Thursday, June 4, 2009

Vén màn bí mật vụ thảm sát Thiên An Môn - Lê diễn Đức

Mariusz Zawadzki - Lê diễn Đức dịch

Cuốn hồi ký phát hàng ngay 19/05/2009 - Nguồn: Google

Cuốn hồi ký phát hành ngày 19/05/2009 - Nguồn: Google

Những dòng hồi ký của nhà lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc, người đã muốn ngăn ngừa thảm kịch Thiên An Môn (Tiananmen), làm xáo động dư luận.

Hai tấm hình trên quảng trường Thiên An Môn đã đi vào lịch sử.

Tấm hình thứ nhất là một người vô danh đơn độc đứng chặn đoàn xe tăng. Hôm ấy là ngày 5/06/1989, vài giờ trước đó đã kết thúc một cuộc sát sinh.

Tấm hình thứ nhất, sáng 5/06/2009 - Ảnh: AP

Tấm hình thứ nhất, sáng 5/06/2009 - Ảnh: AP

Tấm hình thứ hai là một người lớn tuổi đeo kính, bao bọc xung quanh là những người sinh viên phản loạn. Ông ta nói với họ qua magaphone: “Các bạn còn trẻ, còn biết bao thời gian trước mặt, không giống như trước chúng tôi, những người già nua. Các bạn dễ dàng bỏ mạng sống như thế sao? Tình hình rất nghiêm trọng, đảng và quần chúng đã hết chịu nổi. Nếu các bạn từ bỏ tuyệt thực, chính phủ sẵn sàng đối thoại với các bạn…”

Người lớn tuổi đó là Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc Triệu Tử Dương (Zhào Ziyáng). Buổi sáng ấy, ngày 19/05/1989, ông Triệu, tuổi 70, vừa mới ra khỏi cuộc họp đêm của các nhân vật chóp bu, mà trong đó quyết định ban hành tình trạng chiến tranh được đưa ra. Chỉ một mình ông Triệu chống lại.

Tấm hình thứ 2 - Ảnh: Medianewsobserver.com

Tấm hình thứ 2 - Ảnh: Medianewsobserver.com

Đến với những người sinh viên, nhà cựu chiến binh 70 tuổi của đảng trở thành một người anh hùng và là kẻ tự sát, giống như con người vô danh mà hai tuần sau đã đứng ngay chỗ của ông để chặn xe tăng. Dĩ nhiên không nhìn thấy điều đó trên tấm hình, khoảnh khắc bi kịch và chủ nghĩa anh hùng của một con người cầm megaphone kia nằm sâu kín ở tận phía trong, những người sinh viên đã không hiểu ra, nhiếp ảnh gia không hiểu được, có lẽ chỉ duy nhất một người hiểu – chính bản thân ông Triệu.

Đây là tấm hình cuối cùng của ông, và cuộc gặp gỡ sinh viên cũng là lần chót ông xuất hiện trước công chúng. Các đồng chí của ông đã gạt ông ra khỏi chính quyền và quản chế ông tại gia.

Lễ truy điệu Triệu Tử Dương tại công viên victoria, Hongkong, ngày 21/01/2005 - Nguồn: Google

Lễ truy điệu Triệu Tử Dương tại công viên Victoria, Hongkong, ngày 21/01/2005 - Nguồn: Google

Ngày 17 tháng 1/2005, khi ông qua đời, tất cả báo chí chính thức của nhà nước chỉ thông báo một dòng vắn tắt “đồng chí Triệu Tử Dương đã ra đi”. Không một lời nhắc đến, rằng, ông đã từng nhiều năm là Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc, Tổng bí thư đảng, một trong những nhà tư tưởng của cuộc cải cách mà nhờ nó suốt 30 năm nay, từ một đất nước lạc hậu, Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế. Có vẻ như đảng đã thành công trong việc không bị phê phán và kết tội vì lãng quên.

Nhưng ông Triệu đã cho đảng cú đá hậu. Trong tuần trước tại các nhà sách của Hoa Kỳ và Hongkong xuất hiện một cuốn sách hấp dẫn với tựa đề “Người tù nhà nước: Nhật ký mật của Thủ tướng Triệu Tử Dương”.

Triệu phản công sau khi chết

Trong những năm 1999-2000 cựu Bí thư Triệu, bấy giờ đã trên 80 tuổi, vẫn đang bị quản chế tại gia, đã bí mật ghi âm lại các trải nghiệm của mình và chuyển các cuộn băng cho bạn bè. Vài ngày trước khi cuốn sách xuất hiện, thậm chí con gái của ông cũng không biết đến.

30 cuộn băng ghi âm nằm trong tay con trai ông Bảo Đồng, bí thư của ông Triệu, người bị kết án 6 năm tù sau vụ thảm sát Thiên An Môn. Ông Bảo đã chuyển nó cho phương Tây và cuốn sách ra đời – diễn tiến các cuộc ghi âm được công bố cùng cuốn sách.

Các cuộc ghi âm không dễ dàng, bởi vì ông Triệu phải qua mặt đám an ninh suốt ngày đêm theo dõi. Thoạt đầu ông ghi lại vào những lúc hiếm hoi khi an ninh cho phép đi ra ngoài nhà. Sau đó ông ghi trong nhà mình, bởi vì ở ngoài an ninh còn nhiều và nhạy bén hơn. Tuy vậy chưa bao giờ ông để lộ.

Có thể điều thú vị nhất trong cuốn hồi ký chính là, sau những năm bị quản chế tại gia, cựu tổng bí thư trở nên cương quyết hơn cả những người sinh viên mà ông định cứu trong năm 1989. Ông Triệu cho rằng, Trung Quốc cần phải trở thành một nhà nước dân chủ theo mô hình phương Tây, thực hiện tự do ngôn luận, toà án độc lập và loại bỏ sự độc quyền lãnh đạo của đảng.

Trong các cuốn băng ghi âm ông Triệu giải thích rằng, không có hệ thống trên, đất nước sẽ bị cai quản bởi các giới chính trị, kinh tế và trí thức tinh hoa liên kết và thoả hiệp với nhau trong các quyền lợi, đứng trên cả lợi ích của đất nước, cản trở sự phát triển.

Đảng tức là maphia

Thế nhưng, đa phần nội dung cuốn hồi ký, như nhà phê bình của “Washington Post” viết, là những sự kiện nóng của mùa xuân 1989. Ông Triệu nhấn mạnh rằng, lúc ấy đảng có thể dễ dàng thoả thuận với sinh viên, nhưng đã quyết định đè bẹp họ bằng xe tăng.

Ông ghi lại diễn biến đi đến quyết định dập tắt cuộc nổi loạn. Đặng Tiểu Bình (Dèng Xiaopíng), nhà lãnh đạo không chính thức lúc bấy giờ, theo ông Triệu, như một Bố Già mà các phe nhóm trong đảng được ban ân huệ để giành ưu thế. Ông ta không trực tiếp lãnh đạo mà chỉ giải quyết các mâu thuẫn và lựa chọn các ý tưởng của thuộc cấp.

Cho nên, không phải Đặng, như được hiểu một cách phổ cập, là tác giả và là nhà tư tưởng của cuộc cải cách ở Trung Quốc, mà là chính ông – Triệu Tử Dương. Tuy nhiên, ông Triệu thừa nhận rằng, không có sự đồng ý của Đặng, cuộc cải cách không thể nào thực hiện được.

Mặc dù có vẻ như những lời tự khen, nhưng có nhiều yếu tố chứng minh cho nhận định của ông Triệu. Những cải cách của ông tại Tứ Xuyên (Sichuan) những năm 70 trong ba năm làm bí thư tỉnh uỷ đã nâng mức sản xuất tăng gần gấp đôi, kích động các nhà lãnh đạo Trung Quốc xúc tiến xây dựng chủ nghĩa tư bản Trung Quốc với bộ mặt của chủ nghĩa cộng sản.

Bố Già Đặng, thích hình tượng Mao trong những năm 80, vào lúc khủng hoảng trên quảng trường Thiên An Môn đã ngả theo nhóm bê-tông dưới sự chỉ đạo của thủ tướng Lý Bằng (Li Peng). Những người cứng rắn đã lợi dụng chuyến đi thăm Nan Hàn của ông Triệu để lôi kéo Đặng ủng hộ biện pháp sử dụng bạo lực.

Từ cuộc gặp gỡ sinh viên trở về, ông Triệu thuyết phục các đồng chí của mình rằng, những người biểu tình không hề muốn lật đổ chế độ mà chỉ muốn thực hiện những thay đổi. Không ai nghe ông. Người ta đã quyết định ban hành tình trạng chiến tranh, như ông Triệu khẳng định, không có biểu quyết, có nghĩa là bất hợp pháp.

Những người sinh viên, thay vì sợ hãi, như mong đợi của những người cứng rắn, đã trở nên táo bạo và bất tuân hơn.

“Cuộc đối đầu không thể không xảy ra – Những cuốn băng ghi lời của ông Triệu – Vào đêm ngày 3 sang ngày 4 tháng 6, khi đang ngồi cùng gia đình ở nhà, tôi nghe tiếng súng nổ. Thảm kịch làm rung động toàn thế giới đã không còn cữu vãn được nữa”

Bản tiếng Việt © http://ledienduc.wordpress.com

Nguồn: Bài của nhà báo Mariusz Zawadzki với tựa đề “Thủ tướng Trung Quốc vén màn bí mật sau khi chết” đăng trên nhật báo Ba Lan Gazeta Wyborcza ngày 16/05/2009http://wiadomosci.gazeta.pl/Wiadomosci/1,80569,6613004,Premier_Chin_odslania_tajemnice_po_smierci.html. Đề tựa bài dịch và ảnh minh hoạ là của người dịch.



“Đừng bao giờ chơi với tụi cộng sản! Chúng nó bạc như vôi!” - Lê Diễn Đức

Lê Diễn Đức – Suy nghĩ nhân 20 năm thảm kịch Thiên An Môn

Đêm ngày 3 qua ngày 4 tháng 6 năm 1989, một cuộc thảm sát đã xảy ra làm kinh hoàng cả thế giới.

Cuộc biểu tình đòi cải cách chính trị, dân chủ của hàng chục ngàn sinh viên trên quảng trường Thiên An Môn đã bị nhà cầm quyền cộng sản nghiền nát bằng súng đạn và xe tăng.

Vì quyền lợi kinh tế, thảm kịch Thiên An Môn dù khó làm mờ nhạt, những chính khác quan trọng vẫn thường tránh né hoặc làm ngơ trong các đối thoại với Bắc Kinh.

Thiên An Môn 79 vẫn là đề tài cấm kỵ tại Trung Quốc. Vẫn còn nhiều sinh viên nằm tù. Con số người chết vẫn chưa được xác định cụ thể và có lẽ chẳng bao giờ chúng ta biết được. Theo nhiều nguồn tin thì khoảng 5 ngàn người chết, gấp đôi từng ấy bị thương và 2,5 ngàn án tử hình [1].

Những người mẹ mất con vẫn bị cấm tụ họp, dù chỉ để làm lễ cầu nguyện chung. Nơi duy nhất trên Hoa lục hàng năm dân chúng được đốt nến tưởng niệm là Hongkong. Nhà nước vẫn chưa đưa ra đánh giá chính thức về sự kiện mùa xuân 1979. Báo Tân Hoa Xã lúc bấy giờ viết rằng, đây là một cuộc bạo loạn của những phần tử phản cách mạng nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Số phận bi kịch của hai nhà cải cách


Không biết mọi người còn nhớ rằng, lần đầu tiên sinh viên đổ ra quảng trường Thiên An Môn chính là để tưởng niệm cái chết của một người cộng sản?

Người đó là Hồ Diệu Bang.

Hồ Diệu Bang đã từng phải chịu tủi nhục, bị khủng bố, thậm chí suýt chết bởi chính tay những đồng chí của mình. Năm 19 tuổi ông có nguy cơ bị chém đầu khi Mao Trạch Đông bị gạt ra khỏi quyền lực (1931-1934). Cuối cùng ông được Đàm Dư Bảo cứu mạng nhưng bị giám hộ suốt thời gian Vạn Lý Trường chinh.

Thời kỳ chiến đấu với Quốc dân đảng ông bị thương nặng nằm chờ chết, may mắn được nhóm binh sĩ của người bạn đi ngang cứu sống.

Sau Vạn lý Trường chinh, nhận nhiệm vụ mở hành lang với Liên Xô, ông bị Mã Gia Quân bắt làm tù binh, không giết nhưng bắt đi lao động khổ sai.

Trong giai đoạn 1952-1966, Hồ Diệu Bang làm bí thư trung ương đoàn thanh niên cộng sản. Ông giữ khoảng cách với Mao và ngả theo Đặng, người dám phê phán “Người Cầm Lái Vĩ Đại” về kế hoạch “Đại Nhảy Vọt”, để rồi cả hai bị Mao trù dập, làm nhục trong cuộc “Cách mạng Văn Hoá” vào năm 1966.

Sau khi Mao chết, năm 1979 ông ủng hộ Đặng tiến hành cải cách. Năm 1980, với cương vị Tổng bí thư, ông phục hồi danh dự cho hàng ngàn nạn nhân của Mao trong “Cách mạng Văn hoá”. Ông cũng hạn chế vai trò ý thức hệ cộng sản trong đời sống hàng ngày và nới lỏng tự do. Ông đã phê phán chính sách về Tây Tạng bấy giờ và mời Dalai-lama trở về, nhưng Đức Dalai-lama đã không tận dụng cơ hội ấy.

Trong năm 1984, ông nói rằng “Chủ nghĩa Marx-Lenin không giải quyết được các vấn đề của Trung Quốc”. Ông ngợi khen chủ nghĩa tư bản và cho rằng, trong viễn cảnh, không có nó Trung Quốc sẽ không tiến bộ được.

Chính nhờ Hồ Diệu Bang mà Trung Quốc đã gặt hái những thành quả đầu tiên từ các vùng đặc khu kinh tế, những nơi cuốn hút đầu tư nước ngoài.

Đến năm 1986, những cuộc biểu tình đầu tiên của sinh viên nổ ra, phe bảo thủ khuyến cáo cuộc cải cách đi quá xa. Đặng lập tức biến Hồ Diệu Bang thành vật tế thần. Từ 1987 ông bị loại khỏi các chức vụ cao cấp.

Thế nhưng những hạt giống do ông gieo trồng tiếp tục nảy nở thành hoa trái trong suốt mấy chục năm qua.

Ông chết ngày 15/04/1989 vì bệnh tim. Nhà cầm quyền cộng sản đã định làm ngơ không tổ chức tang lễ. Ngay trong hai ngày 17-18/04, đám đông ủng hộ ông đã xuống đường với những biểu ngữ: “Một con người lương thiện và trung thực đã chết, còn bọn đạo đức giả và phát xít vẫn sống”.

Ngày 19/04, khoảng 10 ngàn người, chủ yếu là sinh viên đã làm tê liệt Ban chấp hành Trung ương Đảng. Họ hô vang khẩu hiệu: “Đả đảo chế đô độc tài”, “Chính quyền pháp trị muôn năm!”. Để làm dịu cơn phẫn nộ của quần chúng, nhà cầm quyền đành chấp nhận tổ chức tang lễ cấp nhà nước.

Ngày 21/04/1989, gần 100 ngàn người đổ ra quang trường Thiên An Môn. Đây là cuộc phản kháng chống lại chế độ, đòi cải cách và dân chủ lớn nhất kể từ ngày nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời. Người ta liên hệ nó với buổi lễ của Giáo Hoàng John Paul II trên quảng trường Chiến Thắng, thủ đô Warsaw, Ba Lan trong ngày 2/06/1979 – một bước ngoặt mang tính quyết định, thức tỉnh lòng tin và sức mạnh của người Ba Lan đoàn kết bên nhau tranh đấu lật đổ chế độ cộng sản 10 năm sau đó, tức là vào đúng thời điểm này của Trung Quốc.

Nhìn thấy những gì đã và đang biến chuyển ở Ba Lan, những tên phát xít Trung Nam Hải, đúng như sinh viên Trung Quốc gọi, đã nghiền nát đồng bào mình dưới xích sắt xe tăng trong đêm mồng 3 sang sáng 4/06/1989.

Người thứ hai là Triệu Tử Dương.

Ông Triệu đã giữ chức Thủ tướng Quốc vụ viện từ năm 1980 tới 1987 và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1987 tới 1989.

Triệu Tử Dương là con trai một địa chủ giàu có ở tỉnh Hà Nam. Ông gia nhập Liên đoàn Thanh niên Cộng sản năm 1932. Cha ông đã bị các thành viên của đảng cộng sản giết hại cuối thập niên 1940.

Từ năm 1951 ông đưa ra nhiều sáng kiến cải cách nông nghiệp tại Quảng Đông. Năm 1962, ông thực hiện giải tán hệ thống hợp tác xã, trả lại đất cho nông dân theo hình thức khoán. Ông cũng trừng phạt các cán bộ bị buộc tội tham nhũng. Năm 1965 ông được cử làm bí thư Đảng tỉnh Quảng Đông, dù không phải là uỷ viên Trung ương.

Cũng giống số phận của Hồ Diệu Bang, do ủng hộ cải cách của Lưu Thiếu Kỳ, ông bị cách chức bí thư đảng Quảng Đông năm 1967. Trong cuộc Cách mạng Văn hoá, ông thoát khỏi ám sát nhiều lần, sau đó bị bắt và bêu nhục trên đường phố.

Triệu Tử Dương được Chu Ân Lai khôi phục tư cách chính trị năm 1973, rồi chỉ định vào Uỷ ban Trung ương, làm bí thư thứ nhất tỉnh Phú Xuyên năm 1975. Với những cải cách của ông, sản xuất công nghiệp tăng 81% và nông nghiệp tăng 25% trong vòng ba năm. Đặng Tiểu Bình đã lấy mô hình Tứ Xuyên cho toàn cuộc cải cách kinh tế. Triệu Tử Dương được bầu làm uỷ viên dự khuyết Bộ chính trị năm 1977, uỷ viên chính thức năm 1979 và Uỷ viên Thường vụ Bộ chính trị năm 1982. Triệu Tử Dương ủng hộ chính sách đối ngoại mở, có quan hệ tốt với phương Tây.

Tháng 1 năm 1987, Đặng Tiểu Bình buộc Hồ Diệu Bang từ chức vì quá khoan dung với những sinh viên phản kháng. Triệu Tử Dương lên thay thế, còn ghế Thủ tướng của ông nhường lại cho Lý Bằng, một nhân vật bảo thủ cứng rắn.

Trong Đại hội Đảng năm 1987 Triệu Tử Dương tuyên bố Trung Quốc cần thử nghiệm nhiều thành phần kinh tế nhằm kích thích sản xuất, tách biệt vai trò của Đảng và Nhà nước, một đề xuất từ đó đã trở thành chủ đề cấm kỵ. Theo các nhà quan sát phương Tây, hai năm làm Tổng bí thư của Triệu Tử Dương là thời gian mở cửa nhất trong lịch sử Trung Quốc hiện đại, nhiều hạn chế về tự do ngôn luận và tự do báo chí đã được nới lỏng, cho phép giới trí thức tự do đề xuất các cải thiện cho đất nước.

Triệu Tử Dương luôn phải đối đầu với tình trạng tham nhũng của các quan chức và thành viên gia đình họ, cũng như phái bảo thủ đứng đầu là Lý Bằng trong chính sách kinh tế và tài chính. Từ năm 1989, khó khăn với ông ngày càng lớn, tới mức sinh mệnh chính trị bị đe doạ.

Và rồi cái gì đến sẽ đến. Sau khi Đặng Tiểu Bình ra quyết định dùng bạo lực đàn áp sinh viên nếu như họ không rút lui, từ cuộc họp ông được Ôn Gia Bảo, lúc bấy giờ là Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, tháp tùng, đi thẳng ra quảng trường Thiên An Môn nói chuyện với sinh viên, kêu gọi họ thôi tuyệt thực và đàm phán với chính phủ. Ông không thể tiết lộ kế hoạch của đảng mà chỉ dám nói một cách bóng gió: “… Các bạn còn trẻ, các bạn dễ dàng từ bỏ mạng sống như vậy sao?”.

Hành động đến với sinh viên chứng tỏ tình người và khí phách can đảm của một nhà cải cách, lúc ấy đang ở vị trí cao nhất trong Đảng. Không ai hiểu nỗi lòng của ông. Và ông đã không cứu được thảm kịch trong đêm ngày 3 qua 4/06/1979.

Là anh hùng của quần chúng trong chế độ cộng sản cũng có thể trở thành kẻ tự sát, kẻ thù của Đảng. Chính vì ủng hộ sinh viên, ông bị buộc từ chức Tổng bí thư và bị giam lỏng tại gia cho đến lúc qua đời, ngày 17/01/2005.

Đảng cộng sản Trung Quốc bằng mọi cách nhấn chìm cái chết của ông vào im lặng, ngăn chặn tất cả các buổi lễ bày tỏ sự đau buồn của dân chúng, có lẽ vì sợ tái lập một màn kịch Thiên An Môn mới tương tự như với người tiền nhiệm Hồ Diệu Bang.

Tân Hoa Xã chỉ thông báo vắn tắt “Triệu Tử Dương đã mất ở tuổi 85” ở phần tin tiếng Anh, còn phần tiếng Trung Quốc viết “Đồng chí Triệu Tử Dương đã chết”, không hề nói tới bất kỳ chức vụ nào mà ông đã giữ.

Trong khi đó, ngày 21/01/2005, tại công viên Victoria, Hồng Kông, 10.000 –15.000 người đã tham dự buổi lễ đốt nến tưởng niệm ông. Những buổi lễ khác được tổ chức trên khắp thế giới, đáng chú ý nhất là tại New York và Washington DC, với sự tham gia của các quan chức chính phủ Mỹ và những người bất đồng chính kiến.

Trong năm 2005, đảng cộng sản Trung Quốc đã làm vài động tác, có vẻ như hé mở cánh cửa phục hồi danh dự cho hai nhà cải cách Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương, nhưng với tình hình xã hội còn nhiều nan đề, mọi dự định lại phải cất vào tủ khoá kỹ.

Mặc dù vươn tới tiềm lực kinh tế hàng đầu thế giới, Trung Quốc vẫn đang là quốc gia mất cân bằng rất lớn. Chỉ số Gini, tức chỉ số chênh lệch giàu nghèo, của Trung Quốc – một nước gọi là có chế độ xã hội chủ nghĩa, cao hơn cả Mỹ – một nước với chế độ tư bản. Chỉ hai nước châu Á đứng trước Trung Quốc là Philippines và Malaysia. Chỉ số bất ổn xã hội của Trung Quốc là 0,5 vượt giới hạn nguy hiểm là 0,4. Trong năm 2008 người ta ghi nhận hơn 90 ngàn vụ bạo loạn, bãi công, biểu tình. [2]

Nhà cải cách Đặng Tiểu Bình đã nói: “Mục đích của xã hội chủ nghĩa là đảm bảo sự thịnh vượng cho dân tộc chứ không phải phân rẽ xã hội dưới quan điểm vật chất. (…) Nếu xuất hiện một giai cấp tư sản mới thì có nghĩa rằng chúng ta đã đi vào ngõ cụt”.

Vậy mà chưa bao giờ một bộ phận lớn người Trung Hoa lục địa giàu có nhiều ngày nay. Chế độ “ta zi dang” (con ông cháu cha, đặc quyền, đặc lợi) của Trung Quốc, vượt qua cả nước Nga thời Boris Jeltsin, tạo nên vô số tư bản đỏ trong nhiều ngành kinh tế. Theo thăm dò của tạp chí Fobers, 90% triệu phú của Trung Quốc thuộc giới “ta zidang”. [3]

Chương trình xã hội hài hoà của Hồ Cẩm Đào mới bắt đầu, chưa mang lại kết quả gì. Trong tình này, vinh danh hai nhà cải cách Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương đồng nghĩa với thừa nhận Đảng sai lầm, ăn cháo đá bát, phản bội lại đồng chí của mình. Điều này có nghĩa rằng Bắc Kinh sẽ châm lửa vào những thùng thuốc súng.

Kết luận

Việt Nam hôm nay chỉ là một bản sao chép thu nhỏ của Trung Quốc. Những nhà cải cách đi trước, vượt rào của Việt Nam đi đầu cũng đã phải chịu đựng bao nhiêu ê chề, cay đắng trong bất công và đểu cáng.

Hai ví dụ điển hình gần nhất cái gọi là “đổi mới” là ông Kim Ngọc và ông Trần Xuân Bách.

Ông Kim Ngọc (1917-1979), là cựu Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phú, người được mệnh danh là “cha đẻ của khoán hộ”, “cha đẻ của đổi mới trong nông nghiệp” ở Việt Nam.

Ông Trần Xuân Bách (1924 – 2006), cựu ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, người có chủ trương cải cách mạnh mẽ theo xu hướng đa nguyên, đa đảng khi trào lưu cải tổ do Gorbachev đưa ra.

Cho dù có được minh định bằng bao nhiêu giấy khen, huân chương, cho dù có đặt tên đường phố, trường học, không ai có thể bù đắp cho những người đã khuất và gia đình họ những tổn thất to lớn về tinh thần và cuộc sống vật chất vô cùng kham khổ mà họ đã phải nếm trải.

Tất cả chỉ là đạo đức giả, danh hão, một mớ giấy lộn hay những miếng kim loại vô giá trị, không hơn không kém! Sự tàn nhẫn và ngu xuẩn của những kẻ ác mãi mãi còn đó. Người chết không sống lại!

Và trớ trêu thay, còn nhiều tên ác quỷ và đồng đảng của chúng vẫn đang sống ngông nghênh, chảnh choẹ, phè phỡn nhìn con cháu mình (những thành phần ta zidang) hưởng thụ thành quả mà những người khởi xướng, đi trước bất hạnh ấy đã ươm trồng và bị chính bàn tay của chúng đày đoạ.

Tôi nhớ mãi lời ông Chu Đình Xương, người bác trong gia đình tôi bên ngoại, một cán bộ cách mạng lão thành, giám đốc Công an Trung Kỳ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, người bảo vệ lễ đài nơi Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 trên quảng trường Ba Đình: “Con ạ, đừng bao giờ chơi với tụi cộng sản. Chúng nó bạc như vôi!”. ■

Warsaw, 3/06/2009.

Nguồn: http://ledienduc.wordpress.com

[1], [2]. [3]: Tư liệu và các trích dẫn trong bài đước lấy từ Vi.Wikipedia.org và Tuần báo Newsweek, ấn bản tiếng Ba Lan số 22, ngày 31/05/2009.


"Lạy ông" - Đỗ Thái Nhiên

Đỗ Thái Nhiên

“Lạy ông” là hai chữ đầu của câu nói: “Lạy ông tôi ở bụi này”.

Trước tòa án, bị can rất thường chối tội. Tuy nhiên, tòa án không xét xử một hồ sơ tội phạm đơn thuần theo lời khai của bị can. Chính những chất vấn từ phía thẩm phán công tố đối với bị can mới dồn bị can rơi vào hoàn cảnh mất khả năng che giấu sự thật trong một vụ án.

Ngày 08 tháng 05 năm 2009, tai thành phố Geneva, Thuỵ Sĩ, Hội Đồng Nhân Quyền của Liên Hiệp đã nhóm họp với mục đích kiểm điểm vấn đề nhân quyền tại Việt Nam. Phiên họp này được sự tham dự của trên 70 quốc gia thành viên. Trong đó có đại diện của 60 quốc gia đã được phép phát biểu ý kiến. Cuộc kiểm điểm kéo dài 04 tiếng đồng hồ, kể cả 45 phút phụ trội. Ông Phạm Bình Minh, thứ trưởng ngoại giao của CSVN, trưởng phái đoàn Việt Nam, quốc gia đối tượng của kiểm điểm. Đây là một hồ sơ nhân quyền. Hội Đồng Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc là biểu tượng của một tòa án. CSVN là “Nghi can” của tội phạm chà đạp nhân quyền. Các quốc gia “chất vấn CSVN” là biểu tượng của quyền công tố. Sau đây là lời khai của CSVN trước tòa án Nhân Quyền:

“Trình độ nhận thức của bộ phận nhà nước, kể cả trung ương và địa phương về quyền con người còn nhiều hạn chế: không chỉ không nắm được các quy định của luật pháp quốc tế, nghĩa vụ của Việt Nam với tư cách là quốc gia thành viên của các công ước quốc tế về quyền con người, mà đôi khi còn nắm không chắc các quy định của luật pháp và chủ trương chính sách của nhà nước, do vậy có nơi, có lúc còn để xảy ra các vụ việc vi phạm, làm hạn chế và ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền của người dân”.

Nói ngắn và gọn: CSVN nhìn nhận có vi phạm nhân quyền. Đồng thời đưa ra hai lý do để tự biện hộ:

Một là: giới chức lãnh đạo địa phương cũng như trung ương không hiểu biết đầy đủ luật quốc tế về nhân quyên.

Hai là: nhiều địa phương không nắm vững luật pháp và chính sách của trung ương.

Hai lý do nêu trên nên gom lại thành một lý do duy nhất. Đó là sự ngu dốt luật pháp của nhà cầm quyền CSVN trung ương cũng như địa phương, luật quốc nội cũng như luật quốc tế. Sau khi luật pháp được ban hành theo đúng thủ tục và thời hạn luật định, không ai được phép viện dẫn sự ngu dốt luật pháp để vi pham luật pháp. Đó là một trong những nguyên tắc pháp lý trọng yếu giúp cho luật pháp có giá trị cưởng hành. Phải chăng chế độ Hà Nội không nắm rõ luật pháp đúng như họ đã “tự khai”? Thực ra luật quốc tế nhân quyền bao gồm Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948) cộng với các công ước về quyền dân sự, chính tri; công ước về quyền kinh tế văn hóa xã hội là những văn bản luật pháp rất minh bạch và đơn giản. CSVN chỉ khai là họ (chính quyền trung ương và địa phương) “không nắm được các quy định của luật pháp quốc tế” về nhân quyền nhưng tránh không nói chính xác điều nào, khoản nào mà Hà Nội “không nắm rõ”. Muốn biết Hà Nội vi phạm nhân quyền vì dốt luật hay vì một ly do nào khác chúng ta hãy theo dõi những đối thoại giữa CSVN và các “thẩm phán công tố” trước Hội Đồng Nhân Quyền của LHQ. Ngày 14/05/2009 Hội Đồng Nhân Quyền của LHQ công bố phúc trình về cuộc kiểm điểm vấn đề nhân quyền tại Việt Nam, trong đó có những đối thoại đáng chú ý như sau:

Hoa Kỳ đòi hỏi CSVN hãy công nhận Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và cho phép các chi nhánh của Hòa Hảo và Cao Đài hoạt động. CSVN bác bỏ đề nghị này của Hoa Kỳ. Như vậy, Hà Nội đàn áp quyền tự do tôn giáo vì độc tài chứ không vì “nắm không chắc” ý nghĩa của quyền tự do tôn giáo quy định trong luật quốc tế nhân quyền. Sức lớn mạnh của tôn giáo tại Việt Nam là một đe doạ trầm trọng đối với chế đô độc tài Hà Nội. Đó là lý do giải thích tai sao ngày 8 tháng 5 năm 2009, trong báo cáo đọc trước Hội Đồng Nhân Quyền Của LHQ, CSVN nhấn mạnh rằng: dân số VN trên 85 triệu người nhưng tín đồ các tôn giáo cộng gộp lai chi đạt con số 20 triệu người.

Canada đòi hỏi CSVN công bố số lượng người bị giam cầm vì lý do an ninh và tin tức về những người này. CSVN bác bỏ đòi hỏi vừa nêu của Canada. Sự thể này cho thấy tại VN còn rất nhiều tù chính trị. Đây là sự tố cáo CSVN đã trắng trợn vi phạm Công ước quốc tế về quyền dân sự chính trị mà Hà Nội đã ký cam kết tôn trọng.

Anh Quốc yêu cầu CSVN hãy mở ra những đối thoại giữa nhà cầm quyền và những tổ chức dân sự. Hà Nội bác bỏ yêu cầu vừa nêu. Tổ chức dân sự là những tổ chức hoàn toàn không có bàn tay chi phối của chính quyền. Tổ chức dân sự là những tổ chức do người dân tự đứng ra thành lập và điều hành nhằm thực hiện một số tác vụ theo đúng đòi hỏi của xã hội. Ngăn cấm sự ra đời của các tổ chức dân sự chế độ Hà Nội vừa chà đạp quyền tự do lập hội của luật quốc tế nhân quyền vừa tự tố cáo trước công luận CSVN là chế độ độc tài đến độ từ chối tiếp xúc với người dân, từ chối đối thoại với các tổ chức dân sự.

Thuỵ Sĩ yêu cầu CSVN hãy mời đặc sứ nhân quyền của LHQ vào Việt Nam kiểm tra nhân quyền trên mọi lãnh vực khác nhau. Hà Nội dứt khoát từ chối đề nghị này của Thuỵ Sĩ. Sự việc kia cho thấy thái độ gian dối của CSVN trước Hội Đồng Nhân Quyền của LHQ ngày 08/05/2009. Thực vậy, một mặt CSVN khai rằng họ vi phạm nhân quyền vì họ “nắm không chắc” luật quốc tế nhân quyền. Mặt khác CSVN lại ngăn cấm đặc phái viên nhân quyền LHQ vào Việt Nam kiểm tra nhân quyền. Kiểm tra tức là hướng dẫn Hà Nội hiểu biết thế nào là nhân quyền trong những vụ việc cụ thể. Rõ ràng là Hà Nội khai một đường, hành động một nẻo.

Áo Quốc đề nghị Hà Nội cho biết số lượng trại tù và hoàn cảnh pháp lý của mỗi tù nhân. CSVN bác bỏ đề nghị của Áo Quốc. Hà Nội bao giờ cũng lớn tiếng khẳng định Việt Nam không có tù chính tri, tai sao trước Hội Đồng Nhân Quyền của LHQ, CSVN lai che giấu tình trạng bắt bớ giam cam dưới chế độ CS?

Điều 19 của Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị (ICCPR) đòi hỏi quyền tự do báo chí phải độc lập và tư nhân. Các quốc gia: Canada, Na Uy, Hà Lan, Anh, Mỹ, Phần Lan, Đức yêu cầu CSVN phải tôn trọng quyền tự do truyền thông đúng theo điều 19. Chế độ Hà Nội bác bỏ tức thời lời yêu cầu vừa nêu. Chế độ dân chủ là chế độ đối thoại. Đối thoại giữa người dân với người dân, giữa người dân với nhà cầm quyền và giữa những cơ quan công quyền với nhau. Không thể có đối thoại nếu không có tự do truyền thông. Tự do truyền thông là xương sống của chế độ dân chủ. Chế độ dân chủ và nhân quyền như cá với nước. Mọi loại nhân quyền tại Việt Nam đều là bánh vẽ chừng nào nhà cầm quyền còn ngăn cấm quyền tự do truyền thông của tư nhân.

Tóm lại trong báo cáo nhân quyền đọc trước Hội Đồng Nhân Quyền LHQ, CSVN nhìn nhận họ đã vi phạm nhân quyền vì hiểu biết của Hà Nội về luật quốc tế nhân quyền rất hạn chế. Thế nhưng khi bị những quốc gia thành viên Hội Đồng Nhân Quyền LHQ yêu cầu CSVN tôn trọng nhân quyền theo từng điều khoản cụ thể thì Hà Nội đã phản ứng ra sao? Thưa rằng: Trong trường hợp này CSVN không thể bảo là họ không hiểu luật, Hà Nội đành ra mặt lì lợm bác bỏ những yêu cầu chính đáng của quốc tế về nhân quyền. Sự việc “đành ra mặt” vừa kể được gọi là “Lạy ông tôi ở bụi này”.

Nhìn vào trong bụi, LHQ thấy rất rõ: chà đạp nhân quyền người dân Việt Nam đích thực là “Chủ trương lớn của đảng và nhà nước” CSVN. Chủ trương này có mục đích bảo vệ sự tồn tại của một triều đình độc tài, bán nước và tham ô.

Đỗ Thái Nhiên



Màn khiêu vũ khó khăn của Yahoo tại Việt Nam


Douglas MacMillan, Bussiness Week 28/5/09

Cánh cửa chính đang mở rộng tại quốc gia Á châu này, nhưng đau đớn thay là sự việc phải né tránh áp lực của nhà cầm quyền trong chủ trương kiểm soát và kiềm chế hoạt động Internet, thông tin mạng của người dân.

Đại công ty internet YAHOO đang chuẩn bị để khuếch trương thương vụ tại Việt Nam. Nhưng trong khi đang bành trướng hoạt động tại quốc gia thuộc vùng Đông Nam Á này, họ phải cẩn thận để ngăn ngừa trường hợp họ sẽ trở thành một đồng lõa của nhà cầm quyền trong những nỗ lực nhằm hạn chế người dân của họ truy cập mạng lưới Internet.

Việt Nam đang là một thị trường mới đầy hứa hẹn mà hãng YAHOO đang nhắm khai thác. Hơn 95% trong khoảng 18 triệu khách hàng Internet xử dụng YAHOO nhắn tin nhanh (Instant Messages) và email theo một thăm dò của hãng nghiên cứu TNS. YAHOO cũng đang trợ giúp tài chính cho những tụ điểm như Internet Cafés tại Saigon và những nơi khác. Rồi với sự thông dụng của hệ thống trang mạng cá nhân (Blogging Platform), đã châm ngòi cho việc ra đời YAHOO 360Plus với phiên bản Việt Ngữ vào tháng 5, 2008.

Nhưng công việc bành trướng thương vụ của YAHOO như thế lại đang bị trở ngại từ nhà cầm quyền trong chủ trương hạn chế người dân việc truy cập mạng Internet. Mùa Thu năm ngoái (2008), nhà cầm quyền đã thành lập “Cơ Quan quản lý Radio, Truyền Hình và Điện Tử”, là một bộ phận nhằm theo dõi và kiểm soát mạng lưới điện tử Internet. Cơ Quan này đã ra một sắc lệnh chính phủ, theo đó sẽ gia tăng hình phạt đối với những bài viết đả kích chính phủ được đăng tải trên trang mạng của mình. Theo tổ chức “Phóng Viên Không Biên Giới” – PVKBG – một tổ chức tranh đấu cho quyền làm người đặt trụ sở tại Paris, Pháp quốc, thì Sắc lệnh này cũng còn đòi hỏi những công ty cung cấp dịch vụ mạng Internet như YAHOO phải cung cấp cho họ những tư liệu, dữ kiện của khách hàng.

“Những kẻ thù” của mạng Internet

Từ Bản Báo Cáo tháng 3, tổ chức PVKBG đã liệt kê Việt Nam vào danh sách những quốc gia mà họ xem là “kẻ thù của Internet”. Trong đó, họ đã nêu lên khoảng 30 trường hợp “Bất đồng chính kiến mạng” (Cyber Dissident) đã bị nhà cầm quyền bắt giam từ 2002 – 7 người trong số đó vẫn còn đang trong lao tù – PVKBG cũng phê bình Đỗ Quý Doãn, Phó Bộ Trưởng Thông Tin & Liên Lạc về một lời tuyên bố của ông ta vào tháng 2 rằng “Một trang nhật ký cá nhân (Blog) là một trang thông tin cá nhân. Nếu một ai (blogger) xử dụng nó như một trang mạng thông tin, báo chí thì sẽ bị trừng phạt vì vi phạm luật”. Ông Doãn đã không hồi báo để trả lời câu hỏi của nhiều tổ chức, báo chí về lời tuyên bố trên.

Sự việc YAHOO đáp lại lời đòi hỏi của nhà cầm quyền (để nhắm canh chừng, theo dõi và gây khó khăn cho người dân Việt Nam khi xử dụng Internet) cho thấy những khó khăn khi họ hoạt động kinh doanh trong những quốc gia nào đã chứng tỏ sự bất khoan nhượng đối với sự tự do phát biểu trên mạng, cũng như khi phê bình hay đả kích nhà cầm quyền tại đây. Những công ty nào không tuân thủ những đòi hỏi của nhà cầm quyền sẽ có thể bị giới hạn hay ngăn cấm hoạt động làm ăn nếu không bị đóng cửa. Đối với những công ty nào chiều theo đòi hỏi của nhà cầm quyền thì đều bị những tổ chức hội đoàn đấu tranh cho Tự Do Ngôn Luận và Nhân Quyền chế nhạo là những kẻ hèn hạ như dê cừu.

Hãng YAHOO tại Trung Cộng đã bị chỉ trích dữ dội vì họ đã từng cung cấp những dữ kiện cá nhân của những ai truy cập Internet cho nhà cầm quyền Trung Cộng vào năm 2004, khiến cho nhà báo Shi Tao đã phải bị kết án tù giam 10 năm. YAHOO tại Trung Cộng hoạt động dưới tên Alibaba.com, mà YAHOO chỉ nắm một số nhỏ cổ phần trong đó. “Chúng tôi đã học một bài học khó khăn khi tiên phong làm việc tại những thị trường vừa mở cửa. Chúng tôi cũng đã chấp nhận những khó khăn cũng như đã cố gắng để trở thành một công ty hàng đầu trong thương trường cũng như trong vấn đề tôn trọng Nhân Quyền”, theo lời ông Michael Samway, Phó Giám Đốc và Phụ Tá Cố Vấn Trưởng Công Ty YAHOO.

Cũng theo YAHOO, nhà cầm quyền Việt Nam chưa hề gặp gỡ công ty YAHOO để đòi hỏi công ty này phải chiều theo chỉ thị mới. Thực ra, rất có thể trên giấy trắng, mực đen thì những công ty ngoại quốc (không do người Việt làm chủ) thì sẽ được miễn trừ chăng? “Chúng tôi chưa thấy những hành vi cụ thể nào từ nhà cầm quyền chứng tỏ rằng họ đang áp dụng những điều lệ mới đối với những công ty Internet nước ngoài”, Ông Samway đã nói như vậy. Tuy nhiên, YAHOO đang chuẩn bị những bước đi mà qua đó họ hy vọng sẽ tránh được những ràng buộc vô lối từ nhà cầm quyền Việt Nam mà một ví dụ điện hình là YAHOO đã thiết trí những máy chủ của hệ thống Việt Ngữ tại Singapore.

Những bloggers đang bị tù tội

Vào tháng 4/2008, nhà cầm quyền Việt Nam đã bắt giam chủ nhân trang blog “Điếu Cày”, tức Nguyễn Hoàng Hải; một người dũng cảm, trung trực và kết tội ông với tội danh trốn thuế. Những tổ chức đấu tranh cho Nhân Quyền đã cho biết rằng sự bắt bớ này là một hình thức khủng bố nhằm trấn áp những luồng chỉ trích nhà cầm quyền trên hệ thống mạng Internet. Ông Vincent Brossell, một phóng viên thuộc tổ chức PVKBG đặc trách khu vực Á Châu Thái Bình Dương đã lên tiếng rằng: “Họ sẽ không thể bỏ tù tất cả những blogger nào quan tâm đến vận mệnh đất nước Việt Nam, nhưng họ sẽ bắt giữ những người nào nổi tiếng nhất, có tiếng nói dũng cảm nhất và cả những ai viết về những vấn đề nổi cộm nhất. Và đó là phong cách làm việc của họ.”

Colin Maclay, Giám Đốc Điều Hành “Berman Center for Internet & Society” từ trường Đại Học lừng danh Harvard cho rằng “việc ngăn cấm công chúng của nhà cầm quyền Việt Nam có thể có tác dụng ngược; nó sẽ là tiền đề cho một cuộc đối đầu với những công ty cung cấp dịch vụ mạng Internet toàn cầu, qua đó các nhà blogger bất đồng chính kiến đã xử dụng như một khí cụ hữu hiệu.

YAHOO cũng đang xử dụng những bước kế tiếp nhằm chuẩn bị cho một cuộc đối đầu với những chính quyền nước ngoài. Tháng 10 năm 2008, YAHOO đã cùng với GOOGLE, MICROSOFT, Berman Center và rất nhiều tổ chức NGO vô vụ lợi khác đã gặp nhau thảo luận và tìm ra những hướng đi nhằm đối phó với những yêu sách từ những quốc gia khác. Tập đoàn này được gọi là “Global Network Initiative” đã gặp gỡ thường xuyên để thảo luận về những vấn đề này. Họ cũng đã mở ra những cuộc hội thảo đại chúng cũng như đã đưa ra những bản tin nhằm phản đối những sự việc cấm đoán như vậy trên hệ thống truyền thông đại chúng, tựa như sự chận đứng YouTube của Google tại Trung Cộng vừa qua.

Ngoài việc thiết trí những trang chủ tại Singapore, YAHOO còn cho biết là họ cũng đã thay đổi phương cách hoạt động và tư cách pháp lý để nhằm đáp ứng cho những hành động từ phía nhà cầm quyền. “Chúng tôi cần phải quan tâm và hành xử cho phù hợp với những phong tục, tập quán địa phương ở những nơi chúng tôi làm ăn, nhưng chúng tôi cũng quyết tâm giữ vững lập trường chính đáng bất di, bất dịch” ông Samway nói như vậy. Mặt khác, ông cũng còn thêm rằng ảnh hưởng của đầu tư từ ngoại quốc hiện nay rất quan trọng và là con số lớn tại một đất nước đang trong giai đoan mở mang như Việt Nam, so với Trung Cộng, một quốc gia có nền kinh tế phồn thịnh và phát triển hơn.

Những bước đi thận trọng của Google

Tình hình căng thẳng tại Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của nhiều phía, kể cả chính phủ Hoa Kỳ. Vào ngày 31 tháng 3, Dân Biểu Liên Bang Lorretta Sanchez (Đảng Dân Chủ-California) và 11 bạn đồng nghiệp trong Hạ viện Hoa Kỳ đã gởi một lá thư đến Giám Đốc Điều Hành công Ty YAHOO là Carol Bartz để yêu cầu công ty đừng cúi đầu với những đòi hỏi vô lý từ nhà cầm quyền Việt Nam để tiếp tay với họ trong việc kiểm soát và giới hạn trang mạng Internet nói trên. Ông Samway thuộc công ty YAHOO đã trả lời trên giấy trắng, mực đen rằng “Chúng tôi nhìn về phía trước để cùng tiếp tục làm việc với quý vị” trong vấn đề này.

Hãng YAHOO không phải là công ty duy nhất làm việc với Việt Nam trên lãnh vực này. GOOGLE trình làng qua mục “Tìm Kiếm” Search engine, Picasa với chia xẻ hình ảnh, và dịch vụ GOOGLE Groups; nhưng GOOGLE không cung cấp dữ kiện cá nhân của những chủ nhân các trang blog trong thị trường Internet nội địa, và họ cũng không lưu trữ dữ kiện cá nhân của những khách hàng người Việt Nam. “Khi chúng tôi quyết định cung cấp những sản phẩm và dịch vụ tại Việt Nam, chúng tôi đã cố gắng làm sao để có thể bảo vệ được những khách hàng người Việt Nam từ bàn tay lông lá muốn bóp nghẹt tự do ngôn luận trên mạng của nhà cầm quyền tại đây”, cô Nicole Wong, Phụ tá cố vấn trưởng Hãng GOOGLE đã cho biết như thế. Hệ thống trang mạng đại chúng Facebook - vừa được chuyển dịch sang tiếng Việt vào tháng 12 vừa qua và có sự gia tăng hoạt động gần đây - từ chối không bình luận về vấn đề này.

Bảo vệ những lối vào những trang mạng này hiện là mối ưu tư hàng đầu của nhiều người. “Vào thời điểm một ai đó không được có quyền hội họp, họ cũng chẳng có quyền phát biểu, không có Tự Do báo chí thì một nơi thoải mái nhất, tự do nhất để tìm tư liệu trung thực và chính xác nhất trên thế giới bên ngoài lại là trang mạng Internet”. Đó là lời phát biểu của bà Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez.

Yahoo's Delicate Dance in Vietnam
Douglas MacMillan là ký giả thường trực của tuần báo Business Week tại New York.