Saturday, June 6, 2009

Giáo xứ An Bằng kiên trì đấu tranh bảo vệ Công lý! - Nhóm Phóng viên FNA

Đấu tranh cho Tự do Tôn giáo tại Huế

Bản tin ngày 06-06-2009

Giáo xứ An Bằng kiên trì đấu tranh bảo vệ Công lý!

Lm Nguyễn Hữu Giải

I. Ký sự của Linh mục Quản xứ Nguyễn Hữu Giải

· 27-02-2009: 18g, tôi nhận được văn thư thông báo của xã Vinh An, đề ngày 27-02-2009, số 15/TB-UBND, do ông chủ tịch Phạm Bình Tịnh ký. Thông báo cho chúng tôi biết xã đã khảo sát và chọn 5 vị trí đất và yêu cầu chúng tôi chọn một trong năm vị trí đó để dựng đài lễ giáp An Bắc. Khi chọn xong, chúng tôi sẽ đến xã để được hướng dẫn lập hồ sơ, chậm nhất vào ngày 02-03-2009. Các vị trí đất là của các ông đang trồng dương liễu, keo, tràm hoa vàng: ông Lê Bền, ông Lê Chế, ông Lê Đạt, ông Lê Liễn, ông Văn Công Chính.

Trước đó, ngày 20-02-2009, các ông trong HĐGX An Bằng được mời vào xã “làm việc”. Các ông đã trình với xã là không dám chọn vị trí nào vì sợ hậu họa giữa giáo xứ và con cháu người đang sử dụng đất, dù xã nói đất xã quản lý.

· 02-03-2009: Giáo xứ gởi UBND xã thư phúc đáp đề ngày 01-03-2009. Giáo xứ không nhận vị trí nào vì muốn tránh hậu quả tranh chấp sau này và muốn xây dựng đài lễ trên thửa đất Giáp đã thờ phượng Chúa lâu nay

Nhiều lần Giáp và Giáo xứ đã trình bày với xã huyện rằng đất của Giáp có từ 1961 và đã liên tục sum họp thờ phượng Chúa cho tới nay. Vì chiến tranh và chưa thuận tiện nên mãi đến năm 2007, Giáp mới có kế hoạch xây dựng đài lễ cố định và đã làm đơn xin phép xây dựng một Thánh Giá, một bàn thờ và một tượng Thánh Tâm. Bỗng nhiên xã huyện buộc tội chiếm đất thuộc rừng phòng hộ biển! Đất chúng tôi thuộc diện xã quản lý trong thời điểm nào?

· 04-03-2009: Ông Văn Đình Trung, ông Lê Lượng, ông Nguyễn Thanh thuộc HĐGX An Bằng bị mời vào xã “làm việc” về quyết định chọn vị trí đất.

Các ông là những vị cựu trào của địa phương, biết rõ chủ những thửa đất này trước đây có làm nhà ở hoặc canh tác, về sau vì hoàn cảnh đi sinh sống nơi khác nhưng cũng ở trong làng và trồng cây lưu niên trước 1975.

Các ông trình bày: chúng tôi thấy có rất nhiều nhà ở, hồ nuôi tôm, công trình phường khóm nằm sát biểm hơn đài lễ giáp An Bắc. Suốt vùng cát duyên hải từ đèo Ải Vân đến Thuận An, nhiều làng ở sát biển. Nếu những làng mạc, cơ sở, công trình ấy thật sự thuộc rừng phòng hộ biển thì chắc chắn phải di dời hết. Đó là chưa kể bao nhiêu rừng dương liễu nằm giữa An Bằng và Thuận An đã bị nhà cầm quyền tỉnh -từ hơn 10 năm nay- cho các “công ty khai thác titan” chặt phá, bứng gốc để đào cát lấy thứ quặng này !?!

· 12-03-2009: Theo giấy mời của UBND huyện Phú Vang, tôi đến tại văn phòng UBND huyện làm việc về thủ tục cấp đất làm đài lễ giáp An Bắc. Ông chủ tịch UBND huyện Phan Văn Quang xác nhận đất Động Bồ huyện định giao cho Giáo xứ làm đài lễ bị trở ngại vì làng An Bằng có kiến nghị không bằng lòng, hơn nữa giáp An Bắc không chịu nhận. Nay huyện đề nghị 5 vị trí đất khác, yêu cầu tôi chọn 1 trong 5.

Tôi trình bày: giáo xứ không thể chọn vị trí nào vì những thửa đất này đã có chủ sử dụng. Ông chủ tịch kết tội tôi cố tình nêu lên những lý do vu vơ để không chịu tháo dỡ Thánh Giá, bàn thờ ở đài lễ khỏi đất thuộc rừng phòng hộ biển do xã quản lý.

Một cán bộ khác cũng phụ họa, nêu đủ thứ lý do để kết án tôi vi phạm luật pháp, thậm chí chống lại Chúa vì “đi ngược lại ý dân” là đi ngược ý Chúa !?!

Ông chủ tịch ra lệnh cho ông chủ tịch xã Vinh An Phạm Bình Tịnh và cho tôi phải tìm một vị trí đất nào không thuộc tư nhân để trình lại cho huyện, hạn chót là 20-03-2009.

Trong biên bản làm việc, tôi ghi lại nguyện vọng của giáo dân là tiếp tục làm đài lễ tại thửa đất hiện chúng tôi đang thờ phượng Chúa, dù rộng hẹp.

Buổi làm việc kéo dài từ 9g đến 10g30.

· 20-03-2009: Chúng tôi nhận được văn thư của UBND huyện Phú Vang số 183/UBND-ĐĐ đề ngày 19-03-2009 do ông phó chủ tịch Dương Văn Ngọc ký.

Huyện vẫn cho rằng diện tích đất chúng tôi làm đài lễ là đất chiếm lấy từ rừng phòng hộ biển do xã Vinh An quản lý và “yêu cầu Hội đồng Giáo xứ An Bằng, giáp An Bắc tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc đã xây dựng trái phép theo công văn của UBND xã Vinh An”.

Giáo dân tiếp tục sum họp đều đặn mỗi ngày trước Thánh Giá đài lễ giáp An Bắc, nhất là trong Mùa Chay này để sốt sắng cầu nguyện cho công lý, sự thật và tình thương, cho quyền tư hữu đất đai và tự do tôn giáo.

· 28-03-2009: Nhà nước điều động kiểm lâm tỉnh và huyện dùng xe vận tải và xe trâu chuyên chở vật dụng xây dựng nhà ở lên đài lễ giáp An Bắc.

Lúc 21g30, anh Phạm Xuân Tuấn nghe tiếng máy cưa ở đài lễ. Khác mọi đêm, điện chiếu sáng ở các trại gác đài lễ tắt ngúm. Anh Tuấn chạy tới dồn dập hỏi to: “Ai cưa trộm dương?”. Im lặng! Anh la to hơn. Một giọng trong bóng tối đáp lại: “Cán bộ đây!”. Anh Tuấn tức giận: “Cán bộ cưa trộm dương! Ôi chao! Hết nói! Bó tay!”.

· 29-03-2009: Thánh lễ sáng Chúa Nhật, cộng đoàn giáo xứ An Bằng cầu nguyện xin ơn bình an và can đảm đấu tranh cho công lý, sự thật trước kế hoạch mới của nhà nước.

Cán bộ tháo dỡ lều bạt, chuyển sang đào móng nhà cạnh thửa đất đài lễ. Ông Lê Thanh, một ngư dân, tới hỏi cán bộ: “Ai cưa dương cưa tràm của tôi?” Không ai trả lời. Ông đưa chân hất tung mấy ụ lá dương khô, lộ ra mấy gốc cây mới bị cưa. Ông lớn tiếng tra hỏi: “Ai cưa trộm? Ai cưa?” Một ông cán bộ đáp: “Mấy thợ làm nhà cưa!”

- “Các ông lấy quyền chi mà cưa cây của tôi? Mấy cây đã cưa giấu đâu rồi? Trả lại đây cho tôi! Tôi sẽ kiện!”.

Họ đã phi tang bằng cách kéo mấy thân cây xuống khe trũng ở đàng xa. Được biết ngôi nhà này do kiểm lâm tỉnh và huyện làm, gọi là “để bảo vệ rừng xã Vinh An”.

· 30-03-2009: Cán bộ huyện xã tập trung đông đảo làm lễ cúng dựng nhà. Nhà làm bằng gỗ, đã được chuẩn bị sẵn. Chỉ việc lắp ráp vào.

Dân chúng xôn xao. Dọc theo bờ cát vùng duyên hải chẳng có trạm bảo vệ rừng nào. Hình như ở Thuận An chỉ có một chòi canh. Hơn nữa bãi biển An Bằng ít khách du lịch tắm biển. Đã có một đồn lính biên phòng không xa đài lễ Thánh giá bao nhiêu. Rừng dương, tràm do dân biển trồng. Xã chỉ thị người dân nào muốn cưa cây phải làm đơn xin xã cho phép vì xã quản lý.

· 04-04-2009: Như thường lệ, giáo dân họp nhau đọc kinh hát thánh ca trước đài lễ Thánh giá. Cán bộ canh gác mở máy thật to, gây bức xúc cho giáo dân.

Sau buổi cầu nguyện, mệ Tãi Ngoãn, có nhà gần khu vực đài lễ, trách cán bộ không biết tôn trọng người dân. Mệ còn lớn tiếng: “Hết chỗ làm nhà hay sao mà chọn chỗ giữa đài Thánh giá và am phường mà làm? Phải có mắt mà nhìn. Ăn coi nồi ngồi coi hướng!”.

Được biết ngày xưa chính ông Lê Khinh cúng đất cho phường dựng am thờ theo tập tục ngư dân vùng duyên hải. Suốt năm nay, cán bộ đóng hai trại cạnh am để theo dõi đài Thánh giá.

· 06-04-2009: Giáo xứ gởi văn thư đề ngày 05-04-2009 cho UBND huyện Phú Vang. Giáo xứ nhắc lại: giáo dân giáp An Bắc đã có cuộc họp giáp theo yêu cầu của huyện ngày 19-12-2008 và đã gởi biên bản cuộc họp giáp cho huyện, trong đó ghi rõ giáo dân không đồng ý nhận đất của làng hoặc của người dân đang sử dụng. Đất làm đài lễ là của giáp từ năm 1961, có nguồn gốc là đất ông Lê Khinh đã cúng, con cháu và dòng tộc đã chứng minh.

Giáo dân trong giáp cũng như giáo xứ đã thường xuyên và liên tục sum họp thờ phượng Chúa suốt bao năm qua. “Chúng tôi mong được an tâm thờ phượng Thiên Chúa tại nơi truyền thống lâu đời của chúng tôi”.

· 10-04-2009: Ngôi nhà đã hoàn thành, đã treo cờ, đã mang bảng hiệu “Hạt kiểm lâm huyện Phú Vang. Trạm bảo vệ rừng Vinh An”. Một khẳng định của bạo quyền!

Từ 10g đến 12g, giáo dân giáp An Bắc đi Đàng Thánh giá tại đài Thánh Giá. Hôm nay là Thứ Sáu Tuần Thánh. Dù nắng nóng, mọi người vẫn suy ngắm và đọc kinh cầu nguyện sốt sắng.

"Ôi Thập tự! Phước lành thế giới,
Nguồn cậy trông cứu rỗi tràn lan,
Xưa nên hình khổ nhục nhằn,
Nay thành ngưỡng cửa Thiên đàng quang vinh.
Này Tế Phẩm trên mình ngươi đó
Đã giang tay quy tụ người trần,
Mặc cho thủ lĩnh thế gian
Tấn công cũng chẳng được phần lợi chi!
Giêsu hỡi! Con quỳ tạ Chúa, Và Thánh Thần, Thánh Phụ cao tôn,
Giúp con chiến đấu chẳng sờn,
Theo cờ thập tự, thiên môn khải hoàn”.
(Thánh thi trưa Thứ Sáu Tuần Thánh).

Kết thúc buổi cầu nguyện, mọi người đứng vòng quanh đài Thánh giá phấn khởi đọc kinh “A Rất Thánh Giá”.

Tiếng mõ tưởng niệm ngày Chúa Cứu thế chịu chết đánh chầm chậm đúng 12 giờ trưa, theo truyền thống, thay tiếng chuông, từ nhà thờ xứ đạo rơi nhẹ vào lòng tín hữu: một CON NGƯỜI bị kết án, bị tử hình, bị chôn vào lòng đất vì những quyền lực chà đạp công lý, sự thật, tình thương.

· 20-04-2009: Cha Lê Văn Nghiêm, hai tu sĩ dòng Tên, một ông tân tòng, đến viếng Đài Thánh giá, cầu bình an cho giáo xứ. Cha Nghiêm làm quản xứ An Bằng từ năm 1977 đến 2004. Ngài nói to cho mọi người có mặt nghe rõ: “Rừng dương trước đây cũng như sau này, chính chúng tôi trồng, gánh nước tưới, chăm bón mới được như ngày nay. Sao lại nói rừng của Nhà nước? Dối trá! Bất công!”.

Trong thời gian qua, nhiều giáo dân giáo xứ bạn viếng đài, hiệp thông cầu nguyện. Đặc biệt một số linh mục và tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế nhiều lần đến thăm giáo xứ và chia sẻ số phận bị bách hại của cộng đoàn An Bằng. Các ngài đã tổ chức cầu nguyện cho An Bằng trong các thánh lễ và các buổi đốt nến cầu nguyện cho công lý và hòa bình.

· 27-04-2009: Hội đồng giáo xứ nhận được văn thư của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế số 1746/UBND-NĐ đề ngày 23-04-2009, do phó chủ tịch Nguyễn Thị Thúy Hòa ký.

UBND tỉnh “đồng ý chủ trương giao thửa đất có số hiệu 38.2 thuộc tờ bản đồ địa chính số 05, tọa lạc tại khu vực Bắc Thượng, thôn An Bằng, xã Vinh An hiện do UBND xã Vinh An đang quản lý cho Hội đồng giáo xứ An Bằng để xây dựng khu hành lễ của giáo dân giáp An Bắc”.

Đây là lần đầu tiên giáo xứ nhận một văn thư cấp tỉnh. Nhưng khi hỏi UBND xã về vị trí thửa đất có số hiệu trên, xã trả lời không biết!

Văn thư của UBND tỉnh TT-H (23-04-09) - Giấy mời của UBND huyện Phú Vang (18-05-09)

· 02-05-2009: Từ sáng sớm, giáo dân giáp An Bắc chuẩn bị dâng hoa mừng Mẹ Maria dịp đầu tháng Mẹ tại Đài Thánh giá của giáp. Bỗng đâu lúc 9g, đông đảo cán bộ huyện xã tập trung tới, khoảng 30 người. Có cả chủ tịch UBND huyện, bí thư và chủ tịch UBND xã.

- Ông chủ tịch huyện Phan Văn Quang mời ông giáp trưởng An Bắc Nguyễn Đức Mân vào “trạm bảo vệ rừng” bên cạnh Đài lễ để làm việc. Ông chủ tịch cấm đóng trại, cấm mở loa.

Ông giáp trưởng trả lời:

- Chúng tôi đem mấy tấm bạt lên đây để trải trên cát cho các em dâng hoa khai mạc tháng mừng Mẹ Maria, chứ không đóng trại! Chúng tôi phải mở máy mở loa để các em tổng dượt và chiều nay dâng hoa cho đúng nhịp điệu.

- Chỉ được dùng máy cassette!

- Dân đây xài đầu máy dĩa cả. Hơn nữa, hiện giờ chúng tôi không có băng nhạc cassette!

Anh Phạm Xuân Tuấn, nhà gần đài, cũng bị mời làm việc vì nhà anh mở nhạc đạo sáng nay:

- Không được dùng loa cực mạnh!

- Loa chúng tôi thuộc loại rẻ tiền, chẳng giống loa của xã treo ở các trụ điện, không dây, cực mạnh!

- Phải chấp hành luật phòng hát karaoke!

- Chẳng tôi chỉ mở nhạc trong nhà chúng tôi!

Cán bộ, công an, biên phòng, kiểm lâm và các ban ngành khác thuộc huyện xã vẫn canh gác đến hơn 12g trưa.

Chiều, giáp trưởng vẫn tổ chức dâng hoa sốt sắng: sống có Mẹ, chết có Mẹ, Mẹ ơi! Nhóm người theo dõi vẫn còn đó, dù con số ít hơn.

· 11-05-2009: Cán bộ thu dọn hai trại đã đóng hơn một năm nay. Chỉ còn lại ngôi nhà gọi là trạm bảo vệ rừng và năm sáu cán bộ.

· 19-05-2009: Hội đồng giáo xứ nhận được giấy mời của UBND huyện Phú Vang, phòng Tài nguyên Môi trường, số 162/GM-TNMT đề ngày 18-05-2009 do ông Phó trưởng phòng Nguyễn Văn Chính ký.

Văn thư mời ông Văn Đình Trung, chủ tịch HĐGX và ông Nguyễn Đức Mân, giáp trưởng giáp An Bắc, đến hội trường UBND xã Vinh An ngày 21-05-2009, để làm việc giao đất.

· 21-05-2009: Tại hội trường xã lúc 8g30, ông chủ tịch xã Phạm Bình Tịnh chủ tọa buổi làm việc. Cán bộ ban tôn giáo tỉnh, UBND huyện và xã có mặt. Ông chủ tọa xác định thửa đất có số hiệu 38.2 thuộc tờ bản đồ địa chính số 05 là đất hiện giờ ông Lê Đạt đang trồng cây.

Ông giáp trưởng Nguyễn Đức Mân lặp lại ý muốn của toàn thể giáo dân giáp An Bắc là không nhận bất cứ lô đất nào hiện giờ làng hoặc tư nhân đang sử dụng và muốn tiếp tục thờ phượng Chúa tại phần đất truyền thống của giáp từ bấy lâu nay. Cán bộ tôn giáo tỉnh ghi nhận nguyện vọng và hứa nghiên cứu giải quyết.

Tối cùng ngày, lúc 18g30, giáo dân giáp đang sum họp đọc kinh ca hát tôn vinh Mẹ Maria tại đài Thánh giá như thường lệ mọi ngày.

19g30, mọi người ra về. Một anh công an huyện cấp sĩ quan từ trong trạm bảo vệ rừng đi ra tiểu tiện ở gần Đài Thánh giá. Ông giáp trưởng chạy đến yêu cầu đừng làm ô nhiễm nơi tôn nghiêm đông người tụ họp.

- Tôi đái đấy, anh làm chi tôi!

- Phải tôn trọng vệ sinh chung!

Một anh công an khác nhào tới bên ông giáp trưởng, giọng hống hách:

- Anh muốn chi?

- Tôi muốn làm người lịch sự!

Một anh kiểm lâm đến xoa dịu ông giáp trưởng:

- Thôi, nó đang say!

· 29-05-2009: Sáng nay cán bộ tăng cường lực lượng quanh Đài Thánh giá. Một số gặp các ông trong HĐGX hỏi giáo dân sắp làm gì tại đài.

Thực ra, hôm nay là ngày các giáp trong giáo xứ tạ (ơn) Mẹ cuối tháng. Ngày mai cả giáo xứ tạ Mẹ long trọng. Giáo dân giáp An Bắc làm vệ sinh môi trường tại đài. Không biết cán bộ tại chỗ thông tin sao đó khiến lực lượng cán bộ công an huyện xã kéo tới canh phòng khoảng 20 người.

Lúc 17g, ông giáp trưởng Nguyễn Đức Mân lại bị mời làm việc. Trời sắp mưa, một số bô lão muốn căng mấy tấm bạt đứng đọc kinh. Để tránh phiền phức với cán bộ, tất cả quyết định đứng giữa trời mưa mà tạ Mẹ.

18g, cộng đoàn kiệu tượng Mẹ quanh Đài. Các em nhi đồng múa dâng hoa năm sắc lên Mẹ. Trời mưa to. Mọi người sốt sắng dưới mưa. Cán bộ an toàn trong ngôi nhà bảo vệ rừng.

19g bế mạc. Các em chia sẻ quà tặng. Vui vẻ dù ướt lạnh. Không quên những phần quà cho người nghèo xa gần. Tạ ơn Mẹ.

II. Nhận định của Nhóm Phóng viên

Giáo xứ An Bằng, với mảnh đất nhỏ bé của mình ở giáp An Bắc, tiếp tục bị nhà cầm quyền CSVN -từ cấp xã đến cấp huyện lên cấp tỉnh- sách nhiễu đàn áp, với đủ trò vừa vô lý vừa vô luật, trong mục đích thực thi và duy trì quyền lực độc đoán của mình: quyền sở hữu mọi đất đai dưới trời Nam, quyền sai khiến mọi thần dân trên đất Việt, quyền theo dõi mọi hoạt động, quyền quấy nhiễu mọi cuộc sống, quyền lũng đoạn mọi tập thể.

Trong bản tin hôm nay, sự vô lý (lý thông thường) và vô luật (luật chính đáng) biểu lộ ở chỗ nhà cầm quyền tiếp tục mưu đồ đẩy giáo xứ và các cá nhân hay tập thể xung đột với nhau vì tranh giành đất đai. Thế nhưng giáo xứ vẫn kiên trì bảo vệ lập trường: không lấy đất đang sử dụng của ai đó, dù nhà cầm quyền có cấp đi nữa, một giữ chặt mảnh đất truyền thống của mình, và như thế là mặc nhiên lên án cái “quyền công hữu đất đai” hết sức bất công và khốn nạn của CS.

Sự vô lý và vô luật tiếp đến biểu lộ qua việc cán bộ bắt lâm tặc trở thành cán bộ lâm tặc và trạm kiểm lâm lại dựng ở chỗ rừng dương đã có sở hữu chủ là dân làng! Dân trồng cây, dân bảo vệ cây mình trồng. Ở làng An Bằng từ xưa đến rày lại không có chuyện ăn trộm cây người khác. Nay lần đầu tiên cán bộ vừa lén lút cưa trộm cây của dân vừa ngang nhiên dựng “trạm bảo vệ rừng” trên đất của dân, không một lời thương lượng, không một tiếng xin phép. Thế thì bảo vệ rừng làm gì? Tốn công giữ, phí nhân sự! Không đúng nơi, chẳng hợp hoàn cảnh. Trong lúc rừng cả nước bị tàn phá với tốc độ chóng mặt! Ai phá thì mọi người đã rõ? Thật ra cái gọi là “trạm bảo vệ rừng Vinh An” chỉ là trạm theo dõi, quấy nhiễu mọi hoạt động tôn giáo tại đài lễ, và khi cần thì có thể xóa sạch đài lễ này.

Sự vô lý và vô luật còn biểu lộ qua việc nhà nước quá thừa giờ, thừa người và thừa tiền, để nghe phong thanh một chuyện nào đó tại đài lễ giáp An Bắc (hay giáo xứ An Bằng) là huy động vô số nhân lực, vật lực đến, để chỉ làm mỗi một việc là sách nhiễu, áp bức cuộc sống dân lành, là quấy rối -thậm chí lăng mạ bằng cử chỉ côn đồ vô học- những sinh hoạt tôn giáo của tín hữu. Người dân không bao giờ được yên trong chuyện sinh sống và chuyện giữ đạo, lại còn phải nai lưng nộp thuế để dung dưỡng, duy trì cái bộ máy chính quyền ăn hại suốt bao năm trường.

Chuyện An Bằng phản ảnh chuyện nhiều nơi trong 26 giáo phận tại Việt Nam, chuyện nhiều nơi trong 64 tỉnh và thành phố khắp cả nước. Phản ảnh thói lộng hành của cái đảng tự xưng là đại diện cho giái cấp vô sản, nhưng thật là một đảng cướp tham lam vô độ. “Cái Đảng vô sản này khởi đầu không có một tấc đất nào, sau khi cướp được chính quyền bỗng ban hành cái Luật Đất đai để trong nháy mắt chiếm giữ toàn bộ đất đai, lãnh thổ của dân tộc, rồi “ra ơn” ban phát cho dân được “mượn” và khi cần cướp lại thì dùng từ “thu hồi” (Luật gia Đỗ Thuý Hường). Nó và cái luật của nó đang gây điêu đứng cho cuộc sống của hàng triệu người dân Việt Nam và hàng ngàn tập thể dân sự lẫn tôn giáo cả nước. Chỉ có xóa sổ cái chế độ bất công này thì mọi tài sản tinh thần (mọi thứ tự do, nhân quyền) và mọi tài sản vật chất (đất đai nhà cửa) mới được trả lại cho nhân dân.

Nhóm Phóng viên FNA tường trình từ Huế, lúc 20g30 ngày 06-06-2009

Đại Hội Rỏm - Công Tử Hà Đông

Công Tử Hà Đông

Từ năm 2000 nhiều văn sĩ, thi sĩ Việt Rọ Mõm trong nước được Mỹ mời sang chơi nước Mỹ, số người Việt này – tất nhiên toàn là Văn Nghệ Sĩ Rọ Mõm - được bọn Cộng Hà Nội thả cho đi Mỹ ăn chơi ít ngày rồi cho trở về nước. Những Rọ Mõm sang Mỹ chơi rồi trở về im re, không chê, không chửi mà cũng không viết bốc Tư Bổn Lề.

Nguyễn Bá Chung,
người có thành tích nâng bi cộng sản
Một Rọ Mõm được Mỹ Tư Bổn Lề mời, được Cộng cho đi, cho về như thế là ông Tô Nhuận Vỹ. Ông này không có tên tuổi gì trong giới Văn Nghệ Sĩ Bắc Cộng bị Rọ Mõm. Xong, khi ông đến Mỹ, ông được nhiều người Việt ở Mỹ đón rước, mời về nhà, cơm bưng, nước rót. Mời quí vị đọc lời kể của ông Văn Nghệ Rọ Mõm Tô Nhuận Vỹ về chuyến ông sang Mỹ và về những người Việt ông gặp ở Mỹ.

Ông Rọ Mõm Tô Nhuận Vỹ không có tư cách gì, một tí nị tư cách nhỏ bằng cái tĩ con gà mái ông cũng không có, để kêu gọi bất cứ ai làm bất cứ chuyện gì, xong ông vẫn khặc khừ lên tiếng kêu gọi “Các nhà văn trong và ngoài nước hãy ngồi lại với nhau”. Trong bài viết của ông đăng trên Net, ông Rọ Mõm Tô Nhuận Vỹ chỉ kêu gọi suông thế thôi.

Ông không viết rõ ông muốn “những nhà văn Việt nào trong nước ngồi lại với những nhà văn Việt nào ở nước ngoài”, và ông muốn “họ ngồi lại với nhau để làm ký gì?” Mở đầu bài, ông TN Vỹ viết về một số nhân vật Việt Nam ở Mỹ. Truớc nhất là ông Nhà Văn Hoàng Khởi Phong.

Tô Nhuận Vỹ: (trích) "Với nhiều văn nghệ sĩ hải ngoại thì cái mũ “cộng sản” của cộng đồng luôn luôn chực chờ để chụp xuống đầu họ. Báo chí không ít lần đã phải kêu lên về cái thực trạng “mũ cối ở đây nhiều hơn ở cả Hà Nội!”. Cho nên, các nhà văn luôn phải “biểu diễn lập trường” (chữ của Nguyễn Mộng Giác). Trong nhiều dịp chuyện trò tâm sự, không ít anh em đồng nghiệp ở Mỹ trong khi cho rằng trong nước hoàn toàn chưa có tự do sáng tác với khá nhiều ví dụ thì đồng thời cũng khẳng định lúc này, tại đây, (Hoa Kỳ), cũng chưa có tự do sáng tác như mình ao ước, nên có lúc phải sống hai mặt.

Hoàng Khởi Phong viết: - Ở ngoại quốc này chúng ta làm chính trị dễ, yêu nước cũng dễ, làm văn chương cũng dễ, lấy nhau cũng dễ, bỏ nhau cũng dễ, làm thương mại cũng dễ, khai phá sản cũng dễ. Nói tóm lại, ở đây cái gì cũng dễ, chỉ trừ có một tấm lòng chân thật là hơi khó chút xíu. (ngưng trích)

Ông Hoàng Khởi Phong viết đúng nửa trên, viết không đúng lắm nửa dưới. Đúng là ở Mỹ người Việt làm cái gì cũng dễ. Xứ Tự Do mà. Để có thể chửi cha những thằng cộng sản và những thằng nâng bi bọn cộng sản, nhiều người Việt đã liều mạng bỏ nước ra đi, nhiều người trong số họ đã chết thê thảm trên biển. Qua trăm cay, nghìn đắng, chịu không biết bao nhiêu hoạn nạn, tủi nhực, chứng kiến không biết bao nhiêu cảnh đau đớn vỡ tim, sống sót lê lết đến được xứ bạn, được tự do bầy tỏ nỗi lòng của mình, tại sao lại không cho người Việt ở Mỹ nói lên lòng hận thù cộng sản cuả họ? Tại sao lại không cho người Việt ở Mỹ chửi rủa bọn Cộng, bọn đại thù của họ và cuả cả dân tộc? Trong cơn phẫn nộ, người Việt ở Mỹ có làm vài hành động quá đáng trong việc chửi Cộng, thì đã sao? Có gì quan trọng? Quan trọng là việc sau 30 năm dzòng dzã, người Việt ở Mỹ, ở khắp nơi trên thế giới, vẫn Thù Cộng, vẫn Chửi Cộng.

Tôi, Công Tử Hà Đông, viết “Người Việt ở Mỹ Chửi Cộng”. Bọn Bắc Cộng không có quyền hành gì trên đời sống của người Việt ở Mỹ, người Việt ở Mỹ không thèm chống Cộng, họ chửi Cộng.

Bị bọn Bắc Cộng coi không bằng con chó, trốn chui, trốn nhủi tìm đất sống, một số người Việt khi sang đất Mỹ vẫn tự do nâng bi, bốc thơm, thân mât với bọn Cán Bộ Rọ Mõm Cộng khi chúng đến đất Mỹ. Cũng có sao đâu? Ông có tự do đến phi cảng xách va-li cho bọn Cán Cộng, rước chúng về nhà, cơm bưng, nước rót, bà có tự do giặt quần cụt, quần đùi cho bọn Cán Công, người ta có tự do phản đối sự có mặt đáng tởm của bọn Cán Cộng, người ta thù hận bọn Cán Cộng nên người không muốn nhìn thấy mặt chúng, người ta đòi đuổi chúng, người ta coi chúng như những con chó ghẻ, người ta không muốn cho chúng gần người ta. Đúng thôi. Và chỉ có thế thôi. Ông muốn làm “ người chân thật”, tại sao lại khó? – mẫu người Việt chân thật của ông là người đến phi cảng Mỹ xách xa-li cho bọn Cán Cộng - ông cứ làm. Có ai cấm ông đâu. Có cấm cũng không được. Ai có quyền cấm ông? Không ai ở Mỹ có quyền cấm ông thân mật với bọn Cán Cộng khi chúng đến đất Mỹ.
Hoàng Khởi Phong,
người khó sống chân thật.
Người ta phản đối việc làm của ông là tự do của người ta. Cũng không ai ở Mỹ có quyềm cấm người Việt chửi Cộng. Mà ông Hoàng Khởi Phong, và một số người Việt ở Mỹ như ông, có công khai nâng bị bọn Cán Cộng ở Cali, nào có ai làm gì được ông! Chỉ có việc bầy tỏ “tấc lòng chân thật” ông đã thấy khó, còn mong gì ông làm được những việc khác khó hơn. Như ông Nhà Văn Nhật Tiến công khai, trong “Nếu đi hết biển” gọi người Việt chống Công là “bọn hẹp hòi, đầu đông đá“, cũng trong “Nếu đi hết biển”, bản ghi chuyện sang Mỹ của Cán Cộng Trần văn Thủy, xuất bản ở Cali, bà Nhà Văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc công khai nói lời khinh miệt “bọn chống Cộng ở Mỹ biểu tình, biểu tẹt lẹt đẹt vài mạng, chống Cộng ở Mỹ là trò nhảm nhí”. Có làm sao đâu?

Bọn Bắc Cộng, và bọn nâng bi Bắc Cộng, không bao giờ tự hỏi “Tại sao người Việt ở Mỹ lại sôi nổi chống Cộng, chửi Cộng, thù Cộng, khinh Cộng, đuổi Cộng, bền lâu đến như thế?“ Chúng không bao giờ tự nhìn mặt chúng trong gương, chúng như không biết bọn chúng đã, đang làm những trò gì để người Việt thù chúng, khinh chúng. Chúng cũng không bao giờ dám mở mồm hỏi người Việt ở Mỹ “Sao mấy người thù, khinh chúng tôi quá như thế?” Chúng cũng không đủ thông minh để tự hỏi và tự trả lời:

- Tại sao người Việt ở Mỹ lại cứ gọi bọn nâng bi Cộng sản là Cộng sản?

Em nhỏ Việt Nam lên ba cũng trả lời dzễ ợt câu hỏi đó. Ấy là bởi vì với người Việt Nam, trong nước như ngoài nước, cái tên “cộng sản” chứa đựng những gì xấu, bẩn, tàn ác, khốn nạn nhất nên cứ nghe nói thằng nào là “cộng sản” là người Việt khinh ghét, chửi rủa thằng đó. Người Việt chống Cộng hải ngoại không “chụp mũ cho thằng nào là cộng sản”, họ chỉ, đôi khi không gọi đúng tên bọn chúng. Tên đúng của chúng không phải là “cộng sản” mà là “ bọn tay sai Cộng sản”.

Đây là đoạn ông Rọ Mõm Tô Nhuận Vỹ kể về những nhân vật Nguyễn Bá Chung, Trương Vũ, Nguyễn Gia Kiểng, Lê Xuân Khoa ...

Tô Nhuận Vỹ: (trích) Chỉ vì mời hai học giả từ Hà Nội là Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi qua tham gia nghiên cứu về văn học và văn hoá cộng đồng người Việt sau chiến tranh và do khởi phát từ một chi tiết trong phần đặt vấn đề của chương trình nghiên cứu của Nguyễn Bá Chung, trong đó có kể chuyện một cháu nhỏ khoe với ông nội lá cờ Việt Nam cháu tìm thấy trong sách nhà trường - cờ đỏ sao vàng thay vì cờ vàng ba sọc đỏ, chỉ bắt đầu từ như thế (một đoạn văn không do Nguyễn Bá Chung viết), mà một cuộc chống lại ồ ạt, ghê gớm bằng từ hàng trăm bài viết không thiếu lời lẽ nhục mạ, đe doạ, các cuộc mít tinh hội họp phản đối, các kiến nghị gay gắt, kiện cả ra toà án mà khi toà án bác bỏ thì vu luôn cho thẩm phán, luật sư thiên vị …, mà “đánh” tới tấp suốt hơn năm năm trời, với phạm vi trên toàn cõi có người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài rằng, Trung tâm William Joiner của Đại học Massachusetts, Kevin Bowen là tiếp tay cho cộng sản, rằng Nguyễn Bá Chung là cộng sản nằm vùng và phải trừng trị anh này! Ở một đất nước tự do mà hành xử như vậy thì hãi quá. Cho nên, nói là nói vậy chứ cũng thông cảm cho cái “hơi khó chút xíu” đó của người viết ở đây. Nhưng, trong không khí chống cộng cực đoan như thế, không phải không có những người dù không tán thành thể chế trong nước vẫn có cái nhìn trầm tĩnh như Trương Vũ, anh nói:

- Vào lúc này mà nói chuyện chống cộng với ngôn ngữ, phương thức của ba mươi năm cũ chẳng khác gì chống những hồn ma trong một không gian hồi tưởng. Chẳng khác gì đi đi lại lại trên những lối mòn của tâm thức. Chống những hồn ma không được thì chống nhau. Ai không giống mình người đó là cộng sản, là phản bội.

Nguyễn Gia Kiểng cho rằng loại thái độ đó “chỉ là để biểu lộ và trút bớt sự căm thù đang sôi sục trong lòng chứ không phải để giành thắng lợi. Cuộc đấu tranh vì vậy không khác gì một cuộc lên đồng, những người được ủng hộ nhất là những người tỏ ra táo bạo nhất, lên đồng hay nhất, gây được ảo tưởng mạnh nhất”.

Trương Vũ viết:

- Lúc tôi trở về, chiến tranh chấm dứt đã hai mươi sáu năm rồi. Lúc đó, vào dịp kỷ niệm 30 Tháng Tư, đài truyền hình chiếu nhiều phim về "linh ngụy", bọn "lính ngụy" trông thật là ác ôn! Tôi, tên "lính ngụy" hai mươi lăm năm trở về, nhìn hình ảnh "mình" trên truyền hình, cười ra nước mắt.

Khi đọc những dòng chua xót này của Trương Vũ, đọc nội dung cuộc nói chuyện giữa anh và Trần Văn Thuỷ qua cuốn “Nếu đi hết biển”, nhớ chuyện TV Thuỷ kể về sự gắn bó, đùm bọc nhau dưới bóng cây đại thụ là bà mẹ anh, sự phấn đấu tuyệt vời để có một vị trí xứng đáng trong cuộc sống ngay tại nước Mỹ xa xôi này của từng thành viên trong gia đình mà anh là một tấm gương, qua cả những bài viết điềm đạm, chặt chẽ và dứt khoát về luận lý của anh đáp lại những bài báo vu vạ dũ dằn, chụp mũ ghê khiếp của những người tự xưng là nhà văn, nhà báo trong cộng đồng về anh, về nội dung trao đổi với Trần Văn Thuỷ, về thái độ bênh vực lẽ phải và tinh thần dân chủ trong vụ Joiner Center, tôi có ấn tưọng rất mạnh về một trí thức trung thực, có đầu óc tân tiến của một nhà khoa học Mỹ mà “hồn vía” vẫn ở nơi ông bà tổ tiên Việt Nam. Chính vì thế, khi lần đầu gặp anh và gia đình tại Maryland, trong lòng tôi như có cảm giác gặp lại những người thân. Trương Vũ băn khoăn nhiều sao đến tận bây giờ, đã bước qua thế kỷ XXI mấy năm rồi, mà không ít người có vị trí và “đầu óc” trong nước, kể cả ở Hội Nhà Văn, vẫn không thay đổi thái độ khi cho rằng hễ ai cứ có ý kiến, có suy nghĩ khác với lãnh đạo là phản động, là chống nhân dân, đúng y chang loại cực đoan trong cộng đồng, hễ có bất cứ ý kiến, việc làm nào trái mắt trái tai họ, thảy đều là “cộng sản nằm vùng”! Mà họ không chịu biết rằng, một trong những sự thông minh của loài người là luôn sẵn có những tư duy phản biện, những ý kiến bất đồng với mình, khác nhau để thêm mạnh chứ không để chia rẽ (hoà nhi bất đồng).

Dừng lại hồi lâu, Trương Vũ mới nói tiếp: - Anh có biết rằng,có những người chống cộng quyết liệt, công khai, nhưng rồi không nén chịu nỗi nhớ quê, đã tìm cách ‘lén’ về thăm nhà mà cố không cho ai biết! Trong nước có biết nỗi niềm đó để thể tất những việc tuế toái mà họ gây ra không? (ngưng trích)

Biết rồi ... Khổ lắm ... Nói mãi ... Quý ông, quý bà người Việt đã phải đọc nhiều, đã bẩn mắt, đã nhàm tai, đã lợm giọng vì tởm về chuyện “Nếu đi hết biển” và Trung Tâm Ăn Fund Joiner mướn Cán Cộng sang viết về người Việt ở Mỹ. Viết gì thêm là lèm bèm. Ông Trương Vũ dường như không biết rằng nhiều người Việt ở nước ngoài về thăm quê hương là vì họ nhớ thương quê hương, không phải việc họ về nước là họ đầu hàng cộng sản hay họ ca tụng chế độ, hay họ bằng lòng vơi việc bọn Cộng sản sống huy hoắc trên đầu, trên cổ nhân dân lầm than, họ chấp nhận việc bọn gọi là công sản nắm giữ quyền hành, họ thản nhiên trước việc bọn công sản tha hồ cướp của, ăn cắp và thẳng tay đàn áp nhân dân. Tôi không tin nhân vật Trương Vũ – ở Maryland, cạnh Virginia và Washington DC, người được Cán Cộng Rọ Mõm ca tụng là “một trí thức trung thực có đầu óc tân tiến của một nhà khoa học Mỹ“ lại ngớ ngẩn đến cái độ không hiểu rằng người Việt ở nước ngoài – tất cả – về nước là vì họ nhớ thương quê hương, họ muốn gặp lại người thân, không phải họ về nước là việc họ đầu hàng hay họ có cảm tình với bọn Cộng.

Người Việt ở Mỹ chửi cộng, đàng hoàng về thăm nước, có gì là xấu? Phải nói việc những người Việt ở Mỹ đường hoàng về thăm Sài Gòn rồi lại sang Mỹ là cái Nhục của bọn Cộng. Lẽ ra chúng phải cấm không cho những người Việt bỏ nước ra đi được trở về đàng hoàng như thế, hay ít nhất chúng bắt người Việt muốn về thăm quê phải ký một bản tự nguyện nhân mình có tội. Chúng phải để người Việt về nước là vì chúng cần có những đồng US Đô-la của người Việt.

Không cần đến ông Nguyễn Gia Kiểng phải lên tiếng dậy bảo, em nhỏ lên ba cũng biết dzư là những phong trào chống Cộng ở các nước ngoài Việt Nam không thể lật đổ được bạo quyền cộng sản ở trong nước Việt Nam. Nhưng phải thấy Phong Trào Chống Cộng ở hải ngoại không cho bọn Công sản “nghênh ngang” vác mặt chó đến những nước tự do, dân chủ, không cho bọn chúng nói láo “nhân dân dưới quyền cai trị của Đảng chúng tôi sống rất hạnh phúc”. Ở Hoa Kỳ, ở Úc, những Phong Trào Chửi Cộng của người Việt làm cho không một lá cờ máu nào của bọn Bắc Cộng có thể ló mặt chồn ra khỏi những ổ chồn, ổ cáo, ổ chuột Đại sứ, Lãnh sự quán của chúng, làm cho không bọn Việt Kiều Nâng Bi nào, dzù chỉ năm, mười tên, dám tự nhận là Đoàn Đại biểu Việt Kiều đến Toà Đại Sứ “kính dâng lòng tuởng nhớ và thành kính biết ơn lên Hồ Chủ Tịt”. Quan trọng nhất là phong trào người Việt chống Cộng ở hải ngoại có thể giúp sức mạnh cho những người Việt chống Cộng trong nước lật đổ Bàn Thờ Bác Hồ của bọn cộng sản.

Đây là đoạn Cán Cộng Tô Nhuân Vỹ kể về chuyện con gái y ta bị tai nạn, được sang Huê Kỳ chữa bịnh, rồi theo đúng bài bản của bọn Cháu Ngoan Bác Hồ, chị Phún này ca bài “Một sang Mỹ là dzí ... vào mặt Boóc Hồ”, chị lấy chồng Mỹ, ở lại Mỹ, đẻ con lai. Rất lẹ: chị Cháu Ngoan Bác Hồ sang Mỹ chữa bệnh, lợi dzụng đi học, lấy bằng Master Mỹ, lấy chồng Mỹ, ở lại Mỹ, bố chị sang Mỹ, chị mời bố chị đến nhà. Bài bản đâu vào đấy. Cán Cộng Tô Nhuận Vỹ đến Mỹ, ghé chơi nhà con gái, ca tụng Chàng Rể Mẽo.

Tô Nhuận Vỹ: (trích) Cách đây gần mười năm, con gái tôi bị một tai nạn khủng khiếp. Các bạn nhà văn, nhà thơ Mỹ mà tôi quen biết đã ra sức vận động, quyên góp để cháu được qua Mỹ chữa trị. Bây giờ, vết thương của cháu đã chữa được phần lớn, cháu đã lấy được bằng Master và đã có gia đình hạnh phúc với một chàng trai Mỹ nhân hậu và đã có một đứa con trai đầu lòng tuyệt vời. Khi tôi đang viết những trang này tại nhà cháu thì nhận được thư của một người bạn thân của tôi từ Việt Nam gửi qua. Bức thư khiến tôi ngẩn ra: “Bây giờ người bạn lớn của gia đình anh lại chính là kẻ đã giết chết ba mẹ em, khiến em, và chính anh nữa, mang thương tật suốt đời! Vậy mà anh lại đang hào hứng đi tuyên truyền hãy quên hận thù!” Ôi chao, khó làm sao để xoá đi vết thương quá khứ trong lòng người!

Tô Nhuận Vỹ: (trích) Trong buổi sáng vừa đi vừa nói chuyện với tôi ở công viên La Fayette trước toà Bạch Ốc, Giáo sư Lê Xuân Khoa, người có công lớn trong việc đấu tranh để chính quyền Mỹ ban hành những chính sách thuận lợi cho cộng đồng người Việt định cư sau 1975 và đang viết về lịch sử cộng đồng sau tập 1 cuốn Việt Nam 1945-1995, nói rằng ông không bi quan về việc hoà hợp giữa người Việt trong và ngoài nước, cho dù còn nhiều trắc trở, cam go. Ông cũng cho biết mình sắp có chuyến về Việt Nam trong những ngày tới.

Ông nói: - Số cực đoan trong cộng đồng lẫn số bảo thủ quyết liệt trong nước chỉ là số ít mà thôi. Đa số, cho dù tạm thời thầm lặng, vẫn là những con người mong muốn thực sự hoà hợp, hoà giải để xây dựng đất nước dân chủ và giàu mạnh, dù đề xuất giải pháp còn khác nhau. Ngay với trong nước, nếu có dịp, tôi đều góp những ý kiến thành tâm. Có lần tôi hỏi một vị lãnh đạo rằng, trong mười điều tôi góp thì các vị tiếp thu được được bao nhiêu. Vị đó nói, chừng … hai điều và hẹn tôi lần sau nếu gặp xin được nghe tiếp.

Tôi cười mà rằng: góp mười điều mà đến tám điều vô ích thì gặp làm gì cho mất thời gian của anh và của tôi, thì ông ta nói, ấy chớ, tám điều chưa tiếp thu được nhưng với chúng tôi đều có ích! À, chưa tiếp thu mà vẫn thấy có ích đã là tốt rồi phải không anh?” - Ông cười, tiếng cười sảng khoái của một ông già khoẻ mạnh và đẹp lão ở cái tuổi gần 80. (ngưng trích)

Ông Lê Xuân Khoa thuộc loại người “đẻ bọc điều”, trọn đời ông phây phả. Có thể vì ông học văn hoá Anh Mỹ nên ông không biết lời khuyên của ông cha – đúng ra là Lời Quân Tử Tàu:

- Tướng bại trận không khoe mình dũng. Quan nước mất không khoe mình giỏi.

Việc ông khoe ông dậy bọn Cộng về thuật trị nước, chăn dzân chỉ là trò ông cha tôi goi là trò “dậy đĩ vén váy”. Ông không có tư cách gì dậy bọn Cộng sản về thuật trị nước; chúng – bọn Công – không coi ông ra cái thá gì cả, những thằng Cộng ông gặp không có ký-lô quyền hành gì trong tay, ông lại càng không có tư cách gì kêu gọi – gần như ra lệnh – cho “ bọn người Việt hai phe phải quên hận thù, phải ngồi lại với nhau. “
Lê Xuân Khoa,
Nhà Trí Thức “dậy đĩ vén váy"

Không lẽ ông Lê Xuân Khoa không biết rằng bọn Cộng trong nước không muốn “ngồi lại” ngang hàng với bất cứ ai, chúng muốn tất cả những người Việt không thuộc bọn chúng phải đầu hàng chúng, phải nghe lệnh chúng. Cũng không có lẽ ông Lê Xuân Khoa không biết rằng khi một nước bị bọn Cộng cầm quyền, người ta không thể cộng tác với bọn Cộng cầm quyền ấy để xây dựng bất cứ cái gì. Lịch sử đã chứng minh chuyện đó. Em nhỏ lên ba cũng biết như thế, không lẽ Giáo sư Khoa Bảng Đẹp Lão Tám Bó Mày Râu Nhẵn Nhụi lại không biết. Muốn xây dựng đất nước bị bọn Cộng cầm quyền, muốn làm cho nhân dân nước ấy đỡ khổ, người ta phải bứng bọn Cộng ra khỏi chính quyền. Đó là điều kiện bắt buộc phải có, phải làm trước nhất.

Người Hung, người Lỗ, người Tiệp, người Ba-lan, người Nga đã làm việc ấy; sau bao năm rên xiết trong gông cùm cộng sản, họ đã vùng lên, họ kéo đổ tượng Lê-nin, tượng Sít, cho ra nằm ở miệng cống, bãi rác, họ bợp tai, đá đít bọn công sản, họ đưổi chúng ra khỏi chính quyền. Làm xong những việc đó, họ xây dựng đất nước của họ. Nhân dân Việt Nam chỉ chưa làm được những việc ấy, không phải họ không nên làm, lại càng không phải họ không bao giờ có thể làm được.

Tô Nhuận Vỹ: (trích) Lại nói tới Nguyễn Bá Chung. Con người đã nhiều năm nay gần như chỉ say mê với sách vở về Việt Nam, về văn hoá Việt Nam, luôn ao ước một Việt Nam giàu mạnh và tự do, mà vì nó đã phải bỏ hết công sức tiền của thời gian, lần lượt mất gần hết gia sản; con người luôn hết mình với bè bạn văn chương nghệ thuật Việt Nam qua: Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Nguyên Ngọc, Nguỵ Ngữ, Nguyễn Huệ Chi, Hoàng Ngọc Hiến, Lê Minh Khuê, Hữu Thỉnh,Trần Đăng Khoa, Nguyễn Quang Thiều, Tô Nhuận Vỹ, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Ý Nhi, Lê Lựu, Bảo Ninh, Tô Đức Chiêu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Trung Trung Đỉnh, Lý Lan, Minh Ngọc, Trần Văn Thuỷ, Đặng Nhật Minh, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Quyến…; con người đã bị cộng đồng chống cộng cực đoan đánh nghiêng ngả suốt mấy năm trời với vu cáo “Cộng sản nằm vùng” khiến hạnh phúc riêng suýt bị tan vỡ; con người đã in trong nước đến ba tập thơ, dịch tác phẩm của nhiều nhà thơ tài ba nhất Việt Nam và vừa hoàn thành việc dịch ra tiếng Anh tuyển tập thơ Thiền Lý-Trần, do giáo sư Lê Mạnh Thát đề tựa, cho một nhà xuất bản trong nước, người như thế mà không phải chỉ một lần vất vả với “cơ quan chức năng” mỗi khi về nước! Vậy mà Chung vẫn viết những vần thơ nhân ái và hoà hợp

Hãy trân trọng ngôi nhà vô uý
Ôm thương đau mọi nẻo quê nhà
Thắp niềm tin trên ngàn gẫy đổ
Đơm cội nguồn đất mẹ đầy hoa.(ngưng trích)

Tôi, CTHĐ, thấy không có gì đáng để viết về nhân vật Nguyễn bá Chung, ngoài việc chia buồn với bà vợ của Nguyễn bá Chung.

Tô nhuận Vỹ kể về Nguyễn bá Chung: “ .. .. .. con người đã bị cộng đồng chống cộng cực đoan đánh nghiêng ngả suốt mấy năm trời với vu cáo “Cộng sản nằm vùng” khiến hạnh phúc riêng suýt bị tan vỡ.”

Thưa bà Nguyễn bá Chung. Tô nhuận Vỹ hắn viết như thế phải chăng hắn muốn kể vì ông chồng bà làm cái việc nâng bi bọn Cán Cộng mà bà thấy là hèn, ngu, bà thấy nhục và bà muốn bỏ anh chồng hèn ấy? Tôi, CTHĐ, xin chia xẻ nỗi buồn và nỗi nhục với bà.

Tôi sửa: Nguyễn bá Chung không phải là “Cộng sản nằm vùng” mà là “tay sai của bọn Cán Cộng”

Nghe nói Nguyễn Bá Chung làm bài thơ trong có câu gọi những nguời chửi Cộng ở Mỹ là:

Những viên đạn lép trong nòng súng rỉ.

Những viên đạn tốt đã nổ rồi, nổ để cho người Việt Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, trong số có Nguyễn Bá Chung, được sống. Nếu những người Việt Chửi Cộng là “những viên đân lép trong nóng súng rỉ” thì những tên tự đem thân làm tay sai cho bọn Cộng như Nguyễn bá Chung là “những viên đạn thối trong ống cống tối”.

Tháng Ba năm 2009, tôi thấy ở Hoa Kỳ những Người Việt Nâng Bi Cộng Sản đã có đủ điều kiện để tổ chức một Đại Hội Chính Văn – Chính Chị, Chính Em và Văn Vằn Văn Vện – với danh xưng là Đại Hội Chính Văn Rọ Mõm.

Phe người Việt trong nước sẽ gồm những người đươc ông TN Vỹ kể tên, những văn nghệ sĩ Rọ Mõm này từng sang Mỹ: Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Nguyên Ngọc, Nguỵ Ngữ, Nguyễn Huệ Chi, Hoàng Ngọc Hiến, Lê Minh Khuê, Hữu Thỉnh,Trần Đăng Khoa, Nguyễn Quang Thiều, Tô Nhuận Vỹ, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Ý Nhi, Lê Lựu, Bảo Ninh, Tô Đức Chiêu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Trung Trung Đỉnh, Lý Lan, Minh Ngọc, Trần Văn Thuỷ, Đặng Nhật Minh, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Quyến …; phe người Việt ở nước ngoài sẽ có những ông Nguyễn mộng Giác, Hoàng khởi Phong, Nhật Tiến, Đặng Tiến, Nam Dao, Nguyễn bá Chung, Trương Vũ, Nguyễn gia Kiểng, các bà Thụy Khuê, Nguyễn thị Hoàng Bắc. Toàn là những nhân vật sáng giá, nổi tiếng. Ông Lê Xuân Khoa sẽ đến dự Đại Hội với Kế Hoạch Dậy Đĩ Vén Váy và cái ông gọi là “đa số thầm lặng” của ông. Đai Hội thành công là cái chắc.

Việc Những Nhà Văn Việt nào trong nước ngồi lại với những Nhà Văn Việt nào ở nước ngoài, họ ngồi lại với nhau để làm ký gì là một đề tài khác.

Xin hẹn quý vị bài sau.

Công Tử Hà Đông

Friday, June 5, 2009

Những bài viết thuộc loại văn hoá toà đại sứ VC - Phan Ðông Quân

"Mục đích yêu cầu" của những bài viết thuộc loại văn hoá toà đại sứ VC ở Tokyo với văn phong "ống đu đủ"
Phan Ðông Quân

Vừa rồi, sau khi Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ công bố trước toàn dân lời kêu gọi bất tuân dân sự, biểu tình tại gia để phản đối việc bạo quyền Hà Nội dâng Trung Cộng quyền tự trị, khai thác quặng bauxite ở Tây nguyên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn vong của đất nước, CSVN đã sử dụng ngón nghề âm mưu thâm độc, thủ đoạn nham hiểm để đánh phá Hoà Thượng một cách vô cùng bỉ ổi, xấu xạ Song song với việc làm này ở quốc nội, tại hải ngoại trên một hai trang điện tử, cũng đã xuất hiện một số bài viết thuộc loại văn hoá toà đại sứ CSVN ở Nhật Bản với văn phong "ống đu đủ" không những để vu khống Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ, mà còn xuyên tạc cả những người quốc gia đang đấu tranh để giải thể chế độ độc tài đảng trị vẫn đang tàn phá đất nước và đầy đọa người dân. Thứ văn hoá, văn phong đó là "Ðịt mẹ, mày là con điếm Nhật" thoát ra từ cửa miệng một quan chức sứ quán CSVN ở Tokyo (đây là nguyên văn một câu viết trong bài "Khi cả đại sứ quán của CSVN tại Nhật Bản bỏ chạy. Nhục ơi là nhục", của tác giả Andy Nguyễn ngày 25/05/09)

Tại sao lại có những bài viết với những ngôn ngữ ngoại giao toà đại sứ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa này. Và xuất hiện vào thời điểm này cùng lúc với những bài bản của báo chí VC?

Trước khi đề cập về những cái tại sao, tại sao, ta hãy nhìn lại hình thức và nội dung của những bài viết theo lối văn hoá toà đại sứ.

1. Về hình thức:

a. Tất cả những người viết những loại bài bản này đều khoác áo quốc giạ Cũng không thiếu những người khoác cả áo Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (mà không có bằng chứng). Cũng đều có cùng một luận điệu đả kích CSVN hết sức mạnh mẽ về những tội ác của CSVN mà mọi người VN đều đã biết. Về điều này, ngay cả đối với người dân ở trong nước, VC cũng để yên, coi như một hình thức xả xú bắp cho dân chúng.

b. Ngôn ngữ sử dụng trong bài viết thuộc loại vô giáo dục của những phường đầu trộm đuôi cướp, đâm thuê chém mướn, đá cá lăn dưa, ma cô gái điếm.

c. Không thiếu những sai lầm sơ đẳng: Một hai thí dụ điển hình: Không kể những người đã gọi là đấu tranh chống cộng, ngay cả đa số đồng hương VN tỵ nạn CS tại hải ngoại, cũng đều biết tên của "nhà dân chủ" cuội là Ðỗ Nam Hải, chứ không phải là Ðỗ Ðăng Hải (bài "từ xóm vắng đến phố nắng" đăng trên trang báo điện tử Tin Paris; hơn một lần người viết ký tên là Trần Lam Sơn đã viết ông Bác sĩ Trần Xuân Ninh là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hải Ngoại trong bài "Tư cách của một bác sĩ". Theo sự hiểu biết của người viết, Bác sĩ Trần Xuân Ninh chưa hề làm Tổng Vụ Trưởng bao giờ cả v.v... và v.v... Ở những xứ tự do, với đầy đủ phương tiện tìm tòi tin tức một cách thoải mái, vậy mà vẫn có những sai lầm sơ đẳng nhan nhãn như thế, thử hỏi, những luận cứ của đám người này có đáng tin cậy hay không?

2. Về nội dung.

a. Xuyên tạc sự kiện: Vì ngu dốt hay vì thủ đoạn nham hiểm, hoặc là vì cả hai, người viết đã diễn giải sai ý câu văn của người họ cố tình đánh phâ Một người bình dân thiếu học, hay một em bậc tiểu học, cũng thừa biết "đóng vai ông thiện" không đồng nghĩa với "ông thiện" như sự hiểu biết của Nam Nhân. Một người đóng vai cướp của giết người trên sân khấu không phải là kẻ giết người cướp của ở ngoài xã hộị

b. Bịa đặt dựng đứng sự kiện: Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ đứng đầu Phật Giáo Ấn Quang, Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ họp hành với VC nhiều lần ở nhiều địa điểm khác nhaụ Ðó là lời "tố cáo" của Trần Lệ Tuyền (TLT). TLT nhiều lần "biết" được việc làm như thế của Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ, tại sao không thông báo cho nhà chức trách VNCH để bắt giam Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ? Và cơ quan tình báo của VNCH cũng lại không biết những việc làm này của Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ?

c. Tin tức về phía những người quốc gia thì xuyên tạc, bịa đặt, trong khi đó tin tức về phía CSVN để gọi là dẫn chứng thì lại vô cùng phong phú. Không cần phải truy nguyên, những tin tức loại này được đưa ra đã tự tố cáo nguồn gốc cung cấp. Cũng lại một thí dụ điển hình: Nam Nhân biết tường tận từ việc một tên tướng CSVN tới bắt một tùy viên của Võ Nguyên Giáp (VNG) ngay tại văn phòng làm việc của VNG, từ việc những tên lãnh đạo CSVN đi du hý, xem hát tại nhà hát thành phố, tại rạp Hồng Hà, tại rạp Ðại Nam ... tới việc một tên Thượng sĩ bộ đội VC đã giết được một viên Trung úy Pháp tên là Bernard ở chùa Non Nước, Ninh Bình, nhưng chỉ lại được tuyên dương là chiến sĩ thi đua xuất sắc nhất. Nam Nhân tài giỏi thiệt! Hỏi nhỏ, Nam Nhân đã được tuyên dương, tưởng lệ những loại huân chương nào rồi vì biết nhiều tin tức hậu trường thễ

Hình thức và nội dung của những bài viết thuộc loại văn hoá toà đại sứ và văn phong "ống đu đủ" này nhằm đạt "mục đích yêu cầu" gì, và cho đối tượng nào?

Tại quốc nội, như mọi người đều đã biết, vụ TC được CSVN dâng quyền tự trị và khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên mới đây đã như giọt nước cuối cùng làm tràn ly phẫn uất của quần chúng Việt Nam. Làn sóng phản đối này, đã và đang dâng lên mãnh liệt, và gồm đủ mọi thành phần từ giới bình dân tới giai tầng trí thức, từ thanh niên sinh viên tới văn nghệ sĩ; và đặc biệt còn gồm cả quân đội nữa, như lời viết của tác giả La Thành trong bài "Bauxite Tây nguyên: Phép thử phản xạ tự vệ của quốc gia Việt": "Chúng nó đang bán nước". Ðó là lời phát biểu công khai, không ngần ngại của một số sĩ quan của một đơn vị lớn đóng trên địa bàn Hà Nội trong những cuộc họp chi bộ đảng hàng tháng.

Trong khi đó, tại hải ngoại, khi bản văn về lời kêu gọi Bất tuân dân sự, biểu tình tại gia của Ðại lão Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ vừa được công bố, đã được hàng trăm đoàn thể, tổ chức đấu tranh và đồng hương không những ký tên ủng hộ mà còn tổ chức những buổi hội thảo trên khắp thế giới để thấu triệt về ý nghĩa của lời kêu gọi nàỵ

Nhận thấy lời kêu gọi Bất tuân dân sự của Ðại lão Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ, nếu không ngăn chận sớm, chắc chắn sẽ có phần ảnh hưởng cộng hưởng bất lợi lớn lao cho chế độ, nên Hà Nội và đám cộng sản nằm vùng cùng bè lũ tay sai đã phải vội vàng lên tiếng xuyên tạc, bịa đặt, đả kích để ngăn chặn làn sóng chống đối, đồng thời chuyển sự chú ý của quần chúng ở cả trong lẫn ngoài nước từ vụ bauxite Tây nguyên sang chuyện của Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ. Ngoài ra, nhân chuyện này, chúng đánh phá luôn những người quốc gia đang đấu tranh tại hải ngoại để gây nghi ngờ, xáo trộn lẫn nhau, ngõ hầu làm giảm uy thế đấu tranh của đồng hương hải ngoại, để chúng có thể phần nào thi hành được Nghị quyết 36 của chúng.

Việc đánh phá Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ cùng những người quốc gia chỉ là lý cớ của những bài viết thuộc loại văn hoá toà đại sứ với văn phong "ống đu đủ" của những tên cán bộ CS tuyên vận, cùng những loại CS nằm vùng và lũ thời cơ tay saị Chủ ý thâm độc, nham hiểm của những bài viết loại này là để đáp ứng được "mục đích yêu cầu" của CSVN độc tài đảng trị vậỵ

Phan Ðông Quân

Trẻ em Việt Nam hiện được chăm sóc và bảo vệ ra sao? - Phương Anh

Phương Anh

Nhân ngày Quốc Tế Thiếu Nhi 1-6, đã có khá nhiều hoạt động vui chơi giải trí cho các em ở khắp nơi. Có thể nói, phần đông những em được tham gia các sinh hoạt này đều là con em của các gia đình khá giả, có điều kiện vật chất tương đối đầy đủ.

Bên cạnh những khu vui chơi ấy, trên những con đường của các thành phố, trong các nhà hàng, quán ăn, các quán vỉa hè, hay trong các ngôi chợ là hình ảnh các em thiếu nhi mặt mũi lem luốc, trên tay cầm xấp vé số, hay hộp đánh giầy, hoặc ngồi bưng tô, rửa chén…

Ngoài giờ làm việc, chẳng biết các em có được đến trường hay không? Hay có khi còn bị bóc lột và bị rơi vào tay bọn buôn bán trẻ em.
Trẻ con nhà nghèo.
RFA file photo
Ngoài ra, còn phải kể đến những em ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi thì cũng chẳng khả quan gì hơn. Ngoài chuyện thiếu ăn, thiếu mặc mỗi ngày, thì hầu như các em chẳng bao giờ được biết đến tập sách hay viên thuốc là gì. Hiện nay, ở Việt Nam, có khá nhiều tổ chức quốc tế hết sức quan tâm đến vấn đề này. Một trong những tổ chức có mặt lâu đời nhất tại Việt Nam là UNICEF hay còn gọi là Quĩ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc. Kỳ này, Phương Anh mời quí vị nghe một số thông tin về trẻ em Việt Nam liên quan đến việc giáo dục, y tế, môi trường vệ sinh và bảo vệ các em qua lời kể của bà Caroline Den Dulk, Trưởng Phòng Truyền Thông của UNICEF Việt Nam, trụ sở chính ở Hà Nội. Và phần chuyển ngữ do Nhã Trân trình bày.

Chênh lệch giàu nghèo

Thưa quí vị, theo con số thống kê của tổ chức UNICEF vào năm 2006, thì trẻ em Việt Nam chiếm đến 36% dân số. Trong khi đó, cùng với đà phát triển về kinh tế, thì tình trạng chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, hay giữa người giàu và người nghèo ngày càng cao. Sự chênh lệch này càng đặc biệt nghiêm trọng hơn với các dân tộc thiểu số về mọi mặt. Trong một khảo cứu của UNICEF vào năm ngoái về đời sống các em người dân tộc, cho thấy tình trạng giáo dục rất tệ hại. Đa số các em đều bỏ học giữa chừng ở cấp một. Nguyên nhân chính vẫn là do quá nghèo đói. Bà Caroline Den Dulk cho biết:

Chúng ta đều biết là nếu trẻ được sinh ra khỏe mạnh, được nuôi dưỡng và được giáo dục đầy đủ thì nó sẽ ảnh hưởng sau này rất mạnh mẽ tới nền kinh tế.

Bà Caroline Den Dulk, TPTT UNICEF VN

“Nói chung, tôi nghĩ rằng nhà nước Việt Nam đã cố gắng hết sức về vấn đề giáo dục cho trẻ em. Các em đã bắt đầu học từ khi còn rất nhỏ. Thế nhưng, chúng tôi nhận thấy rằng có sự chênh lệch rất rõ rệt giữa trẻ em ở thành thị và các vùng nông thôn, đặc biệt là các em thuộc dân tộc thiểu số. Chúng tôi đã và đang cố gắng làm việc với chính phủ Việt Nam để tìm cách nào tốt nhất để giảm thiểu tình trạng các em dân tộc bỏ học.”

Tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong giảm thiểu

Về môi trường, bà cho hay là nhà nước Việt Nam đã có rất nhiều cố gắng trong việc cải thiện vấn đề vệ sinh cho các em. Các em được giáo dục nhiều về vệ sinh cá nhân. Đồng thời, được chăm sóc kỹ hơn trong lãnh vực y tế. Nhờ vậy, tỉ lệ trẻ sơ sinh tử vong giảm thiểu hẳn. Bà Caroline nói tiếp:

“Một điều rất lý thú là trong năm qua, chính phủ Việt Nam đã có nhiều tiến bộ trong việc cải thiện về vệ sinh môi trường cho các em, cũng như giảm thiểu tỷ lệ trẻ sơ sinh bị tử vong. Đó là điều rất đáng khen ngợi. Việt Nam đã có tiến bộ rất nhiều trong việc chăm sóc cho trẻ em. Như tôi đã nói, tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong giảm thiểu rất nhiều. Chúng tôi hiện vẫn tiếp tục làm việc với các cơ quan chức năng để nâng cao vấn đề dinh dưỡng cho các em, nhất là cho các bà mẹ đang mang thai. Chúng ta đều biết là nếu trẻ được sinh ra khỏe mạnh, được nuôi dưỡng và được giáo dục đầy đủ thì nó sẽ ảnh hưởng sau này rất mạnh mẽ tới nền kinh tế. Do đó, chúng tôi luôn đẩy mạnh việc chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng, cũng như vấn đề giáo dục cho trẻ em Việt Nam.”

Tệ nạn nhiễm HIV/AIDS, buôn bán trẻ em

Một thực tế hiện đang xảy ra là sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường khiến cho việc trẻ em theo gia đình di cư ngày càng tăng, lại thêm tình trạng nghèo đói, dẫn đến nguy cơ các em bị tiêm nhiễm tệ nạn xã hội, bị lạm dụng, bóc lột và buôn bán vì mục đích tình dục, bị nhiễm HIV/AIDS ngày càng cao. Trong khi đó thì Việt Nam chưa có hệ thống bảo vệ các em một cách toàn diện cũng như chưa có dịch vụ bảo vệ các em. Bà Caroline cho hay:

“Có một thử thách lớn là vấn để bảo vệ trẻ em. Tỉ lệ trẻ em bị chết đuối, bị tử vong vì thương tích, tai nạn giao thông hãy còn rất cao, và nhất là tệ nạn buôn bán trẻ em.”

Đặc biệt, con số trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS cũng tăng theo tỷ lệ thuận với người bị nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam:

Nhìn chung, chúng tôi thấy rằng tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ngày càng tăng ở Việt Nam. Và, tỷ lệ trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS cũng tăng theo.

Bà Caroline Den Dulk, TPTT UNICEF VN

“Nhìn chung, chúng tôi thấy rằng tỉ lệ nhiễm HIV/AIDS ngày càng tăng ở Việt Nam. Và, tỉ lệ trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS cũng tăng theo. Tôi nghĩ là vì số người nhiễm HIV/AIDS đó đã truyền sang cho chính con cái của họ. Đây là một vấn đề xã hội hết sức nhức nhối đối với Việt Nam hiện nay. Chính quyền địa phương ở các cấp đã và đang kết hợp với các Bộ ngành, các cơ quan chức năng và cùng với chúng tôi để làm cách nào giảm thiểu tình trạng các em bị nhiễm HIV/AIDS và tìm cách giúp đỡ cho các em đã bị nhiễm và chính gia đình của các em.”

Tình trạng trẻ em lao động

Bà Caroline Den Dulk cũng cho hay là mặc dù Quĩ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc đã đặt vấn đề với nhà nước Việt Nam khá nhiều lần và đề nghị tìm phương cách giải quyết, cùng hỗ trợ về vật chất để làm sao giảm thiểu tình trạng trẻ em lao động. Thế nhưng, cho đến nay, tình trạng này vẫn chưa giải quyết được đến đâu. Bà cho hay:

“Một số vấn đề chúng tôi đã đặt ra với nhà nước và đã hỗ trợ nhưng chưa giải quyết được bao nhiêu. Một mảng hết sức quan trọng và là một thử thách rất lớn với chúng tôi là tình trạng trẻ em lao động, làm việc, bươn chải để kiếm sống ngày càng tăng. Chúng tôi không thể có số liệu cụ thể và chính xác nên không thể biết được hiện nay có bao nhiêu trẻ em đang phải cật lực kiếm tiền, hoặc có bao nhiêu em đã bị buôn bán … Đây là một vấn nạn của cả quốc gia. Chung qui cũng chỉ vì sự nghèo đói. Làm sao để giảm thiểu tình rạng nghèo đói ở Việt Nam? Làm sao để có thể giúp mọi trẻ em Việt Nam được đến trường thay vì phải kiếm tiền để giúp đỡ gia đình? Làm sao để các em có được sự bảo vệ an toàn? Đó là vấn đề mà chúng tôi rất quan tâm.”

Trẻ em nhặt rác trên sông.
RFA file photo

Hiện nay, vì Việt Nam thiếu hệ thống khung pháp lý toàn diện để thực thi pháp luật và nhận thức trong việc bảo vệ trẻ em hãy còn hạn chế nên vấn đề này gây cản trở những tiếp cận và chăm sóc cho trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt. Với sự hỗ trợ của UNICEF, bắt đầu vào năm 2006, nhà nước Việt Nam đã xây dựng chiến lược quốc gia về bảo vệ trẻ em nhằm thực hiện một hệ thống bảo vệ cho trẻ em một cách hữu hiệu hơn. Nhìn chung, bên cạnh những thành quả mà Việt Nam đã đạt được về kinh tế, Việt Nam lại bị tụt hậu về trong một số lãnh vực chính yếu liên quan đến trẻ em. Điều này trở thành một thách thức mới và đầy khó khăn cho chính phủ, nhất là làm sao để có thể cân bằng sự chênh lệch quá sâu giữa thành thị và nông thôn, giảm thiểu tình trạng nghèo đói mà đó được coi là nguyên nhân chính khiến cho các em bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Một điều khá lạc quan là hiện nay, nhiều tổ chức quốc tế đang quan tâm đến trẻ em Việt Nam và có khá nhiều dự án để cho lo các em. Vì vậy, khi nhìn lại một năm qua, bà Caroline Den Dulk phát biểu:

Với chúng tôi, điều quan trong hơn cả là làm sao để mọi trẻ em Việt Nam được hưởng những quyền lợi căn bản về sức khỏe, y tế và giáo dục.

Bà Caroline Den Dulk, TPTT UNICEF VN

“Theo tôi, nhìn lại trong năm qua, Việt Nam đã kết hợp chặt chẽ với các tổ chức quốc tế, Liên Hiệp Quốc và chúng tôi để làm việc cụ thể trên từng mảng xã hội. Tôi nghĩ rằng có khá nhiều dự án hợp tác quốc tế để lo cho trẻ em Việt Nam. Điều đó rất tốt và rất hữu ích cho Việt Nam. Mặc dù có những mục tiêu chưa đạt được, nhưng tôi cũng nhìn thấy có những cải thiện và tiến bộ. Chẳng hạn chăm sóc và dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh. Tổ chức Quĩ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc- UNICEF tại Việt Nam đã và đang tiếp tục làm việc với từng cấp chính quyền, các Bộ, Ngành, các cơ quan chức năng để có thể giúp đỡ trẻ em Việt Nam một cách trực tiếp và có hiệu quả hơn.”

Quí vị và các bạn vừa nghe một số thông tin liên quan đến trẻ em Việt Nam nhân ngày Quốc Tế Thiếu Nhi. Ước mong một ngày không xa, tất cả trẻ em Việt Nam đều được ăn no mặc ấm, được cắp sách đến trường, được giáo dục, chăm sóc và bảo vệ như lời bà Caroline Den Dulk:

“Với chúng tôi, điều quan trong hơn cả là làm sao để mọi trẻ em Việt Nam được hưởng những quyền lợi căn bản về sức khỏe, y tế và giáo dục.”

Mục Câu Chuyện Hàng Tuần xin ngừng nơi đây. Phương Anh xin hẹn gặp quý vị vào kỳ sau.

Phương Anh, phóng viên đài RFA 2009-06-05