Saturday, May 2, 2009

ACRL: TS Trần Mỹ Vân vinh danh HT Thích Quảng Độ

Từ trái: Dân biểu Con Sciacca, Sheikh Abdul Rahman, TGM Peter Jensen, Thượng tọa Thích Phước Nhơn, TS Trần Mỹ Vân, TGM George Pell, Cựu Phó thủ tướng John Anderson, Chủ tịch ACRL Rocky Mimmo, Gambhir Watts (Ấn giáo)

TS Trần Mỹ Vân phát biểu tại ACRL
Sydney - Tiến sĩ Trần Mỹ Vân, giáo sư môn Á châu học tại Đại học South Australia, đã tạo sự chú ý lớn lao của một cử tọa gồm các giới lãnh đạo tôn giáo và chính trị Úc về tình trạng đàn áp Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất cùng Hòa thượng Thích Quảng Độ dưới bàn tay nhà cầm quyền CSVN.

Hôm thứ Năm 23/4/09, buổi lễ khai mạc Trung tâm Ambrose cho Tự do Tôn giáo (Ambrose Centre for Religious Liberty - ACRL) đã mời TS Trần Mỹ Vân lên phát biểu về tình hình Phật giáo tại Việt Nam. Được biết ACRL là một trung tâm nghiên cứu với mục đích bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng căn bản của con người. Buổi lễ khai mạc diễn ra tại Quốc hội tiểu bang New South Wales được chủ toạ bởi Cựu Phó thủ tướng Úc, ông John Anderson. Trong số khoảng 150 vị lãnh đạo tôn giáo và chính trị Úc, người ta cũng nhận thấy sự hiện diện của nhiều khuôn mặt tiếng tăm như đức Hồng y George Pell (Tổng giám mục Sydney của đạo Công giáo), Tiến sĩ Peter Jensen (Tổng giám mục Sydney của Anh giáo), đại diện của nhiều tôn giáo như Ấn giáo, Hồi giáo, Bahai, nhiều dân biểu Quốc hội tiểu bang lẫn liên bang, v.v...

Riêng về phía Phật giáo thì có sự hiện diện của Thượng tọa Thích Phước Nhơn vị đại diện của Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất tại Úc châu. Từ tiểu bang Nam Úc, người ta nhận thấy có Dân biểu Jack Snelling, chủ tịch Hạ viện Nam Úc và là một người luôn hỗ trợ các cuộc tranh đấu đòi tự do dân chủ của cộng đồng người Việt.

Trong một bài phát biểu gây xúc động mãnh liệt trong cử tọa, TS Mỹ Vân nói:

“Suy ngẫm về kinh nghiệm tâm linh bản thân, tôi thấy rõ quyền tự do tôn giáo là quan trọng. Nhưng buồn thay, không phải ai ai trên thế giới cũng được hưởng tự do đó. Tôi rất buồn phiền khi được biết rằng người dân Tây Tạng ngay trên đất nước của họ, không có quyền giữ hình của đức Đạt lai Lạt ma, vị lãnh đạo tâm linh của họ. Họ phải giấu hình ngài đi, hoặc phải tiêu huỷ, nếu không sẽ bị trừng phạt và tra tấn. Tôi thiển nghĩ đức Lạt ma có dạy điều gì chống lại nhân loại và hoà bình đâu. Ngược lại là đằng khác, ngài chỉ dạy tình thương, sự hiểu biết, lòng khoan dung và tha thứ... Tự do tôn giáo không phải là chuyện không có cũng chẳng sao, mà là một quyền con người căn bản mà không một nhà cầm quyền nào có thể tước đoạt.

“Khi nghĩ tới Việt Nam thì tôi lại càng buồn phiền hơn nữa. Việt Nam ngày nay bị cai trị bởi một chế độ độc tài cộng sản. Nhiều nhà sư, linh mục, nữ tu sĩ và tín đồ đã bị sách nhiễu, bỏ tù, giam lỏng tại gia chỉ vì họ giữ vững đức tin tâm linh của riêng họ, hoặc vì họ mong muốn chính quyền không can thiệp vào tôn giáo, vì họ đòi hỏi tự do tín ngưỡng và dân chủ cho Việt Nam. Giản dị là không ai có thể bắt họ cải đạo để trở thành người theo chủ nghĩa cộng sản...

“Tôi xin mượn cơ hội này để nêu lên trường hợp của Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất. Giáo hội đã bị cấm không được hoạt động, tài sản của Giáo hội bị tịch thu. Những vị lãnh đạo tối cao của Giáo hội đã từng bị bắt giam ròng rã nhiều năm, bị đi đày ngay trên xứ sở họ, và tiếp tục bị cầm tù, chỉ vì họ từ chối khuất phục chế độ cộng sản. Hoà thượng Thích Quảng Độ, vị lãnh đạo của giáo hội bị cấm đoán này, là một học giả xuất chúng, một vị chân tu và tác giả nhiều thơ văn. Ngài đã hiến trọn đời mình cho đạo Phật và cho lợi ích nhân loại. Vậy mà suốt 3 thập niên qua, ngài đã gặp đủ mọi khó khăn chẳng khác gì vị Tăng thống trước là Hoà thượng Thích Huyền Quang. HT Quảng Độ đã được trao tặng giải Thoroft Rafto, một giải thưởng lẫy lừng, và ngài cũng từng được đề cử 9 lần cho giải Nobel Hoà bình. Ngài đã trở thành biểu tượng của phong trào Phật giáo tranh đấu ôn hòa cho tự do tôn giáo và nhân quyền.”

Được biết khi nói đến đó, TS Trần Mỹ Vân đã giương lên cho cử toạ thấy những bức tem thư với hình HT Quảng Độ mà bà đã được phép cho in ấn đặc biệt. Những tấm tem HT Quảng Độ đã được cử toạ hoan nghênh nhiệt thành. Trong thời gian tới, Trung tâm ACRL dự định sẽ tổ chức nhiều buổi hội thảo tại các tiểu bang khác xứ Úc.

Bà Trần Mỹ Vân là giáo sư Phân khoa Quốc tế học, chuyên giảng dạy Á châu học tại Đại học South Australia. Trước kia bà du học Úc châu theo chương trình Colombo và góp phần thành lập Cộng đồng người Việt Tự do tại Úc trong những buổi đầu.



Những gì đã xảy ra tại chùa Chánh Giác ? - Nhật Thường

Nhật Thường

Lời tòa soạn: Vào ngày 23/3/2009 chúng tôi có nhận được một số tài liệu gởi từ Perth bao gồm một DVD và một UBS, trong đó có nhiều video clip dài tổng cộng gần 2 giờ đồng hồ. Đó là những hình ảnh đã quay được bên trong chùa Chánh Giác do cư sĩ Lê Tấn Kiết đang trụ trì, đồng thời ông Kiết cũng đang là Chủ Tịch Hội Phật Giáo Việt Nam Tây Úc. Nội dung của những tài liệu này tố cáo hành động lạm dụng tình dục của ông Kiết với một phụ nữ từ Việt Nam mới qua. Sau đó chúng tôi có liên lạc với một số người có liên hệ để kiểm chứng nguồn tin và đồng thời gởi một phóng viên đến Perth để tìm hiểu thêm sự việc, lắng nghe từ hai để có cái nhìn khách quan và chính xác hơn.

Sau đây là bài tường thuật của ký giả Nhật Thường sau chuyến đi Perth với những gì mắt thấy tai nghe. Tất cả những lần tiếp xúc đều có ghi âm với sự đồng ý của đương sự, ngay cả lần gặp ông Lê Tấn Kiết tại chùa Chánh Giác.
http://vietluanonline.com/030409/nhunggixayraochuachanhgiac.html

*
* *
Cô Huệ, Khang và Cư sĩ Lê Tấn Kiết

Tôi rời Sydney lúc 6am và đến Perth lúc 9.30am, chuyến bay kéo dài 4 tiếng rưỡi, xa hơn từ Sydney đi ngoại quốc như New Zealand hay một số đảo ở Thái Bình Dương. Tại phi trường Perth, tôi mướn một chiếc xe để đi đến một số nơi cần thiết. Nhờ có mang theo GPS nên việc đi lại thật dễ dàng.

Khi xảy ra việc này tôi được quen với anh T., một đồng hương sống hơn 20 năm tại Perth, anh tình nguyện bỏ ra trọn một ngày để làm hướng dân viên cho tôi. Nhân dịp này cho tôi gởi đến vợ chồng anh chị T. lời cám ơn đặc biệt. Hai anh chị này đã quá tử tế với tôi.

Từ phi trường tôi chạy xe đến nhà anh T., rồi từ đó chúng tôi đến gặp cô Nguyễn Thị Huệ, hiện tạm thời sống tại nhà của một hội viên của hội Connecting Communities Vietnam, viết tắc là CCV, thuộc vùng ngoại ô của Perth. Chúng tôi chỉ gặp có chị thôi, còn An Khang thì đang đi học tiếng Anh tại một trường chuyên dạy sinh ngữ để chuẩn bị cho các du học sinh vào trung học hay đại học. Tôi hẹn gặp Khang và bà Lyn lúc 4 giờ chiều tại đó sau khi Khang tan học. Trong thời gian này bà Lyn thường xuyên đưa đón Khang.

Sau vài câu câu trao đổi với cô Huệ, tôi nhận ra ngay ở cô cái nét chất phát của các cô gái Nam Kỳ Lục Tỉnh, tôi hỏi gì cô trả lời đó, kiểu “có sao nói vậy” không có chút gì cầu kỳ kiểu cách. Cô nói chuyện với tôi như những lời tâm tình hơn là một cuộc phỏng vấn.

Dưới đây tôi viết lại những gì đã ghi nhận sau khi gặp Cô Nguyễn Thị Huệ.

Cô Huệ năm nay 40 tuổi, khi còn ở Việt Nam sống tại ấp Giồng Nổi, xã Tam Kỳ, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Cô học lên đến hết lớp 12 thì bỏ học vì gia đình không có khả năng tài chánh để học tiếp lên đại học, cô ở nhà phụ giúp gia đình làm ruộng.

Cô quen anh Phạm Thành Niên từ năm cô 18 tuổi, người cùng quê, lớn hơn cô 5 tuổi. Sau khi tốt nghiệp trường Nông Lâm Súc tại Vĩnh Long, anh Niên học tiếp lên Đại Học Hải Sản Nha Trang, chương trình 5 năm, nhưng theo lời cô thì đến năm thứ 5 anh Niên phải bỏ học vì gia đình anh làm ăn sa sút không còn đủ khả năng trang trải chi phí cho anh ăn học nữa.

Không lâu sau khi trở về quê thì hai người lấy nhau (lúc đó cô Huệ 23 tuổi còn anh Niên 28 tuổi), họ có một mối tình kéo dài 5 năm thật đẹp như phần lớn các cuộc tình của những đôi trẻ khác.

Sau khi lấy nhau họ sống bằng nghề làm ruộng, sau đó có nhau 2 người con: An Khang sinh năm 1993 và một đứa em trai sinh năm 1995.


cô Huệ (áo bông) tại nhà cô ở ấp Giồng Nổi, xã Tam Kỳ, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh

Là một người có học thức nhưng cuối cùng phải sống một cuộc đời lam lũ, nhà tranh vách đất, làm ruộng chỉ đủ sống qua ngày, khiến ông Niên trở thành người thất chí, càng lớn tuổi ông càng thích tìm rượu để giải sầu, sau những lần say xỉn trở về, nhiều lần ông đã đánh đập vợ con một cách vô cớ. Có 2 lần ông đánh chị nặng đến độ phải chở vô bệnh viện.

Theo lời chị thì từ lúc nhỏ Khang tỏ ra là một bé thông minh, về môn toán Khang thường khi đứng
nhất trong lớp. Đến năm 12 tuổi, Khang hơi lơ đãng chuyện học và có thú thích chơi bida. Trong lúc đó ông Niên cấm Khang không được chơi bida, nhưng thỉnh thoảng Khang trốn cha đi chơi lén. Chiều ngày 25 tháng 8 năm 2005 trên đường đi nhậu về, ông Niên phát hiện con mình đang chơi bida, ông kéo con về nhà rồi trót lại đổ dầu vô châm lửa đốt. Ngay sau lúc đó cô Huệ đang đi về nghe con mình la hét chạy vô dập tắt ngọn lửa, nhưng đã trễ, vết phỏng đã quá nặng. Họ chở Khang xuống bệnh viện Chợ Rẫy rồi sau đó chuyển qua Bệnh Viện Nhi Đồng 1, nằm ở đó 4 tháng, thì phải trở về nhà là vì gia đình cô Huệ không còn tiền để trả chi phí bệnh viện và bác sĩ Việt Nam cũng bó tay trước vết thương quá nặng của Khang.

Trong 4 tháng đó ông Niên có phụ với vợ để chăm sóc cho Khang ở bệnh viện, nhưng sau đó ông bị
tòa tuyên án 9 năm tù, kể từ đó cô Huệ phải một mình lo cho 2 đứa con. Trong cơn tuyệt vọng, cô được người ta chỉ đến Hội Y Sĩ Quốc Tế ở Sài Gòn. Hội này email cho bà Lyn Annadale, chủ tịch hội Connecting Communities Vietnam về trường hợp của Khang. Theo lời bà Lyn kể lại thì lúc đó nhìn thấy những tấm hình này bà thương tâm quá nên làm đơn ngay gởi cho Bộ Duy Trú Úc xin cho Khang qua đây chữa bệnh, đồng thời bà liên lạc với Bác sĩ Fiona Woods, là bác sĩ giỏi nhất của Úc chuyên về chữa phỏng, để nhờ giúp đỡ cho trường hợp của Khang. Bs Woods đồng y ngay và sẵn sàng chữa miễn phí cho Khang, hội CCV chỉ lo trả chi phí cho bệnh viện mà thôi.

Sau đó Bộ Di Trú đồng ý cho Khang qua Úc chữa bệnh với điều kiện là phải có người bảo đảm chỗ ăn ở. Bà Lyn liên lạc với cộng đồng người Việt tại Tây Úc và được giới thiệu đến ông Lê Tấn Kiết – trụ trì chùa Chánh Giác, ông Kiết ký giấy đồng ý giúp cho mẹ con cô Huệ được ở tại chùa miễn phí.

Cuối cùng mẹ con cô Huệ đến Úc vào ngày 15/12/2007. Kể từ ngày bà Lyn nhận được email đầu tiên về Khang cho đến ngày em được Úc mất khoảng 1 năm.

Từ đó đến nay Khang đã trải qua 3 cuộc giải phẩu lớn: cổ, hai nách và tay. Cuộc giải phẩu cổ và nách thì thành công, còn tay thì không thành công. Khó khăn nhất đối với Khang hiện này là không thể ăn được như người bình thường, vì xương hàm bị dính lại cho nên không thể mở miệng lớn được, hiện tại Khang chỉ ăn thức ăn xay nhiễn ra rồi dùng ống hút để hút. Khang cũng không thể tắm được một mình vì không thể vơ hai cánh tay lên cao. Theo Bs Woods cho biết thì bước sắp tới bà sẽ giải phẩu xương hàm để Khang có thể ăn uống được như người bình thường. Hiện tại chưa làm được là vì kháng thể trong người Khang yếu, sợ không đủ sức chống lại nếu trường hợp vết thương bị nhiễm trùng.

Cô Huệ phải làm việc như thế nào ở chùa?

Ông Kiết sống tại chùa Chánh Giác một mình (vợ của ông chỉ thỉnh thoảng vào chùa), từ hơn một
năm nay thì thêm mẹ con cô Huệ. Theo cô Huệ cho biết thì cô coi chùa như nhà của mình, hơn thế nữa chùa này đã cưu mang gia đình cô trong cơ hoạn nạn, cho nên ngoài việc chăm sóc cho con, cô không bao giờ câu nệ làm tất cả các công việc trong chùa như quét dọn, lau chùi, nấu ăn cho ông Kiết v.v.. Những ngày rầm, ngày lễ hay có đám tang thì làm nhiều hơn bình thường. Các nhân viên của CCV mỗi khi đến thăm đều thấy cô làm việc, họ không hài lòng nhưng cô cho biết cô thích làm việc hơn là ở không, nên họ cũng không thắc mắc nữa.

Làm việc cô không ngại, nhưng điều làm cho cô Huệ buồn và khóc nhiều lần là thái độ của ông Kiết đối với mẹ con cô.

Theo những người sống lâu năm tại Tây Úc mà tôi có dịp tiếp xúc đều nhận xét về ông Kiết là một con người “cực kỳ thủ đoạn và nham hiểm”. Nhận xét chung của tôi là phần đông đều ghét ông nhưng tất cả đều sợ ông. Họ cho tôi biết rất nhiều tin tức về ông nhưng tất cả đều yêu cầu tôi phải giữ kín tên tuổi của họ đừng để lộ, nếu không họ hoặc gia đình có thể bị trả thù. Nói như thế mới thấy sự sợ hãi bao trùm lên cộng đồng của chúng ta khi đụng đến các thế lực tôn giáo, mặc dầu chúng ta đang sống trong một xã hội văn minh và có luật pháp.

Những thủ đoạn ông Kiết áp dụng với mẹ con cô Huệ

Theo cô Huệ thì ông Kiết áp dụng hai cách sau đây đối với mẹ con cô:

Ông Lê Tấn Kiết

1. Trước mặt mọi người ông Kiết luôn tìm cách nói xấu mẹ con cô Huệ và cô lập mẹ con cô với các phật tử đến chùa

2. Khi mọi người đã ra về thì đó là lúc ông “dỗ ngọt” cô Huệ và nói xấu người khác, ông thường xuyên nhắc đi nhắc lại với cô câu này “Không ai tốt với mày đâu, chỉ có tao mới là người tốt thôi” (ông Kiết luôn luôn xưng mầy tao với cô Huệ).

Theo những người sống lâu tại Tây Úc và hiểu rõ ông Kiết, tất cả những việc làm của ông Kiết đều có tính toán.

Theo họ, ông cần phải cô lập mẹ con cô Huệ với mọi người là để cô và Khang không có cơ hội tiết lộ những hành động tồi bại của ông.

Lý do ông cần phải bêu xấu mẹ con cô Huệ để mọi người nghĩ đây là những người xấu (bad reputation), cho nên dù mẹ con cô Huệ có tiết lộ những chuyện xấu về ông chăng nữa thì người ta cũng không tin.

Còn lý do ông cần phải dỗ ngọt cô Huệ là để cô tiếp tục phục vụ sinh lý cho ông.

Ông Kiết bắt đầu dở trò với cô Huệ từ lúc nào?

Trong cuộc gặp gỡ giữa tôi và ông Kiết tại chùa Chánh Giác, ông Kiết cho biết là trước đây ông có thuê một cô Việt Nam tên V. mỗi tuần đến đấm bóp cho ông mỗi tuần 3 lần, mỗi lần $50. Một phật tử trong chùa thấy vậy đề nghị với ông là thay vì trả cho cô V. $50 mỗi lần làm massage, tại sao ông không thuê cô Huệ để cô có chút tiền gởi về Việt Nam nuôi con. Cho nên bắt đầu từ tháng 5 năm 2008 ông dùng cô Huệ thay thế cho cô V. đấm bóp cho mình. Tôi có kiểm tra lại chuyện này với cô Huệ thì được cô Huệ cho biết như sau:

- Khoảng tháng 5/2008 cô bắt đầu đấm bóp cho ông Kiết nhưng không phải mỗi tuần 3 lần mà là mỗi ngày.

- Ông Kiết không có trả tiền cho cô Huệ $50 mỗi lần như ông nói với tôi, nhưng chỉ thỉnh thoảng cho tiền cô thôi.

Ông Kiết áp dụng chiến thuật tranh thủ “dành dân lấn đất”. Lúc đầu chỉ có đấm bóp thuần túy rồi thêm thắt từ từ. Theo lời cô Huệ thì từ 8/2008 lấy lý do là cần thêm “nhân điện” để làm phật sự, ông cần được đấm bóp toàn người. Rồi tiếp thêm bước nữa là trong lúc cô đấm bóp thì một tay ông rờ rẫm vào người của cô Huệ.

Rồi sau cùng bắt đầu từ đầu tháng 12 năm rồi cho đến giữa tháng 3 năm nay, ông bắt cô Huệ phục vụ sinh lý cho ông.

Trả lời câu hỏi phỏng vấn của tôi tại chùa Chánh Giác vào chiều hôm thứ Sáu vừa rồi (27/3/2009), ông Kiết xác nhận cuốn băng thu hình là có thật, ông cũng có trong tay DVD thu hình đó, nhưng ông nói rằng ngoài chuyện đấm bóp r5a, chuyện “cởi quần” chỉ xảy ra duy nhất có hai lần thôi như trong cuốn thu băng đó thôi, chớ không phải lâu dài như lời cô Huệ đã nói với tôi. Ông cũng nói thêm rằng ông năm nay đã 90 tuổi rồi, đã hết khả năng làm tình từ năm 75 tuổi, và nếu không làm tình thì không thể gọi là xâm phạm tình dục. Theo ông Kiết, 2 lần đó xảy ra, ông nghĩ là do cô Huệ bỏ thuốc vào ly sửa đậu nành của ông. Tất cả những chi tiết trong cuộc phỏng vấn với ông Kiết đã được thâu băng đầy đủ (với sự đồng ý của ông Kiết) và sẽ được đăng tải trong số báo tới.

DVD gởi cho chúng tôi được thu trong những ngày đầu của tháng 3, nhưng theo cô Huệ cho biết thì ông Kiết đã giở trò với cô từ khoảng tháng 8 năm rồi cho đến 1 tuần trước khi cô rời khỏi chùa Chánh Giác vào 23/3/2009. Đến giữa tháng 3 khi biết những việc làm của ông đã bị thu băng, ông Kiết đã tìm đủ cách để thuyết phục cô và Khang hủy bỏ những video đó, nếu họ đồng ý thì ông sẽ đưa ngay $4000 và sau khi cô trở về Việt Nam thì mỗi tháng sẽ gởi về vài trăm phụ cấp. Nhưng cô Huệ cho biết là cô từ chối tất cả.

Khi tôi hỏi là tại sao cô phải “phục vụ” cho ông Kiết trong một thời gian dài như vậy mà không báo hội CCV biết, cô Huệ trả lời là vì cô sợ và lòng mang ơn.

Cô sợ là nếu rời khỏi chùa không biết ở đâu, cô không muốn tạo thêm gánh nặng cho hội CCV, bởi vì những cuộc giải phẩu của Khang đã làm hao tốn của hội CCV và ROMAC gần $100,000.

Cô sợ một con người đầy quyền lực như ông Lê Tấn Kiết có thể sẽ tìm cách trả thù mẹ con cô.

Đồng thời cô cũng mang ơn ông Kiết đã cưu mang mẹ con cô trong cơn hoạn nạn – chính 2 điều này khiến cô phải cam chịu trong một thời gian dài như vậy.

Theo lời cô Huệ, để được tiếp tục được thỏa mãn sinh lý, ông Kiết thuyết phụ cô là nhờ cô mà đầu
óc ông được minh mẫn, yêu đời, có sức để tiếp tục đóng góp cho phật pháp.

Tại sao cô Huệ quyết định tố giác chuyện này?

Đến một lúc gần đây cô cảm thấy không còn có thể tiếp tục như vậy được nữa, nên đã tâm sự với Khang: “Chỉ vì con mà má phải hy sinh làm những việc như vậy, má cảm thấy tội lỗi quá”.

Khang và cô Huệ quyết định phải làm một cái gì đó để chấm dứt chuyện này. Khi gặp Khang, tôi có hỏi về điều này thì Khang cho biết chính em đã thâu những các video clip này. Tôi hỏi Khang nguyên nhân nào thúc đẩy Khang làm điều này, thì Khang trả lời nguyên văn như sau: “Ông Kiết là người rất nguy hiểm, phần lớn phật tử chỉ tin lời của ông thôi, nếu không có chứng cớ làm sao con và má cãi lại ông ấy.”

Khang đã dùng mobile phone để thâu hình ảnh này, không phải một đêm mà liên tiếp 5,6 đêm. Cuối cùng khoảng ngày 19/3/2009 Khang kể cho bà Lyn biết tất cả và cho bà ấy xem video mà Khang thâu được. Đến đến sáng thứ Hai 23/3/2009, bà Lyn đã đến chở mẹ con cô Huệ ra đồn cảnh sát để khai tất cả sự thật và sau đó chở đến sống tạm tại nhà của một hội viên của CCV.

Cô Huệ cho biết là khi ở Việt Nam mặc dầu gia đình cô theo đạo Phật nhưng cô không hiểu gì về giáo lý nhà Phật cả. Mỗi khi gặp nạn cô chỉ van vái Trời Phật chớ không biết gì khác. Cô cho rằng mình thật may mắn là trong thời gian ở chùa Chánh Giác cô có một phật tử tên H. thường xuyên lui tới đến chùa, cô kính trọng ông H. như người anh ruột thịt vì chính ông là người đã giảng cho cô hiểu được giáo lý của đạo Phật và những bước căn bản để tu thân. Cô muốn tu để cầu xin Trời Phật phù hộ cho đứa con bất hạnh của cô, cứu vớt cho Khang được trở lại như người bình thường.

Lòng muốn tu nhưng bị bắt buộc phải làm những việc trái luân thường đạo lý khi phải “phục vụ” cho ông Kiết, chính điều này đã làm cho cô dằn dặt lương tâm suốt nhiều tháng qua. Cô cho biết cô đã khóc thầm nhiều đêm vì sự dằn dặt này.

Gặp Khang và bà Lyn Đúng như giờ hẹn tôi gặp Khang bên ngoài trường của em, vì đã trông thấy hình rồi cho nên tôi đã chuẩn bị trước tinh thần. Bà Lyn có lẽ cố tình đến trễ để cho tôi và Khang nói chuyện được thoải mái. Sau vài phút nói chuyện tôi nhận ra ngay là Khang mặc dầu bị tàn phế thân thể nhưng đầu óc thông minh. Khang cho biết là trong những môn học Khang giỏi nhất là môn toán, thường khi đứng đầu trong lớp.

Tôi không đủ cam đảm để nói em kể lại tai nạn, nhưng bổng nhiên Khang nói là em không thể quên ngày rầm tháng rầm tháng 7 Âm lịch tức ngày ngày 20/8/2005 Dương lịch, vì ngày đó là ngày tai nạn xảy ra đến với em.

Sau đây là cuộc đối thoại giữa tôi và Khang:

- Khang có thể tha thứ cho cha được không?

- Có thể được.

- Khang có thương ba nhiều không?

- Chỉ ít thôi.

- Ba Khang có bao giờ nói xin lỗi hay có khóc trước mặt Khang không?

- Có xin lỗi và khóc nhiều lần.

- Giữa Úc và Việt Nam Khang thích sống ở đâu hơn?

- Ở Úc hơn.

- Tại sao?

- Bởi vì ở Úc bạn bè và đặc biệt là thầy cô đối xử rất tốt với con.

- Ước mơ lớn nhất của Khang lúc này là gì?

- Con có 2 ước mơ lớn, thứ nhất là bác sĩ sẽ giải phẩu thành công để con có thể ăn uống bình thường và có thể tự tắm rửa được và ước mơ thứ hai là khi trở vào lại trường trung học vào giữa năm nay con sẽ theo kịp bạn bè.

Điều thật đáng mừng là vì thấy hoàn cảnh đáng thương của Khang cho nên chính phủ Úc cấp cho Khang học bổng 6 năm.

Càng sống lâu tại đây tôi càng thấy quý trọng những giá trị nhân bản của dân Úc, tôi không nhớ vị danh nhân nào đã nói câu này: “Người ta đánh giá sự văn minh của một quốc gia qua sự đối xử với người tàn tật”.

Giữa năm nay Khang sẽ vào học lớp 10, tôi cầu Trời cho Khang vượt qua được những khó khăn lúc
đầu. Tôi khuyên Khang phải cố gắng học vì đó là con đường duy nhất để có tương lai tươi sáng, Khang trả lời: “Con biết điều đó”.

Khoảng 4 giờ rưỡi thì Lyn đến. Đúng như tôi mong đợi, đây là một phụ nữ trung niên với khuôn mặt và giọng nói thật nhân ái. Tôi nói với bà rằng tôi không dám đại diện cho ai cả, nhưng xin thay mặt cho bán tuần báo Việt Luận gởi đến bà lời cám ơn đặc biệt, bà đã giúp cho đồng bào của tôi những việc mà bản thân tôi không làm được.

Tôi nói tiếp: “Tôi biết tất cả những lời cám ơn đối với bà đều dư thừa nhưng cho phép tôi được nhắc lại câu ngạn ngữ của người Do Thái "Cứu một mạng người cũng gần giống như cứu cả thế giới" (Save one life is as if you have saved the world)”

Bà Lyn trả lời khiêm tốn rằng thấy hoàn cảnh thương tâm như vậy bà chỉ làm theo tiếng gọi của lương tâm.

Đáng tiếc là bà không thể cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn, vì luật sư của CCV không cho phép bà được tuyên bố bất cứ điều gì với báo chí liên quan đến việc “sách nhiễu tình dục” của ông Lê Tấn Kiết cho đến khi họ có một quyết định.

Cả bà và một hội viên khác trong CCV tên là Sue mà tôi có dịp gặp trước đó đều tỏ bực tức về sự tiết lộ muộn màng của cô Huệ, họ cho rằng đúng ra cô Huệ phải thông báo ngay cho họ biết khi có những chuyện như vậy xảy ra.

Khi từ biệt, bà nắm tay Khang và nói với tôi “He is my son” (cậu ta là con của tôi). Tôi cầu Trời những người như bà Lyn sẽ mãi mãi thương yêu Khang như thương yêu chính đứa con của bà, những người như Khang cần một tình thương để làm lại cuộc đời. Tôi biết lúc đó bà nói thật với lòng mình, tôi nhìn họ bước đi mà không sao cầm được nước mắt và tự hỏi tại sao lại có những người ngoại quốc tốt với đồng bào của tôi như thế.

Ai là chủ nhân thật sự của chùa Chánh Giác?

Một nhân vật quan trọng khác có liên hệ với chùa Chánh Giác mà tôi có dịp gặp trong chuyến đi vừa rồi là ông Lâm Ngọc A. Theo ông A thì chính ông mới là chủ nhân thật sự của chùa Chánh Giác, ông đưa cho tôi xem title nhà (bảng chánh) đang giữ và tất cả các chi phiếu mà ông đã trả cho ngân hàng, ông đồng ý cho tôi giữ tất cả các bảng photocopy.

Trong lúc gặp ông Lê Tấn Kiết tại chùa Chánh Giác tôi có nêu câu hỏi này, thì ông Kiết phủ nhận lời nói của ông A. Ông Kiết đồng ý là ông A có trả cho ngân hàng số tiền là $380,000 vào tháng 12 năm 1994 để thanh toán tất cả số nợ của chùa Chánh Giác, nhưng tài sản ngôi chùa này thuộc về ông Kiết dưới tên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Tây Úc. Coi như ông A đã tặng cho Giáo Hội của ông Kiết rồi chớ không còn là của ông A nữa.

Chúng tôi sẽ trình bày chi tiết hơn về vấn đề này trong những số báo tới.

Tôi rời Perth bằng chuyến bay lúc 12 giờ 30 phút khuya, tức là 2 giờ 30 phút sáng theo giờ Sydney, mệt thật nhưng tôi ngồi trên máy bay suốt 2 tiếng đồng hồ sau vẫn không sao nhắm mắt được, những hình ảnh của Khang, của cô Huệ, của bà Lyn, Sue và các bạn VN khác ở Perth… cứ hiện ra trong trí tôi và dĩ nhiên có cả những hình ảnh của ông Lê Tấn Kiết ...

Nhật Thường


Friday, May 1, 2009

HIẾN PHÁP VIỆT NAM CỘNG HÒA


HIẾN PHÁP VIỆT NAM CỘNG HÒA

QUỐC HỘI LẬP HIẾN
Chung quyết trong phiên họp
Ngày 18 tháng 3 năm 1967


LỜI MỞ ÐẦU

Tin tưởng rằng lòng ái quốc, chí quật cường, truyền thống đấu tranh của dân tộc bảo đảm tương lai huy hoàng của đất nước.

Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể Cộng Hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Ðộc Lập Tự Do Dân Chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.

Chúng tôi một trăm mười bảy (117) Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến đại diện nhân dân Việt Nam, sau khi thảo luận, chầp thuận Bản Hiến Pháp sau đây:

* * *
    CHƯƠNG I: ÐIỀU KHOẢN CĂN BẢN
ÐIỀU 1

1. VIỆT NAM là một nước CỘNG HÒA, độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
2. Chủ quyền Quốc Gia thuộc về toàn dân.

ÐIỀU 2

1. Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của mọi công dân.
2. Quốc Gia chủ trương sự bình đẳng giữa các công dân không phân biệt nam nữ, tôn giáo, sắc tộc, đảng phái.

Ðồng bào thiểu số được đặc biệt nâng đỡ để theo kịp đà tiến hóa chung của dân tộc.

3. Mọi công dân có nghĩa vụ góp phần phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc.

ÐIỀU 3

Ba cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản Tự Do, Dân Chủ và Công Bằng Xã Hội.

ÐIỀU 4

1. Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức.

2. Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ.

ÐIỀU 5

1. Việt Nam Cộng Hòa chấp nhận các nguyên tắc quốc tế pháp không trái với chủ quyền quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.

2. Việt Nam Cộng Hòa cương quyết chống lại mọi hình thức xâm lược và nỗ lực góp phần xay dựng nền an ninh và hòa bình thế giới.
    CHƯƠNG II: QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CÔNG DÂN
ÐIỀU 6

1. Quốc Gia tôn trọng nhân phẩm.

2. Luật pháp bảo vệ tự do, sinh mạng, tài sản và danh dự của mọi công dân.

ÐIỀU 7

1. Quốc Gia tôn trọng và bảo vệ quyền an toàn cá nhân và quyền biện hộ.

2. Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ nếu không có mệnh lệnh hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền luật định, ngoại trừ trường hợp quả tang phạm pháp.

3. Bị can và thân nhân phải được thông báo tội trạng trong thờ hạn luật định. Mọi sự câu lưu phải đặt dưới quyền kiểm soát của cơ quan Tư Pháp.

4. Không ai có thể bị tra tấn, đe dọa hay cưỡng bách thú tội. Sự nhận tội vì tra tấn. Ðe dọa hay cưỡng bách không được coi là bằng chứng buộc tội.

5. Bị can phải được xét xử công khai và mau chóng.

6. Bị can có quyền được luật sư biện hộ dự kiến trong moi giai đoạn thẩm vấn kể cả trong cuộc điều tra sơ vấn.

7. Bị can về các tội Tiểu Hình, chưa có tiền án quá ba (3) tháng tù về các tội phạm cố ý, có thể được tại ngoại hầu tra nếu có nghề nghiệp và địa chỉ chắc chắn. Nữ bị can về các tội tiểu hình. Có nghề nghiệp và địa chỉ chắc chắn, nếu có thai trên ba (3) tháng.

8. Bị can được suy đoán là vô tội cho đến khi bản án xác nhận tội trạng trở thành nhất định.

Sự nghi vấn có lợi cho bị can

9. Bị can bị bắt giữ oan ức, sau khi được tuyên bố vô tội, có quyền đòi Quốc Gia bồi thường thiệt hại trong những điều kiện luật định.

10. Không ai có thể bị câu thúc thân thể vì thiếu nợ.

ÐIỀU 8

1. Ðời tư, nhà cửa và thư tín của công dân phải được tôn trọng.

2. Không ai được quyền xâm nhập, khám xét nơi cư trú và tịch thâu đồ vật của người dân, trừ khi có lệnh của Tòa Aùn hoặc cần bảo vệ an ninh và trật tự công cộng trong phạm vi luật định.

3. Luật pháp bảo vệ tánh cách riêng tư của thư tín, những hạn chế, nếu có phải do một (1) đạo luật qui định.

ÐIỀU 9

1. Quốc Gia tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do truyền giáo và hành đạo của mọi công dân miễn là không xâm phạm đến quyền lợi quốc gia, không phương hại đến an ninh, trật tự công cộng và không trái với thuần phong mỹ tục.

2. Quốc Gia không thừa nhận một tôn giáo nào là Quốc Giáo. Quốc Gia vô tư đối với sự phát triển của các tôn giáo.

ÐIỀU 10

1. Quốc Gia công nhận quyền tự do giáo dục.

2. Nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí.

3. Nền giáo dục Ðại Học được tự trị.

4. Những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.

5. Quốc Gia khuyến khích và nâng đỡ các công dân trong việc nghiên cứu và sáng tác về khoa học, văn học và nghệ thuật.

ÐIỀU 11

1. Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản.

2. Một ngân sách thích đáng phải được dành cho việc phát triển văn hóa giáo dục.

ÐIỀU 12

1. Quốc Gia tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, báo chí và xuất bản, miễn là sự hành xử các quyền này không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc phòng hay thuần phong mỹ tục.

2. Chế độ kiểm duyệt không được chấp nhận, ngoại trừ các bộ môn điện ảnh và kịch trường.

3. Một đạo luật sẽ ấn định qui chế báo chí.

ÐIỀU 13

1. Mọi công dân đều có quyền tự do hội họp và lập hội trong phạm vi luật định.

2. Mọi công dân đều có quyền bầu cử , ứng cử và tham gia công vụ trên căn bản bình đẳng theo điều kiện và thể thức luật định.

3. Quốc Gia tôn trọng các quyền chính trị của mọi công dân kể cả quyền tự do thỉnh nguyện, quyền đối lập công khai bất bạo động và hợp pháp.

ÐIỀU 14

Mọi công dân đều có quyền tự do cư trú, đi lại, xuất ngoại và hồi hương, ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do y tế, an ninh và quốc phòng.

ÐIỀU 15

1. Mọi công dân đều có quyền, có bổn phận làm việc và được hưởng thù lao tương xứng để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.

2. Quốc Gia nỗ lực tạo công việc làm cho mọi công dân.

ÐIỀU 16

Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được tôn trọng trong phạm vi và thể thức luật định.

ÐIỀU 17

1. Quốc Gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc Gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, săn sóc sản phụ và thai nhi.

2. Hôn nhân được đặt căn bản trên sự ưng thuận, sự bình đẳng và sự hợp tác giữa vợ chồng.

3. Quốc Gia tán trợ sự thuần nhất gia đình.

ÐIỀU 18

1. Quốc Gia nỗ lực thiết lập chế độ an ninh xã hội.

2. Quốc Gia có nhiệm vụ thiết lập chế độ cứu trợ xã hội và y tế công cộng.

3. Quốc Gia có nhiệm vụ nâng đỡ đời sống tinh thần và vật chất của các chiến sĩ quốc gia, bảo trợ và dưỡng dục các quốc gia nghĩa tử.

ÐIỀU 19

1. Quốc Gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu.

2. Quốc Gia chủ trương hữu sản hóa nhân dân.

3. Sở hữu chủ các tài sản bị truất hữu hoặc trưng dụng vì lý do công ích phải được bồi thường nhanh chóng và thoả đáng theo thời giá.

ÐIỀU 20

1. Quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh được công nhận nhưng không được hành xử để nắm giữ độc quyền, độc chiếm hay thao túng thị trường.

2. Quốc Gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác kinh tế có tánh cách tương trợ.

3. Quốc Gia đặc biệt nâng đỡ những thành phần xã hội yếu kém về kinh tế.

ÐIỀU 21

Quốc Gia chủ trương nâng cao đời sống nông dân và đặc biệt giúp đỡ nông dân có ruộng đất canh tác.

ÐIỀU 22

Trên nguyên tắc quân bình giữa nghĩa vụ và quyền lợi, công nhân có quyền cử đại biểu tham gia quản trị xí nghiệp, đặc biệt về những vấn đề liên quan đến lương bổng và điều kiện làm việc trong phạm vi và thể thức luật định.

ÐIỀU 23

1. Quân Nhân đắc cử vào các chức vụ dân cử, hay tham chánh tại cấp bậc trung ương phải được giải ngũ hay nghỉ giả hạn không lương, tuỳ theo sự lựa chọn của đương sự.

2. Quân Nhân tại ngũ không được sinh hoạt đảng phái.

ÐIỀU 24

1. Quốc Gia công nhận sự hiện hữu của các sắc tộc thiểu số trong cộng đồng Việt Nam.

2. Quốc Gia tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào thiểu số. Các tòa án phong tục phải được thiết lập để xét xử một số các vụ án phong tục giữa các đồng bào thiểu số.

3. Một đạo luật sẽ qui định những quyền lợi đặc biệt để nâng đỡ đồng bào thiểu số.

ÐIỀU 25

Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Tổ Quốc và chánh thể Cộng Hòa.

ÐIỀU 26

Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Hiến Pháp và tôn trọng luật pháp.

ÐIỀU 27

Mọi công dân đều có nghĩa vụ thi hành quân dịch theo luật định.

ÐIỀU 28

Mọi công dân đều có nghĩa vụ đóng thuế theo luật định.

ÐIỀU 29

Mọi sự hạn chế các quyền công dân căn bản phải được qui định bởi một đạo luật có ấn định rõ phạm vi áp dụng trong thời gian và không gian. Tuy nhiên trong mọi trường hợp, tánh cách thiết yếu của các quyền công dân căn bản vẫn không được vi phạm.
    CHƯƠNG III: LẬP PHÁP
ÐIỀU 30

Quyền Lập Pháp được quốc dân ủy nhiệm cho Quốc Hội.

Quốc Hội gồm hai viện:

- Hạ Nghị Viện.
- Thượng Nghị Viện.

ÐIỀU 31

Hạ Nghị Viện gồm từ một trăm (100) đến hai trăm (200) Dân Biểu.

1. Dân Biểu được bầu theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín theo thể thức đơn danh, trong từng đơn vị lớn nhất là tỉnh.

2. Nhiệm kỳ Dân Biểu là bốn (4) năm. Dân Biểu có thể được tái cử.

3. Cuộc bầu cử tân Hạ Nghị Viện sẽ được kết thúc chậm nhất là một (1) tháng trước khi pháp nhiệm cũ chấm dứt.

ÐIỀU 32

Ðược quyền ứng cử Dân Biểu những công dân:

1. Có Việt tịch từ khi mới sanh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất bảy (7) năm, hoặc đã thủ đắc hoặc hồi phục Việt tịch ít nhất năm (5) năm tính đến ngày bầu cử.

2. Ðủ hai mươi lăm (25) tuổi tính đến ngày bầu cử.

3. Ðược hưởng các quyền công dân.

4. Ở trong tình trạng hợp lệ quân dịch.

5. Hội đủ những điều kiện khác dự liệu trong đạo luật bầu cử Dân Biểu.

ÐIỀU 33

Thượng Nghị Viện gồm từ ba mươi (30) đến sáu mươi (60) Nghị Sĩ.

1. Nghị Sĩ được cử tri đoàn toàn quốc bầu lên trong một cuộc phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín theo thể thức Liên Danh đa số. Mỗi Liên Danh gồm từ một phần sáu (1/6) đến một phần ba (1/3) tổng số Nghị Sĩ.

2. Nhiệm kỳ Nghị Sĩ là sáu (6) năm, mỗi ba (3) năm bầu lại phân nửa (1/2). Nghị Sĩ có thể được tái cử.

3. Các Nghị Sĩ trong pháp nhiệm đầu tiên sẽ được chia làm hai nhóm đều nhau, theo thể thức rút thăm. Nhóm thứ nhất có nhiệm kỳ sáu (6) năm, nhóm thứ hai có nhiệm kỳ ba (3) năm.

4. Cuộc bầu cử các tân Nghị Sĩ phải được tổ chức chậm nhất là một (1) tháng trước khi phân nửa (1/2) tổng số Nghị Sĩ chấm dứt pháp nhiệm.

ÐIỀU 34

Ðược quyền ứng cử Nghị Sĩ những công dân đủ ba mươi (30) tuổi tính đến ngày bầu cử, hội đủ các điều kiện dự liệu trong đạo luật bầu cử Nghị Sĩ và các điều kiện qui định ở Ðiều 32.

ÐIỀU 35

1. Trong trường hợp khống khuyết Dân Biểu vì bất cứ nguyên nhân nào, cuộc bầu cử thay thế sẽ được tổ chức trong hạn ba (3) tháng, nếu sự khống khuyết xảy ra trên hai (2) năm trước ngày chấm dứt pháp nhiệm.

2. Trong trường hợp khô&ng khuyết Nghị Sĩ vì bất cứ nguyên nhân nào, cuộc bầu cử thay thế sẽ được tổ chức chung với cuộc bầu cử phân nửa (1/2) tổng số Nghị Sĩ gần nhất.

ÐIỀU 36

Các thể thức và điều kiện ứng cử, bầu cử Dân Biểu và Nghị Sĩ, kể cả Dân Biểu đồng bào Thiểu số, sẽ do những đạo luật quy định.

ÐIỀU 37

1. Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân Biểu hay Nghị Sĩ vì những sự phát biểu và biểu quyết tại Quốc Hội.

2. Trong suốt thời gian pháp nhiệm, ngoại trừ trường hợp quả tang phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân Biểu hay Nghị Sĩ, nếu không có sự chấp thuận của ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ.

3. Trong trường hợp quả tang phạm pháp, sự truy tố hay bắt giam sẽ được đình chỉ nếu có sự yêu cầu của Viện sở quan.

4. Dân Biểu và Nghị Sĩ có quyền bảo mật về xuất xứ các tài liệu trình bày trước Quốc Hội.

5. Dân Biểu và Nghị Sĩ không thể kiêm nhiệm một chức vụ công cử hay dân cử nào khác.

6. Dân Biểu và Nghị Sĩ có thể phụ trách giảng huấn tại các trường đại học và cao đẳng kỹ thuật.

7. Dân Biểu, Nghị Sĩ và người hôn phối không thể tham dự những cuộc đấu thầu hay ký hợp đồng với các cơ quan công quyền.

ÐIỀU 38

1. Trong trường hợp can tội phản quốc hay các trọng tội khác, Dân Biểu hay Nghị Sĩ có thể bị Viện sở quan truất quyền.

2. Sự truất quyền phải được hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ đề nghị.

3. Quyết định truất quyền phải được ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ chấp thuận.

4. Ðương sự được quyền biện hộ trong mọi giai đoạn của thủ tục truất quyền.

ÐIỀU 39

Quốc Hội có thẩm quyền:

1. Biểu quyết các đạo luật.

2. Phê chuẩn các hiệp ước và hiệp định quốc tế.

3. Quyết định việc tuyên chiến và nghị hòa.

4. Quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh.

5. Kiểm soát chính phủ trong việc thi hành chánh sách Quốc Gia.

6. Trong phạm vi mỗi viện, quyết định hợp thức hóa sự đắc cử của các Dân Biểu hay Nghị Sĩ.

ÐIỀU 40

1. Mỗi viện với một phần ba (1/3) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ có quyền yêu cầu Thủ Tướng hay các nhân viên chính phủ ra trước Viện sở quan để trả lời các câu chất vấn về sự thi hành chánh sách quốc gia.

2. Chủ tịch Ủy Ban của mỗi viện có quyền yêu cầu các nhân viên chánh phủ tham dự các phiên họp của Uûy Ban để trình bày về các vấn đề liên quan đến Bộ sở quan.

ÐIỀU 41

Thượng Nghị Viện có quyền mở cuộc điều tra về sự thi hành chánh sách quốc gia và yêu cầu các cơ quan công quyền xuất trình các tài liệu cần thiết cho cuộc điều tra này.

ÐIỀU 42

1. Quốc Hội có quyền khuyến cáo thay thế từng phần hay toàn thể Chánh phủ với đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ.

2. Nếu Tổng Thống không có lý do đặc biệt để khước từ, sự khuyến cáo sẽ có hiệu lực.

3. Trong trường hợp Tổng Thống khước từ, Quốc Hội có quyền chung quyết sự khuyến cáo với đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ. Sự khuyến cáo sau này của Quốc Hội có hiệu lực kể từ ngày chung quyết.

ÐIỀU 43

1. Dân Biểu và Nghị Sĩ có quyền đề nghị các dự án luật.

2. Tổng Thống có quyền đề nghị các dự thảo luật.

3. Các dự án luật và dự thảo luật, gọi chung là dự luật phải được đệ nạp tại văn phòng Hạ Nghị Viện.

4. Trong mọi trường hợp Hạ Nghị Viện chấp thuận hoặc bác bỏ một dự luật. Viện này đều chuyển dự luật sang văn phòng Thượng Nghị Viện trong thời hạn ba (3) ngày tròn.

5. Nếu Thượng Nghị Viện đồng quan điểm với Hạ Nghị Viện, dự luật sẽ được chuyển sang Tổng Thống để ban hành hoặc sẽ bị bác bỏ.

6. Nếu Thượng Nghị Viện không đồng quan điểm với Hạ Nghị Viện, dự luật sẽ được gởi về văn phòng Hạ Nghị Viện trong thời hạn ba (3) ngày tròn, kèm theo quyết nghị có viện dẫn lý do.

7. Trong trường hợp sau này, Hạ Nghị Viện có quyền chung quyết dự luật với đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu.

8. Nếu Hạ Nghị Viện không hội đủ đa số hai phần ba (2/3) nói trên, quan điểm của Thượng Nghị Viện được coi là chung quyết.

9. Thời gian thảo luận và biểu quyết một dự luật tại Thượng Nghị Viện chỉ có thể bằng phân nửa (1/2) thời gian thảo luận và biểu quyết tại Hạ Nghị Viện. Thời gian thảo luận và chung quyết một dự luật tại Hạ Nghị Viện chỉ có thể gấp đôi thời gian thảo luận và biểu quyết tại Thượng Nghị Viện.

ÐIỀU 44

1. Các dự luật được Quốc Hội chung quyết sẽ được chuyển sang Tổng Thống trong thời hạn ba (3) ngày tròn.

2. Thời gian ban hành là mười lăm (15) ngày tròn kể từ ngày Tổng Thống tiếp nhận dự luật.

3. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc Hội thẩm định, thời hạn ban hành là bảy (7) ngày tròn.

4. Nếu Tổng Thống không ban hành trong các thời hạn kể trên, dự luật đã được Quốc Hội biểu quyết đương nhiên thành luật và sẽ được Chủ Tịch Thượng Nghị Viện ban hành.

ÐIỀU 45

1. Trong thời hạn ban hành, Tổng Thống có quyền gởi thông điệp có viện dẫn lý do yêu cầu Quốc Hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản của dự luật.

2. Trong trường hợp này, Quốc Hội sẽ họp khoáng đại lưỡng viện để chung quyết dự luật vớ đa số quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ. Nếu Quốc Hội chung quyết bác bỏ lời yêu cầu phúc nghị của Tổng Thống, dự luật đương nhiên thành luật và được chuyển sang Tổng Thống để ban hành.

ÐIỀU 46

1. Dự thảo ngân sách được đệ nạp tại văn phòng Hạ Nghị Viện trước ngày ba mươi tháng chín (30-09).

2. Dân Biểu và Nghị Sĩ có quyền đề nghị các khoản chi mới nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.

3. Hạ Nghị Viện phải biểu quyết dự thảo ngân sách trước ngày ba mươi tháng mười một (30-11) và chuyển bản văn đã được chấp thuận đến văn phòng Thượng Nghị Viện chậm nhất là ngày một tháng mười hai (1-12).

4. Thượng Nghị Viện phải biểu quyết dự thảo ngân sách trước ngày ba mươi mốt tháng mười hai (31-12).

5. Trong thời hạn nói trên, nếu Thượng Nghị Viện yêu cầu Hạ Nghị Viện phúc nghị một hay nhiều điều khoản trong dự thảo ngân sách, thủ tục qui định tại điều 43 phải được áp dụng. Trường hợp này Tổng Thống có quyền ký sắc luật cho thi hành từng phần ngân sách tương đương với một phần mười hai (1/12) ngân sách thuộc tài khoá trước cho đến khi Hạ Nghị Viện chung quyết xong dự thảo ngân sách.

ÐIỀU 47

1. Mỗi Viện họp những khóa thường lệ và những khóa bất thường.

2. Hằng năm mỗi viện họp hai khóa thường lệ. Một khóa họp bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Tư dương lịch, một khóa họp bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không thể lâu quá chín mươi (90) ngày. Tuy nhiên Hạ Nghị Viện có thể triển hạn khóa họp để chung quyết dự thảo ngân sách.

3. Mỗi viện có thể triệu tập các khóa họp bất thường khi có sự yêu cầu của Tổng Thống hoặc một phần ba (1/3) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ. Nế khóa họp bất thường do Tổng Thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp do Tổng Thống ấn định.

ÐIỀU48

1. Quốc Hội họp công khai trừ khi quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ hiện diện yêu cầu họp kín.

2. Trong các phiên họp công khai, biên bản tường thuật toàn vẹn cuộc thảo luận và các tài liệu trình bày tại Quốc Hội sẽ được đăng trên Công Báo.

ÐIỀU 49

1. Mỗi viện bầu Chủ Tịch và các nhân viên văn phòng.

2. Mỗi viện thành lập các Uûy Ban thường trực và các Ủy Ban đặc biệt.

3. Mỗi viện trọn quyền ấn định nội quy.

4. Văn phòng hai (2) viện ấn định thủ tục liên lạc và sinh hoạt giữa hai (2) viện.

ÐIỀU 50

1. Chủ Tịch Thượng Nghị Viện triệu tập và chủ tọa các phiên họp khoáng đại lưỡng viện.

2. Trường hợp Chủ Tịch Thượng Nghị Viện bị ngăn trở, Chủ Tịch Hạ Nghị Viện sẽ thay thế Chủ Tịch Thượng Nghị Viện trong nhiệm vụ này.
    CHƯƠNG IV: HÀNH PHÁP
ÐIỀU 51

Quyền Hành Pháp được Quốc Dân ủy nhiệm cho Tổng Thống

ÐIỀU 52

1. Tổng Thống và Phó Tổng Thống cùng đứng chung một liên danh, được cử tri toàn quốc bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín.

2. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống là bốn (4) năm. Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể được tái cử một lần.

3. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống chấm dứt đúng mười hai (12) giờ trưa
ngày cuối cùng tháng thứ bốn mươi tám (48) kể từ ngày nhậm chức và nhiệm kỳ của tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống bắt đầu từ lức ấy.

4. Cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống được tổ chức vào ngày chúa nhật bốn (4) tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng Thống tại chức chấm dứt.

ÐIỀU 53

Ðược quyền ứng cử Tổng Thống hoạc Phó Tổng Thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:

1. Có Việt tịch từ khi mới sanh ra và liên tục cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam ít nhất mười (10) năm tính đến ngày bầu cử.

Thời gian công cán và lưu vong chánh trị tại ngoại quốc được kể như thời gian cư ngụ tại nước nhà.

2. Ðủ ba mươi lăm (35) tuổi tính đến ngày bầu cử.

3. Ðược hưởng các quyền công dân.

4. Ở trong tình trạng hợp lệ quân dịch.

5. Hội đủ những điều kiện khác dự liệu trong đạo luật bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống.

ÐIỀU 54

1. Tối cao Pháp viện lập danh sách ứng cử viên, kiểm soát tánh cách hợp thức của cuộc bầu cử và tuyên bố kết quả.

2. Các ứng cử viên được hưởng đồng đều phương tiện trong cuộc vận động tuyển cử.

3. Một đạo luật sẽ qui định thể thức ứng cử và bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống.

ÐIỀU 55

Khi nhậm chức, Tổng Thống tuyên thệ trước quốc dân với sự chứng kiến của Tối cao Pháp viện và Quốc Hội: “Tôi long trọng tuyên thệ trước quốc dân sẽ bảo vệ Tổ Quốc, tôn trọng Hiến Pháp, phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc và tận lực làm tròn nhiệm vụ Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa”.

ÐIỀU 56

1. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể chấm dứt trước hạn kỳ trong những trường hợp:

a. Mệnh chung.

b. Từ chức.

c. Bị truất quyền.

d. Bị bệnh tật trầm trọng và kéo dài không còn năng lực để làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc Hội xác nhận với đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.

2. Trong trường hợp nhiệm vụ của Tổng Thống chấm dứt trên một (1) năm trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ tạm thời đảm nhiệm chức vụ.

Tổng Thống trong thời hạn ba (3) tháng để tổ chức cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống cho nhiệm kỳ mới.

3. Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng Thống chấm dứt dưới một (1) năm trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống đến hết nhiệm kỳ, ngoại trừ trường hợp Tổng Thống bị truất quyền.

4. Nếu vì một lý do gì Phó Tổng Thống không thể đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện sẽ đảm nhiệm chức vụ này trong thời hạn ba (3) tháng để tổ chức bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống.

ÐIỀU 57

Tổng Thống ban hành các đạo luật trong thời hạn qui định ở điều 44.

ÐIỀU 58

1. Tổng Thống bổ nhiệm Thủ Tướng; theo đề nghị của Thủ Tướng, Tổng Thống bổ nhiệm các nhân viên Chánh Phủ.

2. Tổng Thống có quyền cải tổ toàn bộ hay một phần Chánh Phủ, hoặc tự ý, hoặc sau khi có khuyến cáo của Quốc Hội.

ÐIỀU 59

1. Tổng Thống bổ nhiệm với sự chấp thuận của Thượng Nghị Viện:

a. Các trưởng nhiệm sở ngoại giao.

b. Viện Trưởng các viện Ðại Học.

2. Tổng Thống thay mặt Quốc Gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao.

3. Tổng Thống ký kết và sau khi được Quốc Hội phê chuẩn, ban hành các hiệp ước và hiệp định quốc tế.

ÐIỀU 60

Tổng Thống là Tổng Tư Lệnh tối cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

ÐIỀU 61

1. Tổng Tống ban các loại huy chương.

2. Tổng Thống có quyền ân xá và ân giảm hình phạt các phạm nhân.

ÐIỀU 62

1. Tổng Thống hoạch định chánh sách quốc gia.

2. Tổng Thống chủ tọa Hội Ðồng Tổng Trưởng.

ÐIỀU 63

1. Tổng Thống tiếp xúc với Quốc Hội bằng thông điệp. Vào mỗi khóa họp thường lệ và mỗi khi thấy cần, Tổng Thống thông báo cho Quốc Hội biết tình hình quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chánh Phủ.

2. Thủ Tướng và các nhân viên Chánh Phủ có thể tham dự các phiên họp của Quốc Hội hoặc của các Ủy Ban để trình bày và giải thích về các vấn đề liên quan đến chánh sách quốc gia và sự thi hành chánh sách quốc gia.

ÐIỀU 64

1. Trong các trường hợp đặc biệt, Tổng Thống có thể ký sắc luật tuyên bố tình trạng báo động, giới nghiêm hay khẩn trương trên một phần hay toàn lãnh thổ.

2. Quốc Hội phải được triệu tập chậm nhất mười hai (12) ngày kể từ ngày ban hành sắc luật để phê chuẩn, sửa đổi hoặc bải bỏ.

3. Trong trường hợp Quốc Hội bải bỏ hoặc sửa đổi sắc luật của Tổng Thống, các tình trạng đặc biệt đã được ban hành sẽ chấm dứt hoặc thay đổi hiệu lực.

ÐIỀU 65

Trong tình trạng chiến tranh không thể tổ chức bầu cử được, với sự chấp thuận của hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ, Tổng Thống có quyền lưu nhiệm một số các cơ quan dân cử và bổ nhiệm một số tỉnh trưởng.

ÐIỀU 66

1. Phó Tổng Thống là Chủ tịch hội đồng văn hóa giáo dục, hội đồng kinh tế xã hội và hội đồng các Sắc Tộc thiểu số.

2. Phó Tổng Thống không thể kiêm nhiệm một chức vụ nào trong Chánh phủ.

ÐIỀU 67

1. Thủ Tướng điều khiển Chánh Phủ và các cơ cấu hành chánh quốc gia.

2. Thủ Tướng chịu trách nhiệm về sự thi hành chánh sách quốc gia trước Tổng Thống.

ÐIỀU 68

1. Tổng Thống, Phó Tổng Thống và các nhân viên Chánh Phủ không thể kiêm nhiệm một chức vụ nào thuộc lãnh vực tư, dù có thù lao hay không.

2. Trong mọi trường hợp người hôn phối của các vị này không được tham dự các cuộc đấu thầu hoặc kết ước với các cơ quan công quyền.

ÐIỀU 69

1. Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia có nhiệm vụ:

- Nghiên cứ các vấn đề liên quan đến an ninh quốc phòng.

- Ðề nghị các biện pháp thích ứng để duy trì an ninh quốc gia.

- Ðề nghị tuyên bố tình trạng bắo động, giới nghiêm, khẩn trương hoặc chiến tranh.

- Ðề nghị tuyên chiến hay nghị hòa.

2. Tổng Thống là Chủ Tịch Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia.

ÐIỀU 70

1. Nguyên tắc địa phương phân quyền được công nhận cho các tập thể địa phương có tư cách pháp nhân như: xã, tỉnh, thị xã và thủ đô.

2. Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành nền hành chánh địa phương.

ÐIỀU 71

1. Các cơ quan quyết định và các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành các tập thể địa phương phân quyền sẽ do cử tri bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín.

2. Riêng ở cấp xã, xã trưởng có thể do hội đồng xã bầu lên trong số các hội viên hội đồng xã.

ÐIỀU 72

Các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành của các tập thể địa phương phân quyền là:

- Xã trưởng ở cấp xã.
- Tỉnh trưởng ở cấp tỉnh.
- Thị trưởng ở cấp thị xãÐô trưởng ở thủ đô.

ÐIỀU 74

Chánh Phủ bổ nhiệm bên cạnh các Ðô Trưởng, Thị Trưởng, Xã Trưởng hai (2) viên chức có nhiệm vụ phụ tá về hành chánh và an ninh cùng các nhân viên hành chánh khác.

ÐIỀU 75

Nhân viên các cơ quan quyết nghị và các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành của các tập thể địa phương phân quyền có thể bị Tổng Thống giải nhiệm trong trường hợp vi phạm Hiến Pháp, luật pháp quốc gia hay chánh sách quốc gia.
    CHƯƠNG V: TƯ PHÁP
ÐIỀU 76

1. Quyền Tư Pháp độc lập, được ủy nhiệm cho Tối Cao Pháp Viện và được hành xử bởi các Thẩm Phán xử án.

2. Một đạo kuật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành ngành Tư Pháp.

ÐIỀU 77

Mọi Tòa Án phải do một đạo luật thiết lập với một thành phần Thẩm Phán xử án và Thẩm Phán công tố chuyên nghiệp và theo một thủ tục tôn trọng quyền biện hộ.

ÐIỀU 78

1. Thẩm Phán xử án và Thẩm Phán công tố được phân nhiệm rõ rệt và có qui chế riêng biệt.

2. Thẩm Phán xử án quyết định theo lương tâm và pháp luật dưới sự kiểm soát của Tối Cao Pháp Viện.

3. Thẩm Phán công tố theo dõi sự áp dụng luật pháp để bảo vệ trật tự công cộng dưới sự kiểm soát của Bộ Tư Pháp.

ÐIỀU 79

Thẩm Phán xử án chỉ có thể bị giải nhiệm trong trường hợp bị kết án, vi phạm kỷ luật hay bất lực về tinh thần hoặc thể chất.

ÐIỀU 80

1. Tối Cao Pháp Viện gồm từ chín (9) đến mười lăm (15) Thẩm Phán. Tối Cao Pháp Viện do Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm theo một danh sách ba mươi (30) người do Thẩm Phán Ðoàn, Công Tố Ðoàn và Luật Sư Ðoàn bầu lên.

2. Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện phải là những Thẩm Phán hay Luật Sư đã hành nghề ít nhất mười (10) năm trong ngành Tư Pháp.

3. Nhiệm kỳ của Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện là sáu (6) năm.

4. Thành phần cử tri thuộc Thẩm Phán Ðoàn, Công Tố Ðoàn và Luật Sư Ðoàn phải đồng đều.

5. Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Tối Cao Pháp Viện.

ÐIỀU 81

1. Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền giải thích Hiến Pháp, phán quyết về tánh cách hợp hiến hay bất hợp hiến của các đạo luật, sắc luật; tánh cách hợp hiến và hợp pháp của các sắc lệnh, nghị định và quyết định hành chánh.

2. Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền phán quyết về việc giải tán một chánh đảng có chủ trương và hành động chống lại chánh thể Cộng Hòa.

3. Trong trường hợp này, Tối Cao Pháp Viện sẽ họp khoáng đại toàn viện, các đại diện Lập Pháp hoặc Hành Pháp có thể tham dự để trình bày quan điểm.

4. Những quyết định của Tối Cao Pháp Viện tuyên bố một đạo luật bất hợp hiến hoặc giải tán một chánh đảng phải hội đủ đa số ba phần tư (3/4) tổng số Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện.

ÐIỀU 82

Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền phán quyết về các vụ thượng tố các bản án chung thẩm.

ÐIỀU 83

Tối Cao Pháp Viện có ngân sách tự trị và có quyền lập qui để quản trị ngành Tư Pháp.

ÐIỀU 84

1. Hội Ðồng Thẩm Phán có nhiệm vụ:

- Ðề nghị bổ nhiệm, thăng thưởng, thuyên chuyển và chế tài về kỷ luật các Thẩm Phán xử án.

- Cố vấn Tối Cao Pháp Viện về các vấn đề liên quan đến ngành Tư Pháp.

3. Hội Ðồng Thẩm Phán gồm các Thẩm Phán xử án do các Thẩm Phán xử án bầu lên.

4. Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Ðồng Thẩm Phán.
    CHƯƠNG VI: CÁC ÐỊNH CHẾ ÐẶC BIỆT
Ðặc Biệt Pháp Viện

ÐIỀU 85

Ðặc Biệt Pháp Viện có thẩm quyền truất quyền Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, các Tổng Bộ Trưởng, các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện và các Giám Sát Viện trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội khác.

ÐIỀU 86

1. Ðặc Biệt Pháp Viện do Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện giữ chức Chánh Thẩm và gồm năm (5) Dân Biểu và năm (5) Nghị Sĩ.

2. Khi Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện là bị can, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện giữ chức Chánh Thẩm.

ÐIỀU 87

1. Ðề nghị khởi tố có viện dẫn lý do phải được quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ ký tên. Quyết định khởi tố phải được đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ biểu quyết chấp thuận.

Riêng đối với Tổng Thống và Phó Tổng Thống đề nghị khởi tố có viện dẫn lý do phải được hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ ký tên.

Quyết định khởi tố phải được đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ biểu quyết chấp thuận.

2. Ðương sự phải đình chỉ nhiệm vụ từ khi Quốc Hội biểu quyết truy tố đến khi Ðặc Biệt Pháp Viện phán quyết.

3. Ðặc Biệt Pháp Viện phán quyết truất quyền theo đa số ba phần tư (3/4) tổng số nhân viên. Riêng đối với Tổng Thống và Phó Tổng Thống phán quyết truất quyền theo đa số bốn phần năm (4/5) tổng số nhân viên.

4. Ðương sự được quyền biện hộ trong mọi giai đoạn của thủ tục truy tố.

5. Sau khi bị truất quyền, đương sự có thể bị truy tố trước các tòa án có thẩm quyền.

6. Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức, điều hành và thủ tục trước Ðặc Biệt Pháp Viện Giám Sát Viện.

ÐIỀU 88

Giám Sát Viện có thẩm quyền:

1. Thanh tra, kiểm soát và điều tra nhân viên các cơ quan công quyền và tư nhân đồng phạm hay tòng phạm về mọi hành vi tham nhũng, đầu cơ, hối mại quyền thế hoặc phương hại đến quyền lợi quốc gia.

2. Thẩm tra kế toán đối với các cơ quan công quyền và hợp doanh.

3. Kiểm kê tài sản các nhân viên các cơ quan công quyền kể cả Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, Dân Biểu, Nghị Sỉ, Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện.

4. Riêng đối với Chủ Tịch Giám Sát.

5. Viện và các Giám Sát Viên, việc kiểm kê tài sản do Tối Cao Pháp Viện đảm trách.

ÐIỀU 89

1. Giám Sát Viện có quyền đề nghị các biện pháp chế tài về kỷ luật đối với nhân viên phạm lỗi hoặc yêu cầu truy tố đương sự ra trước tòa án có thẩm quyền.

2. Giám Sát Viện có quyền công bố kết quả cuộc điều tra.

ÐIỀU 90

1. Giám Sát Viện gồm từ chín (9) đến mười tám (18) Giám Sát viên, một phần ba (1/3) do Quốc Hội, một phần ba (1/3) do Tổng Thống và một phần ba (1/3) do Tối Cao Pháp Viện chỉ định.

2. Giám Sát viên được hưởng những quyền hạn và bảo đảm cần thiết để thi hành nhiệm vụ.

ÐIỀU 91

Giám Sát Viện có ngân sách tự trị và có quyền lập qui để tổ chức nội bộ và quản trị ngành giám sát.

Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Giám Sát Viện.

Hội Ðồng Quân Lực

ÐIỀU 92

1. Hội Ðồng Quân Lực cố vấn Tổng Thống về các vấn đề liên quan đến Quân Lực, đặc biệt là việc thăng thưởng, thuyên chuyển và trừng phạt quân nhân các cấp.

2. Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Ðồng Quân Lực.

Hội Ðồng Văn Hóa Giáo Dục

ÐIỀU 93

1. Hội Ðồng Văn Hóa Giáo Dục có nhiệm vụ cố vấn Chánh Phủ soạn thảo và thực thi chánh sách văn hóa giáo dục.

Một Lâm Viện Quốc Gia sẽ được thành lập.

2. Với sự chấp thuận của Quốc Hội, Hội Ðồng Văn Hóa Giáo Dục có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc Hội về các vấn đề liên hệ.

3. Các dự luật liên quan đến văn hóa giáo dục có thể được Hội Ðồng tham gia ý kiến trước khi Quốc Hội thảo luận.

ÐIỀU 94

1. Hội Ðồng Văn Hóa Giáo Dục gồm:

- Một phần ba (1/3) hội viên do Tổng Thống chỉ định.

- Hai phần ba (2/3) hội viên do các tổ chức văn hóa giáo dục công và tư, các hiệp hội phụ huynh học sinh đề cử.

2. Nhiệm kỳ của Hội Ðồng Văn Hóa Giáo Dục là bốn (4) năm.

3. Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Ðồng Văn Hóa Giáo Dục.

Hội Ðồng Kinh Tế Xã Hội

ÐIỀU 95

1. Hội Ðồng Kinh Tế Xã Hội có nhiệm vụ cố vấn chánh phủ về những vấn đề kinh tế và xã hội.

2. Với sự chấp thuận của Quốc Hội, Hội Ðồng Kinh Tế Xã Hội có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc Hội về các vấn đề liên hệ.

3. Các dự luật kinh tế và xã hội có thể được Hội Ðồng Kinh Tế Xã Hội tham gia ý kiến trước khi Quốc Hội thảo luận.

ÐIỀU 96

1. Hội Ðồng Kinh Tế Xã Hội gồm:

- Một phần ba (1/3) hội viên do Tổng Thống chỉ định.

- Hai phần ba (2/3) hội viên do các tổ chức công kỹ nghệ, thương mại, nghiệp đoàn, các hiệp hội có tánh cách kinh tế và xã hội đề cử.

2. Nhiệm kỳ Hội Ðồng Kinh Tế Xã Hội là bốn (4) năm.

3. Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Ðồng Kinh Tế Xã Hội.

Hội Ðồng các Sắc Tộc

ÐIỀU 97

1. Hội Ðồng các Sắc Tộc có nhiệm vụ cố vấn chánh phủ về các vấn đề liên quan đến đồng bào thiểu số.

2. Với sự chấp thuận của Quốc Hội, Hội Ðồng các Sắc Tộc có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc Hội về các vấn đề liên hệ.

3. Các dự luật liên quan đến đồng bào thiểu số có thể được Hội Ðồng các Sắc Tộc tham gia ý kiến trước khi đưa ra Quốc Hội thảo luận.

ÐIỀU 98

1. Hội Ðồng các Sắc Tộc gồm có:

- Một phần ba (1/3) hội viên do Tổng Thống chỉ định.

- Hai phần ba (2/3) hội viên do các Sắc Tộc Thiểu Số đề cử.

2. Nhiệm kỳ Hội Ðồng các Sắc Tộc là bốn (4) năm.

3. Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Ðồng các Sắc Tộc.
    CHƯƠNG VII: CHÁNH ÐẢNG VÀ ÐỐI LẬP
ÐIỀU 99

1. Quốc Gia công nhận chánh đảng giữ vai trò thiết yếu trong chế độ dân chủ.

2. Chánh đảng được tự do thành lập và hoạt động theo các thể thức và điều kiện luật định.

ÐIỀU 100

Quốc Gia khuyến khích việc tiến tới chế độ lưỡng đảng.

ÐIỀU 101

Quốc Gia công nhận sự định chế hóa đối lập chính trị.

ÐIỀU 102

Một đạo luật sẽ ấn định quy chế chánh đảng và đối lập chính trị.
    CHƯƠNG VIII: TU CHÍNH HIẾN PHÁP
ÐIỀU 103

1. Tổng Thống, quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu hay quá bán (1/2) tổng số Nghị Sĩ có quyền đề nghị tu chính Hiến Pháp.

2. Ðề nghị phải viện dẫn lý do và được đệ nạp tại văn phòng Thượng Nghị Viện.

ÐIỀU 104

Một Ủy Ban lưỡng Viện sẽ được thành lập để nghiên cứu về đề nghị tu chính Hiến Pháp và thuyết trình trong những phiên họp khoáng đại lưỡng Viện.

ÐIỀU 105

Quyết định tu chính Hiến Pháp phải hội đủ hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ.

ÐIỀU 106

Tổng Thống ban hành đạo luật tu chính Hiến Pháp theo thủ tục quy định ở Ðiều 44.

ÐIỀU 107

Không thể huỷ bỏ hoặc tu chính điều một (1) và điều này của Hiến Pháp.
    CHƯƠNG IX: ÐIỀU KHOẢN CHUYỂN TIẾP
ÐIỀU 108

Hiến Pháp bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày ban hành và Ước Pháp tạm thời ngày mười chín tháng sáu năm một ngàn chín trăm sáu mươi lăm (19.06.1965) đương nhiên hết hiệu lực.

ÐIỀU 109

Trong thời gian chuyển tiếp, Quốc Hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một ngàn chín trăm sáu mươi sáu (11.09.1966) đại diện Quốc Dân trong phạm vi lập pháp.

1. Soạn thảo và chung quyết:

- Các đạo luật bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống, Thượng Nghị Viện và Hạ Nghị Viện.

- Cá đạo luật tổ chức Tối Cao Pháp Viện và Giám Sát Viện.

- Các quy chế chánh đảng và báo chí.

2. Phê chuẩn các Hiệp Ước.

ÐIỀU 110

Kể từ khi Tổng Thống và Phó Tổng Thống nhiệm kỳ một (1) nhậm chức, Quốc Hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một ngàn chín trăm sáu mươi sáu (11.09.1966) đảm nhiệm quyền Lập Pháp cho đến khi Quốc Hội pháp nhiệm một (1) được triệu tập.

ÐIỀU 111

Trong thời gian chuyển tiếp, Uûy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia và Uûy Ban Hành Pháp Trung Ương lưu nhiệm cho đến khi Tổng Thống và Phó Tổng Thống nhiệm kỳ một (1) nhậm chức.

ÐIỀU 112

Trong thời gian chuyển tiếp, các Tòa Aùn hiện hành vẫn tiếp tục hành xử quyền Tư Pháp cho đến khi các định chế Tư Pháp qui định trong Hiến Pháp này được thành lập.

ÐIỀU 113

Quốc Hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một chín trăm sáu mươi sáu (11.09.1966) sẽ lập danh sách ứng cử viên, kiểm soát tánh cách hợp thức và tuyên bố kết quả cuộc bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống nhiệm kỳ một (1).

ÐIỀU 114

Trong nhiệm kỳ đầu tiên, Tổng Thống có thể bổ nhiệm các Tỉnh Trưởng.

ÐIỀU 115

Cuộc bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống phải được tổ chức chậm nhất sáu (6) tháng kể từ ngày ban hành Hiến Pháp này.

ÐIỀU 116

Cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Pháp, việc tổ chức Tối Cao Pháp Viện và Giám Sát.
    Chủ Tịch Ủy Ban Thảo Hiến
    ÐINH THÀNH CHÂU
Viện phải được thực hiện chậm nhất là mười hai (12) tháng kể từ ngày Tổng Thống nhiệm kỳ một (1) nhậm chức.

ÐIỀU 117

Các cơ cấu khác do Hiến Pháp qui định phải được thiết lập chậm nhất là hai (2) năm kể từ ngày Quốc Hội pháp nìệm một (1) được thành lập.

Bản Văn Hiến Pháp này đã được Quốc Hội chung quyết trong phiên họp ngày 18 tháng ba năm 1967.
    Sài gòn, ngày 18 tháng 3 năm 1967
    Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến
    PHAN KHẮC SỬU



Thursday, April 30, 2009

Tinh Thần Học Hỏi - Phạm Văn Bản

Phạm Văn Bản
    Nuôi tâm sinh thiên tài
    Nuôi trí sinh nhân tài
    Nuôi thân sinh nô tài
Người thanh niên cách mạng Lý Ðông A (1920-46) từng nhắn gởi thanh niên Việt Nam chúng ta về tinh thần học hỏi, rèn luyện bản thân để thành người hữu dụng, ích nước lợi dân. Tinh thần học hỏi đó là những đức tính cần thiết cho mỗi người thanh niên hôm nay, trang bị cho mình trên hành trình đấu tranh cho nhân quyền và tự do dân chủ của Việt Nam.

Khi tự nguyện dấn thân và phục vụ cho lý tưởng, người thanh niên phải trực diện với bao trở ngại khó khăn, với bao nỗi gian nan nguy hiểm vì rằng, “lửa thử vàng gian nan thử sức!”

Với sức sống, sức mạnh của người thanh niên thì niềm tin và lòng trung thành yêu thương dân nước là một điều chưa đủ, chưa giúp ích nước lợi dân, chưa giúp chúng ta vượt qua bao trở lực đang chờ đón. Chúng ta cần phải có một trình độ nhận thức, một khả năng hữu hiệu sao cho tương xứng, một hoạt động thích hợp với vai trò của mình, với công tác mà mình được giao phó và nhận trách nhiệm để mình hoàn thành.

Vậy muốn đáp ứng hay thỏa mãn những điều kiện về trình độ và khả năng của người thanh niên nói trên, ngoài vấn đề học hỏi ra thì không còn gì khác hơn để bàn luận.

Người thanh niên muốn làm bất cứ việc gì, muốn việc đó đạt kết qủa tốt đẹp ra sao… xin hãy bắt đầu bằng cách học hỏi. Mặt khác, bạn muốn trở thành một người cán bộ Tiên Rồng phục vụ tốt trong tổ chức cộng đồng, bạn lại càng không thể thoát khỏi qui luật huấn luyện và đào tạo hiển nhiên ấy.

Không một ai trong chúng ta, từ khi vừa lọt lòng mẹ chào đời mà đã biết hết mọi sự, biết tương lai ra sao, làm gì… Biết mình trở thành nhân tài, lãnh tụ… hay lại thành tên giặc nước hoặc kẻ sát nhân xấu xa?

Xét một vài trường hợp ngoại lệ, có thể một hài nhi do hoàn cảnh hay trường hợp được cấu tạo đặc biệt (thiên phú) và sinh ra có khối óc thông minh. Nhưng người ấy, nếu không được phát giác, không được rèn luyện, thì dù có bộ óc vạn năng người ấy cũng chỉ là kẻ bình thường suốt đời mà thôi, như Tổ Tiên từng dạy:

Ngọc kia chẳng dũa chẳng mài
Cũng thành vô dụng cũng hoài ngọc đi

Viên ngọc tự nó cũng chỉ là viên đá. Nếu không được tìm ra, mang về bỏ công gọt dũa trở thành một viên ngọc quí. Thì muôn đời vẫn chỉ là cục đá tầm thường, như bao cục đá trơ trẽn nằm bên lề đường, ngổn ngang bên sườn núi, hay vất vưởng trong lòng sông.

Như thế, người thanh niên dù có bộ óc siêu việt mà không học hỏi, không rèn luyện, không thu nhận kiến thức mới thì cũng như viên đá kia chẳng dũa chẳng mài, và chỉ là một kẻ vô dụng.

Có nhiều phương pháp học hỏi, ngoài hệ thống học đường, thì người thanh niên còn có nhiều môi trường khác để giúp chúng ta học hỏi:

1. Tự Học

Tự học hỏi, nói cách khác, tự rèn luyện bản thân về hai phương diện Trí Dục và Đức Dục.

a. Về Trí Dục: Mỗi cá nhân có một trình độ và hoàn cảnh khác nhau. Người có trình độ cao thì thu nhận hiểu biết nhanh hơn người với trình độ thấp. Người ở vị trí hoàn cảnh này cần học hỏi khác hơn người có vị trí hoàn cảnh khác.

Ví dụ: Một thanh niên mới bắt đầu cuộc sống sinh hoạt trong cộng đồng, chắc hẳn cần học hỏi nhiều hơn những thanh niên đã từng hoạt động cộng đồng lâu măm. Người phụ trách văn phòng cần chú tâm trau dồi kiến thức, phương pháp tổ chức, xắp xếp hồ sơ, soạn thảo và phổ biến công văn, thư tín… Trái lại, người có nhiệm vụ thường xuyên công tác bên ngoài, phải học hỏi phương pháp vận động đại chúng, kỹ thuật trình bày quan điểm, thuyết phục người đối thoại…

b. Về Đức Dục: Người thanh niên cần đặt vấn đề đạo đức vào hàng ưu tiên học hỏi, nghiên cứu đầu hạng của mình.

Biết bao cán bộ trung kiên và tài giỏi hoạt động trong tổ chức cộng đồng, nhưng chỉ vì thiếu kém đạo đức đã gây ra tác hại cho tổ chức mình, và mang lại hậu qủa thân bại danh liệt, làm ảnh hưởng xấu cho bao anh em thành viên khác.

Ðể trau dồi đạo đức, người thanh niên, nhất là thuộc hàng ngũ cán bộ cách mạng phải diệt trừ những căn bệnh nan giải, như sau:

b1. Bệnh Tự Cao Tự Đại

Có những người cán bộ trong đấu tranh và thực hành công tác tổ chức đã tạo nhiều thành tích khả quan, được anh em đề bạt lên giữ chức vụ điều hành. Nhưng rồi họ tưởng rằng đã vượt trên khả năng của mọi người mà họ thay đổi tác phong hành xử. Từ đó, sinh ra chứng phách lối kiêu căng, xem trời bằng vung, nhìn anh em mình bằng nửa con mắt. Họ đối xử với mọi người, kể cả những thành viên đã từng cộng tác lại được họ coi như hàng tay chân, thuộc hạ chớ chẳng còn tình nghĩa anh em như trước! Những việc cắt cử thành viên tới cách sắp xếp công tác nhất nhất họ đều làm theo ý mình, họ bất chấp những phản ứng hay phê bình xây dựng của tổ chức, của anh em. Nếu có ai góp ý, hay có lời khuyên nhủ thì họ lại nổi giận lôi đình, tìm cách ngụy biện hay chống trả bằng lời lẽ thô thiển, thiếu lịch sự, thiếu lễ độ… và chỉ bằng tính cách so đo hơn thua. Đó là “động ắt mòn!” Chiếc xe hoạt động quá mức cũng phải hao mòn! Huống nữa là hành xử theo lối “động tâm” mà thiếu “bình tâm” của con người gọi là động ắt mòn.

Có biết đâu, hễ núi cao thì còn có núi cao hơn, người có tài thì còn kẻ khác có tài cao hơn.

Có biết đâu, bệnh tự cao tự đại mang lại hậu qủa tạo cho người thanh niên ấy xa lìa đại chúng nhân dân, làm mất lòng anh em cùng chí hướng đang cộng tác với mình… cuối cùng họ làm tan vỡ tổ chức.

Phải biết rằng người thanh niên cán bộ, cho dù tài giỏi tới đâu, cho dù trình độ siêu việt, cho dù kiến thức vượt bậc vẫn không thể đơn phương làm được công cuộc cách mạng, nếu thiếu những người cộng tác, thiếu đại chúng nhân dân ủng hộ, tham gia.

Bệnh tự cao tự đại, còn làm cho người cán bộ coi thường kẻ thù. Họ chỉ nhìn thấy khuyết điểm của địch, rồi nảy sinh tự mãn, phế bỏ tinh thần học hỏi rèn luyện bản thân, dẫn mình vào bước đường thoái hóa và thất bại.

b2. Bệnh Tự Ti Mặc Cảm

Tự ti mặc cảm là con bệnh tự cho mình là thua kém người khác mà sinh ra do dự, nhút nhát, thụ động, không dám quyết định về bất cứ vấn đề gì. Ðang khi thi hành công tác, họ lại không có sáng kiến nên thành qủa thâu đạt cũng nhỏ nhoi, nhiều khi thất bại. Vì không tiên liệu, không lượng định được phương hướng để chiến thắng kẻ thù, họ chỉ thấy địch mạnh ta yếu, lực lượng địch đông đảo mà của ta thì ít ỏi nên đâm ra khiếp nhược, sợ giặc mà bỏ chạy.

Nên nhớ rằng tất cả mọi tổ chức đấu tranh đã phải khởi sự bằng nhóm người nhỏ bé, dần dà con số mới tăng theo thời gian và hoạt động để tạo ra thành tích, thành lực lượng hùng mạnh, có “dấu chỉ” để thành công. Kết qủa việc tổ chức thành công phải do nhiều yếu tố như lãnh đạo, tổ chức, đào tạo cán bộ, vận động đại chúng đóng góp, yểm trợ.

Nếu cho rằng ngày hôm nay chúng ta thực sự kém người, nhưng trong tương lai bằng nhờ vào tinh thần học hỏi rèn luyện bản thân liên tục thì chắc chắn chúng ta sẽ vượt hơn người.

Vậy phải dứt bỏ căn bệnh tự ti mặc cảm, người thanh niên mới có tinh thần cầu tiến, hoàn thành công tác được giao phó, đáp ứng nhu cầu đóng góp theo vai trò và khả năng của mình.

2. Học Hỏi Trong Các Lớp Huấn Luyện Và Những Buổi Hội Thảo

Các tổ chức thường có những lớp huấn luyện định kỳ cho cán bộ các cấp, các ngành nhằm mục đích đào tạo chuyên viên có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu công tác. Các tổ chức cũng có những phiên họp thường xuyên, hay bất thường để tổng kết tình hình công tác, phổ biến đường hướng chủ trương, và đề ra những công tác kế tiếp.

Ðây cũng là những dịp tốt cho người cán bộ học hỏi, nâng cao trình độ nhận thức của mình. Cũng là cơ hội để chúng ta gặp gỡ tìm ra những người bạn bè cùng chí hướng, hầu kiểm thảo, nhận định tình hình địch bạn, trao đổi rút tỉa những kinh nghiệm thành bại trong công tác.

Người thanh niên không nên và không thể thiếu vắng với những dịp học hỏi quí báu đang sẵn có trong cộng đồng, hoặc trên diễn đàn của nhiều tổ chức.

3. Học Hỏi Từ Đại Chúng

Trên đường công tác đấu tranh, người thanh niên phải luôn luôn hòa mình với đại chúng để lắng nghe dư luận của họ, thành khẩn đón nhận những ý kiến, những phê bình xây dựng. Nên nhớ rằng trong tập thể đại chúng có nhiều người tài giỏi, mà vì lý do này hay lý do khác họ chưa gia nhập vào hàng ngũ của tổ chức chúng ta. Phải tìm cách chúng ta đến với họ, nếu như chưa thuyết phục được họ gia nhập vào tổ chức, thì cũng học hỏi được nơi họ nhiều điều bổ ích cho công tác của tổ chức chúng ta.

Không một tổ chức nào, nhất là tổ chức cách mạng mà có thể thành công nếu không tranh thủ được đại chúng hưởng ứng tham gia, không thu phục được nhân tâm.

4. Học Hỏi Từ Tiền Nhân

Trong suốt chiều dài lịch sử, có biết bao bài học thành bại của tiền nhân để soi sáng cho chúng ta trên con đường đấu tranh phục quốc.

Một Ðinh Bộ Lĩnh cờ lau tập trận để dẹp tan 12 sứ quân thống nhất sơn hà. Một Lê Lợi trải qua bao năm nằm gai nếm mật mới đánh đuổi được giặc Minh. Một Trần Hưng Ðạo qua hội nghị Diên Hồng phá tan đại quân Nguyên Mông từng chiến thắng toàn cầu Âu Á. Một Trần Bình Trọng bất khuất hiên ngang “ta làm quỷ nước Nam hơn làm vua đất Bắc”…

Mặt khác lại có, một Lê Chiêu Thống hèn nhát “cõng rắn cắn gà nhà!” Một Khải Ðịnh cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp! Một Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản rước quan thày Trung Quốc vào bán đất bán biển, dẫn đưa dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ là những chứng tích lịch sử rõ ràng trước mắt, mà người thanh niên chúng ta thời nay không thể quên để học hỏi từ sách vở, từ những lời tường thuật của những bậc lão thành, các nhà học gỉa hay các chứng nhân lịch sử hiện tại.

Trước những sự kiện ngạo mạn của chủ tịch Hồ Chí Minh vịnh thơ nhạo báng tổ tiên tiền nhân và so tài với đức thánh Trần Hưng Đạo, thì người thanh niên Lý Đông A ngày đó đã đưa ra một nhận định, “Người mình thường xấc xược mỗi khi nhắc tới tổ tiên!” Và có lẽ câu nói này đã nghiệm ứng với những người Cộng Sản, bởi từ khởi thủy lập đảng họ đã không đặt ra “Tinh Thần Học Hỏi” như ý nghĩa trọng đại của bài viết này.

Vậy công cuộc Diệt Cộng Cứu Nước ngày nay rất cam go, khó khăn và nguy hiểm. Chúng ta phải thực tế nhìn nhận rằng Cộng Sản có lối ngụy biện tinh vi, lừa bịp được dân chúng trắng trợn, và từng lừa đảo được nhiều người, nhiều lần. Người Cộng Sản lại có những thủ đoạn sắt máu, dùng bạo lực làm khiếp đảm các đối thủ. Muốn chiến thắng giặc cộng, muốn giải cứu dân nước, người thanh niên Việt Nam chúng ta cần học hỏi, rèn luyện bản thân thường xuyên và liên tục, đạt tài năng trong Tinh Thần Học Hỏi.

Phạm Văn Bản