Friday, May 27, 2011

Thư Trả Lời Việt Dũng - Đỗ Văn Phúc

Đỗ Văn Phúc

Tôi có nhận được từ một người bạn, bài viết của Việt Dũng phê bình bài này của tôi.

Xin cám ơn anh Việt Dũng đã có những nhận xét rất đúng về sự thiếu sót của tôi. Và cũng xin ghi nhận những lời phê bình bình tĩnh, hoà nhã của anh; thể hiện phong cách của một người có giáo dục và tư cách. Đó cũng là phong cách cư xử đứng đắn giữa những chiến hữu với nhau.

Đúng như Việt Dũng đã viết, tôi đã quá đặt nặng việc phê phán những hiện tượng tiêu cực trong giới nghệ sĩ, mà thiếu phần cỗ vũ những khía cạnh tích cực của những nghệ sĩ có tinh thần cộng đồng, lập trường Quốc Gia, Họ là những viên ngọc cần được nâng niu và khích lệ.

Nhưng trong một cách nhìn bao quát, thì đa số các nghệ sĩ chuyên nghiệp thường chiều theo thị hiếu của khán giả để còn đứng được trên sân khấu. Trong khi đó, một phần nhỏ những nghệ sĩ nặng tình Quốc Gia thì có mục tiêu là phục vụ đấu tranh cho dù bị thua thiệt về nhiều mặt trong cuộc sống. Và tôi tin rằng họ chấp nhận hy sinh như thế cũng như những nhà tranh đấu khác.

Khi nhắc đến các sinh hoạt văn nghệ, thì thường có hai loại hình cho hai mục đích khác nhau:

1. Những buổi nhạc hội, dạ vũ có bán vé thì khán giả là quần chúng bình thường. Thị hiếu của họ là các loại nhạc tình cảm nặng về giải trí. Khán giả chỉ ưa nhìn các ca sĩ trẻ tuổi hay nổi danh vang bóng một thời với những xiêm y màu sắc rực rỡ, vơí lối diễn tả ướt át, khêu gợi; nhạc điệu mùi mẫn hay giật gân.

Những kẻ xướng ca vô loài
2. Trong khi những sinh hoạt nghiêm trang của Cộng Đồng để kỷ niệm những ngày trọng đại, thì khán giả là thành phần chọn lọc, mà chỉ thích hợp với các bản nhạc thiên về lòng ái quốc, đấu tranh. Đó là sở trường của các nghệ sĩ như Việt Dũng, Nguyệt Ánh. Và than ôi, ban tổ chức chỉ có khả năng trang trải chút sở phí di chuyển, ăn ở cho các bạn chứ không thể trả cát sê hàng chục ngàn như khi mời Như Quỳnh, Ý Lan… Dù những ca sĩ sau này chưa chắc đã hát hay hơn các ca sĩ Hưng Ca.

Lần nữa, xin cám ơn Việt Dũng, và cũng nhân đây, xin tỏ lòng ngưỡng mộ đối với những người Việt tị nạn (trong đó có các nghệ sĩ) dù bao năm qua, vẫn giữ vững lập trường không bán tư cách, tài năng vì danh vọng và tiền bạc để phản bội lý tưởng chung.

Cũng xin thưa với Việt Dũng, không chỉ có các nghệ sĩ phản thùng, mà ngay trong anh em cựu quân nhân, cựu tù nhân chính trị chúng tôi, cũng không thiếu những kẻ đã quay đầu, chạy về Việt Nam tâng bốc cái chế độ mà họ đã từng chiến đấu chống lại và từng bị ngược đãi sau chiến tranh. Cũng có những kẻ tuy còn cư ngụ tại các nước tự do, nhưng đã lập lờ làn ranh Quốc Cộng, vì chút lợi sẵn sàng ngồi chung mâm với kẻ thù hay vớ bọn tay sai của giặc..

Bọn này còn tệ và đáng khinh bỉ hơn các nghệ sĩ phản thùng rất nhiều.

Đỗ Văn Phúc
Austin May 26, 2011
________________
    Tệ Trạng Ca Sĩ Hải Ngoại Về Ca Hát Ở Việt Nam
Viet Dzung

Đọc bài viết của ông Đỗ Văn Phúc về vấn đề ca sĩ hải ngoại về ca hát ở Việt Nam, tôi không thể chạnh lòng và không thể không viết lên một vài suy nghĩ về vấn đề này.

Ngay từ đầu bài viết, ông Đỗ Văn Phúc trích lời ông Đào Duy Từ để khép tất cả các nghệ sĩ vào bốn chữ “Xướng ca vô loài”, và cho dù ở cuối bài, ông viết thêm một câu rằng “Nhưng cũng xin đừng vơ đũa cả nắm mà mắng mỏ người ta là xướng ca vô loài, tội nghiệp cho những nghệ sĩ có lòng và có tư cách”.

Nội dung trong bài viết chỉ quy trách những nghệ sĩ đã về Việt Nam trình diễn, nhưng tác giả đã không nhìn thấy rằng con số nghệ sĩ về Việt Nam trình diễn trong suốt 36 năm qua, chỉ khoảng VÀI CHỤC người, trong tổng số cả ngàn nghệ sĩ tại hải ngoại, tức là một tỷ lệ rất ít so với tỷ lệ Việt kiều về nước thăm quê hương và sĩ số người Việt trên toàn thế giới.

Điều tôi muốn nói lên ở đây là có những nghệ sĩ mà cho đến nay, tấm lòng của họ dù đã bao nhiêu lần được mời, được trả bằng những số tiền khổng lồ, nhưng vẫn từ chối về Việt Nam trình diễn. Những trường hợp điển hình như nữ danh ca Thanh Thúy, dù đã về Việt Nam nhiều lần để làm việc từ thiện, nhưng vẫn quyết tâm không bao giờ hát cho chế độ ở trong nước. Còn rất nhiều những ca sĩ khác, già có, trẻ có, thế hệ cũ có, thế hệ mới có, không bị choáng mắt bởi những số tiền khổng lồ, không vì đam mê danh vọng hão huyền, vẫn trung thành với cộng đồng người Việt tại hải ngoại, vậy thì tại sao chỉ có những lời chê bai nghệ sĩ, mà không hề có một lời vinh danh những người đó?

Trước đây dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, chính quyền Việt Nam có cả một bộ Dân vận và Chiêu hồi, có cả một lực lượng nghệ sĩ hùng hậu, từ ca sĩ cho đến nhạc sĩ sáng tác, có cả một ngân khoản lớn lao để tài trợ cho các chương trình đó. Thế nhưng ra tới hải ngoại, những nghệ sĩ đấu tranh chỉ hoạt động trong cô đơn, âm thầm. Từ một Trầm Tử Thiêng với những ca khúc để đời, đến Trần Thiện Thanh với những bài hát về lính, và ngay cả mới đây là nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang, họ chỉ được vinh danh khi họ nhắm mắt lìa đời, và danh dự nhất đối với họ là phủ được lá cờ vàng ba sọc đỏ lên chiếc quan tài trước khi chôn cất. Thế nhưng khi còn sống, có ai nghĩ tới họ, và họ đã chết trong cô đơn nếu không muốn nói là có những trường hợp nghèo khó tột cùng.

Đó là chưa kể đến những tranh chấp trong cộng đồng. Một cộng đồng khi chia thành hai ba nhóm, nhóm này tranh chấp với nhóm kia, nhóm kia mời nghệ sĩ này về trình diễn thì nhóm này ngay lập tức nhao nhao lên chỉ trích, gọi nghệ sĩ đó là Việt gian, Việt cộng. Chuyện này xảy ra thường xuyên đến nỗi ngay cả những người có lòng nhất, nay cũng ngại khi phải về giúp cho một cộng đồng ở những thành phố đang có những chia rẽ trầm trọng giữa những người Việt quốc gia.

Những người còn sống, đã cả một đời viết và sáng tác nhạc tranh đấu, cũng chẳng hơn gì. Một Phan Văn Hưng ở Úc, một Nguyệt Ánh ở Hoa Thịnh Đốn, nhóm Phong Trào Hưng Ca, hay nhóm Tù Ca Xuân Điềm, có ai nghĩ đến việc yểm trợ họ không? Có ai nghĩ đến chuyện mua băng, mua video của họ không? Có cộng đồng nào nghĩ đến việc mời họ đến trình diễn và trả cachet tương xứng cho họ không? Hay chỉ là những tổ chức, những cộng đồng mời họ đến vào dịp 30 tháng 4, 19 tháng 6, trình diễn FREE miễn phí để đóng góp cho công cuộc đấu tranh của cộng đồng, rồi sau đó cũng chính cộng đồng hay tổ chức đó đã không hề nhớ đến họ khi đứng ra tổ chức đại nhạc hội Tết hay dạ vũ, và lấy tiền trả cho những ca sĩ khác với những số tiền lớn gấp ba gấp bốn để gây quỹ? Cho tới nay đã có một tổ chức nào, cộng đồng nào, hay ngay cả một nhóm nào vinh danh những nghệ sĩ đấu tranh này hay chưa? Hay chỉ vinh danh những tổ chức xã hội, từ thiện, những cá nhân khác? Ngay cả việc khuyến khích những người trẻ sáng tác và hát những nhạc phẩm tranh đấu cho dân chủ, cho nhân quyền, cho tự do, đã có ai làm hay chưa? Những câu hỏi đó thì có, nhưng không có câu trả lời.

Muốn có một cây tốt, thì phải ươm mầm tốt. Muốn có những nghệ sĩ nặng lòng với đất nước, thì phải có những chương trình khuyến khích, nâng đỡ họ. Chúng ta có những chương trình khuyến học, những trung tâm Việt ngữ để dạy cho trẻ quên tiếng Việt. Chúng ta cần thêm những người biết quý trọng những nghệ sĩ đã bỏ cả cuộc đời để dấn thân đấu tranh cho Việt Nam, cho tự do, cho dân chủ, hoặc đã dám hy sinh từ bỏ mọi quyền lợi, danh vọng, tiền bạc và trung thành với cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Mong rằng ý kiến này đóng góp thêm cho bài viết của tác giả, và cũng mong rằng cộng đồng người Việt tại hải ngoại nên nghĩ lại về thái độ của mình đối với những nghệ sĩ của chúng ta.

Viet Dzung

Tệ Trạng Ca Sĩ Hải Ngoại về Ca Hát ở Việt Nam Trách Chi Những Kẻ Chỉ Biết Lợi Nhuận - Đỗ Văn Phúc

Đỗ Văn Phúc

Ngày xưa, ông Đào Duy Từ tuy là một nhân tài lỗi lạc, nhưng vì là con của một đào hát cô đầu, nên không được đi thi để ra làm quan như các sĩ tử khác. Xã hội Việt Nam cho đến thời Cộng Hoà, vẫn coi những người hoạt động trong giới ca hát là thấp kém nhất; không có trong sự xếp loại “Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh”. Vì thế, mới có chữ “Xướng Ca Vô Loài”

Khác với xã hội Tây Phương mà nghệ thuật trình diễn đã được coi trọng từ hàng trăm năm trước, nhất là khi có quan điểm tân tiến về bình đẳng xã hội; Việt Nam ta vẫn coi nhẹ nghề ca hát, kịch trường. Một phần do ảnh hưởng phong kiến, một phần cũng do tự những giới trong nghề trình diễn phần lớn xuất thân kém cỏi và ít chịu thăng tiến về kiến thức và phẩm cách. Họ thường nổi lên do chút tài thiên phú. Có một số ít học, mà không qua các lớp đào tạo để có những kiến thức cơ bản trong nghề và các kiến thức về xã hội. Vì thế, một phần của giới này có lối sống buông thả, thiếu phẩm hạnh, thiên về lợi danh.

Theo làn sóng người di tản tị nạn Cộng Sản, các ca sĩ nhạc sĩ cũng có mặt rất sớm trên mảnh đất tự do. Sau đó, những chuyến vượt biên, đoàn tụ đã đem lại thêm rất nhiều người tài danh để đủ khả năng hình thành một sinh hoạt văn nghệ sống động tại Hoa Kỳ và các nước tự do – là món ăn tinh thần không thể thiếu được của những người Việt mới định cư, chưa hội nhập vào đời sống văn hoá hoàn toàn khác lạ của các nước sở tại.

Những năm khi còn ở trong các trại tù Cộng Sản, chúng tôi luôn luôn nuối tiếc về sự “khai tử” của nền văn hoá văn nghệ phong phú của miền Nam Tự do. Nhưng nhờ các ca, nhạc sĩ di tản, nền văn hoá, văn nghệ đã được hồi phục và phát triển mạnh. Các bản nhạc được ghi chép lại, trình diễn và phổ biến rộng rải đã trở thành niềm vui và hy vọng cho hàng triệu người Việt chúng ta không những ở hải ngoại mà cả ngay trong nước. Đó là điểm son mà chúng tôi không hề quên.

Người Việt hải ngoại đã trả công xứng đáng cho các ca, nhạc sĩ, các chương trình Thúy Nga, Asia, các đại nhạc hội tổ chức khắp nơi bằng sự tham dự đông đảo, bằng các bài báo vinh danh, quảng bá. Những tưởng rằng tấm lòng của họ sẽ chung thủy với sự cổ vũ, đùm bọc của đồng hương.

Nhưng mấy năm gần đây, làn sóng những ca (có vài nhạc sĩ) quay bước trở về Việt Nam để mua nhà, mở tiệm, ca hát càng ngày càng tăng. Thậm chí có những ca nhạc sĩ còn lếu láo tuyên bố ca tụng Cộng Sản và được Cộng Sản ban cấp bằng khen ve vuốt. Những người này không lâu trước đây còn đứng trên sân khấu Asia, Thúy Nga, mặc áo lính, hát những bài ca tụng chế độ Cộng Hoà, vinh danh người lính miền Nam; thì đùng một phát, trở mặt thấy xuất hiện trên sân khấu Sài Gòn. Có những ca sĩ trở mặt nhiều lần, từ đỏ sang vàng, kiếm được chồng sang, kiếm được chút vốn, lại trở từ vàng sang đỏ. Có kẻ sau khi về đỏ, bị lừa bịp, hất cẳng lại từ đỏ sang vàng nhanh đến chóng mặt.

Sự trở cờ, quay mặt này làm hao tốn không ít bút mực lời bàn trên các trang web, báo chí hải ngoại. Người ta lên án, chê bai thậm chí thoá mạ bằng nhiều chữ rất tàn độc. Đa phần là do các ca sĩ đã luống tuổi, giọng ca đã bể không còn hơi. Ở hải ngoại, khan giả còn chút cảm tình mà chấp nhận. Họ tưởng có thể mò về Việt Nam để được vỗ tay vì chút dư âm của dĩ vãng xa xưa. Người ta đã miệt thị những kẻ này bằng các chữ khó nghe như “con Nhện Trắng Gò Công”, “Nguyễn Cao Kỳ Cẩu”, “Trịnh Hủi” …

Người viết bài này đã hơn một lần lên tiếng đề nghị không nên mất thì giờ về những ca sĩ này. Vì xét cho cùng, họ không phản bội điều gì cả. Họ không tôn thờ lý tưởng nào mà chỉ là những người làm tiền, kiếm danh vọng. Ngoài một số ít các ca nhạc sĩ có trình độ, có ý thức chính trị như Lê Dinh, Duy Khánh, Lam Phương, Ngọc Minh … đa số không hề có chút lập trường, nhận thức chính trị nào. Họ ra đi khỏi Việt Nam là để trốn chạy một chế độ mà họ không thể sống thoải mái được như trong một xã hội tự do. Điểm này có vẻ nghịch lý, vì kinh tế cũng là một phần trong phạm trù chính trị. Nhưng trong thâm tâm họ, họ không có cái tầm nhìn như thế. Vì thế, khi có cuộc sống thoải mái ở nước ngoài, mà lại được đi về Việt Nam ca hát, thì họ tận dụng ngay cơ hội. Mục đích của họ chỉ là tiền và danh thôi.

Lỗi là tại chúng ta đặt quá nhiều kỳ vọng vào họ và đánh giá họ cao hơn nhiều thực chất của họ. Đơn thuần, họ là những nghệ sĩ, chỉ biết đồng tiền và danh vọng.

Những nhạc sĩ khi viết bản nhạc do tình cảm thắm thiết với đối tượng, âm điệu nhạc sẽ có hồn, và lời nhạc sẽ thanh thoát (đó là Chiều Mưa Biên Giới, Anh Đi Chiến Dịch, Ngày Trở Về, Quê Nghèo …); trái lại thì chỉ là những nốt sol, đô, mị ráp vội vàng cho đủ một bài ca, cho đúng nhạc lý, và lời thì chắp vá, ngọng nghịu đến vô duyên.

Người ca sĩ khi hát vì sự đồng cảm với nội dung bài hát thì giọng hát tuyệt vời, thấm vào từng thớ thịt, giòng máu người nghe, làm cho họ xúc động đến rơi lệ. Ngược lại, thì chỉ là một giải trí cho qua thời gian mà không để lại một ấn tượng nào.

Trong cuốn phim “From Here to Eternity”, khi Binh Nhì Angelo Maggio (do Frank Sinatra đóng) bị tên Thượng Sĩ Phì Lũ Fatso Judson (Ernest Borgnine) bắt nhốt và đánh chết; người bạn rất thân là Binh Nhì Robert Lee Prewitt (Montgomery Cliff) đã thổi ba hồi kèn tiễn biệt lúc sáng mai với nước mắt ràn rụa. Âm vang thổn thức từ đáy con tim của người lính nghệ sĩ đã làm cho cả doanh trại đều ngồi dậy nhìn ra và cảm xúc tột cùng.

Chúng ta đang sống trong một xã hội tư bản do chúng ta lựa chọn và chấp nhận (dù chì là sự lựa chọn bắt buộc giữa hai chế độ Tư bản và Cộng sản). Chế độ Tư bản dựa trên lợi nhuận, và luật cung cầu. Khi có cầu, thì mới có cung. Hết nhu cầu về phương diện này, thì nhà sản xuất xoay qua cung cấp cho mặt khác đang có nhu cầu nổi lên. Họ làm thế vì lợi nhuận chứ không hoàn toàn vì lòng yêu thương phục vụ khách hàng. Dù rằng trên các quảng cáo, luôn luôn mở miệng nói: ”We are here for you”. Phải nói rằng “we are here for money!” mới đúng.

Các ca nhạc sĩ, các nhà sản xuất băng đĩa không là ngoại lệ. Họ phải sống trước đã. Ngay cả anh chị em cựu tù nhân chính trị cũng thế thôi. Những năm mới qua Mỹ, đi làm thuê cho các hãng xưởng, họ rất hăng hái chống cộng. Họ lên án văn hoá phẩm VC, họ chê trách những ai nghe nhạc VC, đọc báo VC. Nhưng sau khi có một số vốn bỏ ra đầu tư, những người kinh doanh về sách báo, băng nhạc, phim ảnh đã sớm chiều theo thị hiếu khách hàng mà nhập cảng những băng nhạc, DVD từ Viêt Nam với nội dung ban đầu là những bài hát cho trẻ em, rồi đến những băng hài hước rẻ tiền, và sau đó, không ngần ngại nhập luôn những băng phim truyện mà chắc chắn có ít nhiều tuyên truyền cho CS.

Câu trả lời của họ luôn luôn là: “Mình buôn bán, thì khách hỏi gì phải tìm cho có!!!”

Các vị chủ chợ, địa ốc, chuyển tiền thì khỏi nói. Làm sao mà họ không bị quyến rũ bởi mức lời hàng chục, hàng trăm ngàn đô la mỗi tháng?

Chúng ta thử nghe một đoạn của ông Nam Lộc, một MC chuyên nghiệp mà nhiều người tị nạn rất ngưỡng mộ khi trả lời phóng viên Xuân Hồng của đài BBC trong chương trình “Lá Thư Hàng Tuần” phát thanh sáng Thứ Bẩy 26 tháng 5, 2007 tại Hoa Kỳ
    Trích:
    Xuân Hồng: Xin ông Nam Lộc cho biết các chương trình ca nhạc của Trung tâm Asia thường dựa vào những yếu tố nào để thực hiện?

    Nam Lộc: Thưa anh, Asia Entertainment là một trung tâm ca nhạc và sinh hoạt nghệ thuật tư nhân phục vụ cho khán thính giả người Việt tại hải ngoại. Do đó khi thực hiện các chương trình ca nhạc, chúng tôi hoàn toàn dựa vào cảm quan cùng nhu cầu thưởng ngoạn của người tiêu thụ. Chính vì thế mà hầu hết các nhạc phẩm được sử dụng và trình bày trong mọi đĩa nhạc đều là những ca khúc được khán thình giả yêu thích hoặc yêu cầu, vì nó phản ảnh đúng tâm trạng, hoàn cảnh cùng nỗi niềm và thị hiếu của người nghe. Có thế thì khán thính giả mới mua DVD và trung tâm mới có lợi nhuận để tiếp tục thực hiện các sản phẩm mới. Ngưng trích
Vậy thì khi Cộng Đồng tỵ nạn chống Cộng tích cực thì họ làm băng nhạc, hát các bài chống Cộng. Khi Cộng Đồng chống Cộng yếu đi, và có thể kiếm tiền ở quốc nội, thì họ đi hai hàng. Khi Cộng Đồng hải ngoại không còn là con bò sữa, do những đợt di dân sau này với hàng loạt khán thính giả mới đến Hoa Kỳ càng ngày càng đông không thiết tha gì với nhạc cũ miền Nam thì họ bắt buộc phải chuyển qua loại nhạc khác mà có thể là nhạc từ Việt Nam; hay mò về Việt Nam quay phim, ca hát ca tụng Việt Cộng để kiếm tiền ở Việt Nam.

Tóm lại, một khi đã bước vào vòng doanh thương, chỉ có tiền là "mục tiêu tối hậu". Tổ quốc, đồng bào chỉ là những khái niệm xa lạ, mơ hồ. Tiền đếm được, mua được những ước muốn, áo quần, nữ trang đua đòi vì nhu cầu ăn diện của giới nghệ sĩ rất cao.

Cái lỗi là do chúng ta đã kỳ vọng vào những điều mà họ không hề có; và đánh giá họ quá cao so với tầm vóc của họ. Nhưng cũng xin đừng vơ đũa cả nắm mà mắng mỏ người ta là xướng danh vô loài, tội nghiệp cho những nghệ sĩ có lòng và có tư cách.

Đỗ Văn Phúc
Cuối Đông năm Kỷ Sửu, Jan. 2010.

CÒN NHỚ HAY QUÊN? - Lê Văn Ấn

Lê Văn Ấn

Những tin tức bên nhà cho biết tiến trình mà Việt Cộng gọi là “Bầu Cử Quốc Hội Khóa 13” làm cho những người có chút liêm sỉ thấy bị tổn thương trầm trọng. Tổn thương cho giòng giống Việt Nam có những tên mặt người dạ thú như Việt Cộng, tổn thương vì cả dân tộc không ai là không biết bầu cử Quốc Hội chỉ là một trò bịp của Việt Cộng, cố nặn ra một cơ quan để trình diễn với quốc tế đó là “Quốc Hội”; mà vẫn phải cúi đầu thi hành cái trò giả dối bịp bợm đó, tổn thương vì những bậc trí thức, những kẻ dâng cả đời mình để phụng sự SỰ THẬT, SỰ SỐNG lại “hăng hái tham gia” hoặc ủng hộ những kẻ tham gia cái trò bịp bợm đó.

Tuy rằng sự bịp bợm, giả trá đời nào cũng có, nhưng ít ra là những trò phỉnh con nít, gạt những kẻ quê mùa v.v… những cái trò đó cũng bị người đời lên án hay mỉa mai. Cụ Nguyễn Khuyến, người được danh hiệu Tam Nguyên Yên Ðỗ đã viết về ông Nghè Tháng Tám:
    “Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,
    Cũng gọi ông Nghè có kém ai
    ……..
    Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe,
    Tưởng rằng đồ thiệt hóa đồ chơi!”
Việt Cộng cũng có can đảm không thua gì những Chú Ba Tàu hàng mã, làm lồng đèn tháng Tám, cũng bắt mọi người gọi những tên tay sai của chúng là “Ðại Biểu Nhân Dân” tức Dân Biểu và mọi người cũng phải gọi đó là “dân biểu” mà thực ra những tên này là bọn “Ðảng biểu”, thực chất là đầy tớ của Ðảng Cộng Sản, hay đúng hơn phải gọi chúng là những tên hề.

Thì ra, sau hơn nửa thế kỷ ra đời, lấy giống từ Nga, Tàu, mấy chục năm cai trị đất nước, Việt Cộng vẫn còn sợ người dân, không dám để cho người dân phê phán việc làm của chúng, đánh giá “thành tích” của chúng, không dám để người dân đánh giá việc làm của chúng một cách tự do, do đó, Việt Cộng cũng như Tàu Cộng vẫn cố nắm chắc đằng chuôi. Mặt khác, dân tộc Việt Nam qua 4 ngàn năm văn hiến, đã có những thành tích lừng lẫy như đánh bại quân Mông Cổ, một quân bách chiến bách thắng từ Á sang Âu, đã đại phá quân Thanh trong mấy ngày, đã có một kho tàng văn hóa mà Khổng Tử phải nhìn nhận “Ðạo từ phương Nam đến(?)” đã có một nếp sống văn hóa dân tộc mà các nhà truyền giáo Công giáo phải công nhận là tiến bộ và rất gần với Thiên Chúa Giáo. Thế mà đến nay đành cam chịu khuất phục trước bạo lực Cộng Sản, đành chấp nhận để Việt Cộng bắt buộc đóng đi, đóng lại cái trò hề “Bầu Cử Hội Ðồng Nhân Dân các cấp”. Những lần trước có thể vì phương tiện truyền thông còn eo hẹp, có thể vì áp lực Việt Cộng còn mạnh, vì dư luận quốc tế còn lơ là, chứ lần này, có những cuộc cách mạng Hoa Lài của Trung Ðông và Phi Châu, dư luận quốc tế công nhận cái gọi là “Quốc Hội” của Việt Cộng chỉ là một tổ chức bịp, một cây kiểng, và không có một giá trị “lập pháp” nào. Có khi những tên gọi là “Ðại Biểu Nhân Dân” cũng chưa biết bốn chữ này có nghĩa gì, hoặc được “tạp huấn” đó là nhiệm vụ “thông qua tất cả những gì “Ðảng” biểu thông qua, nhất trí”. Thế mà người dân vẫn cặm cụi đi bầu, vẫn gạch 8 lấy 2 như Việt Cộng dạy, tuy vẫn biết và biết rất rõ đây chỉ là trò bịp, trò làm cho có lệ của Việt Cộng, thế mà vẫn cứ răm rắp làm, mặc cho những nhà đấu tranh cho dân chủ mạnh dạn kêu gọi tẩy chay cuộc “bầu cử”, mặc dù đã có những thông tin, truyền đơn v.v… phản đối, cuộc bầu cử vẫn được số đông đồng bào tham gia, dù tham gia miễn cưỡng. Có phải dân trí Việt Nam thế hệ này “thấp kém” hơn các thế hệ trước? Có phải vì Việt Nam hôm nay vẫn sống trong ốc đảo, bị bưng bít ba bên bốn bề? Hay một lý do gì khác mà vẫn thi hành những gì Việt Cộng muốn? Tinh thần trách nhiệm. Tinh thần trách nhiệm chưa được dân chúng ý thức một cách thấu đáo, cộng thêm với sự hèn nhát của những nhà trí thức, những vị lãnh đạo tôn giáo chỉ thấy “cái tôi” cần phải thụ hưởng, cần phải an toàn, cần phải được ưu đãi mà quên mất cái gốc của đạo mà từ trước mình đã xin dâng hiến cả cuộc đời để phục vụ.

Bài viết này không có mục đích chê trách những tên được đảng Cộng Sản cho làm tay sai, đóng vai những tên hề, vì những kẻ này bản chất của nó là như vậy, cái bản chất đã mất đi cái chất người rồi. Chúng đã bị Việt Cộng “lai giống vật” rồi. Bài viết này nhằm một mục đích khác. Trước khi trình bày mục đích chính cũng xin nói qua về cái gọi là “Quốc Hội” như một ví dụ cụ thể để đồng hương ở hải ngoại cũng như đồng bào trong nước ôn lại sự bịp bợm của Việt Cộng nhân cuộc bầu cử Quốc Hội khóa 13 của Việt Cộng.

Từ ngày có định chế “tam quyền phân lập”: hành pháp, tư pháp và lập pháp thì cơ quan lập pháp được tôn trọng bực nhứt vì nó thể hiện cái ý chí của toàn dân. Nếu cơ quan hành pháp do một vị đứng đầu điều hành đất nước một cách tổng quát, thì lập pháp với những đại diện của từng địa phương, nói lên tiếng nói trung thực và gần gũi của mỗi địa phương. Do đó, vị đại diện phải là người địa phương, được dân chúng địa phương, gọi là đơn vị bầu lên, đại diện cho địa phương đó, nói lên ý muốn, đường hướng của dân chúng địa phương, Tất cả gộp lại cùng trong một “Nhà” gọi là quốc hội, vấn đề gì được đa số chấp thuận coi như đó là ý muốn của dân chúng cả nước. Dĩ nhiên, nguyên tắc dân chủ là thiểu số phục tùng đa số. Ða số đã chọn vị đại diện, đa số đại diện thể hiện nguyện vọng, ước muốn hay lợi ích của cả toàn dân. Bản chất của Quốc Hội là đại diện trung thực của toàn dân nên phải được tự do ứng cử với những điều kiện về tư cách, trưởng thành và kiến thức, nhất là sẽ là kẻ xứng đáng và trung thành với ý muốn của cử tri. Nếu muốn có một đại biểu trung thực đại diện cho dân một cách đứng đắn, dân chúng hay cử tri phải được tự do bầu cử, muốn bầu cho ai tùy ý họ. Trình bày như thế chắc chắn sẽ có nhiều thiếu sót, nhưng nếu Việt Cộng thực hiện được những điều còn thiếu sót trên đây, chắc chắn đã là một chính thể của dân, thể hiện ý chí của dân.

Hồi Việt Cộng mới vào Saigon, cán bộ của chúng thường khoe khoang chế độ Cộng Sản là không ai bóc lột ai, không ai cai trị ai, mà thay phiên nhau mỗi người làm một thời gian, kể cả chủ tịch nước. Ðúng là thằng mù dẫn dắt thằng sáng mắt. Chúng tôi trong tư cách “dân ngụy” miền Nam, ngồi nghe chúng giảng mà nín cười không được, để rồi sau đó thấy nhục nhã, cái trình độ có thể nó là “trâu bò” như vậy mà cai trị dân chúng thì không có cái nhục nào bằng. Sau này, khi Việt Cộng cho “bầu cử Hội Ðồng Nhân Dân các cấp” quốc hội, Hội đồng Tỉnh và Hội đồng xã, chúng tôi mới thấy không phải thay phiên như bọn trong rừng rú mới ra khoe mẽ, mà cũng không phải “có một chút gì dân chủ” như chế độ Việt Nam Cọng Hòa. Trái lại, nghe những lời giải thích về bầu cử, về quốc hội v.v… khiến người miền Nam muốn nôn mửa. Không có chuyện tự mình ra ứng cử, mà phải do một cơ quan của Việt Cộng gọi là “Mặt Trận Tổ Quốc” giới thiệu tức là tuyển chọn. Cái quyền ứng cử đã bị ăn cướp. Thế nhưng trên lý thuyết, trên “hiến pháp” vẫn có khoản cho rằng người dân được tự do bầu cử và tự do ứng cử! Cái mặt bịp bợm của Việt Cộng đã được chúng tự phơi bày ra. Ðã do đảng Cộng Sản giới thiệu, nhưng Việt Cộng cũng chưa vừa ý, vẫn còn run sợ, sợ rằng dân chúng sẽ lựa trong cái đám được đảng Cộng Sản đưa ra, có kẻ “ít xấu nhất” mà bầu cho nó, do đó, Việt Cộng phải dạy cho dân biết phải “gạch 8 lấy 2”, gạch 9 lấy 1 v.v…, trong danh sách được đưa ra. Nhưng còn một sự chọn lọc phút chót. Ban bầu cử chọn ai mới được thắng, dù trong số được VC chỉ thị cho dân phải bầu, nhưng Ban Bầu cử vẫn có quyền, đảng vẫn giữ quyền quyết định. Khi tôi giải thích cho đứa cháu ngoại đang học đại học Hoa Kỳ “thể thức bầu cử” của VC như vậy. Nó hỏi tại sao mấy ông Việt Cộng không tự chọn mỗi địa phương một hoặc 2 người rồi đưa vào quốc hội có giản tiện và ít tốn kém không? Ðã không làm như “người ta” thì bày cái quốc hội như vậy làm gì? Nó không tin tôi, vì tôi đã trình bày cho nó nghe một quái thai chứ không phải một cái được gọi là quốc hội của Việt Cộng. “Thà ngoại nói 5 cộng với 5 là … 7 hay 12 còn có lý hơn là cái mà ngoại gọi là quốc hội Việt Cộng với cách thức ứng cử và bầu cử như vậy. Không ai có thể tin đưọc.” Những người trẻ sinh ra và trưởng thành ở hải ngoại không thể tin được, vì họ căn cứ vào hiến pháp năm 1992 của VC thì điều 2 (trích): Ðiều 2: Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Nhà Nước của Nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân và giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.” Ðiều 83: cùng hiến pháp lại đề cao Quốc Hội là cơ quan quyền lực nhất nước, lại được bầu theo kiểu “Ðảng cử dân bầu”. Ðiều quan trọng khác là quốc hội chỉ là một cơ quan bù nhìn, làm cảnh. Hơn 80 triệu dân trong nước cũng không tin đó là Quốc Hội với thể thức bầu cử và ứng cử chửi cha 2 chữ dân chủ. Nhưng cả nước phải làm như vậy và phải gọi đó là quốc hội.

Các tôn giáo khác thì chúng tôi không có tin tức, riêng với Phật Giáo thì Phật Giáo thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có bao nhiêu tăng ni đều bị VC xếp vào loại phản động, đàn áp, sách nhiễu, còn đối với Phật Giáo Quốc Doanh cũng không biết có bao nhiêu tăng ni. Riêng Công giáo thì có đến hơn 30 giám mục, dưới quyền mỗi giám mục có hàng trăm linh mục, tu sĩ nam nữ. Thế mà có đến 103 người vừa tu sĩ nam nữ, vừa linh mục tham gia vào cái quái thai “Quốc Hội” hay quái thai “Hội Ðồng Nhân Dân”.

Nhục nhã thay! Những kẻ gọi là được các giám mục “chấp thuận” cho ra ứng cử đại diện cho cho Công Giáo lại là những kẻ không ra gì, mất tư cách người Công giáo, như ông Phan Khắc Từ, một vợ chính thức và 2 con sinh sống một cách công khai mà được Ðức Hồng Y Phạm Minh Mẫn chấp nhận cho ra ứng cử (theo lời của ông Phan Khắc Từ) thử hỏi vị “đại diện” đã như vậy, những linh mục được (bị) đại diện ra thế nào? Chẳng lẽ tất cả đều có vợ con hay bồ bịch như vị đại diện? Chẳng lẽ chủ trương của Hồng Y Phạm Minh Mẫn là khuyến khích các linh mục thuộc quyền phải có vợ con hay bồ bịch theo “gương tốt” của ông Phan Khắc Từ? Phải bất chấp luật buộc độc thân mới là linh mục thuộc Tòa Thánh La Mã? Giáo dân Công Giáo khắp nơi và Tổng Giáo Phận Saigon đòi hỏi Hồng Y Phạm Minh Mẫn giải thích sự kiện PHẢN GIÁO HỘI HOÀN VŨ này.

Khi linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý hô hào “Tự Do tôn giáo hay là chết” và ngài đứng lên đấu tranh bất bạo động với Việt Cộng để có tự do tôn giáo, Tổng Giám Mục Nguyễn Như Thể đã cho rằng ngài không can thiệp được cho linh mục Nguyễn văn Lý vì “cha Lý làm chính trị”! Bây giờ, chính Tổng Giám Mục Nguyễn Như Thể cho phép và ủng hộ các linh mục dưới quyền ra tham gia trò hề bầu cử, quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp của Việt Cộng, Tổng Giám Mục Thể trả lời ra sao với linh mục Nguyễn Văn Lý? Linh mục Nguyễn Văn Lý “làm chính trị” hay Giám Mục Tổng Thể và các linh mục, tu sĩ nam nữ dưới quyền làm chính trị?

Một giám mục gốc Việt ở hải ngoại vào thời điểm đó cũng kết án linh mục Nguyễn Văn Lý làm chính trị, nhưng bây giờ, trước 103 người vừa linh mục, tu sĩ tham gia các chức vụ của bạo quyền Việt Cộng thì Ngài ngó lơ, nhìn đi chỗ khác. Tại sao vậy?

Ðưa ra những vấn nạn này có phải chúng tôi là kẻ “chống cha chống Chúa”? Hay những ai phản bội CHÂN LÝ, công lý, đi ngược lại Giáo Luật là "CHỐNG CHÚA"? Chúng tôi nói lên SỰ THẬT vì SỰ THẬT là Ðức Giê Su Kitô, Nếu chúng tôi nói sai sự thật, xin chỉ cho chúng tôi biết chúng tôi nói sai ở chỗ nào, câu nào sự kiện nào.

Chúng tôi viết ra những điều này, chính bản thân chúng tôi cũng rất đau lòng, nhưng Ðức Giê Su Kitô còn đau lòng gấp triệu lần chúng tôi, vì các vị giám mục của ngài đã phản bội sự thật, đã khuyến khích lừa bịp và đi ngược lại giáo lý của Ðức Kitô. Hành động của các ngài cũng là hành động có hại cho dân tộc Việt Nam.

Ai cũng biết bầu cử Quốc Hội và Hội Ðồng Nhân Dân các cấp của Việt Cộng là lừa bịp, cái được Việt Cộng gọi là quốc hội chỉ làm cây kiểng, bù nhìn cho đảng Cộng Sản. Hầu hết dân chúng đã biết, đã hiểu như thế, nhưng những nhà trí thức, những bậc lãnh đạo tôn giáo càng hiểu rõ hơn. Câu hỏi đặt ra là tại sao các ngài đã có hành động binh vực sự bịp bợm của Việt Cộng?

Các giới lãnh đạo tôn giáo, các bậc trí thức, tất cả mọi người dân Việt Nam nếu đã biết trò bịp bợm của Cộng Sản thì hãy mau mau đứng lên, không thể để cho Việt Cộng chà đạp SỰ THẬT mãi được. Không có tôn giáo nào ngăn cấm nói lên sự thật, rao giảng sự thật, nhất là đối với Công Giáo khi 2 ngàn năm trước Ðức Giê Su Kitô đã nói TA LÀ ÐƯỜNG, LÀ SỰ THẬT VÀ LÀ SỰ SỐNG” Các giám mục Việt Nam còn nhớ hay đã quên? Dân Việt Nam còn nhớ hay đã quên?

Lê Văn Ấn

Đói nghèo làm giảm sự tự tin, bia rượu làm tăng sự ngu đần - Lê Nguyên Hồng



Lê Nguyên Hồng

Việt nam đã và sẽ tiếp tục là một nước nghèo trên thế giới. Nhà nước thì đặt ra “định mức” nghèo là người có thu nhập khoảng 400 ngàn đồng VN/người/tháng – Đối với khu vực nông thôn – Và 500 ngàn đồng VN/người/tháng – Đối với khu vực thành thị. “Chuẩn” nghèo nói trên nó chẳng giống ai vì người ta không biết dựa vào các chỉ số lao động và tiêu dùng nào, và sự khảo sát nào mà nhà nước Việt Nam hiện nay lại đẻ ra được cái gọi là chuẩn ấy?

Thôi thì cứ cho đó là “chuẩn” thật, thì theo với các số liệu có thể rất chủ quan cũng của nhà nước đưa ra, hiện nay cả nước có 3,1 triệu hộ nghèo, chiếm 14,42% và 1,65 triệu hộ cận nghèo, tỷ lệ 7,69%. Các tỉnh có hộ nghèo nhiều nhất là Lào Cai, Điện Biên (trên 50%), Lai Châu, Hà Giang (trên 40%), Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Sơn La, Hòa Bình, Kon Tum (trên 30%).

Trong tháng 05/2011, tuy đến hôm nay chưa tròn tháng, nhưng chỉ số lạm phát tháng 5 của Việt nam đã tăng lên 2,21% và làm cho mức lạm phát so với tháng 5 năm 2010 lên đến mức gần 20%. Bị nhà nước thắt chặt tiền tệ, nguồn vốn nhàn rỗi khó tìm, cho nên các ngân hàng đã đẩy lãi suất tín dụng tiết kiệm cao quá trần của ngân hàng quốc gia là 14% mà hiện nay đã lên tới 18%-19%. Vì vậy lãi suất cho vay bị đẩy lên đến 28%-29% là một mức lãi suất “ăn cướp” của doanh nghiệp. Nguy cơ phá sản của hàng loạt danh nghiệp nội địa là điều khó tránh khỏi.

Chưa bao giờ người dân nghèo lại càng bị xoáy sâu vào sự nghèo đói như lúc này. Bóng ma lạm phát đã gõ cửa từng mái nhà tranh của những người nông dân quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, những người lao động tự do và công chức “ba cọc ba đồng” nơi thành thị. Chưa bao giờ người ta lại lo lắng cho cái dạ dày lép kẹp của mình như lúc này.

Về tâm lý, khi đói người ta chỉ nghĩ đến việc ăn, khi khát người ta chỉ nghĩ đến việc uống. Các công việc khác tạm được quên, kể cả tình yêu là thứ ma lực cuốn hút con người mãnh liệt cũng sẽ phải nhường chỗ cho “con ma đói, ma khát”. Khi đói người ta thường hay nghĩ quẩn, nghĩ ngắn, không thể nhín xa trông rộng. Bởi vậy những phạm trù như văn hóa, khoa học, ý thức công dân vv.., sẽ mất đi. Con người trở nên đớn hèn, và mất đi sự tự tin, sự khôn ngoan sáng suốt.

Thời điểm này, nếu đối với một số người nghèo, có ai đó tìm giúp họ việc làm ra tiền ngay, dù phải vất vả nguy hiểm họ vẫn dám làm, vì mục đích của họ là cái ăn trước đã. Thậm chí, đối với những người lâm vào thế bí, có thể họ sẽ nghĩ quẩn đến việc đi ăn trộm ăn cướp để thỏa mãn cái dạ dày. Ta thử nghĩ xem, nếu bây giờ mà đem các kỹ chiến thuật đấu tranh bất bạo động đến với dân nghèo, rồi bảo họ xuống đường mà đi biểu tình chống Độc tài Cộng Sản thì rất khó. Thà bảo họ xông vào đâu đó mà đoạt lấy áo cơm, có khi lại dễ hơn. Chính vì yếu tố tâm lý ấy, lịch sử đã tạo nên nhiều cuộc cách mạng thành công nhờ khẩu hiệu: “Cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo”. Như vậy đói nghèo vừa làm mất sự tự tin, nhưng ngược lại nó lại kích thích sự hung hãn bản năng của con người.

Có vẻ như bia rượu không liên quan gì đến đói nghèo. Nhưng không phải vậy! Một mặt nào đó bia rượu là thứ đốt tiền bền bỉ, vì uống là phải đi đôi với ăn thì mới thành cuộc nhậu: “Một tiền gà thì ba tiền thóc” là như vậy. Không những thế, bia rượu còn là thủ phạm hủy hoại nhân cách và tàn phá sức khỏe con người. Và khi những đồng tiền mồ hôi xương máu bị đem ra đốt vào những cuộc nhậu, mua lấy sự hao mòn sức lao động do mất sức trong ngộ độc rượu bia (say rượu bia là tình trạng ngộ độc thần kinh) làm mất sự tái sản xuất. Đối với tầng lớp giàu có họ ăn uống với phong cách khác cho nên sức khỏe ít bị ảnh hưởng, đồng thời tiền bạc có tốn kém chút đỉnh với họ cũng chẳng hề hấn gì. Nhưng đối với anh dân nghèo, nạn rượu bia, chè chén chính là một trong những nguyên nhân lãng phí và tác động trực tiếp vào sự nghèo đói. Chưa kể đến những hệ lụy như mất kiểm sóat về hành vi, dẫn đến những hậu quả đáng tiếc trong ứng xử và gây tai nạn giao thông.

Theo thống kê của nhà nước, chỉ riêng các loại bia thương hiệu Sài Gòn, năm 2010 đã sản xuất và tiêu thụ hết 1,088 tỷ lít, năm nay dự kiến sẽ đạt 1,3 tỷ lít. Riêng loại bia Heineken thôi, thị trường Việt Nam đã được xếp thứ ba trên tổng số 170 thị trường của loại bia này trên khắp thế giới, chỉ xếp sau Mỹ và Pháp. Như vậy là một nước nghèo khó như Việt Nam đã “sánh vai với các cường quốc năm châu” đúng như lời ông Hồ Chí Minh đã mơ ước. Nhưng chỉ là việc “sánh vai” với các nước giàu về cái sự uống bia! Đấy là chưa kể đến hàng tỷ lít rượu lậu tiêu thụ hàng năm, được chưng cất bằng men lá và công nghệ dân dã của Trung Quốc, hoặc pha cồn công nghiệp trực tiếp vào nước lã để “điều chế” thành đồ uống, kế đến mới là các loại rượu đóng chai “quốc doanh” mà đôi khi các đệ tử lưu linh gọi là “quốc lủi”. Ở các nước phát triển, bia rượu thường được uống rải rác theo lối thư giãn, có văn hóa hẳn hoi, phong cách không phải là "nốc" bia rượu trong cuộc nhậu như ở Việt Nam. Đồng thời lượng cồn và các chất độc hại trong đồ uống này cũng được kiểm định chặt chẽ. Nhưng ở Việt Nam, chuyện kiểm định chất độc hại trong bia rượu có lẽ chỉ có ở khu vực quốc doanh và doanh nghiệp lớn, nhưng mức độ tin cậy thì cũng còn phải xem lại, còn khu vực tư nhân nhỏ lẻ trôi nổi thì 100% là không có kiểm soát.

Khi đã say, người ta luôn cảm thấy mình đúng, mình chuẩn xác. Các quyết định trong lúc nhậu nhẹt thường rất chóng vánh vì mất kiểm soát. Một khi con người hành động trong lúc không còn tỉnh táo thì chắc chắn là sai nhiều hơn đúng. Sau khi tỉnh rượu bia, tinh thần và thể xác hoàn toàn mệt mỏi, con người trở nên lười suy nghĩ, ngại lao động, họ trở nên bị thiểu năng trong tình trạng ít nhiều của sự ngu đần. Ngày trước người ta cho rằng thực dân Pháp dùng rượu cồn để đầu độc dân chúng, làm công cụ ngu dân, thì ngày nay bọn thực dân “nội địa” lại buông thả cho nạn bia rượu thả sức hoành hành. Không hiểu đây có phải là một kiểu ngu dân để dễ cai trị hay không?

Dự kiến trong những tháng tới của năm 2011, xã hội Việt Nam sẽ đại loạn. Thứ nhất vì nạn đói nghèo do lạm phát, giá cả “đại nhảy vọt” cho nên tệ nạn xã hội sẽ tăng theo, do dân chúng không tìm được lối thoát. Sự phân hóa chóng mặt của hai tầng lớp giàu và nghèo sẽ dẫn đến những thù địch giai cấp không thể tránh khỏi. Bên cạnh đó những bất công và bất minh trong quản lý hành chính của bộ máy công quyền sẽ làm tăng tư tưởng đối đầu giữa dân chúng và chính quyền. Các vụ chống người thi hành công vụ, tấn công cảnh sát, kiểm lâm, thuế vụ, quản lý thị trường sẽ gia tăng.

Chúng ta cùng chờ xem những diễn biến đó sẽ xảy ra như thế nào?


Lê Nguyên Hồng