Thursday, May 28, 2009

Bức Tran Tuyệt Vời

Nguồn: http://cliptank.com/PeopleofInfluencePainting.htm

Đây có thể nói là một bức tranh độc đáo, vì người tạo ra nó đã tốn khá nhiều thời gian để lập trình.
Qua sự sắp xếp các nhân vật nổi tiếng từ Cổ chí Kim, những người đã sống cách đây vài chục năm, vài trăm năm lại với nhau, tác giả đã hoàn thành bức tranh như một bức hình chụp.

Nếu muốn thưởng thức trọn vẹn phải mất nhiều thời giờ, có khi cả ngày. Bức tranh có kích thước rất rộng và phải rê chuột từ phải sang trái mới thấy hết được. Muốn biết tên nhân vật nào chỉ cần chỉ mũi tên vào thì tên nhân vật đó sẽ hiện ra, và tiếp tục double click (nhấp chuột 2 lần) vào nhân vật đó thì sẽ hiện ra toàn bộ thân thế và sự nghiệp của nhân vật đó.

Khi hiện ra thân thế sự nghiệp của nhân vật bằng tiếng Anh. Lúc hiện bảng tiếng Anh thì xin mời nhìn sang phía bên trái, mục languages và chọn ngôn ngữ của mình thì sẽ tự động chuyển.

Chúc mọi người thành công.
Xin mời click vào đường link dưới đây để thưởng thức.

Famous People Painting with Wiki Links & mouse over tagging

Discussing the Divine Comedy with Dante

Painting by Dai Dudu, Li Tiezi, and Zhang An, 2006, oil on canvas - Image mapping with titles and wikipedia links
[AD] Share/Save/Bookmark

Charlie Chaplin Mike Tyson Vladimir Putin Adolf Hitler Audrey Hepburn Ludwig van Beethoven Michael Jordan Mohandas Karamchand Gandhi Albert Einstein Shirley Temple Joseph Stalin Che Guevara Marilyn Monroe Marlon Brando as Don Corleone - The Godfather Yasser Arafat Ariel Sharon Mother Teresa Mikhail Gorbachev Osama bin Laden Liu Xiang Luciano Pavarotti George W. Bush Charles, Prince of Wales Kofi Annan Saddam Hussein Bruce Lee Karl Marx Abraham Lincoln Dante Fidel Castro Napoleon I of France Alfred Hitchcock William Shakespeare Winston Churchill Elizabeth II of the United Kingdom Pelé Vladimir Lenin Charles Darwin Deng Xiaoping Benito Mussolini Sun Yat-sen Empress Dowager Cixi Guan Yu Lei Feng Zhou Enlai Mao Zedong Elvis Presley Confucius Genghis Khan Peter I the Great Qin Shi Huang Margaret Thatcher Wolfgang Amadeus Mozart Bill Clinton Vincent van Gogh Corneliu Baba Marcel Duchamp Leonardo da Vinci Mark Twain Aristotle Leo Tolstoy Lol Cat - Im ridin in a kamel pockits Charles de Gaulle King Tut (Tutankhamun) Attilla the Hun or Pavel Korchagin Henry Ford Sigmund Freud Jonas Salk Lewis Carroll Henri de Toulouse-Lautrec Friedrich Nietzsche Michelangelo Otto von Bismarck Salvador Dalí Julius Caesar Ernest Hemingway J. Robert Oppenheimer Socrates Bill Gates Steven Spielberg Chiang Kai-shek Liu Bei Pablo Picasso Henri Matisse General Claire Lee Chennault Peter the Apostle - Saint Peter Jean-Jacques Rousseau Cui Jian Li Bai Lao tzu Hideki Tojo Qi Baishi Run Run Shaw Alexander Pushkin John Philip Sousa or Alfred Nobel Niccolò Machiavelli or Marie Curie Johann Wolfgang von Goethe Lu Xun Sòng Qìnglíng Dolly the Cloned Sheep LOL Cat - I emms lookinn at ur heds Rosie O'Donnell Ol' Roy (Sam Walton's dog)

ĐÓA HỒNG CHO MỘT NHÀ SƯ - Nguyễn Duy Thành




Tháng 5 vùi đầu trong mùa thi
khi ve kêu phượng nở.
Tháng 5 nhớ thương Sài Gòn
với bàng hoàng-trăn trở
Tháng 5 mùa hoa sen nở . Hoa vô ưu về.
Tháng 5 này đáng ghi cần nhớ.

Nguyễn Duy Thành

Vâng ! đúng vậy. Khác với mọi năm. Tháng 5 của năm này. Giòng lịch sử của Việt Tộc ghi nhận thêm một sự kiện đấu tranh đòi công lý, dưới hình thức khá mới mẽ được phát truyền đi từ một vị Cao Tăng ái quốc. Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ.

- Biểu Tình Tại Gia - Bất Tuân Dân Sự

Hình thức đấu tranh này. Đối với người Việt Nam nghe sao mà là lạ ... và cũng quen quen ! Vì cảm nhận bất đồng nhất, nên đã không nhận ra hết sự vi diệu của hình thức đấu tranh này. Do đó. Ngoài việc hàng trăm hội đoàn và cá nhân yêu nước đã lên tiếng hưởng ứng lời kêu gọi, thì cũng có một số cá nhân thông qua Báo chí – Truyền thông đã đặt câu hỏi là:

- Liệu hình thức đấu tranh này có khả thi không ?

Thật khó có một câu trả lời mang tính nhất quán cho câu hỏi nói trên.

Bởi lẽ ! Phán xét và thẩm định về một quan điểm chính trị hay một khuynh hướng đấu tranh của một cá nhân, một tổ chức, xa hơn là của một chế độ. Có khi phải dựa vào yếu tố khách quan và chủ quan của lịch sử – văn hóa và dân tộc. Nhưng để có câu trả lời về sự khả thi, thì xin nhìn lại chặng đường 34 năm tranh đấu đã qua. Tất cả đều đồng niệm với ước mơ là đấu tranh giải thể chế độ cộng sản đem lại tự do dân chủ cho quê hương. Ước mơ đó quá lớn lao, nhưng tỷ lệ đạt được khả thi trong tranh đấu thật quá khiêm nhường, thật quá bé nhỏ đối với cộng đồng Việt Nam tranh đấu tại hải ngoại cũng như hàng trăm cá nhân bất đồng chính kiến tại quốc nội. Từ đó. Trong công cuộc bảo vệ tổ quốc khỏi bị lâm nguy vào vòng Hán Hóa nói chung, hay lòng ái quốc của mỗi con dân nước Việt nói riêng. Xin chớ nên hạn hẹp hỏi rằng có khả thi hay kết quả không ! Nhất là đối với một vị chân tu không vướng bụi hồng trần, nhưng vẫn khí khái can đảm tỏ lòng ái quốc để cứu nước cứu dân. Đấu tranh chống ngoại xâm bảo tồn dân tộc. Công việc này lớn lao lắm, ý nghĩa thiêng liêng lắm, không dễ dàng có được như mấy lát Bánh Mì hôm trước thích ăn, thì sáng hôm sau thức dậy đã có trên bàn.

Rất có thể ! Đã có sự lạm bàn xuất phát từ một góc cạnh tiêu cực hay phiếm diện nào đó ! Nhưng để có một cái nhìn khách quan và công tâm thì việc phân tích về khuynh hướng đấu tranh do Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ đưa ra chẳng có gì là khó. Đôi khi sau sự phân tích, bình luận , người ta có thể tìm ra những giải pháp tốt hơn, thực tế hơn để phù hợp với tình hình chính trị hiện nay của Việt Nam. Tuy nhiên , có thể khẳng định rằng. Dưới chế độ an ninh hà khắc của Cộng Sản Việt Nam thì khuynh hướng đấu tranh của vị Cao Tăng này đưa ra vẫn là một Tiền đề cho các cuộc đấu tranh kế tiếp. Dù là những cuộc đấu tranh sau này được đặt dưới sự lãnh đạo của một Cá nhân – Tổ Chức - Đảng phái hay Tôn giáo nào ! Bởi phương cách đấu tranh vẫn không thoát ra ngoài khuynh hướng: Bất Bạo Động .

BIỂU TÌNH TẠI GIA

Mới nghe qua hình thức đấu tranh này không khỏi khiến người ta ngạc nhiên và tự hỏi: Đấu tranh sao dễ dàng thế này ? Nghĩa là ở nhà không đi đâu hết. Nếu không muốn nói là Bạn cứ ngồi chơi xơi nước trong nhà. Giả định. Khi bạn có lòng ái quốc chống ngoại xâm, chống sự sai trái vô trách nhiệm của người lãnh đạo quốc gia. Bạn giải thích và nhắc nhở thành viên trong gia đình nên tham gia đấu tranh. Từ gia đình tới Xóm-Làng- Xã Quận đến Tỉnh Thành. Ai ai cũng thực hiện như Bạn trong một Tuần. Thì bên ngoài Xã hội sẽ ra sao ? Nếu tình trạng này xảy ra trong một Tháng thì Chế độ sẽ thế nào ? Về đâu ?. Xin bạn hãy hình dung và đừng hỏi. Liệu tất cả mọi người đều chịu thực hiện như thế hay không ? Câu trả lời không của riêng ai. Vì Việt Nam không của riêng ai. Ngay cả lời kêu gọi đấu tranh nói trên cũng chỉ xuất phát từ một con dân nước Việt muốn bảo vệ quê hương, giống nòi. Đừng nên ngôn ngữ hóa hay nhãn quan hóa quá mức từ lòng nghi ngờ hay phán đoán lòng ái quốc của một người, mà hãy nhẹ nhàng tự bảo mình: - Ông Sư này yêu nước. Mình cũng nên yêu nước. Như vậy. Bạn đã dành được sự kính trọng rồi.

BẤT TUÂN DÂN SỰ

Biểu tình tại gia hiểu một cách ngắn gọn là. Chỉ ở nhà không ra ngoài, thì tự nó là bất tuân dân sự rồi. Tại Việt Nam. Xét theo tình hình biến động hiện nay qua các cuộc đình công ở Hà Nội- Sài Gòn-Đồng Nai của anh chị em công nhân nhằm chống lại sự bất công, việc tự động tổ chức nghỉ việc để đấu tranh thì cũng là Bất Tuân Dân Sự rồi. Hay xét theo lịch sử đấu tranh của một số quốc gia Châu Á như An Độ – Phi Luật Tân. Thì hình thức đấu tranh này cũng không gì mới mẽ. Nếu không muốn nói là vẫn nằm trong khuôn khổ mà Mohandas Karamchand Gandy của An Độ. Là Cha đẻ của kế hoạch Đấu Tranh Bất Bạo Động từng thực hiện và thành công ngay trên quê hương của ông. Do đó một trong các nguyên tắc của đấu tranh bất bạo động thì có hình thức Bất Tuân Dân Sự. Nghĩa là người tham gia đấu tranh có thể từ chối thực hiện những việc mà họ vẫn thường làm hoặc trông đợi sẽ làm, hoặc bắt buộc phải làm theo yêu cầu của pháp luật.

Vì vậy, cần phải công tâm và thấu hiểu hết ý nghĩa sâu xa khi nhận xét về lời kêu gọi đấu tranh của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ. Trong nhãn quan bình thường khi nhận xét về kế hoạch đấu tranh của Ngài đưa ra. Tất cả cho thấy tiến trình đấu tranh nằm dưới dạng của sự: TỊNH. Một sự Tịnh Tâm Tịnh Lòng của một vị Chân Tu. Nhưng không ! Nếu có sự đồng tâm đồng sức thì kết quả của sự TỊNH kia sẽ biến thành một sự: ĐỘNG. Một cơn chấn động có thể phá sập một Chế độ độc tài. Điều căn bản và cũng là một câu hỏi là: Người Việt Nam Có Chịu Yêu Nước Không. Hay Chấp Nhận Lệ Thuộc Phương Bắc Một Lần Nữa ?

Xét trên quan điểm chính trị và khuynh hướng đấu tranh trải dài trong 34 năm qua mà nhiều Cá nhân bất đồng chính kiến hay các tổ chức chống cộng đã cố gắng, nhằm đem lại tự do dân chủ và nhân quyền cho quê hương. Thì hình ảnh của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ đáng được tôn kính, đáng được ngợi ca. Vì Ngài đã bất chấp sự quản thúc nghiêm ngặt, để ra lời kêu gọi đấu tranh như một tuyên chiến với chính quyền cộng sản việt nam. Lòng quả cảm và ái quốc của Ngài sẽ là tấm gương sáng cho các nhà đấu tranh dân chủ và các vị lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo đáng noi theo. Để cùng nhau hiệp thông mở ra một con đường tươi sáng cho quê hương. Để cho quốc gia Việt Nam độc lập trường tồn trong tinh thần tự quyết của dân tộc.

Chắn chắn hoa tự do sẽ nở rộ trên con đường dân chủ Việt Nam. Nhân Mùa Phật Đản. Nhân tháng đấu tranh như lời kêu gọi. Xin trân trọng kính gởi cầu nguyện đến Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ. Kính chúc Ngài trường thọ và vững chí đấu tranh. Kính chúc GHPGVNTH. Quý Chư Tăng Phật Tử luôn an mạnh để hỗ trợ cùng Ngài trong công cuộc giải trừ Pháp nạn và Quốc nạn trên Quê hương.

Trân trọng Kính Chào liệt vị,

Nguyễn Duy Thành

Tư cách một Bác sĩ! - Trần lam Sơn

Trần lam Sơn

BS Trần Xuân Ninh
Thấm thoát đã 34 năm CSVN thống trị Miền Nam Việt Nam và hơn nửa thế kỷ đầy đọa dân miền bắc. Biết bao thủ đoạn gian manh, độc ác dối lừa thế giới và toàn thể dân Việt hài hòa hầu mong giữ ngôi vị độc tôn. Sau 1975, người Việt lũ lượt bỏ nước ra đi bất chấp mọi hiểm nguy chết chóc cực khổ- để nói lên cho thế giới biết rằng- con người yêu chuộng tự do không thể chấp nhận chủ nghĩa CS khát máu, điên cuồng. Thế giới đã rộng mở bàn tay nhân ái cưu mang những người tỵ nạn ra đi từ VN (tôi may mắn nằm trong những người đã vuột thoát gông cùm của bọn việt gian Cộng Sản (VGCS).

Vốn dĩ với bản chất nhân ái, hiền hòa, cần cù cộng đồng người tị nạn vươn lên một cách mạnh mẽ đã đem lại những ngạc nhiên và khâm phục của người bản xứ. Nhưng rất tiếc, đi kèm với những đức tính dễ thương ấy người tị nạn VN lại dễ quên và hay tha thứ- quên đi những chuỗi ngày bị đầy ải, gian nan và rộng lượng dễ dãi thứ tha cho kẻ thù việt gian Cộng Sản (VGCS) bằng những chuyến thụ hưởng du lịch về VN, rộng tay nhân ái đóng góp cho những quỹ từ thiện vô bổ, hân hoan thơ thới tham dự những buổi trình diễn của những văn công Việt cộng, gởi tiền, kêu gọi ủng hộ hàng hóa sản xuất tại VN hoặc giả ngây thơ chấp nhận họp bàn với VGCS để chống CS Trung quốc đang tìm cách xâm chiếm VN bằng mọi hình thức. Chắc chắn những người ra đi tìm tự do bằng những con thuyền mong manh, bằng những con đường bộ xuyên núi rừng với muôn trùng hiểm nguy lúc ấy không ai còn nghĩ đến một ngày về???

Riêng cá nhân tôi dong duổi trên con thuyền nhỏ bé trốn thoát ngục tù CS trong một đêm tối vào năm 1982. May mắn thay tôi được đến bến bờ tự do sau những tháng ngày tạm trú tại Hongkong.Từ những ngày tạm trú ấy tôi chú tâm một phong trào, một chức tên gọi là MTQGTNGPVN.Những mẩu tin, những lời kêu gọi của những người còn có lòng với đất nước, những buổi hội thảo, trò chuyện mơ ước một ngày về. Được nghe MT có hơn 10 ngàn kháng chiến quân đang cố gắng thắp lên một đốm lửa nhỏ ở cuối đường hầm- nghĩ đến lòng tôi bỗng ấm lại.

Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh
Tôi và gia đình hăng hái xăn tay ủng hộ, đóng góp … hết mình cho những buổi văn nghệ, hội thảo, những cuộc biểu tình, những điều nghĩ rằng đóng góp trong công cuộc giải phóng … những người có lòng, có bầu nhiệt huyết, có tình tự dân tộc và tình yêu đất nước không cảm thấy mệt mỏi và hối tiếc khi cùng đồng hành với những chiến sĩ áo nâu. Dù có thư mời để tham gia vào MT nhưng tôi vẫn lưỡng lự vì thấy cách tổ chức và hình thức na ná với tổ chức của VC (mỗi lần đến những nhà của những người bạn áo nâu nhìn thấy hình chủ tịch Hòang Cơ Minh với chiếc khăn rằn trong bộ đồ bà ba đen treo trên tường, tôi thường lắc đầu, thở dài một cách rất ngao ngán và hình như cảm thấy ngọn lửa cỏn con ở cuối đường hầm đong đưa muốn tắt …)

Những ngày tháng tìm hiểu, thỉnh thoảng được mời họp chung với các anh em áo nâu xồng và miệt mài đọc báo kháng chiến, tôi lại có cảm tưởng con đường trở về dài thêm ra (có lẽ MT cố tình thi nhau kéo giãn ra và ngọn lửa ở cuối đường hầm trở nên yếu ớt lắm lắm …)

Khoảng sau năm 1990 (tôi không còn nhớ rõ thời gian …) trong lần biểu tình trước sứ quán VC trở về, anh em chúng tôi được mời tham dự buổi nói chuyện của Bs Trần xuân Ninh tổng vụ trưởng tổng vụ hải ngoại sau khi chuyến đi Âu châu trước khi trở về Mỹ muốn nói chuyện với một số đồng bào tại Anh Quốc gọi là tận tình thăm viếng, ủy lạo tinh thần đấu tranh.. Tôi đến tham dự với tinh thần không mấy háo hức đúng nghĩa là có một chút tò mò, thế thôi!

Hội trường nhỏ, ấm cúng chứa đủ 40 người hôm nay kể cả ban tổ chức và Bs TXN thuyết trình viên. Qua màn giới thiệu và BTC cho biết nội dung của buổi nói chuyện: ”Con đường đấu tranh giải thể chế độ CSVN để đưa VN đến tự do dân chủ và phú cường”. Bs TXN kể vài nơi chốn đã đi qua, những công cuộc đấu tranh của MTQGTNGPVN và những việc làm dự định trong tương lai. Sau đó là phần đặt câu hỏi của đồng bào tham dự nhưng tựu trung chỉ có 2 câu hỏi chính:

1. Mặt trận đã quy tụ được 10 ngàn quân kháng chiến? Những chiến công được đăng tải qua tờ báo Kháng Chiến có thật không?

Câu trả lời tóm gọn như sau: Vấn đế 10 ngàn quân thì thực tế con số đó không đến và những chiến công đạt được thì rất khiêm tốn vì việc chuyển quân và vũ khí nhưng vấn đề chính xin mọi người hiểu cho đây là vấn đề tâm lý chiến để tôn vinh tinh thần đấu tranh của các kháng chiến quân và khích động lòng yêu nước của toàn dân.. À! Thì ra là như thế! Giời ơi!
Bs Trần Xuân Ninh
2. Một cựu sĩ quan nhảy dù xin đặt câu hỏi sau: Xin Bs cho biết hiện giờ Chủ tịch Hoàng cơ Minh ở đâu và sống chết ra sao?

Bs Trần Xuân Ninh sửa lại cổ áo và hắng giọng:

- Câu hỏi này nhiều người quan tâm rất nhiều thì tiện đây tôi xin thưa, vì công cuộc đấu tranh và bảo toàn an ninh cho nên vấn đề bảo mật sẽ không và tuyệt đối không được tiết lộ cho đến một ngày nào đó Chủ Tịch sẽ xuất hiện một nơi nào đó để chúc tết đồng bào.

A! Thì ra phải đợi một mùa xuân đến. Rồi Bs Trần Xuân Minh đứng dậy với một giọng rất quả quyết:

Cá nhân tôi lấy danh dự của một bác sĩ để bảo đảm với đồng bào rằng Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh vẫn còn sống và sống rất hùng mạnh và kiên cường.

Tôi nghe đến đó người bỗng lạnh toát như người bị trúng gió - bị ma đuổi (Tôi lảo đảo bước ra hội trường với một nỗi buồn vô hạn và hình như đốm lửa cuối đường hầm vụt tắt ngúm …)

Quả, Bs là người quả cảm và đảm lược dám đem danh dự ra để bảo đảm Hoàng cơ Minh còn sống rât hùng mạnh mà không cần một bằng chứng- chẳng hạn thu lại cuộc điện đàm giữa- Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hải Ngoại cũng không thể nào liên lạc được với vị Chủ Tịch đầy kính trọng và quí mến hay sao???- hoặc bằng những cánh thư bình thường???Tại sao họ không làm???Tại sao không chứng minh cho đồng bào rõ???

Và tôi phải đợi gần 10 năm sau mới nhận được tin Cơ sở MT tuyên bố làm lễ Truy điệu cho Chủ tịch đáng yêu Hoàng cơ Minh của họ (ngày giờ tử nạn cũng không được công bố rõ ràng). Thế thì tôi và đồng bào bị lừa hơn mười mấy năm qua chỉ vì sự an nguy của Chủ Tịch mà thật ra vị anh hùng HCM đã hy sinh được lâu lắm rồi. Thật là ngụy biện , lừa bịp và bất kính (một lũ đầu trâu mặt ngựa)

Tôi bị ám ảnh bởi cử chỉ và giọng đầy cương quyết của tổng vụ trưởng tổng vụ hải ngoại xác định một lãnh tụ sống rất ư là hùng mạnh. Sao thế nhỉ? Chẳng lẽ tất cả những người hoạt động chính trị, đi làm cách mạng đều phải nói dối, phỉnh lừa thiên hạ?

Tôi mất niềm tin, đồng bào mất niềm tin của một tổ chức hùng mạnh hơn 10 ngàn kháng chiến quân. Tôi biết, tôi biết ngày về của tôi thăm thẳm ngọn lửa cuối đường hầm đã tắt ngúm, lạnh tanh từ lâu lắm rồi.

Gần đây, tôi lại được nghe, Vị Tổng vụ trưởng tổng vụ hải ngoại (Việt Tân đúng hướng …) lại chuyển nghề từ Bs sang thêm nghề thổi ống đu đủ- thổi ngay một ông già ác ôn tuổi đã sắp về trời- một đại tướng nổi tiếng đem quân ra nướng, nướng thành than không một ân hận nối tiếc (thân xác của hơn một triệu quân miền bắc, thân xác của chùa mà …)

Nói cho cùng, ông Giáp đã vụng tay nướng hơn 10 ngàn quân trong trận ĐBP, mấy chục ngàn trong trận Mậu thân, toi hơn 10 ngàn trong trận Khe sanh và nhiều vô số kể… Tôi bảo đảm lão tướng già này xuống âm phủ gặp diêm vương sẽ bị mổ bụng bôi trấu hoặc lãnh nhận những cực hình vô cùng khủng khiếp để đền tội thí quân.

Thú thật, một đại tướng chỉ đem nướng quân, dùng chiến thuật biển người dưới hỏa lực hùng hậu thì tướng hèn, tướng dốt cũng làm được cơ mà cần chó gì một bác sĩ đã từng trải qua sự nghiệp chính trị phải dùng ống đu đủ để bơm đít một lão già sắp chết mà không hề nghiên cứu lịch sử chiến tranh qua những trận đánh quả là liều lĩnh đáng sợ thật.

Nếu giả như một đoàn viên bình thường có những vụng dại, lỗi lầm là chuyện nhỏ nhưng với một nhà lãnh đạo tầm cỡ liều mạng vọng ngữ lấy danh dự ra bảo đảm cái sống chết của thủ lãnh HCM và không hiểu vì lý do gì để phải tôn vinh một kẻ sát nhân Võ nguyên Giáp không nghiên cứu, không ngượng miệng kể ra cũng hiếm có.

Theo hình ảnh được ghi lại trong ngày kỷ niệm “chiến thắng Điện Biên” có mụ chuyên nghề ngoại giao nói láo - Tôn nữ thị Ninh đến chúc mừng lão già đang đứng gần miệng lỗ- giả dụ- lão già sắp chết kia nghe được tiếng tung hô là “Tướng thiện” của một Bs chuyển sang nghề thồi ồng đu đủ để kiếm thêm lợi nhuận tên là Trần xuân Ninh có lẽ lão sẽ mừng rơi lệ. Rốt cuộc cả hai người Tôn nữ thị Ninh và Trần xuân Ninh chỉ cần thêm một dấu nặng thật to sau đít thì mới đúng loại người chỉ biết “NỊNH” mà thôi.

Trần lam Sơn

Anh Quốc ngày 27/05/09


Wednesday, May 27, 2009

Thượng tọa Thích Viên Định nói về Pháp lý của GHPGVNTN

PHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
E-mail: ubcv.ibib@buddhist. com


*
* *

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 27.5.2009
Thượng tọa Thích Viên Định nói về Pháp lý của GHPGVNTN

Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế vừa nhận được hai văn kiện trong nước gửi ra để phổ biến. Hai văn kiện liên quan đến sự sách nhiễu, đàn áp của nhà cầm quyền Hà Nội đối với 20 Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) ở các tỉnh Miền Trung và Miền Nam trong Mùa Phật Đản, mà đồng thời cũng là “Tháng 5 Bất Tuân Dân sự - Biểu tình Tại gia” do Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, GHPGVNTN, công bố hôm 29.3.2009.

Trong cuộc sách nhiễu, đàn áp các Ban Đại diện GHPGVNTN này, Nhà cầm quyền Cộng sản thường rêu rao rằng GHPGVNTN “bất hợp pháp”, vì đã sáp nhập vào “Giáo hội Phật giáo Nhà nước” năm 1981. Thượng tọa Thích Viên Định, Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, viết bài “Vấn đề Pháp lý của GHPGVNTN” phản biện luận điểm hồ đồ và phi pháp của Nhà nước Cộng sản.

Nhà cầm quyền Cộng sản tỏ ra vô cùng sợ hãi “Lời Kêu gọi Tháng 5 Bất tuân Dân sự - Biểu tình Tại gia” của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, nên đã viết bài trên báo An Ninh Thế giới của Bộ Công an mạ lỵ cuộc “Biểu tình Tại gia” trong số ra ngày 23.4.2009, và sang ngày 27.4.2009 báo Công an Nhân dân TP Hồ Chí Minh viết bài mạ lỵ ông Võ Văn Ái, Phát ngôn nhân Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, kiêm Giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế ở Paris, là cơ quan phổ biến Lời Kêu gọi. Những bài chẳng đáng quan tâm. Vì con thú cộng sản bị thương nên thấy cành cây tưởng cánh cung bắn nó, như một phản ứng Pavlov mà người đọc đã chán ngấy thứ ngôn ngữ chợ trời suốt mấy chục năm qua trên khắp mặt báo cộng sản.

Nhưng điều thú vị là trước hàng nghìn chữ ký tự phát của các tổ chức, đảng phái, hội đoàn, tôn giáo ở hải ngoại hưởng ứng và hoan nghênh Lời Kêu gọi của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, thì bỗng nhiên trên sa mạc tuyệt vọng phát ra tiếng rên rỉ của một vài bài chống đối của mấy kẻ tự nhận “Chống Cộng liệt mình”, kiểu Trần Thanh, a tòng mạ lỵ Lời Kêu gọi, một đồng một cốt với giọng điệu thất thanh của Bộ Công an ở Hà Nội.

Vì vậy phản ứng của người trong nước, từ Huế, cất lên dưới ngòi bút của Huynh trưởng Lê Công Cầu, Vụ trưởng Gia Đình Phật tử Vụ, Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, qua bài viết “Thư khuyên nhủ Trần Thanh, và ý nghĩa “Lời Kêu gọi Tháng 5 Bất tuân dân sự - Biểu tình Tại gia” của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ.

Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin đăng tải dưới đây toàn văn hai văn kiện này:

Vấn đề Pháp lý của
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN)

I. Pháp lý Phật Giáo Thời Độc lập Tự Chủ:


"Phật Giáo truyền vào Việt Nam vào từ đầu thế kỷ I Tây lịch, nhưng mãi đến thế kỷ VIII mới thật sự phát triển, nhịp nhàng với thời kỳ đất nước bước vào thời đại tự chủ, thoát khỏi ách đô hộ phương Bắc thời đó.

Trong thời gian ấy các nhà truyền giáo Việt Nam đã khéo léo đưa Phật giáo vào lòng dân tộc mỗi lúc mỗi sâu đậm, đến nay chúng ta không tìm đâu ra trong Phật giáo một dấu vết gì gọi là ngoại lai hay phi dân tộc. Đó là thành công lớn lao trong sự nghiệp truyền giáo của Tổ tiên chúng ta. Mặt khác, các nhà truyền giáo lúc bấy giờ cũng đã thành công nhiều trong sự nghiệp xây dựng đất nước, trong tư thế tự chủ hùng cường đối với phương Bắc sau bao thế kỷ bị đô hộ. Các nhân vật Phật giáo có công với đất nước như: Thái sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu thời Đinh (968-980) và thời tiền Lê (980-1009); Quốc sư Vạn Hạnh thời Lý Công Uẩn, Quốc sư Khô Đầu thời Lý Nhân Tôn, Quốc sư Minh Không thời Lý Thần Tôn, Quốc sư Viên Thông thời Lý Anh Tôn (1010-1225); Quốc sư Phù Vân Trần Thái Tôn v.v…và đã giúp các vua nhà Trần như: Thái Tôn, Nhân Tôn xuất gia đầu Phật sau khi bình định được các giặc giã bên ngoài mỡ rộng bờ cõi, xây dựng nước nhà vững mạnh (1225-1400). Các vị Tổ sư truyền giáo của chúng ta các thời ấy không hề cầu xin các triều đại pháp lý nào cả mà chính các triều đại ấy đã khâm ban tôn phong các Ngài những tước hiệu lớn lao vinh dự hơn cả ngôi vua thì có pháp lý hành chánh thông thường nào hơn thế nữa!” (trích Bản tham luận của GHPGVNTN kỳ VII năm 1977)

II. Pháp lý Phật Giáo thời Pháp thuộc đến chế độ Ngô Đình Diệm (1858- 1963):

Khi đất nước bước vào thời kỳ suy vi thì Phật giáo cùng chung số phận với dân tộc. Nghĩa là khi giặc Pháp xâm chiếm xứ sở thì nước mất nhà tan và Đạo pháp cũng suy sụp.

Tuy nhiên, vào các thời kỳ 1925- 1930, phong trào chấn hưng Phật giáo bắt đầu hoạt động thì thực dân Pháp bắt buộc các tổ chức Phật giáo Trung-Nam-Bắc thời đó muốn hoạt động phải chịu sự kiểm soát của chúng bằng những pháp lý cay nghiệt do các tên toàn quyền thuộc địa quyết định. Đó là những pháp lý tạm thời bất đắc dĩ và tủi nhục của một Tôn giáo cổ truyền của dân tộc từ địa vị một Tôn giáo xuống hàng Hiệp hội thông thường, và có lẽ chúng ta không bao giờ muốn có một pháp lý như vậy nữa.

III. Pháp lý của GHPGVNTN từ năm 1964 đến nay:

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời năm 1964. Sau năm 1975, hoàn cảnh đất nước thay đổi, nhưng GHPGVNTN cũng như nhiều Giáo Hội các Tôn giáo khác vẫn tiếp tục hoạt động.

Những sinh hoạt sau đây của GHPGVNTN sau năm 1975 là những minh chứng:

- Ngày 02.11.1975, xảy ra vụ 12 vị Tăng Ni ở Thiền Viện Dược Sư tại Cần Thơ tự thiêu chống đối đàn áp của cộng sản. Ông Mai Chí Thọ, lúc đó là Giám Đốc Sở Công An Sài Gòn, đến chùa Ấn Quang yêu cầu Viện Hóa Đạo GHPGVNTN cử người xuống Cần Thơ để cùng với nhà cầm quyền điều tra. Viện Hóa Đạo đã cử Hòa Thượng Thích Quảng Độ, lúc đó là Tổng Thư ký VHD, thay mặt GH, dẫn phái đoàn xuống Cần Thơ điều tra xác nhận việc này. (xem thêm trong sách “Nhận Định về Những Sai Lầm Tai Hại của Đảng Cộng Sản Việt Nam đối với Dân Tộc và Phật giáo” của HT Thích Quảng Độ, NXB Quê Mẹ, Paris 1995).

- Năm 1977, Thủ tướng Phạm văn Đồng đã ký lệnh thư “Không trở ngại” để GHPGVNTN được tổ chức Đại Hội Kỳ VII tại Sài gòn.

- Năm 1980, nhà cầm quyền chấp thuận việc GHPGVNTN mở Đại Giới Đàn Thiện Hòa tại chùa Ấn Quang Sài gòn. V.v…

Tuy vậy, bên trong, Cộng sản vẫn theo đuổi việc thực hiện châm ngôn của Lê Nin: “Đảng phải thông qua tôn giáo để tập hợp và khống chế quần chúng”, nên nhà cầm quyền đã tìm mọi cách để cai quản, điều khiển các Tổ chức tôn giáo.

Đối với Phật giáo, nhà cầm quyền Cộng sản có những hoạt động sau đây:

- Năm 1976, thành lập tổ chức “Phật Giáo Yêu Nước” do những vị sư theo cộng sản lãnh đạo, cộng với những vị sư xu thời. Tổ chức này rất nhỏ, ít nhân sự.

- Năm 1980, thành lập Ban Vận Động Thống Nhất Phật Giáo. Trong đó có các thành viên của GHPGVNTN như: HT Thích Trí Thủ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo làm trưởng ban, và các HT Thích Trí Tịnh, Thích Minh Châu …

- Năm 1981, thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, công cụ của đảng Cộng sản Hà Nội. (xin xem thêm Tài liệu “Thống Nhất Phật Giáo” của ông Đỗ Trung Hiếu)

Các tôn giáo khác, nhà cầm quyền cộng sản cũng có những hoạt động tương tự, nhưng mỗi tôn giáo có hoàn cảnh, hệ thống tổ chức khác nhau nên kết quả cũng khác nhau.

Việc Cộng sản thành lập những tổ chức làm công cụ cho họ để tuyên truyền là đương nhiên. Nhưng lắc léo ở chỗ, họ dùng một số người của mình, của Giáo Hội mình, GHPGVNTN, thi hành những việc theo ý muốn của họ, đó mới là vấn đề.

Năm 1981, Sau khi thành lập xong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN), thuộc MTTQ, nhà cầm quyền cộng sản tuyên truyền rằng GHPGVNTN không còn nữa, vì đã sáp nhập vào GHPGVN của MTTQ rồi.

Lý do nào Cộng sản nói như vậy?

Cộng sản lấy cớ việc Hòa thượng Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo nhận lãnh chức vụ Trưởng Ban vận động Thống Nhất Phật Giáo, tuy Ngài tuyên bố rằng, Ngài nhận lãnh chức vụ Trưởng Ban vận động là với tư cách cá nhân, vì không được sự đồng ý của Giáo Hội. Ngoài HT Trí Thủ, GHPGVNTN còn có HT Thích Minh Châu, Thích Trí Tịnh ... làm Phó Ban hoặc thành viên trong Ban vận động này. Đặc biệt nhất là có một phái đoàn Đại diện cho GHPGVNTN tham dự Đại Hội thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ Hà Nội, phái đoàn này do HT Thích Thiện Siêu, người không có chức vụ gì trong Viện Hóa Đạo, làm trưởng đoàn, và danh sách đề cử phái đoàn GHPGVNTN có đóng dấu Viện Hóa Đạo.

Sự thật việc đó như thế nào?

Xin trích một đoạn trong sách “Nhận Định về Những Sai Lầm của Đảng Cộng Sản Việt Nam Đối với Dân tộc và Phật Giáo” của Hòa thượng Thích Quảng Độ liên quan vấn đề này:

“… Đến khoảng tháng 9 năm 1981, cố H.T. Trí Thủ, với danh nghĩa Trưởng ban vận động thống nhất Phật giáo, đề nghị Viện Hóa Đạo cử Đại diện Giáo hội đi dự Đại hội thống nhất Phật giáo sẽ họp tại Hà Nội vào cuối năm đó. Tôi đề nghị, nhà nước đã không cho triệu tập Đại hội bất thường, thì bây giờ phải triệu tập Hội đồng Viện Hóa Đạo gồm mười một quận Giáo hội Đô thành để thông báo cho họ biết về việc này. Cố Hòa thượng Trí Thủ đồng ý.

Hôm sau tôi gửi văn thư mời các vị trong Ban Đại diện Giáo hội của mười một quận về chùa Ấn Quang họp. Hình như họ đã đoán trước được là cuộc họp này rất quan trọng nên họ về dự rất đông, không những chỉ có các vị Đại diện chính thức của mười một quận, mà còn có cả tăng ni về dự thính, ngồi chật giảng đường, đứng ngoài sân và trên các hành lang trong chùa. Cố H.T. Trí Thủ chủ tọa cuộc họp (xin nhắc lại, với tư cách Trưởng ban vận động thống nhất Phật giáo thì ngài là khách, nên lần trước ngài đã về "thăm xã giao" nhà Ngài. Nhưng hôm nay với tư cách Viện trưởng Viện Hóa Đạo nên Ngài chủ tọa cuộc họp). Với tư cách Tổng thư ký Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, tôi đứng lên tuyên bố rõ lý do triệu tập cuộc họp. Trước hết, tôi đọc lại các văn thư mà Viện Hóa đạo đã gửi ra phủ Thủ tướng tại Hà Nội nói rõ quá trình thành lập Giáo hội và các cơ cấu tổ chức cùng các hoạt động của Giáo hội tại miền Nam Việt Nam trước ngày đất nước thống nhất, đồng thời, gửi kèm bản Hiến chương và nội qui của Giáo hội để tường trình với nhà nước. Kế đó, tôi nói với các vị Đại diện Giáo hội trong cuộc họp như sau: "Nay H.T. Viện trưởng Viện Hóa Đạo đứng ra làm Trưởng ban vận động thống nhất Phật giáo, không biết ai đã thành lập ban này, thành lập ở đâu và ai đã bầu Hòa thượng làm Trưởng ban, Viện Hóa Đạo hoàn toàn không được biết điều đó, và cho đến nay, Giáo hội cũng chưa chính thức được mời dự bất cứ cuộc họp nào bàn về thống nhất Phật giáo. Bởi vậy, Giáo hội chưa biết thống nhất trên cơ sở nào, theo hình thức nào và sau khi thống nhất, tư cách pháp lý của GHPGVNTN sẽ ra sao. Đây là vấn đề tồn vong của Giáo hội, mà theo Hiến chương Giáo hội, phải do Đại hội quyết định. Cách đây mấy hôm, tôi đã được sở Công an mời ra bảo tôi phải đồng ý thống nhất, tôi đã nói với ông Quang Minh (người tiếp tôi) là Ban chỉ đạo Viện Hóa Đạo không đủ thẩm quyền quyết định việc quan trọng này, mà phải do Đại hội Giáo hội. Và tôi đã yêu cầu ông Quang Minh cho chúng tôi triệu tập Đại hội bất thường, mỗi tỉnh cần một vị Chánh đại diện hay Thư kí cũng được, nhưng ông Quang Minh đã không đồng ý, viện lẽ không còn đủ thì giờ! Bây giờ đây H.T. Viện trưởng đề nghị Viện Hóa Đạo cử Đại biểu Giáo hội đi dự Đại hội thống nhất Phật giáo sẽ họp ngoài Hà Nội, tôi nhận thấy Đại hội bất thường thì nhà nước không cho, bởi thế hôm nay Viện Hóa Đạo mời quí vị về họp để hỏi ý kiến và tùy quí vị quyết định”. Trước khi dứt lời để trao quyền điều khiển cuộc họp cho Hòa thượng chủ tọa, tôi có bày tỏ một vài ý kiến như sau:

"Kính bạch Hòa thượng Viện trưởng Viện Hóa Đạo chủ tọa cuộc họp, kính thưa toàn thể quí vị, chắc quí vị cũng như tôi đều thấy rõ hiện nay con thuyền GHPGVNTN đang lênh đênh giữa biển khơi và gặp sóng to gió lớn, chưa biết sẽ chìm lúc nào. Vậy, nếu những ai trong quí vị có mặt ở đây hôm nay cảm thấy nguy nan sợ hãi mà muốn bước sang thuyền khác để thoát thân, thì xin quý vị ấy cứ việc tự do, không ai ngăn cản cả. Nhưng tôi chỉ xin quí vị ấy một điều là: trước khi bước sang thuyền khác qúi vị cứ để mặc cho con thuyền Giáo hội lênh đênh trôi dạt trong sóng gió với những người còn ở lại trên đó, họ sẽ cố sức lèo lái, nếu may mắn vượt qua cơn nguy nan mà đến được bờ bình an thì họ sống, còn nếu chẳng may con thuyền chìm thì họ cũng sẽ sẵn sàng chết theo nó, chứ quí vị ấy đừng đang tâm nhận chìm con thuyền của mình mà có lần đã từng đưa quí vị đến bờ danh vọng, lợi lộc, trước khi bước sang thuyền khác. Tôi chỉ xin quý vị có thế thôi. Tôi dứt lời và cảm ơn quý vị".

Khi tôi nói xong thì cả trong hội trường và ngoài sân, ngoài các hành lang nổi lên những tràng pháo tay vang dội, rồi tôi thấy T.T. Trí Tịnh đứng dậy đi ra trước tiên, kế đó là T.T. Minh Châu và sau cùng là Hòa thượng Viện trưởng chủ tọa! Thế là cuộc họp tự nhiên cũng tan. Sau đó tôi nghe có tiếng vọng lại: "Hôm nay thầy Quảng Độ mời chúng tôi về đây để thóa mạ chúng tôi". Còn lại Thượng tọa Huyền Quang và tôi, chúng tôi nhìn nhau một lúc rồi cũng giải tán!”

Đó là cuộc họp cuối cùng của Viện Hóa Đạo bàn về việc có nên cử đại diện đi dự Đại Hội thành lập GHPGVN tại chùa Quán Sứ Hà Nội hay không, và cuộc họp đã có kết quả bất thành. Viện Hóa Đạo không còn cuộc họp nào khác bàn về vấn đề này nữa.

Hòa Thượng Quảng Độ viết tiếp:

“Ba hôm sau, Văn phòng Viện Hóa Đạo nhận được bản "Thông báo" của Ban vận động thống nhất Phật giáo đề ngày 17-9-1981, do T.T. Minh Châu kí tên, dài lắm, tôi chỉ còn nhớ một đoạn ngắn, vì có lẽ nó là đoạn quan trọng nhất trong bản Thông báo. Đoạn ấy như sau:

"... Thượng tọa Thích Quảng Độ, Tổng thư ký Viện Hóa Đạo, đã triệt hạ uy tín của toàn Ban vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam, phá hoại công cuộc thống nhất Phật giáo, ngang nhiên thách thức với chính phủ và Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam là những người đang khuyến khích và hỗ trợ sự nghiệp thống nhất Phật giáo cả nước!".

“Nhân đây tôi cũng xin thanh minh rằng tôi không chủ trương "phá hoại thống nhất Phật giáo" mà tôi chỉ muốn thống nhất trong tinh thần hòa hợp, đồng thuận theo đúng luật Phật "Hòa hợp phủ? - Hòa hợp!" (chư tăng có hòa hợp không? - Hòa hợp!); nghĩa là việc thống nhất Phật giáo là việc của chư tăng hai miền Nam Bắc, phải do chư tăng hai miền quyết định một cách hòa hợp và đồng thuận, chứ tôi không muốn nhà nước cộng sản can thiệp vào rồi bắt chúng tôi phải thống nhất theo ý muốn của nhà nước để sau dễ bề lợi dụng Giáo hội cho những mục đích chính trị và hợp thức hóa cho chủ trương tiêu diệt Phật giáo của đảng và nhà nước cộng sản.”

"Ðến cuối năm 1981, Ðại hội thống nhất Phật giáo chính thức được mở ra tại Hà Nội. Tôi được biết, T.T. Thích Thiện Siêu cầm đầu một phái đoàn mười người nói là đại diện cho Giáo-hội Phật giáo Việt-nam Thống nhất, có văn thư đề cử đóng khuôn dấu Viện Hóa Ðạo đường hoàng, tôi rất ngạc nhiên. Bởi vì T.T. Thiện Siêu có chức vụ gì trong Viện Hóa Ðạo đâu, mà Viện Hóa Ðạo cử T.T. Thiện Siêu làm đại biểu của Viện đi dự họp, còn khuôn dấu Viện Hóa Ðạo do tôi cất giữ, khi đến văn phòng thì tôi mang đến, hết giờ làm việc thì tôi mang về, vậy khuôn dấu ở đâu ra ? Lúc đầu tôi không tin, bởi lẽ tôi biết T.T. Thiện Siêu là bậc học thức, có đức hạnh, tôi rất kính trọng Thượng tọa và tuyệt đại đa số tăng ni miền Nam cũng thế, không tin Thượng tọa lại có thể làm một việc như vậy, nhưng sau tôi mới biết rõ đó là sự thật !”

Một bằng chứng khác, chứng tỏ GHPGVNTN không hề gia nhập vào GHPGVN, là 2 bức thư của HT Thích Đôn Hậu, Chánh Thư ký Viện Tăng Thống GHPGVNTN viết cho HT Thích Trí Thủ, Trưởng ban vận động thống nhất Phật giáo Việt nam và HT Thích Đức Nhuận, Pháp chủ GHPGVN:
THƯ GỬI HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ THỦ,
Trưởng ban vận động thống nhất Phật Giáo Việt nam
Phật lịch 2525,
Linh Mụ, ngày 24 tháng 11 năm1981.

Kính gởi:
Hòa Thượng THÍCH TRÍ THỦ
Trưởng ban vận động thống nhất Phật Giáo Việt nam.
Chủ tịch Đoàn Chủ tịch
Đại hội Đại biểu Thống nhất Phật Giáo Việt Nam.
(tổ chức tại Hà Nội từ ngày 4 đến 7. 11. 1981).
Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Thưa Hòa thượng,

Như Hòa thượng đã biết, từ mùa xuân năm 1980, khi Ban vận động thống nhất Phật Giáo Việt Nam ra đời, tuy quí vị có ghi tên tôi vào Ban vận động, với danh nghĩa Cố vấn, nhưng tôi đã không có sự cộng tác gì với Ban vận động cả, kể cả cuộc Đại hội thống nhất Phật Giáo Việt Nam vừa qua tôi đã vắng mặt. Thế nhưng, qua báo chí và các văn kiện Đại hội phổ biến, lại thấy có tên tôi trong Ban Thường trực Hội đồng chứng minh với chức vụ Phó Pháp chủ kiêm Giám Luật.

Tôi xin chân thành cảm ơn Hòa thượng và Đại hội đã dành cho tôi vinh dự đó. Tuy nhiên vì lý do sức khỏe nên tôi không thể đảm nhận thêm chức vụ này được nữa, trong khi tôi vẫn còn một trách nhiệm lớn đối với Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất trong cương vị Chánh Thư ký kiêm Xử lý Viện Tăng Thống.

Do đó, nay tôi viết thư này kính tin Hòa thượng rõ, và nhờ Hòa thượng hoan hỷ chuyển đạt tinh thần bức thư này đến quý vị trong Đoàn Chủ tịch cuộc Đại hội vừa qua.
Kính chúc Hòa thượng pháp thể khinh an, chúng sanh di độ. Và mong Hòa thượng nhận nơi đây lòng chân thành của chúng tôi.

Nay thư,
Tỳ kheo THÍCH ĐÔN HẬU
(ấn ký)

THƯ GỬI HÒA THƯỢNG THÍCH ĐỨC NHUẬN,
Pháp chủ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam

Phật lịch 2525,
Bệnh viện Thống Nhất, ngày 08.02.1982
Kính gởi:
Hòa Thượng THÍCH ĐỨC NHUẬN
Pháp chủ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch Hòa Thượng,

Vào những ngày cuối cùng của năm Tân Dậu, vì bệnh tình bức bách, nên ngày 21. 01.1982, tôi đành phải rời Huế, vào thành phố Hồ Chí Minh để chữa bệnh, giữa lúc mọi người đang hoan lạc đón xuân sang, và cho đến hiện nay tôi vẫn đang còn được điều trị tại bệnh viện Thống nhất, thành phố Hồ Chí Minh.

Trong thời gian ấy, ngày 07- 02-1982, tôi lại nhận được lá thư của Hòa thượng gởi cho tôi với danh nghĩa Phó Pháp chủ kiêm Giám Luật Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Nội dung bức thư ấy, Hòa thượng báo tin cho tôi biết là Hội nghị Đại biểu thống nhất Phật Giáo Việt Nam đã thành tựu viên mãn, cũng như Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định công nhận Bản Hiến chương, danh sách Ban Lãnh đạo và cho phép Giáo hội Phật Giáo Việt Nam hoạt động. Đồng thời Hòa thượng đã có lời khuyên tôi cố gắng cộng tác với Giáo hội trong chức vụ nói trên.

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn lòng thạnh tình của Hòa thượng đối với tôi, đồng thời, tôi rất lấy làm vinh dự và tri ân quý Hòa thượng đã dành cho tôi một chức vụ quan trọng như thế. Nhưng, thưa Hòa thượng, như Hòa thượng đã biết, vào đầu mùa xuân năm 1980, cũng chính là lúc tôi đang nằm điều trị ở bệnh viện Thống nhất này, thì hay tin Ban vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam được thành lập, trong đó tôi được có tên với danh nghĩa Cố vấn. Thế nhưng bệnh duyên chướng ngại, nên tôi đã không tham gia được một Phật sự nào đáng kể, ngay cả cuộc Hội nghị Đại biểu vừa qua tôi cũng phải vắng mặt. Cho nên, tôi xét thấy mình tuổi đã già, sức đã yếu lại bệnh hoạn liên miên và mỗi ngày càng thêm trầm trọng. Do đó, tôi viết thư này để kính báo với Hòa thượng để Hòa thượng rõ là tôi không thể đảm nhận được chức vụ quan trọng "Phó Pháp chủ kiêm Giám Luật" Giáo hội Phật Giáo Việt Nam mà hội nghị đã đề cử.

Tuy vậy, riêng cá nhân, tôi vẫn luôn luôn tâm nguyện sẽ tiếp tục đem tất cả sức tàn ra phụng sự chánh pháp trong khả năng còn lại của mình và trong điều kiện sức khỏe cho phép.

Rất mong Hòa thượng thông cảm và nhận nơi đây lòng chân thành của tôi. Kính chúc Hòa thượng phước trí nhị nghiêm, chúng sanh dị độ.

Kính thư,
Tỳ kheo ĐÔN HẬU
(ấn ký)

Do sự léo lận, dối trá, lập phái đoàn giả, đóng dấu giả, mạo xưng GHPGVNTN tham dự Đại Hội tại chùa Quán sứ Hà Nội, nhà cầm quyền Cộng sản đã phi pháp tuyên bố rằng, GHPGVNTN đã tự nguyện sáp nhập vào GHPGVN của Mặt Trận Tổ Quốc từ năm 1981, nay không còn nữa.

Sau khi thành lập tổ chức Trung Ương GHPGVN ở Hà Nội xong, nhà cầm quyền cộng sản thành lập các tổ chức GH tại địa phương. Bắt đầu là Thành phố Sài gòn. Lúc này, nhị vị Hòa Thượng Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Tổng Thư ký Viện Hóa Đạo Thích Quảng Độ vẫn tiếp tục làm việc tại Văn Phòng Viện Hóa Đạo chùa Ấn Quang, hào quang của hai Hòa Thượng vẫn phủ khắp, chư Tăng vẫn hướng về GHPGVNTN, không ai chịu nhận bất cứ chức vụ gì trong Giáo Hội nhà nước. Để đối phó trở ngại này, có người hiến kế, “đập rắn phải đập đầu”, Cộng sản thực hiện ngay bằng cách bắt hai Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ đem đi lưu đày biệt xứ. Nhờ đó việc thành lập Giáo Hội nhà nước thành phố Sài gòn cũng hoàn tất nhanh chóng, vì chư Tăng, nghe tin hai Hòa Thượng đã bị bắt, ai cũng khiếp sợ, răm rắp tuân theo. Đến đây, GHPGVNTN như rắn mất đầu, các Phật sự đều bị đình đốn, vì một số thành viên lãnh đạo đi tỵ nạn ở nước ngoài, số còn lại hoặc bị tù hoặc bị giết. Mãi đến năm 2003, Đại Hội Bất Thường tại Tu Viện Nguyên Thiều tỉnh Bình Định, Hội Đồng Lưỡng Viện mới được kiện toàn đầy đủ, tiếp đó là Ban Đại diện GHPGVNTN các Tỉnh, Thành, Quận, Huyện tái phục hoạt trở lại.

Đó là những bằng chứng GHPGVNTN không hề gia nhập GHPGVN của nhà nước, chỉ có những cá nhân thuộc GHPGVNTN gia nhập GHPGVN mà thôi. Nhà cầm quyền cộng sản cũng không có một văn thư nào chính thức giải thể GHPGVNTN. Vì vậy GHPGVNTN vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục hoạt động, mặc dù Phật sự có đôi lúc bị đình trệ, nhưng GHPGVNTN vẫn sống, và tiếp tục sống. Nhà cầm quyền Cộng sản, đến nay, vẫn chưa giải quyết những khiếu nại của GHPGVNTN về những vi phạm như, phải làm minh bạch cái chết của Hòa Thượng Thích Thiện Minh, Cố vấn Viện Hóa Đạo, phải hoàn trả ngôi Việt Nam Quốc Tự và các tài sản khác cho GHPGVNTN mà Nhà cầm quyền Cộng sản đã cưỡng chiếm bất hợp pháp sau năm 1975. Trong khi chưa giải quyết những khiếu nại, những nợ nần của GHPGVNTN, Nhà cầm quyền Cộng sản lại tìm cách dụ dỗ GHPGVNTN đăng ký, mặc nhiên, trở thành một Giáo Hội tân lập, đoạn tuyệt hẳn với quá khứ, để khỏi phải giải quyết những món nợ đã gây ra cho GHPGVNTN hay sao?.

GHPGVNTN không phải là Giáo Hội tân lập. GHPGVNTN không cần “đăng ký” với ai cả.

Có nhiều người, cả trong lẫn ngoài nước, ngay cả một số thành viên của GHPGVNTN, không rõ vấn đề phức tạp, lắc léo này, không biết rằng pháp lý của GHPGVNTN từ trước đến nay hoàn toàn hợp pháp. Hơn nữa, ở miền Nam Việt nam này chưa có tôn giáo nào xét lại pháp lý cả.
Khi thành lập xong GHPGVN, thành viên của Mặt Trân Tổ Quốc, một công cụ của đảng Cộng sản, nhà cầm quyền bắt đầu tổ chức những cuộc đấu tố nhị vị Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ trên khắp cả nước.

Chiến dịch này, với sự tuyên truyền rộng rãi trên các báo đài, trong nội bộ Tăng Ni bằng sự kích động, xúi giục, móm ý cho rằng hai Ngài là “thiểu số” chống lại đa số (luận điệu đưa ra là chỉ có 2 Hòa thượng thuộc GHPGVNTN chống lại Giáo Hội nhà nước, trong khi có cả chục ngàn Tăng, Ni gia nhập Giáo hội Nhà nước), hai Ngài “phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”, “phá hòa hợp Tăng”, “phản động”, v.v… Nhưng nhà cầm quyền cộng sản không thu hoạch được gì, vì do chư Tăng không còn lối thoát, bị ép buộc, đe dọa, khủng bố nên buộc lòng phải gia nhập Giáo Hội nhà nước, nhưng lương tâm mỗi người không ai mở miệng nói ra những lời lẽ trái đạo, khinh sư diệt tổ, chống lại gốc rễ, cội nguồn. Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Cố vấn Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo nhắc nhở rằng: “Dù làm việc gì, ở đâu, không ai trong chúng ta quên rằng mình là thành viên của GHPGVNTN”.

Một đóa sen thơm xin cúng dường cho mỗi chư Tăng, và những ai tuy sống trong bùn lầy nước đọng, nhưng lòng vẫn tinh khiết, không nhiễm tanh hôi. Chỉ tiếc rằng, những vị lãnh đạo Giáo Hội, nhất là những vị lãnh đạo cao cấp, làm đầu tàu, làm thuyền trưởng, trong lúc sóng to, gió lớn, không vững tay chèo, vội bỏ thuyền cũ, bước sang thuyền mới, bỏ lại bao khách lữ lênh đênh trong sóng gió, bão bùng. Mà cái Giáo Hội mới ấy, thực chất là gì? Hãy nghe Ông Đỗ Trung Hiếu, kiến trúc sư làm ra cái Giáo Hội ấy ăn năn, bộc bạch: “Cuộc Thống nhất Phật Giáo lần này, bên ngoài do các Hòa thượng gánh vác, nhưng bên trong bàn tay Đảng Cộng sản Việt nam xuyên suốt quá trình thống nhất để nắm và biến tướng Phật giáo Việt Nam trở thành một tổ chức bù nhìn của Đảng”. Vậy, con thuyền mới, cái Giáo Hội mới đó, có đẹp đẽ gì đâu, chỉ là một cái hội chẳng những không có tính cách pháp nhân của một tôn giáo lớn như Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, lại cũng chẳng được hưởng quy chế Hiệp hội như thời thực dân, mà nó chỉ còn là một tổ chức có tính cách nằm trong hiệp hội, đó là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Như lời than của Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Cố vấn Viện Hóa Đạo:

"Đau xót biết bao", Hòa thượng Đức Nhuận viết như đang khóc, "khi Phật giáo Việt Nam từ con lạch nhỏ đã vùng thoát ra được đại dương, thì nay quý Hòa thượng lại tự bước vào một vũng ao tù." (tài liệu của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, Paris)

Sau năm 2003, GHPGVNTN vừa mới phục hoạt, còn yếu ớt, Cộng sản lại tiếp tục dùng phương sách cũ, cài người vào Giáo Hội, dụ dỗ, bắt chẹt, dùng người của GHPGVNTN chống phá GHPGVNTN, nhất là tuyên truyền GHPGVNTN sống không có pháp lý, đưa ra chiêu bài đăng ký, hoặc hòa hợp hòa giải, làm văn hóa, từ thiện… tạo ra tình trạng ly khai, chia rẽ trong Giáo Hội. Nhưng rất may, Đức Cố Tăng Thống, Đại Lão Hòa thượng Thích Huyền Quang đã sáng suốt kịp thời ban hành Giáo Chỉ số 09, tái thiết cơ cấu, chấn chỉnh nhân sự cho Giáo Hội vững chắc, Phật sự không bị trở ngại. Nếu không, GHPGVNTN, một lần nữa, lại bị thêm một cơn biến động làm tan nát, đình trệ như năm 1981.

Ngày 29.3.2009, Đại Lão Hòa thượng Thích Quảng Độ Xử Lý Viện Tăng Thống, kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo thay mặt Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN cất Lời Kêu Gọi Biểu tình tại gia, Bất tuân dân sự để bảo vệ Tổ quốc Việt nam khỏi họa xâm lăng của Trung cộng, nên Trung cộng và tay sai rất cay cú, một lần nữa, tìm cách bôi nhọ pháp lý của GHPGVNTN, vu cho rằng, GHPGVNTN là mạo xưng.

Thật ra, Nhà cầm quyền cộng sản mới là kẻ trí trá đóng dấu giả Viện Hóa Đạo, mạo lập phái đoàn GHPGVNTN giả để tham gia Đại Hội tại chùa Quán Sứ Hà nội năm 1981, để nói rằng GHPGVNTN đã “gia nhập vào Giáo hội của nhà nước”, GHPGVNTN không còn nữa. Cũng như thế, Trung cộng không thể căn cứ vào Công Hàm bán nước, bất hợp pháp, vô giá trị của Thủ tướng Bắc Việt, Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958, dâng hai quần đảo Hoàng sa, Trường sa cho Trung cộng để khi nhà cầm quyền Việt Nam bổ nhiệm Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa, ngày 29.4.2009, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Trung quốc Khương Du, cả quyết: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Tây Sa cùng vùng biển xung quanh. Trung Quốc và Việt Nam không tồn tại tranh luận đối với quần đảo Tây Sa. Cách làm kể trên của phía Việt Nam là trái phép và vô hiệu”. Cộng sản với bản chất vô thần, độc tài, luôn gian dối, làm những điều ngang ngược, vô lý!

GHPGVNTN là Giáo Hội Dân lập, kế thừa 2000 năm của chư Tổ, có quyền sống, vẫn sống, vẫn tiếp tục cùng Dân tộc vận động cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và toàn vẹn lãnh thổ cho quê hương Việt Nam đến ngày thành công.

Thích Viên Định