Saturday, March 20, 2010

Mục Vụ Di Dân Hay Vòi Rồng Cứu Hỏa? - Ts Hồng Lĩnh

Sách Evang có câu:
"Anh em không dược làm tôi hai chủ"



Ts Hồng Lĩnh

Lời Mờ Đầu

Chiến dịch lưỡng điểm đại quy mô của CSVN, được khai diễn vào đầu năm nay, tàn nhẫn đánh vào các nhà Dân Chủ trong nước và GHCGVN.

Các bản án nặng nề cũng như các tàn bạo tại Đồng Chiêm và Cồn Dầu gây phẫn nộ trong dư luận trong và ngoài nước. Tạo ra một làn sóng chấn động phản đối và tố cáo CSVN. Trước những bằng chứng không thể chối cãi, gió đổi chiều, dư luận trong các chính giới quốc tế yêu cầu trừng phạt CSVN.

Đúng thời điểm nầy, Hai Ngài Mục Tử, sau khi đã im lặng không hiệp thông và đã hô hoán: “Lên Tiếng Hay Không Lên Tiếng, Đối Thoại và Cộng Tác”, liên tiếp theo nhau ra hải ngoại “Mục Vụ Di Dân”.

Vì không rõ mục tiêu của hai Ngài ra sao, nên không rõ có phải là Mục Vụ Di Dân thật hay cho một nhiệm vụ bí mật nào khác, có tính cách chữa lửa cho ai? Nhưng một trong hai Ngài sẽ có mặt tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Địa bàn của các quyết định có thể đem CSVN trở lại CPC và một số hành động trừng phạt khác. Cùng lúc CSVN giả vờ mở xú páp phía Ls Lê Thị Công Nhân và tạm đình chỉ án trong vòng 12 tháng cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý như một món qùa giao cho các nhà đi vận động chựa lửa. Nhưng CSVN không thay đổi chính sách hay sự tàn ác. Gỉa vờ lui để tiến.

Sự Kiện

Thông Báo

Hồng Y Phạm Minh Mẫn, theo dự trù, sẽ cùng chủ tế Thánh Lễ Đại Trào với Giám Mục Solis Oscar của Tổng Giáo Phận Los Angeles tại nhà hát Pyramid trong khuôn viên đại học Cal State Long Beach từ 9 giờ sáng đến 6 giờ chiều Chủ Nhật, 11/04/2010. Do linh mục Nguyễn Tường Luân mời.

Linh Mục Chủ Tịch Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ Nguyễn Thanh Liêm thông báo: “Hôm nay, chúng ta hân hoan chào đón Đức Cha Phêro Nguyễn Văn Nhơn, Giám Mục Đà Lạt, Chủ Tịch HĐGMVN. Ngài đến chia sẽ với cộng đồng dân Chúa vào chiều ngày thứ năm 17/06/2010 tại Giáo Xứ Mẹ Việt Nam, Maryland. Ngài cũng sẽ chủ tế và giảng thuyết trong Thánh Lễ Đại Trào vào lúc 2.00 PM thứ bảy ngày 19/06/2010 tại Vương cung Thánh đường Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội. Cũng xin qúy vị quảng đại yểm trợ cho buởi tiệc liên đoàn tổ chức với mục đích giúp đỡ GHVN vào lúc 8:00 PM ngày 18/06/2010. Sẽ có sự hiện diện của Đức Cha Chủ Tịch HĐGMVN.

Ủy Ban Phản Kháng Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn Đến Hoa Kỳ thông báo:

Tối Thư Năm ngày 11 tháng 3 năm 2010 tại phòng sinh hoạt Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 14924 đường Dillow St. Westminster CA, 92683, một phiên họp khẩn đã diễn ra với sự tham dự gồm Bác Sĩ Trần Văn Cảo Diễn Đàn Giáo Dân, Luật Sư Đoàn Thanh Liêm (Phong Trào Giáo Dân), ông Phạm Đình Khuông, ông Nguyễn Chí Dũng Không Quân, Bà Nguyễn Thị Thêu, Bác Sĩ Nguyễn Văn Quát, ông Nguyễn Việt Hùng ... ông Phạm Văn Tú ủy Ban Phối Hợp Đấu Tranh Chống Cộng Sản Và Tay Sai, ông Trần Trọng An Sơn Tập Thể Chiến Sĩ Tây Nam Hoa Kỳ, ông Phan Tấn Ngưu Chủ Tịch Liên Hội Cựu Chiến Sĩ, ông Nguyễn Mạnh Thường Diễn Đàn Giáo Dân.

Mục Vụ Bình Vôi Tại Quốc Nội

Trong khi Đồng Chiêm tan nát, Giáo dân trong máu lệ chan hòa, hai Ngài, bình như vãi và bạc như vôi, qua BBT WHD ra thông cáo nặc danh chứa tỉnh từ (Tương Kính): “HĐGM không lên tiếng về từng vụ việc (Đồng Chiêm?) nhưng HĐGM lên tiếng ở một tầm mức khác, bằng cách đưa ra những định hướng mang tính chủ đạo để mỗi địa phương áp dụng định hướng ấy vào hoàn cảnh cụ thể của mình.”

Láng Giềng Xa Nặng Lòng Cho Việt Nam

Trong khi hai Ngài hô to các khẩu hiệu trên, USCIRF, không phải là một bộ phận của dân tộc VN và của HGCGVN, đã vận động chính quyền Việt Nam phóng thích các tù nhân và những người khác bị giam giữ hoặc sách nhiễu vì hoạt động tôn giáo hoặc bênh vực cho tự do tôn giáo, bao gồm cả việc phóng thích mang tính nhân đạo cha Cha Lý, người bị suy nhược vì đột quỵ vào tháng Mười năm 2009. Và Cha Lý thuộc hàng Giáo phẩm, nên Giáo phận hay HĐGMVN phải lo lắng cho Ngài. Nhưng thực tế không lo gì cả.

Ông Leo cũng cho hay: "USCIRF đã đệ trình cho chính phủ Obama và Quốc Hội Hoa Kỳ những bằng chứng thuyết phục về các hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo đang diễn ra tại Việt Nam, lý do xác đáng để tái chỉ định Việt Nam như là một Quốc gia gây Quan ngại Đặc biệt (CPC)".

Chỉ định vào CPC sẽ đánh dấu Việt Nam là một trong những quốc gia vi phạm nhất thế giới về quyền tự do tôn giáo.

Trong một buổi điều trần của Ủy ban Đối ngoại cuối tuần qua, Trợ lý Bộ trưởng Kurt Campbell thừa nhận rằng Việt Nam đã "tái phạm" về các vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo. Ông Campbell hiện đang thực hiện chuyến đi Đông Nam Á vào thời điểm này, nhưng Việt Nam không nằm trong lộ trình của ông.

Phúc trình Nhân Quyền 2009 của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố hôm 11/3 cho hay: "Hồ sơ nhân quyền của chính quyền Việt Nam vẫn có vấn đề. Chính quyền gia tăng đàn áp bất đồng chính kiến, bắt giam và kết án tù một số nhà hoạt động chính trị... Chính quyền lợi dụng hoặc dung nạp việc sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp với một tu viện Phật giáo ở Lâm Đồng và các nhóm Công Giáo với tuyên bố tài sản không được giải quyết. Công nhân không được tự do tổ chức công đoàn độc lập, và các nhà hoạt động lao động độc lập phải đối mặt với bắt bớ và sách nhiễu".

USCIRF cũng đã kêu gọi thông qua Đạo Luật Nhân Quyền Việt Nam tại Quốc hội với tin tưởng rằng biện pháp này sẽ mang lại những cải thiện xác thực cho người dân Việt Nam và tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ vào việc thúc đẩy nhân quyền và các giá trị dân chủ ở nước ngoài.

Ông Leo cho biết thêm: "Những tuyên bố công khai quan ngại không còn đủ mạnh, chúng tôi tin rằng chính phủ Obama nên phối hợp hành động để cổ vũ cải thiện cụ thể. Khi được sử dụng trong quá khứ, chỉ định CPC đã không cản trở tiến triển về lợi ích song phương khác, nhưng đã dẫn đến những cải thiện xác thực về một số chỉ trích những quan ngại nhân quyền. Chính sách và đường lối ngoại giao Hoa Kỳ phải bênh vực rõ ràng cho cả những quyền phổ quát và gia tăng thương mại, vì thế nên gửi một tín hiệu rõ ràng rằng những lợi ích này không thể tiến hành một cách riêng biệt".

Những Nghi Vấn Và Những Vấn Đề Của Các Chuyến Mục Vụ Di Dân Nầy

Các Nghi Vấn

Nếu là Mục Vụ Di Dân, thời chương trình sẽ gặp gỡ Di Dân ở đâu? Nhưng sao chỉ thấy hai linh mục, có tên trong hai thông cáo ghi ở trên, mời hai Ngài tới chủ Thánh lễ vào hai buổi chiều thôi.

Không lẽ hai Ngài tới Mỹ cho Mục Vụ Di Dân lại chỉ gặp một số dân được chọn lựa trước và không biết có dân nào sẽ tới gặp hai Ngài trong một thời gian của buỗi lễ và có thể là trong một bữa cơm.

Nhưng một ủy ban, thay chào đón HY Mẫn, đã được thành lập để tổ chức phản đối sự có mặt của Ngài tại Mỹ và đang chờ Ngài HY Mẫn tại Long Beach là chắc chắn!

Hai Ngài có hiểu tại sao mà như vậy giữa Cha và Con không? Tại con chiên hay tại Mục Tử hay tại cả hai?

Hai Ngài tới Mỹ đúng vào thời điểm của những phẫn nộ và các vận động trừng phạt CSVN vì lý do vi phạm Nhân Quyền và đàn áp tôn giáo. Một trùng hợp ngẫu nhiên hay một cố ý? Thú thật không biết đâu là sự thật. Vì chỉ có hai Ngài và Chúa hay có thể một ai đó biết thôi!

Các Vấn Đề Liên Quan Tới Hai Linh Mục Mời Hai Ngài Đồng Tế Thánh Lễ

1.- Hai linh mục Nguyễn Tường Huân và Nguyễn Thanh Liêm phải rất rõ là hai Ngài Hồng Y Phạm Minh Mẫn và Giám Mục Chủ Tịch Nguyễn Văn Nhơn đã Mục Vụ, hiệp thông cũng như chia sẽ bình vôi ra sao với dân Chúa tại Đồng Chiêm và Cồn Dầu!

Trong khi linh mục Nguyễn Thanh Liêm đã ra thông cáo hiệp thông và cầu nguyện cho Đồng Chiêm. Một hành động đúng mức và đúng cở theo tinh thần TCG. Một phía linh mục hiệp thông và phía kia tiếp đón kẻ không hiệp thông nghĩa là gì trong tinh thần TCG?

(MT: Lm Nguyễn Thanh Liêm dịnh di chàng hảng 2 chân 2 bên dễ cho chắc ăn)

Không lẽ ông làm gì kệ ông và tôi làm gì kệ tôi, hiệp thông hay không hiệp thông với dân Chúa khổ nạn? Một trung lập giữa hành động tốt và hành động xấu?

2.- Trong dịp Giám Mục Chủ Tịch qua Mỹ, linh mục Liêm tổ chức buổi cơm quyên tiền cho GHVN và có lẽ sẽ trao cho Ngài Chủ Tịch cầm về, linh mục có biết Ngài Chủ Tịch có bao giờ nhân danh GHCGVN để ra hiệp thông và chia sẻ với Giáo dân khổ hạnh tại Đồng Chiêm và Cồn Dầu không? Như vậy quyên tiền cho “GH” ấy, khi “GH” ấy không tỏ ra có khả năng gửi một miếng cháo lỏng cho dân Chúa khổ nạn và đói rét tại Đồng Chiêm là thế nào? Như vậy có phải chọn sai mặt gửi vàng không?

Các Vấn Đề Liên Quan Tới Hai Ngài Mục Vụ Di Dân

1.- Trong khi NVHN cũng như dân Chúa của NVHN đang xôn xao về sự chia rẽ trong hang Giám mục VN trong biến cố Đồng Chiêm, ngoài ra quốc tế đang nặng lòng đối với VN và tố cáo CSVN đàn áp tôn giáo cũng như đang tạo áp lực mạnh bắt CSVN phải tôn trọng con người, Nhân Quyền và tự do tôn giáo, sau các bắt bớ và các vụ đàn áp tại Đồng Chiêm và Cồn Dầu, sao Hai Ngài làm thinh và nay ra hải ngoại chia sẽ và Mục Vụ Di Dân còn có nghiã gì không? Không lẽ hai đối tượng khác nhau và hai tốc độ phải khác nhau?

Hai Ngài chỉ muốn và cần chia sẽ với dân Chúa hải ngoại thôi, trong khi dân Chúa tại Đồng Chiêm mong được hai Ngài chia sẽ và sự chia sẽ ấy lại rất cần hơn sự chia sẽ tại hải ngoại. Nhưng hai Ngài nhất quyết không chia sẽ với Đồng Chiêm và Cồn Dầu!

2.- Hai Ngài định chia sẽ cái gì đây? Không lẽ chia sẽ cái làm thinh của hai Ngài? Hay chia sẽ “Lên Tiếng hay Không Lên Tiếng, Đối Thoại và Cộng Tác, Đồng Hành và Hy Vọng cũng như Đừng Làm Phiền Giáo Quyền”?

Nhưng tại hải ngoại phần đông qua các bài vở trên các diễn đàn cũng như qua các Thánh lễ, thấy Dân hải ngoại đã lên tiếng, chủ trương không đối thoại và không cộng tác cũng như không đồng hành với CSVN và không hy vọng gì nơi CSVN hết.

Như vậy có vấn đề không đồng mẫu số, nên không có thể hay không có gì để chia sẽ giữa hai Ngài và NVHN nói chung hay dân Chúa của NVHN nói riêng.

Vì là hai tuyến ngược chiều giữa hai Ngài và NVHN. Như vậy mục tiêu không phải là Mục Vụ Di Dân để chia sẽ!

Lạy Chúa! Xin che chở con khỏi những Mục Tử không hiệp thông, còn đối với CSVN, con xin tự lo liệu! Theo ý của Nã Phá Luân.

Ts Hồng Lĩnh

Tưởng nhớ thi sĩ Hữu Loan

Thi sĩ Hữu Loan, người nổi tiếng với bài thơ Màu tím hoa sim và có cuộc đời chìm nổi, đã qua đời ở nhà riêng tại thôn Vân Hoàn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa hôm 18/03, hưởng thọ 95 tuổi.

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên được báo trong nước dẫn lời nói: “Hữu Loan là một con người cương cường, dám sống cho những điều mình tin, mình yêu và mình nghĩ”.

Tham gia phong trào Việt Minh từ đầu thập niên 1940 và sau đó là cuộc kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan nổi tiếng lần đầu tiên qua bài thơ Đèo Cả:

Gian nan lòng không nhợt
Căm hờn trăm năm xa
Máu thiêng trôi dào dạt
Từ nguồn thiêng ông cha

Năm 1949, ông sáng tác bài thơ Màu tím hoa sim trong hai giờ đồng hồ để tưởng niệm người vợ đầu, bà Lê Đỗ Thị Ninh, tử nạn vì bị nước cuốn trôi.

Theo lời kể của chính nhà thơ, hai người kết hôn được hai tuần thì ông phải tiếp tục lên đường hành quân.

"Hôm tiễn tôi lên đường, Em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ giờ em không còn cô bé Ninh nữa, mà là người bạn đời yêu qúy của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại ... Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mát thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

"Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn( thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi nỗi đau không gì bù đắp nổi."

60 năm đi qua, hàng triệu độc giả đã yêu quý và thuộc những dòng thơ của Màu tím hoa sim:

Chiều hành quân qua những đồi hoa sim những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa.
“Áo anh sút chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm
Mẹ già chưa khâu …”

Bài thơ càng trở nên nổi tiếng nhờ được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc - Phạm Duy, Dzũng Chinh, Anh Bằng, Duy Khánh.

Theo nhà thơ Thanh Thảo, Màu tím hoa sim "mang một nỗi ám ảnh khôn nguôi của cả dân tộc Việt về chiến tranh, về những bi kịch trong chiến tranh. Điều đó lý giải vì sao bài “Màu tím hoa sim” ngay từ khi đất nước còn bị chia cắt, đã được độc giả cả hai miền Bắc-Nam cùng yêu thích".

Truân chuyên

Sau năm 1954, Hữu Loan về lại Hà Nội, làm việc tại báo Văn Nghệ.

Cuộc đời ông biến chuyển trong giai đoạn 1955-56, khi xảy ra phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm đòi hỏi tự do cho văn nghệ tại miền Bắc.

Trong cuộc phỏng vấn của BBC năm 2002 với nhà thơ Hữu Loan, ông kể lại lý do vì sao Màu tím hoa sim khi đó bị 'đánh': "Lúc bấy giờ làm Thơ là phải làm về Cộng sản, làm về Bác Hồ chứ không được khóc cái đau riêng của mình. Cái đau khổ riêng của con người là không được khóc."

Còn trong một tự thuật gần đây hơn, tác giả kể thêm:

"Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán."

Cuộc sống chật vật, bị lãng quên cứ tiếp tục như thế cho đến cuối thập niên 1980, khi tên tuổi của ông được khôi phục trở lại. Năm 2004, một công ty tại Việt Nam mua bản quyền bài Màu tím hoa sim với giá 100 triệu đồng.

Source: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture/2010/03/100320_huuloan_orbit.shtml

Đồ tể việt cộng đến Úc

    Nguyễn Chí Vịnh Úc
Bộ trưởng quốc phòng liên bang Úc và Nguyễn Chí Vịnh
Bộ trưởng Quốc phòng Úc John Faulkner vừa tiếp thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam, trung tướng Nguyễn Chí Vịnh tại Canberra.

Trong buổi gặp tại trụ sở của Bộ Quốc phòng Úc, thượng nghị sĩ Faulkner khẳng định tầm quan trọng của quan hệ quốc phòng song phương.

Tại buổi gặp, bộ trưởng Faulkner đã trao cho trung tướng Nguyễn Chí Vịnh bộ hồ sơ về người Việt mất tích trong chiến tranh Việt Nam.

Hồ sơ là kết quả nghiên cứu trong nhiều năm giữa Đại học New South Wales và Học viện Quốc phòng Úc.

Theo Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Úc, công trình nghiên cứu của phía Úc về quân nhân Việt Nam mất tích trong chiến tranh là hành động đáp trả sự hợp tác của Việt Nam giúp Úc tìm kiếm hài cốt của quân nhân Úc mất tích trong chiến tranh Việt Nam.

Phía Úc cho hay Canberra sẽ tiếp tục trợ giúp cho Việt Nam trong việc tìm kiếm quân nhân Hà Nội mất tích trong cuộc chiến.

Thúc đẩy hợp tác

Tháng Tám năm 2009, tướng David Hurley, Phó Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng Úc đã đến thăm Việt Nam.

Hợp tác về quốc phòng giữa hai nước Việt-Úc được đẩy mạnh trong thời gian gần đây.

Lĩnh vực quân đội hai nước để ý bao gồm “trao đổi đoàn, đào tạo, quân y, phòng chống khủng bố, quản lý biên giới, tìm kiếm hài cốt quân nhân mất tích trong chiến tranh,” TTXVN đưa tin.

Trong chuyến thăm của tướng Hurley tới Hà Nội năm ngoái, hai nước Úc Việt đã bàn thảo về “chia sẻ kinh nghiệm tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc,” cùng các biện pháp khác nhằm thúc đẩy quan hệ song phương.

Từ năm 2001 đến nay, Việt Nam và Úc luôn có các chuyến thăm cấp cao về quốc phòng. Diễn đàn ‘Đối thoại chiến lược thường niên’ được coi là nơi gặp gỡ thường kỳ của viên chức ngoại giao và quốc phòng hai nước.

Quan hệ quốc phòng Việt-Úc hình thành từ năm 1999. Khi ấy hai nước quyết định cử tùy viên quân sự làm việc tại đại sứ quán mỗi nước.

Canberra khởi xướng Chương trình Hợp tác Quốc phòng, mục đích giúp Việt Nam huấn luyện quân nhân trong lĩnh vực quân y và đào tạo tiếng Anh.

Từ năm 1999 đến nay chương trình này đã đào tạo khoảng 150 sĩ quan, cán bộ Việt Nam tại Úc. Về đạo tạo nhân lực cho quốc phòng, Úc là nước giúp Việt Nam nhiều nhất.

Cho đến nay 40 sĩ quan Việt Nam được cấp bằng thạc sĩ tại các trường đại học của Úc. Gần 30 sĩ quan cao cấp theo học tại Trường Quốc phòng Úc, Australian Defence College.

Thế lực

Dù báo trong nước không loan tin, nhiều người cho rằng đây chuyến thăm Úc lần đầu của trung tướng Nguyễn Chí Vịnh.

Sinh năm 1957, ông Vịnh từng giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục 2, Bộ Quốc phòng, phụ trách tình báo quân đội.

Ông bắt đầu giữ chức Thứ trưởng Quốc phòng từ tháng 02/2009.

Gần đây, Thứ trưởng Vịnh xuất hiện nhiều trong các tiếp xúc với công chúng, gây đồn đoán về một vai trò lớn hơn cho ông trong tương lai.

Chính ông đã chủ trì cuộc họp báo công bố Sách trắng Quốc phòng Việt Nam lần thứ ba hồi tháng 12/2009.

Đầu tháng 02/2010, ông cũng chủ tọa một cuộc họp báo công bố chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam, trong đó nhấn mạnh các nguyên tắc độc lập-tự chủ và đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ.

Source: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/03/100320_ngchivinh_australia.shtml

Thursday, March 18, 2010

Phiên Tòa Trung Thẩm tại Victoria, Úc châu - Ngày thứ bảy

Thứ Năm, ngày 18.03.2009

Hôm nay phiên toà tiếp tục với 2 nhân chứng còn lại bên phía bị cáo và cũng là 2 nhân chứng cuối cùng của vụ kiện. Nhân chứng đầu tiên được mời lên là cô Trịnh Mai Lan và kế đến là bà Văng Ngọc Đạm.

Trong 6 người nhân chứng bên phía bị cáo thì đã có hết 5 người có khả năng Anh ngữ để đối đáp trực tiếp với quan toà, chỉ riêng bà Đạm là cần đến thông dịch viên. Nhưng vì thông dịch viên đến hơi trễ nên toà đã phải tạm nghĩ 15 phút sau phần chất vấn của cô Lan. Cũng vì cần gấp thông dịch viên cho nên ngày hôm qua ông Nguyễn Thế Phong đã rối lên vì không tìm được ai - tất cả những thông dịch viên có khả năng đều có việc (booked out). Nhưng cuối cùng thì Cộng Đồng cũng đã tìm ra được một người có khả năng. Mặc dầu người này không còn chính thức hành nghề thông dịch nhưng khi nghe Cộng Đồng cần đến mình thì anh vui vẽ và sẳn lòng nhận lời đến giúp dù rất bận. Phong thái của anh rất khoan thai và tự tin khi thông dịch đã làm cho nhân chứng yên tâm và bình tĩnh hơn.

Trở lại phần chất vấn thì ngoài nhưng câu hỏi vòng ngoài (peripheral questions), những câu hỏi chính (về việc bị cáo có nói hay không những lời mà nguyên đơn đã căn cứ trên đó để tiến hành vụ kiện phỉ báng), lần này trạng sư bên nguyên đơn còn có các câu hỏi về vấn đề gây quỹ để trang trãi án phí cho Cộng Đồng. Khi được hỏi đến phần đóng góp của bà thì bà đã cho biết là bà đã phải vay tiền ngân hàng để cho Ủy Ban Pháp Lý mượn. Ngoài ra khi được hỏi là bà có được Cộng Đồng trả tiền (get paid) khi dựng lên "Ngôi Nhà VN" tại hội chợ Tết ở Sandown không, thì bà đã trả lời là việc làm đó của gia đình bà và những người phụ giúp đều hoàn toàn có tính cách thiện nguyện để giúp cho Cộng Đồng.

Sau phần chất vấn nhân chứng chấm dứt (vào lúc 2 giờ 15) là đến phần trạng sư đôi bên trình lên vị Thẩm Phán bản đúc kết dựa trên những chứng cớ đã được đưa ra. Vì thời gian làm việc về bản đúc kết của trạng sư sẽ kéo dài khá lâu nên Bồi Thẩm Đoàn đã được cho về ngay vào lúc đó.

Căn cứ trên bản đúc kết của hai bên vị Thẩm Phán đã cho biết là phán quyết (verdict) của vụ kiện sẽ được để cho Bồi Thẩm Đoàn quyết định vào ngày mai. Phiên toà đã chấm dứt vào khoảng 3 giờ 30 chiều. Ra khỏi phòng xử hai vị Trạng Sư và Luật Sư đã đứng lại để giải thích cho đồng hương rõ về bản đúc kết đã được trình lên vị Thẩm Phản cùng với những gì 2 ông đã làm nhằm mục đích đưa ra sự thật và đem công lý đến cho vụ kiện.


















Source: http://www.lyhuong.net/viet/index.php?option=com_content&view=article&id=2275:2275&catid=39:sinhhoatcongdong&Itemid=58
*****
    Phiên Tòa Trung Thẩm tại Victoria - Ngày thứ tám

Thứ Sáu, ngày 19.03.2010

Sáng hôm nay khi vừa mới gặp nhau nhiều đồng hương đã thì thầm là suốt đêm qua trằn trọc không ngủ được vì quá lo lắng. Riêng ông Võ Ngọc Anh thì đang ngồi một mình và đọc báo một cách điềm nhiên. Và ông đã tâm sự rằng ... [Xin cáo lỗi cùng quý độc giả, phần này người viết xin tự ý kiểm duyệt vì những ràng buộc về luật pháp khi vụ kiện vẫn còn đang tiếp diễn. Xin quý độc giả trở lại đọc phần này sau khi vụ kiện kết thúc.]

Trong suốt những ngày qua, khi nhìn thấy những lúc ông Võ Ngọc Anh ngồi lẻ loi một mình, đồng hương đã tỏ lòng xót xa thương cảm ông và chỉ mong ông dẹp bỏ những thành kiến, những ý nghĩ sai lạc để trở về với Cộng Đồng. Có người rất muốn bước đến để thăm hỏi, trò chuyện với ông nhưng không ai dám, chỉ vì sợ ông hiểu lầm thiện ý của mình.

Hôm nay phiên toà được Trạng Sư bị cáo mở đầu với phần thảo luận (chiếu theo những điều luật hiện hành) về những điều gì, những chứng cớ nào cần phải bỏ đi và những gì sẽ được đưa ra trước Bồi Thẩm Đoàn để quyết định. Sau đó vị Thẩm Phán đã đọc bản đúc kết với những chi tiết do Trạng Sư hai bên trình lên. Kế tiếp là phần trình bày của Trạng Sư với những chứng cớ qua lời khai của tất cả các nhân chứng để bênh vực cho thân chủ (client) của mình và thuyết phục Bồi Thẩm Đoàn.

Bên bị cáo được cho trình bày trước. Một lần nữa, trước Bồi Thẩm Đoàn và mọi người vị Trạng Sư bị cáo đã tỏ ra rất chu đáo và đã làm việc, sắp xếp, chuẩn bị rất cẩn thận và kỹ lưỡng (well prepared and well organised). Ông đã bắt đầu phần trình bày của ông bằng cái định nghĩa về sự phỉ báng, mạ lỵ theo luật pháp (defamation law). Tiếp theo là ông đưa ra những chứng cớ cùng với lý lẽ và lời giải thích để thuyết phục Bồi Thẩm Đoàn. Mọi vấn đề được ông đề cập đến đều được ông trưng dẫn, chiếu theo những điều luật hiện hành (luật gì, phần nào, điều khoản nào, mục số mấy, ...) rất thành thạo. Phần trình bày của vị Trạng Sư bị cáo đã kéo dài hơn 2 giờ rưởi đồng hồ.

Đến lượt bên nguyên đơn, để thuyết phục Bồi Thẩm Đoàn, trong những chứng cớ và lý lẽ mà vị Trạng Sư đưa ra, ông cũng đã đề cập đến vấn đề tuổi tác và cho rằng nguyên đơn là một người lớn tuổi không "sâu sắc" (less sophisticated), không khéo léo trong việc ăn nói. Do đó ông đã yêu cầu Bồi Thẩm Đoàn hãy nhìn vào sự việc bằng một một cái nhìn sâu rộng hơn chứ không phải chỉ phán xét căn cứ theo những gì chỉ được thấy/nghe bên ngoài (face value). Phần trình bày của vị Trạng Sư bên nguyên đơn kéo dài gần một giờ đồng hồ.

Thời gian trình bày của 2 vị trạng sư kéo dài khá lâu cho nên trong phòng xử đã có nhiều người ngáp ngắn ngáp dài, nhắm mắt ngủ gật. Tuy rất mệt mỏi, nhưng vì nóng lòng trông chờ kết quả nên không ai chịu bỏ ra ngoài hoặc ra về. Ngược lại, vì cứ nghĩ rằng phiên toà sẽ kết thúc vào ngày hôm nay, nên đồng hương đến tham dự rất đông, có nhiều người đã phải đứng, phải ngồi chung ghế. Sau đó một hàng ghế bên ngoài hàng lang đã được cho phép mang vào phòng xử để có đủ chổ ngồi cho mọi người.

Vì phần trình bày của Trạng Sư đã chiếm hết thì giờ của phiên toà ngày hôm nay, do đó sau khi 2 vị Trạng Sư đã trình bày xong và không còn điều gì để thảo luận và bàn cãi thì vị Thẩm Phán đã chấm dứt phiên tòa và nói rằng bà sẽ hướng dẫn Bồi Thẩm Đoàn trong việc đi đến chung quyết vào ngày Thứ Hai tới đây.

Như thường lệ, lúc ra khỏi phòng xử vị Trạng Sư (bị cáo) đã đứng lại, dành năm ba phút để trò chuyện cùng đồng hương. Nhân dịp này ông Nguyễn Thế Phong đã tỏ lời cám ơn và lòng biết ơn của Cộng Đồng đến với vị Trạng Sư về sự giúp đỡ hết lòng (dedicated) của ông. Đáp lại, ông đã nói rằng - trong suốt những ngày qua ông đã quan sát và ông rất cảm phục sự hỗ trợ kiên trì của đồng hương đối với Cộng Đồng và rất cảm kích về sự đoàn kết của Cộng Đồng Người Việt, do đó ông đã lấy làm buồn khi thấy Cộng Đồng của chúng ta bị đưa ra toà.












Ông Võ Ngọc Anh (nguyên đơn) ngồi đọc báo