Thursday, January 14, 2010

„Hãy thả tên đại gian manh trộm cướp Barabba!“ - Lm Đinh Xuân Minh

    Cảnh tượng Đồng Chiêm:
    „Hãy thả tên đại gian manh trộm cướp Barabba!“
    (Gioan 18, 40)
Lm Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh (Đức Quốc)

Đoạn kinh thánh nói trên, nói về giai đoạn, khi Đức Giêsu bị điệu ra trước Vua tổng Trấn Philatô. Philatô hỏi Ngài về nguyên nhân, tại sao dân Do Thái lại muốn nộp Ngài.

Khi Philatô hạch hỏi Người xong, thì Philatô „không tìm ra tội trạng nào nơi ông ấy“ (Gioan 18, 38). Philatô trả Đức Giêsu về cho dân Do Thái. Trong dịp Lễ Vượt qua, có tục lệ là ban ân xá cho phạm nhân. Philatô nghĩ, chắc người Do Thái sẽ xin thả Giêsu, vì Ngài chẳng có tội tình gì, sau nữa, là đỡ mất mặt các vị Trưởng tế Do Thái, những nhà thông thái đạo đức theo trường phái Pharisêu.

Nhưng hỗi ơi! Dân Do Thái không muốn như Philatô nghĩ. Họ muốn Philatô trả tự do cho Barabba. Mà Barabba là một tên trộm cướp khát máu có tiếng.

Philatô ra ngoài và nói với họ: “này, ta dẫn ông ấy cho các người, để các người biết là ta không tìm ra tội trạng nào nơi ông ấy” (Gioan 19, 4). Khi dân Do Thái thấy Đức Giêsu liền hô to: “Đóng đinh nó! Hãy đóng đinh nó vào thập giá!” (Gioan 19, 6) Philatô nói với họ: “Thì các người hãy đem ông ấy mà đi mà đóng đinh! Vì ta đây, ta không tìm ra tội trạng nào nơi ông ấy cả.” (Gioan 19, 6-7).

Tổng cộng ba lần, Philatô tìm cách giãi bầy cho họ hiểu là Đức Giêsu vô tội. Mọi cố gắng đều uổng công vô ích. Dân Do Thái vẫn một mặt khăn khăn muốn kết án tử hình ngài. Đóng đinh trên thập giá là hình thức trừng phạt tủi nhục nặng nhất. Và Đức Giêsu, Đấng cứu độ, đấng nhân lành dường bao, đã phải chịu đóng đinh vì quân dữ. Thay vào đó, thì tên cường hào ác bá Barabba được tha bổng.

Đất nước Việt Nam chúng ta hiện nay, dưới sự cai trị dã man, với những luật pháp man rợ của cái gọi là nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa, cũng giống tương tự vậy: Những người tốt lành, những người can đảm đấu tranh cho sự thật cho lẽ phải, những chiến sĩ dân chủ hòa bình làm chứng cho sự thật, bảo vệ cho sự thật, những người ao ước tranh đấu cho tự do công bằng bác ái, xả thân vì nhân phẩm con người..., thì chính những người này bị giam tù, bị hành hung sách nhiễu. Tù đày giam cầm, bắt bớ khủng bố v.v. đây là những hình thức gián tiếp đóng đinh.

Còn những bọ côn đồ, những thành phần xã hội đen, thì được tập đoàn tay sai Hán Cộng Hà Nội dung túng và nuôi dưỡng. Thật đúng! Chế độ tập đoàn tay sai Hà Nội là hiện thân của băng đảng cướp ngày. Họ không đại diện cho tổ quốc. Chớ lầm tưởng chính quyền hay tổ quốc với băng đảng cướp Cộng sản. Hai tổ chức hoàn toàn khác biệt. Một bên là đại diện chính quyền, do dân bầu ra trong tự do thật sự, với sự cạnh tranh lành mạnh của các đảng phái. Một bên là tổ chức, kết bè kết phái, cùng một mục đích,: phá rối làng xóm, ăn gian nói tục, ăn cướp, ăn giật đối với người lương thiện.

Tập đoàn tay sai Hán Cộng chẳng bao giờ, và cũng sẽ không bao giờ đại diện cho nhân dân được. Vì thế, tập đoàn tay sai Cộng sản Hà Nội, không là tổ quốc của chúng ta. Chớ đánh lận con đen! Xây dựng tổ quốc, nhưng không xây dựng bảo vệ tập đoàn ma qủy ma cô Cộng Sản Việt Nam!

Chế độ bạo quyền Hán Ngụy Việt Nam hiện nay có giống như xưa, người Do Thái xin thả Barabba không!? Qủa thật! Những người công chính, những người tốt lành can dảm lên tiếng đòi hỏi Công chính và Hòa bình, đều bị bắt giam bỏ tù. Còn những kẻ gian manh trộm cướp, những thành phần lưu manh, bọn côn đồ, bọn cớm, thì được thả lỏng. Kẻ ác, thì nhởn nhơ ngoài xã hội, tha hồ tung hoành phá phách, tha hồ cướp giật. Còn những anh hùng chiến sĩ đấu tranh cho tự do nhân phẩm con người với lòng thiện tâm, thì bị giam tù.

Những cảnh tượng xẩy ra tại giáo xứ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý, Chùa Bát Nhã, và mới đây, nhất là tại giáo xứ Đồng chiêm, thuộc xã An Phú, Huyện Mỹ Đức (Hà Nội), cũng đã nói lên những cách thức hành xử vốn quen thói của một băng đảng cướp. Chúng ta hình dung ra cảnh tượng kết qủa hành xử của một đảng cướp.

Nào là chúng huy động gần 500 tay sai của bọn cướp, đêm đến công kích. Thế mà, bọn đầu xỏ ở Ủy ban xã An Phú, lại cho rằng: “đã tổ chức tháo gỡ công trình xây dựng trái phép này, theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật!”

Hãy nhìn kìa! Bọn cuớp tháo gỡ “công trình theo đúng trình tự” (Sic!). Chỉ có thành phần gian manh trộm cướp mới đi phá đêm, để che mắt thiên hạ. Trùm băng đảng là ai? Đó chính là những anh chị nằm trong cái gọi là Ủy ban Nhân Dân xã An Phú, và Huyện Mỹ Đức. Và đầu trùm băng đảng cũng nằm tại lăng Ba Đình Hà Nội. Muốn chiến thắng Mảng Xà thì phải đập đầu nó?

Cây thánh giá trên đồi cao, là biểu tượng niềm tin của người Thiên Chúa Giáo, tại giáo xứ Đồng Chiêm. Thánh giá chiếm đất ai? Thánh giá được đúc kết bởi hai thanh bằng xi măng, đâu phải là một “công trình xây dựng” gì to lớn?! Thế còn những công trình thật sự to lớn của bọn anh chị tướng cướp, thì cái gọi là nhà nước Xã Hội chủ Nghĩa Việt Nam, có những biện pháp gì? Dĩ nhiên, kẻ cướp sẽ bao che cho kẻ cướp với nhau mà thôi!

Nhìn những đống đất đổ trên những con đường vào xứ Đồng Chiêm, người ta liên tưởng như biến động chiến tranh đang xẩy ra tại xứ Đồng Chiêm. Mà đúng vậy! Công an Việt Cộng ngăn chận mọi người đến giáo xứ Đồng Chiêm, vì họ nói: “ở Đồng Chiêm có bạo loạn.” (Nguồn: CTV Chuacuuthe.com; An Hòa). Nhưng, chúng tôi tin vào lòng quyết thắng của mọi tín hữu. Đường đi khó, không khó vì ngại núi e sông, mà khó vì lòng người mà thôi. Xá gì vài ụ mô đất do tay sai tập đoàn Cộng sản gian xảo ngăn cản!?

Giáo dân xứ Đồng Chiêm, nói riêng, và mọi ngưòi dân trong nước nói chung, không phải là đang bị tập đoàn tay sai Hán Cộng hô to: “đóng đinh nó!”? Phá tan Thánh giá, là thái độ hành xử như là đóng đinh Chúa. Những vết thương giáo dân xứ Đồng Chiêm đang gánh chịu là những dấu đóng đinh của Chúa, như xưa chính thánh Phaolô ca ngợi những vết thương của mình. “Tôi mang nơi thân mình tôi những vết hằn của Đức Kytô” (Galathơ 6, 17). (Vết hằn là dấu chỉ chính thực, ngài là tông đồ đích thực).

Kể từ khi Thiên Chúa chịu đóng đinh, chúng ta có hình ảnh khác về Thiên Chúa. Sức mạnh của Ngài chính là sự bất động. Đức Giêsu chịu để đóng đinh trên cây thập giá và tên trộm cướp gian manh được thả lỏng: Tình yêu thương giết/chết đi; Và thay vào đó là bạo lực gian manh của kẻ cướp. Chúng tha hồ tung hoành, tha hồ tự do phá phách cướp bóc. Nhưng, những thành phần này, ngày hôm nay, còn gọi là phường vô phước. Vì họ đã công khai chính thức chối bỏ ơn tha thứ của Chúa.

Xem ra, có thể cho rằng bạo lực thành công. Nhưng không! Chiến thắng vẫn là tình yêu. Và tình yêu đây là biểu tượng Thánh giá. Nhưng Thánh giá này đã bị bọn cướp phá tan. Thánh giá Chúa đã chiến thắng tự gian tà. Chiến thắng Thánh giá Chúa biểu tượng ơn cứu rỗi. Ngài là vị cứu tinh nhân loại. Nếu bạo quyền Việt Cộng phá tan biểu tượng ơn Cứu độ, thì làm sao họ hằng mong ơn cứu độ đến với họ?! Chính những vị đấu tranh cho Công Lý Hòa Bình, chính họ sẽ là những vị cứu tinh cho tố quốc dân tộc.

Đêm Chúa Hài Nhi giáng thế, (06/01/2010) khai sinh “thế giới bình an cho người Thiện tâm”. (Luca 1, 21). Đúng ngày này, Việt Cộng, những thành phần dã tâm, tuyên chiến chống lại sự bình an, qua việc họ phá tan biểu tượng Bình an, -Thánh giá-, nơi nghĩa trang của hài nhi vô tội. Trận đấu giữa Thiện và Ác bắt đầu khai mào. Thiên Chúa luôn ở cùng người có lòng thiện ngay. Và tu viện Dòng Mến Thánh Giá Hà Nội, tại 34 Nhà Chung, Hoàn Kiếm, cũng biểu dương, biều tượng và đại diện lòng ngưỡng mộ Thánh Giá của Chúa, cho mọi Kytô hữu, trong nước, cũng như hải ngoại. Chắc chắn, chúng ta, những người thiện tâm thiện chí, sẽ thắng độc tài gian tà, gian ác Cộng Sản Việt Nam!

Thiên Chúa không đùa vui với quyền thế. Bạo quyền Cộng sản vởn vơ quyền lực để đàn áp dân chúng đồng bào. Trong quyền năng cao trọng của Thiên Chúa, con người hưởng quyền tự do tuyệt đối.

Thống trị không phải là mục đích, song sự đau khổ. Tuyên dương Thánh giá không phải là bào chữa, cổ võ cho sự đau khổ. Nhưng, vì sự chịu đựng đau khổ, chúng ta rèn luyện nhân đức. Và đến nay, nhân đức: “chịu mọi sự xỉ nhục bằng lòng” đã chín chắn. Người Kytô hữu không mừng sự hung tàn dã man, song mừng lễ khải hoàn chiến thắng vượt lên trên những gì đem đến cảnh chết chóc: Hận thù, ghen tị, dối trá gian manh, bất công, mạ lỵ, bạo lực, gian ác ...vân vân. Ai ai cũng mong muốn sống trong cảnh hòa thuận, trong sự công chính, hòa bình và trong tình thương yêu tha thức, trong tình bác ái.

Nhưng, chính khi bạo quyền Cộng sản phá tan nát Thánh giá tại giáo xứ Đồng Chiêm, là chính lúc họ đánh thức tỉnh mọi người Thiên Chúa Giáo phải quyết tâm hăng say hơn nữa, bảo vệ ơn cứu độ. Chính lúc khi bạo quyền Cộng sản phá những biểu tượng tôn thờ, thì họ biểu lộ thật đậm rõ nét của kẻ bạo Chúa vô thần khát máu.

Ai ngước nhìn đến Thánh giá, sẽ được cứu rỗi. Trong khi đó, thì bọn cướp gian manh phá hủy ơn cứu độ này.

Muốn đất nước thanh bình, muốn đồng bào chúng ta sống trong tình bác ái thương yêu đùm bọc lẫn nhau, nếu đồng bào dân tộc muốn được an cư lập nghiệp, thì phải nhốt tên trộm cướp khát máu Barabba này lại: Chế độ côn đồ Việt Cộng là hiện thân của tên bạo Chúa Barabba. Muốn vậy, phải thay thế chế độ gian manh Cộng sản đương thời, thiếp lập một chính phủ tự do dân chủ đa nguyên, phi Cộng sản.

Hỡi toàn dân! Hãy lắng nghe, và đồng tâm cận lực xây dựng một thể chế dân chủ nhân bản, phi công sản. Đừng sợ! Hãy tin tưởng và trông cậy vào Thiên Chúa! Và đừng nghỉ, mệt mỏi dấn thân cho Công bằng và sự thật!

Cầu chúc đồng bào, ông bà và anh chị em chiến thắng bạo tàn gian ác! Thiên Chúa luôn hằng ở cùng anh chị em.

Lm Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh
(Đức Quốc: thứ năm, ngày14/01/2010)


Wednesday, January 13, 2010

Cao Quang Ánh và ván bài Việt - Mỹ - Nguyễn Duy Thành

Nguyễn Duy Thành

Không nhẹ nhàng êm ái như chuyến hải du của Trung Tá Lê Bá Hùng, mà lần viếng thăm Việt Nam của Dân Biểu Cao Quang Ánh đã tạo ra một phản ứng dữ dội trên diễn đàn truyền thông, bênh vực có, chống đối cũng nhiều, và tỏ thái độ khách quan cũng không thiếu. Vậy, người Việt Nam nói chung, đặc biệt người tỵ nạn Cộng sản nói riêng nên có cách nhìn như thế nào và hành động ra sao? Để gìn giữ được lý tưởng Cộng hòa, đồng thời khuyến khích lớp người trang lứa như Cao Quang Ánh, Lê Bá Hùng và còn nhiều bạn trẻ nữa sẽ tiếp tục thành danh trong xã hội tự do dân chủ, để chính họ nhận được sự bảo trợ ưu ái của quốc gia sở tại, mà đem thể chế Cộng hòa thay cho chế độ Cộng sản đang độc quyền tại quê nhà.

Điều này thật khó với 30 năm về trước. Nhưng hôm nay đây, thế sự quốc gia đã khác tất cả như con tạo xoay vần. Vận hội mới đã đến với Việt Nam mà luồng sinh lực để dân chủ hóa quốc gia, không ai khác chính là tuổi trẻ ở quốc nội Việt Nam, kết hợp cùng lớp trẻ đang tham quân nhiếp chính trong dòng sinh hoạt chính trị tại Hoa Kỳ, và một số quốc gia tự do trên thế giới.

Để am tường và triệt hiểu về vấn đề trên thì nên có cái nhìn khái quát về chặng đường 35 năm qua, nhất là công cuộc đấu tranh. Luận về vấn đề này thì không có khái niệm nào ngắn gọn hơn, sâu sắc hơn và ý nghĩa bằng lời của Người đã có công soạn thảo, và thành lập nên Chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa! Đó là:

"... Các lý thuyết đưa ra làm lý thuyết tranh đấu để chống lại chủ nghĩa Cộng sản đã có nhiều. Và hiện nay vẫn còn có người đang đi tìm một lý thuyết khác nữa với tác dụng nói trên. Giá trị tư tưởng các lý thuyết rất khác nhau nhưng tất cả đều bất lực trong vai trò mong mỏi: Giúp cho chủ trương Quốc gia chiến thắng chủ trương Cộng sản. Chẳng những thế, tất cả các lý thuyết đều mang đến một kết quả bất ngờ và trái ngược. Mỗi lý thuyết có một số người tin tưởng, nhất quyết trung thành với lý thuyết của nhóm mình và thành thật hay miễn cưỡng bảo vệ lý thuyết đó. Thành ra khối người theo quốc gia chia năm xẻ bảy làm cho sung lực chống lại kẻ địch còn yếu hơn là lúc không có lý thuyết.

Thật là không có gì làm cho người Cộng sản sướng bằng tình trạng đó, và họ chỉ ước mong khối Quốc gia tạo ra thêm nhiều lý thuyết tương tự.. .. .."

Đó chính là lời của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu đã viết trong: Chính Đề Việt Nam, khi ông nhận xét chung về tình hình chính trị của Miền Nam Việt Nam, để rồi đưa ra sách lược chống cộng. Tuy Cố vấn Ngô Đình Nhu đã hóa người thiên cổ, nhưng nếu đem suy nghĩ của ông từ 50 năm trước để nhận xét về hiện trạng của cộng đồng đấu tranh cho tự do dân chủ, dù ở quốc nội hay hải ngoại thì có lẽ không khác xa gì mấy! Tuy nhiên, do một số đặc tính khách quan trong đời sống và địa lý của người tỵ nạn gặp phải, cũng như sự quản thúc đàn áp mà các nhóm đấu tranh tại quốc nội phải chịu, tất cả sự khó khăn này đã dẫn đến tình trạng không thống nhất trong quan niệm hay khuynh hướng, và đưa tới sự không đồng bộ trong đấu tranh.

Nhưng các khiếm khuyết đó không có nghĩa là sự bế tắc vĩnh viễn mà người đấu tranh không thể không khai thông được! Vì vậy, kiếm tìm một sinh lộ tự do cho công cuộc dân chủ hóa quốc gia, thì trước tiên người đấu tranh phải nhìn xa trông rộng, phải thông đạt cả lý lẫn tình, và có khi phải tách rời những lý thuyết hay đường hướng xưa cũ để tìm một phương hướng đấu tranh mới, nhằm phù hợp với bình diện chính trị quốc tế đang tác động vào cuộc diện chính trị Việt Nam.

Trong tinh thần đó, dựa trên nguyên trạng của tình hình chính trị Việt Nam, xin gởi đến công luận phần phân tích và bình luận. Từ đây, bạn đọc sẽ có một nhận định khách quan về vai trò của tuổi trẻ nói chung, hay nói riêng qua các chuyến công cán Việt du của giới chức Hoa Kỳ, trong đó có sự tham dự của các nhân vật như Cao quang Ánh- Lê Bá Hùng, và tin rằng trong tương lai sẽ còn nhiều người nữa! Và liệu rằng họ có vai trò và khả năng gì để đóng góp cho công cuộc dân chủ hóa thể chế chính trị, cũng như kiến quốc Việt Nam???

1. Hiện Tình Giới Cầm Quyền Hà Nội Và Mối Bang Giao Theo Thế Chân Vạc: Việt-Mỹ-Trung

Rất khách quan để nhận định rằng, chưa bao giờ giới đương quyền Hà Nội gặp phải những khó khăn không giải quyết được như hiện nay, mà nguyên nhân sâu xa dẫn dắt đến tình trạng này là mối quan hệ không tương quan trên nhiều mặt, giữa hai quốc gia Trung Quốc và Việt Nam. Hiện nay nhà cầm quyền Hà Nội đã nhận ra sự bị lấn át, hiếp đáp, và tình trạng sợ hãi cúi đầu lệ thuộc chính là ngòi nổ sẽ làm tan rã chế độ, cũng như sự an toàn tính mạng và tài sản của giới lãnh đạo, mà sự bùng nổ đó có thể khởi phát bất cứ lúc nào từ phía bất mãn của người dân. Do đó:

Về Đối Nội: Giới đương quyền cố gắng đưa ra những sắc luật nghiêm ngặt nhằm ngăn cấm sự tiếp cận, hạn chế sự trao đổi những thông tin bất lợi cho chế độ, đồng thời tăng cường những biện pháp răn đe, cô lập các nhà bất đồng chính kiến, cũng như thẳng tay cưỡng đoạt tịch thu những tài sản của các tôn giáo, nơi mà nhà cầm quyền Hà Nội cho là địa điểm kết tụ đông người, khó bề kiểm soát. Tất cả những sắc luật đó có vẻ tạo ra sự yên tâm cho giới lãnh đạo, nhưng thực chất chỉ khiến cho người dân bất bình hơn vì nhận ra sự ngày càng độc đoán của chế độ.

Về Đối Ngoại: Nhà cầm quyền Hà Nội cũng đã nắm vững được nguyên tắc chính trị, bằng cách khai thác mâu thuẫn quốc tế để tìm cơ hội sống còn cho chế độ, mà lẽ ra việc đối ngoại bang giao này nên tiến hành từ trước năm 2000. Vì thế, các nỗ lực vận động hiện nay dường như đã quá trễ trong mục đích kéo dài thể chế!

Có nhiều lập luận cho rằng, giới cầm quyền Hà Nội đang ở vào thời kỳ đầu vị trí Chủ tịch khối Asia, từ cương vị này Hà Nội có thể vận động các quốc gia cùng khu vực nhằm tạo nên thế liên hoàn để chống lại sự bành trướng của Trung Cộng, nhất là khu vực Biển Đảo. Lập luận này nghe qua rất hữu lý nhưng hoàn toàn không có một chỉ dấu hữu lực nào! Bởi rằng, thử xem từng quốc gia trong khối này! Liệu nước nào có quân đội nhiều nhất, mạnh nhất, kinh nghiệm chiến tranh nhiều nhất hơn Việt Nam? Vậy cái lý thông thường mà ai cũng có thể hiểu là: Mạnh mẽ và thiện chiến như Việt Nam mà không dám đánh Trung Cộng, thì tại sao họ phải giúp ..? Hay luận một cách khác cho thực tế hơn là địa hình các quốc gia này chẳng kề sát gì với Trung Cộng, nên họ không dại gì xen vào chuyện nội bộ Việt Nam để ảnh hưởng đến quan hệ song phương giữa quốc gia của họ và Trung Cộng. Cho nên chỉ số khả tin hy vọng về khối Asia hoàn toàn không có! Nếu có, thì cũng không thấy động lực nào mạnh nhất để bắt buộc Trung Cộng ngồi vào bàn đàm phán đa phương, một giải pháp mà nước mạnh này đã nhiều lần gởi tín hiệu từ chối về vấn đề tranh chấp Biển Đông.
Song hành với ngoại giao trong khu vực, giới lãnh đạo Hà Nội cũng đã tất bật đi đông về tây để xã giao và mua vũ khí. Nhưng cho dẫu đem về bao nhiêu máy bay trực thăng của Pháp, hay tàu ngầm tối tân của Nga, nhưng liệu giới cầm quyền Hà Nội có dám ra lệnh cho Quân đội ấn nút hay bóp cò để chống lại Trung Cộng khi có biến động chiến tranh?

Để có cái nhìn tổng thể cho hàng loạt sự kiện mang tính giao tế nói trên. Có thể mạnh dạn đưa ra kết luận rằng. Giới lãnh đạo Hà Nội tuy có nắm rõ hình thái biến chuyển của chính trị thế giới, để vận hành đường lối, chủ trương sao cho thích hợp với cục diện hiện tình! Nhưng họ đã không nắm rõ được cái nguyên tắc gần như bất di trong Ngoại giao. Là khi một quốc gia có sung lực về kinh tế, tài nguyên, và hùng mạnh về quân lực thì công cán ngoại giao bao giờ cũng được đẩy mạnh và kết quả mỹ mãn, và thường thì các quốc gia này đều có một thể chế tự do dân chủ. Ví dụ như Nhật Bản, Nam Hàn hay Đài Loan. Nhưng các nét căn bản nói trên đối với Việt Nam không có một nền tảng nào!. Do đó, hàng loạt chuyến đi ngoại giao vừa rồi của các nguyên thủ Việt Nam là đi theo kiểu Nguyễn Minh Triết đã nói, là đi cho mình cũng ngang hàng với người ta, hay hiểu nôm na theo theo câu nói của anh lái xe đò là đi cho lỗ dầu lỗ xăng. Vì thật sự, nếu ông Triết được Tây Ban Nha mời qua viếng thăm, vậy thì tại sao ông ta bị quốc gia chủ nhà này chất vấn về vấn đề nhân quyền???. Cho nên việc xin đi thăm hay được mời thăm hoàn toàn khác nhau cho bối cảnh túng thì biến của nội bộ đảng CSVN hiện nay!

Như vậy chứng tỏ rằng để bảo vệ quốc gia thì chí người sẽ quan trọng hơn vũ khí! Điểm dựa căn bản này giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam cũng đã đánh mất từ lâu. Trong cuộc chiến ý thức hệ trước đây, họ từng rêu rao về sức mạnh tạo nên chiến thắng là nhờ chiến tranh nhân dân. Nhưng cách đây gần 2 năm, ý thức và tinh thần dân tộc này đã bị chính giới đương quyền đàn áp dập tắt, mà nạn nhân không ai lạ chính là Nhà báo Điếu Cày bị giam tù, cùng một số người treo giăng khẩu hiệu chống Trung Cộng tại Hà Nội bị kết án vừa qua. Gần đây giới cầm quyền cố gắng dùng những phương pháp tuyên vận, mang vẽ chiêu hiền đãi sĩ qua các hình thức như Đại Hội Việt Kiều, hay Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông, mà nhiều người cho rằng đó là Hội Nghị Diên Hồng. Nhưng trớ trêu thay! Người ta đã quên đi những bài học lịch sử vỡ lòng. Là ngày xưa các Vua hiền Thần trung hiệu triệu được quần hùng chống lại ngoại xâm, là vì các đấng tiền nhân này yêu nước. Nhưng ngày nay 15 ông vua trong bộ chính trị đang bán nước, thì ai mà tin tưởng đường hướng của họ!

Vậy điểm tựa duy nhất còn lại của đảng cộng sản Việt Nam là ở hơn 3 triệu đảng viên, nhưng thế yếu này rất dễ dàng nhận ra như bài toán 2 với 2 là 4. Bởi, những đảng viên được xem là lão thành kỳ cựu tuyệt đối trung với đảng, hiếu với dân thì bây giờ họ đang xấp xỉ vào độ tuổi 60-70, ai ở thành phố thì Bia với Rượu đã làm họ quên đi cách thức tác xạ của khẩu AK là thế nào? Còn ai ở nông thôn thì không đủ sức để đuổi gà cho vợ! Vậy, chỉ còn số lượng đảng viên kết nạp sau năm 1975, nhưng cái cương khí bám thắt lưng địch mà đánh , liệu có ở những thành phần này không? Khi mà đời sống của họ đang cao sang trong dinh thự, và sự thu nhập lợi tức hằng ngày quá dễ dãi qua hành động tham ô hối mại, thì liệu họ có chịu đặt chữ đảng lên trên tính mạng cao sang thực thụ của họ?

Dựa trên thực tế để phân tích từ nội bộ đến ngoại cảnh của tình hình chính trị Việt Nam. Có thể nhận định: Là phía đảng cộng sản Việt Nam đang lâm vào tình trạng rất khó để kéo dài chế độ, nếu họ ngoan cố không tìm đường hướng để dân chủ hóa. Nhưng bao giờ cũng vậy, dù một nguyên thủ quốc gia nào cạn trí đến đâu! Thì họ vẫn tìm cho mình một lối thoát thân vừa an toàn tính mạng, vừa bảo đảm tài sản có khi là danh dự, trường hợp các lãnh đạo Việt Nam cũng không ngoại trừ! Bởi xu hướng chính trị thế giới, nhất là mối quan hệ theo thế chân Vạc: Việt-Trung-Mỹ đang đặt giới cầm quyền Hà Nội vào sự chọn lựa cho chính bản thân của họ. Là chọn một số phận vĩnh viễn đen tối như các nhà cộng sản độc tài của Đông  trước đây, hay một sự êm dịu im lặng vĩnh cửu như Musharraf của Pakistan??? Và ai là người vận động họ đi vào con đường thoát hiểm này? Hay, giới lãnh đạo Việt Nam chấp nhận đánh ván bài sinh tử mà từ lâu họ biết rằng ván bài này sẽ kết thúc ngai vị của họ?

2. Tìm Đường Thoát Chết Trong: VÁN BÀI ĐỊNH CHẾ!

Vấn đề quan trọng mà giới cầm quyền Việt Nam đang thất thế và lo ngại nhất, chính là chuyện Biển Đảo. Vì lãnh đạo Hà Nội thừa hiểu rằng, đây là điểm sơ hở của giới lãnh đạo rất dễ tạo cơ hội để các thành phần đấu tranh đứng lên, Nếu lực lượng nhỏ thì họ có thể đàn áp được, nhưng khi cuộc đấu tranh giữ nước bùng nổ lớn thì chế độ sẽ sụp đổ, và tính mạng của họ sẽ không an toàn dưới bất cứ một dạng đấu tranh nào, kể cả đảo chánh từ quân đội.

Vì biết thế, nên lãnh đạo Hà Nội đã nhiều lần dùng kế Hoãn Binh bằng cách hứa hẹn với công chúng là lập trình hồ sơ giải quyết theo công ước quốc tế, hay đàm phán song phương với Trung Cộng. .vv..vv..Nhưng tất cả đều là lý thuyết mộng mỵ mơ hồ. Lâu nay đã có nhiều phương pháp đưa ra công luận truyền thông, về vấn đề Biển- Đảo là giải quyết theo công ước Quốc tế. Mọi giải pháp nghe rất hữu lý hợp tình theo nguyên tắc. Nhưng rất tiếc, không ai đặt ra câu hỏi rằng:

- Liên Hiệp quốc là ai? Nếu Liên Hiệp Quốc mạnh hơn Hoa Kỳ và Trung Cộng, và làm việc hữu lực đúng chức năng của tổ chức này, thì tại sao Trung Cộng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974??? Và CSVN xé bỏ Hiệp Định Paris năm 1973 để cưỡng chiếm Miền Nam năm 1975???

Hai sự kiện quan trọng này không liên quan đến vấn đề quốc tế sao?

Sự trả lời cho các câu hỏi nói trên tự nó sẽ đả phá các sách lược hoãn binh của Hà Nội, cũng như mọi lý thuyết khác. Nêu ra vài sự kiện trên nghe rất thất vọng, nhưng cốt là để giới đương quyền Hà Nội chớ nên kỳ vọng hão huyền! Để nhanh chóng đi tìm một giải pháp thiết thực hơn, nhằm bảo vệ lãnh hải cũng như chủ quyền độc lập của quốc gia, mà giải pháp đó không phải là không có nếu họ không tham quyền cố vị độc đảng.

Cũng từ vấn đề Biển-Đảo là thế yếu của CSVN để suy ra, thì có nhiều lập luận trình bày rằng. Hoa Kỳ trở lại Châu Á để cân bằng lực lượng với Trung Cộng tại Biển Đông. Nói như thế thì các vị lãnh đạo Hà Nội vuốt râu ngồi nhậu được rồi, vì đã có Mỹ làm thuê! Nhưng trong chiến lược quân sự và chính trị thì làm gì mà có chuyện ăn mày gặp chiếu rách hay Mèo mù gặp Cá rán! Cho nên, đúng nghĩa để hiểu của hai chữ cân bằng, là mỗi khi chính phủ Hoa Kỳ đã ra lệnh cho Chiến hạm tuần tiểu thường xuyên, mà ít ra ngư dân Việt Nam yên tâm lao động trên ngư trường khi có tàu Trung Cộng. Nhưng không, vài ba chiến hạm cập bến Đà Nẵng- Sài Gòn, đặc biệt là chuyến thăm của Trung Tá Lê Bá Hùng. Tất cả đều đó cũng không ngoài việc người Mỹ vừa chọc thèm, vừa nhắc nhở giới lãnh đạo Việt Nam về một sự cần thiết mà họ cần phải có! Và dĩ nhiên, hơn ai hết giới lãnh đạo Việt Nam tự hiểu rõ là họ bày ra hàng loạt trò ngoại giao mang tính dương đông kích tây, để đánh lạc hướng các nhà quan sát Trung Cộng. Nhưng điểm chính diện ngoại giao tối cần thiết là nhắm vào Hoa Kỳ. Vì giới quốc phòng Việt Nam rất hiểu nước Mỹ tuy kinh tế đang xuống dốc, nhưng Mỹ đang có 2 thứ đồ chơi mà Trung Cộng phải khiếp sợ,! Đó là lực lượng Không quân và Hải Quân mà vài chục năm sau Trung Cộng mới sánh kịp.

Nhưng cộng sản Việt Nam làm cách nào để có 2 thứ đồ chơi này mà họ đều biết rằng, đây là 2 con bài mà Hoa Kỳ cũng muốn họ nên bắt cho bằng được???

Đây là lúc các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ sẵn sàng trải Chiếu hoa mời giới cầm quyền Hà Nội cùng chơi: Ván Bài Định Chế, mà điều kiện cuộc chơi là: Hà Nội bắt bài thì sống, không bắt thì chết!. Vậy để xem vốn liếng của 2 bên như thế nào? Hơn thua, được mất về ai? Hãy cùng nhau phân tích, mà trước hết:

Phía Việt Nam: Dựa trên thực tế như đã phân tích ở trên, về khả năng để bảo vệ đảng cộng sản Việt Nam, tức guồng máy chế độ chứ không nói đến tầm mức bảo vệ quốc gia thì quá yếu, ngoài hình thức đàn áp. Nhưng giới lãnh đạo Hà Nội đầy đủ kinh nghiệm để thông hiểu rằng, đàn áp là mẹ đẻ sinh ra bạo động, và bạo động thì phần thắng bao giờ cũng thuộc về người đấu tranh, nhất là mục đích các cuộc đấu tranh giữ nước, từ đó chế độ sẽ bị cô lập và tan rã. Nói như vậy thì lãnh đạo Việt Nam không có vốn liếng hay tài cán gì, để ngoại giao với một chính phủ luôn luôn đặt quyền lợi của Hoa Kỳ lên trên hết!

Phía Hoa Kỳ: Không cần quan hệ mật thiết với Việt Nam, nhưng họ vẫn đủ mọi sức mạnh để tìm nguồn lợi tại Biển Đông. Nhưng điểm cần quan tâm mà truyền thông đang tranh luận. Là liệu Hoa Kỳ chấp nhận bán những vũ khí sát thương, hay hỗ trợ chiến cụ hạng nặng cho Việt Nam để bảo vệ lãnh hải, theo như yêu cầu cấp thiết của lãnh đạo Hà Nội nhằm giải quyết trong tình trạng cùng đường bí lối? Để thấy điểm này thì thử hỏi xem 3000 nhân mạng của Hoa Kỳ chết trong Tòa Tháp Đôi vì ai? Binladen buổi đầu do ai đào tạo ra, có phải là Mỹ không???

Hay, chính phủ Mỹ đang nhức đầu với Iran, mà nguyên nhân sơ khai bắt đầu từ chương trình nguyên tử hòa bình, có phải do Mỹ giúp đỡ không???

Các bài học xương máu đó các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ đã quên sao, mà nay lại giúp vũ khí cho cộng sản Việt Nam, một đàn em suốt ngày hoan hô Trung Cộng vạn tuế, điều đó khác nào giúp Cọp thêm cánh cho chính đối thủ của Hoa Kỳ.

Như thế, sự chênh lệch vốn liếng của cuộc chơi quá lớn!

Nhưng, thế giới cũng từng công nhận bản chất chính trị của Hoa Kỳ là sòng phẳng, thì trong trường hợp này cũng vậy đối với giới lãnh đạo Hà Nội. Là họ không cần ký thác, bán đất bán biển cho Hoa Kỳ như đã từng làm trước đây với Trung Cộng, mà Hà Nội muốn bắt 2 con bài nói trên, tức là nhận được sự bảo trợ của Hoa Kỳï thì trước tiên phải chấp nhận một điều kiện là: Dân chủ hóa thể chế chính trị để đi đến đa nguyên đa đảng, hay giải thể đảng cộng sản Việt Nam

Nếu lãnh đạo Việt Nam không chấp nhận và tiếp tục thần phục rồi mất nước vào tay Trung Cộng, phong trào đấu tranh giữ nước nổi lên, chế độ sụp đổ thì tính mạng giới cầm quyền sẽ ra sao? Hoặc có khi cơ hội thoát hiểm đang mở ra nhưng không thích uống rượu mời mà phải uống rượu phạt mà lãnh đạo Hà Nội phải đối diện trong hoàn cảnh cô thế này! Và rõ ràng nếu chấp nhận điều kiện đó thì giới lãnh đạo sẽ được an thân, trong sự sắp xếp như đã từng xảy ra tại Pakistan với trường hợp Tổng Thống Pervez Musharraf. Đây là bài học lớn nhất cho lãnh đạo đương quyền Việt Nam, vì nếu không có sự thỏa thuận sắp đặt của Hoa Kỳ thì Musharraf không tan xương nát thịt, bởi hận thù giáo phái và đối thủ chính trị sao?

Và dĩ nhiên một chính phủ dân cử sẽ hình thành, mà các yếu nhân lãnh đạo quốc gia Việt Nam sẽ không thiếu dũng khí như Nguyễn Cao Kỳ, hay tham nhũng độc tài như Nguyễn Tấn Dũng. Mà với kinh nghiệm qua sự tham chiến của Hoa Kỳ trong cuộc chiến ý thức hệ trước đây, thì việc tìm sự đồng thuận trên cùng một hệ ý thức sẽ là điều căn bản, để Hoa Kỳ giúp đỡ xây dựng một Việt Nam theo thể chế tự do dân chủ. Và cũng từ mô hình kiểu mẫu này, Hoa Kỳ dễ dàng thuyết phục 2 quốc gia cứng đầu là Bắc Hàn và Miến Điện. Từ đó tạo ra thế vòng cung ngay trước mặt Trung Cộng trong chiến lược lâu dài của siêu cường này tại Châu Á-Thái Bình Dương.

- Lịch Sử Tái Diễn???

Tất cả phần phân tích và bình luận mà bạn vừa đọc xong, chỉ là suy luận từ thực tế của tình hình chính trị Việt Nam để cấu tạo nên bài viết. Nhưng xét cho cùng, mọi diễn biến của mỗi quốc gia cũng được các nhà hoạch định chính sách, bắt đầu từ hiện thực để cấu trúc nên chiến lược và chủ trương. Tuy nhiên, trong công cuộc đấu tranh giành độc lập tránh nạn Hán Hóa từ phương Bắc, thì giải pháp nào tiết kiệm được xương máu và nhanh nhất để giải thể chế độ cộng sản Việt Nam. Nếu hữu lực thì là điều nên nghĩ tới!

Kính chúc bạn đọc năm 2010 đầy niềm tin và hy vọng.

Nguyễn Duy Thành


CÓ NHỮNG ANH HÙNG BÂY GIỜ MỚI BIẾT - Đại Tá W.S. Reeder

Đại Tá W.S. Reeder

Nguyễn Hữu Thiện (phỏng dịch và đặt tựa)

Lời nói đầu: Sau cuộc chiến Việt Nam, đã có nhiều huyền thoại đầy anh hùng tính viết về các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Và trong rất nhiều trường hợp, chỉ tới khi ấy, chúng ta mới giật mình nhận ra những người "anh hùng" được nhắc tới lại chính là những cấp chỉ huy, những đồng đội, những thuộc cấp rất bình thường của mình. Một trong những con người rất bình thường ấy vừa được vinh danh là cựu Trung-úy hoa tiêu khu trục Nguyễn Văn Xanh, Phi Đoàn 530 Thái Dương, Không Đoàn 72 Chiến Thuật (Pleiku).

Thời gian ấy – Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, với tư cách Sĩ quan Thông Tin Báo Chí đơn vị, có nhiệm vụ báo cáo hàng tuần về tổng số phi vụ và kết quả hoạt động của đơn vị cho Phòng Thông Tin Báo Chí – BTL/KQ , có lẽ chúng tôi đã chỉ ghi ngắn gọn trong phần tổn thất của quân bạn: "Phi Đoàn 530: một A-1 Skyraider bị phòng không địch bắn hạ ngày 9/5/1972 tại Kontum; phi công nhảy dù và được ghi nhận mất tích". Chấm hết!

Nhưng với một phi công Đồng Minh xa lạ, tới đây câu chuyện của ông mới bắt đầu. Xin mời độc giả theo dõi câu chuyện cảm động ấy qua hồi ký của Đại-tá Lục Quân (hồi hưu) William S. Reeder, nguyên phi công trực thăng tấn công AH-1G Cobra, phục vụ tại Căn cứ Halloway, gần phi trường Cù Hanh, Pleiku, mới được phổ biến trên Internet. Cũng cần viết thêm, sau khi giải ngũ, ông Reeder đã trở lại trường đại học, và đạt tới học vị Tiến sĩ. NHT

* * *
Tôi còn nhớ đợt phục vụ luân phiên (tour of duty) thứ nhì của tôi khởi đầu vào ngày 7 tháng 12 năm 1971. Lúc ấy, chương trình rút quân Mỹ theo kế hoạch "Việt Nam hóa chiến tranh" của Tổng thống Nixon đang được tiến hành một cách suông sẻ. Gánh nặng trong cuộc chiến đã được chuyển giao gần hết cho Quân Lực VNCH, và quân Mỹ đã được đưa về nước với một nhịp độ chóng mặt. Giờ này nhìn lại, phải công nhận chương trình Việt Nam hóa ngày ấy đã đạt kết quả tốt đẹp. Hoạt động của địch quân ở miền Nam đã giảm hẳn, và hình thức chiến tranh du kích của quân phiến cộng đã không còn hiện hữu. Thế nhưng, sự yên tĩnh ấy đã không kéo dài.

Mùa xuân 1972, quân Cộng Sản Bắc Việt bất thần mở những cuộc tấn công vũ bão chưa từng thấy trong cuộc chiến – đợt tấn công mà người Mỹ quen gọi là "Cuộc tổng công kích mùa Phục Sinh 1972" (1972 Easter Offensive). Đây không phải là một cuộc tổng nổi dậy của Việt Cộng trong Nam như hồi Tết Mậu Thân 1968, mà là một chiến dịch quy mô với hàng loạt cuộc tấn công quy mô của quân CSBV băng qua vùng phi quân sự, và từ những căn cứ đóng quân trên lãnh thổ Lào và Căm-bốt, với mưu đồ cắt đôi lãnh thổ VNCH tại vùng Cao Nguyên, và tiến đánh Sài Gòn, thủ đô miền Nam. Kết quả, quân CSBV đã thất bại trước sức chiến đấu mãnh liệt của lục quân và không quân miền Nam, với sự trợ lực tận tình của những đơn vị Hoa Kỳ còn đồn trú tại đây. [1972 Easter Offensive được phía Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972; và từ đoạn này, người dịch sẽ sử dụng "Mùa Hè Đỏ Lửa" thay cho "Easter Offensive"]

Cuộc tổng tấn công bắt đầu vào tháng Tư năm 1972 với các cuộc tấn công của quân chính quy Bắc Việt từ Căm-bốt tiến về hướng Sài gòn, và băng ngang vùng phi quân sự tiến chiếm cố đô Huế. Sau cùng là mặt trận mang tính cách quyết định của chiến dịch: quân CSBV từ miền Bắc Căm-bốt và Nam Lào vượt biên giới tiến đánh vùng Tây Nguyên, với mục đích giành quyền kiểm soát dải đất Trung phần, và tiêu diệt lực lượng VNCH tại đây - giống như Việt Minh đã thực hiện, và đã thành công trong chiến tranh với Pháp vào năm 1954. Lần này, quân cộng sản đã thành công trong bước đầu, tuy nhiên sau đó họ đã không chiếm được một mục tiêu quan trọng nào. Ở phía bắc, họ chỉ tiến chiếm tới Quảng Trị, và sau đó đã bị lực lượng Nhảy Dù của VNCH đánh bại. Tại Tây Nguyên, họ chỉ chiếm được một số tiền đồn chung quanh Kontum, nhưng sau đó cũng bị đẩy lui.

Câu chuyện tôi kể lại sau đây chính là bối cảnh của một bi kịch đời người diễn ra vào lúc ấy, với vai chính là tôi, và một phi công VNCH tên là Xanh Văn Nguyễn – hay gọi theo cách gọi của người Việt, họ luôn đứng trước tên gọi, thì là Nguyễn Văn Xanh. Vào thời gian Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khởi sự, tôi đang bay trực thăng tấn công AH-1G Cobra tại Căn cứ Halloway của Lục Quân Hoa Kỳ, ở gần tỉnh lỵ Pleiku. Trung-úy Nguyễn Văn Xanh thì bay khu trục cơ A-1 Skyraider ở Căn cứ Không Quân Pleiku. Chúng tôi không hề quen biết nhau, cũng chưa từng gặp gỡ bao giờ.

Hôm đó là ngày29 tháng 5, 1972, vào lúc hừng đông, tôi chỉ huy một phi vụ gồm 2 chiếc trực thăng Cobra yểm trợ một căn cứ bộ binh đang bị địch công hãm ở Polei Klang, ở cực tây tỉnh Kontum, gần biên giới Căm-bốt. Một lực lượng quân CSBV với sự yểm trợ của chiến xa đang tấn công căn cứ và tình hình thật bi đát. Sau nhiều vòng tấn công và sử dụng toàn bộ rocket, đạn M-79 và đạn đại liên, chúng tôi bay về phi trường Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Nhân viên phi hành bay chung với tôi, tức phi công phụ kiêm xạ thủ ngồi ghế trước của chiếc Cobra, là Thiếu-úy Tim Conry, quê ở Phoenix, tiểu bang Arizona. Tim là sĩ quan trẻ xuất sắc nhất mà tôi được biết, vì thế ngay sau khi anh tới đơn vị, tôi đã chọn anh vào phi đội do tôi chỉ huy, và luôn luôn để anh bay chung với tôi. Anh không chỉ là một nhân viên phi hành xuất chúng mà còn là một con người toàn hảo. Nhưng vào chiều ngày hôm ấy, anh đã trở thành người hùng thiên cổ!

Trở lại với phi vụ của chúng tôi, trên đường quay trở lại Polei Klang, chúng tôi được lệnh thay đổi mục tiêu tấn công: đó là tới yểm trợ cho một tiền đồn ở vùng Tam Biên – tức giao điểm của ba biên giới Việt Nam, Căm-bốt và Lào. Địa danh này có tên là Ben Het. Lực lượng trấn giữ là một tiểu đoàn Biệt Động Quân, với quân số khoảng 300 người, và hai cố vấn Mỹ. Lực lượng bé nhỏ ấy đang phải chống trả sức tấn công của hàng ngàn bộ đội thuộc hai sư đoàn CSBV có chiến xa tăng cường. Khi chúng tôi tới nơi, các chiến xa đã vượt qua hàng rào phòng thủ, và bộ đội Bắc Việt đã chiếm gần hết căn cứ.

Trước đó, trên đường tới Ben Het, khi bay ngang qua Polei Klang, tôi nhìn xuống quan sát. Chiến sự đang sôi động, và tôi có thể thấy những chiếc khu trục A-1 Skyraider đang nhào xuống thả bom. Bỗng một chiếc A-1 bị trúng đạn phòng không, bốc cháy, đâm xuống đất nổ tung. Nhưng viên phi công đã kịp thời phóng ghế thoát hiểm vì tôi thấy cái dù của anh đang lơ lửng. Tôi liền gọi máy về xin được ở lại Polei Klang để yểm trợ cho cuộc cấp cứu. Lời thỉnh cầu của tôi bị từ chối. Tôi xin thêm một lần nữa, cũng bị từ chối. Và tới lần thứ ba thì bị từ chối một cách dứt khoát, cộc lốc. Lúc đó, chưa được biết tình hình ở Ben Het nguy kịch tới mức nào, cho nên tôi đã vô cùng phẫn nộ vì đã không được phép cứu giúp một phi công lâm nạn đang cần tới sự yểm trợ của mình.

Tôi bay vào Ben Het mà tưởng như đang bay vào một tổ ong bị động. Lúc đó, 5 chiến xa địch đã vượt qua hàng rào kẽm gai, và bộ đội Bắc Việt thì tràn ngập khắp nơi. Các quân nhân đồn trú còn sống sót đã rút vào hầm chỉ huy ở trung tâm để cố thủ. Chúng tôi tác xạ một hồi rồi yểm trợ cho một chiếc trực thăng đặc biệt được trang bị một loại hỏa tiễn chống chiến xa mới nhất. Sau khi sử dụng hết đạn dược, chúng tôi lại bay về Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Rồi quay trở lại Ben Het để thi hành phi vụ chiến đấu thứ ba trong ngày.

Sau khi cất cánh khỏi phi trường Kontum, chúng tôi được lệnh hộ tống một trực thăng có nhiệm vụ tiếp tế đạn dược cho Ben Het. Lúc đó, đạn của lực lượng cố thủ đã gần cạn, riêng hỏa tiễn chống chiến xa thì đã hết sạch.

Sau khi gặp nhau, chúng tôi hộ tống chiếc Huey (tức trực thăng UH-1) tới Ben Het, tất cả đều bay sát ngọn cây. Vừa bay tới Ben Het thì súng nổ như pháo Tết, súng của ta lẫn súng của định. Ở ghế trước trên chiếc Cobra của tôi, Thiếu-úy Tim Conry rải từng tràng mini-gun và những trái M-79 xuống thật chính xác. Tôi thì bắn từng cặp rocket. Chúng tôi càng tiến sâu thì hỏa lực phòng không của địch càng dày đặc. Nhưng rồi chiếc Huey cũng vào được tới nơi và hoàn tất nhiệm vụ cực kỳ khó khăn ấy, phần lớn là nhờ hỏa lực yểm trợ thật chính xác của Tim: sau khi lơ lửng tại chỗ ở cao độ gần sát mặt đất, và đạp các thùng đạn xuống, chiếc Huey bay ra dưới sự yểm trợ hỏa lực của chúng tôi. Cùng lúc, chiếc Cobra của tôi bị trúng vô số đạn đủ loại của địch, bốc cháy và đâm xuống theo đường xoáy trôn ốc. Chỉ trong giây lát, chiếc trực thăng chạm đất, và phát nổ ngay sau khi tôi và Tim - dù bị thương nặng – tìm cách thoát ra khỏi phi cơ.

Tim chết vào chiều tối hôm đó. Riêng tôi thì bị gẫy xương lưng, phỏng ở mặt và phía sau cần cổ, một miểng đạn nằm sâu ở mắt cá, và vô số vết thương nhỏ ở mặt và đầu. Nhưng mặc dù phi cơ rớt ngay trong khu vực có hàng trăm địch quân đang tấn công căn cứ, tôi cũng lẩn tránh được ba ngày trước khi bị bắt.

Tôi bị tra khảo trong mấy ngày liền; và bị đối xử khá tàn bạo. Khi ấy tôi ở trong một tình trạng cực kỳ thê thảm về thể xác. Lưng tôi bị gẫy. Máu từ vết thương ở mắt cá chảy ra đầy chiếc giày bốt, giờ này đã khô lại thành một khối cứng ngắt. Đã ba ngày tôi không cạo râu. Tôi không còn khả năng điều khiển ruột già và bàng quang, cho nên tôi đã đại tiện, tiểu tiện ra đầy quần. Tôi bị vô số vắt bám vào người để hút máu, và chúng đã bị tôi bứt ra hết, trừ một con đang chui vào lỗ mũi phía bên trái mà tôi không hề hay biết. Khi bắt được tôi và thấy cảnh này, đám bộ đội đã được một trận cười khoái trá. Tôi bị tra khảo, đánh đập, hăm dọa. Hai tay tôi bị trói ngược ra phía sau bằng dây nhợ, và càng ngày càng bị xiết chặt theo thời gian bị tra khảo, cho tới khi hai vai tôi bị trật khớp, và hai cùi chỏ bị trói cứng với nhau, cấn vào chỗ xương lưng bị gẫy khiến tôi đau đớn khôn tả. Cuối cùng thì cuộc tra khảo cũng chấm dứt, và tôi được lệnh đi bộ trong ba ngày liên tiếp, để tới một trại giam trong rừng già – mà theo sự ước đoán của tôi, nằm ở phía bắc lãnh thổ Căm-bốt, ngay bên kia biên giới. Tôi đã được bọn họ trả lại trả lại đôi giày bốt, nhưng đã lấy mất hai sợi dây giày và đôi vớ. Sau ba ngày đi bộ, khi lết một cách đau đớn tới cổng trại giam, đôi bàn chân của tôi đã trở nên bầy hầy, giống như hai cái hamburger còn sống.

Trại giam này là một điển hình của những trại mà nhiều người đã từng sống qua. Trại được dựng trên một khoảnh đất trong rừng sâu, tất cả đều làm bằng tre. Chung quanh là một bức tường bằng tre, khiến người ta liên tưởng tới những tiền đồn của kỵ binh Mỹ vào thời khai phá miền Viễn Tây. Bên ngoài bức tường này lại có một bức tường khác. Giữa hai bức tường là một cái hào, giống như hào thành thời trung cổ. Dưới hào có vô số chông - là những thân tre vót nhọn, sắc bén như dao, cắm sâu dưới một lớp phân người. Nếu rớt xuống đó, không chết vì bị chông đâm vào những bộ phận trọng yếu thì bạn cũng sẽ chết vì bị mất máu, hoặc nếu không chết ngay vì những vết thương thì cũng chết từ từ vì bị nhiễm trùng. Một thân cây được bắc ngang cái hào, mà phải cố gắng giữ thăng bằng, người ta mới có thể đi trên cái "cầu" này để vào trại.

Bên trong những bức tường tre ấy là những cái cũi, cũng bằng tre, để nhốt tù binh. Nào là quân nhân VNCH, nào là những người Thượng đồng minh của Biệt kích Mỹ; và hai người Mỹ - gồm tôi và một phi công trực thăng bị bắt trước đó một tháng. Tổng cộng, ít nhất cũng có vài trăm tù binh. Tình trạng trong trại giam thật tồi tệ. Chúng tôi sống như thú vật. Phần lớn những cái cũi để nhốt chúng tôi không đủ cao để có thể đứng dậy. Tuy nhiên điều đó cũng không cần thiết bởi vì chân chúng tôi đã bị cùm vào những cái cùm gỗ. Vì xương lưng bị gẫy, tôi không thể nằm mà phải ngồi để ngủ. Đêm đêm, lũ chuột chạy tới chạy lui trong cũi và gặm nhấm vết thương ở mắt cá chân của tôi. Vì hai chân bị cùm, tôi không thể nhúc nhích nên không có cách nào để đuổi chúng đi. Cho tới ngày nay, tôi vẫn còn ghét chuột!

Mỗi ngày, chúng tôi được ra khỏi cũi một lần để làm công việc thải cặn bã trong cơ thể ở nhà vệ sinh dành cho tù binh. Giờ giấc mỗi ngày đều khác nhau, cho nên tù binh nào không có khả năng chờ đợi, kiềm chế, đã tự phóng uế ra quần khi đang còn bị cùm trong cũi (rất nhiều người trong số chúng tôi bị tiêu chảy). Sau khi ra khỏi cũi, chúng tôi phải đi một khoảng mới tới nhà vệ sinh ở một góc trại.

"Nhà vệ sinh" này thực ra chỉ là vài cái hố xí để bạn phóng uế xuống. "Vấn đề" là có nhiều người trong số tù nhân bị đau yếu đã không thể nín trên đường tới hố xí, nên đã đại tiện ngay tại chỗ, khiến cả khu vực đầy rẫy những đống phân người. Một số tù nhân đau nặng, gần chết, thì được đặt trên những cái võng gần các hố xí. Khi có "nhu cầu", người nào còn đủ sức thì ráng xuống khỏi võng để tới hố, người nào kiệt sức thì đành nằm trên võng mà phóng uế ra quần. Hậu quả là cả khu vực chung quanh mấy cái hố được mệnh danh là "nhà vệ sinh" ấy đầy rẫy phân người, mà những tù nhân còn tương đối khỏe mạnh, trên đường đi tới hố xí phải cẩn thận lắm mới né tránh được. Trên đường trở về cũi, không có bất cứ phương tiện nào để chúng tôi lau chùi, rửa ráy.

Theo ký ức của tôi thì nước uống không có "vấn đề". Nước phân phát cho tù nhân được đựng trong những ống tre. Họ nói rằng nước đã được đun sôi, nhưng tôi vẫn bị tiêu chảy một cách thậm tệ. Nhưng lương thực thì có "vấn đề". Hầu như chỉ có một món duy nhất là cơm. Vào lúc gần trưa, mỗi người được một nắm to bằng trái cam, tới xế chiều được một nắm nữa. Thỉnh thoảng, chúng tôi được "chiêu đãi" bằng những khúc rễ cây có bột, gọi là sắn dây, tương tự như rễ cây "yucca" ở châu Mỹ La-tinh. Chỉ trong vài tuần lễ, tôi đã sút mất hơn 20 ký-lô. Tôi giống như bộ xương cách trí với bộ râu dài. Trong khoảng thời gian 5 tháng, tôi không hề được cạo râu.

Tôi không hề được chăm sóc về y tế hay được cấp phát bất cứ thứ thuốc men nào cả. Nhưng người nào cũng thế thôi. Người tù binh Việt Nam bị nhốt chung cũi, nằm cạnh tôi bị một vết thương rất nặng ở ngực, không hiểu đã được băng từ đời nào, nhưng trong suốt thời gian bị nhốt chung cũi, tôi không hề thấy anh được thay băng. Cái lỗ sâu hoắm trên ngực anh không bao giờ lành. Anh còn trẻ và tương đối khỏe, nhưng tôi biết chắc chắn anh sẽ không qua khỏi.

Chúng tôi sống như thú vật, trong điều kiện môi trường nhơ bẩn, đói khổ, không một chút thuốc men, cho nên hầu như ngày nào cũng có người chết. Xác họ được chôn trên sườn đồi phía bên ngoài trại.

Ngày 2 tháng 7 năm 1972, tôi được đưa ra khỏi cũi và sắp hàng cùng với một toán tù binh. Có khoảng 25 người Việt và một người Mỹ khác. Chỉ một lát sau, tôi được biết trong toán tù binh này có một phi công bị bắn hạ cùng ngày với tôi, khi anh bay chiếc khu trục A-1 Skyraider yểm trợ cho trại Polei Klang. Tên anh là Trung-úy Xanh. Tôi sẽ không bao giờ quên tên anh. Không bao giờ!

Viên chỉ huy trại tới nói chuyện với chúng tôi, theo đó, chúng tôi sẽ di chuyển tới một trại mới, khá hơn. Nơi đó, chúng tôi sẽ được ăn uống đầy đủ hơn, và được chăm sóc về y tế; chúng tôi sẽ được nhận thư từ và bưu phẩm của gia đình gửi. Ông ta cho biết cuộc hành trình có thể sẽ kéo dài tới 11 ngày, vì thế chúng tôi phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi. Sau khi nghe ông ta nói, tôi tưởng tượng ra một trại nào đó cũng ở trong rừng, nhưng vị trí thuận tiện, có nhiều nhân viên và được tiếp tế đầy đủ hơn, nằm ở đâu đó phía bắc Căm-bốt hoặc ngay bên kia bên giới Lào. Riêng về lời cảnh giác của viên trại trưởng nói rằng chúng tôi "phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi", tôi đã chẳng mấy quan tâm. Cho tới mấy ngày sau đó.

Với đôi chân trần, tôi bắt đầu cuộc hành trình. Các tù binh đều bị trói, người này bị cột lại với người kia bằng một sợi dây. Sau vài ngày, chúng tôi không còn bị trói nữa, vì bước đi còn không đủ sức nói gì tới chạy trốn. Tôi rất đuối, vì thiếu dinh dưỡng, vì đủ thứ bệnh không tên, và vì những vết thương lâu ngày không được chăm sóc nay đã làm độc, và ngày càng trở nên tệ hại hơn cùng với cuộc hành trình. Nhưng phải nói chính những con vắt mới là mối nguy hàng đầu; chúng không chỉ hút máu mà còn gây viêm nhiễm do các độc tố chúng truyền sang.

Trung-úy Xanh cũng ở trong tình trạng bi đát như tôi, mỗi bước đi là một sự phấn đấu cả về thể xác lẫn nội tâm, để đối phó với sự kiệt quệ của cơ thể, sự xuống dốc của tinh thần. Bởi nếu bạn không tiếp tục bước, bạn sẽ chết. Ở cuộc sống đời thường, muốn chết bạn phải có một hành động cương quyết nào đó. Bạn phải tự sát. Nhưng một khi bạn là tù binh chiến tranh thì trong bất cứ tình huống nào, sự thể cũng trái n gược lại. Bạn phải phấn đấu từng ngày để sống sót. Còn muốn chết thì dễ quá. Cứ việc bình thản, đầu hàng một cách êm ái, là bạn sẽ chết. Nhiều người đã làm như thế. Họ chết trong trại tù đầu tiên, họ chết trên đường di chuyển. Ngay sau ngày đầu, một số người đã không chịu bò dậy nữa. Một số khác cố gắng tiếp tục cuộc hành trình nhưng rồi cũng lần lượt bỏ cuộc. Trong lúc đoàn người tiếp tục tiến bước, mỗi khi nghe một hay vài tiếng súng nổ ở phía sau, họ biết họ sẽ không bao giờ còn gặp người tù binh đáng thương ấy nữa. Toán 27 tù binh chúng tôi đã mất ít nhất là nửa tá trong hoàn cảnh nói trên, và tới lúc cuộc hành trình kết thúc, Wayne Finch, người tù binh Mỹ duy nhất ngoài tôi ra, cũng đã bỏ mạng.

Cuộc di chuyển không kéo dài 11 ngày, và đích tới cũng không phải là một trại tù nào đó nằm trong khu vực. Mà là một cuộc hành trình gian khổ kéo dài 3 tháng, đưa chúng tôi vượt gần 1000 cây số, ngược đường mòn Hồ Chí Minh, và cuối cùng hướng về Hà Nội, thủ đô của miền Bắc. Thật là một cơn ác mộng – một cơn ác mộng kinh hoàng nhất. Mỗi một bước, với tôi là một sự đau đớn tận cùng thân thể. Các vết thương làm độc ngày càng tệ hại. Tử thần đã kề bên. Cái chân bị thương đã sưng phù lên gấp đôi bình thường, với những vết nứt dài, từ đó chảy ra một thứ mủ cực kỳ hôi tanh.

Bệnh tiêu chảy của tôi càng thêm tồi tệ, lại còn bị tới 3 loại sốt rét khác nhau cùng với vô số ký sinh trùng trong ruột. Mỗi cuối ngày, khi tôi kết thúc cuộc hành trình trên dưới 10 cây số, thần chết cứ lảng vảng bên cạnh. Mỗi buổi sáng, ngay sau khi thức giấc, tôi phải phấn đấu để cố đứng dậy, máu dồn xuống cái chân bị thương cùng với sức nặng của thân hình đè xuống, tạo ra một cảm giác đau đớn vô cùng tận. Và Trung-úy Xanh, mặc dù bản thân cũng trong tình trạng hết sức tệ hại, luôn luôn hiện diện để khích lệ tôi, giúp đỡ tôi với tất cả sức lực còn lại nơi anh. Tới bữa chiều, chúng tôi được phát một nắm cơm nhỏ. Xanh nói với tôi đây không phải là cách ăn uống bình thường của người Việt. Người Việt rất coi trọng bữa ăn, và có nhiều món ăn ngon lắm. Đừng đánh giá văn minh ẩm thực của Việt Nam qua những gì chúng tôi đang được cấp phát. Tôi cố gắng duy trì đầu óc khôi hài. Đây là một việc rất khó khăn nhưng tối cần thiết. Tinh thần là yếu tố quan trọng nhất trong việc sống còn, và kể cả khi tình hình trở nên tuyệt vọng nhất, óc khôi hài sẽ giúp bạn giữ vững được tinh thần – từ đó nảy sinh hy vọng. Và trong việc này, Trung-úy Xanh cũng lại giúp đỡ tôi. Anh luôn luôn quan tâm tới tôi, và làm bất cứ những gì anh có thể làm để giúp tôi giữ được lạc quan, hy vọng. Vì thế, cho dù tình hình càng ngày tồi tệ, tôi chưa bao giờ mất hy vọng. Kể cả trong cái ngày mà đáng lẽ ra tôi đã chết, nếu như không có Xanh.

Mỗi ngày, tôi đã phải sử dụng toàn bộ ý chí để thức dậy, đứng lên và bước đi. Rồi tôi phải phấn đấu hết mình trong suốt ngày hôm đó để tiếp tục tiến bước trên con đường mòn dài vô tận. Tôi đã không còn đứng vững, nhưng bằng cách nào đó, tôi vẫn hoàn tất mục tiêu của mỗi ngày, để sáng hôm sau mở mắt chứng kiến thêm một bình minh nữa mà Thượng Đế đã ban cho.

Nhưng rồi tới một ngày tệ hại nhất trong đời. Tôi đã phấn đấu hết mình. Tôi lảo đảo muốn ngã xuống. Tôi cố gắng vận dụng hết sức lực. Tôi loạng quạng bước đi. Rồi tôi lại lảo đảo, tôi cố gắng phấn đấu, tôi vận dụng toàn bộ sinh lực còn sót lại, và tôi cầu nguyện xin có thêm sức mạnh. Rồi tôi ngã gục, tôi bò dậy tiếp tục đi, nhưng rồi lại ngã gục. Tôi lại tiếp tục phấn đấu, phấn đấu với tất cả những gì còn lại trong cơ thể, trong trái tim, trong linh hồn. Nhưng rồi tôi lại ngã gục, và lần này tôi không thể đứng dậy được nữa. Ý chí của tôi vẫn còn, nhưng cơ thể đã hoàn toàn kiệt lực. Cuộc đời của tôi đến đây là tận. Quân thù đến kia rồi; tên vệ binh nhìn xuống, ra lệnh cho tôi bò dậy, nhưng tôi không thể. Hắn quát tháo lớn hơn, tôi vẫn bất động. Coi như xong đời!

Nhưng Xanh đã tiến tới, vẻ mặt lo âu, cúi xuống nhìn tôi. Mặc cho tên vệ binh quát tháo, xua đuổi, Xanh vẫn không chùn bước. Khi hắn quát tháo dữ dội hơn, nét mặt Xanh bỗng trở nên đanh thép lạ thường, và bất chấp những lời đe dọa của tên vệ binh, Xanh cúi xuống vực tôi dậy, rồi kê cái lưng ốm yếu cho tôi gục lên, để hai cánh tay của tôi ôm vòng lấy cổ anh, hai cổ tay ghì chặt, và với tư thế ấy, anh đã kéo tôi lết theo cho tới cuối ngày. Đôi lúc, có một tù nhân khác tạm thay thế Xanh, nhưng phải nói gánh nặng trong ngày hôm ấy dồn hết lên vai anh Xanh là người đã bất chấp nguy hiểm tới tính mạng để lo lắng và chăm sóc tôi cho tới khi kết thúc cuộc hành trình ngày hôm đó.

Sáng hôm sau, tôi trải qua mọi đau đớn thường lệ trong việc thức dậy, đứng dậy và cố gắng lê lết cái chân bị thương trong những bước đầu tiên, để tạo quyết tâm cho một ngày sắp tới. Tôi cảm thấy đau đớn như chưa từng thấy nhưng vẫn cố gắng vận dụng ý chí để bước đi. Ngay phía bên ngoài cái trại vừa dừng chân là cây "cầu" bằng một thân cây lớn bắc ngang một dòng nước chảy xiết xen lẫn những tảng đá lớn. Tôi bắt đầu băng qua, cố gắng giữ thăng bằng nhưng không còn sức lực mà cũng chẳng còn một chút ý thức gì về thăng bằng nữa. Cái chân bị thương vô dụng kia đã hại tôi, kéo tôi nghiêng về một phía khiến tôi loạng quạng và cuối cùng rớt xuống sông. Xanh và Wayne đang đi phía trước, vội vàng quay trở lại phía bên này, lội xuống vào kéo tôi lên bờ. Họ năn nỉ đám cộng sản cho phép cả toán tù binh tạm dừng chân tại trại này cho tới khi nào tôi đủ sức tiếp tục cuộc hành trình, nhưng bị từ chối. Xanh và Wayne nhất định không chịu rời tôi. Cho tới khi đám vệ binh tiến tới, dí súng vào người và lôi cổ họ đi. Nhìn bóng hai người khuất dần cùng với toán tù binh, tôi biết mình sẽ không bao giờ gặp lại Xanh trên cõi đời này nữa!

Bởi vì, như các bạn tù đồng cảnh ngộ đều biết, trong trường hợp này, tôi bị bỏ lại trại để chết – như nhiều người khác đã chết. Thế nhưng không hiểu vì nguyên nhân hay lệnh lạc nào đó, đám cộng sản lại quyết định chích penecillin cho tôi trong mấy ngày liền. Tôi bắt đầu bình phục, và sau một khoảng thời gian ngắn, đã có thể đứng dậy. Và ngay sau khi tôi đủ sức bước đi, đám cộng sản đã ra lệnh cho tôi tiếp tục cuộc hành trình. Lần này, tôi đi chung với một đoàn bộ đội di chuyển về hướng Bắc, một tay vệ binh được chỉ định đi theo tôi làm công việc áp giải.

Cuộc hành trình cũng gian khổ như những đoạn đường đã qua, nhưng với tôi, những gì kinh hoàng nhất đã được bỏ lại sau lưng. Thậm chí tôi còn có cơ hội chạy trốn: một ngày nọ, khi đi tới một khúc quẹo và khuất tầm nhìn của tên vệ binh đi phía sau, tôi đã bỏ chạy vào rừng. Nhưng rồi hắn đã mau chóng lần ra dấu vết và đuổi kịp; mặc dù tỏ ra vô cùng giận dữ, hắn đã không bắn tôi chết, mà chỉ hung hăng chĩa súng ra lệnh cho tôi quay trở lại. Sau đó, khi bắt đầu tiến vào lãnh thổ Bắc Việt, tôi được cho nhập bọn với một đoàn tù binh VNCH, và cuối cùng, tới Hà Nội. Nơi đó, sau khi đã trải qua mọi thủ tục và nhiều nhà tù khác nhau, tôi được đưa tới "khách sạn Hilton - Hà Nội" lừng danh (tức nhà tù Hỏa Lò), và ở đó cho tới khi được trao trả vào giai đoạn cuối của cuộc chiến..

Ngay sau khi trở lại Hoa Kỳ, tôi đã đi tìm hỏi tin tức về Trung-úy Xanh nhưng không có kết quả. Tôi đã tìm gặp các quân nhân Việt Nam đang thụ huấn tại Mỹ, cũng không ai biết gì. Sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản năm 1975, tôi càng ra sức tìm kiếm, để rồi lại bị thất vọng.

Mấy năm sau, tôi được dịp tái ngộ với một quân nhân VNCH đi chung với tôi trong toán tù binh thứ nhất, cùng với một người khác trong toán thứ hai, tên là Phạm Văn Tăng và Nghiêm Kế. Tôi nhờ họ giúp đỡ trong việc tìm kiếm tin tức về Trung-úy Xanh. Lúc đầu, không có kết quả gì cả. Về sau thì có tin đồn nói rằng sau khi Sài Gòn thất thủ, Xanh đã bị cộng sản bắt lại và có lẽ đã chết sau nhiều năm gian khổ trong tù. Nhưng tôi vẫn nuôi hy vọng sẽ có ngày được biết đích xác những gì đã xảy ra cho Xanh, và có thể cả những tin tức liên quan tới gia đình anh.

Trong những năm gần đây, tôi ra sức tìm kiếm trên internet, nhưng luôn luôn thất bại. Thế rồi cách đây mấy tuần lễ, tôi tình cờ khám phá ra trang mạng của các hoa tiêu bay khu trục A-1 Skyraider của Không Quân VNCH, trong đó có một số người cùng phi đoàn với Xanh ngày trước. Tôi gửi cho "trang chủ" mấy lời nhắn tin, và chỉ vài ngày sau, tôi đã liên lạc được với Xanh bằng email, và sau đó qua điện thoại – lần đầu tiên sau 35 năm, chúng tôi mới được nói chuyện với nhau. Tôi sẽ gặp lại Xanh trong một ngày gần nhất, có thể là mùa thu này. Tôi sẽ được nhìn thấy anh lần đầu tiên kể từ cái ngày tôi nằm lại bên đường mòn Hồ Chí Minh, mắt nhìn theo con người đã cứu mạng mình – đang bị vệ binh dí súng cưỡng ép bước qua cây cầu, trong lòng đau đớn vì phải bỏ tôi ở lại để chờ chết.

Xanh đâu có ngờ chính những cố gắng giúp đỡ tận tình của anh trong những ngày đen tối nhất đời tôi, đã trở thành động lực để tôi phấn đấu cho sinh mạng của chính bản thân mình – tôi không thể để uổng phí công lao của Xanh. Tất cả những gì Xanh làm đã giúp tôi sống sót, và chính những hành động quên bản thân của anh đã giúp tôi có thêm nghị lực và quyết tâm để vượt qua bất cứ khó khăn, trở ngại nào trong thời gian chờ đợi ngày được trả tự do.

Xanh luôn luôn là một con người đáng ngưỡng phục. Và giờ đây anh còn là một công dân Mỹ đáng quý. Tôi cám ơn trời đã cho tôi gặp được một người bạn như Xanh - vào lúc mà tôi cần tới sự giúp đỡ của anh hơn lúc nào hết; và giờ đây, xin cám ơn trời một lần nữa, vì đã cho tôi tìm lại được người bạn quý mến ấy.

Đại Tá W.S. Reeder


“DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” VÀ “TỰ DIỄN BIẾN” - Lê Nguyên Hồng

    “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” VÀ “TỰ DIỄN BIẾN” – MỘT QUAN ĐIỂM CHÍNH TRỊ LẠC HẬU, PHẢN KHOA HỌC, ĐẨY LÙI SỰ PHÁT TRIỂN
Lê Nguyên Hồng

Có nhiều người cho rằng, thuật ngữ “diễn biến hòa bình” được sử dụng tại Trung Quốc và sau đó mới du nhập vào Việt Nam. Nhưng chắc chắn là nó chỉ được “phát minh” sau khi Liên Xô và hàng loạt các quốc gia XHCN ở Đông Âu thoát khỏi chế độ cầm quyền của chủ nghĩa CS.

Ở Việt Nam hiện nay, trong một số văn kiện của ĐCS và trên các loại hình thông tin của họ, hàng ngày người ta rất hay nói tới vấn đề “diễn biến hòa bình”. Các “nhà ĐCS” coi vấn đề nói trên là một nguy cơ sụp đổ của chế độ CS tại Việt Nam, mà mầm mống nuôi dưỡng làm cho nguy cơ này thành hiện thực đó là: Nhà nước pháp quyền biến tướng, tham nhũng lộng hành, nhân dân không còn lòng tin vào chế độ CS nữa.

Thông thường một thuật ngữ dùng để đặt tên hoặc áp dụng cho một vấn đề nào đó, người ta thường chọn những ngôn từ ngắn gọn, xúc tích, sao cho nó hàm chứa được bản chất vấn đề, nội dung, cũng như ý nghĩa của vấn đề ấy. Nhưng các cụm từ “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến” khi đọc lên người ta có cảm giác rất mơ hồ, khó hiểu! Vậy diễn biến hòa bình là gì, tại sao ĐCSVN lại sợ hãi và lo lắng về điều này một cách quá mức như vậy?

Trước hết chúng ta cùng tìm hiểu thế nào là “diễn biến”?

Diễn biến là quá trình thay đổi về bản chất hoặc hiện tượng, trong một hiện tượng hay một sự việc cụ thể nào đó. Trình tự của diễn biến đôi khi do người ta sắp đặt, lập trình trước, nhưng cũng có nhiều trường hợp mà người ta không thể xác định được sự tuần tự trong tiến trình của nó. Trong đời sống tự nhiên, đời sống xã hội, trong nghiên cứu khoa học, và đời sống văn hóa vv.., luôn có sự diễn biến theo một quy luật xác định hoặc bất xác định nào đó.

Trong xã hội, diễn biến là một sự “vận động sống” cho phát triển. Người ta thường tìm cách làm chủ những diễn biến, lái chúng theo hướng có ích, nhưng đôi khi chúng lại vượt quá khả năng kiểm soát của con người. Bởi trong diễn biến, vì sự tương tác lẫn nhau giữa các chủ thể, cho nên những tình huống mới, những sản phẩm (tinh thần, vật chất) trung gian mới, luôn xuất hiện. Chính điều này đã làm cho sự diễn biến thêm đa dạng, phong phú, hàm chứa nhiều sự bất ngờ thú vị…

Một vế thứ hai của cụm từ “diễn biến hòa bình”, đó là “hòa bình”

Thế nào là hòa bình? Câu này thật dễ, quá dễ! Nhiều người sẽ nói ngay lập tức như vậy. Nhưng thực ra hai từ “hòa bình” cũng chỉ mang tính chất tương đối. Người ta thường chỉ nghĩ rằng hòa bình là không có chiến tranh, không có cảnh đầu rơi máu chảy. Điều đó đúng nhưng chưa đủ! Trong một phạm vi nào đó thì sự hòa bình đồng nghĩa với sự bình yên, hòa thuận, đồng lòng trong đời sống cá nhân và xã hội. Nếu ai đã từng đọc tác phẩm văn học đồ sộ với khoảng trên 500 nhân vật, có tên gọi “Chiến Tranh Và Hòa Bình” của L. Tolstoy – Đại văn hào người Nga, thì sẽ nghiệm thấy điều này.

Hòa bình, dù ở bất kỳ góc độ nào đi chăng nữa, cũng là điều mà ai cũng muốn có, vùng trời nào cũng muốn có, quốc gia nào cũng muốn có. Vậy tại sao lại có những người sợ hòa bình? Cụ thể hơn là sợ những “diễn biến trong hòa bình”?

Chúng ta đã biết rằng, chủ nghĩa CS chủ trương dùng bạo lực giết chóc để làm động lực cho cách mạng vô sản trên toàn thế giới. Chuyện CNCS có những lúc đã áp đảo, khuynh loát nhiều nơi trên thế giới là chuyện bình thường trên con đường diễn tiến (và diễn biến), vận động của xã hội loài người. Và chuyện CNCS sụp đổ cũng là một quy luật đào thải bình thường, khi một cái gì đó không còn ý nghĩa thực tế và nó chẳng thể mang lại điều gì tốt đẹp thì người ta phải loại bỏ nó. Giống như trường hợp người ta mua chiếc xe đạp, sau một thời gian dùng nó người dùng thấy nó vừa cọc cạch, vừa chậm chạp, tốn sức, thì người ta phải vứt chiếc xe đạp đó ra thùng rác để mua một chiếc xe hơi (nếu có điều kiện và thời cơ), vừa sạch sẽ, chạy nhanh, lại an toàn văn minh lịch sự.

Chủ nghĩa CS dám cả gan nhuộm đỏ thế giới bằng máu và nước mắt, Miền Bắc Việt Nam (1954-1975) dám “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” (Hồ Chí Minh), dám “giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ…” (Tố Hữu), để chỉ với mục đích cuối cùng là thiết lập chế độ CS trên toàn cõi Việt Nam, dù hàng hơn 3 triệu con người đã phải bỏ mạng. Nhìn lại lịch sử, liệu chế độ CS có đủ đạo đức xứng đáng lãnh đạo đất nước khi họ đã giành lấy chính quyền từ tay đồng bào Miền Nam của mình bằng vũ lực?

Vậy nếu ngay bây giờ, những con người Việt Nam làm Cách Mạng Dân Chủ cũng cả gan như chủ nghĩa CS, nhưng lại giành lấy đất nước Việt Nam từ tay của chế độ CS bằng những diễn biến trong hòa bình không đổ máu, thì họ có đáng được hoan nghênh hay không? Liệu có phải chỉ người CS mới có quyền đấu tranh, có quyền làm cách mạng, còn những người có tư tưởng phi CS thì không có quyền ấy, mặc dù họ chỉ làm cách mạng trong hòa bình?

Nếu được phép coi nhân dân Việt Nam như là cô gái đẹp, một người này muốn giành lấy bằng cách khống chế, dùng bạo lực, một người khác thì chọn con đường thuyết phục, tặng quà, thể hiện và hứa hẹn cam kết những điều tốt đẹp. Vậy trong hai người nói trên, ai là người có chính nghĩa, ai là kẻ đáng bị lên án? Và nếu trong trường hợp cô gái nọ bị rơi vào tay kẻ xấu thì tình yêu của cô ta có thực sự dành cho kẻ đã chinh phục cô bằng bạo lực hay không?

Chế độ CS ở Việt Nam hiện nay có tâm lý giống như tâm lý của một tên kẻ cướp, sau khi cướp được món đồ quý, nay bị người ta phát hiện đòi lại, thì la toáng lên là “tôi bị oan”, “tôi sắp bị cướp” hòng đánh lạc hướng của người quan tâm. Nhưng thay vì dùng bạo lực để cướp lại món đồ, người ta đang cầu cứu mọi người ủng hộ và thuyết phục bản thân tên kẻ cướp hãy trả lại tài sản ăn cướp trước khi quá muộn. Và người ta đang dẫn chứng ra đầy đủ bằng chứng rằng tên kẻ cướp này đúng là kẻ cướp, nhưng hắn vẫn khăng khăng cố thủ, cho rằng mình đúng, mình không phải là quân cướp!!!

Không những ĐCSVN lo ngại về “diễn biến hòa bình”, họ còn tưởng tượng ra một bối cảnh “tự diễn biến” trong nội bộ của họ. Vậy thì “tự diễn biến” là cái gì? Giáo sư triết học Nguyễn Đức Bình, một trong những nhà lý luận chính trị nổi cộm của Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị khóa VII, VIII, nguyên Chủ tịch Hội đồng lý luận trung ương, nguyên Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh định nghĩa về “tự diễn biến” như sau:

“Tự diễn biến là nói nhận thức tư tưởng từ mặt đúng, mặt tốt, mặt vững vàng, trung kiên chuyển hóa thành mặt xấu; dù chưa phải nhưng nếu không phòng, có thể dần trở thành chống đối và bị kẻ thù lợi dụng”.

Đành rằng ông Nguyễn Đức Bình định nghĩa vấn đề tự diễn biến này là ám chỉ diễn biến trong phạm vi đảng của ông. Nhưng một người đã có nhiều năm “mài đũng quần” trên ghế nhà trường, và sau đó lại “mài” tiếp trên ghế quyền lực, chẳng lẽ ông vẫn không hiểu rằng diễn biến sẽ theo hai hướng, tốt và xấu. Ấy là chưa kể đến cách nhìn nhận của mỗi người mỗi khác về diễn biến của một sự việc, một vấn đề, đôi khi người này cho là tốt còn người khác lại cho là xấu. Quan điểm của ông Bình “tự diễn biến” nghĩa là “tự xấu”, vậy nếu nó “tự tốt” (điều này hoàn toàn có thể xảy ra) thì ông ta sẽ giải thích như thế nào?

“Vật chất không ngừng biến đổi từ dạng này sang dạng khác, từ hình thức này sang hình thức khác”, mà ý thức và sau đó là hành vi của con người hoàn toàn chịu sự chi phối mang tính quyết định của những vận động biến đổi vật chất. Vậy thì ông Nguyễn Đức Bình không bao giờ có thể giữ được sự bất biến của ý nghĩ, của nhận thức, vì vấn đề tự diễn biến thực ra là một quy luật muôn đời trong quá trình phát triển.

Không chỉ có ông Nguyễn Đức Bình, mà còn một vài những “cây” lý luận của chế độ CSVN như trung tướng - PGS.TS Lê Minh Vụ - Giám đốc Học viện Chính trị quân sự, thiếu tướng - TS Nguyễn Tiến Quốc, TS Nguyễn Văn Thế, và một vài vị phó giáo sư tiến sĩ khác như Nguyễn Vĩnh Thắng, Nguyễn Quang Phát, trong cuốn: “Phòng Chống Những Diễn Biến Hòa Bình Ở Việt Nam- Những Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn” (xuất bản tháng 08/2009), đã nêu ra “địa chỉ” mà chế độ CSVN cần chống “tự diễn biến” đó là 4 lĩnh vực chủ yếu: Chính trị- Xã hội, kinh tế - Đối ngoại, tư tưởng - Văn hóa, quốc phòng- An ninh.

Một người chỉ cần có trình độ nhận thức trung bình cũng có thể hiểu rằng: Muốn ổn định 4 lĩnh vực nêu trên thì chỉ cần trong sạch hóa, minh bạch hóa, dân chủ hóa, toàn dân hóa những lĩnh vực đó là xong.

Nhưng làm sao chế độ CS tại Việt Nam thực hiện được điều trên, khi về chính trị thì Đảng độc quyền, xã hội thì đạo đức xuống cấp do “thượng”- Là cán bộ ĐCS, bất chính? Về kinh tế thì manh mún lạc hậu, thiếu định hình chuẩn mực vĩ mô, nhà nước thả nổi cho hàng hóa độc hại rẻ tiền buôn lậu từ Trung Quốc tràn ngập thị trường. Mà những tay trùm buôn lậu chẳng phải ai xa lạ, hầu hết đều là vợ (hoặc chồng) con, hoặc tay chân thân cận của cán bộ các cấp thâu tóm!

Về đối ngoại thì chế độ CS của Việt Nam hạ mình quỳ gối trước ĐCS Trung Quốc, nhưng lại coi thường tiếng nói của nhiều nước dân chủ trên thế giới. Về tư tưởng, chế độ CS nhồi sọ cán bộ bằng mớ lý luận quanh co, sáo rỗng của chủ nghĩa CS biến tướng. Chắc hẳn những người như ông Nguyễn Đức Bình cố tình không hiểu rằng, những “triết lý” mà ông thường nói theo sách như một con Vẹt, đã không còn phù hợp với tình hình hiện nay nữa, nó đã trở thành “chết lý” từ lâu.

Về quốc phòng – An ninh, chế độ CSVN không tăng cường bảo vệ an ninh biên giới, bảo vệ chủ quyền của quốc gia, để mặc cho ngư dân Việt Nam hứng chịu sự cướp bóc, bắn giết của hải quân Trung Quốc. Thực tế hiển hiện rõ ràng là an ninh, quân đội chỉ chăm chú bảo vệ chế độ do ĐCS cầm quyền mà bỏ quên nhiệm vụ chính yếu là bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Vậy thì ĐCSVN lấy gì để chống “tự diễn biến”, và chống như thế nào?

Chủ Nghĩa Cộng Sản là “ánh sáng soi đường”, là “mặt trời chân lý” vv… Đó là định nghĩa về CNCS được một vài người CS hình tượng hóa theo cách phóng đại, ngoa dụ! Nhưng nếu quả thật là CNCS thực sự tốt đẹp, nhân văn, vì vậy nó có thừa sức mạnh của chính nghĩa, thì nó đâu có sợ gì ai bôi xấu? Không những thế, nó còn có đủ sức cảm hóa các tư tưởng đối lập khác, và có thừa cơ hội làm cuộc “diễn biến hòa bình” ngược, đối với “các thế lực thù địch” và làm cho các thế lực đó “tự diễn biến”, “tự rối loạn”, thậm chí “tự tan rã” là điều chắc chắn!

“Chính nghĩa tự có tính thuyết phục, nhân nghĩa tự có tính cảm hóa”, đó là chân lý! Tại sao ĐCSVN luôn tự cho rằng họ có chính nghĩa, có nhân nghĩa, mà lại nơm nớp lo sợ bị cái xấu (?) làm cuộc cách mạng “diễn biến”, “cải biến” gì gì đó, để rồi bản thân cái gọi là “ánh sáng soi đường” và “mặt trời chân lý” của CS nói trên, trở nên tự xấu, “tự diễn biến” thì thật không thể nào hiểu nổi!

Có thể kết luận khẳng định rằng, vấn đề “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến” là những quan niệm chính trị mơ hồ mà người ta cố tình nặn ra để coi đó là lý do phải cố bảo toàn cho được chế độ CS độc tài của họ. Trên thực tế, những diễn biến, nếu có, chỉ đơn thuần là những quy luật tất yếu. Mà xét cho cùng, có những thay đổi nào đó trong nhận thức của mỗi đảng viên ĐCSVN, thì tất cả chỉ là tự họ (chính xác hơn là tại họ, do họ). Đó đơn giản chỉ là câu chuyện hết “sinh khí” trong nội tình của ĐCSVN mà thôi.

Vấn đề hội nhập với quốc tế là một vấn đề mang tính sống còn cho sự phát triển mọi mặt của một đất nước, nhất là về kinh tế. Điều đó quan trọng đối với cả những nước giàu như Hoa Kỳ, Nhật, Italia, Anh, Pháp, chứ chưa nói gì đến những nước nghèo như Việt Nam, Lào, Campuchia. Người ta muốn gia nhập WTO để tìm kiếm lợi ích kinh tế thương mại, nhưng lại không chấp nhận hòa đồng về văn hóa, chính trị xã hội, về quan điểm quyền sống, quyền tự do của con người. Tại sao lại có chuyện phân biệt rằng: “Ở nước chúng tôi, nền văn hóa khác, mức sống chưa cao, cho nên vấn đề dân chủ cũng phải hiểu khác, thực hiện dân chủ phải có lộ trình”, những ai tuyên bố như vậy có thể công khai cái gọi là “lộ trình” ấy hay không? ĐCSVN đã dựa vào những lý lẽ rất vô lý ấy để “chống diễn biến”, “chống tự diễn biến”, thẳng tay đàn áp những tư tưởng cấp tiến trong nước lên tiếng đấu tranh giành dân chủ. Quan điểm phân biệt trên chẳng khác nào họ tự phân biệt chủng tộc của mình với các chủng tộc khác trên thế giới!

Một quốc gia chấp nhận hội nhập là một quốc gia phải biết tiếp thu những tinh hoa văn hóa, đường lối phát triển kinh tế, phát triển chính trị xã hội của những nước khác. Họ không thể chỉ hội nhập về phát triển kinh tế, tài chính, còn chính trị xã hội thì ngăn chặn sự ảnh hưởng tương tác, vì tất cả các mặt của cuộc sống là không thể tách rời trong quá trình phát triển. Và cũng bởi tất cả các vấn đề kinh tế, văn hóa, chính trị xã hội đều có những quan hệ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên nhau. Trong thời đại tiên tiến ngày nay, do trình độ dân trí ngày càng phát triển, sẽ không bao giờ có chuyện một tư tưởng chính trị nào đó có thể du nhập vào một nước theo cách “diễn biến hòa bình”, và nó chẳng thể làm cho ai đó “tự diễn biến” nếu nó không thực sự có sức mạnh thuyết phục!

Thử lấy một ví dụ: Một người kia đang ở trong ngôi nhà rách nát của mình, một người khác nói rằng, anh ta nên dỡ bỏ cái gọi là nhà ấy đi, nếu anh ta làm theo, thì có hai trường hợp xảy ra: Một là, anh ta là kẻ mất trí, nếu ngôi nhà của anh ta đang ở vừa tốt, vừa đẹp! Hai là, nhờ lời khuyến cáo, anh ta đã nhận ra nơi ở của mình thực ra nó không phải là một ngôi nhà, nó chỉ là một cái gì đó tựa như hang, ổ. Vậy nếu anh ta quyết định dỡ bỏ nó, dựng nên ngôi nhà mới, là quyền của anh ta, do anh ta. Tại sao lại đổ tội cho người đã “xúi” anh ta dỡ bỏ nhà cũ làm nhà mới. Anh chủ nhà ấy nếu không làm theo lời người khác thì có ai chém giết anh đâu, mọi việc đang diễn ra trong hòa bình cơ mà!

Như vậy chẳng có một thế lực nào đang đe dọa chế độ CSVN “bằng con đường hòa bình” như họ nói. Vấn đề là ở chỗ ĐCSVN đã tự xấu, đang tự xấu thêm và họ không bao giờ có thể tự tốt. Bản thân nhiều việc làm xấu của họ đang trực tiếp đe dọa vị thế của chính họ, đơn giản là như vậy!

Thật kỳ lạ thay, một chế độ chính trị tự thân lại không thể hiểu được mình, loay hoay trong mớ lý luận thiếu thực tế, phản khoa học, chẳng thuyết phục nổi một ai. Họ đành phải áp đặt tội lỗi cho cả sự hòa bình, coi hòa bình (và những gì diễn ra trong nó) là thù địch (!). Bản thân những người đang mang danh CS, khoác áo CS, không có năng lực để tự hiểu chính mình, vậy thì làm sao họ có khả năng để hiểu người khác! Làm sao họ có thể “tự tốt”. Càng không bao giờ họ có khả năng đưa đất nước mà họ đang tạm thời nắm quyền, đi đến bến bờ tự do, dân chủ.

Những cái gọi là quan niệm (hay quan điểm) về “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, là những sản phẩm trí tuệ không có thực tế, nó thể hiện sự mất phương hướng trong lý luận, cũng như trong tư duy chính trị. Những “sản phẩm” ấy, mang nặng tính ngụy biện, cố tình che giấu sự thối nát kém cỏi của người trong cuộc, và nó là hệ quả tất yếu của một tư tưởng thật ra là không tưởng, đó là tư tưởng Cộng Sản!!!

Lê Nguyên Hồng