Saturday, April 18, 2009

Tu… Đã Thiệt ! - Nguyễn Khắc Anh Tâm

Nguyễn Khắc Anh Tâm
April 16, 2009


LGT: "Sư hổ mang" là hiện tượng có từ xưa. Ngày nay, VC lại đang dùng những loại sư này vừa để phá đạo Phật, vừa để khai thác sư mê tín của quần chúng cho muc tiêu chính trị, củng cố chế độ. Đây là những hình ảnh và ý kiến được thấy trên các mạng điên tử cần để ý xem xét và suy nghĩ.


Hai mình một cõi hành thiền

Không biết cái chuyện tu hành ở các nước bạn thì sao chứ cái chuyện tu hành ở nước tôi thời nay - nếu nhìn từ góc độ quốc doanh, những người tu hành dưới bóng mát của Đảng - thì dễ dàng lắm. Dễ dàng đến độ chính người đang tu, muốn tu, hay chưa bao giờ dám nghĩ đến chuyện đi tu cũng phải ngạc nhiên, sửng sờ đến độ … điếng người. Tu đã dễ mà còn được chế độ ưu đãi. Từ năm 1981 – cái năm mà Đảng đã thành lập và nuôi nấng ra cái nhánh quốc doanh vô tiền khoáng hậu này – thì ai ai cũng đều thấy rõ, tu hành dưới bóng mát của Đảng chẳng những đã được dễ dàng mà có lắm khi còn được… cơm no, bò cưỡi. Để tạo thêm điều kiện cho những đảng viên đi tu, Đảng đã giúp họ diệt bỏ những vấn đề rườm rà, linh tinh có tính chất thuần tuý của mọi tôn giáo. Hậu quả là kinh kệ thì cũng có lúc, luật lệ thì cũng có nơi, luận giải thì cũng chừng mực, đến cả chuyện giác ngộ thì cũng phải được tính toán thiệt hơn, rủi lơ mơ, yếu cơ, té sâu xuống biển trầm kha thì Đảng sẽ nhanh tay cứu vớt, đem lên để mà … hưởng thụ tiếp, í quên, tu tiếp.


Dzô! dzô! thiền môn vui nhộn

Đảng vốn có tánh thực tiễn, cái gì rườm rà, lôi thôi, rắc rối thì bỏ, cái gì giản tiện mà hiệu quả thì xài, nếu cần đốt giai đoạn thì cứ đốt, đốt không nổi thì cứ cho Đảng biết để Đảng đốt dùm. Từ xưa Đảng đã có kinh nghiệm đốt sạch những cái mà Đảng cần thấy đốt, tiện tay Đảng đốt mẹ nó luôn những cái mà Đảng không cần phải đốt. Cho chắc.

Đảng đã từng có kinh nghiệm đốt trụi luôn những trang sử oai hùng của Lê Lý Nguyễn Trần để ngày nay dần biến quê hương thành một phố Tàu lớn nhất thế giới. Đảng mà đã ra tay đốt thì bảo đảm sông núi còn ra mây khói chứ nói chi là mấy cái lẩm cẩm của cái gọi là Phật giáo truyền thống.

Bởi vậy, những người đang tu theo khuôn khổ của Đảng quyết chí đời này họ sẽ tu hành vững vàng, tiến nhanh, tiến mạnh để còn kịp đến bến bờ ... khoái lạc, những người trước chưa bao giờ muốn tu, chẳng dám nghĩ đến chuyện đi tu có lắm kẻ … ngã lòng mà vội đâm đơn nhờ Đảng cứu xét, ra tay cứu độ, hy vọng bến bờ khoái lạc còn có chỗ để họ đáp bãi.


Hết ý !

Nghĩ mà thông cảm cho họ, suốt đời làm Đảng viên - nhất là Đảng viên thuộc loại tép riêu, loại gà mờ - thì chấm mút chẳng là bao. Đảng cướp nước đã hơn 30 năm rồi mà các Đảng viên này còn bị bắt thuộc nằm lòng thơ hôi của Bác, bị bắt phân tách tại sao Đảng ra mặt lưu manh cướp nước, rồi dần dà bán nước. Lý thuyết suông trong một giai đoạn mà ai ai cũng duy vật tới 5, 6 căn nhà, 3, 4 chiếc xe hơi cáu cạnh với mức độ… nóng mặt như vậy thì không nóng mặt không phải là người của Đảng.



Nối gót đàn anh chẳng mấy hồi.

Bởi vậy, cái chuyện ước mơ được Đảng ra tay nâng đỡ, cho đi tu theo cái nhánh của Đảng, để mà hưởng thụ, nghĩ cho cùng, thì yêu sách đó cũng không có gì là quá đáng. Ít nhất nếu được hiểu theo lối Duy Vật Biện Chứng tuỳ tiện của Đảng, hay nói trắng ra là Thú Vật Biện Chứng rừng rú của Đảng.

Đó là nói về Đảng viên của Đảng.

Số đâm đơn còn lại là dân đầu đường, xó chợ, loại đâm cha chém chú, cũng chẳng khác biệt với số Đảng viên được kể trên là bao. Bất cứ thời nào cái khó bao giờ cũng bó cái khôn; cái khó không chừng còn còn bó luôn những mớ tự trọng, liêm sỉ vốn chẳng bao giờ được coi là những món hàng quan trọng của những kẻ lưu manh ngang hàng với Đảng.


Xuống đây thầy tiếp sức.

Kệ thây nó, những thứ này Đảng đã cho là sản phẩm của duy tâm, cái mà Đảng thường bị dị ứng khi phải nghĩ tới, thì ai lại thắc mắc làm gì cho mệt óc. Bởi vậy, theo Đảng, nghe lời dạy dỗ bao giờ cũng khôn ngoan bỏ mẹ của Đảng ngu gì không theo. Chưa kể, không theo cái khôn ngoan bỏ mẹ của Đảng, lạng quạng còn bỏ luôn cả … mạng.

Nhờ sáng kiến độc đáo của Đảng, và âm mưu bao giờ cũng thâm độc của Đảng, Đảng ngày nay chẳng cần 10 năm trồng cây, 100 năm trồng người, Đảng ngày này chỉ lấy tiền và tình ra mà dụ, nhất là tình dục, thì chỉ độ 5 năm khi cây chưa kịp lớn, nhánh Phật giáo quốc doanh của Đảng đã có bề thế. Từ Nam chí Bắc Đảng viên của Đảng ai cũng dành đi tu, chùa chiền dựng lên còn không kịp. Từ Nam chí Bắc du đãng du thực dành đi tu, chuông mõ đặt mua còn không kịp. Chùa chiền ở đâu thì mấy em vườn … chè nấu chè tại đó, kinh doanh tiểu thương và vô hậu đại loại kiểu này cũng nhờ vậy mà trở nên phát đạt. Cái chuyện tu hành ở nước tôi, vì vậy, mà trở nên náo nhiệt, dẫu có phần hơi … quá trớn.


Mắt các thầy sáng hơn ánh sao.

Nếu tính từ ngày Phật giáo du nhập vào nước tôi cho đến nay thì đây là lần đầu tiên làm tăng sĩ Phật giáo - dẫu có hơi hướng sặc mùi vô thần của Đảng - ở phương diện thức thời đã có tầm ảnh hưởng quan trọng trong đời sống kiếm củi chạy cơm của mọi người. Đi tu ngày nay, hơn bao giờ hết, y như nhà văn Tưởng Năng Tiến có thời đã nhận thấy: “Âu đó cũng là cách kiếm ăn”.

Nguyễn Khắc Anh Tâm

Ngày tàn cuộc chiến - Tâm Nguyên

Tâm Nguyên

Ngày này, 34 năm về trước, cuộc chiến vừa tàn. Miền nam VN đang quay cuồng trong cơn bão lửa Kẻ thắng trân thì dương vây dũa móng để thị uy. Người baị trận thì cố nuốt xuống trăm ngàn nỗi đắng cay tủi nhục. Đây là một đoạn diễn tả những giây phút cuối cùng của Quân Y Viện Nguyễn Văn Nhứt, thị xã Vũng Tàu của Bs. N.guyễn Thanh Toại: “Khi bộ đội và cán bộ vào tiếp thu Bệnh viện từ cửa trước thì tôi và BS Khánh thay quần áo dân sư và rời Bệnh Viện bằng cửa sau. Có lẽ chúng tôi là những người cuối cùng rời Quân Y viện. Bước ra khỏi cổng, chúng tôi bùi ngùi quay laị, ngước nhìn tấm bảng đề tên: “Quân Y Viện Nguyễn Văn Nhứt”, tên người đàn anh đã anh dũng hy sinh trên mặt trận Phước Long năm nào. Bỗng dưng tôi nhớ lại bao nhiêu năm phục vụ taị Quân Y Viện Vũng Tàu, tôi và các bạn đồng nghiệp đã kề vai sát cánh, tận tuỵ săn sóc cho các chiến sĩ Quân Lực VN Cộng Hòa. Trong bỗng chốc, những giọt lệ không ngăn được từ từ rơi xuống má, xuống môi để cho tôi một hương vị mặn chát, giống như cuộc đời vô định sắp tới của tôi. Tôi ngoảnh nhìn lại Quân Y Viện lần cuối. Trên con đường hiu hắt, những thương bệnh binh cũng đang vội vã đi ra. Người khỏe dìu người yếu, người vững vàng cưu mang người tàn tật. Có người lính chân còn đang quấn băng thấm đầy máu vì mới bị cưa chân. Có người chân còn đang mang bột nặng nề. Mọi người cùng lê lết, vội vã rời Quân Y Viện. Tôi tự hỏi: Không biết họ đi về đâu và số phận họ sẽ ra sao?”

Số phận những người thương phế binh VN Cộng Hòa vẫn tiếp tục đau thương sau khi cuộc chiến chấm dứt. Việt Cộng đã cấp thời giải tỏa làng Thương phế Binh. Những chiến sĩ can trường của VNCH năm nào, vì lý tưởng tự do, đã để lai trên chiến trường một phần của thân thể, giờ đây lại là mục tiêu của đói rét và thù hận. Họ bị bắt buộc phải rời khỏi căn chung cư được cấp phát trong một thời gian ngắn nhất và bị kết tội là mang “nợ máu với nhân dân”. Có những người tật nguyền và bơ vơ, sợ hãi ra khỏi nhà với 2 bàn tay trắng. Họ tá túc dưới gầm cầu, kiếm sống bằng nghề hành khất, lê la ở các quán ăn bên đường, húp vôị những chén đồ ăn của khách ăn bỏ dở.

Đã đành là số phận của người bại trận là thiệt thòi. Nhưng những thương phế binh VN Cộng Hòa là những người thiệt thòi hơn ai hết. Họ đã dùng cả quãng đời thanh niên, làm bạn với bom đạn trong những khu rừng thiêng nước độc ở Hạ Lào, Khe Sanh, Đắc Tô, Lao Bảo… để cho những người ở hậu phương được yên ổn học hành, làm ăn. Ngày nay, trở thành tàn phế, nương thân dưới chế độ Cộng Sản, họ lại trở thành nạn nhân của thù hận và ruồng rẫy. Họ là những kẻ ăn nhờ ở đậu ngay trên quê hương mình.

Ở hải ngoại cũng có nhiều chương trình giúp đỡ thương phế binh, nhưng tấm lòng mở rộng mà bàn tay không đủ dài để với tới mọi nơi. Những thương phế binh nghèo nhất, khổ sở nhất thì lại không được giúp đỡ vì họ không có địa chỉ nhất định, nay đây mai đó, họ ẩn náu dưới gầm cầu. Họ mù hai mắt , không có phương tiện giao tiếp với bên ngoài. Một người bạn đi VN về, kể lai chuyên của một người hành khất, di chuyển bằng 2 tay vì 2 chân không còn nữa. Anh tâm sự, anh là một trong những người leo lên treo cờ trên cổ thành Quảng Trị. Năm đó, anh mới có 23 tuổi, tuổi đẹp nhất của cuộc đời. Anh bị mất 2 chân và mù 1 con mắt ở lần đụng trận kế tiếp, nơi chiến trường Bình Long. Và cuộc đời anh rạn nứt, bi thương từ phút đó.

Tôi tự hỏi, những vị tai to mặt lớn của chế độ Cộng Hòa năm xưa như Nguyễn cao Kỳ có phút nào trạnh nhớ tới những đàn em, đã từng vào sinh ra tử để bảo vệ từng tấc đất quê hương cho ông được vinh thân phì gia hay không? Ngày nay, khi ông khom lưng lau giầy cho Nguyễn Tấn Dũng hoặc Nguyễn Minh Triết, thì có khi nào ông thấy hổ thẹn vì đã phản bội lại những thương phế binh đã chiến đấu cùng chung chiến tuyến năm xưa?.

Ba mươi tư năm sau ngày tàn của cuộc chiến. “Hòa bình” đã được vãn hồi ! Hình ảnh tươi đẹp của “hòa bình” chỉ là những khẩu hiệu hoa mỹ dăng đầy ngã tư, dán kín vách tường, và chính nó lại nhắc nhở cho mọi người những cảnh đối nghịch với thực tế. Cơn bão lốc ở VN đã xoáy mạnh để thay đổi hòan cảnh, khung cảnh, và thân phận con người. Có những người, mới ngày nào còn đội nón tai bèo, đi dép râu thì hôm nay đã trở nên tư bản đỏ, xe ngựa xênh xang. Những khách sạn 5 sao sang trọng, câu lạc bộ cao cấp phục vụ từ A tới Z cho giai cấp có tiền. Xe Roll Royce Phantom trị giá cả triệu đô la, rượu VSOP chảy như suối mỗi đêm ở các chốn ăn chơi. Những sân golf xây dựng từ đất mua rẻ của dân nghèo để mua vui cho tầng lớp giàu có. Ai dám bảo rằng đảng Cộng Sản VN đấu tranh cho giai cấp vô sản?

Mặc dù đất nước VN có thay đổi như thế nào, thì cuộc đời của các thương phế binh chế độ Cộng Hòa cũng vẫn mãi mãi là tối tăm và u ám . Họ không có cách nào thay đổi được vì họ không còn năng lực, và cơ hội. Họ chỉ là những người sống bên lề xã hôị, và sẽ kéo dài cuộc đời khốn khổ cho tới giây phút cuối cùng.

Ngày 30 tháng 4, năm 1975, ngày hội tụ những tuyệt vọng và đau thương của 34 năm về trước! Thời gian qua mau như bóng câu qua cửa sổ. Hôm nay đây, những thế hệ lớn tuổi đã ra đi. Những thế hệ nhỏ tuổi thì ít ai còn quan tâm tới một giai đoạn lich sử tăm tối của VN. Chỉ còn lại một số chứng nhân của lịch sử. Họ luôn luôn tưởng nhớ tới “ngày tàn cuộc chiến” với trăm ngàn nỗi ray rứt trong tim. Và tình cảnh của những thương phế binh VN Cộng Hòa là một trong những nỗi ray rứt đớn đau nhất. Nhưng những người này đang là lý cớ cho một số những quyên góp tiền bạc ở hải ngoại mà không hiểu có tới tận tay nạn nhân, hay là chỉ đi vào túi những kẻ vô lương với lòng thương muộn mằn mới nổi, sau hơn một phần tư thế kỷ, nhân nghị quyết 36 bộ chính trị Cộng sản.

Tâm Nguyên


Ý Kiến Của Cựu Chiến Binh Charlie Lynn Về Triển Lãm Nambang - Mai Phương

LGT: Vụ triển lãm Nam bang bởi Casula Powerhouse Art Center ở Sydney về cuộc chiến Việt nam đã tạo nên những chỉ trích trong cộng đồng VN tại Sydney và đưa đến những cuộc biểu tình chống đối. Bài viết của Charlie Lynn, cho người đọc thấy cái nhìn của một người Úc, một cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam, về cuộc triển lãm này. Nhưng cái nhìn này không quan trọng.

Điều đáng chú ý là Lynn khi ghi lại những chú giải trên các bức tranh đã cho thấy sự bệnh hoạn của - những "nghệ nhân"- tác giả của những tấm tranh trưng bầy. Và qua đó sự thiên lệch không thể chối cãi của ban tuyển chọn tác phẩm trưng bầy.

---------------
    Ý Kiến Của Cựu Chiến Binh Charlie Lynn Về Triển Lãm Nambang Tại Trung Tâm Nghệ Thuật Casula Powerhouse

Bản dịch do Mai Phương
April 16, 2009

http://tamthucviet.com/articleview.aspx?artId=%C5%93B%1B^


Bộ Trưởng bộ Cựu Chiến Binh Alan Griffin khai mạc cuộc triển lãm tranh Nambang tại Casula Powerhouse Arts Centre với một thú nhận hạ thấp trình độ thưởng thức “nghệ thuật” của ông ta xuống, rằng ông ta bị chứng loạn sắc. Ông ta nói thêm ông thấy có một số những tranh ảnh trưng bầy mang tính “xúc phạm” nhưng đã bỏ qua không phê phán. “Nghệ thuật” là tùy theo cảm quan của người thưởng lãm. Tôi là một trong những người chia xẻ quan điểm này của ông Alan.

Một đám đông những người chống đối đứng vẫy cờ Việt Nam Cộng Hòa là một chỉ dấu sớm về sự nhận định chân thật nói trên của ông Bộ Trưởng.

Tục lệ “thui chó” thấy lạ và được nhiều người chú ý. Việc trưng bầy bức tranh của Sean Gladwell, con trai một cựu chiến binh ở VN, là một điểm nổi bật. Thân phụ của Sean là Mark một người bạn cũ của tôi và tôi thật vui được gặp lại ông sau nhiều năm cách biệt. Sau chiến tranh VN, ông ấy đã có nhiều ám ảnh cần phải xua đuổi.

Tôi sững sờ trước sự ám ảnh qua bức tranh “Người chết” của Ron Beattie. Tôi đã từng thấy cái áo khoác đó ở trên mình những cựu chiến binh Úc trong nhiều năm qua. Tôi bước qua những bức vẽ miêu tả những câu chuyện về Cộng sản miền Bắc VN và tự hỏi đó có phải đó có phải là nguyên nhân của cuộc biểu tình ngoài kia hay không? Tôi nhận thấy những bức tranh này hay hay và không thấy điều gì trong đó có thể xúc phạm. Sau này tuy nhiên tôi đã hiểu ra, những điều xúc phạm đã không ở trên những bức tranh này.

Tôi bước tới trước một bức tường rộng nhất, dễ thấy nhất, có vẻ như trưng bầy những hình ảnh hoạt hoạ về chiến tranh VN, tôi nghĩ chắc đây là những hình vẽ đem lại một chút thoải mái cho thấy tính khôi hài của những nhà đi khai phá của chúng tôi . Nhưng không! Cả bức tường là một sự trình bầy thô bạo, xúc phạm, không mảy may có tính chất hài hước, với mục đích nhục mạ John Howard.

Vậy thì những bức tranh này có liên quan quái gì tới chiến tranh VN, tôi tự hỏi? Tôi biết rằng nội dung cuộc triển lãm nói về thời hậu chiến ở VN, nhưng qua đó mà đả kích cam kết của John Howard trong cuộc chiến chống khủng bố tại Iraq và Afghanistan thì thật là quá xa vời: “George W Bush cần một con khỉ không có khối óc, một con khỉ sẵn sàng bán linh hồn cho quỷ sứ….. mi là môt tên mạt hạng, ích kỷ, tồi bại,” đó là lời ghi dưới hình vẽ John Howard đu đưa trên một cành cây, bằng một tay còn tay kia cầm trái chuối. Nhưng mà còn tệ hại hơn nữa.

Người nghệ sĩ này rõ ràng loạn trí. Người phụ trách cuộc triển lãm đã sai lầm khi để cái cảm tính xúc phạm của tác giả được trưng bày ra như một “nghệ phẩm”.

Một trưng bày khác diễn tả một chiến binh Hoa Kỳ tại VN cũng mang tính xúc phạm như vậy. “Anh ta đi tới đó, lột hết quần áo của cô ta, dùng dao nhọn, cắt từ cửa mình của cô lên cao ngang mức nhũ hoa, móc hết các bộ đồ lòng ra khỏi bụng cô gái, và ném ra xa. Sau đó anh ta cúi xuống lột từng miếng da trên thân thể cô gái, rồi bỏ mặc cô ta ở đó … như một dấu hiệu của một điều gì hay một cái gì đó.”

“Dừng lại một phút.” tôi tự nhủ: “Thế còn sự tàn bạo của CS đối với miền Nam VN thì sao?” Trong khi sự tàn bạo của người Mỹ được phanh phui từng chi tiết ghê sợ trong các cuộc điều tra công khai về tội ác chiến tranh. Thì cộng sản chỉ thản nhiên bắn chết các người tố cáo. Đó là điều khác biệt căn bản giữa chế độ cộng sản và chế độ dân chủ.

Sự tàn bạo của CS đã được che dấu trong cuộc triển lãm này. Bây giờ tôi bắt đầu hiểu được những lý do của sự tụ tập chống đối của những người biểu tình bên ngoài.

Những “trại học tập cải tạo” của CS cũng là những hậu quả chiến tranh trầm trọng cho bao nhiêu người VN đang sinh sống tại Úc. Một số người sau khi “tốt nghiệp” các trại tù cải tạo này đã mang hằn những vết sẹo trên thân thể và trong tâm hồn do những năm tháng bị tra tấn và bị tẩy não trong trại tập trung. Những người này cảm thấy cuộc trưng bày tranh ảnh [Nam Bang] đã phản bội lại họ.

Trở lại vấn đề John Howard. Nếu họ đả kích John Howard thì họ nghĩ sao về Gough Whitlam?

Tài liệu giấy tờ trong những năm gần đây đã phanh phui những điều Whitlam đã làm để lấy lòng chính quyền CS miền Bắc. Whitlam không cho phép các người tỵ nạn hay các thuyền nhân nhập cư vào Úc. Ông ta cũng phản bội ngay cả các nhân viên VN đã phục vụ trong tòa Đại Sứ của chúng ta: “Những nhân viên VN phục vụ trong tòa đại Sứ Úc được các hiệp hội thuộc đại sứ quán Úc xác định là không ở trong tình trạng nguy hiểm, do đó “không”, xin nhắc lại lần nữa là “không” được phép nhập cư vào Úc.” Đó là những lời lẽ bỉ ổi được Whitlam gửi đi trước ngày Saigon thất thủ.

Nếu không có Malcolm Frazer và John Howard thì đã không có Cộng Đồng VN tại Úc. Cũng không có những tranh ảnh về thời hậu chiến VN để cho các nghệ nhân VN triển lãm hôm nay. Đây là điều đã không được mô tả ra ra trong cuộc triển lãm Nambang.

Tôi không phải là một nhà phê bình nghệ thuật và cố gắng giữ cho đầu óc cởi mở với cuộc triển lãm và để hiểu nó muốn nói gì. Tôi ra về với ấn tượng rất mạnh là cuộc triển lãm này còn hơn là một diễn đàn để nhửng người “ ghét Howard” và thích CS xì ra cái những sự giận dữ méo mó của họ.

Charlie Lynn
Cựu chiến binh cuộc chiến VN.
PO Box 303
Camden 2570
Charlie@kokodatreks.com.au

Bản dịch do Mai Phương
----------------------------------------
    Nambang Exhibition – Casula Powerhouse Arts Centre
Feedback by Charlie Lynn

Veterans Affairs Minister Alan Griffin opened the Nambang exhibition at the Casula Powerhouse Arts Centre with a self-deprecating remark about his understanding of ‘art’ which was not helped by a slight colour-blindness affliction. He did add that he found some of the displays ‘confronting’ but passed no judgement. ‘Art’ is in the mind of the beholder. I was one of many who shared his sentiments.

A large rally of protesters waving Republic of Vietnam flags was an early indication of the veracity of the Ministers observations.

The traditional ‘burning of the dog’ was interesting and well received. Viewing a display by the son of a Vietnam Veteran, Sean Gladwell, was a highlight. His father Mark, is an old friend and it was great to catch up with him after many years. He had many demons to fight after the war.

I was transfixed on the haunting Image of a Dead Man by Ron Beattie. I have seen that jacket on many vets over the years. I moved past the paintings depicting the communist North Vietnamese stories and wondered if that was what the protest rally was about. I found them interesting and saw found nothing in them that could offend.
I later realised it was what they didn’t depict that was offensive.

I then moved up to the largest, most visible wall that seemed to display cartoons of the war – a bit of light relief depicting our Diggers humour in Vietnam no doubt. Wrong. The entire wall was a crude, humourless, offensive display against John Howard.

What the hell has this got to do with the Vietnam War I thought? I knew the exhibition was about the aftermath of Vietnam but lampooning John Howard’s commitment to the war against terrorism in Iraq and Afghanistan is a long bow. ‘George W Bush needed an ape without a brain. An ape who would sell his soul to the devil himself . . . you miserable bastard selfish prick’ captioned a farting John Howard swinging from a tree with one hand and holding a banana in the other. It got worse.

The artist was obviously deranged. The curator erred by allowing his offensive bile to be displayed as ‘art’.

Another display depicting the American soldier in Vietnam was equally ‘confronting’. ‘He went over there, ripped her clothes off, and took a knife and cut her vagina almost all the way up, just about to her breast, and pulled her organs out, completely out of her cavity, and threw them away. Then he stooped and knelt over and commenced to peel every bit of skin off her body and left her there . . . as a sign of something or other’.

‘Wait a minute’, I thought. ‘What about the atrocities committed by the Communists against the South Vietnamese? ‘ While American atrocities are revealed in all their gory detail during public investigations into war crimes, Communists just shoot the whistleblower. It’s a fundamental difference between communist and democratic societies.
The Communist atrocities had been airbrushed from the exhibition. Now I was beginning to understand the reasons behind the rally outside.

Communist ‘re-education camps’ are also serious aftermath of the war for many Vietnamese living in Australia. A number of ‘graduates’ bearing the physical and emotional scars of years of torture and brainwashing in these camps feel betrayed by the exhibition.

So back to John Howard. If they were going to lampoon him, what about about Gough Whitlam?

Cabinet papers released over recent years reveal the extent to which Whitlam went to appease the Communist government in North Vietnam. Whitlam would not allow Vietnamese refugees or ‘boat people’ to come to Australia. He even betrayed the Vietnamese who worked for our embassy. "Locally engaged [Vietnamese] embassy staff are not to be regarded as endangered by their Australian embassy associations and therefore should not, repeat not, be granted entry to Australia," was the shameful instruction he sent just before the fall of Saigon.

After Whitlam’s sacking Liberal Prime Minister Malcolm Fraser reversed that inhumane decision and provided safe-haven for thousands of Vietnamese refugees, or ‘asylum seekers’ in today’s parlance. John Howard was a key member of the Fraser cabinet when that decision was made.

If it was not for Malcolm Fraser and John Howard there would not be a Vietnamese community in Australia. There would not be any ‘aftermath’ from the Vietnamese artists to display. This is not depicted in the Nam Bang exhibition.

I am not at art critic and I tried to be keep an open mind about the exhibition and what it was supposed to represent. I left with the strong feeling that it was little more than a platform for ‘Howard haters’ and communist sympathisers to vent their twisted spleens.

Charlie Lynn
Vietnam Veteran
PO Box 303
Camden 2570
Charlie@kokodatreks.com.au

Thấy Gì Qua Đoạn Phim Thuyền Nhân Trên Đài CBS Chiếu Vào Cuối Tháng 6 Năm 1979? - Nguyễn Thị Mầu Tím

Nguyễn Thị Mầu Tím


(1) Gia đình vượt biển đi tìm tự do (2) Mẹ khóc cho các con và đất nước


(3) Tuổi thơ VN sau hàng kẽm gai (4) Cuộc sống dân nghèo dưới chế độ CS



http://www.cbsnews.com/video/watch/?id=4462053http://www.cbsnews.com/video/watch/?id=4462053

Trưa này được xem một đoạn phim chuyển đến từ một người bạn. Sững người và bất ngờ với các hình ảnh trên film, những hình ảnh mà đã gợi đến cho tôi một cái gì mà tôi không nghĩ là sẽ có bao giờ muốn thấy lại. Tôi bất chợt òa khóc theo những âm thanh ồn ào phát ra từ màn ảnh nhỏ. Đoạn phim này là một clip video của đài truyền hình CBS, thâu vào cuối tháng 6 năm 1979 về các “thuyền nhân Việt Nam hay boat people, ” cho thấy cảnh một con tầu nhỏ đầy người là người, các thuyền nhân đứng chen chúc, rướn mình, đu người trên thân tầu, vẫy tay reo hò mừng rỡ khi thấy người và bến bờ, khiến cho con tầu nhỏ đã lắc lư lại càng lắc lư thêm khi tiến gần vào bờ biển Malaysia.

Hình ảnh con tầu vừa tấp gần, những người trên tầu lao xuống nước. Những phụ nữ và trẻ em yếu sức được những thuyền nhân vượt biển đến trước, chạy ra đón, dìu, đưa vào trong bờ trông thật là cảm động. Trong số những người giúp dìu các thuyền nhân vào bờ, đã có ký giả Ed Bradleys của đài truyền hình CBS. Nhóm người vượt biển đầy may mắn này, những người mà được thế giới gọi chung tên “Boat People,” tuy nhiên đã không thấy tiều tụy lắm như một số những người vượt biển khác. Có lẽ nhóm người này họ may mắn không phải trải qua những ngày tháng dài quằn quại trên biển cả như một số những thuyền nhân khác.

Nói chung tuy nhiên, dù may mắn hay kém may mắn, những “Boat people" Việt Nam này đều đã có cho mình một quyết định can đảm giữa cái sống và cái chết. Bởi vì trước khi rời Việt Nam đi tìm tự do, những người vượt biển đều không biết những gì sẽ xẩy đến cho họ: hoặc là họ sẽ phải chết trên biển cả vì đói khát và sóng dữ; hoặc là họ và gia đình sẽ bị hải tặc Thái Lan chém giết, chặt đầu chặt tay, để cướp nữ trang; hoặc bị hải tặc Thái Lan hãm hiếp, vân vân, nhưng họ vẫn quyết định ra đi bởi vì bên cạnh những sự nguy hiểm thấy trước, họ vẫn có một tia hy vọng nhỏ, là nếu thoát được những hiểm nguy và sống sót, họ và gia đình có thể sẽ có một tương lai an bình, hạnh phúc trên một đất nước tự do dân chủ, có nhân bản, có tình người. Còn hơn là họ phải sống dưới một chế độ cộng sản đầy những sự giả dối “Nhân Dân Làm Chủ, Nhà Nước Quản Lý, Đảng là Công Bộc” nhưng trong thực tế nhân dân chỉ là những đàn cừu được chăn dắt bởi đảng và nhà nước CSVN. Cuộc sống dưới chế độ là những ngày tháng lăn xả trong sự lọc lừa, hung bạo, tàn nhẫn, đạp lên nhau mà sống. Các cán bộ đảng viên đa số thì tham nhũng, háo sắc. Thông tin chỉ là để phục vụ cho giai cấp thống trị cho nên luôn luôn bưng bít sự thật. Tin tức thì chỉ được tuyên truyền một chiều, hầu ngu dân dễ trị. Giáo dục thì vừa tạo ra những thế hệ bù nhìn, bạc nhược, vừa hình thành ra một guồng máy tay sai đắc lực. Dưới chế độ Cộng sản Việt Nam đó, người dân khắp nơi đã phải cay đắng thốt lên câu là nếu có điều kiện thì “cái cột đèn cũng phải ra đi.”

Chỉ có mươi phút nhưng đoạn băng của đài CBS đã lôi tôi trở về một quá khứ những tưởng đã quên hay không muốn nhớ vì những ký ức kinh hoàng. Đoạn phim đã khiến cho tôi vô cùng xúc động. Bao hình ảnh cũ ùa về. Nước mắt lăn tuôn. Từ đáy lòng tiếng òa bật vỡ. Tôi thấy lại hình ảnh của tôi được khiêng xuống nằm trong một khoanh nhỏ dưới góc hầm tầu, rã rời, thiêm thiếp, môi sưng vều, mặt nhợt nhạt vì đói, vì khát, vì sức nóng gay hắt, dữ đội của không gian đại dương. Tôi lại thấy tôi mất sức, nằm bất động trên bong tầu, không còn thấy đói khát mà chỉ tha thiết nhớ về quá khứ, không còn sợ chết mà chỉ thấy ăn năn về những hành động vô tình nếu có, đã gây ra sự buồn tâm cho mẹ, cho gia đình anh chị em, và bạn bè thân hữu …. Nhìn những mảnh ván, những vật dụng cá nhân, những con búp bê nổi trên mặt nước, tôi hiểu được trước sau rồi sự chết cũng sẽ tới. Những con chim bay lượn trên cao, có lẽ chúng đang chờ một xác người lại được thả xuống biển thủy táng. Trong tiếng rì rào của gió biển, tôi bất chợt bật oà tiếng gọi ... Mẹ ơi… và trong khoảng khắc nhớ đến mẹ thật nhiều, hiểu được những hy sinh cao cả của mẹ tôi đối với anh em chúng tôi. Ôi những bà mẹ VN, thật là đáng kính.
    Mẹ bóc cho con chiếc bánh chưng
    Con ăn no dạ kẻo đói lòng
    Mai đây cách biệt đường muôn lối
    Thương nhớ chỉ còn trong giấc mơ
Đã 34 năm trôi qua, chế độ CSVN cho đến ngày hôm nay với người Việt Nam vẫn là một chế độ phi nhân phi nghĩa. Từ khi cướp được miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước, lãnh đạo cộng sản miền Bắc đã không đem đến một điều gì tốt đẹp cho dân tộc. Sự thay đổi nếu có thì chỉ với những cán bộ đảng viên hay người dân từ các vùng do cộng sản cai trị vốn sống nghèo khổ, lại được tuyên truyền là người dân miền Nam dưới chế độ Mỹ Ngụy cũng đã phải ăn cơm bằng gáo dừa, phụ nữ thì bị hà hiếp, thanh niên thì bị bắt đi chiến trường phục vụ cho tham vọng đế quốc Mỹ, nhà cửa miền Nam điêu tàn dột nát, nhưng chừng thấy ra không phải là như thế. Và họ tuy nhiên, một cách thản nhiên, đã quên đi những lừa gạt của các lãnh đạo CS, để mà, những gì lấy được, cướp được, từ những người dân miền Nam thua trận thì cũng cứ lấy. Để rồi đến ngày hôm nay, bản thân họ và gia đình họ lại bị chính chế độ tham nhũng hiện hành bóc lột và cướp đoạt.

Đó là về dân, còn về lãnh đạo CSVN thì ngoài những sự lường gạt người dân miền Bắc để khiến bao thanh niên thanh nữ phải oan uổng hy sinh cho một cuộc chiến đấu vô nghĩa, sự thành công của đảng CS và nhà nước CSVN là để phục vụ cho một thế giới đại đồng cộng sản và giai cấp lãnh đạo chứ không phải cho dân tộc. Nói đến chế độ CSVN hiện hành, người Việt nghĩ ngay đến một thể chế tham nhũng, biến thái, độc tài, dâng đất, dâng biển cho ngoại bang. Chế độ đó đã tiêu diệt các tinh hoa, văn hóa nước nhà cùng lúc thâu nhận những cái xấu của người. Trong khoảng trên dưới một thập niên gọi là đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam tràn ngập phong cách sinh hoạt đồi trụy, sa đọa phi nhân, của những xã hội tư bản Tây phương vật chất lâu đời nhất, bóp nghẹt mọi cơ hội đi lên của dân tộc.

34 năm đi qua, đau đớn, nổi trôi cùng vận nước. Tóc nay đã bạc. Nhưng mừng thay thế hệ tiếp nối hải ngoại đã được nhìn thấy. Cộng đồng người Việt hải ngoại đã có những dấu hiệu phát triển vững mạnh, đã học hỏi từ bài học quá khứ và cùng hướng về phía trước trong tinh thần quật cường độc lập, sẵn sàng góp tay trong mục tiêu chấm dứt chế độ Cộng sản biến thái, tự do dân chủ nước nhà. Còn trong nước, biết đến bao giờ người Việt mới thật sự thấy được vấn đề, mới can đảm đứng lên đòi lại phẩm giá con người Việt Nam đã bị chà đạp từ khi chế độ CS lên nắm quyền? Đến bao giờ VN mới thật sự chấm dứt được các thảm nạn mua bán tình dục tuổi thơ và phụ nữ VN cũng như xuất cảng tuổi trẻ VN ra ngoại quốc làm tôi tớ cho người, để chính phủ thâu thuế trên mồ hôi nước mắt của dân?

Nguyễn Thị Mầu Tím
Tháng Tư Đen, ngày 16 tháng 4 năm 2009