Wednesday, December 16, 2009

Con Chó Của Bé Tú - Sebastian Lê văn Thành

Sebastian Lê văn Thành

LỜI NGƯỜI VIẾT: Trước tin Chủ Tịch Nhà Nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết viếng thăm Toà Thánh Vatican và Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đich-tô XVI ngày 11 tháng 12 vưà qua, một số thân hữu hỏi xem tôi có nghĩ rằng sau chuyến viếng thăm này cộng sản sẽ cho Công Giáo Việt Nam nhiều tự do hơn không? Tôi nghĩ rằng có. Tuy nhiên các tự do đó có đem lại lợi ích chính đáng, lâu dài nào cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, cho Đất Nước và Dân Tộc Việt Nam hay không thì lại là một vấn đề khác. Mời quý vị và các bạn xem lại truyện ngắn “Con chó cuả Bé Tú” tôi viết tháng 1 năm 2002 dưới bút hiệu Sebastian Lê văn Thành, trong đó tôi nói lên một vài suy nghĩ về những tự do cộng sản ban phát cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Cho đến nay, tôi vẫn giữ những suy nghĩ đó, không thay đổi gì cả.
Trân trọng,

Bác Sĩ Vũ Linh Huy
Carney Hospital
Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ

Ông Sửu là hàng xóm cuả tôi. Ông là cựu sĩ quan pháo binh trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, bị cộng sản bắt đi “cải tạo” gần sáu năm sau ngày mất nước. Ông tới Mỹ theo chương trình HO năm 1993. Tính ông ít nói nhưng hay mỉm cười thân thiện với mọi người. Ông ghét và thù cộng sản nhưng không tham gia một đoàn thể tranh đấu nào, dù vẫn thường có mặt trong các sinh hoạt cuả cộng đồng. Mỗi khi anh em chúng tôi tổ chức thành công một buổi sinh hoạt đấu tranh, ông thường nói:

- “Mấy ông siêng thật. Đi làm mệt thấy mồ tổ mà còn tham gia tranh đấu nữa!”

Thế thôi. Từ ngày có vụ cha Lý, ông quan tâm tới thời cuộc hơn nhưng vẫn ít khi công khai phát biểu điều gì, dù ông tỏ ra rất khâm phục cha Lý và thường nghiên cứu các lời kêu gọi của cha cũng như các tài liệu liên hệ. Ông cũng thỉnh thoảng gửi cho cha ít tiền để cha giúp học sinh nghèo. Ông buồn bực ra mặt khi đọc các lời phát biểu của các linh mục “quốc doanh” và của Đức cha Lâm. Ông lắc đầu chán nản khi đọc thư “Tìm Ánh Sáng Soi Đường” của Đức Cha Mẫn. Khi đọc ý kiến của một vài người nào đó khen Hội Đồng Giám Mục Việt Nam khéo xử sự nên tránh được việc cộng sản thành lập giáo hội công giáo tự trị, ông nói một câu cụt ngủn: “Nó đâu cần lập giáo hội tự trị làm chi!” Thế thôi.

Một ngày lễ nghỉ, ông ghé tôi chơi khá lâu nhưng không trò chuyện gì nhiều.

Ông say mê đọc các tài liệu trong computer cuả tôi cả giờ rồi bỗng nhiên quay qua bảo tôi, giọng rất nghiêm trọng, thành khẩn:

- “Mấy ông có tranh đấu gì thì tranh đấu cho nhanh lên, chứ cứ đà này thì chẳng bao lâu nữa tụi nó sẽ cho Công Giáo hoàn toàn tự do.”

Chắc lúc ấy mặt tôi tỏ ra ngu si đần độn lắm hay sao đó mà ông không nói tiếp nưã, sợ tôi không hiểu. Ông trầm ngâm một lát rồi nói:

- “Giải thích vụ đó dài dòng lắm, để tôi kể cho ông nghe truyện này, rồi ông khắc hiểu.”

Và ông kể truyện “Con Chó Cuả Bé Tú.”

Truyện này ông Sửu kể cho tôi nghe đã lâu. Mấy lần tôi đã toan viết lại để chia sẻ với độc giả nhưng Anh Hai tôi can ngăn, sợ người khác hiểu lầm rằng tôi khinh dể các đấng, các bậc, ví von xỏ xiên. Tôi không bao giờ dám có ý ấy. Tôi vẫn cầu nguyện cho các ngài hàng ngày. Tôi tin ông Sửu cũng không có ý ấy. Hôm qua nói chuyện với một linh mục quen, ngài khen câu truyện có ý nghiã và còn xác quyết rằng ai có chút suy tư cũng phải hiểu câu truyện “theo nghiã ngay lành”. Bởi vậy hôm nay tôi mới dám mạnh dạn viết lại để trình quý vi.

Nhà Tú ở Thủ Đức. Tú có một con chó rất khôn tên là con Vện do bà ngoại Tú mang từ quê lên cho khi Tú mới được năm tuổi. Lúc đó con Vện cũng mới vừa dứt sữa, tập ăn. Khi Tú lên mười thì nó và con Vện đã trở thành một đôi bạn thân thiết, bất khả phân ly. Anh chị Tuấn, cha mẹ của Tú, hiếm hoi chỉ có mình Tú nên cũng rất thương Vện. Vện thường theo Tú đi chơi và lúc nào cũng sẵn sàng bảo vệ Tú. Khi Tú đá banh, hễ đứa nào chèn banh với Tú thì Vện tới ngoạm chân đứa đó lôi ra. Khi chơi vật nhau, hễ Tú thắng, cỡi lên mình đứa khác thì Vện ngồi nhìn. Khi Tú thua, bị đứa kia cỡi thì Vện xông vào dùng đầu húc đứa đó xuống. Lũ trẻ thường chỉ la: “Ăn gian! ăn gian!” rồi cười ầm ĩ vì thấy chuyện ngộ nghĩnh chứ không giận hờn chi vì Vện chẳng bao giờ gây thương tích cho đứa nào, chỉ ngoạm hờ vậy thôi. Vện rất thông minh, hiểu ý người nên chơi với trẻ con trong xóm rất “hợp rơ”. Thí dụ khi chúng ném đồ chơi cho Vện đi lượm thì đồ chơi của đứa nào Vện tha về cho đứa đó, không sai bao giờ. Nếu có đứa nào giả bộ “nhận vơ” thì Vện phản đối ra mặt, sẵn sàng giằng co qua lại cho đến khi giao được món đồ cho chủ nhân đích thực của món đó nó mới bằng lòng. Vện còn biết giữ của nữa. Bất cứ ai vào nhà lấy món gì cũng bị Vện cắn áo lôi lại cho đến khi người đó chịu đi tay không nó mới buông tha. Tuy nhiên nếu anh chị Tuấn hoặc Bé Tú nói với Vện cho người đó mượn thì nó để yên cho họ đi.

Thế rồi biến cố 30 tháng 4 năm 75 xảy đến. Xóm Tú là xóm nghèo nên không có thay đổi gì rõ rệt lắm lúc ban đầu, ngoại trừ trường hợp của nhà bà Năm bán xôi. Bà có một người con gái lớn tên là Lựu đi theo cậu Sáu là em ruột cuả bà tập kết ra Bắc năm 54 khi cô ấy mới 13 tuổi. Chuyện này bà vẫn dấu, không bao giờ hé môi kể với ai từ lúc bà dọn về xóm này khoảng năm 1960, 61 gì đó. Nay cô ấy trở về vẻ vang, mang quân hàm trung uý công an. Chồng cô ấy là thiếu tá công an. Cả hai vợ chồng đều làm việc ở Saigon nhưng vẫn đi xe hơi về thăm bà Năm luôn. Họ có một đứa con trai tên là Thành, cùng tuổi với Tú. Thành làm quen với bọn trẻ trong xóm rất nhanh và được chúng cho tham gia các trò chơi. Thành mê thích con Vện vô cùng. Nó về xin bố mẹ mua cho một con chó rất đẹp tên là Mi-nô. Ít tháng sau, Thành dẫn Mi-nô về Thủ Đức khoe với lũ trẻ. Con Mi-nô đẹp hơn con Vện nhưng không thông minh. Nó cũng chẳng quấn quít gắn bó gì mấy với thằng Thành. Thằng này phải dùng dây xích để dẫn nó đi; hễ buông xích ra là nó chạy lung tung, chui vào bờ vào bụi … Một bữa kia thằng Thành cởi áo và quần dài, để cạnh một cái cột đèn, đặng chơi đá banh. Con Mi-nô chạy lăng quăng, ngửi chỗ này, rúc chỗ kia một hồi rồi chạy về ngửi ngửi cái cột đèn và đống quần áo cuả thằng Thành rồi co chân sau lên đái vào đó một bãi. Lũ trẻ được một trận cười bể bụng. Thằng Thành, vừa xấu hổ vừa giận, co chân đá con chó một cú như trời giáng khiến nó nằm vật xuống, trợn mắt lên, cả phút sau mới tỉnh lại, rên ư ử. Sau đó thằng Thành chẳng bao giờ dẫn Mi-nô về Thủ Đức nữa và tránh nói chuyện về con chó đã làm nó bị nhục nhã. Ai có biết đâu là trong thâm tâm nó đang bầy mưu tính kế để bắt trộm con Vện. Bố mẹ nó cũng chiều ý con. Bà Năm lúc đầu phản đối nhưng sau cũng xuôi theo ý con gái và cháu ngoại. Một bữa kia Tú đi học về không thấy con Vện đâu nữa, nó khóc lóc thảm thiết, tìm kiếm khắp nơi nhưng hoàn toàn vô vọng.

Thằng Thành đem con Vện về Saigon, dùng dây thừng cột nó lại. Con chó vùng vẫy dữ dội, cào đất đến tươm máu hai bàn chân. Nó chỉ chịu nằm yên khi đã mệt lả. Nhân lúc mọi người không để ý, nó cắn đứt dây thừng rồi chạy trốn, cứ nhắm hướng Thủ Đức mà cắm đầu chạy. Bố mẹ thằng Thành và nhóm công an thuộc hạ dùng xe gắn máy rượt theo đến mấy cây số mới bắt nó lại được khi dây thừng cuả nó bị vướng vào hàng rào. Sau đó họ thay dây thừng bằng dây xích sắt. Con Vện lại ra sức cắn dây xích đến gẫy răng, máu me đầm đià. Thằng Thành bèn cởi xích, nhốt nó vào một cái cũi gỗ. Con Vện cắn gặm liên tục các thanh gỗ để tìm cách chui ra. Tức mình viên thiếu tá bèn cho lính nhốt Vện vào conex nhốt tù, khoá chặt cưả lại, trong khi vẫn xiềng nó bằng xích sắt, cột vào mấy cái song sắt cuả một cái cưả sổ nhỏ trên thành conex. Conex là những thùng sắt rất to, thường là hình khối chữ nhật, ngày xưa các hãng thầu và quân đội Mỹ dùng để chưá hàng, sau này cộng sản dùng nhốt tù. Conex vốn không có cưả sổ nhưng thỉnh thoảng công an cũng kêu thợ hàn tới đục một cưả sổ nhỏ và hàn các song sắt để làm lỗ thông hơi, như vậy có thể nhốt được nhiều người hơn trong mỗi conex.

Con Vện bị giam trong một cái conex loại đó. Nó nằm bẹp một góc, không chịu ăn uống gì trong hai ngày đầu. Qua ngày thứ ba, chắc là khát quá chịu không nổi, nó bắt đầu uống nước nhưng vẫn không ăn. Nó cũng trở nên hung dữ, hễ ai tới gần là nó nhe răng gầm gừ, mắt long lên sòng sọc. Theo sự cố vấn cuả ba nó, thằng Thành ngưng đem đồ ăn cho con chó, chỉ cho nước uống thêm hai ngày nưã. Qua ngày thứ năm thì con Vện đói lả. Thằng Thành bèn tiến lại từ từ, tay cầm một điã cơm thịt thơm ngon, miệng dịu dàng âu yếm gọi “Vện, Vện.” Con Vện lúc đầu cũng gầm gừ nhưng sau thấy thằng Thành gọi tên nó dịu dàng lại có đồ ăn thơm ngon nên nó chịu nằm yên cho thằng bé đến gần, đặt điã cơm kề miệng nó. Con chó chỉ ngửi chứ không ăn. Thằng Thành dịu dàng thúc dục: “Ăn đi Vện! Ăn đi rồi tao đưa mày về với thằng Tú.” Con Vện dường như hiểu lời hưá hẹn cuả thằng bé, nó uể oải ăn cơm nhưng mắt vẫn vè vè nhìn thằng Thành. Hễ thằng bé đưa tay định vuốt ve nó là nó nhe răng đe doạ ngay. Thằng Thành vẫn kiên nhẫn đích thân đưa cơm cho con chó mỗi ngày. Qua ngày thứ mười thì con Vện để yên cho nó vuốt ve. Thằng Thành sung sướng không bút nào tả xiết. Mấy bưã sau nó đưa con Vện về nhà, đổi tên Vện thành Kiki và bắt đầu dắt con chó đi chơi. Luôn mấy ngày liền hễ ra khỏi nhà là con chó xăm xăm nhắm hướng Thủ Đức mà đi khiến thằng Thành phải ra sức ghì lại. Qua tuần lễ thứ ba thì con Vện vui vẻ thong dong đi với thằng bé khắp mọi nơi. Nó cũng chấp nhận tên Kiki và bắt đầu chơi các trò chơi với thằng Thành. Thằng bé tắm rưả cho con chó sạch sẽ và thường xuyên ôm chó hôn hít như nó vẫn thấy trong các phim ảnh ngoại quốc. Tuy nhiên, ban ngày khi thằng Thành phải đi học và ban đêm khi đi ngủ, nó vẫn cột con chó lại, sợ con Vện trốn về Thủ Đức. Con Vện bằng lòng để bị cột như vậy, không cắn gặm dây xích như trước nữa. Thậm chí về sau, thằng Thành chỉ cần gọi: “Kiki, xích!” là con chó lẳng lặng đi tới chỗ sợi dây xiềng, nằm im chờ đợi, khiến ai cũng phải bật cười. Thực ra những lúc ấy mặt con Vện chẳng mấy vui. Thằng Thành cũng biết vậy nên nó vưà tròng xích vào cổ con vật vưà vuốt ve, hôn hít, vỗ về. Qua tháng thứ ba thì thằng Thành cho con chó hoàn toàn tự do, không cần xiềng xích chi nưã.

Dầu vậy thỉnh thoảng cô Lựu, mẹ thằng Thành, cũng đeo vào cổ Vện một cái vòng da thật sang, nối với một sợi dây da đẹp, để cô diện đầm dắt nó đi đây đó. Trong số các cán bộ Việt cộng vào từ Miền Bắc, có lẽ cô Lựu là một trong những người lột xác nhanh nhất. Đang khi nhiều dân “ngụy” Miền Nam vẫn còn sợ sệt, cất dấu quần áo đẹp để “ăn mặc giản dị”, và đa số cán bộ vẫn còn ăn mặc rất quê muà, xấu xí, thì cô Lựu đã diện sơ mi cổ cao với quần tây ống loe hoặc diện đầm dắt chó đi chơi. Dĩ nhiên khi đi làm hoặc đi công tác thì cô vẫn mặc đồng phục màu vàng cuả công an, đôi khi cô còn cố ý mặc mấy bộ đã bạc màu hay hơi sờn rách … Sáu tháng sau thì con Vện, nay là Kiki, đã trở nên thân thiết với thằng Thành y như với thằng Tú thuở trước, cũng bênh vực thằng Thành khi nó đá banh hay chơi vật nhau với lũ trẻ trong xóm nó ở. Con chó cũng tích cực giữ của cho chủ mới. Thằng Thành bèn nảy ra ý định táo bạo: đưa con Kiki về Thủ Đức để thử lòng trung thành của con vật, đồng thời cũng để trả thù lũ trẻ ở đó đã cười nhạo nó khi nó bị con Mi-nô đái vào quần áo.

Một hôm khi bố mẹ nó cho về thăm bà ngoại, nó lén dấu con Kiki trong thùng xe, dặn dò con chó nằm im. Đến nơi, nhân lúc bố mẹ nó bận nói chuyện với bà ngoại, nó mở thùng xe, dẫn con Kiki vào trong xóm. Thằng Tú nhận ngay ra con Vện, gọi “Vện, Vện” ầm lên. Con Vện cũng nhận ra người bạn thân thiết cũ, nó mừng cuống quít, nhảy chồm lên người thằng Tú rồi lại nằm lăn xuống đất, chổng bốn vó lên trời, miệng suả ăng ẳng hoặc nằm sấp, chân cào đất, miệng rên rỉ hoặc kêu rít lên như điên dại, rồi lại chồm lên ôm thằng Tú, đuôi vẫy, miệng suả, vui vẻ vô cùng. Thằng Tú nói:

- “Đây là con Vện của tao.” Lũ bạn nó cũng đồng thanh phụ hoạ. Tuy nhiên thằng Thành vẫn tỉnh bơ quả quyết:

- “Nghèo mà ham, đây là con Kiki cuả tao, đừng nhận vơ!” Rồi nó còn dài giọng đọc hai câu ca dao quen thuộc cuả trẻ con Miền Bắc:

“Nhận vơ lấy vợ thằng Nhân;
Nó cho ăn bún, nó vần cả đêm!”

Nói xong nó bỏ đi, miệng gọi “Kiki, Kiki.” Con chó buông thằng Tú ra, chạy theo thằng Thành, dầu mắt vẫn quyến luyến quay lại nhìn thằng Tú. Tú gọi với theo: “Vện! Vện!” Con Vện toan quay lại với Tú nhưng thằng Thành quát bảo nó: “Kiki, về thôi!” nó bèn lẳng lặng đi theo thằng Thành. Thành ngồi xuống ôm con chó hôn hít. Con Vện cũng âu yếm thè lưỡi liếm mặt nó. Rồi cả hai bỏ đi thẳng. Tú nhìn theo con vật, nước mắt đầm đi.

Câu truyện ông Sửu kể chấm dứt tại đó. Tôi nóng lòng muốn biết điều gì sẽ xảy ra cho thằng Tú và con Vện sau cuộc gặp gỡ bất ngờ ấy, nhưng ông Sửu không chịu kể thêm. Ông còn tỏ ra thất vọng vì tưởng tôi không hiểu ý nghĩa của câu truyện. Thực ra, tôi hiểu rất rõ điều ngụ ý của ông, hiểu mà lòng ray rứt khôn nguôi. Bên tai tôi vẫn còn văng vẳng câu thúc dục cuả ông Sửu:

- “Mấy ông có tranh đấu gì thì tranh đấu nhanh nhanh lên, chứ cứ đà này thì chẳng bao lâu nưã cộng sản sẽ cho Công Giáo hoàn toàn tự do.”

Tôi thấy lời tiên đoán của ông Sửu không phải là vô căn cứ. Thế nhưng tranh đấu sao cho nhanh lên để ngăn ngưà cái ngày đen tối ấy thì tôi chưa tìm được câu trả lời. Tôi chỉ biết làm hết sức mình những gì mình có thể làm, kêu gọi mọi người cùng làm và nhất là cầu xin Chuá thương Giáo Hội Việt Nam, đừng để kẻ thù thi hành các chương trình tiêu diệt tôn giáo tinh vi quỷ quyệt cuả họ. Vì với chính sách can thiệp thô bạo và kiên trì vào việc tuyển sinh cho các chủng viện và nhồi nhét lý thuyết Marx-Lenin cho các chủng sinh (được gọi nôm na nhưng tượng hình là chính sách “Uốn cây uốn tự còn non”) và vào việc tuyển lưạ ứng viên linh mục và giám mục, cộng sản hẳn phải tin có ngày họ sẽ có thể xếp đặt người cuả họ hoặc người đã tuyên hưá vâng phục họ vào các chức vụ chủ chốt trong Giáo Hội. Lúc ấy, Giáo Hội có khác gì Hội Phụ Nữ, Nông Hội, Hội Trí Thức Yêu Nước, Hội Tiểu Thương và đủ loại hội bù nhìn khác trong Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam? Và cộng sản sẽ có đủ tự tin để cho Công Giáo hoàn toàn tự do.

Hải ngoại, ngày 13 tháng 1 năm 2002
Sebastian Lê văn Thành

Chọn Ngày 19/01 Mỗi Năm Là Ngày Hoàng Sa


Uỷ Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ
905 Stambaugh St, Redwood City CA 94061
e-mail : canhnguyen1@yahoo.com
*********

Tuyên Cáo
Về Việc Chọn Ngày 19/01 Mỗi Năm
Là Ngày Hoàng Sa

Xét rằng Ngày 19/01/1974 đã diễn ra một biến cố lịch sử là việc các Lực Lượng Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà đã chiến đấu hào hùng chống lại quân Trung Cộng xâm lăng vùng đảo Hoàng Sa thân yêu của người dân Việt,

Xét rằng Ngày 19/01/1974, Năm Mươi Ba (53) Chiến Sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà đã anh dũng hy sinh, bỏ mình vì đất nước, xứng đáng để được suy tôn như các Anh Hùng Dân Tộc,

Xét rằng các quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa là một phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam và nghĩa vụ của mọi con dân Việt Nam là phải tiếp tục đấu tranh để khôi phục các đảo còn bị tạm chiếm bởi quân xâm lược Trung Cộng,


Xét rằng trong khi Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà anh dũng chiến đấu để bảo vệ lãnh hải của ông Cha ta đã để lại cho đến nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam giữ một thái độ hoàn toàn im lặng trước sự xâm lăng này của Trung Cộng. Thái độ này là một bằng chứng cho thấy có một sự đồng loã đối với sự xâm lăng ấy.

Long Trọng Tuyên Cáo:
    1. Nay kêu gọi chọn ngày 19/01 hàng năm là Ngày Hoàng Sa. Ngày Hoàng Sa này sẽ được tổ chức hàng năm vào thời điểm thuận tiện gần nhất với ngày 19/01 tại khắp mọi nơi trên thế giới, ở những nơi có con dân Việt cư trú và được tiếp tục cho đến khi khôi phục được lãnh hải tạm thời còn do ngoại bang chiếm đóng một cách trái phép.

    2. Uỷ Ban kêu gọi cộng đồng người Việt Nam khắp nơi trên thế giới thành lập Uỷ Ban Đặc Nhiệm “Ngày Hoàng Sa”, nòng cốt là các cựu chiến sĩ Hải Quân với sự hỗ trợ của các quân binh chủng khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, các lực lượng chính trị dân sự và đồng bào yêu nước, để lo việc tổ chức buổi lễ “Ngày Hoàng Sa” hàng năm tại địa phương, nhằm biến buổi lễ thành một ngày truyền thống trong lịch sử Việt Nam.


    3. Ngày Hoàng Sa hàng năm là Ngày Giỗ & Truy Điệu 53 chiến sĩ Hải Quân vị quốc vong thân như các Anh Hùng Dân Tộc, làm gương sáng khêu gợi lòng ái quốc cho các thế hệ con dân nước Việt muôn đời.
Uỷ Ban sẽ phổ biến các hoạt động cụ thể dự trù cho Ngày Hoàng Sa và xin kinh chào Với Quyết Tâm Khôi Phục Hoàng Sa & Trường Sa.

Làm tại San Jose, ngày 07/11/2009,

Đại Diện: GS Nguyễn Văn Canh

Tuesday, December 15, 2009

Tiếng gáy con chim mồi tội nghiệp! - Nguyễn Thanh Ty

Nguyễn Thanh Ty

Sau 3 ngày cái gọi là “Đại hội Dziệt kiều iêu nước” quần tam, tụ ngũ ở Hà Nội, các “Đại biểu” (không do ai biểu sất) của 101 nước trên thế giới, cả đực lẫn cái vui mừng ôm chầm lấy nhau, “thung thướng” hát vang “Mặt đất bao la, anh em ta về, gặp nhau, mừng như bão táp!” (mừng hay khóc thét lên như dân miền Trung bị bão lụt hiện nay? rõ là chữ với nghĩa của hắc phù thủy) do Bắc Bộ phủ dàn dựng và chỉ đạo trong “Tam thập lục kế” tức Nghị quyết Sữa ong Chúa số 36 của đảng ta, đám “Đại biểu iêu nước” âm thầm, lặng lẽ, hân hoan ngậm cái củ sướng của Bác Hồ trong miệng, về lại nơi đã “ngu ngốc” mở rộng lòng nhân đạo cứu vớt, chứa chấp và nuôi dưỡng mình, (những bứu độc ung thư tai họa của xã hội = ăn cơm nhà thờ ma giặc cướp) tiếp tục làm kiếp tầm gởi, ăn nhờ ở đậu để kiếm chút “bơ thừa sữa cặn”… cho đến cuối đời.

Trong số 900 “khúc ruột ngàn dặm” làm Dziệt kiều “đi” Việt Nam, chịu khó ngồi đồng suốt ba ngày, kiên nhẫn vễnh tai nghe các “lãnh đạo anh minh đảng ta” nói ngọng những điều rất ba xàm, tiếu lâm là cốt chỉ để được đãi đằng ăn uống, đi tham quan, ngắm xác khô Bác … tất cả đều “free”. Nhất là được “đặc ân” ban phát của những tên công an, những con mụ tiếp viên hàng không, vén môi cười với mình (rất giả tạo và đầy kịch tính) cũng đủ thoả mãn tự ái của những con đượi, thằng người có đuôi, tự cho mình là “trí thức” có tâm địa phản phúc, luôn mang mặc cảm tội lỗi trốn chạy ra hải ngoại, được vuốt ve. Rồi ai nấy đều nín khe, câm như hến trong sự sướng khoái, người ngậm hột thị, kẻ ngậm tăm, “về” lại quê người bên kia nửa trái đất, chỉ trừ hai con dã nhân. Hai con dã nhân mới chuyển hóa thành người này đã không kềm chế được nỗi sướng khoái “từ đáy lưng chạy theo xương sống lên cổ” cứ rần rật, nhảy chồm chồm trong bụng, nên phải gáy lên cúc cù cu từng hồi như con chim mồi trong cái bẫy sập treo trong bụi rậm để tự sướng.

Đó là 2 con cu Nguyễn Hữu Liêm, Dziệt kiều Mỹ và Trần Thanh Vân, Dziệt kiều Pháp.

Con cu mồi GSTS Trần Thanh Vân đang nhắm tịt hai mắt lại và nghễnh cổ thật cao giống hệt con gà trống trong truyện ngụ ngôn “Con gà trống và con cáo” để gáy. Tiếng gáy được chuyển âm thành tiếng người như sau:

“Tôi khẳng định rằng, người Việt Nam ở nước ngoài rất muốn trở về Việt Nam để làm việc. Tôi nói thật, người Việt mình ở nước ngoài như Mỹ, Pháp cũng khổ lắm, đi làm việc cả ngày khi về phải nấu ăn, rửa chén bát, làm hết mọi việc trong nhà. Tôi thấy sống ở Việt Nam rất hấp dẫn và sung sướng hơn nhiều ở nước ngoài. Các GS được xã hội rất tôn trọng, sinh viên kính phục, ở nước ngoài không được như thế”

Tiếng gáy của GSTS Vân vừa cất lên đã làm cho người Việt hải ngoại ôm bụng cười ngất. Họ cười rằng ông này học nhiều quá hóa khùng, ăn nói ngô nghê như đứa mát giây, không trúng trật vào đâu cả. Mặc dầu tuổi tác của ông cũng đã lên hàng cụ mà nói năng y như thằng cu. Họ không cho rằng ông ngu dại, trái lại ông khôn bỏ mẹ, theo cách ông nghĩ. Ông chỉ uốn ba tất lưỡi đi một đường lòn nâng bi, để trả ơn tụi Việt cộng đã chiêu đãi vợ chồng ông ăn uống, chơi bời ba ngày đêm phè phỡn, được hoàn toàn miễn phí mà ở Pháp mấy chục năm nay chẳng có con chó, thằng chó nào đãi ông được một bữa dù là bữa cơm xoàng. Thế là huề, khỏi có nhục. Miếng thịt là miếng nhục. Chắc lúc đang nhai thịt (chó) ở nhà hàng Mỹ Đình ông cũng đã nghĩ như thế.

Ông bảo với tụi Việt cộng khi phỏng vấn ông rằng người Việt Nam ở nước ngoài rất muốn về Việt Nam để “sướng”, nhưng riêng cá nhân ông và gia đình ông thì cứ đưa bản mặt lì ra bám trụ ở cái nước thực dân dài dài để tiếp tục sống cực khổ, để tiếp tục rửa chén bát, để tiếp tục làm việc nhà. Vì ông có quá nhiều trải nghiệm để hiểu thủng ra rằng “Thà ngửi rắm thằng Tây vẫn còn hơn ăn cứt thằng Việt cộng”.

Và đám sinh viên tiếp tục không kính phục cái chức GS của ông.

Cách gáy để “bợ đít” Việt cộng của GS Vân như thế người trong nước gọi là “Nói như bố chó xồm”. Còn ở Pháp, đám sinh viên, học trò của ông, chúng khinh ông là phải, đâu có gì sai trật để ông phàn nàn, ca cẩm?

Học trò mình đã có thái độ không đẹp như vậy thì làm sao đòi xã hội coi trọng cho được?

Mong ông cứ hàng năm, đôi ba lần càng tốt, mang cái mác GS về Việt Nam để nhờ Việt cộng nó đánh bóng, sơn màu dùm cho, như chúng đã đối xử với mấy GSTS trong cái Viện IDS vừa bị bức tử ấy. Lúc đó cứ tha hồ mà sướng!

Tiếng gáy của con cu mồi GS Thần Thanh Vân bên Pháp quá ẹ như thế còn tiếng gáy của nhà trí thức LSTS Nguyễn Hữu Liêm bên Mỹ chuyên xực “hotdog” thì sao?

Đọc được trên diễn đàn điện tử Talawas, lúc 6.02 phút chiều ngày 27/11/09, tức 3 ngày sau bài tự bạch được đăng, đã có đến 60 phản hồi. Trong đó có hơn 58 rưỡi ý kiến xát muối ớt và chừng “1 ý kiến rưỡi” xoa đường lên con cu mồi tên Hữu Liêm mà lại rất vô liêm sĩ.

Sở dĩ nói “1 ý kiến rưỡi” là vì có một ý đột xuất bênh vực tiếng gáy của con cu mồi Liêm cho rằng cái sự gáy ấy là “hy sinh mình để tìm tri kỷ” giữa chốn Ba Đình, giống như gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân vậy. Và tiếp đó, 1 ký kiến rất ầu ơ ví dầu, ba phải rằng “tui” cũng giơ cùi chỏ ủng hộ ý trên “coi cái sự hy sinh mình bị chửi bới” cũng có phần hữu lý”.

Số phản hồi còn lại, đa phần rất “nóng”, xát muối rất mặn, rất gay gắt. Một số thì cười cợt sự “nâng bi Bác, Đảng” quá lộ liễu, ấu trĩ của vị luật sư ế khách mà hám danh này.

Có người cho rằng anh ta bị chứng Sadistic Psychopath (Bạo dâm tâm lý). Người bị chứng này phải làm sao để người khác dày vò thân thể đau đớn hay để người khác nhục mạ, mắng nhiếc thì mới khoái, mới đã. Ý kiến này kết luận: Bà con đã xúm nhau làm cho NHL “bị sướng” free. Đó là điều không công bằng.

Có ý kiến khác cho rằng NHL đã xạo với Việt cộng, xạo ngay với bản thân mình, gia đình mình và xạo với nước Mỹ. Bởi nếu ông nói thật thì ông ta đã đổi lại quốc tịch Việt Nam và dẫn vợ con về Quảng Trị, quê hương chùm khế ngọt của ông, để “lao động vinh quang” bảo vệ chế độ rồi. Và ngày ngày tha hồ mà ca cải lương hồ quảng câu “Việt Nam Hồ Chí Minh” cho cái sự sướng khoái chạy thoải mái từ dưới đốt xương cụt cuối cùng lên tận cái đầu bã đậu.

Có người lại lạc quan hy vọng sau cái Đại hội này ông Liêm sẽ ẵm được cái chức Uỷ viên Trung ương Ban Vận động đón tiếp Vịt Cừu “Hồi chánh” về với cộng sản “Hà Lội”. Và cũng đã sẵn sàng “Lá chuối với bao muối” để đưa tiễn ông về với vẹm khi ông thông báo cho biết ngày vinh quang ấy.

Có người cùng xứ Quảng Trị với ông phải xấu hổ, mắc cỡ kêu lên rằng: … “nhắc tới Triệu Phong khi viết về tiến sĩ/luật sư/triết gia/doanh nhân/ Việt kiều họ Nguyễn mần tui thấy ôốc dôộc quá ôông/mụ ơi! Tui cũng là dân Triệu Phong đây!”

Lại một lời “khen” khác dành cho ông Hữu Liêm: “Dẫu sao, ông cũng đáng được ngợi khen là đã và đang làm những việc mà người khác không dám mó tay vào vì sợ “hủi”.

Còn nhiều sĩ vả khác nữa, nhưng nói chung người Việt hải ngoại bản chất vốn hiền lành, vẫn còn cái lòng nhân đàn bà, đánh chó không nỡ thẳng hết tay. Nhưng người trong nước, sống trực tiếp, chịu đựng sự dối trá, bịp lừa, gianh manh của vẹm suốt hơn nửa thế kỷ thì sự phẩn uất, căm hờn chế độ đã dồn nén đến tận cùng, biến thành một quả bom chực bùng nổ bất cứ lúc nào khi có lửa bén vào. Bài viết “Một nỗi bình an”, tiếng gáy của con cu mồi Nguyễn Hữu Liêm, đã đúng lúc như một tia lửa điện, trong một tích tắc đã đốt nhanh khối thuốc nổ của quả bom để gây thành tiếng nổ lớn: “Nguyễn hữu Liêm: Một con chó liếm máu đồng loại không đắng miệng”. Một độc giả trong nước đã trút sự uất hận của mình trong bài viết dài để phỉ nhổ tệ mạt nhà trí thức Nguyễn Hữu Liêm với cái tít đầy sự căm ghét và ghê tởm như vậy.

Thật ra, tất cả mọi người, trong và ngoài nước đều bị rơi vào cái bẫy của Cộng sản bày ra, đã vô tình tích cực góp sức không công cho Bắc Bộ phủ trong việc thăm dò phản ứng của dư luận “nóng” hay “nguội” đến mức độ nào, tỏ thái độ với “Vịt cừu yêu nước” ra sao sau cái kế ly gián vừa thi hành xong, để có hướng rõ rệt hoạch định những bước kế tiếp của Nghị quyết Sữa ong Chúa số 36 cho phù hợp và kết quả chắc chắn hơn trong tương lai.

Vậy Luật sư Nguyễn Hữu Liêm là “quái nhân” nào mà lại được thiên hạ, cả trong lẫn ngoài nước chiếu cố “thăm hỏi” tận tình vậy?

Có lẽ chỉ một vài người ở xa hoặc ít quan tâm đến chuyện cộng đồng nên không biết “dương vật” này là ai, chứ bất cứ ai ở Mỹ, nhất là Nam và Bắc Cali đều rành sáu câu về y ta. Rành, không phải y ta là luật sư nổi tiếng với những vụ án lớn chốn pháp đình, hay giúp ích cho đồng hương nghèo trong việc liên quan đến tòa án hoặc có tâm huyết trong công cuộc tranh đấu tự do, nhân quyền cho đồng bào ở quê nhà, mà vì y ta quá bất tài lại hám danh, thích chơi nổi, nói bậy, viết bạ bị thiên hạ chửi bới, sĩ mạ. Giống mấy thằng, mấy con họa sĩ trẻ ranh hỷ mũi chưa sạch, cũng muốn nổi danh tắt nên chơi ngông bằng cách vẻ tranh mang ý nghĩa phản bội lý tưởng tự do, xúc phạm lá cờ vàng thiêng liêng để khiêu khích cộng đồng người Việt tị nạn, để bị chống đối rầm rộ, mục đích chỉ để tên và mặt (mẹt) mình được đưa lên báo. Mặc kệ cho cha mẹ, ông bà những kẻ đã trốn chạy cộng sản và cưu mang mình sang bến bờ tự do, bị sĩ nhục lây. Miễn sao được lên mặt báo, lên Tivi, được thiên hạ biết đến là sướng rồi, là đạt được sự mong muốn trong đời rồi. Vinh hay nhục: “hu ke”.

Luật sư Hữu Liêm hành nghề thầy cãi, treo bảng hiệu mấy năm mà việc làm ăn quá ế độ, chẳng có ma nào thuê mướn y ta giúp việc, văn phòng luật sư vắng thân chủ như nhà thổ vắng khách làng chơi lúc có chiến dịch bài trừ mãi dâm bố ráp. Y ta bèn xoay qua tập tành viết lách để đăng báo, hy vọng thiên hạ sẽ chú ý đến mình.

Nhưng với cái tật hám danh, thích chơi nổi, lại cố làm dáng trí thức, bài viết nào cũng y như rằng, phải cố gài vô cho được vài câu của ông Tây này nói rằng thế này, bà Đầm kia đã phán thế nọ, để chứng tỏ ta đây học cao hiểu rộng, triết lý đầy mình. Mặc dù nhiều lúc sự o ép nhồi nhét ấy vô bổ. Chỉ là sự phô trương kiến thức cóp nhặt để loè những kẻ “ni a, ni b” cho vui.

Từ bài viết lần đầu “Cái âm điệu tủi thân bi đát” nhục mạ người Việt tị nạn cho đến bài “Một nỗi bình an” mới đây, ca ngợi bọn cộng phỉ Ba Đình, đều bị thiên hạ lôi lên “cẩu đầu trảm” sĩ vả thậm tệ.

Từ lúc bỏ nghề thầy cãi, xoay qua viết văn, qua nhiều bài viết phổ biến trên báo giấy, báo điện tử, người đọc nhận ra ngay chủ đích và tham vọng của y ta rất rõ. Y, một mặt tung hê Việt cộng, một mặt chê bai, dè biểu, đánh phá cộng đồng người Việt hải ngoại với hy vọng Việt cộng biết đến công lao khuyển mã của mình đã cúc cung bợ đít, bưng bô mà bố thí cho một chức nhỏ nào đó trong các tòa Đại sứ hay Lãnh sự quán của chúng ở Mỹ.

Đấy, người Việt tị nạn đã rành sáu câu về hắn như thế và thừa biết hắn là loại người nào rồi. Nhất là cư dân ở San Jose thì đã quá nhẵn mặt.

Nhưng thật tội nghiệp cho hắn. Cái ngữ như hắn, cái thứ phản Trụ đầu Châu, sớm đánh tối đầu, thì bọn Thào Tháo Việt cộng là chúa đa nghi đời nào tin tưởng, chỉ lợi dung hắn vào những việc vặt khi cần đến, chứ hắn làm gì đủ tư cách và “chất lượng” bọn vẹm kết nạp vào đảng để trọng dụng.

Hắn cố khoèo bằng được triết gia Trần Đức Thảo ra trong bài viết, cũng chỉ cốt để làm dáng ta đây cũng “triết ra” như ai, chứ so với Trần Đức Thảo, giống như cây cổ thụ với loài cỏ cú. Nhưng hắn vẫn không mở to được con mắt để học bài học phủ phàng, đắng cay của triết gia này bị Hồ Chí Minh ganh ghét tài năng mà đọa đày hết một đời người trong khốn khổ,đói nghèo.

Vì chưa có ngày nào sống chung nếm mùi cộng sản, lại thêm bản chất hám danh, hám lợi, hắn nào có biết được điều đó. Thương thay!

Vì vậy, sau cái “Đại hội Dziệt kiều”, hắn được chỉ thị của đảng ta là về Mỹ phải diễn ngay kịch bản con cu mồi, một con cu mồi khờ khạo, ngờ nghệch, ấm ớ hội tề, ngữa cổ gáy to lên, càng to càng tốt, để cho thiên hạ điếc tai, ngứa mắt, nổi giận chửi toáng lên, Bộ Chính trị ở Hà Nội sẽ theo dõi căn cứ vào phản ứng của người Việt hải ngoại mà “viết toa, bốc thuốc” cho đúng thuốc, đúng liều lượng để trị cái bệnh no hơi, chướng bụng của cái Nghị quyết 36 đẻ ra hơn 5 năm nay mà cứ đau ốm khẳng kheo, quẹo quặt, không nên cơm cháo gì.

Cho nên, làm con cu mồi gáy ngốc nghếch lần này, Nguyễn Hữu Liêm đã diễn xuất đúng nghề của chàng và cũng đúng mưu sâu của đảng. Đảng đã đặt cái nhiệt kế Hữu Liêm giữa cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản rất đúng chỗ để đo lường chính xác nhiệt độ lên xuống của sự phẩn nộ phản kích.

Ta hãy xem diễn viên, nhà trí thức/ luật sư/ tiến sĩ Nguyễn Hữu Liêm, đóng vai trò ngớ ngẫn, vừa diễu hài vừa chọc giận thiên hạ trên sân khấu Huê Kỳ dưới sự chỉ đạo của Bắc Bộ phủ, đang múa may trên sân khấu.

Bài viết dài năm trang giấy, bỏ đi bốn trang đầy những đoạn lòng thòng, nhăng cuội, tầm xàm của ông Tây, bà Đầm mà tiến sĩ Hữu Liêm cố làm dáng trí thức, mang vô để triết lý ba xu theo thói quen, che đậy cho sự trở cờ trơ trẽn của mình, người đọc thấy thật rối rắm, chẳng hiểu y ta muốn nói cái gì. Những dòng còn lại gom thành một trang, mới thực sự phơi bày ra cái hậu ý nâng bi Việt cộng của ông trí thức Hữu Liêm, y đã hạ mình ca ngợi chế độ phi nhân một cách rất ngô nghê và rất vô liêm sỉ.

Ngay cái nhan đề bưng bô Ba Đình, anh hề này cũng đã thọt cù lét thiên hạ lỡ nách rồi: “Nơi giữa Đại hội Việt Kiều: Một nỗi bình an”.

Tiếng Việt không ai nói “nỗi bình an” cả. Người ta nói “Nỗi lo sợ và sự bình an”. Chỉ có ông tiến sĩ học cao, triết rộng mới nói như thế để vờ làm con cu mồi ngớ ngẫn, ngu ngốc mà thôi. Tiếp theo, văn hay chẳng lo đọc dài, vừa mở đầu bài đã biết văn hay, câu trên ông “bá ngọ” câu dưới ngay: “Trưa ngày 30 tháng 4, 1975, đeo đu đưa trên chân đáp của chiếc trực thăng cuối cùng rời phi trường Cần Thơ, trên vai vẫn đeo súng (?) và vai kia mang túi xách, tôi đã thoát đi trong tiếng la hét hoảng sợ và cuồng nộ, bắn giết của đoàn quân đang tan vỡ … Những ngày còn ở trong nước thì vẫn nghĩ đến chuyện công an “mời lên làm việc”. Tôi đã như là một đứa con ghẻ trên chính quê hương mình”.

Một Hữu Liêm đã thoát đi rồi thì Hữu Liêm nào còn ở trong nước?

Bằng giọng điệu nâng bi rất ngây ngô để diễn tả sự sung sướng của mình khi được đảng xoa đầu, vuốt tóc, một “Dziệt kiều yêu nước, yêu đảng hết lòng”, Liêm khoe:

“Trong hai mươi năm qua, tôi đã bao nhiêu lần về lại Việt Nam. Lần nào bước vào phi trường Tân Sơn Nhất, tôi cũng vẫn luôn mang một nỗi sợ thầm kín. Không biết lần này mình có bị trục xuất hay không? Nhưng lần này, tôi về lại quê nhà với một tâm trạng khác. Tôi được chính thức mời trở lại Việt Nam”.

Té ra ra thế! Lần này Hữu Liêm được đảng đặt biệt ưu ái ban thí cho một “miễn tử kim bài” nên tâm trạng y ta rất “hồ hởi phấn khởi”, nhìn đâu cũng thấy một màu đỏ. Nhìn mấy tên công an mặt luôn lạnh như tiền, khi trước đã sợ thót dế lên cổ rồi, bây giờ nó lại “thân mật, vui vẻ, chào tôi nghiêm chỉnh với nụ cười (lạ và hiếm có). Nhìn mấy con tiếp viên hàng không Việt Nam hôm nay, chúng cũng “cố gắng (vén môi) lên cười trong nỗi bực mình thể hiện qua (cách nhíu) lông mày”. Có lẽ lúc ấy, trong bụng cảm thấy sướng rên lên, sướng đê mê được đảng vuốt ve, o bế, thế nào hắn ta cũng nhẩm trong miệng mấy câu vọng cổ í a, í à cho thỏa.

Quả đúng như thế! Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Hữu Liêm “được gặp nhiều anh chị em, có người tôi từng quen biết, có người không. Những khuôn mặt tươi vui, bắt tay nhau, cùng hát vang bài của chàng Sơn thuở nọ: ‘Mặt đất bao la, anh em ta về, gặp nhau, mừng như bão táp quay cuồng. Trời rộng. Bàn tay ta nắm nối liền một vòng Việt Nam’.Tôi cảm ra rằng mình vui lên như đứa trẻ thơ”.

Hơn hai mươi năm, nhiều lần về Việt Nam, Nguyễn Hữu Liêm luôn mang tâm trạng của một thằng ăn cắp, một thằng ăn trộm hay một tội phạm nên “luôn lo sợ phập phồng trong bụng” giờ đây chỉ cần có một cái vé máy bay free của đảng cho, đã biến một nhà trí thức/luật sư/doanh nhân thành một đứa bé thơ, quay ngược chiều suy nghĩ 180 độ. Quả nhiên đảng ta tài thật. Chỉ cần quẳng một cục xương là có thể biến đổi một con chó đang hung hăng thành ra ngoan ngoãn dễ bảo.

Chỉ cần dàn cảnh – có xe cảnh sát hú còi mở đường – có yến tiệc linh đình, ăn uống ngập mặt – vinh hạnh xếp hàng rồng rắn trước lăng để xem xác chết của Bác – vài lời ve vuốt tâng bốc cửa đảng – một thủ đoạn rất sơ đẳng của Việt cộng thường dùng để chiêu dụ, là ý thức và ý chí của các nhà trí trức hải ngoại sẽ bị tê liệt, toàn thân sẽ rũ riệt vì đuợc cấy thuốc “sướng”, giống như con chuột ngoan ngoãn, riu ríu, co rút toàn thân trước sự thôi miên của con rắn. Để rồi cả đám, cả bọn, trong ngày cuối cùng, bỗng chốc bị lên đồng tập thể, cùng gào lên hát quốc ca: “Cờ máu in chiến thắng mang hồn nước … phanh thây xé xác quân thù …” Rồi sau đó, trong cơn say điên cuồng, mấy chục mụ nạ dòng rững mỡ Dziệt kiều Pháp ùa lên sân khấu, vỗ tay đồng ca “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” và Hữu Liêm y ta hào hứng đến nỗi phải đứng dậy, la to lên “Việt Nam Hồ Chí Minh” mới hả nỗi hân hoan. Trong khi chỉ trước đó vài phút, nhà trí thức Nguyễn Hữu Liêm vẫn còn nhớ lại, lúc ấu thơ từng hát quốc ca của miền Nam, trước năm 1963 cùng với bài hát “Suy tôn Ngô Tổng thống” mà y cho là buồn cười. Rồi sau đó vài phút, y ta lại hân hoan thấy bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” như “cái hồn nhiên mà dân tộc đã bước vào từ hồi thế kỷ trước” chứ không buồn cười chút nào. Thật không có sự nịnh bợ nào trâng tráo, trơ trẽn hơn thế nữa để so sánh.

Sau khi hát “Tiến quân ca”, chào lá cờ cỏ sao vàng, bồi thêm một “Bác Hồ trong ngày đại thắng”, nhà trí thức Nguyễn Hữu Liêm bỗng “cảm thấy mình thật sự bình an, không còn sợ tổ quốc, sợ chế độ, sợ công an, sợ cộng sản nữa”.

Thật là thần kỳ! Chỉ cần bố thí một vé máy bay, cho ăn chơi vài bữa miễn phí thì từ một anh trí thức, tiến sĩ Nguyễn Hữu Liêm sợ cộng sản như sợ hủi, hoảng hốt đeo bám vào càng bánh xe máy bay để trốn thoát khỏi cái “địa ngục trần gian” trước kia bỗng chốc thành Dziệt kiều trở giọng yêu chủ nghĩa xã hội, yêu đảng, yêu Bác, yêu cái thiên đường cộng sản chập chờn trước mắt thật dể dàng.

Trong suốt bài viết, không thấy luật sư, tiến sĩ đề cập chữ nào đến 4 mục tiêu quan trọng đại hội đảng đề ra mà toàn là những lời bưng bô, nịnh bợ đảng ta quá sức.

Phương pháp chiêu hồi giới trí thức, doanh nhân hải ngoại về với đảng dễ như thế, rẻ như thế sao lâu nay Bắc Bộ phủ không nghĩ ra và áp dụng sớm vậy cà? Lãng phí thời gian thật!

Trong số 900 nhà trí thức, doanh nhân “mang thân về với triều đình” lần Đại hội này, không biết ngoài hai con cu mồi Trần Thanh Vân và Nguyễn hữu Liêm đã bộc lộ rõ bản chất vô học của mình như trên ra còn có nhà trí thức, doanh nhân nào giống y như vậy nữa không? Chờ xem hồi sau sẽ rõ!

Giờ hãy còn quá sớm để đánh giá và xem lời nói của hai con cu mồi này có đi đôi với việc làm không?

Sẽ có hai trường hợp xảy ra:

1. Hai ngài trí thức Trần Thanh Vân và Nguyễn Hữu Liêm cùng gia đình con cái sẽ trả lại quốc tịch Pháp, Mỹ cho đế quốc tư bản và về Việt Nam xin nhập tịch lại để được dõng dạc nói lên câu “Ôi hỡi quê hương Việt Nam. Lần này, tôi đã thực sự trở về!”. Như vậy người Việt hải ngoại từ nay sẽ tránh được chứng nôn mữa khi vô tình chạm mặt với họ.

2. Nếu cả hai cứ giơ mặt dầy ra không chịu cuốn gói về Việt Nam, cứ sống lỳ trên đất nước tự do để làm kiếp cu mồi thì tư cách và danh dự còn thua xa một gã Trần Trường vô học mà biết tự sỉ.

Dù trường hợp nào xãy ra đi nữa, người Việt tỵ nạn cộng sản cũng đều phải “kính nhi viễn chi”, tránh chúng cho thật xa để khỏi bị giây với hủi.

Để kết, người viết bài này chỉ xin có đôi lời nhận xét thô thiển: Khi Nguyễn Hữu Liêm đề cập đến tiến sĩ Trần Đức Thảo trong bài viết của mình mà không một chút ngượng ngùng, xấu hổ thì đủ biết da mặt đã hắn ta dầy đến cỡ nào rồi. Búa rìu dư luận có bủa xuống e cũng chỉ bị mẻ lưỡi, sút cán mà thôi chứ mặt hắn vẫn cứ trơ như đá, sẽ chẳng hề hấn chi đâu.

Và cuối cùng, một trí thức tiến sĩ, triết gia, luật sư như Nguyễn Hữu Liêm mà không phân biệt nổi hai chữ tổ quốc và chế độ, một tổ quốc thiêng liêng và một chế độ phi nhân, để rồi đánh đồng với nhau một cách mù quáng chỉ vì mấy bữa ăn thì quả là vô phúc cho gia tộc họ Nguyễn Hữu quá.

Người đời sẽ mãi mãi mĩa mai cái tên Hữu Liêm. Đồ vô liêm! Thứ con nhà không có lư hương!.

Nguyễn Thanh Ty


Tên Sài Gòn đã trở lại trên con dấu Bưu Điện??