trong Ủy Ban: Quý vị bảo vệ lãnh thổ chăng? Bảo Vệ cách nào? Bỏ tiền ra chuộc lại những vùng đất và biển đã mất như triều Nguyễn trước đây muốn bỏ tiền chuộc lại các tỉnh Miền Đông và Miền Tây Nam Việt? Hay thậm chí sử dụng võ lực, xua mấy vạn quân kháng chiến ma của Hoàng Cơ Minh đánh TC mà chiếm lại?

Mong quý vị cho biết. Riêng chúng tôi thì đã rõ bọn CSVN hiến đất, dâng biển là để trả số nợ khổng lồ mà TC đã giúp VC trong hai cuộc kháng chiến giết đồng bào, chống thực dân Pháp và đánh đuổi đế quốc Mỹ. CSVN đã tự nguyện hiến đất dâng biển cho kẻ thù Phương Bắc trên giấy trắng mực đen là để trả nợ, thì Ủy Ban làm cách nào lấy lại nó, nói chi đến việc bảo toàn cho khỏi mất. Ngay, cả phần đất chiến lược rất quan trọng bị mất mà đương quyền cộng sản Hà Nội còn chủ trương dấu nhẹm không cho nhân dân biết trừ một vài viên chức cao cấp của chế độ tỉ dụ «Khu Hand-Off Area».

Trong quyển Bạch Thư của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (CSBắc Việt) tố cáo Trung Cộng viết bằng tiếng Pháp dưới tựa đề là «La vérité: Sur les relations Vietnamo-Chinoise durant les trente dernières années» ấn hành và phổ biến vào năm 1979 và được thu hồi ngay khi Bắc Kinh chấp nhận lời cầu khẩn của Hà Nội xin nối lại bang giao với điều kiện tiên quyết của Bắc Kinh là phải loại ngay Nguyễn Cơ Thạch, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao ra khỏi hệ thống quyền lực, thì Hà Nội buộc phải thu hồi quyển Bạch Thư; (nhưng chúng tôi còn giữ lại một bản) trong quyển Bạch Thư đó viết rõ: «Kể từ ngày18-1-1974, Bắc Kinh đã ngang ngược cưỡng chiếm một vùng biển rộng tới 20.000 km2, ở phía tây đảo Bạch Long Vĩ và Trung Quốc đặt tên là Tây Thủ (West Hand) rồi khoanh vùng trên hải đồ là khu «Hand-Off Area», cấm không một ai được bén mãn khu vực nầy ngoài tàu nghiên cứu tìm kiếm dầu khí của hảng Mobil Oil, Mỹ. Xin nhớ, trong hiệp ước phân định Vịnh Bắc Bộ mặc dầu phần biển Việt Nam bị mất quá nhiều, nhưng đảo Bạch Long Vĩ vẫn thuộc của ta; thế mà TC vẫn ngang ngược tiếp tục chiếm cứ khu Tây Thủ, tức khu vực phía tây đảo BaÏch Long Vĩ phần biển của ta, lý do khu vực nầy có nhiều túi dầu khí mà trũ lượng ước tính rất cao.

Các ngư phủ Việt Nam do nhà đương quyền cộng sản không công khai thông báo phần đất bị mất, họ đi lạc vào phần đất bị TC cưỡng chiếm mà không hay biết nên bị TC nổ súng giết chết. Đây không phải lần đầu, mà đã nhiều lần ngư phủ Việt Nam bị TC tàn sát, nhưng cộng sản Hà Nội vẫn cố ém nhẹm. Sựï kiện ngày 8-1-05 khi TC giết 9 ngư phũ Việt Nam và bắt đi một số người khác nếu không nhờ truyền thông quốc tế đặc biệt là của Nhật, thì CSVN đâu có dám mở miệng phản đối lấy lệ. Vậy chúng tôi xin hỏi Ủy Ban Bảo Toàn Đất Tổ, phần đất và biển bị mất mà đương quyền cộng sản dấu không dám phổ biến, thì dựa vào đâu, tài liệu nào để quý vị bảo vệ cho toàn vẹn lãnh thổ. Lãnh thổ nào còn mà bảo vệ?

IV. Ảnh hưởng của giới trí thức tại hải ngoại

Chúng ta đã bị mất mát quá nhiều.Trong nước đất đai lãnh thổ của tổ quốc bị «dâng» đi, tại hải ngoại thì biết bao tinh hoa, chất xám vì háo danh và sợ người ta quên mình, nên cứ như những con thêu thân lao mình vào những tổ chức bất chính để bị thui chột. Sự có mặt của giới nầy trong các tổ chức được gọi là «chính phủ lưu vong», «kháng chiến ma», «chiến khu giả» không những làm hàng ngũ gọi là trí thức và tuổi trẻ dễ bị lầm lẫn, mà còn làm cho bầu không khí chính trị tại hải ngoại bị vẩn đục, khiến mọi người nghi ngờ lẫn nhau vô cùng tai hại đến công cuộc đấu tranh dân chủ, nhân quyền và tự do cho nhân dân trong nước.

Thử hỏi, với một tổ chức bị nhiều tai tiếng bịp bợm lường gạt như đảng VT trong khi họ đứng ra nhận thầu Ủy Ban Bảo Toàn Đất Tổ, một «dịch vụ» được dùng để đở đòn cho bạo quyền Hà Nội, thế một số các nhà tự nhận đại trí thức khoa bảng như thạc sĩ Nguyễn Cao Hách, bác sĩ Nguyễn Tường Bách và luật sư Nguyễn Hữu Thống, một luật sư nổi tiếng chống cộng và có cả mạng lưới nhân quyền v.v. lại tự nguyện chui vào cái «rọ» của tổ chức đó, thử hỏi làm sao đồng bào ta không bị lầm lẫn.

Với giáo sư Nguyễn Cao Hách, quả thật chúng tôi không xa lạ gì tác phong của ông; đường đường là một bậc đại trí thức, rất được kính nể trong nước; ra đến hải ngoại ông sợ người ta quên mất tên tuổi, nên gặp dịp để được người ta nhắc nhở, là ông sẵn sàng «dấn thân», tỉ như trước đây khi nghe Nguyễn Gia Kiểng và nhóm Thông Luận đề cao Nguyễn Hộ, một tên đồ tể cộng sản, thế là các vị giáo sư thạc sĩ Nguyễn Cao Hách, thạc sĩ Vũ Quốc Thúc và luật sư Nguyễn Hữu Thống bèn vội vả theo lời kêu gọi của tiến sĩ Nguyễn Bá Long ở Canada đứng lên suy tôn Nguyễn Hộ làm lãnh tụ lúc lập Mặt Trận Dân Chủ chống CSVN cùng phổ biến «thư ngõ» (giả) và lời hiệu triệu của tên Nguyễn Hộ, nhưng chẳng may, Nguyễn Hộ lại thanh minh cải chính : «mấy người muốn thì mấy người làm, tui chẳng hề có thư ngõ hay hiệu triệu và cương lĩnh gì ráo trọi, tôi chỉ biết ủng hộ Sáu Dân, (tức thủû tướng VC Võ Văn Kiệt)»thế là cả đám bị vỡ mặt. Những vị «trí thức» loại nầy, chúng tôi không lạ. Nhưng với bác sĩ Nguyễn Tường Bách, là một nhà trí thức, một gia đình vọng tộc về văn hóa, vừa là một nhà cách mạng. Năm 1945 là một lãnh tụ trẻ nhất của Việt Nam Quốc Dân Đảng từng là thủ lãnh Việt Nam Thanh Niên Đoàn, một tổ chức ngoại vi cốt cán của Việt Nam Quốc Dân Đảng, thế mà ông nhẩn tâm hủy bỏ tất cả, tự nguyện tiếp tay đánh bóng một tổ chức bất chính như đảng VT thật là khó hiểu?

Phải xác định, những vị nầy không phải là phường háo danh; họ đã có chí học hành đạt thành quả cao như thạc sĩ Hách, suốt đời hoạt động chính trị và cách mạng như bác sĩ Bách ; chúng tôi đề nghị không nên gọi là «trí thức « mà nên gọi là học thức. Lý do: vì khoa bảng mà thức, chứ không phải vì tâm tư trí tuệ.

Nhân dân ta từ trước vốn đã chịu ảnh hưởng quá nhiều của các vị học thức khoa bảng. Trước đây, nếu không có những vị đại trí thức như tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường,(2 bằng tiến sĩ ), Trần Đức Thảo, thạc sĩ triết học, đặc biệt bác sĩ Nguyễn Khắc Viện dù thân phụ của ông ta là cụ Thượng Thư Nguyễn Khắc Lễ bị cộng sản giết hại, thế mà Nguyễn Khắc Viện vẫn mù quáng chạy theo giúp cộng sản. Nếu không có những người nầy đem hết uy tín và ảnh hưởng làm vai trò lôi kéo trí thức giúp CSVN thì đâu chúng dễ đạt được thành công để hại dân hại nước. Bây giờ cũng vậy, nếu các vị trí thức khoa bảng có uy tín mà cứ chường mặt vào trong các tổ chức lưu manh chính trị ắt vận mệnh dân tộc và tiền đồ tổ quốc còn lâu mới được hanh thông được.

Than ôi! Còn đâu kiếm được một vị trí thức yêu nước như Nguyễn Trãi, người đã hết lòng phò vua giúp nước trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh; tìm đâu ra được một Phan Bội Châu, một Phan Chu Trinh trong đấu tranh chống thực dân Pháp để mở mang dân trí và canh tân đất nước. Qủa thật như Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo đã than: "Nhân tài như lá mùa thu."

V. Thái độ của đảng Việt Tân

Quả thật chúng tôi không muốn tranh cải và làm phật lòng khi viết những bài liên quan đến những sai trái của MT và đảng VT. Nhưng vì tình tự dân tộc, mặt khác do vận nước nổi trôi, mà MT cũng như đảng VT lại đang hô hào tranh đấu để cứu nước nên chúng tôi đành phải viết để nói lên sự thật. Hoạt động chính trị thì tổ chức nào chẳng vấp phạm điều sai lầm; sửa sai là việc cần thiết. Thất bại không quan trọng mà can đảm tiếp tục sự nghiệp đấu tranh mới là điều đáng quý. Nghĩ vậy nên chúng tôi đã can đảm nói thật để đóng góp phần xây dựng; biết rằng «sự thật mất lòng». Nhưng thái độ của VT trái hẳn như sự hiểu biết của chúng tôi, họ hành xử theo đúng lò cộng sản. Thay vì đưa ra những lý luận sắt bén để bẻ gảy những lời phê bình hữu lý, thì họ lại gán cho là «quậy và phá hoại», rồi sử dụng thủ đoạn hạ cấp, dùng đám lâu la, cò mồi thiếu giáo dục nhắn gửi trên đài «Tiếng Nước Tôi» hăm dọa chửi bới theo lối côn đồ, bắt chước kiểu :

- Joseph Staline, trùm cộng sản Nga Xô Viết khi bị tòa thành Vatican phê bình sự dã man tàn bạo của chế độ Xô viết, Staline đã ngạo mạn hỏi vị Giáo Hoàng Pio XII: «Liệu ông có bao nhiêu sư đoàn mà dám góp ý.»

- Nikita Krouchev, tổng bí thư đảng cộng sản Nga, khi bất bình về một phán quyết của Đại Hội Đồng Hội Đồng LHQ, bèn dở thói côn đồ cởi giầy đập bàn phản đối.

- Láu cá, cãi chày cãi cối như Võ Đông Giang và mấy tên cán bộ cộng sản trong Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 2 bên.

Trong 4 lần thay mặt chính phủ Việt Nam Cộng Hòa hướng dẫn Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến «ICCS», đi vào mật khu Mây Tào; Bời Lời và Lộc Ninh để trao đổi tù bình (ICCS= International Comission for Control&Survey) thì bọn VC cũng rập đúng khuôn mẫu; không xảy chuyện gì thì thôi, sai trái bị chỉ trích lại dở thói du côn phá vở cuộc họp có tính cách nhân đạo. Thái độ cán bộ đảng VT y hệt bạo quyền CSVN.

Sau loạt bài nói về đảng VT thì trước hết, họ cử người đến nhà trực tiếp hăm dọa cảnh cáo đòi chặt tay tác giả không cho viết; thứ đến dùng đài Tiếng Nước Tôi, là một công cụ của đảng VT để xỉ vả, khống chế những ai trái ý họ. Cụ thể là ông Lê Thanh Tùng đã công khai hăm dọa trên đài TNT rằng: «Ông PNS rồi đây sẽ ân hận về những lời phát biểu vừa qua». Không biết ông Lê Thanh Tùng sẽ sử dụng vũ khí nào đây để «làm thịt» tác giả? Dao găm, lựu đạn hay mả tấu. Chúng tôi nghĩ nếu đúng như lời phát biểu của ký giả Minh Ngôn cách đây mấy năm khi tiết lộ trên đài về lý lịch của ông Lê Thanh Tùng, chắc ông sẽ thích dùng mã tấu cho đúng nghề. Riêng về ông “tổng bí thư” “Lý Thái Hùng” thì quá nóng nảy và thiếu suy nghĩ!

Ai đời nước Mỹ đang lo chống khủng bố, mà ông lại theo bước chân bọn khủng bố, hô hào tẩy chay và hăm dọa cô lập PNS, theo ý của ông, tác giả dám viết về những xấu xa của đảng VT là phá hoại và quậy. Xin hỏi ông Lý Thái Hùng:

- Tố cáo trò bịp bợm dấu nhẹm cái chết ông Hoàng Cơ Minh để tiếp tục thu tiền kháng chiến. Chết 14 năm rồi mới khai tư là nghĩa làm sao?.

- Giỗ tổ lại đổi thành ngày Quốc Khánh. Muốn phế đi ngày nhớ công ơn của tiền nhân dựng nước.

- 30-4, Ngày Quốc Hận lại biến thành Ngày Tự Do; Ngày báo hiếu mẹ cha. Bị phê bình lại quanh co đổi thành Ngày Đòi Tự Do, không ngoài mục đích là muốn giúp VC giả bộ xóa bỏ hận thù. MT ắt quên, VC miệng nói thế chứ nào có tha cho mình đâu mà xóa hận thù.

- Ngờ nghệch không biết thế nào đảng là tổ chức chiến lược, mặt trận là bộ phận chiến thuật, cái gì trước, cái gì sau.

- Làm chính trị mà không học hỏi, không biết thế nào là Canh Tân và Cách Mạng. Đã muốn làm cách mạng, tức là triệt để. Làm gì có chuyện vừa canh tân, vừa cách mạng.

- Nói xạo và cương ẩu, ở cương vị «tổng bí thư» mà phát ngôn bừa bải khi trả lời phỏng vấn, nói «là chỉ tìm cách lật đổ CSVN rồi ai muốn gì thì làm; đảng VT chỉ lo canh tân đất nước thôi.» Thử hỏi không nắm giữ được chính quyền thì lấy đâu phương tiện và có thế và lực để vận động quần chúng thi hành đường lối và chính sách của đảng để canh tân giúp dân cứu nước. Mong ông tổng bí thư nên học lại bài học chính trị căn bản để khỏi làm trò hề mà người ta chê cười.

Phải chăng, bất cứ ai nêu đúng những sai trái của MT cũng như đảng VT đều là quậy rồi kết tội họ là quậy và phá hoại để rồi ngài "tổng bí thư" và đảng tìm cách thủ tiêu?

Chúng tôi sẽ tiếp tục vạch trần những âm mưu đen tối của đảng VT trong những ngày tới, biết rằng đây là một công việc cực kỳ nguy hiểm.

Phùng Ngoc Sa


Lời cảnh cáo, gủi Điện Báo Ánh Dương, Bà Đỗ Thị Thuấn– Golden-Pen ( ?? )

Siêu Quậy

Lâu nay được nghe tiếng bà, được biết bà là cô của thủ lãnh đỗ Hoàng điềm và là chị em dây mơ rễ má với nhà văn phản phúc Nhật Tiến, Con Ong Việt chưa có dịp thăm hỏi bà thì bỗng hôm nay bà “Ấy” trước Con Ong qua bài Viết “Vũ Công Dân và Phùng Ngọc Sa nguyên nhân chính của sự xáo trôn San Diego” đọc bài viết là thấy mùi mặt trận và nguồn gốc tác giả.

Tôi, Siêu Quậy, đại diện cho nguyệt San Con Ong Việt kể từ hôm nay đến mãi mãi về sau được đặc phái để tiếp chuyện với bà. Trong Con Ong có câu, với chính nhân quân tử, Con Ong biết lễ độ, với phường bát nháo, đám gian tà Con Ong là ma là quỷ, là thầy pháp.

Nếu kể là phường bát nháo đám gian tà, thì Phở Bò Mặt Trận “đực” hay “cái” cũng xếp loại như nhau và nói trước với bà, văn chương của Siêu Quậy tục nhiều hơn thanh.,đầu tiên nói chuyện về bài viết.

Bài viết phản công bài “Quái Nhân Phở Bò San Diego Và Bầu Cử Liên Hội Chiến Sĩ VNCH San Diego” đăng trên nguyệt San Con Ong Việt và các website bạn.

Bài viết xuất xứ từ San Diego, những tay viết ở San Diego rất ít, chưa đủ ngón của một bàn tay và, văn là người, đọc vài câu, vài chữ là biết ai rồi, chẳng ai có cái tên Trần Dũng cả, chỉ có tên đầu xỏ đang chỉ huy cả đám mặt trận và CS nằm vùng ,Lê Xuân Sơn cựu quận trưởng Củ Chi trong điện báo Phiếm đàm Hải Ngoại, PDHN, vừa bị phơi ra sáng là diễn đàn của Việt Cộng từ trong nước:

haingoaiphiemdam Designed và Maintain bởi Công Ty Tin Học Thiên Song Trụ sở: 341/47A Lạc Long Quân P.5 Q.11 Chi nhánh: 18A Bis Nguyễn Thị Minh Khai Q.1 TP. HCM – Việt Nam Tel: (848) 9746439-9055008 Fax: (848) 9749274 Administrative Contact: (e-mail khai mở site, server ở Mỹ, chịu trách nhiệm với luật pháp Hoa Kỳ)

nguyentronghoan@yahoo.com 3751 Louisiana st San Diego, CA 92104 tel:619-574-3564 (đây là địa chỉ Lê Xuân Sơn cựu quận trưởng Củ Chi).

Lê Xuân Sơn lộ diện, bịt lỗ này, chui lên lỗ khác và bây giờ thì chui lên lỗ đỗ Thị Thuấn, nhưng chui lên lỗ nào thì Con Ong cũng theo dập lỗ ấy. Siêu Quậy hôm nay, chưa có hứng để “chơi” với bà, và “chơi” với bà thì cũng chẳng hứng thú gì, kẹt lắm mới phải nhắm mắt mà “chơi” cho qua chuyện mà thôi.

Chỉ cảnh cáo trước, nếu bà còn tiếp tục đụng chạm đến Con Ong Việt, Siêu Quậy tôi bất kể bà là loài “đái chưa qua ngọn cỏ” cũng “chơi” bà bạo như chơi lũ quái nhân Phở Bò và CS Nãm Vùng “đực”. Siêu Quậy có cây viết lớn hơn cây Golden Pen (??) của bà, nhưng dùng với bà thì phí phạm, khó mà lau chùi cho sạch, cho hết mùi hôi thối. Nhưng Quậy tôi sẽ tìm cây viết khác, đen đủi xấu xí hơn vừa với bà, cọc nào, lỗ ấy. Con Ong Việt cũng mới vừa ra mắt điện báo www.conongviet.com, mới ra mắt, chưa hoàn tất, hân hạnh được tiếp đón bà là người khách đâu tiên nếu bà lên tiếng và đụng chạm đến Con Ong Việt lần nữa.

Chào bà
Siêu Quậy
(nguyệt san Con Ong Việt)



Công Bố Bạch Thư Hoàng Sa - Trường Sa



Quân Linh
Phóng Viên Thế Giới Mới

Ngày 14 tháng 9 năm 1958, Thủ Tướng của cái gọi là Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, ông Phạm V. Đồng đã bí mật gởi Công Hàm đến Thủ Tướng Trung Cộng, ông Chu Ân Lai xác nhận chủ quyền của Trung Cộng trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 14 tháng 9 năm 2008, tại Việt Nam, Đại Sứ Quán Trung Cộng họp báo công bố Công Hàm ô nhục này tại số 46 Hoàng Diệu – Hà Nội. Cũng trong ngày này và những ngày trước đó, các nhà đấu tranh cho dân chủ và các thanh niên sinh viên trong nước đã bị công an của chế độ canh giữ, bắt bớ v.v. nhằm ngăn chận cuộc biểu tình phản đối Trung Cộng. Đây không phải là lần đầu tiên bộ máy công an của chế độ được huy động để đàn áp người dân biểu lộ lòng yêu nước.

Và cũng trong ngày 14 tháng 9 năm 2008, tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Dallas, TX, một buổi hội thảo chính trị nhằm công bố Bạch Thư về Hoàng Sa - Trường Sa được tổ chức bởi ba hội đoàn có tầm vóc lớn hải ngoại: Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị VN, Tổng Hội Hải Quân và Hàng Hải VN và Tổng Hội Cảnh Sát Quốc Gia VN.

Có hơn 200 người gồm đại diện các cộng đồng, hội đoàn và thân hào nhân sĩ tại địa phương hiện diện trong buổi hội thảo. Đặc biệt một số Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị ở xa cũng về tham dự như New Jersey, New York, San Jose, Oklahoma v.v.

Các cơ quan truyền thông gồm có: Ông Thái Hoá Lộc (Báo Người Việt Dallas), ông Mai V. Đức (Báo Bút Việt), ông Nguyễn V. Lập (Báo Bút Việt), ông Trương Sĩ Lương (Báo Thế Giới Mới), bà Thu Nga (Giám Đốc Đài Truyền Hình SBTN-DFW và Đài Phát Thanh SaigonDallas 890AM) v.v.

Theo lời của Tiến Sĩ Nguyễn Văn Canh đến từ California thì Bạch Thư này là một tài liệu lịch sử để cho thế hệ mai sau xử dụng để đòi lại đất đai và lãnh hải của Việt Nam, khi có điều kiện.

“Buôn dân bán nước là tội đồ của Dân Tộc!” Ông Phan V. Phúc mạnh mẽ tuyên bố trong bài diễn văn khai mạc. Ông cũng cho biết Bạch Thư này đã được dịch sang Anh Ngữ và chuyển đến các nước trong Liên Hiệp Quốc để đánh động lương tâm thế giới.

Một tiết mục gây ngạc nhiên và hứng thú đến quan khách tham dự là qua hệ thống điện thoại cầm tay, MC Phan Đình Minh đã cho quan khách nghe lời phát biểu của nhà dân chủ Nguyễn Khắc Toàn đang ở trong nước. Ông Toàn cho biết nhà cầm quyền đã mở chiến dịch đàn áp các nhà dân chủ, thanh niên, sinh viên và dân chúng trong nước nhằm ngăn chận cuộc biểu tình trước Đại Sứ Quán Trung Cộng. Ông tố cáo nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam ôm chân Trung Cộng và có những hành động ô nhục mà lịch sử không tha thứ.

Kế đến, Ông Lý V. Long, Tổng Thư Ký Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị VN giới thiệu Ban Chấp Hành Tổng Hội và các vị đồng Trưởng Ban Tổ Chức, Ông Trần V. Chính (KHCTNCT-DFW) và Lê V. Hoan (HCSQGVN). Sau đó, Ông Nguyễn Trung Châu trình bày sơ lược lịch sử của Tổng Hội CTNCT từ những ngày đầu thành lập và sát cánh cùng các tổ chức cộng đồng cũng như đoàn thể, đảng phái chính trị, tôn giáo v.v. trong công cuộc đấu tranh chống độc tài toàn trị CSVN. Ông cũng tố cáo nhà cầm quyền CSVN trước kẻ thù phương Bắc thì khiếp nhược; trước đồng bào dân tộc thì thẳng tay đàn áp để bảo vệ ngôi vị độc tôn của đảng. Ông cho biết Tổng Hội in khoảng 3000 Bạch Thư bằng Việt Ngữ để phân phối trong và ngoài nước. Một số Bạch Thư được in bằng Anh ngữ để gởi đến các cơ quan Liên Hiệp Quốc, chính quyền các nước yêu chuộng tự do, các nước trong vùng Đông Nam Á, các thư viện lớn khắp nơi trên thế giới v.v. Sau cùng Ông giới thiệu Giáo Sư Nguyễn V. Canh, diễn giả chính thuyết trình về mục đích và nội dung của Bạch Thư.

Được biết Giáo Sư Nguyễn V. Canh là tác giả chính của Bạch Thư. Sau khi hoàn thành Bạch Thư, Giáo Sư đã nhờ Tổng Họi CTNCT giúp in ấn và phổ biến. Giáo Sư cho rằng Tổng Hội là một tập thể bao gồm Dân, Quân, Cán, Chính của chính thể Việt Nam Cộng Hoà, một chính thể duy nhất đại diện Việt Nam có hành xử chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong thời điểm Trung Cộng xua quân cưỡng chiếm vào tháng Giêng năm 1974.

Mở đầu phần thuyết trình, Giáo Sư Canh trình bày nội dung của Bạch Thư gồm 3 điểm chính: Địa Lý, Sử Học và Pháp Lý. Theo lời của Giáo Sư thì năm 1994, Trung Cộng đã cử một phái đoàn gồm 10 học giả họp với khoảng 100 học giả của Đài Loan để tìm cách chứng minh Hoàng Sa-Trường Sa là của Trung Cộng. Cả hai phái đoàn Đài Loan và Trung Cộng đã kêu gọi các Hoa Kiều ở khắp nơi trên thế giới giúp truy tìm bằng chứng. “Kết quả là chẳng có gì cả”. Giáo Sư Canh cho biết.

Về phương diện pháp lý, Giáo Sư đã trưng dẫn những bằng chứng và sách vở của các học giả Đông và Tây phương để chứng minh hai quần đảo này là của Việt Nam. Giáo Sư cũng cho biết trong bối cảnh thế giới ngày nay, hành động xử dụng võ lực để đánh chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Cộng không được quốc tế công nhận. Điểm thứ hai là khi chiếm hữu một đảo nào đó hay lãnh thổ nào đó không có nghĩa là chiếm hữu như thế thì mình (Trung Cộng) có chủ quyền.

Riêng Công Hàm bán nước mà Phạm V. Đồng đã ký, Giáo Sư Nguyễn V. Canh (NVC) cho biết theo các nhà chuyên môn về Quốc Tế Công Pháp thì Công Hàm đó chỉ là miếng giấy lộn, không giá trị pháp lý. “Hồ Chí Minh đã chơi trò láo cá vặt giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng, lúc đó thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hoà.” Giáo Sư nhận xét như vậy.

Trong phần họp báo, các cơ quan truyền thông báo chí và thân hào nhân sĩ đã đặt nhiều câu hỏi đến quý ông Nguyễn Trung Châu và Giáo Sư Nguyễn V. Canh. Ký giả Trương Sĩ Lương mở đầu bằng câu hỏi:

Hỏi: Trong trường hợp Trung Cộng đánh Việt Nam, Hoa Ky sẽ phản ứng như thế nào?

Đáp: Hiện tại Trung Cộng chỉ đe doạ vì sức mạnh quân sự chưa đủ. Trong trường kỳ thì Trung Cộng có thể xử dụng vũ khí sinh hoá để đánh VN, và hình thức chiến tranh này làm cho Hoa Kỳ không trở tay kịp.

Hỏi: Khi công bố Bạch Thư, chúng ta có cơ hội đòi lại HS-TS không? Hay chỉ là tiếng kêu trong sa mạc?

Đáp: Mục đích ấn hành và công bố Bạch Thư chỉ nhằm lưu lại một tài liệu lịch sử cho thế hệ mai sau xử dụng để đòi lại đất đai khi có cơ hội. Chúng tôi cố gắng lồng quyền lợi của VN và thế giới trước sự đe doạ của Trung Cộng trong việc chiếm đóng HS-TS. Chúng tôi hy vọng là họ sẽ lắng nghe và phản ứng.

Đề nghị: Để vận động lực lượng quần chúng, cần có sự tham gia rộng rãi từ cộng đồng, đoàn thể trong và ngoài nước.

Đáp: TH chỉ làm nhiệm vụ in ấn và gởi Bạch Thư đi khắp nơi. Tuy nhiên mọi người vẫn có thể tiếp tay bằng cách gởi Bạch Thư đến Dân Biểu, Nghị Sĩ của mình. Chúng tôi cũng kêu gọi người Việt trên thế giới tiếp tay để cứu dân tộc.

Hỏi: Ông Phạm V. Đồng có đủ tư cách đại diện dân tộc VN để dâng HS và TS cho Trung Cộng?

Đáp: Về phương diện pháp lý, Công Hàm đó chỉ là mớ giấy lộn vì không đúng theo công pháp quốc tế. Đó chỉ là một công cụ chính trị. Nếu sau này CS không còn và chúng ta có đầy đủ tư cách pháp lý thì chúng ta có hy vọng đòi lại HS-TS.

Trong lúc chương trình họp báo đang diễn ra sôi nổi với nhiều cách tay đưa lên xin phát biểu thì MC của chương trình, Ông Phan Đình Minh tuyên bố chấm dứt. Lý do là thời gian dành cho chương trình họp báo đã kéo dài gấp đôi thời gian dự trù và các diễn giả còn phải lên phi cơ đi về gấp.

Kế đến Ông Trần V. Chính đọc diễn văn kết thúc và kêu gọi các cộng đồng, hội đoàn cùng ký tên vào Bản Công Bố Bạch Thư tại Dallas.

Quân Linh – Phóng Viên Thế Giới Mới


Từ Thoai Kịch “Lá Sầu Riêng” Đến Kịch Nói “Kiện Tác Quyền”


Trương Minh Hòa

Tại miền Nam trước 1975, sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật được phát triển, nên hầu như tất cả mọi người đều biết đến những nghệ sĩ tài danh trên sân khấu kịch nghệ, cải lương như Thanh Nga, Út Bạch Lan, Thẩm Thúy Hằng ... và nhất là Kim Cương qua vở thoại kịch lừng danh mang tựa đề "Lá Sầu Riêng". Sau 1975, vở thoại kịch nầy lại được trình diễn rộng rãi qua các đoàn văn công khắp nơi, được đài truyền hình trình chiếu nhiều lần trong thời gian dài với sự dàn dựng, nhập vai của Kim Cương; đánh bạt những vở kịch nói chủ lực được Cộng Sản mang từ miền Bắc vào như: Đất Chuyển, Đại Đội Trưởng của tôi hay vở kịch ca tụng tên khủng bố Nguyễn Văn Trỗi "Sống như anh" ... thế mới biết là vở "thoại kịch" nầy đã biến thành "KỊCH NÓI" một cách nhanh chóng, không cần "kinh qua thời kỳ quá độ" như lý thuyết của Karl Marx đưa ra về giai đoạn chuyển tiếp để đi từ "chế độ tư bản sang Cộng Sản"; do đó chỉ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 là miền Nam bị "đổi đời" từ sinh hoạt, xã hội, văn hóa, nghệ thuật ... giống như sự lộ mặt của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với "nối vòng tay lớn", sau nầy là thiếu tá Quân Đội Nhân Dân và một số tên Việt Cộng nằm vùng đội lớp "văn nghệ sĩ" từng trà trộn trong dân chúng, núp dưới bình phong "nghệ thuật" để thực hiện nhiều công tác văn hóa, trí vận với sự chỉ đạo của trung tướng Trần Bạch Đằng, là Bí Thư Đặc Khu Ủy Saigon, phát triển hệ thống nằm vùng từ cơ sở đến cả bộ tổng tham mưu, sau nầy phát giác với tên Lưu Nghi và có cơ sở in ấn, phát hành báo "Cờ Giải Phóng" tại đường Phát Diệm, quận Nhì, Saigòn, do cán bộ cao cấp thành ủy tên là Phạm Trọng Tần, tức Hai Tân điều hành.

Kim Cương, tên thật là Nguyễn Thị Kim Cương, cái tên nầy trùng với một người em gái của cô (tức hai chị em lấy cùng một tên, đây cũng là điểm đáng ghi nhận), là một nghệ sĩ đa tài, có nhan sắc, duyên dáng, nên dành được nhiều cảm tình của đa số người Việt tại miền Nam trước 1975. Kim Cương từng đi trình diễn nhiều nơi, quen biết nhiều giới chức cao cấp trong chính quyền và quân đội, nên uy tín rất cao. Nữ nghệ sĩ Kim Cương có người em trai là trung úy Nguyễn Ngọc Thố, tử thương trong trận tổng công kích tết Mậu Thân 1968, thuộc tiểu khu Bình Dương. Kim Cương là người kín đáo, ngoài lãnh vực nghệ thuật, ít khi để lộ ra điều gì, là đặc trưng của những cán bộ nằm vùng cao cấp, với nguyên tắc "trèo cao, lặn sâu". Tuy nhiên cái vị thế của Kim Cương rất đặc biệt, không phải như các cụm tình báo chiến lược A 22, A 26, A 54 ... vì Kim Cương xuất hiện hàng ngày trước công chúng, thì đương nhiên là các cơ quan tình báo, phản gián cũng lưu ý, nhưng không thể tìm ra được chứng cớ, ngoại trừ việc Kim Cương đi tham dự cuộc triển lãm của Việt Minh năm 1953 tại Củ Chi.

Sau hiệp định Geneve, lúc đó Kim Cương được 17 tuổi, đi lưu diễn nhiều nơi qua đoàn cải lương do mẹ cô làm chủ là đoàn Bảy Nam; cô bắt đầu sự nghiệp với vở tuồng Lâm Sanh Xuân Nương, nên được nhà báo nổi tiếng miền Nam về bài viết sân khấu là Nguyễn Ang ca chú ý, tán dương là một nghệ sĩ thượng thặng. Từ năm Kim Cương được 20 tuổi, đã viết nhiều vở thoại kịch với bút hiệu HOÀNG DŨNG, nổi tiếng như vở "Cô Bé Lọ Lem" dựa theo câu chuyện "les Fables de la Fontaine, do cô "tự biên, tự diễn" và dành được nhiều ái mộ của khán giả. Trong số khoản 70 kịch bản do Kim Cương biên soạn dưới bút hiệu Hoàng Dũng như Trà Hoa Nữ, Nước Mắt Trẻ Thơ, Tôi là Mẹ ..v...v... thì vở "Lá Sầu Riêng" là nổi tiếng nhất, được nhiều người biết từ trước 1975, sau ngày miền Nam bị lọt vào tay giặc Cộng và nay bỗng sống lại vở "Lá Sầu Riêng" từ trong nước đến hải ngoại qua các tờ báo, đài phát thanh tiếng Việt.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, lửa cháy nhà lòi ra mặt chuột, những tên gián điệp, nằm vùng, bọn đón gió xuất đầu lộ diện, chúng nhảy múa ăn mừng chiến thắng thời cơ, mà từ suốt 1954 đến 1975, người Cộng Sản không bao giờ nghĩ đến, như là giấc mơ biến thành hiện thực với: "Tuổi lớn rồi mà như ngây thơ, ba mươi năm ta mới gặp nhau, vui sao nước mắt lại trào?" (trích từ một câu trong bản nhạc "Mùa Xuân Trên Thành Phố Hồ Chí Minh"). Những kẻ núp bóng tôn giáo như linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ ... hồ hởi phấn khởi, rạng rở ăn mừng "đại thắng mùa xuân" được đăng nơi trang đầu của các tờ báo như Saigon Giải Phóng, Nhật Báo Nhân Dân, Tin Sáng của Ngô Công Đức ... nữ nghệ sĩ Kim Cương cũng không ngoại lệ, giống như Thẩm Thúy Hằng ra đón những đoàn quân từ Trường Sơn, bưng biền, trong khi tuyệt đại đa số dân chúng lo sợ. Còn Thanh Nga thì vẫn đi hát, đến tối chủ nhật ngày 26 tháng 11 năm 1978, sau vở tuồng Thái Hậu Dương Văn Nga, trên đường về nhà, cùng với chồng là luật sư Phạm Duy Lan, bị ám sát chết. (vụ án nầy vẫn còn nằm trong bí mật, chỉ có đảng Cộng Sản là biết rõ ai là thủ phạm)

Kim Cương xuất hiện vào trung tuần tháng 5 năm 1975, cùng với một số cán bộ cao cấp trong ngành công an trong một vài công tác và tuần lễ sau thì cả hai cơ quan truyền thông lớn nhất của đảng Cộng Sản là tờ Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân đều đăng tải một bài tường thuật, nơi trang nhất, tiết lộ: Kim Cương là Thượng Tá Công An, một cán bộ nằm vùng, hoạt động đắc lực tại niềm Nam trước đây. Được biết, nhóm gia đình nghệ sĩ gồm Kim Cương, Thanh Nga, Phùng Há, Năm Phỉ ... là chỗ thâm tình với gia đình bà BÙI THỊ NGA (vợ của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát). Theo lời tiết lộ của La Thoại Tân cho biết "Kim Cương là Việt Cộng nằm vùng". Thời gian qua mau, từ 1975 đến nay, nhất là cái vở thoại kịch trước 1975 biến thành kịch nói "Lá Sầu Riêng" đã bị chìm sâu vào quên lãng, chỉ có là dư âm ngày cũ qua sự hồi niệm của những người lớn tuổi, từng sinh sống tại miền Nam. Nhưng bỗng nhiên "Lá Sầu Riêng" sống lại, giống như "ông lái đò" bỗng hồi tưởng lại cái thời xuân sanh năm nào, cũng không khác gì tên chúa ngục Hỏa Lò, đại tá công an phục viên Trần Trọng Duyệt, đã 75 tuổi, lên tiếng xác nhận từng biết và là "quản giáo" của thượng nghị sĩ, nay là ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hòa John Mc Cain. Tất nhiên đều có nguyên do, nên vụ Kim Cương nộp đơn kiện nữ ca sĩ Hương Lan và Trung Tâm Thúy Nga đòi bồi thường, gây ồn ào, vì đã "xâm phạm tác quyền", dùng vở " Lá Sầu Riêng" mà không có sự "nhất trí" của tác giả, còn tự ý sửa chữa nữa.

Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản, là vương quốc lừa đảo, nên đây là cái xã hội hổn độn, từ cán bộ, đảng viên đến dân chúng, mạnh ai nấy kiếm sống: "xã hội chủ nghĩa, không chôm chĩa lấy gì mà sống". Là chế độ nuôi dưỡng tham nhũng, ăn chận để giữ đảng (nếu diệt hết nạn nầy, lấy ai bảo vệ đảng?), tham nhũng nơi nầy bể thì đổi đi nơi khác, leo lên cao hơn, cứ thế mà phát huy. Do đó, tình trạng chụp giựt từ buôn bán, học đường, tác quyền ... là điều đương nhiên xảy ra hàng ngày, được đảng và nhà nước mặc nhiên công nhận, dù sông có thể cạn, núi có thể mòn, song cái "chân lý" ấy không bao giờ thay đổi. Cho nên, bất cứ công trình nghệ thuật như sách vở, phim, nhạc ... vừa mới phát hành bất cứ nơi nào trên thế giới, khi những "đỉnh cao trí tệ nòi người" cảm thấy bán được là lập tức được sao chép, tung ra thị trường với giá bèo, làm nhiều tác quyền bị thiệt hại nặng. Nhưng tại Việt Nam cũng như Trung Cộng, là nơi có rất nhiều "cơ sở sao chép nhân dân", thì cũng được "nhà nước, nhân dân" bảo vệ, làm sao mà tiêu diệt được.

Nhiều tác quyền bị "biên chế" một cách "sáng tạo lẫn tối tạo" từ nhiều thập niên qua, những người xâm phạm tác quyền vẫn "thanh tâm trường sang lậu", càng ngày càng "hiện đại" hóa để theo kịp đà tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Nếu muốn ngăn chận tình trạng "xâm phạm tác quyền" thì trước hết phải kết tội các "kỹ sư" chế ra máy móc, vì đây mới chính là nguyên nhân gây ra. Nhiều khi ăn cắp của người mà còn nói ngược, như trường hợp của nhạc sĩ Bảo Chấn, đã chôm chĩa nhạc của nhạc sĩ Keiko Matsui, chỉ dịch sang lời Việt "Tình Thôi Xót Xa", bị tác giả lên tiếng, thì nhạc sĩ tài ba lổi lạc "hậu" Bảo Chấn" áp dụng triết lý hành động lừa đảo của đảng: "lấy của người làm của mình, cách mạng đi từ không đến có", do đó Bải Chấn đã ra nhờ cơ quan nhà nước là "Ủy ban Nhân Dân Phường" để xác nhận là tác giả và Keiko Matsui là người ăn cắp tác quyền; đáng lẽ ra thì Keiko Matsui phải bồi thường cho Bảo Chấn, quả là ăn ngược nói ngạo, lý luận ngang bướng như Vẹm. Những vụ ăn cắp tác quyền nhan nhản ở Việt Nam, thế mà không ai thưa, vì thưa ai bây giờ? Nhiều khi lổ tiền luật sư, khi mà những người sao chép (defendent) không có tài sản thế chân, bán dĩa sang nào thì dùng để mua gạo ngày ấy. Tuy nhiên, Việt Nam cũng từng lợi dụng luật quốc tế để tranh tụng, đòi tiền như: vụ kiện chất độc da cam, vụ kiện về cá tôm, may mặc, dù "không thành công, cũng thành thông lệ" và họ rút được nhiều kinh nghiệm quí báu để thưa gởi.

Chuyện vi phạm tác quyền chỉ có hiệu lực chế tài qua hệ thống pháp lý ở các nước tự do, còn các nước độc tài thì kiện thưa cũng chẳng khác nào "nước đổ đầu vịt". Người Cộng Sản rất "nhạy bén", họ thường đưa những vụ thưa kiện, tranh chấp sang các nước dân chủ, để gây tiếng vang, nhờ các cơ quan truyền thông tư nhân phổ biến dùm. Tuy nhiên kể từ sau ngày ký thương ước với Mỹ, vào tổ chức WTO, bề ngoài nhằm chứng tỏ thiện chí trong việc thực thi những cam kết đối với các tổ chức quốc tế và mặt khác thì đảng và nhà nước Cộng Sản "điều nghiên" và áp dụng luật quốc tế, nhưng họ chỉ dùng thứ gì có lợi mà thôi. Tệ hơn là Việt Cộng cho con cháu đi du học tại các nước dân chủ, ngoài thu thập kiến thức khoa học kỹ thuật, chúng không áp dụng những hình thức sinh hoạt dân chủ để áp dụng tại Việt Nam; trái lại còn nghiên cứu khe hở luật pháp các nước tư bản để pha trộn với "luật rừng" biến thành luật buôn bán nô lệ, phụ nữ qua luật "di trú". Các du học sinh nầy cũng chỉ là "ngày nay học tập, ngày mai buôn người"; những nước Âu Mỹ đã sai lầm khi ban cấp học bổng hàng năm cho du sinh Việt Nam, họ không bao giờ muốn thay đổi chế độ, vì thay đổi như thế là làm thiệt hại gia đình,quyền lợi, nhưng nhờ thế mà các nước Cộng Sản càng củng cố.

Chuyện thưa gởi, được giải quyết tại các tòa án nước ngoài, như ở Mỹ, chi phí pháp lý đâu có rẻ, thế mà những người đâm đơn kiện, nhờ những công ty luật nước ngoài cũng phải có tiền. Từ vụ da cam, cá trơn, tôm, hàng may mặc ... nói là của tư nhân, nhưng thực ra thì có đảng và nhà nước đứng sau lưng chi trả, chớ tư nhân làm sao chịu nổi chi phí. Do đó vụ Kim Cương kiện ca sĩ Hương Lan và Trung Tâm Nhạc Thúy Nga về tội sử dụng tác quyền mà không qua ý kiến, thương lượng với tác giả, cũng phải "do đảng và nhà nước chủ trương, chi trả" qua cái công ty là Việt Copyright. Tuy nhiên, người ta đặt câu hỏi: tại sao Kim Cương lại kiện trong thời điểm nầy? Người Cộng Sản làm bất cứ cái gì cũng có "ý đồ và mục đích yêu cầu".

Theo lời Kim Cương thì vở "lá Sầu Riêng" là di sản của mẹ là bà Bảy Nam, sáng tác năm 1963, nên đây là một trong những lý do chánh đáng được nguyên đơn (plaintif) đưa ra. Tuy nhiên, xin mách nước với ông Tô Văn Lai là: đừng lo, tác phẩm nầy do Hoàng Dũng viết, nên yêu cầu Kim Cương xác định xem sự "quan hệ hữu cơ" giữa hai tên" Kim Cương và Hoàng Dũng" như thế nào? Và bên nguyên cáo phải nêu ra chứng cớ để nói là tác phẩm đó của Kim Cương?. Mới đây, Kim Cương đã lên tiếng đồng ý xù Hương Lan, vì cô ca sĩ nầy đã đăng báo trong nước để xin lổi, mặt khác cô ca sĩ từng là người "tiên phong về nguồn ca hát" mở đường cho văn nghệ sĩ đón gió trở cờ hải ngoại trở về "giao lưu văn hóa"; nhưng Hương Lan chỉ là "tép riêu" nếu có thắng kiện cũng không thu được tiền, đôi khi còn lổ tiền luật sư, khi bị cáo khai "bankrupt", thế là cái chuyện" nắm người có tóc, chớ ai nắm kẻ trọc đầu". Nên hiện nay cái mục tiêu chánh vẫn là Trung Tâm Thúy Nga. Nhưng ông Tô Văn Lai, chối dài là: không có trách nhiệm, vì các nghệ sĩ làm ra phim, đưa cho trung tâm "bán", lời bao nhiêu thì trả cho nghệ sĩ, như vậy là coi như "trớt quớt".

Được biết cái Trung Tâm Thúy Nga cũng từng tung ra nhiều "chưởng" vớt cả quân lực Việt Nam Cộng Hòa qua khẩu B 40, làm rối loạn cả hàng ngũ quốc gia hải ngoại và MC kiêm nhà văn Ngã Ba Ông Tạ: "khẳng định: "Cuộc chiến nầy là tiền kiếp", ngoài ra còn ru ngủ, cổ động tình yêu "quê hương là chùm khế ngọt, cây đa đầu làng".... rất có tác dụng để mời gọi những "khúc ruột nghìn dậm nối liền" trở về "đường xưa lối cũ" mà du lịch, du hý, du dâm ... về mua đất, mua nhà, làm ăn, buôn bán, đem tài năng về giúp đảng và nhà nước ... cũng được coi là "có công với cách mạng" đấy. Mặt khác, ở trong nước, nhiều băng nhạc của Thúy Nga cũng đã được sao chép, bán công khai, nhưng Thúy Nga có thưa làm gì? Nay thì Kim Cương thưa, cũng có lý do và mục đích.

Ngày nay, đảng và nhà nước Việt Cộng đang ngồi trên đống lửa với các vấn đề nan giải có thể đe dọa đến sự tồn vong:

- Kinh tế suy sụp, lạn phát gia tăng phản lực đến gần 30%, có khả năng làm tiêu tán chế độ-Lòng dân bất mãn cực độ, chồng chất từ hàng nhiều thập niên-Vật giá leo thang "máy" và càng ngày trở thành "không người lái", tạo ra nhiều cuộc đình công phản đối-Lòng dân sôi sục khi biết chắc là đảng Cộng Sản và Hồ Chí Minh đã dâng bán hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, hàng ngàn cây số vuông vùng biên giới cho quan thầy Trung Cộng trong thời gian gần đây, nhiều hỏa mù tung ra như:

- Trung Cộng có "phương án tác chiến" chiếm Việt Nam trong vòng 31 ngày

- Dùng cò mồi kêu gọi người Việt hải ngoại cùng nhau chống Trung Cộng để giành lại lãnh thổ, hải đảo ... tất cả những hỏa mù đó tan biến nhanh chóng, trở thành phản tác dụng khi mà mọi người đều thuộc lòng câu: "Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm".

Cho nên con bài Kim Cương vẫn còn là sáng giá, là thần tượng của những người lớn tuổi, nhất là giới quân nhân cán chính miền Nam, định cư ở các cường quốc thế giới; có thể coi là lực lượng nòng cốt, vững tinh thần nhất trong cuộc chiến chống Cộng vẫn chưa chấm dứt "ta vẫn còn sống đây". Do đó, vụ Kim Cương đâm đơn kiện ca sĩ Hương Lan và trung tâm Thúy Nga thì cũng có thể coi đây là cuộc "dàn cảnh cò mồi", nhưng là kế "thanh đông kích tây" có khả năng kéo sự chú ý của nhân dân Việt trong vài ngoài nước theo sát mà quên đi những vấn đề mà đảng Cộng Sản đang bù đầu, rối trí, phập phòng lo sợ nhất hiện nay.

Kim Cương đúng là "nghệ sĩ cứu đảng" cũng như thiền xu Thích Nhất Vẹm: "Mượn Phật cứu đảng" hay các linh mọp quốc doanh: “dòng Chúa cứu đảng"... nhất là trong lúc nguy khốn; rồi đây vụ nầy cũng chỉ là trò hề và sau cùng thì đâu lại vào đấy, nhưng lúc nầy là thời điểm mà hai bên cần tranh luận thật nhiều, càng gay cấn càng hay, để được các cơ quan truyền thông trong, ngoài nước đang tải, phổ biến, vụ nầy càng to thì đảng càng có lợi. Do đó, vụ Kim Cương thưa ca sĩ đón gió và trung tâm trở cờ chỉ là trò hề, hay nói đúng là "vở kịch lói vô duyên" được tung ra đúng thời điểm nguy kịch của đảng.

Trương Minh Hòa

Wednesday, September 17, 2008

50 năm bức Công hàm ô nhục




BBT TDNL#59

Nhờ lòng tận tụy mẫn cán, tuyệt đối trung tín, tối mặt vâng lời đảng của lực lượng công an cảnh sát, của giới giáo chức đại học, của hàng thủ lãnh đoàn thanh niên Cộng sản, cũng như nhờ sự im lặng đồng lõa, dửng dưng bất biết của nhiều lãnh đạo tinh thần, ngày 14-09-2008, thay vì biến thành một hội nghị Diên Hồng thời mới, xé toang Công hàm bán nước ô nhục cách đây 50 năm, thì đã lặng lẽ trôi qua trong tinh thần “ổn định chính trị”!!! Không lặng lẽ trôi qua sao được khi những “tên đầu sỏ” dám khua môi múa mép chống lại Thiên triều, giăng biểu ngữ phản đối Đại Hán, cất cao giọng đòi Bộ chính trị rửa nhục, đã bị cho vào nhà đá hay bị canh giữ tại nhà tư kể từ hôm 10-09 và những ngày kế tiếp rồi.

1. Cách đây 50 năm, cũng trong sự lặng lẽ của toàn xã hội miền Bắc, sự câm nín của Quốc hội bù nhìn nước Việt Nam Dân chủ, bộ chính trị mà đứng đầu là Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã mau mắn đáp lời đàn anh Trung Quốc vĩ đại.

Các “đồng chí kính mến, không thể sai lầm” Mao Chu vừa viết:

“Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa [tức Hoàng Sa], quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [tức Trường Sa], và các đảo khác thuộc Trung Quốc”.

Thế là, dù biết đó là đất đai tiên tổ để lại mà người anh em đồng bào khác chính thể đang quản lý, và đang khi Tuyên bố của Trung Quốc còn chưa ráo mực, Hồ Chí Minh cũng đã ngang nhiên chỉ thị cho Phạm Văn Đồng trả lời: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể”.

Quả thật Trần Ích Tắc, Mạc Đăng Dung, Lê Chiêu Thống cùng bao tên bán nước trong lịch sử dân tộc phải bái Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng làm sư phụ vì họ đã không mau mắn quỵ lụy Triên triều bằng. Lịch sử mấy nghìn năm chống Bắc phương của Đại Việt kể như chấm dứt từ giây phút đó!

Chưa hết, hơn một tuần sau, báo Nhân dân ra ngày 22-09-1958 đã đăng toàn văn Công hàm vừa kể, để toàn đảng, toàn dân và toàn cầu biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa. Đến tháng 02-1972, Cục Đo đạc và Bản đồ, trực thuộc phủ thủ tướng CSVN, lại phát hành Tập Bản Đồ Thế Giới, trong đó Hoàng Sa và Trường Sa bị đổi tên là Tây Sa và Nam Sa, đúng theo ý muốn của Trung Quốc. Rồi để giáo dục cho các thế hệ trẻ, Sách địa lý xuất bản năm 1974, trong bài "Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa" có viết rằng: "Chuỗi hải đảo từ Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) tới Hải Nam và Đài Loan là bức tường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc".

Tháng 5-1976, báo Saigon Giải Phóng (của những tên Việt cộng nằm vùng Ngô Công Đức, Lý Quý Chung …), trong bài bình luận việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực ngày 19-01-1974, đã nói:

“Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi!” .

Khi nào ta muốn lấy lại thì Trung Quốc sẵn sàng giao trả !?!

Rồi dù ngày 14-3-1988, Việt Cộng và Trung Cộng đã giao tranh đẫm máu tại Trường Sa khiến cho 74 chiến sĩ Quân đội Nhân dân vị quốc vong thân và một số đảo ở đấy rơi vào tay Trung Cộng (nhưng tin tức bị giấu nhẹm trên báo đài), trên tờ Nhân Dân số ra ngày 26-4-1988 ngay sau đó, Việt Cộng vẫn xác nhận sự kiện Hồ Chí Minh thừa nhận hai đảo thuộc Tàu năm 1958 là hợp lẽ.

Đang khi đó thì mấy hôm sau ngày 19-01-1974 định mệnh vốn đã khiến 58 binh sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trở thành anh hùng dân tộc trong một trận hải chiến lịch sử không cân sức, “Tuyên cáo của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa về những hành động gây hấn của Trung Cộng trong khu vực quần đảo Hoàng Sa” đã mạnh mẽ khẳng định:

“Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo ấy. Chừng nào còn một hòn đảo của Việt Nam Cộng hòa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực thì chừng ấy chính phủ và nhân dân Việt Nam Cộng hòa còn đấu tranh để khôi phục những quyền lợi chính đáng của mình”.

Tại sao Hồ Chí Minh, rồi các “học trò xuất sắc” của tên bán nước ấy như Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Trần Đức Lương, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng … đã và đang thản nhiên trước cảnh từng mảng thịt tổ quốc bị Đại Hán ngoạm dần?

Ngày nay, ai cũng biết rằng việc CSVN “bán trời không văn tự”, “lấy của chùa ve gái” năm 1958 ấy là để được Trung Cộng viện trợ súng đạn, gạo tiền và gần nửa triệu quân hầu tiến hành cuộc đánh chiếm VNCH, một cuộc chiến xâm lăng được đảng Cộng sản cưu mang từ trước hiệp định Genève (qua việc cài cắm cán bộ nằm vùng tại miền Nam và chiêu mời cán bộ tập kết ra Bắc để huấn luyện chờ ngày trở về hoạt động), rồi hoạch định tại hội nghị trung ương đảng ngày 13-05-1959, một cuộc chiến mà Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo cộng sản nhất định phải tiến hành cho bằng được, dù phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn”!

Đúng như lời nguyên bộ trưởng ngoại giao CS Nguyễn Mạnh Cầm tuyên bố trong một buổi họp báo tại Hà Nội ngày 2-12-1992 với những mỹ từ lừa gạt, những ngụy biện trâng tráo: “Việt Nam đã phải tập trung tất cả các lực lượng quân sự cho mục tiêu cao nhất để chống lại cuộc chiến tranh hung hãn của Mỹ, nhằm bảo vệ nền độc lập quốc gia. Việt Nam đã phải kêu gọi sự ủng hộ của bè bạn trên toàn thế giới. Đồng thời, tình hữu nghị Trung-Việt rất thân cận và hai nước tin tưởng lẫn nhau. Đối với Việt Nam, Trung Quốc đã là một sự ủng hộ rất vĩ đại và trợ giúp vô giá… Trong tinh thần đó và bắt nguồn từ những đòi hỏi nêu trên, tuyên bố của các nhà lãnh đạo của chúng tôi [ủng hộ Trung Quốc trong việc tuyên bố chủ quyền của họ trên Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa] là cần thiết vì nó trực tiếp phục vụ cho sự đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc”.

Nhưng rồi “sự ủng hộ rất vĩ đại và sự trợ giúp vô giá của kẻ vừa là đồng chí vừa là anh em, vừa là bằng hữu thân thiết vừa là tôn sư tin cẩn” ấy đã sớm làm Việt Cộng méo mặt vì sự thèm khát đất đai và tài nguyên đến độ điên cuồng và ngang ngược của Trung Cộng. Lại đến lúc thế giới CS sụp đổ, chỉ còn sót bốn năm anh em “xã hội chủ nghĩa”. Vậy thì phải liệu ôm nhau mà sống, củng cố đảng cho nhau để kéo dài sự thống trị được ngày nào hay ngày ấy trên dân tộc đồng bào mình.

Thế là sau hai quần đảo tiền đồn phía đông được dâng trên giấy, Việt Cộng dâng nốt tiền đồn phía Bắc ngàn năm vững chãi là Ải Nam quan, cộng thêm những cao điểm chiến lược quan trọng, qua Hiệp định biên giới Việt-Trung ký kết ngày 30-12-1999, khiến Trung Cộng chẳng còn gặp cản trở lớn lao nào trên con đường tiến xuống Đông Nam Á châu. Năm sau, qua Hiệp định lãnh hải Việt-Trung bí mật ký kết ngày 25-12-2000, bọn mãi quốc cầu vinh, bán nước giữ ghế ấy lại tiến cống thêm khoảng 11.000 km2 trên biển, chính thức để Hoàng Sa và Trường Sa lọt vào tay Trung Cộng, giúp Trung Cộng mặc sức tung hoành trên Đông Hải, dễ dàng khống chế thủy lộ từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương. Rồi sau đó, với những sai lầm liên tiếp khác, đảng CSVN đã đưa đất nước xuống hố sâu của sự khánh kiệt mọi mặt, đành phải thúc thủ trước sự hung hãn của Trung Cộng. Hiện nay, tập đoàn lãnh đạo Việt Cộng vẫn điềm nhiên đi bái yết thiên triều Đại Hán mỗi năm mấy bận, vẫn thản nhiên trơ mắt đứng nhìn đồng bào bị Trung Quốc tàn sát, vẫn vung tay đàn áp con dân đám phản kháng Bắc thù xâm lược, vẫn ngấm ngầm hỗ trợ cho ý đồ hăm dọa các tiểu quốc lân bang, cho giấc mộng thôn tính toàn cầu của Đàn anh Trung Cộng.

2. Với não trạng “cướp sản” thâm căn cố đế, “coi của người như của mình” và sẵn sàng dùng bạo lực để chiếm đoạt, cộng với một “mặc cảm bù trừ” cho sự yếu thế trước ngoại bang như thế, đảng CSVN đã và đang hung hãn cướp bóc, đàn áp đồng bào mà họ coi là thần dân và thảo dân, trước tiên bằng nguyên tắc bất nhân, vô lý, phi luật: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý” (Hiến pháp 1992, điều 17&18), rồi thông qua các chiến dịch ăn cướp trá hình như cải cách ruộng đất, quốc hữu hóa, hợp tác hóa, tập thể hóa, hợp doanh hóa, cải tạo xã hội chủ nghĩa… thông qua những văn bản bất công vi hiến như Nghị quyết 23 của Quốc hội ngày 26-11-2003 về quản lý nhà đất, như Luật Đất đai 2003 mà qua 5 lần 7 lượt sửa đổi vẫn là một căn cứ pháp lý để đảng tha hồ tước đoạt bất động sản của các cá nhân, các tôn giáo, các dòng họ.

Cụ thể trước mắt là chiến dịch cướp đất, xúc dân để chia chác cho nhau giữa đảng viên cán bộ, bán lại cho các ông chủ nước ngoài kể từ năm 1986 đến nay. Gần một triệu hộ nông dân đã bị đẩy ra khỏi ruộng vườn, nhà cửa của họ, dở sống dở chết. Hàng vạn bất động sản của các tôn giáo và dòng tộc vẫn chưa được trả, còn bị chiếm thêm. Hàng ngàn người dân oan và dân chủ phải ngồi tù vì phản đối nạn bóc lột. Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây đang hiện hữu khắp mọi miền đất nước, mà nóng bỏng nhất lúc này là tại giáo sứ Thái Hà, Hà Nội. Bất chấp bằng chứng pháp lý, kiên nhẫn đối thoại, cầu nguyện hiền hòa từ phía nhân dân, đảng CS vẫn nhất định không lắng nghe sự thật và lẽ phải, không từ bỏ thói quen “cướp sản”, thậm chí còn đang chuẩn bị cho một Thiên An Môn tại Việt Nam.

BBT TDNL#59

TÔN GIÁO LÀM CHÍNH TRỊ HAY KHÔNG LÀM CHÍNH TRỊ?


Nhân “Sự Cố Hồng Y Phạm Minh Mẫn,” thử đặt lại vấn đề:
TÔN GIÁO LÀM CHÍNH TRỊ HAY KHÔNG LÀM CHÍNH TRỊ?

Thạch Nguyên

Ai đã từng học ngành chính trị học, dù chuyên khoa hay phụ khoa, đều phải lấy lớp “Politics 101,” tức lớp chính trị học nhập môn. Ngay từ giờ đầu của lớp này, sinh viên đã làm quen với ý tưởng của Aristote về định nghĩa con người: “Theo bản tính, con người là con vật chính trị!”

CON NGƯỜI: CON VẬT CHÍNH TRỊ?

Vì theo bản tính tự nhiên này nên từ những năm 1962 -1975 dưới chính thể tự do Việt Nam Cộng Hòa, đủ mọi hạng người xuống đường làm chính trị: sư ông, sư bà, cha cố, giáo dân, sinh viên học sinh, chính trị gia phe tả, phe hữu, phe giữa ... Không ai đặt vấn đề tôn giáo có nên làm chính trị hay không. Có lẽ vì được sự hiệp thông nhất trí của Bắc Bộ Phủ?

Nhưng sau khi cộng sản chiếm được miền Nam, tháng 5 năm 1975, cả giáo sĩ và giáo dân, cả thầy và trò, cả chính trị gia chuyên nghiệp lẫn thành phần đón gió trở cờ, cơ hội chủ nghĩa ... đều ngoan ngoãn chấp hành chủ trương mới của đảng và nhà nước cộng sản “tôn giáo không làm chính trị.”

Chỉ có đảng cộng sản mới được quyền và độc quyền làm chính trị. Đảng CSVG đã thật sự thay đổi bản tính tự nhiên của con người bằng súng đạn, gông cùm rồi chăng? Hay “bản tính” không phải là cái gì tự nhiên mà được quy định bằng chế độ chính trị theo cơ chế XIN-CHO, ban phát của kẻ cầm quyền?

Nghiên cứu về cách sống của các loài động vật, người ta thấy chúng cũng có đời sống tập thể, tổ chức đoàn ngũ, nhưng 10.000 năm trước và bây giờ không có gì thay đổi, vẫn thô sơ và theo bản năng. Con người thì khác. Nhìn lại lịch sử tiến hóa của nhân loại, tổ chức xã hội của loài người đã trải qua nhiều hình thức khác nhau, từ đơn sơ đến phức tạp, từ bộ lạc đến quốc gia và liên hiệp quốc gia, từ chế độ phong kiến vua quan, độc tài chuyên chế đến dân chủ tự do.

Có chế độ chỉ xuất hiện một thời gian ngắn trên dòng lịch sử nhân loại rồi biến mất vì không đáp ứng được khát vọng của con người thời đại, vì đi ngược với trào lưu tiến hóa, vi phạm nhân quyền, nhân phẩm, đưa con người trở về thời đồ đá, sống trong sợ sệt lo âu, hay xem con người đơn thuần là phương tiện sản xuất để khai thác, bóc lột.

Khác với các loài động vật khác, con người không bao giờ chấp nhận cái hiện tại là toàn hảo, viên mãn, nhưng luôn luôn mong muốn cái tốt đẹp hơn. Đây chính là động lực giúp xã hội con người tiến bộ. Điều này thật dễ hiểu vì con người không hoàn toàn là con vật chỉ biết ăn, ngủ và làm tình. Con người là con vật, nhưng là con vật có lý trí, biết suy nghĩ, con vật chính trị, con vật luôn muốn vượt thoát những ràng buộc của hiện tại để tiến gần lý tưởng Chân-Thiện-Mỹ. Hầu hết hành động con người không do bản năng mà là hệ quả của kinh nghiệm và quá trình suy nghĩ.

Nếu là con vật chính trị, con người không thể thoát khỏi những sinh hoạt, hành vi chính trị. Điều này có đúng không?

THẾ NÀO LÀ LÀM CHÍNH TRỊ HAY KHÔNG LÀM CHÍNH TRỊ?

Nhiều người khôn ngoan tạo cho mình cái mộc che, hoặc tự giăng bẫy cho mình, hoặc bị kẻ khác gài bẫy bằng chủ trương “tôn giáo không làm chính trị!”

Không làm chính trị thì được lòng kẻ cầm quyền, vì CSVG muốn độc quyền làm chính trị qua điều IV hiến pháp. Không làm chính trị thì thảnh thơi, phè phỡn, nhởn nhơ đi làm “mục vụ hải ngoại” như đi chợ. Không làm chính trị thì được CSVG khuyến khích, cho phép, tha hồ xây cất, sửa sang nhà thờ hoành tráng(!), lễ lạc linh đình, kiệu trống rình rang, đẹp đạo (bề ngoài, hình thức) và tốt đời (bản thân mình). Không làm chính trị thì được bạo quyền khen tặng, ban cho huân chương khi còn sống cũng như lúc chết, thụ hưởng quyền lợi vật chất ... Có hàng trăm lý do khác để ... không làm chính trị. Vậy tội gì làm chính trị cho cực thân, nguy hiểm đến tính mạng ... Thật khôn ngoan!

Nhưng những người hô hào không làm chính trị có thật sự không làm chình trị?

Theo từ nguyên, chính trị là dùng đường lối ngay thẳng, chính trực để cai trị. Mục đích chính trị là đem lại an thịnh, hạnh phúc cho toàn dận hay ít ra là quảng đại quần chúng. Vậy có gì xấu xa? Nếu xấu xa thì làm sao giải thích được hành động vượt biên trốn dưới tàu Pháp của cậu ba Nguyễn Tất Thành, làm sao giải thích được VGCS dành độc quyền làm chính trị? Dành tất cả những xấu xa nhơ nhớp cho mình sao?

Hẳn nhiên, ngày nay không ít những kẻ làm chính trị bằng trí trá để thu lợi cho mình và bè phái, đón gió trở cờ, thay đổi lập trường như chong chóng, hứa điều tốt đẹp khi còn trú ẩn ở bưng biền, rừng rú, nhưng khi cướp được quyền thì dùng bạo lực đàn áp, xem dân như con vật lao động để bóc lột và khai thác.

Nhưng những sự kiện đó có làm cho chính trị nên xấu xa khiến người ngay lành, có lý tưởng phục vụ phải xa lánh? Con dao có thể làm đứt tay, chảy máu vì người sử dụng vô ý, nhưng chúng ta vẫn dùng nó hằng ngày vì mục đích của dao không phải là để giết người mà cốt là giúp cho đời sống con người được tiện ích hơn.

Nếu chính trị là dơ bẩn, tại sao chúng ta vẫn gọi những người làm chính trị, khi họ nắm quyền trong tay, là NGÀi (!) hay ÔNG này BÀ nọ, rồi TRỌNG KÍNH, rồi KÍNH THƯA, DẠ BẨM ...? Hay bản tính con người là con vật sống hai mặt vì biết suy nghĩ, có lý trí, kính sợ trước mặt mà bầm chặt, chưởi rủa sau lưng?

Làm chính trị cũng có nhiều cách. Đâu phải chỉ tranh cử, cướp quyền, giữ chức vụ trong guồng máy cai trị, lập/gia nhập đảng phái, bè phái, tham nhũng, lạm quyền cho lợi ích bản thân, biểu tình ủng hộ hay chống đối, phản kháng kẻ có quyền ... mới là làm chính trị? Hẳn nhiên đó là những hoạt động chính trị người tu hành cần phải tránh vì trái với lý tưởng phục vụ chân-thiện-mỹ và đời sống đơn sơ ngay lành khi chọn con đường tu.

Nhưng người tu hành cũng là công dân, có bổn phận và quyền lợi đối với đất nước như mọi công dân khác. Hơn ai hết, người tu hành còn có bổn phận sống đời gương mẫu trong việc làm tròn bổn phận đối với quốc gia, xã hội để khuyên dạy những người theo mình!

Không có tôn giáo nào cấm đoán người tu làm tròn nhiệm vụ một công dân. Nước mất, nhà tan thì tôn giáo có thể bình an truyền đạo, giữ đạo, hoằng dương đạo pháp chăng? Trừ phi cộng tác với quân thù! Kẻ thù ngoài chiếm đất, chiếm đảo, kẻ thù trong toa rập dâng hiến để củng cố quyền hành, người lãnh đạo tinh thần có thể an nhiên tự tại đọc kinh, hành lễ, dửng dưng đi “làm mục vụ hải ngoại” được sao? Nhiệm vụ công dân không làm tròn, làm sao xứng đáng làm “bậc thầy giảng dạy?” Chuyện dưới đất không xong, ù ù cạc cạc thì chuyện trên trời làm sao biết? Giảng thuyết còn ai tin?

Ứng cử vào các cơ quan công quyền hay bầu cử chọn người đại diện cho mình – dù theo định hương xã hội chũ nghĩa “đảng chọn ta bầu” --, nhận xét, tuyên bố về chính sách tôn giáo của nhà nước, dù ca tụng hay chỉ trích (nếu có can đảm), xuất hiện trong các buổi lễ lạc của kẻ cầm quyền, trao đổi, chúc mừng trong các dịp lễ, học tập chủ thuyết Mác-Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh, rước đuốc thế vận hội (linh mục Việt Nam ở Thái Nguyên), giám mục Trung Hoa Fang ở Bắc Kinh, tháng 6-2008) tham gia các tổ chức ngoại vi của cộng sản như Mặt Trận Tổ Quốc, Ủy Ban Đoàn kết Tôn Giáo, viết vài đăng trên “báo đạo” (hay “báo đời?”) Công Giáo và Dân Tộc... hay chỉ cần có một câu hỏi như “tại sao vật giá cứ gia tăng?” hay “tại sao anh cán bộ đảng viên hàng xóm sống thừa thãi còn gia đình tôi làm suốt ngày mà không đủ ăn?” và hẳn nhiên tranh đấu cho nhân quyền, nhân phẩm, tự do dân chủ... đều là những hành vi chính trị (political acts).

Vâng, ít hay nhiều, vô tình hay cố ý, người ít học hay ông thầy, có học vị hay không, giáo sĩ, tu sĩ hay người dân thường ... mỗi thái độ, lời nói và hành động đều hàm chứa một ý nghĩa chính trị nào đó. Không thể thoát được.

Cho nên dù không tích cực hoạt động chính trị, dù không giữ một chức vụ nào trong guồng máy cầm quyền, dù không là thành viên một đảng phái chính trị, mọi công dân đều có thái độ hay hành vi chính trị đối với các vấn đề xã hội, kinh tế, giáo dục, tôn giáo, chính trị... của quốc gia.

Người lãnh đạo tôn giáo, hơn ai hết, càng không thể thờ ơ, nhắm mắt trước những bất công, áp bức chồng chất mà quần chúng đang gánh chịu, không thể khuyên họ ráng chịu khổ nạn đời này để được hưởng phước đời sau. Tôn giáo không phải là, và không thể trở thành thuốc mê, thuốc tê khiến con người không còn cảm giác, không còn ý thức về thực tại ở thế gian.

Người lãnh đạo tôn giáo phải biết đồng cảm, sống hòa mình với quảng đại quần chúng, vui với niềm vui của họ, lo với nỗi đắng cay, nhọc nhằn của họ, nói lên tiếng nói, nguyện vọng của họ. Nói khác, người lãnh đạo tinh thần hay tôn giáo cần có một quả tim, quãng đại nhưng dũng cảm, dám nói lên sự thật, và một trí óc minh mẩn để đối phó với sự dữ.

BÀI HỌC “SỰ CỐ HỒNG Y PHẠM MINH MẪN”

Biến cố Thái Hà trong tháng qua -- VGCS cướp đất nhà thờ DCCT bán cho đại gia đỏ và khủng bố, đàn áp giáo dân cầu nguyện – có vẻ như đã làm cho dư luận tạm quên sự cố “cờ đỏ, cờ vàng” của HYPMM. Nhiều người ước mong, hẳn nhiên trong số những người này có HYPMM, với thời gian và những biến cố cướp đoạt dồn dập khác của CSVG sẽ làm cho... cứt trâu hóa bùn, không ai còn nhắc tới sự cố này nữa.

Thực tế lại khác hẳn. Trong thời gian qua, kể từ khi HYPMM công bố “lá thư mục vụ” về “cờ đỏ, cờ vàng” ngày 04-06-2008, các giáo sĩ, tu sĩ VN ra hải ngoại thường được giáo dân và người ngoài đạo hỏi han về “sự cố” thật tận tình. Trong tương lai, nếu còn tiếp tục “mục vụ hải ngoại,” HYPMM cũng không thể nào tránh khỏi những câu hỏi liên hệ, trừ phi các “nhà đạo diễn” thu xếp để HYPMM tiếp xúc với các con chiên ngoan đạo chọn sẵn và chỉ trả lời những câu hỏi định trước như đã xảy ra ở Washington D.C. trong tháng 6 năm nay.

“Sự cố Hồng Y Phạm Minh Mẫn” là bài học cho những ai chủ trương và hãnh diện tuyên bố “tôn giáo không làm chính trị!”

Nếu cái áo không làm nên thầy tu thì tuyên bố “tôi không làm chính trị” không giải trừ, miễn nhiễm người lãnh đạo tôn giáo khỏi những hệ lụy về thái độ, lời nói, hành động của mình. Dù muốn dù không, người lãnh đạo tôn giáo hay tinh thần cũng là “Public Figure,” gương mặt công cộng, chịu sự phán xét của dư luận quần chúng.

Lời phát biểu, hành động của người lãnh đạo tôn giáo ít hay nhiều, vô tình hay cố ý hàm chứa một ý nghĩa và hệ quả chính trị nào đó. Trong khi thành phần lãnh đạo đời, từ kẻ cầm quyền đến người lãnh đạo các đoàn thể quần chúng bị dư luận xem là băng hoại, tham nhũng, tay sai, thời cơ trục lợi ... thì giới lãnh đạo tôn giáo là hy vọng cuối cùng của quần chúng đang tuyệt vọng. Đó là niềm hy vọng cuối cùng, và quần chúng không muốn nó tắt ngủm.

Cho nên chủ trương “tôn giáo không làm chính trị” cũng là một đường lối làm chính trị, nhưng là một đường lối tiêu cực nhất, nguy hại nhất cho cả đời lẫn đạo. Đây là phương cách làm chính trị của kẻ nhát (hèn) đóng vai khách bàng quan trên sân khấu đời, một đường lối lãnh đạo vô trách nhiệm, phủi tay để người khác làm mình hưởng!

Lời thư của Hồng Y Phạm Minh Mẫn rõ ràng là xác định một thái độ, một lập trường chính trị vì nó liên quan đến lá cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của một thể chế chính trị mà hàng triệu người đã hy sinh bảo vệ và đang mơ ước phục hồi. Hồng Y Phạm Minh Mẫn lại tuyên bố ở cương vị một “bậc thầy giảng dạy” qua thư mục vụ với lời lẽ thật tiêu cực về lá cờ vàng, “biểu trưng một thói đòi mang tính đối kháng!”

Hồng Y Pham Minh Mẫn còn đem lá cờ máu đỏ cộng sản mặc cho Bà Mẹ Việt Nam như một sự thay đổi cần thiết của thời tiết nắng mưa: “Người mẹ VN, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách, vẫn là người mẹ đã dày công sinh thành dưỡng dục con dân VN, vẫn là người mẹ đã để lại cho dân tộc VN một di sản vô giá!”

Phản ứng rất mạnh của dư luận người Việt ở hải ngoại trong hơn ba tháng qua về lời tuyên bố của Hồng Y Phạm Minh Mẫn là điều tự nhiên và dễ hiểu, dù có nặng lời. Tầm ảnh hưởng tiêu cực của dư luận đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và sự tai hại thật khó đo lường, nhưng ai cũng biết không phải là nhỏ.

Để làm lắng dịu dư luận trong lúc này, theo thiển ý, Hồng Y Phạm Minh Mẫn cần có lời xin lỗi công khai, ít ra đối với cộng đồng người Việt hải ngoại đã nhiều lần ... “rộng tay” đối với Hồng Y trong các chuyến đi “mục vụ hải ngoại”, và gia đình thân nhân các chiến sĩ đã hy sinh tính mạng bảo vệ lá cờ chính nghĩa để cá nhân Phạm Minh Mẫn được như ngày nay. Đây là hành động tối thiểu cần phải có, trừ phi HYPMM muốn được sử sách “ghi danh” sánh vai cùng với Nguyễn Cao Kỳ.

Nhận lỗi, xin lỗi khi làm lỗi là đức tính cần thiết của người lãnh đạo biết trách nhiệm. Nó đòi hỏi một trí tuệ sáng suốt và một quả tim dũng cảm.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II và Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã xin lỗi về những việc làm sai trái của con cái Giáo Hội. Đây là những gương sáng soi đường, giúp Giáo Hội vượt qua khó khăn, thử thách.

Như người Mỹ thường nói, nếu không chịu được sức nóng thì dừng chui lăn vào bếp. Nếu chỉ có quả tim chuột thì đừng đảm nhận vai trò lãnh đạo. Khả năng của người lãnh đạo không được đo lường bằng thành quả khi biển lặng sóng yên, mưa thuận gió hòa mà bằng tài năng lèo lái bình an vượt qua bão tố. Lãnh đạo tinh thần là để phục vụ, không phải được phục vụ, không thể hành xử theo thói đời vinh quang tìm đến, hiểm nguy rút lui. Hơn ai hết, người lãnh đạo phải có quả tim dũng cảm để dõng dạc tuyên bố: “Hãy theo tôi!”

“Hãy theo tôi” vì tôi là người lãnh đạo. Tôi luôn luôn đi đầu, dẫn đầu, dám nhận trách nhiệm, không hèn nhát, sợ sệt, cầu an. Tôi chia sẻ, đồng cảm và đồng hành với đa số thành viên trong tổ chức, với quảng đại quần chúng. Tôi chăm sóc đàn chiên mà không chăm sóc bản thân mình. Tôi không ra lệnh cho mọi người “tiến lên” còn tôi chạy lùi, đào thoát.

Trước khi là tín đồ một tôn giáo, tôi là một công dân. Tôi có bổn phận, trách nhiệm đối với đất nước như bất cứ một công dân nào khác. Cái áo tu hành của tôi không phải là bức tường cao kín che mắt, che tai khiến tôi trở nên vô tri, vô cảm trước những khổ đau của người dân vô tội; nó cũng không phải là cái khóa miệng buộc tôi phải câm nín trước những bất công xã hội và áp bức của kẻ quyền thế. Tôi không phải là cái loa tuyên truyền của bộ máy cầm quyền, nhưng là tiếng nói trung thực của quảng đại quần chúng cô thế bị áp bức.

Là người lãnh đạo tinh thần, tôi phải thật sự sống xứng đáng trong lời nói và hành động. Tôi không ứng cử, tranh giành lợi lộc, quyền hành thế gian; tôi không nắm giữ chức vụ trong guồng máy cầm quyền. Tôi không hùa theo thói đời khôn ngoan biết sống để được bổng lộc, nhưng nói lên sự thật, sống theo sự thật không bị trí trá làm hoen ố, dù phải trả giá đắc, thiệt thân.

Thà làm cánh chim đại bàng tung bay trên trời cao, vượt mây ngàn gió bão, đói no do mình, hơn làm gà công nghiệp được chủ nuôi chờ ngày giết thịt đem bán. Thà làm cánh bướm bay lượn nhởn nhơ trong vũ trụ bao la hơn làm kiếp sâu bọ được nuôi trong lồng kiếng cho du khách ngắm nhìn...

Thạch Nguyên




Tuesday, September 16, 2008

Vì cầu nguyện cho công bằng. Dân Chúa tại Việt Nam đi tù CSVN


Hồng Linh

Của bất công phải trả lại cho công bằng

Như một nguyên tắc căn bản cho con người có thể sống chung với nhau trên cõi đời nầy. Cách đây hơn 2000 năm. Vị cứu tinh, từ trời tới giải phóng con người khỏi sự chết, đã nói lên nguyên tắc trên. Một nguyên tắc xem ra không đi bọc quanh đuợc. Những ai theo Ngài phải bảo vệ và sống theo nguyên tắc ấy. Một bất hạnh cho con nguời Việt Nam và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, như một định mệnh tàn khốc, là phải sống dưới gông cùm bọn CSVN. Chúng cồ di chuyển ngược chiều với nguyên tắc ấy để phục vụ cho đảng CSVN trong quá khứ và nay chuyển qua đảng viên. Tuy lý thuyết tạo ra đảng nầy nay đã đi vào sọt rác lịch sử. Các thể chế CS trên thế giới đã tạo ra hơn 100.000.000 nạn nhân cho tới nay và còn tiếp tục tại Việt Nam. Một ghê tởm của tội ác mà nhân loại sẽ không bao giờ quên.

Sau khi bức màn sắt phủ xuống trên toàn thể Việt Nam vào năm 1975. Tại giáo xứ Nguyệt Biều, như một tiếng chuông cho toàn thể dân Việt Nam, linh mục Nguyễn Văn Lý đã thắp lên ngọn đuốc khởi điểm cho cuộc hành trình đòi lại công bằng. Ngày nay đuợc thể hiện qua các vụ dân oan khiếu kiện và các buổi cầu nguyện của dân Chúa tại Hà Nội đòi lại toà Khấm Sứ và Thái Hà đòi lại đấtcủa nhà Dòng CCT đã bị CSVN cưỡng chiếm. Không kể những cầu nguyện trong thầm lặng của biết bao nguời đang sống duới chế độ hiện tại ở Viêt Nam. Cả một dân tộc đang cầu nguyện giống dân Do Thái của một thời xa xưa.

Ba đợt liên tiếp giết nguời và vi phạm công bằng của CSVN

Tại Bắc phần trên vĩ tuyến 17, trong cuộc phát động quần của những năm 1953-1954 và cuộc cải cách ruộng đất vào các năm 1955-1956, không những CSVN đã tạo ra cuộc sát hại tới 650.000 nạn nhân vô tội, cuớp đất đai nhà cữa của nạn nhân và của của các tôn giáo. Giết nguời và cướp của đi đôi với nhau.

Sau khi chiến tuyến chống cộng miền Nam bị tràn ngập do phản bội và tàn ác cấu kết với nhau. Trong mục tiêu tiến nhanh tới ảo mộng cụt lối XHCN, CSVN qua chiêu bài đánh đổ tư bản mại bản cuối thập niên 70, đã tich thu các xí nhiệp, cửa hàng doanh nghiệp tư nhân, cưỡng bách đày ải họ và gia đinh về vùng kinh tế mới..

Ngay chính năm 1975, CSVN đã tung chiến dịch kiểm soát các hoạt động của các tôn giáo, phân tán các đoàn thể tôn giáo, tịch thu đất đai trồng trọt hay không, các cơ sở giáo dục và y tế, cũng như các tu viện, tiểu và đại chủng viện. Nhất là vào năm 1978. CSVN giải tán các cộng đoàn Thiên Chúa Giáo tại Thủ Đức và tịch thu toàn diện các cơ sở tu hành.

Ánh đuốc Nguyệt Biều, linh mục tiên phong Nguyễn Văn Lý

Nguyệt Biều là một họ đạo nhỏ. Nằm về Tây Nam Huế và cách Huế khoảng 8 cây số với 200 giáo dân. Tất cả sống rất nghèo nàn và chuyên về đồng áng. Ở xa ngoài tầm mắt dòm ngó. Vì lý do ấy, Nguyệt Biều đã trờ thành nơi lý tuởng để giam cầm các thành phần mà chúng gọi là « chăn chiên phản động ». CSVN đã quản thúc linh mục Lý tại đây vào năm 1977. Và cũng tại đây «chăn chiên phản động » Nguyễn Văn Lý đã quyết đối đầu với bất công của bạo tàn CSVN. Nguyệt Biều nghèo nàn, nhưng CSVN không tha. Sau khi đã tịch thu 15.000 mét vuông đồng cỏ và ruộng vườn, chúng còn tịch thu thêm 2000 mét vuông nằm trong khuôn viên nhà thờ. Sau đó, CSVN lại thêm sáng kiến mới là đào con kênh dẫn nước qua ngang trước nhà thờ. Công phẫn trước hành động ăn cướp và mưu đổ phá hoại nơi thờ phượng. Ngày 13/11/2000, linh mục Lý và con chiên của Nguyệt Biều gửi một kiến nghị tới thẩm quyền, tại Huế, của nhà nước Cộng Sản Việt Nam, đòi trả lại đất đai bị tịch thu qua kiểu cướp cạn. Cũng vào dịp ấy, nhiều biểu ngữ « Chúng tôi cần tự do tôn giáo » được giáo dân và linh mục Lý dăng xung quanh nhà thờ Nguyệt Biều và trên các đất đai đa bị tịch thu vào năm 1975, linh mục « phản động » Nguyễn Văn Lý dẫn đầu các con chiên cùng nhau ra cày đất đai đã bị CSVN tịch thu vào năm 1975 và sau đó.

Cùng lúc linh mục Lý ra tuyên ngôn gồm 10 điểm, đã được soạn thảo vào năm 1994, đòi dân chủ, tự do, nhất là tự do tôn giáo. Xem như là bước đầu của cuôc hành trình đòi công lý khá cô đơn của một xóm đạo với một chủ chăn. Nhưng vừa qua tại Hà Nội và nay tại Thái Hà, các lãnh đạo của tổng giáo phận tại thủ đô cùng vô số con chiên, qua cầu nguyện, đã cùng nhau lên đường đòi công lý cho toà Khâm Sứ và Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà..

Con người và tôn giáo

Con người sinh ra bị đặt trước bao khắc khoải với nhiều câu hỏi cần được giải đáp. Nhất là câu hỏi liên quan tới cách phải hành xử ra sao để con nguời có thể chung sống với nhau trong hòa bình. Một cần thiết mà chỉ có tôn giáo, qua các niềm tin khởi thủy, giống như các ngyên tắc phải chấp nhận lúc ban đầu trong khoa học thực nghiệm, mới đáp ứng đuợc.

Sự chấp nhận các tín lý dẫn tới các cắt nghĩa và giải đáp. Chính các giải đáp ấy sẽ cho ý nghĩa và niềm tin của cuộc sống. Nhất là niềm an ủi lúc ra đi sau chuyến lữ hành trần gian. Trong tư thế sinh ký tử quy.

Một tôn giáo, theo đúng nghĩa, phải có ba cấu tạo liên kết với nhau và không thể thiếu một thành phần trong ba thành phần sau đây: tín lý, giáo lý và cách sống đạo. Bên cạnh tôn giáo luôn có vô thần và độc tài. Nhân loại đa biết đến nhiều loại độc tài. Độc tài hữu thần và độc tài vô thần. Tác hại nhất là độc tài vô thần. Loại độc tài vô thần tác hại con người từ tâm linh tới thể xác và CSVN là loại nầy. Hai cánh tay hủy hoại con người từ hai phía.

Việt Nam có tự do tôn giáo hay không?

Tôn giáo là sức mạnh tinh thần và động lực tạo hợp quần qua tổ chức cũng như liên đới. Vũ khí không thể nào tiêu diệt đuợc hai thành phần đầu của tôn giáo: tín lý và giáo lý. Nhưng để phá phách hai phạm trù nầy. CSVN dùng cánh tay vô thần đề bôi bác tín lý và khuếch trương các thú tinh con người qua tuyên truyền và giáo dục tạo hận thù với mồi nhử vật chất. Trong mục đích tiêu diệt thành phần thứ ba còn lại của tôn giáo: cách sống đạo, CSVN dùng mưu mô và vũ lực. Cách sống đạo của một tôn giáo gồm hai phần: phát triển và thờ phượng.

Một tôn giáo muốn được tồn tại lâu dài trên một địa bàn cần phải được phát triển. Giống như một cây. Không nhất thiết phải đốn cây ấy mới có thể nói rằng đã tiêu diệt được cây ấy. Chỉ cần tiêu diệt yếu tố phát triển của cây ấy. Thời cây sẽ héo tàn và cuối cùng chết. Trường hợp thuốc khai quang.

Về tôn giáo cũng thế thôi. Phát triển gồm đào tạo kẻ chăn chiên và giáo dục. CSVN tiêu diệt tôn giáo tại Việt Nam bằng cách chận yếu tố phát triển và giáo dục của GHCG. Chúng chỉ chấp nhận, với nhiều giới hạn, việc tự do đi lui tới nhà thờ để nói rắng Việt Nam có tự do tôn giáo. Bao kẻ chỉ đã căn cứ vào sự kiện thấy có kẻ lui tời nhà thờ và tuyên bố: « Việt Nam có cải thiện về tôn giáo» và Mỹ bỏ CSVN ra khỏi danh sách CPC. Một lấp liếm để biện hộ việc đã làm ăn với vô thần và độc tài.

CSVN chận phát triển tôn giáo tại Việt Nam qua nhiều chiêu thức: giới hạn việc đào tạo kẻ chăn chiên, làm khó dễ việc bổ nhiệm thành phần huớng dẫn GHCGVN, tịch thu các cơ sở đào tạo kẻ chăn chiên và giáo dục. Khi phạm trù nầy bị va chạm toàn diện tại Việt Nam. Không ai lương thiện có thể nói đuợc là tại Việt Nam có tự do tôn giáo.

TGM, Hồng Y giáo hội công giáo Việt Nam tạo hai cái chớp bảo vệ tự do tôn giáo tại Việt Nam

Bảo vệ tự do tôn giáo, về thực hành, truớc tiên là bảo vệ yếu tố phát triển và các nguyên tắc căn bản của tôn giáo ấy. Riêng về GHCGVN, công bằng, tiếp theo là bác ái, hai nguyên tắc căn bản phải bảo vệ.

Chính vì thế, vào ngày 15/04/1977, CSVN, qua con ngáo ộp Mặt Trận Yêu Nuớc, chi bộ Bình Trị Thiên, sau khi đã bắt bớ các chân tu Phật Giáo tại Sài Gòn (nay là Hồ Chí Minh City), đã tổ chức một buổi hội thảo, chiêu thức muôn thuở của đường mòn quen thuộc vừa đánh trống vừa ăn cuớp, để biện hộ về các vụ bắt bớ đen tối ấy. Ngay tại hội nghị, Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền, bất chấp nguy hiềm tới bản thân, đa dõng dạc tuyên bố: «Tôi lấy là buồn phiền về các bắt bớ ấy và không bằng lòng về tình trạng tự do tôn giáo tại Việt Nam. Con chiên Thiên Chúa giáo bị cư xử như những công dân hạng hai ».

Sau đó Ngài đã phải chịu bao cực hình, và theo dư luận, Ngài đã qua đời tại Sài Gòn do thuốc độc mà các tay sai bác sĩ đa chích cho Ngài tại nhà thương.

Câu chuyện do Giám Mục F.X Nguyễn Văn Sang kể lại: « Số là trong cuộc xáo động cách đây mấy chục năm về viễn tuợng Giáo Hội Công Giáo Rôma sẽ phong 117 Á Thánh Tử Đạo Việt Nam lên hàng Hiển Thánh, các cuộc hội họp diễn ra khắp nơi trong đất nước, lời qua tiếng lại khen chê đủ kiểu. Chúng tôi – Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (lúc đó tôi đang làm tổng thư ký) được triệu tập ra cơ quan để nghe một vị có trách nhiệm thuyết trình. Vị đó nói rất hùng hồn và lôi cuốn, nhưng đa số những lời đó là để chỉ trích bôi nhọ các Thánh Tử đạo Việt Nam là những nguời bán nước, đầu trộm, gian thương, xấu nết ...

Đột nhiên tôi thấy Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn quỳ xuống ôm mặt khóc ầm lên và lớn tiếng kêu: “Xin thôi, xin thôi! Ông không có quyền thoá mạ, bôi nhọ cha ông chúng tôi là những nguời chúng tôi yêu mến và kính trọng”. Nói đoạn, ngài lại lớn tiếng khóc hu hu...!

Các Giám Mục thấy sự việc như vậy, yên lặng rút lui ra khỏi căn phòng, và cuộc họp tự động được kết thúc không kèn không trống. Hôm sau, nghe tin nguời diễn thuyết hôm đó bị cấp trên “Chỉnh” rằng: “Nếu để cho Hồng Y Căn hôm qua ngã xuống mà chết thì không phải Toà Thánh Vatican chỉ phong chức cho 117 vị Thánh Tử đạo mà sẽ phong cho cả Hồng Y Căn vào số danh sách là 118 vị Tử Đạo Việt Nam”.

Ba hành động từ linh mục Nguyễn Văn Lý, TGM Nguyễn Kim Điền và Hồng Y Trịnh Văn Căn, tuy không có kết qủa thực tiễn, đã đánh động một phần nào dư luận về sự bất khuất của giáo dân và các kẻ chăn chiên của GHCGVN.

Những yếu tố nào đã dẫn tới vụ cầu nguyện Thái Hà?

Từ phía nhà cầm quyền CSVN

Giáo dân Thái Hà, sau 63 năm sống dưới chế độ CSVN, đã quá biết bộ mặt gian ác của bọn cai trị mà 4 tên nầy là đại diện. Chỉ có tiền và quyền với một hệ thống công an đàn áp.

Ăn cướp từ Trung ương tới địa phương theo các phương thức khác nhau. Ông lớn kiểu ông lớn. Ông bé kiểu ông bé. Không ai xét xử. Từ đó phải liều chết mới mong có một lối thoát.

Từ ngày VN đi vào kinh tế thị trường. Với đầu vốn vào Việt Nam của các hãng ngoại quốc. Các hãng nầy cần xây dựng cơ sở. Nên cần đất đai. Một dịp làm giàu đã tới. Nên đảng CSVN bắt đầu chuyển nhượng về tay các đảng viên các đất đai đã ăn cướp của cộng đồng Cộng Giáo và tư nhân. Trước các hành động ấy. Làm thinh là chấp nhận. Nên phải lên tiếng. Lên tiếng đây là cầu nguyện.

Khi sự đàn áp xem chừng sẽ có nguy cơ gây nhiều rắc rối truớc dư luận quốc tế, như vụ cầu nguyện đòi lại tòa Khâm Sứ truớc đây tại Hà Nội. CSVN đã dùng chiến thuật hứa cuội. Một hứa cuội trắng trợn lại liên quan tới một TGM và Vatican. Bây giờ CSVN sẽ ăn nói ra sao? Ai sẽ còn tin vào lời hứa của CSVN nữa đây? Chế độ chỉ sinh ra những người lãnh đoạ lừa lọc. Tham nhũng và lộng quyền. Bám víu vào quyền lực để vinh thân.

Từ phía HĐGMVN

Tuy mỗi GM có nỗi lo riêng tư. Nhưng tất cả điều nhận thấy rằng các đất đai bị tịch thu nay sẽ thuộc các đảng viên. Như lời của GM địa phận Vinh: « Việc của Thái Hà cũng là việc của Vinh, của Thánh Hoá … và của cả Giáo Hội Việt Nam. Do đó chúng tôi đến đây để cầu nguyện cùng anh chị em cho công lý và hoà bình». Một ấm ức cho các giáo phận và con chiên từ Bắc tới Nam. Tất cả cùng chung số phận: Bị cướp bởi đảng CSVN.

Hình ảnh linh mục Nguyễn Văn Lý tại chốn lao tù luôn là một đánh động lương tâm.

Ngoài ra các Giám Mục bị dư luận tố cáo, đúng hay sai chưa đặt vấn đề, là chỉ « tìm an thân » và không bảo vệ công bằng. Nhiệm vụ chính của GHCG và nhiệm vụ của các vị trong tư thế là kẻ đại diện của GHCGVN, và cũng là các kẻ chăn chiên. Khi con chiên liều mình, bị roi điện, bị đánh đập dã man, máu me đầy mình. Không lẽ các GM chỉ đứng nhìn thôi? Nay các GM bị đặt trước một lựa chọn và không thề thối thác đuợc nữa. Bảo vệ công bằng và con chiện hay không?

Khi các Ngài ra hải ngoại. Bao câu hỏi thuộc loại ấy không thiếu. Khi các đóng góp của con chiên tặng các ngài. Tuy giáo dân không đặt câu hỏi. Nhưng các Ngài GM phải tự vấn: « Đóng góp để các Ngài làm gì? ». Không lẽ chỉ để nghe các Ngài lặp lại hai tiếng « Hiệp Thông » trống rỗng! Các Ngài bị lương tâm thẩm vấn.

Từ phía các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế nói chung

Các cha Dòng Chúa Cứu Thế, môn đệ của Thánh An Phông Xô, là những chiến sĩ phúc âm. Nhiệm vụ truyền bá phúc âm cho dân nghèo. Tôn kính Đức Mẹ là một ấp ủ trong lòng với ca tụng. Hàng đêm trước khi đi ngủ. Họ luôn hát: « Salve Regina ... ».Một lòng con thảo với Mẹ Maria. Nếu vì danh Mẹ mà phải hy sinh. Họ nhất quyết hy sinh. Các linh mục ấy luôn phải phất cờ Công Bằng và Bác Ái. Họ được đào tạo một cách đặc biệt. Không giống các vị từ các chủng viện gọi là linh mục triều lo các giáo xứ. Nếu học giở, thời không đươc nhận. Nếu ăn nói lắp bắp cũng bị cáo dài và trả lại thế trần. Nên các linh mục nầy rất đa dạng và nhiều nhiệt huyết.

Nay nhà Dòng cần chỗ để mở mang. Và khi thấy đất đai của nhà Dòng bị chuyển về tay các đảng viên đảng CSVN. Các cha phải ấm ức không nguôi. Vì đã theo Chúa. Nếu có chết cũng vui lòng. Vì đó là nhiệm vụ của chiến sĩ phúc âm. Một nhiệm vụ huy hoàng và đầy hy sinh.

Từ phía giáo dân Thái Hà

Dân tình nghèo lắm. Họ bị CSVN xem là thứ dân «hạng hai ». Họ biết đất giáo xứ đang bị chuyển về tay các đảng viên. Đất ấy là đất của Mẹ Maria. Các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế và giáo dân Thái Hà đã gặp nhau trong tâm tư « Các con là lính của Mẹ. Mẹ sẽ ghi dấu trên trên trán các con của Mẹ. Đề Mẹ nhận diện, thông điệp Fatima! » . Nên cùng nhau lên tuyến đầu cầu nguyện. Chết hay đi tù vì danh Mẹ và công bằng có sao đâu! Một niềm tin và một niềm hy vọng chứa chan. Họ biết NVHN và giáo dân NVHN luôn ủng hộ! Nên không lẻ loi! Khâm Sứ và Thái Hà là bước ngoặc mang tính quần chúng vì lý do ấy.

Vũ lực CSVN chống niềm tin và ý chí hy sinh của Thái Hà và GHCGVN

CSVN đang dùng gươm đao đề chống lại ý chí và niềm tin của quần chúng. Nhưng trong thánh kinh, Thuợng Đế đã nhắn nhủ nhân loại: «Hãy bỏ gươm vào vỏ! Vì tất cả những ai dùng gươm sẽ chiết vì gươm! ».

Tòa Khâm Sừ và Thái Hà là hai điểm hẹn của công bằng. Điểm hẹn của Giáo Hội miền Bắc. Thái Hà! Cũng là hành trình của tội ác CSVN. Đã sai còn hàm hồ. Đã sai lại làm càn. Đã độc tài lại dan dối. Tạo « linh mục dỏm » vời giáo dân « cốt cán » từ CS. Đã sai trái còn lớn tiếng qua báo chí độc quyền. Chận xe của của các giáo dân từ khắp nơi về bên cạnh giáo dân Thái Hà. Gươm đao và dan dối! CSVN chỉ còn hai món nầy! Một bọn của « Táng tận lương tâm » theo lời của GM Sang.

Nay các chủ chiên Giám Mục của giáo phận HN đã về đông đủ tại Thái Hà để ở cạnh đàn chiên trươc giông tố và lang sói. Nều phải chết. Cha con cùng chết vì công bằng và Mẹ Maria.

Trối trăn và các chuẩn bị

TGM Hà Nội Ngô Quang Kiệt, linh hồn của các vụ cầu nguyện, gửi lời trăn trối:

«Xin mọi người cầu nguyện nhiều cho tôi. Tôi xin cám ơn tất cả và cám ơn Giáo Hội Hiệp nhất ». Thuợng Đế hỡi! Xin hãy che chở vị chăn chiên nầy cho GHCGVN!

Giám Mục F.X. Nguyễn Văn Sang, năm nay 78 tuổi, gửi gắm: «Xin chào tất cả mọi người, tôi sẽ đi tù. Đi tù cùng với đi tu một vần! ».

Một giáo dân Thái Hà, năm nay 60, tuổi xác định: «Cộng sản nhiều mưu sâu kế độc, tàn ác vô luân, bàn tay đã nhuốn máu của bao dân lành, chắc chắn nó không chịu thua dễ dàng … nó sẽ mở ra trang sử các chân phước tử đạoViệt Nam thế kỳ 21 ... Đối với người Công Giáo tử đạo là một phúc lớn, con cái Chúa phải tranh đấu, phải hy sinh liên tục mới được chọn. Chúa gọi rất nhiều, Chúa chọn thì ít! Lậy Chúa, vì Ngài đã chọn Thái Hà chúng con! Xin Ngài chọn chúng con! »

Tại Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà: «các tu sĩ đã dọn dẹp nhà cửa, sắp xếp ngăn nắp tài liệu, kinh sách … chuẩn bị cho việc công an tới bắt các cha và kèm theo khám xét nhà Dòng »

Các giáo dân Thái Hà loan báo: «Giáo dân Thái Hà chúng tôi cũng chuẩn bị cho việc công an sẽ bắt thêm những người « tích cực » tham gia, tình nguyện hướng dẫn anh em giáo dân khắp nơi về cầu nguyện. Những người nầy đang gói ghém đồ mang theo nếu phải vào tù. Họ cũng thu dọn nhà cửa, chuẩn bị người ở nhà để công an bắt, khám nhà có người ở lại trông nhà ».


THUỢNG ĐẾ HỠI! CÓ THẤU CHO DÂN CHA TẠI THÁI HÀ KHÔNG?

Việt Nam: Miền Đất Hứa Của Rửa Tiền Và Ma Túy


Mai Vĩnh Thăng
  • Bối cảnh

Mục đích của luật chống rửa tiền và ngăn chặn tài trợ tài chính cho khủng bố AML/CTF Act (Anti Money Laundering/Counter Terrorism Financing Act 1966) nhằm khám phá và ngăn chặn việc rửa tiền và tài trợ cho bọn khủng bố trên thế giới. Rửa tiền được trá hình, che đậy dưới nhiều hình thức tội phạm khác nhau như buôn ma túy, trốn thuế và tham nhũng, và làm cho số tiền nầy trở nên chính đáng và hợp pháp. Rửa tiền và tài trợ cho khủng bố đều là tội phạm, tuy nhiên nếu số tiền bất chính đó lọt vào tay bọn khủng bố thì hậu quả sẽ càng nguy hiểm hơn.

Thực ra việc kiểm soát đồng tiền bất chính đã có từ FTR Act (Financial Transaction Report Act 1988), nhưng vì lĩnh vực tài chành phát triển quá nhanh trong những năm qua, với kỹ thuật cải tiến và hoàn hảo hiện nay người ta có thể chuyển tiền trực tiếp qua Internet, các máy rút gởi tiền tự động mà không cần phải đến ngân hàng. Cho dù chuyển tiền qua Internet hay các máy tự động, các dữ kiện đó cũng lưu lại trong trung tâm lưu dữ kiện (Data bank) ngân hàng, và từ đó sẽ tự động chuyển qua hệ thống computer của Liên Hiệp Quốc. Đi vòng, tắc, ngang, dọc rồi cũng sẽ về lại một nơi.

  • Các hình thức rửa tiền tiêu biểu
  • 1. Trả nợ với một số tiền lớn do chính chủ nợ hay từ người khác (Third parties)
    2. Tiền chuyển từ ngoại quốc, có thể dưới hình thức trúng số hay của thừa kế
    3. Xin gia tăng tín dụng bất thường và rút một số tiền lớn nhanh chóng

Các chuyên viên bài trừ tội phạm quốc tế cho biết hệ thống luật pháp chống rửa tiền của Cộng Sản Việt Nam (CSVN) có rất nhiều sơ hở. Hầu như mọi việc giao dịch buôn bán đều dùng tiền mặt, vì thế Việt Nam có thể trở thành một miền đất rất thích hợp để những kẻ bất chính rửa tiền mà chính phạm là bọn lãnh đạo đảng.

Cố Vấn cho văn phòng Liên Hiệp Quốc về Ma Túy và Tội Phạm tại Việt Nam UNODOC (UN Office for Drugs and Crime) cho rằng những biện pháp chống rửa tiền lấy lệ sẽ không có hiệu quả ở Việt Nam. Ngỏ lời trong buổi hội thảo vừa qua tại Hà Nội, văn phòng Liên Hiệp Quốc Việt Nam cho rằng nếu việc rửa tiền không được kiểm soát nghiêm nhặt, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín và việc đầu tư ngoại quốc vào Việt Nam.

Nếu hệ thống chống rửa tiền không hữu hiệu sẽ khuyến khích đồng tiền bất hợp pháp đổ dồn về Việt Nam. Đồng tiền bất hơp pháp đó sẽ được chuyển đến các ngân hàng và công ty tín dụng, và sẽ nhanh chóng chuyển đi nơi khác. Chừng ấy Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia trung gian để chuyển tiền lậu đến các quốc gia trên thế giới. Trong nhiều trường hợp, những số tiền lớn chuyển đến và đi nhanh chóng, có thể làm cho cả hệ thống tiền tệ Việt Nam sụp đổ.

Trung tâm chống rửa tiền của ngân hàng Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam được thành lập vào tháng 3 năm 2007. Đến nay đã điều tra 20 trường hợp tình nghi rửa tiền, nhưng không tìm thấy bằng chứng hay dấu vết phạm tội trong các trường hợp nầy. Sắc Lệnh chống rửa tiền do nhà cầm quyền CSVN ký hôm tháng 6 năm 2005 buộc các ngân hàng phải báo cáo về trung tâm bất cứ vụ chuyển tiền mờ ám nào bằng tiền mặt, hoặc ngoại tệ và vàng trị giá trên 200 triệu đồng Việt Nam, và các trương mục tiết kiệm có trên 500 triệu đồng Việt Nam. Trung tâm chống rửa tiền ngân hàng Nhà Nước Việt Nam cũng cho biết là sẽ cố gắng thi hành nhiệm vụ hoàn hảo hơn trong tương lai với sự trợ giúp của Tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO.

Phê bình về các trường hợp chuyển tiền mờ ám mà trung tâm chống rửa tiền điều tra năm rồi, văn phòng Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam cho rằng con số 20 trường hợp đã được điều tra còn quá ít so với 6 triệu trường hợp tình nghi đã được báo cáo trong năm. Một son số quá lớn gây kinh ngạc cho giới ngân hàng và tài chính thế giới. Sở dĩ con số chuyển tiền quá giới hạn đến 6 triệu lần trong năm là vì Việt Nam là một xã hội với nền kinh tế tiền mặt, và vì hệ thống ngân hàng vẫn còn trong thời kỳ ấu trĩ và xa lạ với người dân. Việt Nam đã tích cực bài trừ các hoạt động rửa tiền và đã được các tổ chức quốc tế tài trợ về kỹ thuật và tài chính để gầy dựng một tổ chức chống rửa tiền với khả năng qui mô và hữu hiệu hơn.

  • Bằng cách nào LHQ có thể kiểm soát CSVN rửa tiền?

Liên Hiệp Quốc tài trợ kỹ thuật và tài chánh cho CSVN không chỉ đơn giản là trao tiền mặt và hỗ trợ về kỹ thuật mà thôi. Nhưng các chuyên viên kỹ thuật IT (Information Technology) thiết lập hệ thống computer và phương trình nối vào hệ thống ngân hàng CSVN để có thể kiểm soát và ghi nhận tất cả các dữ kiện chuyển tiền đến và đi từ các ngân hàng. Từ đó nếu một lần chuyển tiền (Transaction) trên 200 triệu đồng Việt Nam hoặc một trương mục tiết kiệm có trên $500 triệu đồng Việt Nam như CSVN đã ký kết, sẽ tư động chuyển những dữ kiện (Data) đó sang hệ thống computer của Liên Hiệp Quốc.

Việt Nam luôn chối tội là không hề liên quan đến các vụ rửa tiền, và đây là một số dẫn chứng về việc làm bất chính của họ:

  • 07/06 Việt Nam Airlines chuyên chở 10.5 triệu Úc kim về Việt Nam.
  • 09/10/06 Việt Nam Airlines chuyên chở 93 triệu Úc kim về Việt Nam.
  • 04/04/08 Phi công Việt Nam Airlines chuyên chở 3.7 triệu Úc kim về Việt Nam.
  • 21/07/08 Tòa án Hoa Kỳ xử một Văn phòng du lịch Houston, Taxas chuyển 500,000 Mỹ kim về Việt Nam
Nhà cầm quyền Việt Nam cho rằng họ rất quan tâm đến vấn đề rửa tiền như họ đã chấp nhận các quy định về việc bài trừ rửa tiền, đặc biệt là Điều Khoản 251 Luật Hình Sự 1999, Điều Khoản 19 Luật Tín Dụng 1997 của Tổ Chức Tín Dụng và Sắc Lệnh của nhà cầm quyền CSVN ban hành năm 2005. Tuy nhiên, các cơ quan hành pháp CSVN chưa được phép hợp tác, cho nên họ không thể làm việc hữu hiệu trong việc chống rửa tiền. Việc nầy dễ hiểu là đảng CSVN điều hành tất cả cơ chế nhà nước thì cơ quan hành pháp là bọn tay sai Công An không thể bắt giữ thượng cấp của chúng khi phạm pháp.

Văn phòng Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam cho rằng rất khó có thể tìm thấy những bằng chứng rửa tiền vì người chuyển tiền dùng nhiều hình thức khác nhau. Trước nhất là cần tìm ra bất cứ dấu hiệu bất thường nào của người rửa tiền. Ví dụ, các viên chức chính quyền có trương mục với ngân hàng và tiền lương được trả đều đặn vào đó. Nếu thấy chuyển bất thường một số tiền lớn vào trương mục, đó có thể là tiền tham nhũng hoặc tiền kiếm được từ những việc làm bất chánh. Tuy nhiên đảng Cộng sản Việt Nam kiểm soát tất cả ngân hàng, công ty tín dụng và nếu đảng viên là tội phạm, dĩ nhiên họ sẽ được bao che.

Giới chức của văn phòng Liên Hiệp Quốc về ma túy và tội phạm đề nghị áp dụng rộng rãi các biện pháp chống rửa tiền theo tiêu chuẩn quốc tế. Liên Hiệp Quốc cũng nêu ra sự cần thiết phải đưa việc chống rửa tiền vào khuôn khổ để có thể chống tham nhũng và tội phạm. Như vậy mới có thể bảo vệ an toàn cho các ngân hàng quốc tế có chi nhánh tại Việt Nam và củng cố niềm tin của giới đầu tư vào đất nước nầy.

Việt Nam đã gia nhập Tổ Chức chống rửa tiền Á Châu Thái Bình Dương và đang tổ chức một hệ thống chống rửa tiền theo tiêu chuẩn quốc tế. Các chuyên viên chống rửa tiền cũng đề nghị nhà cầm quyền CSVN nên thay đổi cách thanh toán các dịch vụ buôn bán bằng cách dùng ngân phiếu hay điện tử thay vì tiền mặt .

Mai Vĩnh Thăng
Viết theo tin tức đài ABC Úc và các nguồn tin tức khác