Thursday, July 9, 2009

LUẬT SƯ QUỐC DOANH - Trần Việt Trình

Trần Việt Trình

Từ khi có chế độ cộng sản tại Việt Nam, từ “quốc doanh” trở nên quen thuộc và phổ biến. Quốc doanh có nghĩa là “nhà nước kinh doanh”, nhưng trong ngôn ngữ hàng ngày của người dân, khi nói đến quốc doanh ai cũng có hàm ý sự chê bai, dè bỉu.

Nếu hàng hoá quốc doanh được xem là kém phẩm chất thì các đoàn thể quốc doanh không những chỉ mang đặc tính kém phẩm chất như hàng hoá mà còn không thể hiện được chức năng, thậm chí còn là bù nhìn và giả mạo. Do vậy, đối với hàng hoá quốc doanh, người dân chỉ chê bai phẩm chất, còn đối với các cá nhân hay tổ chức quốc doanh, người ta không những chỉ chê bai mà còn khinh bỉ. Chúng ta đã có “Phật giáo quốc doanh”, “Công Giáo quốc doanh”, “sư quốc doanh”, “cha quốc doanh”, “trí thức quốc doanh”, ... Nay chúng ta có thêm “luật sư quốc doanh”. Đúng vậy, sau bao nhiêu năm chuẩn bị cùng nhiều khó khăn trì trệ cũng như những đấu đá nội bộ, “Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam” đã ra đời vào ngày 11 tháng 5 vừa qua tại Hà Nội.

Việc cho hình thành Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam (LĐLSVN) chẳng qua chế độ CSVN đang lo sợ sự trưởng thành trong tư tưởng của giới luật gia cũng như sự lớn mạnh của nghành luật trong nước sẽ dẫn đến việc vuợt ra ngoài sự quản chế của đảng và nhà nước. Việc tạo dựng Liên Đoàn Luật Sư này cũng không nhằm mục đích nguỵ tạo cho thế giới một hình ảnh VN tự do, dân chủ, có luật pháp hầu mong Liên Đoàn sẽ được chấp thuận trong cộng đồng pháp lý quốc tế. Những năm gần đây, giới luật sư trong nước đã làm cho giới lãnh đạo CSVN mất ăn mất ngủ không ít. Đó là những luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Bắc Truyễn, Lê Quốc Quân, Lê Trần Luật, Tạ Phong Tần, Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Định, … và sẽ còn nhiều, nhiều nữa. Đây là những luật sư trẻ, được sản sinh ra từ ngay trong lòng chế độ, được đào tạo từ mái trường XHCN và không vướng mắc gì với chiến tranh VN trước 1975. Vài luật sư trong số này may mắn được “bồi dưỡng tư tưởng” ở các trường đại học luật danh tiếng của thế giới và có cơ hội tiếp cận được với hệ thống pháp lý của các nước “tư bản” có hệ thống luật pháp chuẩn mực đi trước các nước cộng sản hàng trăm năm, đừng nói gì tới CSVN. Nhìn chung, những luật sư trẻ tuổi này là những người có kiến thức và tài năng để có thể có được cuộc sống vinh hoa phú quý trong xã hội VN dưới quyền cai trị của người CS. Tuy nhiên, tâm thức của những luật sư này lại đòi hỏi phục vụ lẽ phải và công lý. Muốn mang lại công bằng và thịnh vượng cho quê hương, những luật sư này không thể không mạnh dạn, can đảm trước cường quyền bạo lực, lên tiếng vì sự thật và bênh vực cho công lý, trực diện tấn công thẳng vào “rừng luật” đầy “luật rừng” của CSVN.

Thật ra việc thành lập một nghiệp đoàn hay một hiệp hội luật sư cũng chỉ là một chuyện bình thường, không có gì đáng nói, không có gì để bàn cãi. Nhưng, đằng này việc chuẩn bị và cho ra đời một tổ chức chuyên nghiệp và dân sự lại hoàn toàn do sự múa may và khuynh đảo của các lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN. “Đây là một tổ chức nghề nghiệp nên quá trình bầu cử phải dân chủ. Chủ tịch Liên đoàn phải do tất cả các đại biểu bỏ phiếu bầu. Thực tế lại không được như vậy”, luật sư Nguyễn Đăng Trừng Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh cũng phải bất bình lên tiếng. Thật vậy, để dọn đường cho việc thành lập LĐLSVN, nhà nước CSVN đã cài người vào Hội đồng lâm thời mà các thành viên chủ chốt đều là cán bộ “gộc” để chung cuộc thành phần ban lãnh đạo của LĐLSVN thật “đẹp như mơ”: Chủ tịch là Lê Thúc Anh (nguyên Phó Chánh án Toà Án Nhân Dân tối cao), Phó chủ tịch thường trực là Nguyễn Văn Thảo (nguyên Vụ trưởng Vụ Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp) và Phó Chủ tịch - kiêm Tổng thư ký là Đỗ Ngọc Thịnh (nguyên phó Viện Trưởng Viện Khoa Học tổ chức, Ban Tổ chức Trung Ương).

Theo như hoạch định thì trong kỳ Đại hội đại biểu luật sư lần thứ nhất diễn ra tại Hà Nội tháng 5 vừa rồi đại hội này sẽ bầu ra một ban lãnh đạo gồm Hội đồng Luật sư toàn quốc với 91 thành viên, bầu ra ban thường vụ và các vị trí chủ chốt như Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Tổng thư ký cho Liên đoàn Luật sư. Theo đó, ít nhất chức vị chủ tịch phải được bầu trực tiếp để bảo đảm tính dân chủ. Nhưng việc đó đã không xảy ra như mọi người mong đợi. Ngay từ đầu Lê Thúc Anh, nguyên là Phó Chánh Án Toà Án Nhân Dân Tối Cao đã được Bộ Tư Pháp bổ nhiệm làm chủ tịch Hội Đồng Lâm Thời Luật Sư Toàn Quốc. Luật sư Lê Công Định trước lúc bị bắt cũng đã lên tiếng nói rằng làm như vậy là vi phạm vào tính tự quản của hiệp hội luật sư. Đoàn Luật Sư Sài Gòn và Bộ Tư Pháp đã sẵn có một số va chạm liên quan đến việc thành lập Liên Đoàn Luật Sư Toàn Quốc. Sự áp đặt trắng trợn này lại gây chia rẽ mất đoàn kết và bất bình trong giới luật sư ở VN. Luật sư Trần Vũ Hải có trụ sở tại Hà Nội trả lời Thanh Quang phóng viên đài RFA vào ngày 3 tháng 5 cũng phản ứng về việc cài người này của đảng, ông tuyên bố “Giới lãnh đạo luật sư Việt Nam hiện nay, tất nhiên có vài người đáng tiếc là do ở đâu đó cơ cấu vào thì hiện nay chúng tôi cho là không thể đại diện cho giới luật sư được”. Đó là chưa nói đến tiêu chuẩn trở thành Chủ tịch Liên Đoàn Luật Sư của Lê Thúc Anh. Luật sư Lê Công Định trong bài “Ai cử, luật sư bầu?” bày tỏ không khâm phục người chưa “lăn lộn với nghề luật sư bằng bề dày kinh nghiệm và thâm niên nghề nghiệp mà đồng nghiệp nào cũng phải kính trọng”. Luật sư Nguyễn Lệnh trong bài “Thủ lãnh” và chữ “phục” phổ biến trên internet trong nước ngày 6 tháng 7 đã xa gần ngấm ngầm chỉ trích “để làm một Thủ lãnh trước hết bản thân người đó phải được các luật sư đồng nghiệp phục và sau nữa là người đó phải được các luật sư đồng nghiệp phục cả cái cách lên làm Thủ lãnh”. Cách lên làm thủ lãnh LĐLSVN của Chủ tịch Lê Thúc Anh thật chẳng đắc nhân tâm và không làm cho giới luật sư VN khẩu phục và tâm phục chút nào. Đến giờ này CSVN vẫn chuộng hồng hơn chuyên.

Thực chất luật pháp ở VN do đảng CSVN độc quyền nhào nặng ra. Ai cũng hiểu được hệ thống Tư Pháp của CSVN chẳng qua chỉ dùng để trang trí, dùng để làm đẹp chế độ, nhằm tạo cho chế độ có một hình thức bề ngoài giống các quốc gia khác không ngoài mục đích bịp bợm, còn lại thực chất nó chỉ là một đoàn múa rối.

Nguyễn Tấn Dũng trong buổi tiếp đón LĐLSVN chiều 18 tháng 6 tại Trụ sở Chính phủ do Lê Thúc Anh Chủ tịch Liên đoàn dẫn đầu đã nhấn mạnh chủ trương của đảng và Nhà nước về việc xây dựng một nhà nước pháp quyền XHCN. Để thực thi một nhà nước pháp quyền thì các cơ quan hành pháp, tư pháp và lập pháp phải hoạt động tách biệt. Một nhà nước pháp quyền phải có tòa án độc lập, luật sư độc lập cũng như cơ quan hành pháp để bảo đảm không có tham nhũng. Bảo đảm không có tham nhũng là một trong những nhiệm vụ của nhà nước pháp quyền. Nếu không có sự độc lập của bộ máy tư pháp cũng như sự độc lập của luật sư, một nhà nước pháp quyền sẽ khó mà thực hiện được. Thế nhưng, ở VN chuyện đó lại không xảy ra bởi các cơ quan thi hành pháp luật như tòa án, Viện Kiểm Sát và công an đều có chi bộ đảng ủy riêng của từng bộ phận điều hành và nhận chỉ thị từ trên đưa xuống. Trong hệ thống tòa án ở VN, cả thẩm phán lẫn bản án đều do đảng chỉ định và mọi thứ đều được sắp xếp trước. Cũng trong hệ thống tòa án có tính cách nhân dân đó, cái quyền biện hộ của luật sư cũng bị khống chế. Dưới chế độ CSVN, tính độc lập của các luật sư và các đoàn luật sư không có được. Luật sư không được quyền thi thố tài năng và thi hành đúng chức năng của họ trước toà. Vì vậy, vai trò chánh án cũng chỉ là một bù nhìn, không cần thiết phải chú tâm đến những lời tranh cãi, biện hộ của luật sư hay lời tự biện của bị can. Để trừng phạt các luật sư nào dám lên tiếng vì công lý, dân chủ và nhân quyền, nhà nước không ngần ngại đóng cửa văn phòng và rút giấy phép hành nghề của họ. Đó là chưa kể đến bao nhiêu trù dập, gây khó khăn trong cuộc sống cũng như việc đi lại hằng ngày của họ.

Câu hỏi đặt ra là Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam được hình thành rồi thì liệu tổ chức này có giúp giới luật sư bảo vệ công lý đúng mức hay không? Nhất là trong bối cảnh giới cầm quyền tiếp tục gây ảnh hưởng đến các vụ xử, đặc biệt liên quan tới những nhà dân chủ, bất đồng chính kiến, hay những người dân thấp cổ bé miệng bị cưỡng chiếm đất đai. Câu trả lời là KHÔNG, ngàn lần KHÔNG, vạn lần KHÔNG. Bởi LĐLSVN là một công cụ pháp lý của đảng và nhà nước, là một đoàn múa rối không hơn không kém. Đảng CSVN đã và đang điều hành đất nước với quá nhiều sai lầm không thể khắc phục được, đã sản sinh ra một hệ thống pháp luật đầy nghịch lý. Đảng CSVN đã cố tình kìm hãm dân trí nhằm tạo ra những “sản phẩm” theo ý mình. Chỉ vì muốn củng cố địa vị độc đảng độc tôn của mình mà họ đã nhào nặn ra một thế hệ kế tiếp những “con người sản phẩm” chỉ biết cắm đầu thực hiện những chỉ thị của đảng và nhà nước, bất kể luật lệ, bất kể luật pháp.

Cộng sản vẫn thường rêu rao là ở đâu có áp bức và bất công thì ở đó sẽ có đấu tranh kia mà. Ở xã hội nào cũng vậy, có đàn áp, bất công và bạo quyền đến đâu đi chăng nữa thì cũng sẽ có người sẵn sàng đứng lên bênh vực cho công lý. Chúng ta đã có những nhà lãnh đạo tôn giáo dù đang còn sống trong nước nhưng họ không hề sợ hãi trước đàn áp và ngục tù, thà chết không chịu đứng vào hàng ngũ những kẻ “tu hành quốc doanh”. Chúng ta đã có và sẽ có thêm nhiều nữa, từ ngay trong nước, những luật sư còn có lương tâm, can đảm, không chịu khuất phục trước cường quyền bạo lực và quyết không đứng vào hàng ngũ “luật sư quốc doanh” để làm công cụ cho CSVN chà đạp pháp lý.

Trần Việt Trình
7 tháng 7, 2009


Chim Hạc Và Chó Săn - Nguyễn thanh Ty

Nguyễn thanh Ty

Truyện Đông Chu liệt quốc, hồi thứ hai mươi ba, chép: “ Vệ Ý công lên ngôi đã chín năm trời, tính rất lười biếng, chẳng thiết gì đến chính sự, chỉ thích chơi một giống chim gọi là chim hạc. Giống chim này tính ưa sạch sẽ, hình dung rất thanh nhã, tiếng kêu đã hay, dáng múa cũng khéo. Thấy Vệ Ý công thích chơi hạc, người nước Vệ đua nhau đem hạc đến tiến. Ai tiến hạc cũng được nhà vua trọng thưởng. Thành ra trong cung nuôi đầy hạc, kể hàng mấy trăm con.

Vệ Ý công lại thưởng phẩm hàm và cấp lương bổng cho hạc. Con nào đẹp thì được ăn lộc quan đại phu. Mỗi khi Vệ Ý công đi chơi đâu, lại cho mấy cổ xe lớn chở chim hạc đi dàn ở phía trước mặt, gọi là hạc tướng quân. Những người nuôi hạc đều được ăn lương. Triều đình phải thu thuế của dân thật nặng, để có đủ tiền cấp lương cho hạc.

Quan Đại phu là Thạch Kỳ vốn có tiếng là người trung thực, cùng với Ninh Tốc cầm quyền chính nước Vệ. Hai người vẫn can Vệ Ý công luôn mà Vệ Ý công không nghe.
Bắc Địch là một nước cường thịnh. Vua Bắc Địch tên là Sưu man xưa nay vẫn có ý muốn xâm phạm các nước ở Trung Quốc. Nghe tin vua Vệ ham chơi hay bỏ bê triều chính, quốc sự suy yếu nên đem quân đánh nước Vệ.

Vệ Ý công đang đi chơi với hạc, nghe báo có quân Bắc Địch đến đánh, giật mình kinh sợ, tức khắc hạ lệnh gọi quân để đi đánh giặc. Dân nước Vệ bỏ trốn cả, không ai dám ra lính.

Vệ Ý công sai quan tư đồ đi bắt. Trong một lúc bắt được hơn trăm người đem về tra hỏi:
Vì cớ gì mà các ngươi dám trốn lính?

Dân nước Vệ nói:
Chúa công dùng một giống vật cũng đủ đánh nổi quân Bắc Địch, cần gì phải dùng đến chúng tôi.

Vệ Ý công hỏi:
Vật gì mà đánh nổi quân giặc?

Dân nước Vệ nói:
Chim hạc!

Vệ Ý công hỏi:
Chim hạc thì đánh giặc thế nào được?

Dân nước Vệ nói:
Chim hạc đã không đánh giặc được thì là một loài vô dụng, nay chúa công bỏ những người hữu dụng mà nuôi những loài vô dụng, bởi thế cho nên dân chúng tôi không phục.

Vệ Ý công nói:
Nay ta đã biết tội! Ta xin theo ý dân mà đuổi hết chim hạc đi!

Thach Kỳ nói:
Xin chúa công làm ngay cho! Tôi e bây giờ đã muộn lắm rồi.

Vệ Ý công tức khắc sai người đi xua đuổi chim hạc. Bấy giờ dân mới chịu ra lính thì quân Bắc Địch đã kéo đến đất Huỳnh Trạch.

Vệ Ý công cùng quan đại tướng là Cừ Khổng đem quân đi đánh giặc. Trong khi đi đường quân sĩ đều oán Vệ Ý công, ta thán nhiều lắm. Có người làm một bài ca rằng:

“Hạc được ăn lương, dân phải cày ruộng! Hạc được ngồi xe, dân phải vác giáo! Quân giặc gớm ghê thay, quân ta chín chết một sống! Nay hạc đi đâu, để ta khổ sở!”

Vệ Ý công thấy quân sĩ hát như vậy, có ý buồn rầu. Quan đại tướng là Cừ Khổng lại quá nghiêm khắc, bởi vậy quân sĩ càng đem lòng tức giận. Quân Vệ vốn không có lòng đánh giặc nên khi bị phục binh của giặc đổ ra quá mạnh tức thì bỏ chạy cả. Vệ Ý công và Cừ Khổng bị quân giặc vây kín mấy vòng.

Cừ Khổng nói với Vệ Ý công rằng:
Bây giờ nguy cấp lắm rồi, xin bỏ cờ đại bái xuống và chúa công phải thay đổi trang phục mới có thể chạy thoát được.

Vệ Ý công thở dài mà than rằng:
Quân nước Vệ có lòng cứu ta thì lấy cờ đại bái làm dấu tích, nếu không thì bỏ cờ đại bái cũng vô ích! Thôi thì ta cũng liều một chết, để tạ lại lòng dân nước Vệ mà thôi.

Chốc sau, quân Bắc Địch kéo đến, Vệ Ý công và Cừ Khổng đều bị hại cả.
Quân Bắc Địch thừa thắng kéo vào kinh thành nước Vệ, chém giết nhân dân nhiều lắm, bao nhiêu của cải, vàng bạc thóc lúa, lấy sạch cả, lại phá hại cả thành quách rồi thu quân về nước.

An Nam dị sử thời cận kim chép:

Mùa Thu năm Ất Dậu, Hồ Chí Minh cướp ngôi nhà Nguyễn.

Hồ Chí Minh trước có tên là Nguyễn Tất Thành, con ông Nguyễn Sinh Sắc làm huyện lệnh ở tỉnh Bình Định, thường uống rượu say, lỡ tay đánh chết người nên bị triều đình bắt tội và cách chức. Quê nội của Tất Thành ở làng Kim Liên (tục gọi là làng Sen) rất nghèo khổ. Phần lớn dân chúng không có ruộng, phải đi làm thuê, cấy rẽ. Quần áo không có đủ mặc phải đóng khố nên làng còn có tên là Đai Khố.

Vào đời ông, dòng họ ông đa số đều cơ hàn, kiếm sống bằng nghề làm thuê. Cũng có mấy người tham gia làm cách mạng chống Phú Lãng Sa. Mấy năm sau, cha chết, Tất Thành phải tha phương cầu thực lưu lạc sang Phú Lãng Sa rồi sang tận bên Tàu kiếm ăn qua ngày, lại nói quá lên là đi tìm đường cứu nước.

Khi trưởng thành, Tất Thành biết được ông nội mình chính là Hồ Sĩ Tạo chứ không phải là Nguyễn Sinh Nhậm. Nhậm chỉ là người đổ vỏ ốc cho Tạo vì vậy Nguyễn Tất Thành lấy lại họ Hồ đổi tên là Chí Minh.

Hoàng đế Mao Trạch Đông ở phương Bắc có dã tâm muốn nuốt xứ An Nam từ lâu, nên thu nhận họ Hồ làm đệ tử chân truyền với mục đích sau này, dạy cho học thuyết “Thế giới đại đồng”, chủ trương Chủ nghĩa Xã hội cộng sản, xóa bỏ ranh giới quốc gia. Lại ban cho lá cờ đỏ có ngôi sao vàng ở giữa để về nước An Nam hiệu lệnh đồng đảng trong mưu đồ soán nghịch. Lúc bấy giờ, đại kỳ của Giáo chủ Mao màu đỏ chỉ có một sao vàng lớn và bốn sao vàng nhỏ bao quanh, nằm ở góc trái phía trên đầu cán cờ. (Đại kỳ này Mao dùng từ năm Kỷ Sửu đến bây giờ, nay có thêm cái sao thứ năm, chắc sẽ dành cho xứ An Nam sắp thần phục làm chư hầu?)

Thừa lúc quân Nhật đầu hàng, Mao lén đưa Hồ về nước dùng thủ đoạn của Tào Tháo rất nham hiểm cướp chính quyền, buộc vua Bảo Đại phải thoái vị, nhường ngai vàng cho mình. Sau đó, Hồ bí mật ám toán hết các lãnh tụ của những đảng phái khác đã cộng tác với mình trong kháng chiến đánh đuổi giặc Phú Lãng Sa.

Vua Bảo Đại chạy vào đất Sài Côn, phía Nam, sắc phong quan Thượng Thư Bộ lại (đã từ quan từ năm Nhâm Thân) là Ngô Đình Diệm chức Thủ tướng thay mình, lập ra Nam triều để chống lại quân phản nghịch.

Ngày Mậu Dần, tháng Tân Mùi, năm Giáp Ngọ, các cường quốc có liên quan quyền lợi kinh tế, chính trị, quân sự… với nước An Nam như Phú Lãng Sa, Huê Kỳ, Anh Cát Lợi, Nga La Sát, Trung Hoa, có cả hai tiểu quốc Miên và Lèo cũng tham dự, hội nhau ở đất Giơ Neo cùng ăn thề, nói là để buộc nước Phú Lãng Sa trao trả độc lập cho nước An Nam, kỳ thật chỉ để xâu xé nước An Nam ra làm hai, lấy sông Bến Hải làm ranh giới, chia nhau quyền lợi. Nước Nga La Sát và Trung Hoa giành phía Bắc, Phú Lãng Sa và Huê Kỳ giữ phía Nam.

Trong ngày các cường quốc hạ bút ký Hiệp Định phân hai đất nước, đại diện cho miền Bắc là Phạm văn Đồng do Hồ Chí Minh cử đi đã mừng vui hớn hở vì bất ngờ đạt được thắng lợi ngoài mong muốn. Ngược lại, đại diện cho miền Nam là ông Trần văn Đỗ đã ôm mặt khóc thảm, đau buồn vì đất nước bị chia phân.

Ngày hôm sau,Thủ tướng Ngô Đình Diệm ra lệnh treo cờ rũ cả miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào để bày tỏ sự chống đối việc chia cắt đất nước.

Hai mươi năm sau, ngày Bính Ngọ, tháng Canh Thìn, năm Ất Mão, cả triệu Bắc quân của hậu duệ Hồ là Duẫn với sự giúp đở hùng hậu binh lực về khí giới và phương tiện chiến tranh của hai đại cường quốc trong Khối Cộng sản Cờ đỏ là Nga La sát và Trung Hoa cùng đám chư hầu Đông Âu, đã vượt sông Bến Hải vào cướp luôn miền Nam.

Cách đó ba năm trước, năm Nhâm Tý, Minh chủ của Liên minh Tự Do là Hoàng đế Huê Kỳ, Rít Sa - Ních Xông, một đồng minh lớn và thân thiết của miền Nam cùng hiệp lực chống quân Cờ đỏ hơn mười năm, đã tráo trở, bí mật lẻn sang Trung Quốc mật nghị với Tể Tướng Chu Ân Lai, giao miền Nam cho Trung Quốc để Trung Quốc nhường ảnh hưởng xứ Nga La Sát cho mình. Huê Kỳ và Trung Quốc bắt tay nhau trên bàn cờ quốc tế.

Sau mật ước, Huê Kỳ rút hết quân về nước và không chi viên khí giới lương thảo cho miền Nam nữa. Quân dân miền Nam đã phải chiến đấu trong đơn độc, thiếu thốn mọi phương tiện chiến đấu từ viên đạn đến gói cơm khô để ngăn chận giặc Cờ đỏ xâm lăng liên tục đánh phá và xâm nhập vào lãnh thổ miền Nam. Miền Nam vẫn can trường, bền bỉ trong một cuộc chiến không cân sức.
Ngày Bính Ngọ, tháng Canh Thìn, năm Ất Mão, giặc Cờ đỏ đem hàng trăm chiến xa, trọng pháo từ Tây nguyên tràn vào tận kinh đô Sài Côn.

Đại vương Dương văn Minh mới được truyền ngôi có ba ngày, sợ giặc hung tàn sẽ đốt phá cung điện, nhà cửa và đại sát dân lành nên phải tuyên bố trao quyền cho giặc Cờ đỏ trong êm thắm và hạ lịnh cho binh lính buông khí giới đầu hàng vô điều kiện.

Ngày hôm đó, trời sầu đất thảm, mưa như trút đổ, nhiều tướng lãnh, quan binh miền Nam đã cùng nhau tự ải tại bản doanh chứ không chịu nhục đầu hàng quân giặc.

Nhà Hồ tóm thâu giang sơn về một mối, thống nhất từ Bắc vô Nam, nhưng chỉ thống nhất được trên địa lý còn lòng dân thì không thể vì chính sách cai trị của Hồ quá tàn bạo và ác độc khiến cho dân cả nước chỉ vì ghê sợ mà đành phải cúi đầu nghe theo chớ tâm không phục.

Nhà Hồ chỉ đánh được thành, chiếm được đất chứ không chiếm được lòng dân nên vì vậy không thể nói là chiến thắng được.

Từ khi Hồ Chí Minh soán ngôi cho tới khi thống nhất đất nước, bề ngoài giả danh là một nước Cách Mạng Độc Lập Dân chủ Cộng Hòa nhưng bề trong thực chất thiết lập một triều đại phong kiến, quan liêu hơn xưa gấp bội. Một nhà nước độc đảng, độc tài, độc trị nhưng lại lệ thuộc Bắc triều. Nhất cử nhất động đều răm rắp tuân theo chỉ thị của Thiên triều.

Cách thức truyền ngôi cũng theo cách của Thiên triều, nghĩa là cha truyền con nối dưới hình thức bịp bợm, dối lừa người dân là “Đảng cử dân bầu”.

Những năm đầu mới lên ngôi, theo lệnh của Mao, Hồ cho phát động ngay chính sách “Cải cách ruộng đất” tuyên truyền là lấy ruộng của địa chủ chia cho nông dân. Dân nghèo nghe thấy thế mừng lắm, ùn ùn kéo nhau theo “Đội cải cách” của Đảng Cờ đỏ sai phái xuống nông thôn để đi đấu tố. Những người có đôi ba mẫu ruộng do ông cha để lại đều bị qui là địa chủ, bị giết chết. Người bị giết oan lến đến mấy vạn. Ruộng đất lấy được đem chia cho nông dân mỗi người mấy sào. Chưa được bao lâu, Đảng lại tóm thâu trong tay bằng hình thức “Hợp tác xã” nói dối là nông dân làm chủ, Nhà nước quản lý.

Ngày xưa thời phong kiến, nông dân còn có chút ruộng riêng tư của mình để lại cho con cháu làm của thừa tự hương hỏa. Ngày nay, dưới thời Hồ, nông dân trắng tay.

Giới nho sĩ rất bất bình về chính sách tham lam tàn bạo này của Đảng đã cùng nhau lên tiếng can ngăn, chỉ trích những sai trái của triều đình, liền bị Đảng kết tội “chống Đảng”. Tất cả nho sĩ trong nhóm “Nhân văn” có cả trăm người đều bị đày đến nơi ma thiêng nước độc, gọi là đi “cải tạo tư tưởng” mục đích là để cho chết dần, chết mòn trong đói khát và bệnh tật.

Ngoài nhóm “Nhân văn” ra, những “đồng chí” cùng trong Đảng nhưng có khuynh hướng thân với nước Nga La Sát, có tinh thần cấp tiến hơn, cũng lên tiếng khuyên can triều đình nên suy nghĩ lại chính sách cai trị thì cũng bị Đảng gán cho tội “xét lại” và xem bọn “xét lại” này còn nguy hiểm hơn bọn “Nhân văn” nhiều, nên đã ra tay dập tắt từ trong trứng nước bằng khủng bố, đàn áp rất dã man. Nhóm “xét lại” bị bắt, bị giết rất nhiều. Có một số đã phải trốn ra nước ngoài sống lưu vong suốt đời.

Từ đó nội bộ Đảng Cờ đỏ và triều đình chia thành nhiều phe cánh, đấu đá, tàn sát nhau rất ác liệt, tàn khốc để tranh quyền lực và quyền lợi.

Khi cưỡng chiếm được miền Nam, Bắc Bộ phủ cho thi hành chính sách đốt sách, cầm tù hơn trăm vạn nho sĩ và binh lính miền Nam. Cướp tài sản người dân bằng biện pháp “đánh tư sản”, “cải tạo công thương nghiệp”, đổi tiền, đuổi người Hoa ra biển, đuổi người dân lên “kinh tế mới” để lấy nhà cửa chia nhau ở.

Thêm vào đó là chính sách kinh tế tập trung, ngăn sông cấm chợ, bao cấp quan liêu đã gây nên nạn tham quan ô lại lan tràn khắp nước đã làm cho dân trong nước đói khổ lầm than đến mức cùng cực. Đạo lý luân thường suy đồi, sa đọa xuống tận đáy vực thẳm.

Vì vậy, tuy đã đặt nền cai trị sắt máu hơn sáu chục năm mà chính trị trong nước vẫn chưa ổn định được. Tiếng huyên truyền bất mãn trong dân chúng vẫn cứ rỉ tai nhau những điều mà triều đình Hồ kết tội là “phản động” là “diễn tiến hòa bình” và luôn phập phồng lo sợ bị dân chúng nổi lên lật đổ. Nhiều vụ lùng xét, truy tìm để bắt những ai bị nghi là có ý đòi hỏi dân chủ, tự do nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, … xảy ra liên miên khiến tình hình trong nước luôn rối ren, hoảng loạn.

Ở chợ, môt ngày có tới ba bốn lần dân chúng bị giật mình, hoảng hốt bỏ cả hàng bán để chạy trốn, tránh nạn bắt lầm.

Người bị bắt nhốt vào tù nhiều lắm, hàng ngàn, hàng vạn tính không xuể. Nhà tù được dựng lên càng lúc càng nhiều, nhiều hơn cả trường học và bệnh xá cộng lại.

Tuy nhiên, những người đấu tranh cho tự do lại càng nổi lên nhiều hơn trước. Nhóm này bị bắt thì có nhóm khác xuất hiện thay thế để tiếp tục đấu tranh.

Lại nữa, dân oan bị cường quyền địa phương cướp đất, cướp nhà, giờ đã không còn sợ triều đình như xưa, đã hè nhau đứng lên đội đơn đi kiện, gây nên phong trào chống đối rầm rộ từ Nam tới Bắc.

Triều đình Hồ lo lắm không biết phải dùng biện pháp gì để “ổn định chính trị” trong nước. Muốn dùng bạo lực kiểu phát xít chuyên chính “uy quyền ở đầu nòng súng” thì cái gương Thiên An Môn ở Thiên triều còn sờ sờ trước mắt nên không dám. Còn kiểu “bàng môn tả đạo” như ám toán, thủ tiêu, cho đi mò tôm như “Bác Hồ” đã làm đối với các lãnh tụ đảng phái trước kia thì lại sợ con mắt của thế giới soi mói vào.

Dùng bạo lực không hiệu quả, triều đình xoay qua biện pháp ru ngủ nhân dân bằng cách tổ chức nhiều cuộc vui chơi để lôi cuốn bọn thanh niên vào vòng đam mê trụy lạc mà quên đi lòng yêu nước và ý chí đấu tranh.

Những cuộc thi sắc đẹp, hoa hậu được tổ chức từ quận, huyện lên tới tỉnh, rộng khắp cả nước. Rồi hoa hậu hoàn vũ, hoa hậu thế giới … triều đình cũng đều xin cho nước mình được đăng cai tổ chức, mặc cho sự tốn kém khổng lồ vô bổ. Người dân bị ru ngủ cứ đổ xô đi xem, quên hết những nhiễu nhương xã hội. Thực chất, đàng sau những cuộc thi hoa hậu, người mẫu đó là bọn đầu nậu tuyển lựa gái đẹp phục vụ cho các quan lại và đại gia. Nạn mại dâm được ngầm cho phép hành nghề bán công khai không cần phải có nghị quyết của Đảng. Triều đình còn tổ chức thể thao thi đua đá bóng rầm rộ từ trong nước ra đến các nước lân cận để cho thanh niên suốt ngày miệt mài cổ võ hoan hô mà quên thực tại nghèo đói lạc hậu.

Tiền thuế của dân đóng góp đã bị đem đổ vào chính sách ru ngủ này lên đến nhiều ngàn tỷ đồng mỗi năm.

Nguy hại ghê gớm hơn cả là triều đình đã cho xây dựng nhiều nhà máy bia, rượu khắp các tỉnh và bí mật tung ra nhiều loại nha phiến độc hại để đầu độc thanh thiếu niên, sinh viên, học sinh trong say sưa và nghiện ngập, khiến bọn chúng tiêu tan hết khả năng chống đối.

Nhưng dù triều đình của đảng Cờ đỏ có dùng đến chính sách bá đạo như vậy cũng không thể nào tiêu diệt hết những người có tâm huyết với tiền đồ dân tộc. Nhiều đảng cứu nước đã bí mật ra đời. Nhiều truyền đơn chống đối triều đình đã xuất hiện khắp nơi, ngày càng nhiều …

Tể tướng hoạn lợn Đỗ Mười lên chức Tổng bí thư, truyền chức lại cho Võ văn Kiệt. Kiệt vừa lên thay, hung hăng ký ngay lệnh “Tam thập Nhất” cho phép bắt giam bất cứ ai bị nghi ngờ là “khác chính kiến” với triều đình mà không cần chứng cớ. Người bị bắt giam vào ngục tối nhiều vô số, vẫn không diệt được cái gốc nổi loạn trong dân.

Kiệt lui về sau hậu trường, nhường ghế lại cho Phan văn Khải. Khải ngồi ghế mấy năm cũng bất lực, tình hình ngày càng thêm bất ổn. Khải đề cử tay chân thân tín của mình là Dũng tự Ba Dũng lên thay.

Dũng mồ côi cha, ngày xưa còn nhỏ đã nổi tiếng hung ác, không chịu học hành, suốt ngày dắt chó chạy vô núi săn bắt thú nhỏ để ăn thịt rồi theo bọn lưu manh côn đồ đang có án tội đi trốn, để làm liên lạc tin tức trong chuyện bất lương, cướp của giết người.

Sau ngày giặc Cờ đỏ gồm thâu cả nước, Ba Dũng bỗng nhiên thành người hiền tài của triều đình. Chỉ có mấy năm mà từ một trung sĩ y tá trở thành một trung tá y sĩ rồi chẳng mấy chốc đã trở thành Tể tướng của một nước. Có người hiểu rõ căn nguyên bảo rằng đó là hột giống của tướng Chí Thanh đánh rơi trong lúc làm nhiệm vụ tuyển và đưa “đồng nữ” ra Bắc phục vụ hộ lý cho“Bác”. Trên đường vượt Trường Sơn lâu ngày, tướng Chí Thanh đã “hộ lý” trước “Bác” nên đã có những giọt máu rơi vãi dọc đường. Ngoài Ba Dũng ra còn có Chí Vịnh cũng là em cùng cha khác mẹ. Chí Vịnh cũng được “ơn trên” ưu tiên đặc cách vào chức vụ trọng yếu của triều đình nắm giữ ngành Đô sát, có quyền sinh sát trong tay. Cả hai anh em đều kề cận với con “Bác” là họ Nông ở trên tột đỉnh triều đình. Trứng rồng lại nở ra rồng. Con vua dù rơi rớt ở dưới cống vẫn cứ là vua.

Vừa nắm quyền tể tướng, Ba Dũng lập tức đem kinh nghiệm thuở nhỏ thường chơi với chó biết rõ đặc tính và công dụng của chó đem áp dụng vào cách trị dân bèn cho họp nội các lại phán rằng:

- Đám dân đen ngoan cố phản động cũng giống như là loại thỏ, chồn, mang, mển yếu đuối và hèn luôn nhát gan sợ chết mà thôi. Muốn tìm bắt, tiêu diệt tận hang ổ của chúng, không gì hơn là dùng chó để săn đuổi.

Phán xong, Dũng ra chỉ thị cho bộ hạ tuyển chọn người có khả năng huấn luyên chó để thành lập Bộ Chó. (Nói dễ nghe một chút là Bộ Khuyển) Rất đông đảo người và chó được tuyển dụng. Bộ Khuyển được ưu đãi đặc biệt về quyền lợi còn hơn cả Bộ Nhân mấy bậc.

Nhắc lại, ngay từ đầu lúc thành lập triều đình An Nam Dân Chủ Cộng Hòa, chế độ “chuyên chính vô sản” này cũng đã dùng chó săn trong việc lùng bắt giới nho sĩ và những kẻ đi “chệch hướng” với đảng rồi, nhưng chỉ kín đáo trong bóng tối thôi.

Từ đó, trong dân chúng ai có chó tốt, chó hung dữ, chó săn, chó đánh mùi, chó ngao, cả chó lác, chó má cũng đều đem cung hiến để lãnh thưởng. Có cả người không có chó cũng tình nguyện làm chó săn để phục vụ triều đình nữa.

Chó được phân chia ra làm nhiều loại, đặt tên y như người như: Chó Giao thông, Chó Cơ động, Chó Phòng cháy, Chó an ninh … Mỗi thứ chó mặc sắc phục khác nhau. Có chó mặc áo vàng, có chó mặc áo xanh …và có loại chó không mặc sắc phục để lẫn lộn trong dân để đánh hơi cho dễ. Mỗi loại tùy chức năng khác nhau để ban bỗng lộc và công việc.

Ví dụ như:

Chó có tiếng sủa bậy, sủa lâu không khản tiếng, khàn hơi, cho điều sang ngành truyền thông để làm báo và truyền hình. Ưu tiên cung ứng đầy đủ cho báo Hà Nội Mới, báo Công An Nhân dân, Công An thành phố và đài tuyền hình VTV1.

Chó có khả năng đánh hơi từ xa được cho vào Bộ Thông tin Tuyên truyền giúp hai ông Ngưu Doãn sục sạo kẻ phản động trong “Lưới nhện toàn cầu”.

Chó có tài ngồi dai suốt ngày không mỏi mệt, không lơ là chểnh mảng công vụ thì cho ngồi canh gác trước cửa các nhà dân chủ, bất đồng chính kiến.

Chó chuyên cắn trộm thì cho đi rông ngoài đường, “đón lỏng” đám người “hay có ý kiến ý cò” với triều đình để đớp vài phát vào mông cho chừa cái tật lắm mồm.

Chó có tài sủa hùa thì cho đi theo các quan lớn trong triều, mỗi bầy dăm con, để sủa hùa theo lời quan mỗi khi phán ra cho có khí thế.

Chó săn loại bẹc giê chuyên chăn cừu trên đồng cỏ thì dành cho nghiệp vụ chống biểu tình, trợ lực Nhân Khuyển trong việc đàn áp đám văn nghệ sĩ và sinh viên học sinh xuống đường.

Chó ngao là loài thính mũi đặc biệt được ngầm phái đi sâu, luồn xa vào quần chúng để ngửi ra bọn “diễn tiến hòa bình” và “hòa hợp hòa giải dân tộc”.

Còn các thứ chó má, chó lác, chó ghẻ được xếp chung vào hạng thứ bét là loài cẩu trệ thì cho đi ngậm phân tươi có trộn dầu nhớt, mắm tôm, đêm đêm đem bỏ trước cửa nhà những người tranh đấu bằng ngòi viết. Vân vân và vân vân.

Kể từ khi Tể tướng Dũng cho thành lập Bộ Khuyển và đích thân chỉ huy, thì đám quân chó cậy có chủ lớn bao che đã làm lắm điều lộng hành, ngang ngược. Chúng muốn cắn, muốn xé ai đều tùy tiện. Có lúc cắn chết cả người. Dân chúng bị chúng ức hiếp cắn càn, lắm khi đang ngồi ăn trong nhà cũng bị chúng xông vào cướp lấy thức ăn … có đưa đơn khiếu kiện nhưng đều vô ích. Chủ của chúng luôn bênh chúng và vất đơn vào giỏ rác.

Người dân vừa bị chó quấy nhiễu lại vừa đóng thuế nặng cho triều đình có đủ tiền để nuôi chúng cho béo nên lòng oán hận ngút trời.

Nhưng oán hận nhiều nhất vẫn là binh lính. Khi chinh chiến thì lính chịu khổ, chịu chết, chó vẫn ung dung ở đàng sau an lành. Trận chiến ở biên giới phía Bắc chống quân bành trướng Bắc kinh, lính chết cả vạn, chó vẫn không sướt da một con. Trận chiến “vì quốc tế vô sản” ở Cam Bố Điạ, lính lại chết hơn vạn nữa, chó vẫn không rụng một cọng lông. Nhưng chó vẫn cứ được biệt đãi vì chó bảo vệ được ngai vàng của triều đình.

Quân bành trướng Bắc kinh vẫn luôn luôn thèm muốn giang sơn nước An Nam nên nhiều lấn tìm cách xâm lấn bờ cõi.

Trong trận chiến biên giới năm Kỷ Mùi và trận hải chiến Hoàng Sa năm Mậu Thìn binh lính vì phẫn hận triều đình đối xử tệ bạc với mình, chỉ chăm lo cho chó nên không có lòng đánh giặc khi thấy giặc vừa tràn tới đã bỏ chạy. Hai lần thua to vua tôi đều run sợ.

Triều đình Hồ muốn giữ vững ngai vàng muôn năm nên xin dâng đất cầu hòa, đã phải cắt đất biên giới từ ải Nam Quan cho đến thác Bản Giốc, ngoài biển thì hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dâng cho Tàu để tránh khỏi bị hỏi tội.

Được đàng chân lân đàng đầu, Bắc kinh nhận thấy triều đình An Nam toàn là bọn hèn nhát, ngu dốt lại quá tham lam chỉ lo vơ vét tài sản và sẵn sàng “bán nước cầu vinh” nên muốn xâm lấn thêm bờ cõi. Bọn chúng cho phát họa một trận chiến qui mô đầy đủ chi tiết hải lục không quân và bộ binh sẽ tấn công An Nam bất ngờ để dạy “bài học thứ hai” nếu An Nam tráo trở, không trung thành với Đại Hán, với khẩu hiệu “một trận chiến là yên” rồi thông báo rộng rãi trên hệ thống truyền thông toàn cầu.

Triều đình Bắc Bộ phủ được tin giật mình kinh sợ lập tức ra lịnh bắt lính để chuẩn bị đi đánh giặc. Dân nước An Nam bỏ trốn, không ai chịu ra lính.

Tể tướng Dũng sai quan phụ trách Bộ Khuyển đi bắt. Trong một lúc bắt được hơn trăm người đem về tra hỏi:
- Vì cớ gì mà các ngươi trốn lính?

Dân đáp:
- Ngài Tể tướng chỉ cần dùng một giống vật cũng đủ đánh nổi quân bành trướng, cần gì dùng đến lũ chúng tôi.
- Vật gì mà đánh nổi được quân giặc?
- Chó săn!
- Chó săn thì đánh giặc thế nào được?
- Chó săn đã không đánh giặc được là loài vô dụng, nay Tể tướng bỏ người hữu dụng mà nuôi dưỡng loài vô dụng, bởi thế dân chúng tôi không phục. Tể tướng có thể bỏ tù chúng tôi chứ chúng tôi nhất định không ra lính.

Tể tướng Dũng bí quá, cùng triều đình họp nhau thương nghị. Hoàng đế Nông Đức Mạnh vốn là con rơi của Hồ Chí Minh, rất ngu si và bạc nhược nhưng lại hám quyền, ngồi làm vì trong tám năm mà nói được mỗi một câu “Bỏ điều bốn là tự sát”, chỉ biết run sợ chứ không nghĩ ra được kế sách nào. Tả vương Nguyễn Minh Triết lại càng tệ hại hơn nữa, vừa ngu vừa bần, khi chu du sang nước Huê Kỳ để chiêu dụ bọn tư bản đổ tiền sang An Nam làm ăn lại mở miệng khoe con gái nước mình vừa rẻ vừa ngon, làm cho dân An Nam tị nạn ở đó xấu hổ, nhục nhã tím cả mặt, ngồi thừ mặt ra hồi lâu mới nói “các đồng chí muốn sao thì tui nhất trí làm vậy”.

Ba Dũng tuy là dân du kích, ít học nhưng tính tình nóng nảy, bộc trực, thấy hai thằng “ngợm” đến giờ phút lâm nguy, thập tử nhất sinh như vậy mà không làm được cái đếch gì bèn nổi giận, sẵn giọng to tiếng:

- Lâu này bọn Tàu khựa vẫn lăm le đòi đất Tây nguyên, nay trước tình hình nguy ngập lửa cháy đến trôn rồi, tui muốn dâng cho chúng bốn tỉnh Tây nguyên là yên bốn cõi, các đồng chí có “quyết” không?

Hai Ngài Mạnh và Triết như đang chết đuối giữa dòng, nghe Ba Dũng đưa ra “sáng kế” cứu tinh như vậy cả hai mừng quá lật đật đưa cả hai tay lên trời miệng hô to:

Quyết! Tui quyết! Thủ Dũng muôn năm! Đồng chí Dũng muôn năm!

Ngày Kỷ Hợi, tháng Canh Tuất, năm Đinh Hợi, Thủ Dũng ký Quyết định số 167 dâng bốn tỉnh Tây nguyên cho Trung Quốc nói thác ra là hai nước Việt –Trung hợp tác khai thác nhôm và tuyên bố rằng đó là “chủ trương lớn của đảng và Nhà nước”.

Cựu đại thần là tướng Giáp đã 99 tuổi, gần đất xa trời, nghe tin vội vàng dâng sớ can ngăn, phân tích rằng đó là vị trí chiến lược tối quan trọng, Tàu chiếm được hành lang Tây nguyên thì coi như là đã chiếm được nước An Nam rồi. Thêm mười nhà khoa học, bác học, học sĩ đều dâng sớ kể rõ mọi sự nguy hại về lâu dài của môi trường sinh thái, dân cư, văn hóa … dưới hạ nguồn sông Cửu Long sẽ bị hủy diệt vì chất độc do khai thác quặng mỏ Bô xít sinh ra, lợi bất cập hại.

Tất cả những bản điều trần can ngăn đó đều bị triều đình Hồ bỏ ngoài tai vì nó có đúng mấy đi nữa cũng không giúp ích trong việc giữ được ngai báu cho mình. Thà mất nước còn hơn mất đảng.
Trung Quốc lấy được Tây Nguyên mà không tốn một giọt máu, một mũi tên, viên đạn, lấy làm mừng rỡ, cho đó thắng lợi lớn nhất từ xưa đến nay bèn đặt tiệc lớn ăn mừng, mời toàn bộ các quan An Nam đến để khao thưởng.

Bộ ba Nông, Triết, Dũng cùng khúm núm trước bệ rồng tung hô vạn tuế Thiên triều, xong đọc lời chúc mừng Đại Hán đã thành công trong việc mở mang bờ cõi.

Hoàng đế Hồ Cẩm Đào mặt rồng hớn hở, rất đẹp dạ, hài lòng, đích thân ban cho “tứ hảo”: láng giềng tốt - bạn bè tốt - đồng chí tốt - đối tác tốt.Vua tôi Bắc Bộ phủ cùng bái lậy tạ ơn rồi cùng nhau trống rung cờ phất, tấu nhạc inh ỏi, cung thỉnh “bảng hạnh kiểm” về nước. Đoạn ra lệnh cho nhân dân tổ chức ăn mừng thắng lợi, nhà nhà phải treo cờ và đốt trầm hương thơm để tỏ lòng tôn kính biết ơn Thiên triều. Lại thêm: Ai trái lệnh hoặc phát ngôn bừa bãi sẽ bị nghiêm trị theo luật hình.

Trung Quốc ngay sau đó đã hối hả đem nhân công hơn sáu vạn vào đất Tây Nguyên lập thành làng xóm để ở và tàn phá hết tất cả rừng cà phê và trà của dân An Nam để khai thác quặng bô xít.
Kể từ đó, nước An Nam bị lệ thuộc vào Trung Quốc hoàn toàn.

Nền an ninh quốc gia luôn bị đe dọa bởi quân bành trướng Bắc kinh. Phía Bắc giáp biên giới, quân Tàu rãi dài suốt bảy tỉnh, tất cả cao điểm đều bị quân Tàu chiếm đóng. Ngoài biển Đông, trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, cờ Trung Quốc bay phấp phới trên các công sự chiến đấu được xây cất kiên cố, tàu chiến Trung Quốc thường trực tuần tra. Trên Tây nguyên, quân Trung Quốc giả dạng thường dân đi khai thác mỏ. Chỉ cần có lệnh tác chiến là sáu vạn dân công sẽ trở thành sáu vạn binh lính thiện chiến.

An Nam ở vào thế ba gọng kìm vây hãm như vậy chỉ sớm muộn đưa tay chịu trói.
Lá đại kỳ đỏ của Trung Quốc vừa mới thêm một ngôi sao vàng nhỏ nữa bao quanh ngôi sao lớn. Ngôi sao nhỏ đó sẽ tượng trưng cho một chư hầu mới đang thần phục. Tuy Trung Quốc Đại Hán không nói rõ chư hầu đó là nước nào, nhưng dân An Nam đều đau đớn nhục nhã, ngậm đắng nuốt cay, hiểu được rằng nước An Nam lại một lần nữa bị con cháu họ Hồ Quí Ly thứ hai “mãi quốc cầu vinh”, cam tâm quì gối, cúi đầu làm nộ lệ cho ngoại bang.

An Nam lại bị Bắc thuộc một lần nữa, lần thứ năm. Sinh linh An Nam lại đồ thán.

Từ đó những tổ chức phục quốc trong và ngoài nước của người An Nam yêu nước lại nổi lên khắp nơi để đánh đuổi quân ngoại xâm.

Nước An Nam lại bắt đầu trường kỳ kháng chiến gian khổ của trăm năm trước.

Người đời nay đọc đến đoạn này vừa cảm thán cho dân tộc điêu linh vừa căm tức cho lũ Việt gian cõng rắn cắn gà nhà, trợn mắt, bậm môi, nghiến răng bình rằng:

Vệ Ý công nước Vệ vì mê chơi chim hạc đến nỗi giang sơn bị quân Bắc Địch xâm lăng giày xéo nhưng giờ phút chót cũng còn biết lắng nghe lời dân mà tỉnh ngộ, đuổi hết chim hạc đi, rồi đem thân mình ra trận liều chết với quân giặc để tạ tội với muôn dân. Hành động và nhân cách của Vệ Ý công vẫn đáng được cho người đời sau ngưỡng mộ.

So với bọn vua quan triều đình họ Hồ nước An Nam lúc nắm quyền bính chỉ biết hà hiếp dân, tham lam vơ vét của cải cho đầy túi tham, lúc giặc vây ba bề, bốn phía đã không chịu nghe lời của dân mà lại ôm chặt lấy bầy chó săn cốt chỉ để bảo vệ ngai vàng, cuối cùng đám chó săn cũng không giúp được gì đành phải đem đất nước dâng cho giặc để cầu an bản thân thì nhân cách bọn chúng thua xa Vệ Ý công lắm lắm. Bọn phản quốc này đáng tội chém ngang lưng cả chín họ và ghi vào sử sách để cho người đời phỉ nhổ muôn đời.

Nguyễn Thanh Ty

Hai Chữ Danh Dự - Lê Văn Ân

Lê Văn Ân

Ngày 24 tháng 6 năm 2009, Cục Lưu Trữ Quốc Gia Hoa Kỳ cho công bố một đoạn băng ghi âm cuộc đối thoại giữa Tổng Tống Hoa Kỳ Richard Nixon và Henry Kissinger cho thấy mặc dù đã cam kết bảo vệ chính phủ VNCH, nhưng trong những cuộc nói chuyện riêng tư, vị Tổng Thống Hoa Kỳ này lại cho biết ông sẵn sàng “cắt đầu” cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nếu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không chịu ủng hộ hiệp định hòa bình Paris năm 1973. Theo tin AFP thì trước lúc tuyên thệ nhậm chức nhiệm kỳ 2, Tổng Thống Nixon đã điện thoại cho ông Kissinger lúc đó là trợ lý thân cận của Nixon, yêu cầu ông này gây áp lực lên Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu buộc ông Thiệu phải ký hiệp định Paris. Ông Kissinger lại muốn nói chuyện với ngoại trưởng Trần Văn Lắm vì ông cho rằng ngoại trưởng Lắm là người “đần độn” và sẽ chẳng làm được gì. Ông Nixon đã yêu cầu ông Kissinger nói với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu rằng quốc hội Hoa Kỳ sẽ cắt viện trợ cho miền Nam Việt Nam nếu Việt Nam không ủng hộ hiệp định Paris. Nguyên văn lời của ông Nixon là: “Tôi không biết liệu những lời đe dọa đó có đủ mạnh hay không, nhưng tôi sẽ làm bất cứ điều gì kể cả cắt đầu ông ta nếu cần thiết”.

Cũng qua những đoạn băng vừa được tiết lộ thì cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã cho rằng Hoa Kỳ không giữ lời hứa bảo vệ Saigon 1975.

Khi tiếp xúc với ngoại trưởng Trần Văn Lắm, ông Richard Nixon còn nói ông “hứa sẽ làm mọi thứ có thể, để hỗ trợ cho Việt Nam Cộng Hòa và điều quan trọng cần phải nhớ là “chúng tôi biết ai là những người bạn”. Theo ông Ken Hughes, một chuyên gia về ông Nixon của đại học Virginia thì “ông Nixon muốn đạt được thỏa thuận này vì nó có thể cho ông thời gian một hoặc 2 năm giữa thời điểm ông rút quân hoàn toàn và cũng là thời điểm thắng lợi của phe Cộng Sản. Và điều này sẽ khiến cho người ta nghĩ rằng việc sụp đổ miền Nam là do chính Việt Nam gây nên”. Theo ông Ken Hughes thì ông Nixon “ăn ở 2 lòng với miền Nam Việt Nam”.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đã nhiều lần cho rằng làm đồng minh của Hoa Kỳ rất khó, làm kẻ thù của Hoa Kỳ còn dễ hơn hoặc “Hoa Kỳ phản bội chúng tôi”. Một tài liệu khác cũng cho biết Tổng Thống Nixon đã gởi cho Tổng Thống Thiệu một bức thư đe dọa sự kiện năm 1963 sẽ tái diễn nếu Tổng Thống Thiệu không chịu ký hiệp định Paris.

Qua những sự kiện nêu trên, chúng ta thấy Nixon đã từ bỏ danh dự của một Tổng Thống Hoa Kỳ trước khi phải từ chức vì không muốn bị truất phế - một cách bị lột danh dự, một “nghiệp báo nhãn tiền”, y như 3 anh em nhà Kennedy đã bị quả báo, hai chết một sống không bao giờ ra ứng cử Tổng Thống Hoa Kỳ – dù cho đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên – khi giết 3 anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm chỉ vì họ muốn tự quyết vận mạng dân tộc họ. Nhưng nếu Nixon mất danh dự thì danh dự của Quân Lực và dân chúng VNCH càng sáng chói, cái huyênh hoang của Việt Cộng khi chúng gọi là đã chiến thắng chúng ta chỉ là cái huyênh hoang của tên tiểu nhân, một bên được viện trợ đầy đủ gấp 4 lần bình thường, một bên bị tước đoạt tất cả đạn dược, quân trang quân dụng. Chẳng khác nào tay không đánh với kẻ có vũ khí. Danh dự, Trách Nhiệm, Tổ Quốc của người lính Việt Nam Cộng Hòa ngày càng sáng chói. Cái cần thiết là tất cả người dân Việt Nam, quân cũng như dân phải làm sao để niềm hãnh diện vì đã tận trung báo quốc một lần nữa lại sáng chói khi phải chống lại chế độ Cộng Sản.

Ngày nay, đứng trước kẻ thù tàn độc là Việt Cộng, người dân Việt Nam phải làm gì? Bài viết “Phật Giáo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” của Thầy Thích Tánh Hải, Chủ trương Tự Do Tôn Giáo Hay Là Chết của linh mục Nguyễn Văn Lý là hai bài học quý báu, nếu áp dụng vào thực tế có thể cứu được dân Việt Nam qua cơn ngặt nghèo sinh tử hiện nay.

Thầy Thích Tánh Hải viết: “Không thể có ở bất cứ nơi nào trong tàng thư Phật Giáo, trong Đại Tạng Kinh nhà Phật để tìm thấy dấu tích về một loại hình giáo lý quay lưng trước khổ đau của đồng loại. Cũng không thể tìm đâu ra loại hình văn học thánh giáo để tư duy con đường đi đến giác ngộ bằng sự vô cảm trước sự thống khổ của chúng sinh. Trái lại, con đường của Đạo Bồ Tát để bước lên quả Phật là phải xả thân cứu đời, lấy cứu khổ, độ sinh trang nghiêm Thánh giáo ... Thế nhưng ngày nay có không ít kẻ hình tướng Tăng Bảo mà tâm phò Ác Quỉ, luôn miệng cổ võ loại hình học thuyết thuần túy … nọ kia theo kiểu “mũ ni che tai”, mặc cho hơn 80 triệu đồng bào đang bị đọa đày dưới ách bạo tàn XHCNVN”.

Thầy Thích Tánh Hải đã vạch rõ liều thuốc ngủ của Việt Cộng đối với Phật Giáo “TU HÀNH THUẦN TÚY” là một độc dược giết chết Giáo Hội Phật Giáo, Thầy viết: "Con bài “Tu hành thuần túy”, chiến lược tách quần chúng ra khỏi GHPGVNTN của Cộng Sản. Sau vụ Nhất Hạnh, âm mưu mọt cuộc “Đảo Chánh” GHPGVNTN không thành, XHCNVN chuyển sang chiêu thức mới: Con bài “tu hành thuần túy”. Chiêu thức nổi bật trong chiến lược nầy đó là mô hình Hồ tặc ngồi chung bàn với Đức Phật … Kêu gọi Tu Hành Thuần Túy trong mùa Pháp nạn, thật lạ chưa … Ai đời nhà cháy không lo chữa lại đi trang trí nội thất, thật là vớ vẩn đến hoang tưởng hết chỗ nói… tu hành thuần túy, làm văn hóa thuần túy xa rời đấu tranh giải trừ pháp nạn với quốc nạn, đó chính là cái loa tôn giáo vận, cái kiểu tuyên truyền của đảng CS.”

Thầy Thích Tánh Hải trong bài này đã vạch ra cho mọi người thấy Cộng Sản đang ru ngủ, đang đưa Tăng Ni vào con đường Mũ Ni Che Tai, không lý đến đau khổ của đồng bào. Đó là con đường không tìm thấy trong Đại Tạng Kinh Nhà Phật.

Trong khi đó, cách nay 9 năm, linh mục Nguyễn Văn Lý đã “Thống thiết và tha thiết kêu gọi: cho đến khi nhà nước CSVN thay đổi toàn bộ chính sách đối với các tôn giáo tại VN và Hội Thánh Công Giáo VN được hoàn toàn tự do thì: kính xin Đức Hồng Y, các TGM, GM trong HĐGMVN từ nay không họp chung nữa… vì họp mà không thể nào nói được những điều lương tâm đòi hỏi phải nói thì thà đừng họp… đừng đi tham dự các Hội nghị quôc tế… đừng xin phép bất cứ điều gì mà tự bản chất, Giáo hội lẽ ra được phép làm đúng chức năng của Giáo Hội mà không cần phải xin phép bất cứ quyền năng trần gian nào. Như việc trao ban chức Linh mục, việc bổ nhiệm các linh mục, …”. Ý của linh mục Nguyễn Văn Lý rất rõ ràng, không vì những cái bề ngoài mà phải quỵ lụy Việt Cộng. Cứ thi hành những gì mà Giáo Hội thấy cần làm, cứ làm, đừng để Cộng Sản xen vào những việc của Giáo Hội. v.v… Tiếc thay, linh mục Nguyễn Văn Lý đã bị chính các Đấng Bề Trên của ngài phê phán là làm chính trị, là qua mặt Bề Trên. Và cho đến hôm nay, linh mục Nguyễn Văn Lý lại phải vào tù Việt Cộng để chứng minh cho Bề Trên thấy dù có gian lao, dù có bị tù hãm, dù … chết (Tự do tôn giáo hay là chết) cũng không im lặng hay nói lời ủng hộ Việt Cộng khi ra nước ngoài, vì được làm nhà thờ, đi ngoại quốc, phong chức với sự đồng ý của Việt Cộng, chưa kể phải chia chác những gì mình thu lượm được với Việt Cộng. Nhất là nhắm mắt trước những tệ đoan xã hội do chính sách bóc lột tàn tệ của Việt Cộng, nhắm mắt làm ngơ trước sự đàn áp dã man con chiên, cướp đoạt tài sản Giáo Hội v.v… Đây cũng là một lối sống tôn giáo thuần túy.

Ngày hôm nay, giặc Tàu công khai xâm lấn bờ cõi, ngư phủ bị cấm ra khơi, người Thượng, người Kinh Cao Nguyên Trung Phần sẽ lần lượt bỏ đất mà đi, y như dân Do Thái ngày xưa. Hội Đồng Giám Mục, Tăng Ni thực hành “tu hành thuần túy, không làm chính trị” để con chiên, Phật giáo đồ cho Cộng Sản Việt Nam rồi Cộng Sản Tàu hành hạ, trấn lột, miễn các ngài yên ổn tu hành, đi ngoại quốc kiếm tiền.

Đã đến lúc lãnh đạo tôn giáo phải nhìn rõ đâu là Thánh Ý Chúa, đâu là Cứu Khổ Cứu Nạn, đâu là mảnh đất dung dưỡng bao nhiêu đời cha ông và đến đời mình. Nay sắp mất về tay người, hai chữ Việt Nam sẽ biến mất trên bản đồ thế giới. Nhưng liệu Việt Cộng có để cho quý vị bình yên để “tu hành thuần túy” hay không? Liệu không làm chính trị thì Việt Cộng có để cho quý vị bình yên không? Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đã lấy làm xấu hổ khi thông hành ghi tên Việt Nam vì cán bộ Cộng sản VN khi đi ra nước ngoài đã buôn lậu, ăn cắp, không giữ vệ sinh và lịch sự tối thiểu. Mai này mất nước các ngài đi ra ngoại quốc sẽ gặp những ánh mắt tương tự các ngài nghĩ suy thế nào?

Một tin đồn đang lan dần trong các cộng đồng: Việt Cộng sẽ không cho Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt trở về Việt Nam! Nếu trường hợp đó xảy ra, Đức Hồng Y, Hội Đồng Giám Mục sẽ có phản ứng ra sao? Hay là quý ngài không làm chính trị, có nghĩa là không can thiệp vào việc Đảng và Nhà Nước? Trước khi là người Công Giáo (sinh ra 3 ngày mới rửa tội), các ngài đã là người Việt Nam, quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách.

Xin hãy bảo tồn 2 chữ DANH DỰ cho người Việt Nam, cho đất nước Việt Nam.

Lê Văn Ân

Tôn Giáo Trong Vai Trò Tranh Đấu Tự Do Dân Chủ Và Nhân Quyền Cho Việt Nam - Đinh Lâm Thanh

Đinh Lâm Thanh

Hôm nay tôi xin trình bày đề tài: ‘Tôn giáo trong vai trò tranh đấu Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền cho Việt Nam’. Có thể nói, đây là một đề tài hơi nhạy cảm và phải thận trọng khi trình bày để tránh việc ngộ nhận của thính giả, tránh việc đáng tiếc của một vài vị xử dụng quyền tự do ngôn luận để chuyển đề tài qua một chiều hướng khác. Vậy xin thông cảm về những điểm mà tôi muốn lướt qua cũng như xin đừng đặt những câu hỏi có dụng ý chỉ trích cá nhân hay các vị lãnh đạo tinh thần mà xin chú trọng một cách tổng quát về vai trò của tôn giáo trong việc tranh đấu dành tự do dân chủ và nhân quyền cho đất nước Việt Nam. Tôi cũng xin phép không trả lời những câu hỏi cố ý dẫn đến việc chỉ trích cá nhân hay hành động cá nhân, nhất là của những vị lãnh đạo tinh thần, để cuộc thảo luận hôm nay đạt được kết quả một cách trung thực, là tất cả chúng ta đều mong muốn các tôn giáo dấn thân một cách tích cực hơn nữa để làm đầu cầu cho giới trẻ và các phong trào tranh đấu tại Việt Nam sớm hoàn thành nhiệm vụ.

Kính thưa Quý Vị,

Tôn giáo là kẻ thù không đội trời chung với cộng sản, Cộng sản chủ trương vô thần vì chúng cho rằng tôn giáo là một loại thuốc phiện dùng để mê hoặc tín đồ. Một cách nói gian trá để che đậy một thực thể mà cộng sản rất lo sợ trước sức mạnh của tôn giáo. Lý do là người có tôn giáo thì đặt niềm tin vào Phật, vào Chúa, vào các Đấng Linh Liêng và tuân lời của các vị lãnh đạo tinh thần. Một mặt cộng sản chủ chương vô tôn giáo, diệt bỏ tất cả niềm tin vào các đấng linh thiêng nhưng mặt khác chúng lại dựng lên những huyền thoại chung quanh lãnh tụ để ru ngủ quần chúng và tạo sự ngưỡng mộ bắt người dân phải tôn thờ như các vị thần thánh. Điều nầy chúng ta không lấy làm lạ từ những tên đồ tể Marx, Lê, Mao, Castro đến Hồ đều được chúng thổi phồng, đánh bóng thành những vị thánh, cha già dân tộc rồi dựng tượng, đưa lên bàn thờ bắt dân chúng bái lạy từ lúc còn sống cho đến khi đã nằm yên trong lòng đất.

Cộng sản sợ tôn giáo vì chính tôn giáo là môi trường mà cộng sản khó xâm nhập và phát triển được. Trường hợp các xứ theo Hồi giáo, với lòng sùng đạo và tín hữu tuyệt đối trung thành với giáo chủ thì không bao giờ cộng sản có thể xâm nhập vào những quốc gia nầy. Cũng như trường hợp Tây Tạng, Tàu cộng đã dùng vũ lực cưởng chiếm xứ nầy, vị lãnh đạo tinh thần phải ra xứ ngoài lánh nạn nhưng các cuộc chống đối của dân chúng và sư sải vừa bất bạo động vẫn liên tục xảy ra từ trong nước ra đến hải ngoại. Điều nầy chứng minh cho chúng ta thấy, sức mạnh tôn giáo là một trở ngại cho việc xâm nhập và phát triển cộng sản.

Đối với Việt Nam là một quốc gia có thể nói rằng dân chúng gần như hoàn toàn theo một tín ngưỡng nào đó. Không Phật Giáo thì Công giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài hay thờ Tổ Tiên, bách phân người có tín ngưỡng lên đến gần 95% trong tổng số dân chúng nhưng tại sao đất nước của chúng ta lại rơi vào tay vô thần cộng sản ? Tôi xin thưa, tất cả người Việt Nam chúng ta đã bị cộng sản bịp kể từ lúc chúng đội lốt tôn giáo để đánh phá Việt Nam thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà, cũng như năm 1975, vào cướp nước và cho đến tận ngày nay, năm 2009, chúng ta vẫn bị cộng sản chúng nó lừa bịp bằng những trò tôn giáo quốc doanh. Tôi nói bị bịp, vì mãi đến hôm nay, nhiều người từ trong nước cho đến hải ngoại vẫn còn ủng hộ, tiếp tế và nuôi dưỡng đám tôn giáo quốc doanh.

Nhiều người vẫn lầm tưởng cộng sản đã phản tỉnh biết ăn năn hối cãi bằng hình thức lập bàn thờ Phật và nuôi sư nữ ngay tại trong nhà (như trường hợp Lê Khả Phiêu) hoặc đúc tượng quỷ Hồ bằng vàng, đặt ngang hàng với Đức Phật trong chùa để cho khách thập phương mua vé vào thăm viếng (Chùa ở Bình Dương). Mai đây không biết ông cha quốc doanh nào vâng lệnh cộng sản đưa hình quỷ Hồ vào nhà thờ để cho tính hữu đến cầu nguyện nữa không, đó mới là điều cần phải cảnh báo với tất cả mọi người từ trong quốc nội ra đến xứ ngoài.

Tôn giáo và cộng sản là hai thái cực đối đầu nhau. Trong một quốc gia, nếu tôn giáo mạnh thì không có cộng sản, ngược lại nếu cộng sản mạnh thì sẽ không còn tôn giáo. Nhưng tại sao ở Việt Nam, một quốc gia với trên 95% dân chúng theo tôn giáo mà cộng sản vô thần ngự trị trên đất nước chúng ta đã trên 60 năm (miền Bắc) và trên 34 năm (miền Nam). Hơn nữa các tôn giáo vẫn bành trướng từ Nam chí Bắc với hình ảnh nhà thờ chùa chiềng mọc lên như nấm cũng như các giáo hội Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo vẫn hoạt động bên cạnh bạo quyền Hà Nội ? Đó là cộng sản Việt Nam đã kịp thời thay đổi chiến lược, che giấu chủ trương ‘vô tôn giáo’ cố hữu của chúng bằng hình thức đẻ ra những giáo hội quốc doanh nằm dưới sự điều động của Mặt Trận Tổ Quốc. Mục đích trước tiên để chứng minh với thế giới rằng Việt Nam cộng sản có tự do tôn giáo và sau nữa để bịp người dân, đồng thời xử dụng thành phần Cha Cố Sư Sải quốc doanh để trấn áp các thành phần tôn giáo nguyên thủy. Phải thành thực nói rằng cộng sản đã thành công một phần nào trong việc dàn dựng những công cụ tôn giáo để phục vụ một cách đắc lực cho chế độ. Thành phần quốc doanh nầy chẳng những nắm phần chủ động lèo lái các tôn giáo trong nước mà còn bành trước ra hải ngoại để tuyên truyền và phá hoại cộng đồng, trong đó thành phần lãnh đạo tinh thần đa số là những đảng viên cộng sản chính hiệu. Việc giáo dân, tín đồ gom góp tiền đưa về xây nhà chùa, nhà thờ thì cũng nằm trong chiều hướng khuếch trương các cơ sở tôn giáo màu mè cho cộng sản, tiền do các nơi thờ phượng trước sau gì cũng chui vào túi chế độ thì những hình thức bên ngoài không quan trọng, mà điểm chính là, tín đồ còn tin tưởng vào giới lãnh đạo tinh thần của mình hay hoặc còn một lòng sùng đạo hay không, khi khám phá ra giới lãnh đạo tôn giáo quốc doanh là những hạng người không xứng đáng … thì tinh thần giữ đạo trong người cũng sẽ chắc chắn mai một. Cộng sản Việt Nam luôn luôn lo ngại vấn đề tôn giáo và sự đồng nhất của tín hữu của các tôn giáo do đó, một kế hoạch nhằm chia rẽ giữa tôn giáo nầy với tôn giáo khác đã và đang xuất hiện nhằm đánh pha lẫn nhau. Ngoài ra có những thành phần chuyên nghiệp chuyên đánh phá các tôn giáo một cách công khai cũng là một trong những kế hoạch triệt tiêu tôn giáo ở Voệt Nam.

Lý do chính mà cộng sản lo sợ, nếu có sự đoàn kết chặt chẻ, nghĩa là có sự kết hợp tôn giáo, thì đây là nguy cơ cho chế độ vì tôn giáo là một thực thể có đủ các điều kiện về nhân lực, về đoàn kết, sự trung thành với chủ chăn và tinh thần đạo giáo thì dủ kẽm gai, súng đạn hay nhà tù cũng không thể nào cản đường những ccuộc xuống đường của con chiên, Phật tử v..v..

Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng, sức mạnh Thiên Chúa Giáo đã đánh sập chế độ cộng sản Ba Lan rồi kéo theo nguyên cả khối đỏ Đông Âu-Châu từ bỏ cộng sản trong cuối thế kỷ vừa qua. Lịch sử Việt Nam cũng đã chứng minh, cộng sản phải dùng bàn tay Phật giáo để trực tiếp để giết chết nền Cộng Hòa Thứ Nhất và còn gián tiếp giúp cho cộng sản thôn tính một cách dễ dàng miền Nam, thì bây giờ chúng vẫn lo ngại tôn giáo là nguyên động lực có thể kết thúc chế độ bất nhân tàn bạo của chúng trong một ngày gần đây. Hơn nữa, bài học vùng dậy của người Tây Tạng, là một quốc gia Phật giáo, mà chính Đức Đạt Lai Lạt Ma là người lãnh đạo tinh thần đang sát cánh cùng dân chúng trong cuộc tranh đấu từ bất bạo động đến bạo động. Sự nổi dậy của dân Tây Tạng đã phơi bày cho thế giới thấy được âm mưu thâm độc trong chương trình diệt tôn giáo và bành trướng thế lực cộng sản tại Đông Nam Á. Cộng sản Việt Nam đang lo sợ sự nổi dậy của tôn giáo trong nước với sự yểm trợ của cộng đồng người Việt hải ngoại cũng như cả thế giới tự do, do đó chúng phát triển tối đa các tổ chức tôn giáo quốc doanh nhằm bưng bít sự thật và lừa bịp thế giới cũng như những người Việt ít theo dõi tình hình chính trị tại quê nhà.

Đối với tôi, tất cả hành động nào nhằm mục đích tranh đấu tìm tự do no cơm ấm áo cho người dân trong nước và mục đích dùng làm cũng vũ khí nhằm giải thể chế độ cộng sản đều nên cổ võ hoan nghênh. Nhưng ngược lại có những trường hợp lợi dụng các hình thức tranh đấu để mưu cầu lợi ich riêng tư cá nhân, bè nhóm phe đảng thì cần phải xét lại để công cuộc tranh đấu có ý nghĩa và tốt đẹp hơn. Tôi nhận thấy gần đây có một vài trường hợp đưa Chúa Phật xuống đường trong các cuộc biểu tình là những hình ảnh không được đẹp mắt, mất tính cách thiêng liêng của tôn giáo dưới con mắt người nước ngoài. Họ không thể hiểu được một cuộc biểu tình lại đem các đấng Tối Cao ra giữa đường để chứng kiến những hình ảnh không đẹp mắt, nghe những tiếng la hét, hoan hô đá đảo mà theo tôi nên tổ chức những buổi cầu nguyện trong chùa, nhà thờ hay trong các cuộc lễ lớn như…tổ chức cầu cho quốc thái dân an ở những vị trí trang trọng trong thành phố. Vẫn biết đây có thể là một hình thức cầu nguyện mới do các vị lãnh đạo tinh thần chủ xướng, nhưng qua tay lèo lái của những con buôn chính trị, những lần cầu nguyện đuợc lồng vào trong các cuộc biểu tình chính trị thì lại trở nên mất trang nghiêm làm buồn lòng tín đồ cũng như giáo hữu. Hơn nữa, hành động đưa bàn thờ xuống đường nhắc chúng ta nhớ lại thời kỳ đen tối vào năm 1966, khi Thích Trí Quang đưa Phật xuống đường để cản chân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đang truy lùng những tên cộng sản lẫn lộn trong các đám biểu tình.

Một chuyện đau buồn nữa là gần đây giáo dân Việt Nam đứng lên đòi bạo quyền Hà Nội phải trả lại đất đai cho giáo hội công giáo, tình hình tranh đấu đang lên đến cao điểm với sự ủng hộ của các tôn giáo bạn cũng như dư luận nước ngoài thì cuộc biểu tình phải dẹp bỏ theo lời khuyến cáo của Vatican. Tôi nghĩ rằng đây là một cuộc tranh đấu của người công giáo mở đường cho các tổ chức khác nối tiếp để rồi bùng nổ và chấm dứt chế độ vô thần tàn bạo cộng sản. Nhưng tất cả mọi người đều lấy làm tiếc vì Vatican đã bị cộng sản lừa cho một vố lớn với những lời hứu hưu hứa vượn. Cộng sản đã nuốt lời và lợi dụng việc qua mặt được Vatican, chúng trở nên thô bạo hơn ra tay đàn áp người dân biểu tình đồng thời dùng công cụ san bằng mảnh đất của nhà chung để làm công viên và khu giải trí thành phố. Nếu vị Giáo Hoàng tiền nhiệm còn sống thì tình trạng tranh đấu tại Việt Nam, nếu không đạt được mục đích tối hậu lật đổ được chế độ cộng sản, thì cũng làm cho chúng biết mùi thất bại và không bao giờ dám đụng đến bất cứ một tôn giáo tại Việt Nam.

Trở về vai trò của tôn giáo trong cuộc tranh đấu dành tự do dân chủ nhân quyền cho Việt Nam hiện nay, tôi nghĩ rằng đây là một điều tối cần thiết và thật cấp bách. Nhiều vị lãnh đạo tôn giáo đã can đảm chịu tù đày, bất chấp quản thúc nhưng chưa đủ hiệu lực để thuyết phục và thúc đẩy toàn dân đứng dậy. Điều cần thiết là tất cả các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo phải đồng loạt dấn thân xuống đường bên cạnh Phật tử, con chiên để làm đầu tàu cho các cuộc tranh đấu. Tùy theo thời điểm cũng như hoàn cảnh, những hình thức tranh đấu có thể uyển chuyển nhưng phải nhiệt tình và liên tục hướng dẫn tín đồ và Phật tử đi đúng hướng để tiếp tay với tuổi trẻ, người lao động cũng như toàn dân Việt Nam. Chỉ có những tổ chức tôn giáo là nơi tập hợp con chiên Phật tử biết tuân lời vị lãnh đạo tinh thần một cách tuyệt đối, sống chế vì đạo. Chính các tổ chức tôn giáo mới có một sức mạnh đáng kể để có thể đánh gục bạo quyền cộng sản. Chính các tổ chức tôn giáo mới có một sự đoàn kết vững chắc và bền bĩ thì mới đủ khả năng tạo một cuộc cách mạng cho tự do tôn giáo, tự do dân chủ và nhân quyền. Người Việt đang trông chờ các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo vì chính các vị nầy chính là những chiến sĩ đầu đàn cho công cuộc tranh đấu của toàn dân.

Một điều đau buồn cho dân tộc Việt Nam, cộng sản đã âm mưu đào tạo một số lãnh đạo tinh thần theo kiểu quốc doanh, nghĩa là chỉ biết phục vụ chế độ. Chúng ta tôn trọng những vị chân tu vì họ đã dứt bỏ được những cái Tham-Thâm-Si tầm thường của con người để dấn thân vào con đường tu hành khổ hạnh, tìm hạnh phúc tinh thần vĩnh cữu cho cá nhân và phục vụ tín đồ giáo hữu đi theo con đường đạo pháp. Nhưng khi một vị tu hành nào chẳng những chưa dứt bỏ được những cái tầm thường mà còn tham thâm si hơn người phàm tục, trở thành con buôn tôn giáo, xem trọng vấn đề vật chất cũng như chủ tâm chạy theo bạo quyền cộng sản để an thân phì gia thì người Việt quốc gia phải dứt khoát loại bỏ thành phần nầy ra khỏi cộng đồng để khỏi ô uế đạo pháp cũng như nơi thờ phượng, đồng thời đây cũng là giải pháp để diệt ngay cai mầm mống cộng sản đang dùng lốt tôn giáo để mị dân, che mắt thế giới và củng cố quyền lực của chúng. Chúng ta đánh cộng sản mà đi nuôi dưởng, ủng hộ và thành phần lãnh đạo tôn giao đòi hỏi lập gia đình, buôn Chúa bán Phật, rồi vui vẻ đóng góp tiền của để nuôi dưởng thành phần nầy thì chính là giúp cho chế độ cộng sản. Sở dĩ tôi nói như vậy vì cộng sản tạo ra các hình thức tôn giáo quốc doanh không ngoài mục đích là để phá hoai chúng ta. Điểm quan trọng cần phải hiểu âm mưu của cộng sản : Chúng dựng lên các giáo hội quốc doanh với những thành phần buôn thần bán thánh, làm những chuyện ác đức, phá nát tinh thần đạo giáo, kiếm tiền kinh doanh không ngoài mục đích để cho tín đồ giáo hữu nhận thấy những nhà lãnh đạo tôn giáo đều bất xứng…tín đồ giáo hữu sẽ ghét cha, khinh thầy. Từ đó sẽ xa dần nhà thờ, tránh đến chùa lạy Phật thì đã con chiên Phật tử đã vào đúng quỹ đạo phá tôn giáo do cộng sản dàn dựng. Chúng không cần lên tiếng ngăn cấm tín hữu đến nhà thờ, cản trở tín đồ đến chùa mà chỉ cần những hình ảnh xấu xa của sư cha quốc doanh cũng đủ làm cho con chiên tín đồ chán nản và xa dần với tôn giáo của họ. Đó là âm mưu diệt tôn giáo của cộng sản.

Xin chân thành cám ơn Quý Vị
Đinh Lâm Thanh
Paris, 30 Juin 2009