Monday, May 18, 2009

Tiền là Tiên là Phật - Bùi Trọng Nghĩa

Bùi Trọng Nghĩa
(phiếm)

“Khi nào tường đá nở hoa; nhà tù họp chợ thì ta sẽ về.” Ðó là lời “Sấm” phát xuất từ những người tù “cải tạo“ trại Ba-Sao tỉnh Nam-Hà vào khoảng năm 1980. Ngày đó, sắp đến Tết Nguyên-Ðán, tù nhân phải vẽ hoa trên tường đá cao hơn hai thước, phía ngoài chung quanh trại giam. Ðồng thời cũng là lần đầu tiên các cai tù “thi đua” bán hàng ăn cho tù nhân. Ðúng là một biến cố lớn! Sau năm năm tù giam biệt xứ, các quan “ngụy” được đi chợ sắm tết thỏa thê. Người tù thì mua, cai tù thì bán ... Tíu tít, ồn ào, náo nhiệt như ở chợ Bà-Chiểu năm xưa. Ðặc biệt là mấy cai tù, tranh nhau khách hàng, cãi nhau chí chóe. Dùng đủ mọi lời để chê hàng của “đồng chí” khác! Thời kỳ kinh tế mở cửa ... ở nhà tù bắt đầu.

Tôi có một người bạn, anh là một nhiếp ảnh gia khá nổi tiếng. Trong chuyến về Việt-Nam vừa qua, anh có ý muốn thâu thập một ít cảnh đẹp, thiên nhiên của núi rừng Hoàng Liên Sơn. Trên đường Nghĩa-Lộ thuộc tỉnh Yên-Bái, anh dừng chân ở một quán nhỏ, mái tranh, vách đất bán đồ nhậu, gọi là quán nhậu, nhưng thật ra chỉ lèo tèo vài con khô mực, vài con cá khô, với vài ba cút rượu trắng. Trong quán đã có sẵn hai, ba người khách, xem ra có vẻ đã xưa sứa. Một tửu khách chửi thề: “M ... giải phóng xong, mấy thằng đảng viên có máu mặt cùng họ hàng nhà nó vội vàng ùa vào Nam. Mình không có đảng tịch nó bắt ở lại đón bọn “ngụy” đưa ra giam ở ngoài này. Ngày nay đứa nào đứa nấy giầu sụ, béo tròn, có nhà, có của ở trong đó, lại còn ôm đầy tay về ngoài này, chia nhau mua đất, cất nhà. Con cháu, họ hàng chúng nó ăn xài, vênh váo! Còn mình coi mấy thằng tù, bán cho chúng nó vài cân gạo, vài củ khoai, vài cây rau xanh. Bây giờ phục viên, nghèo rớt mùng tơi, sống vất vưỡng như con chó đói. Hy sinh đời bố, củng cố đời con, mình hy sinh, chúng nó thì không, vậy mà bây giờ nó cũng cố con cháu nó đi ăn, đi chơi, đi du học ở tít tận bên Mỹ, ăn xài cả trăm ngàn đô la mỗi tháng, lại còn mua nhà, mua đất, làm ăn, phát huy kinh tế ngay giữa cái thủ đô của người Việt ở bên đó. Nghĩ mà tức hộc máu mồm.”

Một người bạn nhậu của hắn an ủi: “Thôi đi, than thở làm gì, Ðại Tướng Giáp nhà mình kia, ai lại không biết, một đại đảng viên to tổ bố còn bị nó cho ‘Ngày xưa đại tướng cầm quân; bây giờ đại tướng cầm quần chị em’ đó thôi.”

Chiến tranh đã kết thúc, những “Cương lĩnh chính trị” trong đấu tranh “Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” đã lỗi thời, không còn nữa, giờ đây “Ðảng ta”, thay vào đó là “cương lĩnh kinh tế” như sau:

“Tiền là tiên, là Phật, là sức bật của con người, là tiếng cười của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân, là cán cân công lý, là thắm tình đồng chí. Tiền là hết ý.”

Vậy thì “tiền là hết ý” ra sao? Mẹ tôi, vượt ngàn dặm trên con tàu “Thống-Nhất,” để đi tiếp tế, nuôi con. Sau năm năm cách biệt, lần đầu tiên gặp lại, thay vì hỏi han con mình, bà chỉ than thơ: “Suốt ba ngày không chợp mắt, chỉ tại con mụ Bắc kỳ vào Nam buôn hàng mang ra Bắc, thằng chồng ngồi ôm hàng ngủ gật, để mất cắp hai gói bột mì chính (bột ngọt), mà nó chửi chồng nó lải nhải suốt dọc đường.”

Tôi hỏi: “Vậy không ai can gián sao?” Mẹ tôi trả lời: “Ai mà dám lên tiếng, cái mặt nó cứ vênh lên ra điều ta đây là kẻ thắng trận.” Quà mẹ tôi tiếp tế có hai hộp sữa ông thọ, đó ý là “thuốc bổ” quý nhất của tôi để phòng lúc cơ hàn, ốm đau. Nhưng khi khui ra, trong ruột toàn là bùn đen, bóc nhãn hiệu, cạnh hộp có một vết hàn nhỏ, chính từ cái lỗ hàn đó, sữa đã được rút ra, bùn được bơm vào. Mẹ tôi cho biết hai hộp sữa quý đó đã được bán ngay giữa thủ đô Hà-Nội ngàn năm văn vật, nơi mà con cháu “Bác Hồ”, người của “đỉnh cao trí tuệ” đã giải phóng từ ngày 20-7-1954. Tội nghiệp mẹ tôi, bà đã phải nhịn ăn để có hai hộp sữa đó.

“Quyền lực của đồng tiền trong đời sống con người, được người Mỹ diễn tả bằng câu: “Money talk,” còn người Pháp là: “Largent c’est la clé, qui ouvre toute la porte,” (Tiền là cái chìa khóa mở được mọi cửa). Tôi tưởng rằng như vậy đã là “hết ý,” nào ngờ con cháu “Bác Hồ” được bác trồng mới chưa đủ trăm năm mà đã tình tự ví tiền ngang với ông Phật, ông Tiên, thì quả thật cái sáng tạo của họ trong đấu tranh “giải phóng” đồng tiền, vận dụng vào thực tế đời người, vượt xa ngàn dặm mấy cái ông Mỹ, và ông Pháp. Ví von đồng tiền như cái “cương lĩnh kinh tế” của người Hà-Nội, thì người Sài-Gòn chào thua. Vì ở miền Nam “phồn vinh giả tạo” kia chưa từng có hộp sữa nào có ruột là bùn, chưa từng có chị vợ nào chửi chồng sa sả chỉ vì đánh mất hai gói bột ngọt như cháu gái ngoan của “Bác Hồ”.

Vào, vơ, vét, về, đó là bước đầu của “cương lĩnh”. Tiếp theo là cướp, là trấn lột, qua những “chiến dịch” đánh tư sản mại bản, đánh tiểu tư sản, đổi tiền, đi kinh tế mới, cướp nhà, cướp của... Trong tù, tôi được một chiến hữu kể rằng: “Hai tên công an áo vàng, mới từ miền Bắc vào, bước vào nhà anh, hùng hổ, hách dịch hỏi anh rằng ‘Anh đi lính, lương hàng tháng của anh được bao nhiêu?", anh trả lời: ‘Tiền lương chỉ đủ để sống." Tên công an hỏi tiếp: ‘Vợ, con anh làm gì?’ anh trả lời: ‘Con đi học, vợ ở nhà chăm sóc con cái, bếp nước.’ Tên công an kết luận: ‘Tiền lương chỉ đủ sống, vậy tiền ở đâu anh có được căn ‘hộ’ to như thế này? Rõ ràng là chỉ có từ nhân dân. Anh lấy của nhân dân, vậy, bây giờ anh phải trả lại nhân dân. Anh và vợ con có ba ngày để chuẩn bị ra khỏi nhà này.’ Ðúng ba ngày sau, một lực lượng công an võ trang đến áp đảo đẩy vợ chồng, con cái anh ra khỏi căn nhà được xây cất bằng mồ hôi, nước mắt của vợ chồng anh qua bao năm. Trong đám hàng xóm vây quanh đứng xem, có người lẩm bẩm: ‘bọn cướp cạn.’” Ngày ra tù, anh về sống ở vùng kinh tế mới với vợ con, nơi đất hoang, xa xôi hẻo lánh. Bây giờ, 34 năm sau, căn nhà của anh trị giá cả triệu đô la, người ở ra, vào nói giọng Bắc kỳ 75 khó nghe. Tôi trộm nghĩ, nếu có ai đó thử làm một cuộc tổng kiểm kê xem có bao nhiêu căn “hộ” ở miền Nam, nói chung, tại các đô thị nói riêng, đặc biệt là tại thành phố Sài-Gòn, bị các người Cộng-Sản Hà-Nội chính hiệu là “Ðầy tớ của nhân dân” cưỡng chiếm. Tôi dám khẳng định không dưới con số 30%.

Cách nay ít tháng, bà Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez khởi xướng một phong trào đòi hỏi Việt-Cộng phải trả lại người Việt lưu vong những căn nhà mà chúng đã cưỡng chiếm từ sau 30/4/1975. Ðề nghị đó được xem như thiện ý khởi đầu của hòa hợp, hòa giải dân tộc. Thế nhưng, “Ðảng” ta im lặng. Tôi có một đứa cháu ngoại đang học lớp 12, tôi bảo nó kể cho tôi cuộc chiến tranh Nam, Bắc của người Mỹ xưa kia. Qua lời cháu, tôi được biết khi tướng miền Nam đề nghị đầu hàng, tướng miền Bắc đã vô cùng xúc động, cảm phục tính hy sinh và lòng can đảm của vị tướng miền Nam. Họ kính nể, và tôn trọng nhau, thân mật hội họp trong một căn nhà của một người dân thường ở giữa một cánh đồng. Tướng miền Bắc hỏi tướng miền Nam có yêu cầu gì? Tướng miền Nam chỉ xin hãy trao trả cho lính của ông những con ngựa, để họ tự do về nhà, và sống đời dân dã bình thường. Yêu cầu đó đã hoàn toàn được thỏa mãn. Tôi hỏi cháu có dấu hiệu nào cho thấy là kẻ thắng cướp của, lấy nhà của người thua trận không? cháu trả lời: “Không”, đoạn cháu kể tiếp, đoàn quân thắng trận còn dàn chào đoàn quân bại trận, và hiện nay ở trong bảo tàng viện người Mỹ còn có tượng cả hai ông tướng Bắc, Nam thắng, bại đo. Phần tôi, để trả công cho cháu, tôi lại kể cho cháu biết những hành động ở những ngày sau 30/4/1975 của kẻ thắng đối với người thua ở miền Nam trên quê hương yêu dấu của cháu. Nghe xong cháu lỡ miệng “Semi civilize” (bán khai). Thấy cháu nóng giận, tôi sinh lòng hối hận đã vô ý làm vẩn đục cái hồn nhiên của tuổi thơ.

Tư tưởng chỉ đạo hành động. Cương lĩnh kinh tế cho thời hậu chiến kể trên xuất phát từ những người của “Ðỉnh cao trí tuệ” được triệt để phát huy, ngày, đêm không ngừng, nghỉ theo đúng tôn chỉ “Cướp ngày chưa đủ, tranh thủ cướp đêm.” Cho nên trong suốt 34 năm qua, họ liên tục cướp nhà,cướp đất, cướp ruộng, cướp vườn, cướp cơm, cướp áo, thậm chí cướp cả sự sống của nhân dân!

“Tiền là Tiên, là Phật“.Người Cộng-Sản không có tôn giáo, do đó Việt Cộng không thờ Phật, họ ví tiền với Phật, chỉ vì tiền dính liền với người dân miền Nam hiền hòa, chất phác của một xứ sở phồn vinh thật sự mà họ đã trấn lột dễ dàng trong suốt những năm dài qua. Trái lại, người Cộng-Sản Hà-Nội họ tôn thờ tiên, bởi vì tiên hóa phép ra tiền. Do đó chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, từ không, bây giờ thành có, đang một đời sống “Cơm niêu, nước lọ” bây giờ nhà cao, cửa rộng, phương tiện di chuyển, cũng như vật dụng trong nhà hoàn toàn từ Mỹ đưa về.

Một viên đại tá công an “tư hữu” cả chục triệu đô la Mỹ, là Ðảng viên cao cấp, tốt nghiệp viện triết học xưa kia của ông Hoàng-Minh-Chí nh về môn triết lý Mác-Lê. Trong lúc say sưa đã hào hứng, hùng hồn khẳng định “Chân lý có thay đổi”.

Bùi Trọng Nghĩa


Sunday, May 17, 2009

Linh mục Nguyễn Văn Lý, một tội phạm hay một nhà đấu tranh?


(Nguồn yahoo mail)

Từ Tết Đinh Hợi cho tới nay, ngày nào tin tức về Lm. Nguyễn Văn Lý cũng trở thành một tin tức nóng bỏng của các cơ quan truyền thông. Lm. Nguyễn Văn Lý đang trở thành cái đinh của công luận. Lm. Lý là một tội phạm hay một nhà đấu tranh? Cuối tuần này có nhiều cuộc biểu tình hoặc cầu nguyện cho Lm. Lý và công cuộc đấu tranh cho Việt Nam tự do tại nhiều địa điểm trên thế giới.

Đại đa số người dân Việt Nam, không phân biệt tôn giáo, hoặc chính kiến đều nhìn nhận Lm. Lý là một nhà đấu tranh cho dân chủ, cho dân quyền, cho tự do ngôn luận và cho tự do tôn giáo. Đây là một linh mục Công giáo duy nhất vào tù ra khám nhiều nhất trong suốt thập niên qua. Đây là một linh mục Công giáo đối diện với cường quyền cộng sản kiên quyết nhất từ trước tới nay để tranh đấu cho chính nghĩa đạo giáo và dân tộc!

Bạo quyền cộng sản vẫn kết tội Lm. Lý là tội phạm khi ghép cho linh mục các tội danh như hô hào chống đối Nhà Nước, vận động thành lập đảng phái đối nghịch chính quyền... Điều khó khăn và nan giải nhất cho giáo quyền Công giáo là phải nhìn nhận Lm. Lý là một tội phạm hay là nhà đấu tranh cho dân chủ, cho nhân quyền, cho tự do ngôn luận và cho tự do tôn giáo? Đã từ lâu giáo quyền ở trong tư thế im lặng và mặc cho chính quyền cộng sản hành xử. Người ta đưa ra nhiều nguyên do biện minh cho thái độ làm ngơ này. Có thể vì Lm. Lý là một Lm. đã vi phạm luật độc thân linh mục mà công an đã nắm vững hồ sơ. Như vậy làm sao Giáo hội dám đứng ra bênh vực cho con người 'hư hỏng' này? Có thể Lm. Lý là một linh mục hám danh đứng ra tranh đấu để tạo tên tuổi cá nhân. Như vậy làm sao Giáo hội có thể hậu thuẫn cho một con người mưu cầu tư lợi như thế? Có thể Lm. Lý đã phạm phải sai lầm ngay từ đầu khi ra bản thông cáo số 2 đụng chạm đến lối hành xử của một số giới chức cao cấp trong Giáo hội đi ngược với đường lối của Chúa Giêsu trong Tin Mừng? Có thể Lm. Lý đã thiếu uyển chuyển và khôn khéo khi không đi lãnh tôn ý của một số giới chức cao cấp trong Giáo hội để rồi tự mình đứng ra tự biên tự diễn trong công cuộc đấu tranh? Có thể Lm. Lý cương quyết đi theo đường lối lãnh đạo Giáo hội của Cố TGM Nguyễn Kim Điền, đi ngược với đường lối cầu an và thỏa hiệp của một số giới chức trong Giáo Hội? Có thể Lm. Lý đang công khai hoạt động chính trị đảng phái chống lại quyền lực Cộng sản?...

Mỗi người đều có thể đưa ra những phỏng đoán khác nữa. Nhưng trong bản tin từ Huế gửi đi ngày 4-3-07, chính Lm. Lý đã nhìn nhận TGM Nguyễn Như Thể tại Huế đã "nhượng bộ và cộng tác với cộng sản!" Và trong bản tin ngày 6-3-07 được nhật báo Việt Báo đăng tải lại và truyền hình STBN loan đi, chúng tôi đọc được:

"Tuy nhiên, đồng lòng với linh mục Lê Đình Du (cha sở Bến Củi), linh mục Nguyễn Văn Lý luôn nói với công an: 'Các anh một là đem tôi trả về lại Nhà Chung, hai là đem tôi nhốt vào nhà tù. Các anh không được biến nhà xứ Bến Củi của Công giáo chúng tôi thành nhà tù của các anh!' (xin xem lại bản tin hôm qua 05-03-07). Nhưng lần nào cũng vậy, toán công an luôn trả lời: 'Chúng tôi đã thỏa thuận với Tổng giám mục. Tổng giám mục đã nhất trí với chúng tôi. Ông không thể ra khỏi đây được."

Nếu thực sự các bản tin vừa rồi là sự thực và chính xác, phải chăng Lm. Lý là một phạm nhân bị "quân dữ" dắt đi ra khỏi công đường như Chúa Giêsu khi xưa, sau khi Philatô rửa tay? Nhưng trớ trêu và độc địa là Nhà Chúa (nhà thờ Bến Củi) đang được người Cộng sản biến thành trại giam nhốt một linh mục đấu tranh chống cường quyền áp bức! Chắc chắn TGM Thể không dự đoán được diễn tiến lại xẩy ra oái oăm như thế! Và Lm. Lý cương quyết đòi hỏi một là được trở về Nhà Chung hai là vào ngồi tù của cường quyền, chứ không thể để người Cộng sản lợi dụng biến Nhà Chúa thành trại giam. TGM Thể lại ở trong trường hợp khó xử!

Dầu muốn hay không, người ta muốn tránh né đối diện với sự thật. Nhưng đến một lúc nào đó, người ta không thể né tránh được nữa. Khẩu hiệu "Vạch áo cho người xem lưng" đã trở thành một thứ khí giới chụp mũ, xuyên tạc, hoang đường, che đậy cho những tội lỗi bên trong của mình, dần dần đang rớt mặt nạ 'giả nhân giả nghĩa' xuống. Chính Thiên Chúa đã không chấp nhận lối hành xử trí trá, che đậy, giả hình của giới cầm quyền và dân chúng Do Thái vi phạm các luật lệ Ngài đã ban hành, và cuối cùng Ngài đã thẳng tay cho dân ngoại phá bình địa Đền Thánh Giêsrusalem. Nhìn gần kề với chúng ta hơn, Giáo hội Hoa Kỳ đã và đang còn điêu đứng trước tội lỗi ngút ngàn lạm dụng tình dục của một số linh mục và tội bao che của một số giới chức cao cấp.

Thiên Chúa không ngần ngại cho vạch mặt trước công luận thế giới những tội lỗi tầy đình này của giới giáo sĩ chà đạp luật lệ của Ngài. Rồi vừa qua, đến lượt Giáo hội Balan lãnh nhận trận búa rìu dư luận vì những giáo sĩ đã làm mật vụ cho Cộng sản trước đây.

Phải nhìn nhận Lm. Lý là một linh mục sòng phẳng. Nếu TGM Thể còn coi Lm. Lý trong hàng ngũ giáo sĩ của TGP Huế, TGM Thể phải yêu cầu bạo quyền trả Lm. Lý về Nhà Chung như cũ. Còn nếu TGM Thể coi Lm. Lý là một tội phạm chính trị và vuột khỏi vòng kiểm soát của mình, ngài cứ việc giao Lm. Lý cho công an xử lý. Tất cả gánh nặng đang đè nặng trên vai TGM Thể, vì hiện nay hầu như không có mấy giáo sĩ lên tiếng ủng hộ hoặc lên án Lm. Lý, trong khi đó dư luận bên ngoài càng ngày càng cười chê Giáo hội khiếp sợ, thụ động, thỏa hiệp.

Về phía giáo dân, từ trước tới nay, đa số mọi hoạt động đều phải lệ thuộc vào giáo sĩ, do đó ít ai dám đứng lên điều động một chuyện gì khi chưa "có phép", do đó cũng sống trong trạng thái thụ động, cầu an, chờ đợi. Nhưng may mắn hơn, mỗi ngày tầng lớp giáo dân trưởng thành hơn khi ý thức vai trò và nghĩa vụ của mình, do đó đã có một số tổ chức tự động đứng lên vận động chính trị. Điển hình tại Nam California, một số anh em giáo dân đã thành lập được một Uỷ Ban đứng ra hô hào và tổ chức các buổi họp báo và canh thức ủng hộ công việc đấu tranh của Lm. Lý và yêu cầu bạo quyền cộng sản phải thả trả tự do cho Lm. Lý.

Cay đắng hơn nữa là ngay việc Tượng Đức Mẹ bị cộng sản đập phá tại Phát Diệm, hầu như chúng tôi cũng thấy ít giáo sĩ đứng lên hô hào phản đối trước công luận hoặc tổ chức những buổi tụ tập lên án hoặc cầu nguyện. Hình như có những lấn cấn bên trong thật khó hiểu. Không phải người bên ngoài không hiểu được những khó khăn, những phức tạp, những tế nhị của các giới chức tại Việt Nam, nhưng ít ra các giới chức vẫn có thể hô hào mọi người cầu nguyện cho hiện trạng. Đâu ai có thể tù đầy một giám mục hay một linh mục kêu gọi mọi người cầu nguyện cho đất nước, cho Giáo hội và kể cả cầu nguyện cho Lm. Lý. Đối với tôn giáo, cầu nguyện là loại vũ khí thần hiệu nhất.

Phải chăng đây không là cơ hội chúng ta cần đọc lại Lời Thiên Chúa phán bảo vua Salômôn trong ngày nhà vua cung hiến Đền Thánh Giêrusalem, để cảnh giác chúng ta: "Nhưng nếu các ngươi tráo trở, bỏ các chỉ thị và mệnh lệnh Ta đã ban bố cho các ngươi, mà đi làm tôi các thần khác và thờ lạy chúng, thì Ta sẽ tiêu diệt các ngươi khỏi phần đất Ta đã ban cho các ngươi. Còn Đền Thờ Ta đã thánh hoá để kính Danh Ta, Ta sẽ loại khỏi Nhan Ta, và sẽ biến thành bia miệng cho mọi dân tộc đàm tiếu. Đền Thờ này, dù cao trọng đến đâu, cũng sẽ thành đống hoang tàn, khiến mọi kẻ qua lại phải sững sờ mà nói; "Tại sao ĐỨC CHÚA đã xử với xứ sở này, với Đền Thờ này như thế?"

Và người ta sẽ trả lời: "Tại chúng đã bỏ ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của chúng, Đấng đã đưa tổ tiên chúng ra khỏi đất Ai-cập; chúng đã gắn bó với các thần ngoại, sụp lạy và làm tôi các thần ấy, nên ĐỨC CHÚA đã giáng xuống đầu chúng tất cả những tai hoạ này". (2Sb 7:19-22)

* Trái tim không ngủ yên

Vừa rồi là tựa đề bài chia sẻ Tin Mừng của Lm. Đỗ Lực được đăng trên Tiengnoigiaodan. net. Đây là một linh mục chia sẻ Tin Mừng đi sát với cuộc sống và thẳng thắn như ông Nathanaen được Chúa Giêsu khen trong Tin Mừng. Bài chia sẻ khá dài và sâu sắc. Ở đây tôi chỉ xin mạn phép được trích dẫn một số đoạn. Đây, chúng ta hãy đọc lại những cảm nhận của một linh mục về công việc lãnh đạo hiện nay trong Giáo hội một cách ngay thẳng:

"Giáo Hội Việt nam cũng đang thiếu những con người như thế ("những con người tự trọng, mẫn cảm và có ý thức" của người Singapore)! Mặc dù có nhiều chủng viện và học viện, GHVN vẫn thiếu một cách trầm trọng những người lãnh đạo thực sự. GHVN không thiếu nhân tài, nhưng thiếu tầm nhìn và kiến thức quản trị. Thiếu những nhà lãnh đạo biết đón nhận, lắng nghe những tiếng nói khác với mình. Nếu loại trừ hay không tạo điều kiện cho những tiếng nói khác góp phần vào xây dựng công cuộc chung, e rằng giới lãnh đạo cách nào đó không tin Giáo hội là thân thể Đức Kitô với nhiều bộ phận và chức năng khác nhau do Thiên Chúa an bài trong Thần Khí" (x. 1 Cr 12:12-30).

Tôi thật đau lòng khi được nghe một số bạn bè đi về thăm Việt Nam đều tỏ ra ngao ngán trước thực trạng Giáo hội VN như đang bị bỏ ngỏ lãnh đạo, đúng như nhận xét vừa rồi của Lm. Đỗ Lực. Người lãnh đạo TGP Saigon thực sự là Hồng y Phạm Minh Mẫn hay Lm. Huỳnh Công Minh? Tôi vẫn thích khẩu hiệu của Lm. Lý: một là chết hai là tự do tôn giáo. GHVN thiếu lãnh đạo khi "thiếu tầm nhìn, thiếu kiến thức quản trị, thiếu biết đón nhận và lắng nghe những tiếng nói khác với mình." Tệ hơn nữa, lại "hay loại trừ hoặc không tạo điều kiện cho những tiếng nói khác góp phần vào xây dựng công cuộc chung..." Điều sâu sắc ở đây của Lm. Lực chính là nhận ra giới lãnh đạo "cách nào đó không tin Giáo hội là thân thể Đức Kitô." Phải chăng như vậy, nhiều giới chức lãnh đạo suy nghĩ và hành xử như một ông quan, một viên chức theo kiểu thế tục, khác hẳn với lối lãnh đạo đặt niềm tin nơi Thiên Chúa an bài trong Thần Khí: "Nhưng Thiên Chúa đã khéo xếp đặt các bộ phận trong thân thể, để bộ phận nào kém thì được tôn trọng nhiều hơn. Như thế, không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung." (1Cr 12:24-26).

Càng đọc bài chia sẻ, tôi càng thấm thía cái nhìn sắc bén của vị Lm. này. Tôi được hân hạnh gặp vị Lm. này khi tôi mới ra khỏi trại tù cải tạo. Vị linh mục này cũng đã ngồi chung chia sẻ với một số anh em giáo dân hoạt động trong các đoàn thể Công Giáo Tiến Hành sau 1975. Tâm hồn mục tử đó vẫn được ôm ấp và ngày hôm nay khi cầm bút loan truyền Lời Chúa, ngài vẫn thể hiện niềm tin thâm sâu của mình. Trong lúc nhiều mục tử đi tìm nếp sống thảnh thơi, theo thời, và né tránh, thì ngài mạnh dạn gióng lên tiếng nói ngôn sứ:

"Một cuộc cải tổ sâu rộng nền giáo dục chủng viện vô cùng khẩn thiết ở Việt nam. Qua bao đời, nền giáo dục đó hầu như chỉ chú trọng cung cấp kiến thức thần học hay triết học cho người thụ huấn. Khi còn ngồi trong chủng viện, con người chỉ lo phát triển tài năng và tập những nhân đức cá nhân để vinh thăng trên đường “hoạn lộ,” (“quan triều”!) chứ ít khi chú ý tới tinh thần trách nhiệm, hợp tác, cộng đồng. Kết quả khi ra đời, họ không có khả năng làm việc tập thể và sống cộng đoàn. Nhiều người chỉ tìm danh vọng cá nhân hay quyền lợi phe nhóm. Tham quyền cố vị tới chết cũng chưa chịu về hưu hay đổi xứ! Cá nhân to hơn Nước Chúa. Làm sao kiếm được tinh thần từ bỏ và khiêm tốn nơi những con người như thế?"

Quả thật, theo người bạn kể lại, nếu chúng ta về Việt Nam và đi rảo qua một vòng các giáo xứ trong TGP Saigon, chúng ta sẽ chứng kiến được một số "quan Triều" chạy theo nếp sống thế tục, hành xử theo lối quan quyền thế tục. Đi tìm danh lợi, tiền bạc, hưởng thụ hơn là thi hành nhiệm vụ của một mục tử. Khi đức tin đã chết trong tâm hồn rồi, người linh mục sẽ trở thành một loại "hoạn quan!" Thật đau xót cùng với Lm. Lực:

"Thế mới hay GHVN thiếu những thợ gặt lành nghề. Vẫn không đủ những người có khả năng rao giảng Tin Mừng cho người nghèo hèn và bị áp bức. Thời nào cũng thế, GHVN đầy dẫy những con người đồng lõa với bọn giàu sang và thế lực trong các cơ chế đàn áp. Những người bị áp bức hầu như nằm ngoài sự quan tâm của Giáo hội."

Cả một Giáo hội bề ngoài xem ra có vẻ đang hồi sinh, đang phát đạt, nhất là tại các thành thị, nhưng bên trong xem ra đầy rẫy các bất ổn. Đời sống tâm linh của hàng giáo phẩm thế nào? Kiến thức thần học, tu đức, Kinh Thánh và mục vụ ra sao? Trong lúc có những linh mục xả thân, khiêm tốn, cần cù, nghèo khó tin vào Tin Mừng, thì lại không thiếu các linh mục đua nhau chạy theo nếp sống hưởng thụ, cầu vinh và an thân. Lối sống Tin Mừng và lãnh đạo theo gương Chúa Giêsu lập lòe trong đêm tối của dân tộc. Hầu như rất ít giáo sĩ trở thành các ngôn sứ đích thực của Chúa Kitô. Tin Mừng được rao giảng trong thánh đường như một nghĩa vụ, nhưng loan báo, làm chứng tá và sống Tin Mừng giữa lòng dân tộc trở thành họa hiếm. Đây chúng ta hãy đọc tiếp những nhận định của Lm.Lực:

"Dù có cả bề dầy lịch sử gần 500 năm, GHVN vẫn thiếu những ngôn sứ quả cảm như Đức Giêsu. Có một lỗ trống khổng lồ trong đức tin của GHVN hôm nay. Chưa ai có thể lấp nổi! Mặc dù có khối lượng nhân sự khổng lồ, GHVN có lẽ còn thiếu xác tín vào sức mạnh Tin Mừng. Có lẽ đức tin chúng ta chưa bằng hạt cải, nên chưa thể bứng cây đa cổ thụ hay trái núi bất công ra khỏi lòng dân tộc. Trái núi càng cao càng cản bước tiến Tin Mừng."

Giáo hội Việt Nam ngày nay hình như đang sống khác với Giáo hội Việt Nam thời tổ tiên chúng ta là các Thánh Tử Đạo. Máu Tử Đạo mới phát sinh các tân tín hữu của Chúa Giêsu. Nhìn vào thực trạng hiện nay của Giáo hội Việt Nam tại quốc nội hay quốc ngoại, hàng năm Giáo hội đưa được bao người tuyên tín vào Chúa Giêsu và đánh mất đi bao nhiêu niềm tin của những người đã lãnh nhận Phép Rửa? Và Lm. Lực khuyến khích chúng ta hãy sống noi gương Giáo hội Nam Hàn:

"Nếu có đức tin bằng hạt cải, GHVN đã dũng cảm như anh em Công Giáo Nam Hàn. Trước cảnh đàn áp bất công ngoài xã hội, Giáo hội Nam Hàn đã tranh đấu đòi quyền lợi cho công nhân. Nhờ đó, Tin Mừng đã tìm được con đường đi đến với dân tộc. Các giám mục và linh mục đã không ngồi yên hay thỏa mãn với những công trình xây nhà thờ, phòng phát thuốc, hay công việc mục vụ trong khuôn viên nhà thờ và giáo xứ. Cùng giáo dân, họ đã xắn tay áo xuống đường tranh đấu và vô tù vì tương lai xã hội và Giáo hội. Đó là con đường Thần Khí dẫn Giáo hội Nam Hàn theo Đức Kitô."

Phải nhìn nhận Lm. Lực chia sẻ bài Tin Mừng của Thánh Luca đề cập về việc Chúa Giêsu trở về Nagiarét loan báo Tin Mừng tại Hội đường (xem Lc 14) thật phong phú và sâu sắc. Tôi không thể lặp lại tất cả những gì Lm. Lực đã chia sẻ. Rất mong độc giả có dịp đọc lại bài chia sẻ thấm thía này. Ở đây tôi xin nhấn mạnh đến điểm then chốt của bài chia sẻ, đó là mỗi tín hữu của Chúa Kitô cần phải có đức tin bằng hạt cải. Chỉ có đức tin mới giải quyết được các nan đề của Giáo hội và đất nước. Có đức tin mạnh mẽ vào Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài, người tín hữu mới nhận được Thần Khí Tác Sinh. Có nhận được Thần Khí Tác Sinh chúng ta mới đi theo con đường của Chúa Kitô được. Không có Thần Khí Tác Sinh, người chủ chiên chỉ là hạng người chăn chiên mướn. Không có Thần Khí Tác Sinh, người tín hữu chỉ là những con chiên lạc lõng giữa dòng đời. Không có Thần Khí Tác Sinh, Giáo hội chỉ còn là một cơ cấu kiểu thế tục, một bà mẹ cằn cỗi trở về già. Và ngược lại, nếu có Thần Khí Tác Sinh, Giáo hội mới có thể thi hành được sứ mệnh của Chúa Kitô đến giải phóng và đem ơn cứu độ đến cho con người được:

"Nếu có đức tin bằng hạt cải, chúng ta sẽ can đảm lãnh nhận sứ mệnh giải thoát như Đức Kitô. Sứ mệnh đó quyết định tương lai toàn thể Giáo hội. Trước khi bước vào cuộc đời công khai, Đức Kitô đã được “quyền năng Thần Khí thúc đẩy.” (Lc 4:14) Còn chúng ta đang được Thần Khí nào hướng dẫn? Nếu được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, chắc chắn chúng ta đã biết quên mình thực sự để dấn thân hoàn toàn cho sứ mệnh “trả lại tự do cho người bị áp bức” (Lc 4:18) như Đức Kitô. “Trả lại tự do” là sứ mệnh “thâu tóm rõ nhất sự nghiệp của Chúa Giêsu."

Trái tim ngủ yên thế nào được khi những trăn trở về Giáo hội vẫn còn đó. Trái tim ngủ yên thế nào được khi đất nước vẫn còn đầy dẫy những bất công, những đàn áp, những bóc lột, những nghèo đói, những băng hoại, những tha hóa. Trái tim ngủ yên thế nào được khi nhìn thấy Tin Mừng của Chúa Kitô chỉ được rao giảng bằng ngôn từ, chứ không phải bằng thân đạo (đem thân mình ra sống và làm chứng tá cho Tin Mừng). Trái tim ngủ yên thế nào được khi mỗi lần nhớ tới Chúa Giêsu là một lần lại nhìn thấy Ngài đang vác thập giá vào Giáo hội, vào quê hương thống khổ, trong lúc phần đông các tư tế và các tín hữu của Ngài làm ngơ như khách bàng quang như trong trường hợp tượng Đức Mẹ Sầu Bi bị cộng sản đập phá tại Phát Diệm và tệ hơn nữa, còn sống thỏa hiệp với trần gian và với bè lũ của Satan.

Chúng ta đang đứng trước những thách thức của thời cuộc. Tôi muốn dùng những lời kết của bài chia sẻ Tin Mừng của Lm. Lực để tạm kết thúc bài viết tản mạn về "Cứu Cha cứu Chúa cứu Giáo hội":

"Vậy làm cách nào để 'trả lại tự do' cho dân tộc? Dĩ nhiên, chính trị, kinh tế, quân sự không phải là phương tiện tranh đấu của Giáo hội. Phương tiện duy nhất của Giáo hội chính là Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô. Tin Mừng là “sự thật giải thoát” (Ga 8:32). Sự thật vẫn còn bị che dấu và bưng bít ở Việt nam. Đó là lý do tại sao dân tộc chưa có tự do. Làm sao người dân có thể làm người tự do khi nền “văn hóa nói dối” đang hoành hành từ Bắc chí Nam, từ trong đạo ra ngoài đời?

Noi gương Đức Kitô, giáo dân xứ Phường Tây, Huế hiện nay đang đứng lên tranh đấu đòi lại ngôi trường của giáo xứ. Đoàn kết với dân Chúa, ngày 9-1-2007 vừa qua, Đức TGM Têphanô Nguyễn Như Thể mạnh mẽ tuyên bố: "Toàn thể Giáo phận Huế sẽ đứng đàng sau linh mục quản xứ và giáo dân Phường Tây!"

... Tinh thần Nguyễn Kim Điền vẫn sống mạnh trong lòng giáo dân Huế! Rất may dân tộc Việt nam còn có những con người dũng cảm tranh đấu cho công lý như vậy! Nhìn từ Nam ra Bắc, có lẽ chúng ta phải khâm phục truyền thống kiên cường và anh hùng của Giáo Phận Huế!"

*
* *

“Không cần biết Cha Lý làm chi
Cũng chẳng cần nghe người nói gì
Nhưng thấy cảnh tay cùm miệng bịt
Tự trong ta lệ ứa hoen mi
Thương dân lành mất quyền dân chủ
Hận Cộng quyền khóa chặt tứ chi
Hãy đứng lên cùng nhau quyết chiến
Cứu quê nhà qua cảnh sầu bi"
(Trịnh Du, Houston một ngày năm 2007)

*
* *
(Xin Chúa cứu cha ra khỏi ách ngục tù)

Chợt một thoáng nhớ thương về Cha Lý.
Con làm thơ kính tặng gởi về cha
Trên quê hương cha sống kiếp không nhà
Nơi đất khách con ôm hồn tủi nhục

Ôi nơi ấy đầy chông gai tù ngục

Cha vào tù vì đòi hỏi tự do
Bên nơi này con được bát cơm no
Nên quên mất quê nhà cần hạnh phúc

Nơi quê mẹ giờ đây là địa ngục

Dân khổ đau mà chúng chẳng âu sầu
Ngày qua ngày đất nước chẳng về đâu
Bởi bọn quỷ gian manh và độc ác

Bao em bé sống cuộc đời đói khác

Bao thanh niên chẳng có một tương lai
Bao cụ già thoi thóp tiếng thở dài
Bao thiếu nữ bán trinh tìm lẽ sống

Ôi cuộc sống dưới bàn tay Việt Cộng

Xấu xa nào bì được hỡi thế gian
34 năm đất nước vẫn điêu tàn
Như thế đấy … làm sao mày che đậy?

Hãy đứng dậy, dân ta hãy đứng dậy!

Hãy cùng nhau giết hết bọn tay sai
Hãy đập tan chế độ thối nát này
Mang hạnh phúc về cho người dân Việt!

Hãy đứng dậy, dân ta cùng nhau diệt

Diệt quân thù để bảo vệ quê hương
Từ khắp nơi trên các nẻo con đường
Hãy quyết chiến dù xương rơi máu đổ

Hãy đứng dậy chiếm quê cha đất tổ

Hãy vùng lên lấy lại trọn non sông
Đảo gần xa, rừng núi và cánh đồng
Để tổ quốc vẫn còn là nước Việt

Hãy đứng dậy cùng nhau ra tay giết

Thù trả thù, ân oán ta tính sau
Bọn cộng kia, ta hãy chém rơi đầu
Để tổ quốc không còn loài ma quỷ!
(Houston một sáng tháng 5 năm 2009, Trịnh Du)


TRẦN THANH TIẾN SỸ: CHÓ, NGU, THÚI” ! - Bảo Quốc Kiếm

TRẦN THANH TIẾN SỸ: CHÓ, NGU, THÚI” !

Bảo quốc Kiếm
(phiếm)

Kính thưa Tiến sỹ Trần Thanh,

Trước hết, tiểu điệt xin ngài đừng vì cái tiểu đề mà vội giận. Tiểu điệt sẽ hạ hồi phân giải với ngài, xin đừng chấp lũ lóc nhóc như bản nông dân này nhé. Như ngài biết, trên phương diện học thuật, ngài là bậc quá cao đối với tiểu điệt. Căn cứ vào khía cạnh này, lớp Năm phải gọi Tiến sỹ là Tứ đại Tổ sư; vì làm thầy nhau qua bậc thang: Tiểu học- Trung học ĐNC-Tú tài- Cử nhân-Tiến sỹ. Tuy vậy, lần này xin mạn phép thượng đại tôn nhân hầu chuyện một lần, và có lẽ hơi dài dòng mới nói hết được cái chỗ kính quý với Tứ đại Tổ sư.

Thưa ngài,

Vì không có thì giờ lên NET, nên bài của ngài đăng đã lâu mà tiểu điệt không biết. Hôm qua tình cờ, một vị nào đó đã nhắn sang bảo tiểu điệt vào trong TINPARIS.NET mà thưởng lãm danh tài vô thượng Trần Thanh. Mừng quýnh, tiểu điệt vội chui dzô Copy hai bài lưu làm “gia phả trần gian cho dòng họ Trần”. Một bài ngài nói về Hoà thượng Thích quảng Độ, một bài nói chuyện ông Nguyễn phúc Liên, Đỗ thái Nhiên. Tuyệt hảo.

Là nông dân, tiểu điệt dốt, lại ít đọc sách báo, mạng nhện, vì bận đi kiếm cơm, chứ đâu rảnh rỗi đi săn lùng trên NET. May nhờ ơn mưa móc, hôm qua tiểu điệt có một bữa thật ngon. Cười suốt cả đêm không ngủ được. Chỉ có gãi và gãi thôi. Cái sướng ở chỗ là đọc được cái văn phong Tiến sỹ”, điều chưa từng thấy bao giờ. XIN CÁM ƠN NGƯỜI.

Thưa ngài,

Dù nghèo, nhưng bẩm tính tiểu điệt vốn “chịu chơi”, nên không ích kỷ. Tiểu điệt mang cái này ra đọc cho mọi người nghe chung. Khổ một nỗi người chung quanh tiểu điệt chỉ là nhà quê cả. Sau khi nghe đi, nghe lại, một bà Cụ vội la lên, thì ra TRẦN THANH LÀ TIẾN SỸ CHÓ, NGU, THÚI đó à ? Nghe xúc phạm đến Tứ đại Tổ sư, tiểu điệt nổi khùng la bà Cụ mấy câu. Bà cũng giận lên và chửi đổng: Mẹ kiếp đọc mà không biết đếch chi cả. Có thứ Tiến sỹ gì viết lách mà dùng trong bài TÁM CHỮ CHÓ, SÁU CHỮ NGU, MẤY CHỮ THÚI VÀ…Thì ra bà Cụ cũng rành thiệt, tiểu điệt không hề để ý chuyện này. Vốn làm nghề Bán cá tại chợ Đông ba ở Huế, bà tức giận la lên rằng:’M Ẹ KIẾP THẰNG NÀY GẶP BÀ CHO CHO CÁI Đ…lên đầu. Tiểu điệt phải Stop bà lại đó Tứ đại Tổ sư à. Do chỗ ấy, mà tiểu điệt lấy làm cái đề cho “vui nhộn tuần hoàn khi nổi sóng” để thượng tấu tôn nhan Trần Thanh Tiến sỹ.

Hôm nay đi làm về, tiểu điệt mới “phạch” ra coi lại, thì ra, bà Cụ nói không sai chút nào. Tiểu điệt tiếc nuối vô cùng trời đất. Thì ra, Tiến sỹ Tứ đại Tổ sư đâu khác “con vện Vĩnh long” chút nào. Ngài cũng không bằng bà bán cá chợ Đông ba của tiểu điệt nữa. Răng rứa hè ? Nhưng dù sao, khi thưa thỉnh với ngài Tiến sỹ, tiểu điệt cũng rất cẩn trọng, nói rõ từng chút một để ngài thương tình xem xét sự khác biệt giữa “ngôn ngữ người và cầm thú”.

Thưa ngài Tiến sỹ,

Tiểu điệt không học hành mấy chữ, nhưng từ bé, mẹ tiểu điệt dạy như thế này: “Gặp ông gìa, bà lão phải thưa ông, thưa bà, thưa cụ. Gặp người ngang tuổi cha mẹ phải thưa bác, thưa chú, thưa cô, thưa dì. Gặp người lớn tuổi hơn phải thưa anh, thưa chị. Gặp bạn phải chào bằng bạn hoặc tên. Gặp em nhỏ phải chào bằng em….Còn thân thuộc thì tùy vào quan hệ…..”. Tiểu điệt “thi hành nghiêm chỉnh” những lời Mẹ dặn như thế. Một hôm, khi có người già đến nhà, tiểu điệt cúi đầu chào bác, thì con chó nó chỉ sủa và sủa mà thôi. Ngoài tiếng VÂU VÂU, nó không biết chào gì cả. Nổi nóng lên, tiểu điệt đè đầu nó xuống, đánh cho mấy cái, hỏi: Tại răng mi ngu rứa, không biết tôn trọng người lớn tuổi ? Bất ngờ, Mẹ từ đâu lại, kéo đầu dậy bảo tiểu điệt rằng: CON BẢO CHÓ NGU MÀ CON NGU HƠN CHÓ. Nó là chó, đâu phải là người mà biết lễ nghĩa hả con ? Hôm nay, cảm niệm này sở dĩ chạy về trong ký ức, vì tiểu điệt đọc mấy lời Tiến sỹ viết:

“- Yêu sách một: Rất ngu và rất thối !”
“- Yêu sách hai: cũng rất thối và rất ngu !”


Thì ra văn chương Tiến sỹ Trần Thanh chỉ có vậy. Chưa dám dâng lời phân tích, ở đây chỉ tạm nói chuyện tào lao chơi thôi. Tự nghĩ, không biết Trần Thanh có cha mẹ sinh ra như tiểu điệt không
, hay là từ cục đất sét sinh ra ? Giả như có cha sinh mẹ dưỡng, thì cha mẹ ngài có dạy như mẹ tiểu điệt hay không ? Hẳn là không. Bởi vì có dạy mà không làm thì là thứ mất dạy, chứ là gì, phải không chú bác bà con nội ngoại ? Người xưa dạy:

“Lời nói không mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.

Hay chứ Tiến sỹ ?

Nhưng, khi một kẻ chưa biết “lựa lời”, thì nó cũng chỉ như con chó chỉ biết VÂU VÂU NHƯ VỆN VĨNH LONG thôi. Lại nữa, một lời chưa nói được, nghĩa là chưa thành người, thì nói chuyện tranh đấu, chính trị, gia đình, quốc gia, xã hội… cái mẹ gì (chữ này của Trần Thanh). Có chăng những thứ ngôn ngữ ấy là trong giới “bàng sanh khổ thú” mà thôi ! Thậm nan ! Lẽ nào, Tiến sỹ cho rằng Mẹ tiểu điệt từng dạy ĐỪNG TRÁCH CHÓ, vì nó hkông phải là NGƯỜI, nên ngài bất chấp ?

Một cái vui khác là, khi tay tiên Tiến sỹ vẫy: “RẤT THÚI”, thì tự nhiên người ta hỏi: Sao con biết thúi”, thì Tiến sỹ trả lời sao cho đúng ? Bắt buộc tiến sỹ phải nói:”VÌ TUI NGỬI”. Người ta hỏi tiếp: Sao không ngửi mùi hoa mà ngửi phân để thúi cái mũi, thì Tiến sỹ trả lời sao ? Không lẽ nói :Trần Thanh thích phân ? Dzui nhỉ?

Đọc lại tiếp nghe tiến sỹ:

“Nó bay mùi Hoà hợp hoà giải … như tờ giấy chùi đít”.

Đến đây thì không ai lầm nữa chứ ? Bản năng tự nhiên của Tiến sỹ Trần Thanh đã ngang nhiên tự phát. Sự “mê mệt” với “tờ giấy chùi đít” minh thị đẳng cấp rồi đó, phải không ? Bây giờ, để mọi người có một nhận định đúng, xin phép trích lại những chữ CHÓ trong bài như sau:

    - Ngu xuẩn vì tình nguyện đi làm CHÓ săn
    - Bọn CHÓ săn
    - Việt tân CHÓ săn
    - Cam tâm đi làm CHÓ săn
    - Kháng chiến tại gia là cái CHÓ gì
    - Phường cẩu trệ (chó heo)
    - Là cái CHÓ gì
    - Những con CHÓ SĂN ở hải ngoại

Tạm trích ra chừng đó thôi để hiểu rõ sự liên hệ mật thiết nhất của Tiến sỹ Trần Thanh và đồng chủng: CHÓ của Tiến sỹ. Có quý vị nào có thể có cách giải thích khác đi để tách rời CẨU CHỦNG KHỎI TÂM HỒN CỦA TRẦN THANH được chăng ?

Thưa Tiến sỹ,

Có phải là vạn thú đều hành hoạt theo bản năng, nhưng con người có cao hơn một chút, đó là nhờ vào TÂM THỨC ? Trong dòng chảy của Tâm thức con người thì những quá khứ hiện tại và tương lai đều có mặt. Do vậy, quá khứ là kinh nghiệm, tương lai là dự phóng để tạo nên sự sống cho hiện tại, và tương lai. Trong quá khứ ấy tích tụ những sai đúng, thành bại, được mất, suy thịnh…làm căn bản cho những luận lý, suy tư, giải mã, định đoạt… trong hiện tại. Chính nhờ vậy mà con người thăng tiến, xã hội phồn vinh hơn các loài khác. Có những con người còn đi xa hơn thế để quyết định một tương lai hoàn hảo trong khi phải chấp nhận một thực tại khốn cùng. Nhưng viêc đó thuộc một tầng mức cao hơn, khó hơn, nên không cần nhắc tới.

Ngược lại, những động vật khác không có cái này, nên chúng không phân biệt được quá khứ, hiện tai và vị lai. Chúng phải chịu những bản năng tự nhiên thôi thúc, và cũng chính nhờ vậy, chúng ta nhận ra nó là “bàng sanh khổ thú”. Trường hợp nhỏ của một con người cũng thế. Khi nó không nhận ra ai là người già, ai trẻ, ai bằng ta, ai nhỏ hơn ta, ai là cha, ai là mẹ …. thì tự nhiên kẻ đó đã tự rơi vào thế giới “thuần thú” rồi. Phải vậy không ?

Chuyện thứ hai là chuyện bản năng. Khi nói đến bản năng, tiểu điệt không hiểu khoa học chứng nghiệm bằng cách nào, bởi vì nông dân không học, nên không biết. Nhưng theo sự quan trắc bản thân, tiểu điệt có thể nói đó là sự cấu tạo. Nhưng sự cấu tạo liên hệ đến quá khứ. Đó chính là nhân. Trong nhân lại chia ra hai thứ, đó là vật và thức. Do vì thức bị giảm, nên vật lấn át làm cho nó mờ mịt quá khứ đi. Chính vì vậy mà có “bàng sanh khổ thú”. Trong cái gọi là vật, nó di truyền và tồn đọng trong thực tế; vì vậy những cảm niệm thường mơ hồ liên kết với nhau.

Tạm nói bâng quơ như thế để đi đến một kết luận tạm thời là, nếu không có sự DI TRUYỀN của vật và thức, thì không có sự “thoát ra” hay “tỏ ra” bản năng của vạn thú. Vì vậy, khi một kẻ liên tu bất tận nhắc đến VÀNG CHẲNG HẠN, THÌ CHÚNG TA BIẾT NGAY NÓ ĐÃ TỪNG CÓ SỰ LIÊN HỆ NÀY TRONG QUÁ KHỨ. CŨNG THẾ, MỘT KẺ LUÔN NHẮC ĐẾN CHÓ, PHÂN… CHẲNG HẠN, THÌ NÓ CŨNG CÓ MỘT LIÊN HỆ TƯƠNG ĐƯƠNG. Phải vậy không Tiến sỹ ?

Tạm ngưng chuyện CHÓ ngang đó, bây giờ xin thượng tấu chuyện lai rai mà Tứ đại Tổ sư đã ra công tu luyện. Trong bài viết về ông Tiến sỹ Nguyễn phúc Liên, Đỗ thái Nhiên, tiểu điệt thấy ngài đã mang cả TAM TỨ ĐẠI TRẦN GIA BẢO của ngài ra xài hết cả. Siêu, siêu tuyệt !

Mời Tiến sỹ đọc lại câu này:

“Cam tâm đi đổ bô”.

Ở đây không hay chưa nói chuyện nghĩa lý, mà chỉ nó đến chuyện “liên loại ngữ ngôn”. Tiểu điệt cười như điên Tứ đại Tổ sư ơi. Chơ răng tự nguyện làm TÁM CHÓ, một tờ GIẤY CHÙI ĐÍT, nay lại “kết hợp” với BÔ một cách nhuần nhuyễn dzư rứa, nếu không phải là BẢN NĂNG CẨU LOẠI. Thế thì, từ LÀM TÁM CHÓ, từ NGỬI nên biết THÚI, đến LIẾM GIẤY CHÙI ĐÍT, nay hết chơn hết chọi lại LIẾM BÔ !!! Thế là không còn gì nữa mà trông đợi. Chỉ đợi ông chủ thọc tiết canh TIẾN THƯỢNG là xong.

Từ bản chất cầm thú này chạy theo bản chất cầm thú khác một cách thật liên lũy, đáng thương. Hãy đọc lại và suy gẫm thật nhiều, Tiến sỹ ha:

“Dám đứng tuột quần”

Đây là thứ ngôn ngữ gì nhỉ ? NGÔN NGỮ CẦM THÚ CỦA TRẦN THANH. Xin lỗi không thể để dành cho ai khác, vì đây là “công trình tim óc nhà họ Trần Thanh”, nên ngài phải được độc quyền sở hữu. Đó chính là “đường lối đấu tranh trâu chó”, chứ là gì khác ? Nhưng không tiện nói thêm để bài sau so sánh hẳn hay, Tiến sỹ nhé. Viết ngang đây, ông già ngồi bên cười lúc lắc nói:

LOẠI CHÓ NÀY KHÁ GHÊ, ĐÃ HẾT PHÂN, CHỈ CÒN CÁI BÔ ĐỂ LIẾM MÀ CÒN NGHĨ ĐẾN ĐUỢC CHUYỆN NÀY THÌ CÓ AI HƠN. Dzui nhỉ ?

Từ cảm niệm lâng lâng ấy, Tiến sỹ Trần Thanh chơi luôn:

“- Tự sướng ở trong quần”.

Thiệt hết chỗ chê tài cao Bắc đẩu của dòng họ ngài, Tiến sỹ nhỉ ? Không biết trong vạn loại còn có cái bằng gì có thể ban tặng được nữa. Hết !

Và cuối cùng, Tiến sỹ Trần Thanh ơi, trước khi chết, Tiến sỹ đã mãn nguyện:

“ĐỊT MẸ, bọn tớ ở nhà”.

Không biết các thượng đại tôn nhân học cao hiểu rộng biết nhiều, thì thấy làm sao. Còn bản nông dân cầm cày, cầm cuốc, nên chỉ nghe một chuyện về con ngựa mà thôi. Nghe đâu, người ta đã chứng nghiệm thật sự được rằng, LOÀI NGỰA KHÔNG LÀM TÌNH VỚI MẸ NÓ. Thế nhưng, ngày nay nghe một ông Tiến sỹ lại ĐỊT MẸ CHÍNH NÓ, thì nó đâu phải con NGỰA, huống chi con NGƯỜI !

Tóm lại, qua vài suy nghĩ của bần dân, Tiến sỹ Trần Thanh và Chủ Diễn đàn TINPARIS. NET chỉ đều giống cái tiêu đề không sai một ly. Thật là MỘT LŨ TRẦN TRUỒNG VÔ LIÊM SỈ (Chữ này trong Cựu ước (Naked and shameless)

Thưa Tiến sỹ và ông Chủ Diễn đàn TINPARIS.NET, do bản chất nông dân, “thấy sao nói vậy”. Tiểu điệt không hề thêm bớt chuyện chi. Tất cả còn đó mà. Ngày mai, ngày mốt, nếu được, tiểu điệt thử nói với người khác, (chứ không thể nói với Trần Thanh) chuyện “lý luận cù nhăng” xem sao. Nếu có điều chi “PHI THÚ LOẠI”, xin vui lòng cho.

Hẹn tái ngộ. Hì hì ….

Bảo Quốc Kiếm 14-5-09


Quả BOM thả trong trận Long Khánh - Trần Lý


Trần Lý

Trong Trận Long Khánh (Tháng 4 năm 1975), Không Quân Việt Nam Cộng Hòa có thả một quả bom đặc biệt, tiêu diệt cả Sư đoàn (?) quân CSBV, chặn đứng được cuộc tiến quân của chúng. Cho đến nay hảy còn nhiều câu hỏi quanh quả bom này và nhiều câu trả lời chưa được chính xác.

- Đại tá Hùa Yến Lến (Tham mưu trưởng Hành quân SĐ 18 BB) gọi nó là CBU 82 (Daisy Cutter), cho rằng do Tướng Lê Minh Đảo (Tư lệnh SĐ 18 BB) đề nghị, và được Bộ TTM QLVNCH chấp thuận qua trung gian của Tướng Nguyển văn Toàn (Tư lệnh Quân Đoàn 3) để được sử dụng.

- Tướng Trần Quang Khôi (Tư lệnh Lực lượng Xung Kích QĐ3) ghi lại rằng: chính Ông sử dụng 2 quả bom CBU của KQ Biên Hòa trên chiến trường Long Khánh để chặn đứng quân địch và giải cứu Chiến đoàn 52 /SĐ 18 BB của ĐT Dũng khỏi bị tiêu diệt.

- Khi trả lời các câu hỏi của Nhà báo Vũ Mạnh Hùng trong cuộc phòng vấn dành cho Đài truyền hình Little Saigon TV tại Santa Ana và Hệ thống Truyền hình VN VBN tại New Jersey, Tướng Lê Minh Đảo cho biết: Ông không cần biết VNCH còn mấy quả bom loại này, CQ cứ tấn công thì Ông sẽ ... tiêu diệt chúng; và các cấp chỉ huy CSBV đã nhiều lần đến Trại Tập trung để hỏi Ông về quả bom này mà họ cho là bom neutrons của Mỹ (?)

- Nhà báo Mỹ Alan Dawson trong ’55 days-The Fall of South VN’ thì ghi rẳng đây là các quả bom CBU được đưa từ Utapao đến Biên Hòa vào đãu tháng 4 năm 1975.

- Tác giả Chính Đạo (Tiến sĩ Sử học), trong tâp sách 55 Ngày đêm, Cuộc xụp đổ của VNCH ghi rằng VNCH đã sử dụng cả CBU lẫn ‘Daisy Cutter’ (nghĩa là 2 loại bom..khác nhau !) tại Mặt trận Long Khánh.

- Tác giả Nguyển đức Phương trong ‘Những Trận đánh Lịch sử trong Chiến tranh VN 1963-1975 cho rằng: Tướng Toàn đã ra lệnh thả 2 quả Daisy Cutter tại Trận Long Khánh và giải thích lý do chỉ 2 quả được thả (trong số 5 quả còn lại) vì Hà nội phản kháng (!)

- Tác giả Trọng Đạt trong bài "Trận Xuân lộc Chiến thắng cuối cùng" (Nguyệt San Việt Nam Online) có ghi khá nhiều chi tiết về các quả bom này kể cả tên (viêt tắt) của các phi công đã thả (xin xem phần dưới) các quả bom đặc biệt này.

- Viện Khoa Học Quân sự của CSVN thì ghi lại (theo tài liệu của Dawson) là KQ VNCH đã thả 1 quả bom CBU-55 xuống Ngã ba Dầu Giây Long Khánh vào ngày 21 tháng 4 năm 1975.

- Như vậy quả bom thả tại Long Khánh là bom gì ?. Tác dụng của các quả bom này đã khiến CS phài la hoảng thì tại sao lại chỉ thả 1, 2 quả và ai thả ?

- Từ CBU.

Chiến trường Việt Nam đã được xem là nơi Hoa Kỳ thử nghiệm rất nhiều loại võ khí, từ võ khí quy ước đến những võ khí điện tử tối tân. Cũng tại VN, Hoa Kỳ đã tiêu thụ được khá nhiều bom-đạn còn tồn trữ từ sau Thế chiến thứ 2. Một trong những vũ khí được KQ HK sử dụng nhiều nhất là bom, và bom còn được chia thành 2 nhóm : Bom khôn (Smart bomb) và Bom ngu (Dumb bomb). Bom ngu, dĩ nhiên là do Phi công thả và do tài của Phi công để bom rơi trúng mục tiêu, còn Bom khôn thì được điều khiển bằng laser, radar để tự tìm đến mục tiêu.

Một trong những sáng kiến về Bom mà các kỹ sư võ khí HK đưa ra áp dụng tại VN là CBU hay Cluster Bomb Unit. Thật ra CBU chỉ là một áp dụng của việc nghiên cứu về loại vỏ khí có tên là Rổ bánh mì Molotov (Molotov bread basket) dùng năm 1937 trong Trận Nội chiến Tây Ban Nhạ Rổ bánh mì, đơn giản, chỉ là một thùng lớn chứa nhiều quả bom nhỏ để khi phi cơ thả xuống, thùng mở ra và rải các quả bom nhỏ trên một diện tích rộng lớn. Như thế Cluster Bomb hày Bom chùm chỉ có mục đích là mở rộng vùng sát thương của Bom khi thả xuống mục tiêụ.

Tại chiến trường VN, nhiều loại CBU đã được chế tạo: loại chống bộ binh là loại thường được dùng nhất, rồi đến loại chống chiến xa, chống các tiếp liệu quân sự có loại chứa đầy mìn và có loại chứa nhiên liệu đặc gây cháy.

- CBU chống bộ binh cũng có nhiều loại như CBU-24 chứa 600 quả bom nhỏ cở trái banh golf, mỗi quả golf nhỏ này khi nổ còn phóng ra 300 mảnh thép nhỏ chứa bên trong; CBU-46 bom chùm dạng như quả dứa, khi nổ còn tung mảnh ra xa hơn, vùng sát thương rộng hơn..Các loại CBU này thường được KQ HK sử dụng khi bay tấn công đường mòn HCM.

- Một trong những loại CBU chống chiến xa được dùng tại VN là MK-20 Rockeye, khi nổ sẽ phóng ra những bom nhỏ hình mũi tên dài 9 inches, chứa đầu nổ có thể xuyên phá lớp vỏ thép của chiến xa.

- Về CBU chứa mìn: 2 loại chính dùng trên chiến trường VN là Dragonteeth và WAAPM (Wide Area Anti Personnel Munition). Dragonteeth chứa những mìn nhỏ có khả năng gây mất..chân binh sĩ địch khi nổ, nhưng không gây chết người còn WAAPM, được giử rất bí mật trong chiến tranh VN: WAAPM được thả xuống trong các thùng nhựa plastic, khi chạm đất sẽ phóng ra các sợi thép mỏng manh như chân nhện, nếu chạm vào sợi thép, mìn sẽ nổ Bom được dùng thể thả vào các ổ phòng không của CSBV.

- Loại CBU thứ tư là là loại Bom chùm gây cháy (Cluster bomb incendiary device). Loại bom này cũng có tên là Fuel Air Explosives CBU-55 là bom thuộc loại này, chứa nhiên liệu propane: CBU-55 nặng 750 pound (khoảng 340 kg) gồm 3 ngăn: một ngăn chứa propane, một ngăn chứa hỗn hợp khí khác và một ngăn chứa ngòi nổ. CBU-55 dài khoảng 2.3 m, đường kính 0.36 cm. Có 2 loại CBU-55: Loại thứ nhất CBU-55/B chứa 3 bom BLU-73A/B đặt chung trong Hệ thống chứa SUU-49/B và loại thứ nhì là CBU-55 A/B chứa 3 BLU-73A/B trong thùng SU-49 A/B. Sự khác biệt là SUU-49B chỉ có thể thã bằng trực thăng hay phi cơ bay chậm, trong khi đó SUU-49A/B có thêm vi đuôi xếp lại nên có thể thả bằng các phi cơ bay nhanh như A-37, OV-10.. Các bom BLU nhỏ nặng khoảng 45 kg chứa ethylen oxyde lỏng. Khi nổ bom sẽ làm văng các giọt ethylen, tạo thành một đám mây nhiên liệu đường kính từ 17-25 m ở độ cao 2-3m. Đám mây này được kích hỏa bằng một ngòi nổ.. tạo thành một quầng lửa gây ngạt do thiếu oxy cho các sinh vật trong vùng.

Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam của Hà nội thì tại Việt Nam CBU-55 đã được sử dụng tại chiến trường Quảng trị (1972) và tại Bến Tre (tháng8-72) thả xuống ấp 1, xả Tam Phước và giữa tháng 7-1973, thả xuống Giồng Trôm.. Cũng theo CSBV, thì CBU-55 cũng là quả bom thả xuống Xuân lộc trong tháng 4 năm 1975 ?!.

Trong bài: ’Kỷ niệm nhỏ với Đồng đội Chiến trường xưa’ trên Nguyệt San Việt Nam On-line, Tác gỉa NgyThanh ghi lại như sau: ‘ Khi chiến xa T-54 của Cộng sản từ Tỉnh lộ 8B ở thôn Cam Võ trên bờ Bắc tràn qua sông Miếu Giang, Bộ TTM QL VNCH bí mật cho phép sử dụng lần đầu tiên trên chiến trường VN loại bom CBU-55. Trưa 1 tháng 5 năm 1972, sau khi ném ‘trái bom nguyên tử bỏ túi’ vào đoàn xe tăng đang vượt cầu Đông Hà và làm cả đoàn xe chết khựng ngay trền cầu, Thiếu úy phi công Nguyễn Hàn mang chiếc A-37 về lại Phi đoàn 528 ở Đà Nẵng bình an.. (Thiếu Úy Nguyễn Hàn sau đó đã hy sinh trong một phi vụ yểm trợ cho TĐ 8 TQLC vào đầu tháng 10-1972 tại Chợ Sài (Quảng Trị)

... đến Daisy Cutter:

Chiến trường VN được các Nhà quân sự Mỹ xem là chiến trường của trực thăng, vì trực thăng giữ nhiều vai trò quan trọng như đổ quân, chuyển tiếp liệu, tản thương. Trực thăng rất cần có được những bải đáp an toàn, đũ rộng để xoay trở tại những vùng rừng rậm nơi chiến trường. Nhu cầu được đaạt ra cho Bộ Chỉ huy QLHK là tìm một loại bom nào có đủ sức công phá để tạo ra một khoảng trống càng rộng càng tốt có thể dùng làm bãi đáp cho trực thăng.

Năm 1968, khi kiểm soát lại các kho tồn trữ võ khí, một sĩ quan KQ HK đã tìm được một số bom loại 4.5 tấn (10,000 lb) lưu trữ tại Trung Tâm tồn trữ võ khí của KQ tại Căn cứ Kitland (New Mexico). Đây là những quả bom của thập niên 50, khi Bộ Chỉ huy Không quân Chiến thuật HK còn sử dụng các Pháo đài bay B-36 làm lực lượng răn đe chính. B-36 đã được thay thế bằng các B-52 trong thập niên 60. KQ HK đã nghĩ rằng các quả bom 10,000 lb này có thễ sẽ đáp ứng được nhu cầu của Lục quân cho Lực lượng trực thăng ?

Nhưng vấn đề quan trọng nhất được đặt ra là : làm cách nào để thả những quả bom khổng lồ này ?
Không quân, trên nguyên tắc, sẽ là quân chủng đảm nhận việc thả bom, nhưng ngay lúc này KQ HK không có loại phi cơ phóng pháo nào để thả được quả bom cỡ này: Bom không thể đưa vào khoang bụng của B-52, còn các phi cơ loại phóng pháo- chiến đấu như F-100, F-105 lại không chở nổi loại bom quá nặng này, và biện pháp sau cùng là dùng các trực thăng hạng nặng hay Phi cơ vận tải để thả chúng. Có thể dùng trực thăng, nhưng với sức nặng của quả bom thì chỉ một vài loại trực thăng có đủ khả năng để chở nổi chúng: Trực thăng cần cẩu khổng lồ của US Army loại CH-54 Skycrane có thể đeo được 1 quả, nhưng bay quá chậm và mỗi phi vụ chỉ thả đưỡc 1 quả nên chi phí để thả quả bom tăng lên quá cao.

Biện pháp thứ nhì là dùng Phi cơ vận tải C-130: C-130 đã được dùng trong các phi vụ thả dù tiếp tế, khoang bụng đủ lớn để có thể chở một lúc 2 quả bom và hơn nữa tầm hoạt động của phi cơ cũng rất thích hợp nhưng vì Lục quân muốn dùng trực thăng nên họ dành quyền thả trước và không đạt được kết quả mong muốn !

Đến tháng 6 năm 1968, Chương trình dùng C-130 để thả những quả bom này được giao cho Không đoàn Vận tải Chiến thuật 463 tại Căn cứ KQ Clark (Philippines) nghiên cứu thực hiện. Thiếu tá Robert Archer, thuộc Phi đoàn 29 (KĐ 463) là ngưới đã thử thả những quả bom đầu tiên tại Căn cứ Kirtland.

Tháng 10 năm 1968, những quả bom đầu tiên được thả thử tại Vùng 1 CT dùng Hệ thống Radar MSQ-77, hướng dẫn mục tiêu, đặt dưới đất tại PleiKu và Huế. Từ tháng 12-1968, bom được thả thử theo sự hướng dẫn của các Hệ thống radar thuộc TQLC HK, và từ mùa Xuân 1969, bom 10,000 lb đã được thả thường xuyên với tên gọi là Hệ thống võ khí M121

Ngay từ đầu, việc chọn C-130 để thả bom đã được xem là rất thích hợp. Một phi cơ C-130 có thể cất cánh từ Cam Ranh, chở 2 quả bom, có thể thả tại bất cứ mục tiêu tại Nam VN chỉ sau 1 giờ baỵ Các phi công của KĐ 463 có lẽ là những nhà thả bom chuyên nghiệp nhất, thả theo sự chỉ dẫn của radar MSQ-77 và theo tín hiệu của các nhân viên điều hành dưới đất.

Để biến đổi một phi cơ vận tải C-130 bình thường sang thành phi cơ thả bom 10,000 lb, cần phải sửa đổi hệ thống liên lạc trên phi cơ để chuyên viên kỹ thuật ‘chất và thả hàng’ (loadmaster) ở trong khoang hàng hóa, có thể theo dõi được các làn sóng phát đi từ đài đặt dứới đất. Mỗi C-130 còn được trang bị thêm Hệ thống thả hàng 463L : gồm nhửng đường rầy đôi đặt trong khoang bụng phi cơ để giúp kiểm soát ‘hàng’ đặt sẵn trên một giàn gỗ (pallet), và khi thả thì sẽ thà cả giàn. Bom đặt trên giàn và được đưa trực tiếp vào khoang bụng phi cơ.

Giàn bom được thả bằng dù, khi ra khỏi bụng phi cơ, dàn tự vỡ tung ra và bom được rơi tự động, giữ chậm lại bằng một dù nhỏ hình tam giác. Một ngòi nổ xuyên qua cây cối gắn nơi mũi bom sẽ được khởi động bằng một chong chóng nhỏ: khi bom chạm đến cây sẽ phát nổ, đốn ngã hết cây cối trong vùng như chém hoa cúc (daisy cutter), và kết quả là tạo ra một khu vực tròn, trụi cây, có thể rộng đũ để 1 đến 3 trực thăng đáp xuống. Nhưng nếu ngòi nổ gắn nơi đảu bom bị tịt, thì ngòi nổ thứ nhì gắn nơi đuôi bom sẽ giúp gây nổ. Bom thường được gây nổ ở độ cao khoảng 6 m trên mặt đất và tạo ra một bãi đất trống đường kính khoảng 100 feet (33 m).

Như thế: Daisy Cutter là tên , đầu tiên, đặt cho Hệ thống võ khí M-121 này và những quả bom thả tại Long Khánh.

Đến 1970, loại bom 10,000 lb còn lại từ Thập niên 50 đã được sử dụng hết. Trung tâm Võ khí HK đã chế tạo loại bom mới, khác hơn, dùng nhiên liệu lõng, pha trộn với thuốc nổ TNT, đặt trong những ngăn khác nhau (do đó có thể xem là một loại CBU).

Loại bom này với ký hiệu BLU-82 nặng đến 15,000 lb, hình dạng như một bình chứa gaz propane khổng lồ dài 141.6 in, đường kính 54 in và được thả theo cùng phương thức như thả M-121. Đầu đạn của BLU-82 chứa 12,600lb nhiên liệu gây nỗ gồm ammonium nitrate, bột nhôm và nhựa dẻo polystyren.

BLU-82 được sử dụng lần đầu tiên trên chiến trường VN vào ngày 23 tháng 3 năm 1970 và KQ Chiến thuật HK đặt tên cho chiến dịch thả bom này là Commando Vault BLU-82 đã được dùng trong cuộc hành quân qua Campuchea (70), để tạo các bãi đáp cho trực thăng, pháo binh. Trong cuộc hành quân Lam sơn 719 của QL VNCH qua Lào, một số BLU-82 cũng đã được thả. Năm 1971, khi Không đoàn 463 HK giải tán, việc thả BLU được giao cho KĐ 374 Chiến thuật và đây là KĐ C130 sau cùng của HK hoạt động tại Đông Nam Á.

Khi sử dụng để đánh nơi tập trung quân cũa CQ, BLU-82 được thả, lúc rơi xuống cao độ 30 m, nhiên liệu rãi tỏa thành đường dài đến 300m, và đám mây nhiên liệu này được kích nổ, khi cháy nổ sẽ hút hết dưỡng khí trong một vùng, gây ngạt thở và tạo ra một chấn động theo sau.

... Ai thả và ai cho phép thả?

Không quân VNCH có 2 chiếc C-130, trang bị hệ thống thả BLU-82. Tổng cộng số BLU được giao cho KQ VN là 17 quả (trong một lớp huấn luyện cấp tốc bên Hot Cargo, thuyết trình viên cho biết sẽ mang từ Thai Lan sang 15 trái (?).

Chiếc phi cơ sau cùng của KQHK bị tổn thất tại VN là một chiếc C-130 bay từ Căn cứ Clark đến TSN, chở 2 quả BLU-82 để giao cho VNCH.

Theo tài liệu của Tác giả Trọng Đạt trong bài ‘Trận Xuân lộc, Chiến thắng cuối cùng’ trên Nguyệt San Việt Nam On-line thì qua cuộc phỏng vấn Đại Úy NHL , Phi công VN đầu tiên thả Daisy Cutter thì :

Đại Úy NHL đã thi hành 3 phi vụ thả 3 trái bom:

- Trái thứ nhất thả ở Bắc Khánh Hòa
- Trái thứ 2 ở phía Tây Nha Trang
- Trái thứ 3 , không nhớ địa điểm, nhưng nhớ là thuộc phi vụ sáng 24-4-75 (?)

Đại úy NHL cho biết: Khoảng 10 ngày trước khi Sài gòn thất thủ, phía M³ yêu cầu Không đoàn 53 Chiến thuật (thuộc SĐ 5 KQ VNCH) cử 2 sĩ quan thả bom cao độ xuất sắc để thả bom Daisy Cutter mục đích lảm chậm lại cuộc tiến quân của CSBV. KĐ 53 CT cử 2 sỉ quan trưởng phi cơ xuất sắc nhất trong việc thả bom cao độ là Đại Úy NHL thuộc PĐ 437 và Thiếu tá ĐQA thuộc PĐ 435.

Ngoài ra Đ/u cũng cho biết KQVN CH đã thả tổng cộng 10 quả Daisy Cutter, nhưng không nhớ thả lúc nào và thả tại đâụ Các quả bom do Th/t ĐQA và Th/t HN thả.

Tuy nhiên, một thân hữu KQ qua e-mail riêng có cho biết:

‘... Theo tôi biết, quả thả vào Xuân lộc 90% là do Th/T Nguyễn Tấn Minh PĐ 435. Thiếu tá Nhân , Th/tá Ngô Xuân Nhật PĐ 437 cũng đã thả BLU nhưng không chắc có phải tại Xuân Lộc không ?.
Một thân hữu khác cho biết Phi công NHL có thể (?) là Đ/u Mạc Hữu Lộc và ngoài ra còn các phi công Nguyễn Quế Sơn và Đ/u Của cũng có khả năng thả các BLU-62.

Về con số bom BLU-62 giao cho VNCH : các tài liệu hiện có vẫn chưa đồng ý với nhau:

- Tập ‘Quân Sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa’ trang 197 viết:

‘’..Trận Xuân lộc. Trong trận này các vận tải cơ C-130 Hercules thực hiện 150 phi xuất oanh tạc, sử dụng bom xăng ‘tự chế’ (gồm nhiều thùng xăng 200 lít có gắn ngòi nổ), bom chùm (gồm 3,4 trái bom nổ liên kết lại), và đặc biệt là bom CBU loại 7 tấn (15,000lb) Daisy Cutter, có sức công phá bình địa một vùng đường kính 150 m và sức sát hại trên một quy mô rộng lớn. Trái CBU đầu tiên được thả xuống cách Xuân lộc 4 km, đã khiến cả thành phố bị rúng động và mất điện, đưa tới những tin đồn B-52 oanh tạc trở lại, kết quả trọn Bộ Chỉ huy SĐ 341 của CSBV bị tiêu diệt.. Trước sau đã có 9 trái CBU được thả xuống Xuân lộc và các khu vực phụ cận ...’

- Tác giả Robert Mikesh trong ‘Flying Dragons : The South Vietnamese Air Force’ ghi lại (trang 141): ‘ Việt Nam được cung cấp tất cả 17 quả Daisy Cutter, .đả thả 15 quả, chỉ còn lại 2 quả.’

... Ai ra lệnh thả.

Cho đến nay, sau hơn 30 năm các quả bom được thả..câu hỏi ai ra lệnh thả những quả bom này vẫn chưa có câu trả lới chính thức !

Theo hệ thống quân gian thông thường, quyết định thả bom sẽ được Bộ TTM ban hành theo yêu cầu của Vị Tư lệnh chiến trường và KQ sẽ thi hành quyết định nàỵ(Trong Hồi Ký của ĐT Cao văn Viên thì đây là những yêu cầu bình thướng theo Hẹ thống Chỉ huy của QL VNCH). nhưng trên thực tế Chiến trường VN vào những ngày cuối cùng của VNCH có nhiều điều phi lý và khó giải thích !

- Tướng Nguyễn văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn 3 cho biết:

‘… Sau khi Phòng tuyến của Chiến đoàn 52BB tại Ngã Ba Dầu Giây Long Khánh.bị vỡ vào đêm 15 tháng 4 năm 1975, Ông đã xin Bộ TTM cho ném bom Daisy Cutter để ngăn sức tiến quân của CSBV. Sáng 16 tháng 4 vào lúc 11 giờ sáng 2 trái bom đã được thả xuống khu vực đóng quân của CS BV tại khu vực từ Định Quán xuống Ngã Ba Dầu Giây, loại khỏi vòng chiến hơn 10 ngàn quân CS, phá hủy nhiều Chiến xa và đại pháo của CS. Tôi đã đề nghị thả thêm 5 bom Daisy Cutter nữa nhưng được thông báo là tuy còn bom nhưng không còn đầu nổ !’.

- Tường Trần Văn Nhật (Tư lệnh SĐ 2), viết trong Hồi Ký:

‘... Chính Tướng Toàn là Tư lệnh Chiến trường đã chấp thuận cho sử dụng 2 trong số 6 trái bom (vì chỉ còn có 2 đầu đạn) Daisy Cutter thả xuống yểm trợ cho mặt trận Xuân lộc. Đáng lý ra chúng ta có đến 27 trái bom này theo quyết định của ĐT Weyand trong chuyến viếng thăm VN vào tháng 2/75 cùng với Ông Phụ Tá Bộ trưỡng QP Eric Von MarbodẨRất tiếc chỉ có 6 trái đến được VN vào cuối tháng 4/75 và không hiểu tại sao chỉ có 2 ngòi nổ’

- Vào những ngày cuối cùng của VNCH, Hệ thống Chỉ huy Quân sự của QL VNCH đã gặp nhiều trắc trở, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, tuy không còn chức vụ chính thức trong KQ, đã tự động trở về Quân đội và vẫn ra lệnh được cho các phi công ! Trong ‘The Buđha’s Child’ (trang 331) Ông ghi lại:

‘... vì quả bom có sức công phá mạnh, nên TT Thiệu sợ rằng sẽ có kẻ ném quả bom này vào Dinh do đó chỉ được phép sử dụng bom do chính Ông Ta quyết định (?). Một hôm Phòng Hành quân yêu cầu yểm trợ. Tôi không có sẵn võ khí trong tay, nên yêu cầu Vị Chỉ huy KQ cho thả , ông cho biết không có thẩm quyền. Tôi yêu cầu Vị Tổng Tham mưu trưởng ... câu trả lời tương tự ... Tôi gọi nhiều Vị Tưóng khác, tất cả đều cùng câu trả lời. Tôi biết nếu tôi gọi Thiệu, ông ta sẽ còn phải suy nghĩ, do đó tôi gọi Thủ Tướng Khiêm ... Ông trả lời ... tùy tôi và sau khi tôi giải thích nhu cầu của tình hình. Ông Khiêm cho biết: Đồng ý ... Tôi gọi lại cho Vị Chỉ Huy Hành quân và nói: OK , thả các quả bom.’ Ông này ... chấp nhận thi hành lệnh của tôi ... và các quả bom được thả ‘.

Trần Lý (Tháng 3 năm 2009).









(Nguồn: Cánh Thép)