Monday, March 16, 2009

Đôi Điều Nhận-Định Trong Vấn-Đề Vận-Động Kết-Hợp LMDCVN - Thanh Thủy

TinParis: Tác giả bài viết là một cựu Đảng viên của Liên Minh Dân Chủ Việt Nam do Gs Nguyễn Ngọc Huy thành lập , đã từng đảm nhận những trọng trách của đoàn thể. Vì quý mến Gs NNH và thương tiếc công trình của ông đã bị " đàn em " phản bội , nên tác giả đã đưa ra những đề nghị để những anh em " có lòng " nên ý thức được vai trò , và khả năng của mình để xây dựng lại Đảng. Tuy nhiên, đề nghị của ông thật khó mà thực hiện được khác gì "tìm cây kim trong đóng rơm": Ban Lãnh-Đạo mới không vướng vào các hệ-lụy đã qua.

Ngoài các đề nghị khác như 2.- Không tiếp-xúc 3.- Không liên-lạc 4.- Không thương-thuyết 5.- Không hợp-tác với CSVN , TinParis không thấy tác giả đề cập đến các đề nghị đó đối với các tổ chức thân cộng, hòa hợp hòa giải, hay do Việt cộng giựt dây ở hậu trường như Băng Đảng Mafia Việt Tân .Mặt khác, làm sao gây lại niềm tin đối với Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại khi những người có trách nhiệm trong LMDCV lại đi về Việt Nam một cách thong thả , khác nào quảng cáo gián tiếp cho chế độ CSVN là chúng dân chủ " quá thế " ?

Riêng đối với cá nhân tôi thì LMDCVN đã phản bội đường lối của Gs NNH, đang đi theo hướng khác phản bội lý tưởng của người " Quốc gia " , và đang ở giai đoạn " hết thuốc chữa " cuối cùng của "bệnh ung thư não". LMDCVN đang biến thành một thứ " Băng Đảng " hơn là " một Chính Đảng " đúng theo nghĩa của nó!

- Hứa Vạng Thọ (Chủ Nhiệm TinParis.net)

http://tinparis.net/thoisu09/2009_03_15_VanDongKetHopLMDCVN_TThuyQVH.html
-----------

    Đôi Điều Nhận-Định Trong Vấn-Đề Vận-Động Kết-Hợp LMDCVN
Thanh Thủy

Vấn-đề kết-hợp hay thống-nhứt lại một đoàn-thể đã bị phân-hóa là một việc rất đáng nên làm, nhứt là trong hoàn-cảnh hiện nay, cho nên, hàng mấy tháng nay người ta thấy có nhiều đoàn-viên, cán-bộ trong tổ-chức LMDCVN đã tỏ ra rất ưu-tư (tuy muộn-màng), nên xông-xáo lên tiếng vận-động, liên-lạc mọi phía để tìm cách ráp nối các phía lại với nhau. Giai-đoạn nầy, sự vận-động hoàn-toàn có tánh-cách nội-bộ, cho nên việc hành-xử các phía với nhau được diễn-tiến ra sao, người bàng-quan không biết được. Cho đến nay thì mọi vận-động nói trên đã bị thất bại, cho nên nội-vụ mới được đưa ra ngoài, tuy vẫn còn hạn-chế ở một số người, nhưng vấn-đề nầy đã được nhiều người biết đến.

I. Nhận-Xét và Ý-Kiến:

Không biết trong sự vận-động kết-hợp, thống nhứt, những người trong cuộc đã dựa trên căn-bản nào để đặt vấn-đề, chỉ thấy sau cuộc vận-động thất bại, các vị đã có những lời lẻ với nhau rất hằn-hộc, nhận thấy vấn-đề nói trên có ảnh-hưởng đến một đoàn-thể lớn mà trước đây đã được rất nhiều người quý-trọng và nhứt là có ảnh-hưởng đến công việc tranh-đấu chung, nên người viết xin có vài điều phát-biểu:

1. Trước khi vận-động kết-hợp, điều căn-bản cần-thiết nhứt là những người trong cuộc cần phải hiểu rõ nguyên-nhân vì sao đoàn-thể của mình bị phân-hóa? Và làm sao loại được hết những con vi-trùng tạo-ra những mầm móng phân-hóa nầy?

Nếu làm được công việc nầy thì con đường vận-động mới có thể khai-quang để những người trong cuộc bắt đầu tiến-hành. Nếu không làm được công việc nầy mà cứ nhắm mắt đi tới thì sự vận-động sẽ vô-ích mà còn gây thêm nhiều hệ-lụy, không chừng còn bị sa chân vào bẫy của những kẻ vốn lúc nào cũng muốn cho các đoàn-thể chống Cộng phải tả-tơi như xác pháo.

2. Muốn tìm-hiểu nguyên nhân, người ta phải trở về nguyên-thủy. Gs.Nguyễn-Ngọc-Huy trước khi mất đã tuyên-bố Quan-Điểm 5 Không để cho tất cả mọi đoàn-viên cán-bộ dùng làm Kim-Chỉ-Nam cho mọi hành-sử khi ông không còn sống nữa. Đó là căn-bản, là nguyên-thủy của LMDCVN.

3. Quan-Điểm 5 Không của ông rất đơn-giản, chỉ có một mục-đích duy nhứt để nói là không hòa-hợp, hòa-giải với Cộng-sản. Đơn-giản và rất dễ hiểu như thế nhưng tại sao ông lại phải ghi rõ chi-tiết tới 5 Không?

Nếu mọi người đều nhận thấy rằng Gs.Huy có một viễn-kiến rất sâu rộng, thì đó chính là vấn-đề mà mọi người trong chúng ta cần suy-ngẫm. Ông đã tiên-liệu là sau khi ông nằm xuống thì trong hàng ngủ của LMDCVN sẽ sanh biến do một số người có tham-vọng muốn bắt tay với kẻ thù. Nếu điều nầy xãy ra thì LM sẽ bị phân-hóa dần, nhẹ thì chia năm xẽ bảy, nặng hơn là tan-rã luôn, bởi vì ngoài những thành-phần muốn trở cờ, trong hàng ngủ LMDCVN còn rất nhiều người một mực trung-thành với đoàn-thể, những người nầy sẽ chống lại những kẻ “một mặt, hai lòng”, bằng cách lên tiếng một cách thẳng-thắn, và cũng sẽ có một số người chán-nãn, thầm-lặng rút lui.

Điều nầy thực sự đã xãy ra liền sau khi Gs.Huy nằm xuống! Viễn-kiến của ông thật chính-xác.

Tưởng cũng cần ghi lại hết Quan-Điểm 5 Không của Gs.Huy , đối với chế độ Cộng Sản Việt-Nam, để tiện việc theo-dõi các diễn-tiến như sau:

1. Không công-nhận chế-độ Cộng-sản Việt-Nam
2. Không tiếp-xúc
3. Không liên-lạc
4. Không thương-thuyết
5. Không hợp-tác

II. Diễn-tiến của sự phân-hóa

1. Phong-Trào Thống-Nhứt Dân-Tộc và Xây-Dựng Dân-Chủ: Tất cả mọi nguyên-nhân khiến cho LMDCVN bắt đầu phân-hóa đều do sự hiện-diện của Phong-Trào nầy mà ra. Trong Đại-Hội Thế-Giới LMDCVN được tổ-chức tại Hòa-Lan năm 1990, di bút của Gs.Huy có cho biết là Giáo-sư đã có những liên-lạc với anh em trong nước và đã có những phân-công để làm việc. Những chiến-hữu trong nước mà giáo-sư đã phân công là ai thì đến nay vẫn còn trong bóng tối, nhưng chắc-chắn không phải là những vị lãnh-đạo của Phong-Trào vì thời-gian nầy những vị nầy còn trong nhà tù Cộng-sản chưa biết ngày nào ra và chết sống ra sao.

Cứ xem những tài-liệu về việc hình-thành Phong-Trào, dù ai có ngây-thơ đến đâu cũng đều thấy được là những người lãnh-đạo LMDCVN thời đó đã có những dàn-xếp với bạo-quyền Cộng-sản để dựng nên Phong-Trào nầy với mệnh danh là “một tổ-chức đối lập” với bạo-quyền Cộng-sản ngay trong nước. Rõ ràng một đàng là mưu-toan bất chánh, một đàng là cạm bẫy của bạo-quyền được giăng ra để “hốt” những người còn có tư-tưởng chống lại chúng. Thật vậy, vì chủ-trương của bạo-quyền Cộng-sản không bao giờ chấp-nhận đối-lập, ngay cả tự-do Tôn-Giáo còn không được phép huống gì là đối-lập chánh-trị!

Mưu-đồ đen-tối nầy còn lộ rõ nguyên hình là việc Phong-Trào loan-báo tổ-chức một cuộc Hội-Thảo ngay tại Saigon với sự tham-dự của nhiều chánh-khách và phó chủ-tịch Quốc-Hội Cộng-sản VN. Cuộc Hội-Thảo nầy bất thành vì trước đó một tuần, những người lãnh-đạo Phong-Trào đã lộ-diện và đã bị bắt hết. Bẫy sập của bạo-quyền đã thành-công, dĩ nhiên Phong-Trào nầy phải tan-rã.

Lẽ ra mọi chuyện phải được dừng lại ở đó, nhưng Ban Lãnh-Đạo của LMDCVN thời đó còn muốn đi xa hơn, nên đã liên-tiếp tổ-chức những buổi hội-thảo chánh-trị rất tốn kém để tiếp-tục tìm cách đánh bóng Phong-Trào mà cao-điểm là tổ-chức một cuộc Hội-Thảo tại Thái-Lan với sự tham-dự hứa-hẹn của tên Phó chủ-tịch Quốc-Hội Viêt-cộng. Trong cuộc Hội-Thảo nầy có mặt đầy đủ Ban Lãnh-Đạo LMDCVN. Việc nầy nằm trong Quan-Điểm thứ mấy của Gs.Huy???

Ngay từ lúc thành-lập Phong Trào, nhiều anh em phản-đối Ban Lãnh-Đạo và tách ra thành-lập LMDCVN/Kiên-Định Lập-Trường. Từ đó LMDCVN bắt đầu bị phân-hóa

2. Liên-Minh Dân-Chủ Việt-Nam hậu Gs.Huy: Sau cuộc phân-hóa nầy, LMDCVN còn lại đã trải qua 2 lần Đại-Hội, năm 1993 ở Canada, năm 1997 ở Texas cũng với thành-phần Ban-Lãnh-Đạo đã có mặt tích-cực trong việc thành-lập Phong-Trào, chẳng những thế mà nhiều lúc Ban Lãnh-Đạo còn xác nhận một cách thẳng-thừng với Cộng-đồng bên ngoài là Phong-Trào với LMDCVN tuy hai mà một. Do đó, đồng-bào các nơi đã cho rằng LMDCVN ngày nay đã thay-đổi lập-trường tranh-đấu, hòa-hợp, hòa-giải với bạo-quyền Cộng-sản, phản-bội Gs.Huy.

Tuy nhiên, do sự khéo-léo che dấu của Ban Lãnh-Đạo thời bấy giờ nên nội-bộ củng-cố được phần nào và có phát-triễn được vài nơi, nhưng mầm mống chia-rẽ nội-bộ cũng bắt đầu, nguyên-nhân không phải vì khác lập-trường mà chính vì tranh-chấp quyền-hành của một số cán-bộ cao-cấp trong Ban Lãnh-Đạo.

Sự tranh-chấp nầy thực-sự bùng nổ ác-liệt vào những lúc gần cuối nhiệm-kỳ 1997-2001, và chia ra làm 2 nhóm rõ-rệt với những lời chỉ-trích nhau một cách tận-tình.

Mùa Hè năm 2001, một nhóm làm Đại-Hội ở Boston trong khi nhóm khác làm Đại-Hội ở Vancouver sau đó một vài tháng, mục-đích để bầu Ban Chấp-Hành mới. Cả hai Ban Chấp-Hành mới xem nhau như kẻ thù, khai-trừ lẫn nhau một cách kịch-liệt, nhưng cùng mang một tên là LMDCVN.

Để cho phân-biệt, đồng bào gọi nhóm ở Boston là LMDCVN/Boston, và gọi nhóm ở Vancouver là LMDCVN/Vancouver.

Nhóm LM/Vancouver xác-nhận Phong-Trào là sản-phẩm của họ và chủ-trương đem Phong-Trào ra hải ngoại để lãnh-đạo Liên-Minh. Một nữ cán-bộ cao-cấp của nhóm nầy ra mặt tuyên-bố dứt khoát là chống lại Quan-Điểm 5 Không của Gs.Nguyễn-Ngọc-Huy, và chờ cho ông chủ-tịch của Phong-Trào ra khỏi tù là họ sẽ phất cờ (!!!).

Trong khi đó thì nhóm LM/Boston kín-đáo hơn, tuyên-bố vẫn trung thành với Quan-Điểm của Gs.Huy, nhưng làm chớ không nói (!!!).

Trên thực-tế, cả 2 nhóm đều tìm cách móc nối với những người của Phong-Trào khi họ được ra khỏi tù của bạo-quyền Cộng-sản VN. Nhưng tất cả những người của Phong-Trào ngày nay đều đã ra khỏi tù và đã đều bỏ cuộc, không hợp tác với cả bên nầy lẫn bên kia.

Nhóm Vancouver thì rõ-ràng như vậy, riêng nhóm Boston thì cũng chẳng khác gì hơn, từ nhiệm-kỳ 2001-2005 cho đến nhiệm kỳ 2005-2009, Ban Lãnh-Đạo không bao giờ dám nhắc tới Quan-Điểm 5 Không của Gs.Huy, cơ-sở nào có yêu-cầu Ban Lãnh-Đạo xác nhận cũng không được đáp-ứng, nhiều cán-bộ đoàn-viên muốn Ban Lãnh-Đạo xác nhận lại Quan-Điểm nầy để tạo lại uy-tín LM của Gs.Huy, xóa bỏ mặc cảm hòa-hợp, hòa-giải của đồng-bào dành cho LM để anh em dễ làm việc với Cộng-đồng trong các công-tác chống Cộng tại địa-phương, nhưng những người lên tiếng yêu-cầu nầy đều bị đối-xử rất lãnh-đạm. Một số lớn không chịu đuợc cung-cách làm việc như thế nên đành phải rút lui.

Câu châm-ngôn của nhóm LM/Boston là:“Làm chớ không nói”. Lời nói nầy tự bản-chất của nó đã làm tê-liệt sự củng-cố và phát triễn đoàn-thể, vì trong nội bộ cũng như đồng-bào bên ngoài biết được gì ở họ để theo, nhưng cứ nhìn vào những điều mà họ đã và đang làm thì sẽ rõ vì sao họ không dám nói, như việc họ ủng-hộ những tên Việt-cộng như Hoàng-Minh-Chánh, như Nguyễn-Chính-Kết, v.v…

Trong thời-gian nầy, nơi cơ-sở làm việc chặt-chẻ nhứt của UBCHTƯ ở Âu-Châu là Khu-Bộ Bỉ, một số người đã lên tiếng trên diễn-đàn, yêu-cầu đừng nhắc tới Quan-Điểm 5 Không và những lời nói của Gs.Huy nữa vì họ cho rằng những điều nầy làm cản bước tiến của công cuộc tranh-đấu của LM, thậm chí, họ còn nói là con đường đi của Gs.Huy vạch ra có nhiều hầm hố, không đi được, trong khi có những con đường khác trơn-tru sao không chịu đi (con đường khác nầy là con đường mà Hoàng-Minh-Chách đã vạch ra như: Đề nghị Tiểu Diên-Hồng, đề nghị của Việt-cộng sẽ mời một số người đại-diện đồng-bào ở hải ngoại về nước làm đại-biểu quốc-hội của chúng mà không cần phải bầu-cử,…).

Chuyện gần đây nhứt là khi tên Thủ-tướng Việt-cộng Nguyễn-Tấn-Dũng sang Pháp tổ chức một buổi hợp tại Paris để bàn về việc đầu-tư kinh-tế, thì một Ông Lớn của LM lại xin vào họp !?

Thử hỏi, tất cả những điều nầy có nằm trong điều nào của Quan-Điểm Gs.Huy không? Thì ra Ban Lãnh-Đạo Chỉ Làm Chớ Không Dám Nói là thế? Nhưng lúc nào họ cũng tuyên-bố là trung-thành với đường-lối của Gs.Huy. Nói như thế là hạ nhục ông vì Gs.Huy không bao giờ có chủ-trương như vậy.

3. Việc Kết-Hợp, Thống-Nhứt LM: Những điều cụ-thể đã như thế, hiển-nhiên là lập-trường của 2 nhóm LM/Vancouver và Boston không khác gì nhau, nên việc kết-hợp hay thống-nhứt thành một mối thật ra không có gì khó-khăn. Giả sử như việc kết-hợp được suông-sẻ, họ sẽ có một LMDCVN thống-nhứt, nhưng thực-chất của LM thống nhứt nầy không có liên-hệ gì với LMDCVN trước năm 1990 của Gs.Nguyễn-Ngọc-Huy, nhưng cũng may là việc kết-hợp không thực-hiện được vì tự bản-chất của 2 nhóm là tranh quyền chớ không phải vì lợi-ích của dân-tộc, hối-tiếc một điều là người đề xướng ra cuộc vận-động nầy, có thể vì nhiệt tình nên bị vướng bẫy, không ước-lượng được nội-vụ nên đã làm cho sự đổ vỡ càng trầm-trọng hơn.

III. Đề-Nghị:

Công-tác đoàn-kết để tạo thành một lực-lượng Hậu-Phương Hải-Ngoại hùng-mạnh để đủ sức yễm-trợ đồng-bào lật đổ bạo quyền Việt-cộng để xây-dựng một nước Việt-Nam Tự-Do, Dân-Chủ là một lý-tưởng quý-giá và cao-đẹp của người Việt Quốc-Gia, bởi vậy, việc kết-hợp nầy những anh chị em có lòng ưu-tư trong LM, nếu muốn vận-động, thiết-tưởng cần phải nhắm đúng hướng để đi.

Trước tiên là trong kỳ Đại-Hội tới, làm sao chọn được một Ban Lãnh-Đạo mới không vướng vào các hệ-lụy đã qua. Ban Lãnh-Đạo nầy sẽ công khai:

1. Xác nhận trung-thành với Quan-Điểm 5 Không và chánh-sách của LMDCVN trước năm 1990
2. Vô hiệu-hóa tất cả những văn-kiện khai-trừ nội-bộ từ năm 1993 đến nay.
3. Mời tất cả những anh chị em còn trung-thành với Quan-Điểm nầy cùng ngồi lại với nhau để bàn chuyện đất nước,
4. Phải có ngay những kế-hoạch để hòa-mình, hợp tác chặt-chẽ và nhiệt-tình với các Cộng-Đồng trong những công-tác đấu-tranh chung, v.v…

Những điều nầy phải được thông-báo trên báo chí, trên các diễn-đàn Internet và thực-hành một cách nhiệt-tâm. Có như vậy, lần hồi mới thu-phục lại nhân-tâm, những anh chị em đã ra đi có thể thấy như vậy mà tin tưởng trở lại làm việc. Những người bên ngoài nhìn thấy việc làm và chính-nghĩa của LM sẽ tìm đến với LM. Đó là điều-kiện để phát-triễn đoàn-thể và sự kết-hợp, đoàn-kết như thế mới thật sự hữu-ích.

IV. Kết-Luận:

Trải qua một thời gian dài hơn 30 năm qua, lòng người đôi khi mệt mỏi nên tinh-thần có nhiều biến-đổi, chạy theo sự đua-đòi của thời-cuộc nên vướng vào các ngụy-kế và bẫy giăng của kẻ tội-đồ Việt-cộng, từ đó tinh-thần hăng-say chống độc-tài Cộng-sản trước kia, nay không còn nữa, như ông Tướng Râu Kẽm, như ông Nhạc-sĩ già đầu bạc và một số người, một số băng đảng mất gốc, chảng hạn. Đó là điều nguy-hiễm cho công-tác đấu tranh chung và nguy-hiễm cho lợi-ích thật sự của dân-tộc. Hy-vọng sự tận-tình của quý vị trong cuộc vận-động được đúng hướng để còn kịp thời cứu-nguy con thuyền LM đang trong cơn bảo lửa.

Những điều trình-bày trên là vạn bất đắc-dĩ, người viết phải nói lên như thế với hy-vọng làm tỉnh-ngộ một số vị đang lạc nẽo, hầu khôi-phục lại công-trình xây-dựng gian-khổ của Người Quá-Cố, để tiếp tay với đồng-bào xây-dựng lại quê-hương. Điều nầy sẽ làm phiền lòng một số người, người viết chỉ mong nhận được ở quý vị những lời phê-phán.

Thanh-Thủy (15/03/2009)


Wednesday, March 11, 2009

Tướng Bùi Thế Lân, Cuộc Đổ Bộ Tqlc Ở Hải Lăng Hè 1972 - Vương Hồng Anh

Vương Hồng Anh

Tướng Bùi Thế Lân và Sư đoàn Thủy quân Lục chiến VNCH ở phòng tuyến bờ Nam Mỹ Chánh, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, Hè 1972.

Trong loạt bài “Chiến trường Việt Nam, 30 năm nhìn lại”, trong phần trình bày tình hình chiến sự từng ngày tại mặt trận Quảng Trị mùa Hè 1972, chúng tôi đã lược trình một số cuộc hành quân của các đơn vị thuộc Sư đoàn Thủy quân Lục chiến (TQLC). Như đã trình bày, sau khi Sư đoàn 3 Bộ binh và các đơn vị tăng phái rút khỏi Quảng Trị vào đầu tháng 5/1972, Lữ đoàn 369 TQLC đã lập ngay tuyến chận địch ở bờ Nam sông Mỹ Chánh trong khi chờ đợi bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 và bộ Tư lệnh Sư đoàn TQLC tái phối trí lực lượng để giữ khu vực gần địa giới hai tỉnh Quảng Trị-Thừa Thiên.

Ngày 4 tháng 5/1972, tiếp theo sự bổ nhiệm trung tướng Ngô Quang Trưởng, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 4, giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 1 thay trung tướng Hoàng Xuân Lãm, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đă quyết định bổ nhiệm đại tá Bùi Thế Lân, lúc đó đang là Tư lệnh phó Sư đoàn TQLC, giữ chức Tư lệnh đại đơn vị tổng trừ bị này thay thế trung tướng Lê Nguyên Khang. Theo tài liệu của trung tướng Ngô Quang Trưởng, thì ban đầu trung tướng Lê Nguyên Khang được đề nghị giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 2 thay trung tướng Ngô Du xin từ nhiệm, thế nhưng tướng Khang đã từ chối, sau đó, ông được bổ nhiệm làm Phụ tá Hành quân Tổng tham mưu trưởng.

Đại tá Bùi Thế Lân xuất thân khóa 4 trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, bạn đồng khóa với trung tướng Ngô Quang Trưởng và các chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng (Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù), Nguyễn Văn Điềm (Tư lệnh Sư đoàn 1 BB), Hồ Trung Hậu (nguyên Tư lệnh Sư đoàn 21 BB). Trước khi giữ chức Tư lệnh phó rồi cuối cùng là Tư lệnh TQLC, đại tá Lân là tham mưu trưởng Thủy quân Lục chiến từ những năm đầu của thập niên 60 khi binh chủng này còn ở cấp Lữ đoàn, ông được thăng đại tá vào năm 1966. Sau khi đảm nhận chức Tư lệnh TQLC được hơn 3 tuần, ngày 28-5-1972, ông đã được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gắn một sao lên cổ áo ngay tại bản doanh bộ Tư lệnh TQLC đặt trong Đại Nội Huế. Tân chuẩn tướng Bùi Thế Lân đã tuyên hứa với Tổng thống VNCH là ông và Sư đoàn TQLC sẽ quyết tái chiếm Cổ Thành trong tay quân thù. Sau gần 3 năm chỉ huy Sư đoàn TQLC, ông được vinh thăng thiếu tướng.

Trở lại với mặt trận phía Nam tỉnh Quảng Trị, ngày 4 tháng 5/1972, trung tướng Ngô Quang Trưởng đã họp với tân Tư lệnh Sư đoàn TQLC Bùi Thế Lân để duyệt xét tình hình. Trung tướng Trưởng đã giao trách nhiệm cho Sư đoàn TQLC chịu trách nhiệm phòng thủ phía Nam Quảng Trị và vùng Bắc Thừa Thiên. Sau đây là một số cuộc hành quân của TQLC tại khu vực cận duyên quận Hải Lăng tỉnh Quảng Trị trong tháng 5 và thượng tuần tháng 6/1972. Phần này được biên soạn dựa theo tài liệu của Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, bài viết của cựu trung tá Trần Văn Hiển, nguyên Trưởng phòng 3 Sư đoàn TQLC và tài liệu riêng của VB.

* Tướng Bùi Thế Lân, Sư đoàn TQLC và cuộc các đổ bộ tấn công CQ

Hạ tuần tháng 5/1972, phòng tuyến Mỹ Chánh đã trở nên sôi động khi Cộng quân tập trung lực lượng tấn công vào các vị trí phòng ngự của các Tiểu đoàn 3,8 và 9 TQLC, bộ chỉ huy Lữ đoàn 369 TQLC và các pháo đội của Tiểu đoàn 3 Pháo binh TQLC vào hai ngày 21 và 22 tháng 5/1972. Những ngày kế tiếp, Cộng quân chuyển mũi dùi tấn công sang phía Tây-vùng trách nhiệm của Lữ đoàn 258 TQLC. Trong ba ngày liền, CQ dàn trận tấn công giữa ban ngày nhưng đã trở thành mục tiêu cho Pháo binh và Không quân Việt Mỹ tiêu diệt bằng hỏa lực hùng hậu.

Trong khi trận chiến ở phía Tây thuộc khu vực trách nhiệm của Lữ đoàn 258 TQLC còn đang sôi động, để tạo yếu tố bất ngờ nhằm triệt hạ lực lượng đối phương ở hướng Đông, tướng Bùi Thế Lân và bộ Tư lệnh Sư đoàn TQLC đã mở tiếp cuộc hành quân tại khu vực duyên hải quận Hải Lăng. Lực lượng chính là 3 Tiểu đoàn 4,6,7 TQLC thống thuộc quyền điều động của Lữ đoàn 147 TQLC. Theo kế hoạch, ngày 23 tháng 5/1972, toàn bộ Tiểu đoàn 7/TQLC đã từ phòng tuyến Mỹ Chánh di chuyển bằng quân xa đi về phía Nam để đến bến Tàu Tân Mỹ, cách Huế 5km đường chim bay về hướng Đông, từ đó được chở hải vận ra Hạm đội 7 ở ngoài khơi để chuẩn bị cuộc đổ bộ bằng đường biển. Theo phân nhiệm, Tiểu đoàn này sẽ phụ trách tuyến ven biển, trong khi đó hai Tiểu đoàn 4 và 6 TQLC được trực thăng vận đổ vào vùng có địa danh chiến sử “Dãy phố buồn thiu”.

Đúng 7 giờ 30 ngày 24 tháng 5/1972, cuộc hành quân khai diễn. Mở đầu, các pháo đội pháo binh, hải pháo và phi tuần không quân chiến thuật đã oanh kích với hỏa lực tối đa vào các mục tiêu tại các bãi đổ bộ, trong khi đoàn tàu chở Tiểu đoàn 7 TQLC còn cách bờ 3 cây số. Cùng thời gian này, hai Tiểu đoàn 4 và 6 TQLC và các phi đoàn trực thăng Hoa Kỳ đã sẵn sàng tại bãi bốc chuẩn bị nhập trận sau đó. Để dọn sạch các chướng ngại vật và triệt hạ hỏa lực phòng không của Cộng quân quanh các khu vực đổ quân của TQLC, theo sự điều hướng của Ủy ban liên bộ Tham mưu Sư đoàn TQLC và Hạm đội 7 đặt trên chiến hạm chỉ huy USS Blue Ridge, phi vụ B-52 bay tới trải những thảm lửa xuống các bãi đáp, lúc đó đoàn tàu đổ bộ còn cách bờ chưa đến 2 km.

Khi B-52 vừa chấm dứt đợt oanh tạc, hai đợt tàu đổ bộ, mỗi đợt 40 chiếc cập bãi đổ Tiểu đoàn 7 TQLC lên các bãi ấn định. Vừa đặt chân lên bờ, các Cọp Biển xung phong tiến chiếm các đồi cát cao, nhanh chóng tấn công các mục tiêu. Cộng quân bị tấn công bất ngờ nhưng vẫn cố bám giữ các công sự tác chiến chính để cầm chân tiểu đoàn 7 TQLC, kịch chiến đã diễn ra quanh các đồi cát khi các trung đội TQLC tràn lên tiến chiếm các cao địa. Với lối đánh tốc chiến, hơn 1 giờ sau, Tiểu đoàn 7 TQLC đã làm chủ trận địa, đánh bật CQ ra khỏi vùng đồi cát ở phía Đông khu vực hành quân, hạ sát tại chỗ hơn 50 CQ, bắt sống 10 tù binh.

Cùng lúc đó, Tiểu đoàn 4 và 6 TQLC được trực thăng vận xuống khu vực giao điểm của hai hương lộ 555 và 602, một địa danh đã đi vào chiến sử với cái tên gọi “Dãy phố buồn thiu”. Tại đây, trong thời gian từ 1965 đến 1972 đã xảy nhiều trận giao tranh ác liệt giữa lực lượng VNCH, đồng minh và các đại đơn vị CSBV. Trước tháng 7 năm 1954, tại địa danh chiến sử này đã xảy ra trận chiến kéo dài hơn 1 tuần lễ giữa lực lượng Nhảy Dù Pháp và trung đoàn 95 Việt Minh (CSVN).

Trở lại với cuộc đổ quân ngày 24 tháng 5/1972, ngay khi vào vùng hành quân, TQLC đã đụng độ ngay với 1 đơn vị của trung đoàn 18 thuộc sư đoàn 325 CSBV, mà thành phần chủ lực đã rút trước đó. Do Cộng quân đã chiếm giữ khu vực này hơn một tháng nên đã tổ chức được hệ thống phòng sự kiên cố với các cụm giao thông hào liên hòa và các chốt chận đặt ở những vị trí yết hầu.

Để triệt hạ được các cụm kháng cự của địch quân, các đại đội Thủy quân Lục chiến đã phải di chuyển và lưu động chiến, rồi tấn công bất ngờ theo mô thức dương Đông kích Tây. Đến ngày 30 tháng 5/1972, Thủy quân Lục chiến đã làm chủ nhiều vị trí trọng yếu tại khu vực giao điểm nói trên. Cuộc hành quân Sóng Thần 6-72 chấm dứt ngày 31/5/1972 sau khi 3 Tiểu đoàn 4, 6 và 7 TQLC trở lại phòng thủ tuyến Mỹ Chánh.

* Cuộc đổ bộ ngày 6 tháng 6

Trong chiến sử của Sư đoàn Thủy quân Lục chiến VNCH, ngày 6 tháng 6/1972 đã trở thành ngày lịch sử khi 4 Tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến vượt sông Mỹ Chánh để mở đầu cho một cuộc hành quân quy mô tái chiếm Quảng Trị.

Mục tiêu đầu tiên của kế hoạch tái chiếm Quảng Trị do bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 vạch ra là các lực lượng VNCH phải kiểm soát được khu vực phía Bắc sông Mỹ Chánh cách bờ Nam sông Mỹ Chánh ít nhất là 5 km. Để thực hiện giai đoạn này, trung tướng Ngô Quang Trưởng đã giao trọng trách cho Sư đoàn Thủy quân Lục chiến làm lực lượng tiên phong. Khai triển kế hoạch của Quân đoàn 1, chuẩn tướng Bùi Thế Lân đã cho tổ chức cuộc hành quân vượt sông Mỹ Chánh. Ngày 6 tháng 6/1972, 4 Tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến đã mở đầu cuộc hành quân Sóng Thần 8-72 bằng cuộc vượt sông Mỹ Chánh dưới sự yểm trợ của Không quân Việt Mỹ và pháo binh.

Từ rạng sáng ngày 6 tháng 6/1972, oanh tạc cơ của Không quân Việt Mỹ đã dội bom vào các vị trí bắc Mỹ Chánh mà Thủy quân Lục chiến sẽ tiến đánh, sau đó Pháo binh VNCH đã bắn dồn dập vào các khu vực có dấu hiệu là Cộng quân đang trú đóng. Sau đợt oanh tạc của Không quân và đợt pháo dọn đường của Pháo binh VNCH, 4 Tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến đồng loạt tiến quân vượt sông Mỹ Chánh. Qua khỏi tuyến xuất phát, các đơn vị tiên phong đã đụng độ các toán tiền tiêu của Cộng quân.

Giao tranh diễn ra quyết liệt. Các đại đội Thủy quân Lục chiến đi đầu đã tràn lên chiếm các vị trí trọng điểm để làm đầu cầu cho toàn đơn vị tiến lên. Gần trưa ngày 6/6/1972, cuộc tiến quân của Thủy quân Lục chiến đã gặp sự kháng cự mạnh của các trung đoàn Cộng quân, nhất là cánh quân tiến theo trục hương lộ 555 về phía Đông của Mỹ Chánh, thuộc địa phận quận Hải Lăng. Theo kế hoạch, tiến sau Thủy quân Lục chiến là các đơn vị Công binh, có nhiệm vụ thiết lập và sửa chữa cầu cống, để các chiến xa của các chi đoàn Thiết giáp tiến lên yểm trợ. Đến 18 giờ chiều ngày 6 tháng 6/1972, các cánh quân TQLC đã chiếm được các mục tiêu trọng điểm của cuộc hành quân.

Vương Hồng Anh
---------------------------

Tướng Bùi Thế Lân Được Trao Huy Chương Legion Of Merit

WASHINGTON -- Cựu Tướng Bùi Thế Lân vừa được Tổng Thống Hoa Kỳ trao tặng Huân Chương Legion of Merit (Degree of Commander) qua một văn bản ký bởi Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert M. Gates.

Bản văn viết bằng Anh ngữ, ghi là trao tặng huân chương này cho:
“Chuẩn Tướng Bùi Thế Lân, Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam,

Do tài lãnh đạo được đặc biệt ca ngợi trong khi thi hành xuất sắc nhiệm vụ từ ngày 30 tháng 3-1972 đến ngày 16 tháng 9 năm 1972 khi liên tục đảm trách chức vụ Tư Lệnh Phó và kế tiếp là Tư Lệnh TQLC Việt Nam.

Thời gian này mang tính cách quyết định cho cuộc chiến đấu mất còn của VNCH, gây ra bởi các cuộc tiến chiếm ồ ạt của nhiều sư đoàn chính quy quân đội Bắc Việt tràn qua khu phi quân sự, Chuẩn Tướng Lân đã giữ vai trò chủ yếu trong những chiến thắng vẻ vang của TQLC/VN mà đỉnh cao là giải phóng hoàn toàn thị xã Quảng Trị.

Nhờ tài chỉ huy lỗi lạc, kinh nghiệm chiến trường và lòng dũng cảm vượt bậc khi đối đầu với một địch quân thiện chiến, Chuẩn Tướng Lân đã tạo cho toaà thể quân sĩ TQLC thêm những cố gắng quả cảm trong nỗ lực đầy hào hùng và chiến thắng được một kẻ thù kiên cường.

Thành tích gương mẫu của ông đã tạo đươc danh tiếng cho cá nhân ông, cũng như cho toàn thể Quân Lực VNCH.

Huân chương naỳ đính kèm Biểu Chương Chiến Công Xuất Sắc.
Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng

Robert M. Gates

Ấn Ký”


ÔNG ĐẠI SỨ ... ZIỆT CỘNG - Lê Phàm Nhân

Lê Phàm Nhân

(Trích đăng từ Nguyệt San Con Ong Việt số 102 tháng 3,2009)

Cuộc tranh cử tại Hoa kỳ năm 2008 đã trôi qua, kết quả đang mang lại rất nhiều thay đổi trong mọi lãnh vực sinh hoạt tại nội địa Mỹ, và đồng thời cũng ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều quốc gia khác trên toàn cầu.

Cử tri da mầu, hậu duệ của những người gốc Phi châu đến tây bán cầu này khoảng trên dưới ba trăm năm về trước, hoan hỉ chào mừng chiến thắng chính trị, vì đã dồn phiếu đẩy được một ứng viên gốc Phi vào tòa nhà trắng: ông Barack Hussein Obama. Cộng đồng người Việt Nam chối bỏ cộng sản, đến định cư tại Hoa Kỳ trong vòng mới ba mươi năm trở lại đây, cũng mừng vui vì lần đầu tiên có được một em cháu thuộc “thế hệ tị nạn 2” vừa đắc cử vào Hạ Nghị Viện Quốc Hội Liên Bang Hoa Kỳ tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn: Dân Biểu Joseph Cao, đơn vị 2 Louisiana.

Cho đến nay, Tổng Thống Barack Hussein Obama vừa nhậm chức được hơn một tháng. Và Dân Biểu Joseph Cao cũng đang làm việc khóa đầu tiên, tại Hạ Viện trên Capitol Hill. Để tìm hiểu rõ hơn về đường lối và chủ trương hoạt động của hai tên tuổi này tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, phải kiên nhẫn theo dõi lâu hơn tí nữa, để ghi nhận những triển khai rõ ràng cụ thể hơn. Trong giai đoạn tiên khởi này, giới quan sát thời cuộc cũng chỉ ghi nhận được công việc đầu tay của mỗi nhân vật vừa nêu trên. Quyết định đầu tiên của Barack Obama, là ký sắc lệnh đóng cửa căn cứ Gitmo (Guantanamo Bay) trong vòng một năm. Chuyện này không đơn giản, chưa chi đã hứa hẹn nhiều lẩm cẩm

nhiêu khê. Chúng tôi sẽ trở lại câu chuyện Gitmo này hầu quý vị sau.

Được báo chí tiếp xúc ngay sau khi tuyên thệ nhậm chức, Dân biểu Mỹ gốc Việt Nam Joseph Cao đã nói lên mối ưu tư hàng đầu của ông ta, đó là việc vi phạm nhân quyền trầm trọng của nhà cầm quyền cộng sản tại nội địa Việt Nam. Và ông Joseph Cao cho biết, sẽ thúc đẩy việc đề nghị Hạ Viện Hoa Kỳ đưa tên nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tức Việt cộng, trở lại danh sách các quốc gia cần được đặc biệt quan tâm (CPC – Countries of Particular Concern) của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.

Nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam bị cho tên vào danh sách các “Countries of Particular Concern” năm 2004, vì các vi phạm nhân quyền trầm trọng và liên tục. Để chạy chọt được vào làm thành viên của Tổ chức Mậu dịch Thế Giới “World Trade Organization” (WTO), Hà Nội đã làm một vài hành động tiểu xảo, cho giới quan sát quốc tế thấy như là họ đang thực tâm cố gắng cải thiện sinh hoạt dân chủ, như là họ đang cố gắng tôn trọng nhân quyền tại Việt Nam. Họ cho thăm viếng tù nhân chính trị, họ thả một vài nhân vật có tên trong danh sách do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ yêu cầu v.v... Do đó, tháng 11 năm 2006, Việt cộng được rút tên ra khỏi danh sách các nước bất hảo này.

Nhưng liền ngay sau khi được vào làm thành viên của Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới WTO rồi, thì Việt cộng vẫn thói nào tật đó. Nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội lại lập tức trở về với thói rừng rú cũ, đàn áp, bắt bớ, giam cầm ... Điển hình nhất, là việc công khai cho công an bịt mồm Linh Mục Nguyễn Văn Lý trước tòa án Thừa Thiên, mà tin tức hình ảnh đã nhanh chóng loan truyền đi khắp đó đây ... Do đó, năm 2007, nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam lại bị đề nghị cho tên trở vào lại danh sách các xứ cô hồn. Việc làm đầu tiên của Dân Biểu Joseph Cao, là thúc đẩy tiến trình nhốt Việt cộng trở lại trong “cũi” CPC.

Dân Biểu Joseph Cao, tức Cao Quang Ánh, năm nay 41 tuổi, là người con thứ năm trong tám người con của một gia đình người Việt Nam, đã cùng với mẹ chạy bỏ cộng sản, đến định cư tại Texas Hoa Kỳ năm 1975, khi Ánh vừa mới lên 8. Thân phụ Cao Quang Ánh là một sĩ quan trong Quân Lực miền Nam Việt Nam, đã bị Việt cộng đưa ra Bắc Việt cầm tù. Cao Quang Ánh mở mắt chào đời năm 1967 tại Saigon, Hòn Ngọc Viễn Đông một thời, bây giờ đang ... tạm thời mắc nạn! Mắc nạn, vì đang bị bọn cầm quyền phi văn hóa bắt Saigon phải thay tên. Tên của một quốc tặc, một tội đồ thiên thu của lịch sử nòi giống Việt. Tên của một việt gian bán nước. Tên của một đứa gian dâm vô đạo, bịp bợm tham tàn. Mạn phép mở một dấu ngoặc, về câu chuyện thành phố thay tên, thành phố chôn nhau cắt rốn của chàng trai trẻ Joseph Cao Quang Ánh.

Gọi Hồ Chí Minh là tên Việt gian bán nước, trước đây còn có kẻ tranh cãi. Nhưng sau 30 năm lịch sử phơi bày, những chuyện giải mật ở bên Mỹ, bên Tầu, đã cho thấy rõ ràng là Hồ Chí Minh và bè lũ đã bán nước từ khi chúng chưa là chủ nhân ông của cơ đồ. Vì cuồng vọng quyền hành, chúng đã quỳ gối lạy lục Nga Tầu, ngầm ký kết để vay mượn quân lương, vũ khí đạn dược, nhiên liệu tiền nong, hầu đẩy mạnh việc thôn tính miền nam nước Việt. Và khi đã cưỡng chiếm được trọn dải đất hình chữ S rồi, bây giờ chúng đang trả nợ quan thầy. Công khai trả nợ bán nước, trước mắt thế giới, không dấu diếm. Trả nợ bằng đất nước Việt Nam, trả nợ bằng nhân dân Việt Nam. Trả nợ bằng đất Bản Dốc, đất Cao Bằng, đất Thục Lãm. Trả nợ bằng nước Hoàng Sa, nước Trường Sa, nước Cửu Long. Trả nợ bằng cách đưa nhiều trăm ngàn lao nô đi khắp Nga và đông âu, trả nợ bằng cách “xuất cảng” phụ nữ Việt ra quốc ngoại ... Với “thành tích” vô tiền khoáng hậu này, Hồ Chí Minh và bè lũ là những tên tội đồ thiên thu trong lịch sử nhiều nghìn năm dựng nước của dân tộc Việt.

Tên Saigon đã có trong địa dư nước Việt từ lâu. Địa danh Saigon đã nổi trôi, thăng trầm cùng với vận mệnh nước nhà trong nhiều thế kỷ lịch sử cận đại. Tên gọi Saigon, hay là tên của bất cứ phố thị nào khác, tự nó không thân không sơ gì với bất cứ phe phái đối nghịch chính trị nào. Tên gọi Saigon, tự nó chỉ là nhân chứng lịch sử. Bắt Saigon phải thay tên, dù có là tên gì, tên ai đi chăng nữa, chỉ có thể là việc làm của một lũ đầu óc hẹp hòi nhỏ mọn, thiển cận, dốt nát, phi văn hóa.

Hãy thử cùng quay ngược lại đoạn phim lịch sử của thế giới trong thế kỷ thứ 20 vừa qua. Trong tiền bán thế kỷ thứ 20, thế lực bạo tàn nhất là Đức Quốc Xã và Quân phiệt Nhật. Và trong hậu bán thế kỷ thứ 20, khối chính trị sắt máu bạo ngược nhất, là Liên Bang Sô Viết. Với những kho vũ khí hạt nhân đầy ắp, thế giới nghẹt thở từ sau thế chiến thứ hai cho đến cuối thập niên 1980. Tiền đồn của khối quân sự Varsovie ở đông Bá Linh bị rạn nứt năm 1989, làm sụp đổ Đông Đức, khiến cơn thác lũ lan tràn khắp đông âu, kéo theo sự tan rã nhanh chóng của khối Liên Bang Sô Viết khổng lồ năm 1991.

Nếu những lãnh tụ sừng sỏ của điện Cẩm Linh như Nikita Krushchev hay Leonid Breznev có thể “ngửi thấy” trước được “thiên cơ” tan rã đó, chắc chắn một trong hai ngài lựu đạn sét này đã phải nhả Đông Dương ra, để quay về tử thủ cửa ngõ đông Bá Linh và hành lang đông âu bằng mọi giá. Và thế cờ đã xoay chuyển về hướng khác: chính cộng sản Bắc Việt đã bị cạn nhiên liệu đạn dược tiếp vận, rốt cuộc đã rơi vào tay các đơn vị tinh nhuệ của Quân Lực Miền Nam. Từ Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, cho đến Bùi Tín đều đã được Quân cảnh hộ tống về quân lao Gò Vấp. Và những Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm văn Đồng, Lê đức Thọ ... cũng đã được Cảnh sát Dã chiến cho xộ khám Chí Hòa, chờ ngày ra trước vành móng ngựa để được xét xử tội phạm chiến tranh, chứ không có chuyện đày ải đi rừng thiêng nước độc, như kiểu cu li cu leo của việt cộng. Riêng Hà Nội, vẫn là đất Hà Thành nghìn năm văn vật của Việt Nam. Không thể có chuyện ngu xuẩn, là bắt thành Thăng Long phải bỏ đi cái tên lịch sử của nó, để thay vào bằng tên cúng cơm của một ông Tổng Thống hay Tướng Tá nào của Miền Nam Việt Nam. Nói đến non nước Việt, người ta nhắc đến Hà Nội, Huế và Saigon, chứ không ai ăn nói quái đản ngược ngạo là Hà Nội, Huế và thành phố ... già mắc dịch!

Nhiều người thở than rằng, dù biết vậy, nhưng ván đã đóng hòm rồi, biết chừng nào mới gỡ ra được. Chúng tôi không tin như vậy. Từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, lịch sử loài người đã minh chứng rằng, điều gì gượng ép, ngược ngạo, không thật, điều đó sẽ không thể trường tồn. Sihanoukville đã trở về với cái tên cúng cơm Kompong Som. Thế “mạnh” của mũi AK đàn áp nhân dân tại Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, so với thế mạnh của Liên Bang Sô Viết ngày trước, như thế nào? Vậy mà Stalingrad và Leningrad cũng đã tan biến theo mây khói phù du của thế sự. Chuyện trả lại tên cho Saigon, nơi Joseph Cao mở mắt chào đời, chỉ là chuyện thời gian. Địa danh Saigon chỉ đang tạm thời ... mắc nạn.

Chinh chiến điêu linh đẩy đưa trôi dạt đến Texas, cậu bé 8 tuổi Cao Quang Ánh học 4 năm tiểu học, rồi sau đó đỗ trung học tại Jersey Village High School, Houston. Năm 1990, Cao Ánh đỗ Cử nhân Vật Lý tại Baylor University, Waco, Texas. Năm 1995, lấy được bằng Cao Học Triết tại Fordham University ở New York. Trong thời gian theo học tại vùng đông bắc Hoa Kỳ, Cao Ánh tình nguyện vào làm việc cho tổ chức Boat People S.O.S., Inc. (BPSOS), tích cực giúp đỡ giải quyết hồ sơ của các trường hợp vượt biển tìm tự do còn chưa ngả ngũ rải rác tại nhiều trại khắp đông nam á.

Năm 1997, Cao Ánh trở về New Orleans dạy học, và năm 2000, lấy được bằng Tiến Sĩ Luật Khoa tại Loyola University. Ngày 28 tháng 8 năm 2005, Joseph Cao và gia đình (vợ Kathy Hoàng và hai con gái Sophia và Betsy) đã chạy đi lánh nạn, vì bão Kathrina tàn phá nặng nề vùng New Orleans tiểu bang Louisiana. Tháng 9 năm đó, Joseph Cao đã trở lại New Orleans, quyết định ở lại để vừa nỗ lực xây dựng lại nhà cửa và văn phòng của gia đình mình, vừa tích cực hoạt động xã hội, để giúp xây dựng lại cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản tại đây. Năm 2006, Thống đốc Louisiana Bobby Jindal, thuộc đảng Cộng Hòa, đã mời Joseph Cao Ánh vào Ủy Ban Bầu Cử hạt New Orleans. Tháng 11 năm 2008, Joseph Cao Ánh đắc cử vào Hạ Viện trong Quốc Hội Liên Bang Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Đốn, đánh bại một Dân Biểu đương nhiệm thuộc đảng Dân Chủ, đã ngồi ghế này liên tục suốt 9 nhiệm kỳ tại đơn vị 2 New Orleans Louisiana.

Với tiểu sử và thân thế như vừa tóm lược trên đây, Joseph Cao Ánh và gia đình, rất thông thạo am tường về thảm trạng cộng sản, bởi chính họ đã từng là nạn nhân của những hành động man ri của lũ người rừng về thành tại Việt Nam. Cho nên, không ai lấy làm lạ về ưu tư số một của Dân Biểu Joseph Cao: chuyện vi phạm nhân quyền trầm trọng của nhà cầm quyền việt cộng trên đất Việt. Không ai lấy làm lạ về đề nghị đầu tiên của Dân Biểu Joseph Cao: đưa tên nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa trở vào danh sách các nước cần được đặc biệt quan tâm CPC. Chỉ trừ có một người. Một người Việt duy nhất tại Hoa Kỳ. Một người, mà anh bạn tôi ở Virginia khi điện thoại cho tin, đã gọi là ông ... đại sứ ziệt cộng. Lê công Phụng, đại sứ của cộng sản Hà Nội tại Mỹ. Ông này rất bất bình về chuyện Dân Biểu Joseph Cao. Và ông đại sứ ziệt cộng giận quá, nên ông đại sứ ziệt cộng mất khôn, hiện nguyên hình.

Được đài BBC phỏng vấn về chuyện Dân Biểu Joseph Cao, Đại sứ Cộng sản Hà nội Lê Công Phụng đã trả lời như sau: “Chắc có nhiều người mừng khi ông Joseph Cao trở thành nghị sĩ người Việt đầu tiên. Chúng tôi chưa tiếp xúc với ông ấy, cũng chưa phê phán. Nhưng tôi nghĩ thế này, đến ông Obama làm đến tổng thống thì ông ấy vẫn là người gốc Kenya. Bà con người Việt ở đây muốn làm đến tổng thống, thủ tướng, thì vẫn là người Việt. Mà lại đi nói xấu Việt Nam, người nghe cũng cảm thấy mình không đứng đắn lắm ...” !!!

Lời lẽ bình dân giáo dục, lỉnh ka lỉnh kỉnh, câu sau ... chửi cha vế trước. Vì vừa nói chưa tiếp xúc, chưa phê phán, nhưng rồi lại phạng ngay. Chuyện một người làm chính trị ưu tư về tình trạng vi phạm nhân quyền tại cố quốc, được ông đại sứ ziệt cộng gọi là ... đi nói xấu Việt Nam, và như vậy là không đứng đắn! Nghe cứ như là chuyện mari sến đôi chối ngoài máy nước công cộng!

Ông đại sứ ziệt cộng còn nghêu ngao tiếp về chuyện đồng bào: “Chúng tôi mong muốn tất cả những người Việt có gì thì góp ý thẳng thắn với đồng bào trong nước, có gì chỉ trích thì cứ chỉ trích, nhưng không nên chống lại đồng bào mình”! Dân Biểu Joseph Cao chống ai? Người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại chống ai? Vạch mặt chỉ tên, kể tội lũ thiểu số ác ôn đang ngồi trên đầu trên cổ đồng bào Việt Nam, đang bạo ngược cai trị đồng bào, đang bán rẻ đất nước và nhân dân cho tầu cộng, là chống lại đồng bào của mình?

Nếu nói theo chính chữ nghĩa của việt cộng, thì lập luận của ông đại sứ chỉ lòng vòng “tranh thủ” cù nhầy, hạ cấp, chỉ sặc mùi “tuyên truyền phản động”, chống lại hơn ba triệu người Việt Nam tự do tị nạn cộng sản đang sống khắp nơi ở hải ngoại. Và nham nhở ở chỗ là, bọn cán ngố cứ tự đồng hóa chúng với đất nước Việt Nam, với đồng bào Việt Nam. Tại các quốc gia có quá trình sinh hoạt dân chủ lâu đời, nhóm cầm quyền được định nghĩa là những công bộc được chọn lựa để phục vụ quốc gia và đồng bào. Trong khi đó, cộng sản Việt Nam tự cho chúng là tổ quốc, chúng là đồng bào. Lên tiếng về những tệ trạng đang xảy ra ở Việt Nam, dưới sự cai trị của việt cộng, tức là đi nói xấu Việt Nam, tức là đi chống lại đồng bào! Quan niệm từ trong cội nguồn đã như vầy, thì chừng nào lũ cầm quyền hiện nay mới “thực thi dân chủ”?

Lê công Phụng đang là đại sứ toàn quyền của Việt cộng tại Hoa Kỳ. Nơi đây, người dân chỉ trích đường lối của các ông George Bush, ông Barack Obama hằng ngày, họ có bao giờ bị ai tố cáo là nói xấu nước Mỹ, hay chống đối dân Mỹ hay chưa? Vậy Lê công Phụng là ai, đang sống ở thế giới nào đây? Hãy nhìn vào tiểu sử của Lê Công Phụng, đã được chính tòa đại sứ Việt cộng ở Hoa thịnh Đốn trau chuốt, đánh bóng và trình làng. Phụng sinh ngày 20 tháng 2 năm 1948 tại Thanh Hóa, một vợ hai con, được chủ tịch nhà nước Nguyễn Minh Triết bổ nhậm làm đại sứ toàn quyền cho nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa tại Hoa Thịnh Đốn Hoa Kỳ tháng 10 năm 2007. Không hề thấy nói Phụng học trường tiểu học, trung học hay đại học nào. Chỉ thấy ghi rằng Phụng tốt nghiệp lớp ngoại giao năm 1971 tại Bộ Ngoại vụ cộng sản tại Hà nội. Thời bấy giờ, tất cả thanh niên trai trẻ ngoài bắc đều phải trình diện thi hành nghĩa vụ quân sự. Phải tình nguyện lên đuờng “đi B”. Nếu không xung phong tình nguyện lên đường sinh bắc tử nam, thì gia đình bị cúp hộ khẩu v.v... và v.v. ... Năm 1971, chàng trai tuổi vừa ngoài đôi mươi Lê Công Phụng là ai, lại được miễn “đi B”, mà còn được tuyển chọn vào học “lớp ngoại giao”?. Hồ Chí Minh vừa về chầu Diêm Vương năm 1969, Lê Duẩn lên thay. Lê công Phụng là con rơi của Lê Duẩn, hay cháu rớt của Lê đức Thọ? “Giáo sư” nào dạy “ngoại giao”?. Dạy ngoại giao kiểu gì?.

Năm 1971, Võ Nguyên Giáp vừa cho nướng xong toàn bộ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vào hai trận “tiến công” Mậu Thân 1 và 2. Năm 1971, Henry Kissinger sang thăm Cấm Thành, nghéo tay với Chu Ân Lai, rồi bay sang Paris, bắt tay cười toe toét với Lê Đức Thọ, bật đèn xanh cho các đơn vị chính quy cộng sản Bắc Việt ào ạt xâm nhập vào Nam, qua đèo Mụ Giạ. Năm 1971, Nguyễn Chí Thanh được Lê Duẩn phái vào Kratié Căm Bốt, điều động cục “R”, thay thế Mặt Trận Giải Phóng bằng các đơn vị chính quy Bắc Việt. Được Mỹ và Trung cộng cùng bật đèn xanh, năm 1971 đánh dấu thời điểm cao tột đỉnh của tiến trình chuẩn bị xâm lăng miền Nam. Con ông cháu cha Lê Công Phụng được tuyển chọn và nhồi sọ cho một mớ giáo điều đỏ của đảng cộng sản, trong bối cảnh hừng hực xâm lược này. Cho nên, đến vài chục năm sau, hễ mở mồm ra, là Phụng tự động đồng hóa nhóm thiểu số cầm quyền với tổ quốc, với đồng bào.

Bây giờ, nếu có mổ óc Lê Công Phụng ra mà giảo nghiệm, cũng không thể nào tìm thấy được một tế bào dân chủ, theo nghĩa mà nhân loại tiến bộ đã học hỏi được từ hai thế kỷ nay. Hậu quả của việc tuyển chọn, đào tạo và xử dụng nhân viên “ngoại giao” kiểu này là, sau hơn một phần ba thế kỷ trôi qua, lá cờ đỏ sao vàng vẫn không ngóc đầu nổi được dưới mắt Người Việt tự do, tại bất cứ nơi nào có ánh mặt trời, trên khắp hải ngoại bao la ...

Lê Phàm Nhân
Tháng 2/2009


CHUYỆN TỪ TRONG HỌ RA NGOÀI LÀNG - Phạm Đình Thừa

Phạm Đình Thừa -
(Trích đăng từ Nguyệt San Con Ong Việt số 102, tháng3,2009)





Họ đây là họ Cùi, danh từ mà một vị Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN) trìu mến gọi các sinh viên sĩ quan (SVSQ) đang thụ huấn. Danh từ “Cùi” khởi đi từ Khóa 16 Võ Bị và một cách bất thành văn, tiếng “cùi” đã trở thành ngôn ngữ truyền thống của trường cùng với các danh xưng Niên trưởng, Đàn Em. (Khác với Huynh trưởng và Niên đệ của Trường Võ Khoa Thủ Đức). Từ một thư sinh với mái tóc bồng “theo chiều gió”, bỗng một phút bị húi đi nhẵn bóng như các vị sư khổ hạnh, túi hành trang dân sự (trong đó chứa đầy dấu tích mộng mơ của tuổi mới lớn) đành gửi lại trước cổng trường. Nhìn nhau – đúng là một bọn cùi hủi! Với bên ngoài, danh từ khiêm tốn này có vẻ kỳ quặc để chỉ người SVSQ, nhưng với những ai xuất thân từ TVBQGVN, nó đã trở thành dấu yêu để gọi nhau khi gặp lại, để nhận diện nhau trên chiến địa, trong trại tù cộng sản. Bởi vì, danh từ ngắn gọn kia là biểu tượng của một kết tinh bất hoại cái lý tưởng đầu đời cưu mang từ trường Mẹ: LÝ TƯỞNG PHỤC VỤ QUỐC GIA và DÂN TỘC. Người SVSQ vẫn giữ vẹn cho đến lúc tàn hơi gục ngã (“Chí tuy còn mong tiến bước, nhưng sức không kham nổi đoạn đường”) và “Cùi”, một cách bất quy ước, đã trở thành họ thứ hai bên cạnh cái họ gia tộc. Khi kiếm cung, súng đạn không còn cầm tay, trong cảnh đời lưu vong tỵ nạn, những người cựu SVSQ/TVBQGVN đã cố gắng tìm đến với nhau, họp đoàn bảo vệ lý tưởng xưa, truyền thống cũ và một tổ chức được chào đời tại hải ngoại, Tổng Hội Cựu SVSQ/TVBQGVN. Đặc san Đa Hiệu (tờ báo từ trường Mẹ) được qui định như một cơ quan ngôn luận chính thức của tập thể cựu SVSQ/TVBQGVN.

Tôi cũng được hân hạnh mang họ “Cùi” (cùi hủi là đằng khác!) và vì vậy, hôm nay, viết bài này, một cách chính danh, với tên cúng cơm do cha mẹ đặt cho mà không dùng bút hiệu. Tôi muốn góp ý và đưa ra nhận xét, phán đoán cá nhân, bởi vì gần đây, dầu muốn hay không, chuyện trong họ Cùi đã được một số vị “ngoài làng” (tôi quen, tôi biết) đem ra làm phiền tôi không ít! Đó là chuyện đặc san Đa Hiệu số 85 Xuân Đinh Sửu. Câu hỏi:

- “Sao đặc san Đa Hiệu của trường cậu lại đăng bài ca tụng thằng Hồ Chí Minh?”.
Đầu tiên, tôi đã lên tiếng át giọng người hỏi:
- “Ông muốn chửi cha tôi thì ông cứ chửi nhưng xin đừng xuyên tạc, bạn già!”.
Một đám lao nhao:
- “Chắc ông không đọc báo trường ông hả? Cứ về lật Đa Hiệu số Xuân ra, trang ... thì biết ngay là tụi này có xuyên tạc, bôi bác hay không.”.

Quả vậy, từ lâu tôi ít đọc sách, đọc báo (nhất là báo Xuân), một phần vì nó quá dày, phần khác vì chuyện áo cơm chiếm một khoảng thời gian thật dài trong sinh hoạt hằng ngày. Mờ sáng ra đi, tối mịt trở về, trong công việc bán tim óc để nuôi xác thân. Có ai đó đã thơ thẩn:

- “Áo cơm tưởng nhẹ mà không nhẹ!”.

Đúng quá! nếu “nhẹ” thì đã không có kẻ bán cả thể xác lẫn linh hồn cho quỷ. May cho tôi, trời còn độ mạng Cùi nên tôi chỉ bán mớ kiến thức thu thập được lúc trẻ để kiếm cơm nuôi cái xác thân còm cõi chờ ngày lãnh sự vụ lệnh về trình diện Quân khu IX.
Cũng may, từ khi anh Đinh văn Nguyên Khóa 20 đảm nhận vai trò Tổng Hội Trưởng cho đến khi anh vĩnh viễn ra đi và sau này nữa, tôi nhận được đặc san Đa Hiệu (ĐH) có vẻ thường xuyên, có cả số ĐH 85. Trước khi dò tìm trang báo, tôi lật bìa trước, bìa sau để xem và những dòng chữ trên bìa sau quảng cáo cho chủ đề số kế tiếp 86 đã làm tôi thất vọng!

Bìa trước với những dòng chữ:

ĐA HIỆU
CƠ QUAN NGÔN LUẬN CỦA TỔNG HỘI CỰU SINH VIÊN SĨ QUAN TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM

Bìa sau, quảng cáo cho chủ đề số kế tiếp ĐH 86:
“Chủ Đề Đa Hiệu 86:
LÝ TƯỞNG TRƯỜNG VÕ BỊ ĐÀ LẠT
Đất trời đâu có chi còn mất
Đời lên lại mãi tựa bình minh”

Tên của trường đã tiền hậu bất nhất chỉ trong cái lật từ trước ra sau! Đành rằng dân chúng bên ngoài và ngay cả anh em cựu SVSQ đôi khi cũng nôm na gọi tên Trường VBQGVN là Trường Đà Lạt, nhưng lỗi lầm nhỏ nhặt này lẽ ra không nên phạm phải đối với một cơ quan ngôn luận có tầm vóc. Ngoài ra, Lý Tưởng là một tiêu đề quan trọng và tế nhị, hai câu thơ (hay văn?) đi kèm chẳng những không nói lên được cái lý tưởng truyền chuyển từ Khóa này đến Khóa khác mà có thể gây điều ngộ nhận không cần thiết.

Tôi bắt đầu lật từng trang báo dò tìm số trang ... Đây rồi, trang 48, bài viết mang tựa NHỮNG CHUYỆN DỐI TRÁ TRONG XÃ HỘI CỘNG SẢN (NCDTTXHCS) của tác giả Võ Biền K24. Bài viết dài 21 trang (từ trang 48 đến 68) với phần mở đầu nói lên “thiện ý” của tác giả, muốn độc giả có vài nụ cười đón Xuân, vì theo tác giả “Những vị đốc tơ trên thế giới ngày nay đều công nhận “Cười” là thang thuốc bổ không tốn tiền của loài người, nên để quý độc giả thiết thực giữ được sức khỏe dồi dào, Biền mỗ cũng xin nhân dịp đầu năm kể một vài câu chuyện khôi hài làm quà đầu năm.”. (Trích nguyên văn không thiếu một dấu phẩy, ĐH 85, trang 49, đoạn mở đầu, và xin không bình phẩm).

Chuyện chọc cười đầu tiên là trò dối trá ghép hình Kim Jung IL của bọn gia nô Bắc Hàn để chứng tỏ “ngài” lãnh tụ vẫn còn xí quách, được báo chí nước Anh phanh phui - Cũng xin được miễn bàn. Chuyện chọc cười thứ hai cũng là đầu mối tranh cãi và là vấn nạn cho chính tôi với câu hỏi của những người đã đặt ra. Hãy đọc phần mở màn cho “chuyện cười” thứ hai này do tác giả Võ Biền K24 viết ra, vì theo tôi, đây là căn nguyên cội nguồn của một âm mưu: đưa hình ảnh già Hồ với hào quang bao quanh hầu đánh lừa một số người nhẹ dạ, chưa hiểu rõ về cộng sản:

- “Mới đây nhà văn Nguyễn Đăng Mạnh tại Hà nội có viết một quyển hồi ký như nhà văn Nguyễn Khải. Có lẽ ông định bắt chước ông bạn văn Nguyễn Khải “để dành khi đến lúc ‘ra đi’ khỏi cái thiên đường xã hội chủ nghĩa” thì nhắn cho con cháu đưa ra cho người dân Việt có được tài liệu về cộng sản Việt Nam mà các “đồng chí” của ông đã giấu kỹ. Không hiểu sao bản thảo của quyển hồi ký này được đưa lên mạng và truyền đi khắp nơi khi ông vẫn còn sống nhăn răng trên cái “thiên đàng” này. Sợ đang sống ở “thiên đường giả” mà bỗng chốc “đi tàu bay suốt” về “địa ngục thật” khi ông liên tưởng đến những vụ thủ tiêu các nhà văn hay nhà viết kịch chống chế độ, ông bèn chối béng là có ai đó đã phổ biến những trang hồi ký này lên mạng internet mà không đợi ông “đi vào cõi thiên thu” trước đã.
Thế thì trong quyển hồi ký này ông đã nói lên những sự thật gì?

Ta hãy đọc một chương mà nhà văn Nguyễn Đăng Mạnh, một nhà văn sống gần ông Hồ khi còn sinh tiền, đã nói về cuộc đời thật của ông Hồ Chí Minh để so sánh với những lời tuyên truyền dối trá của đảng Cộng sản Việt Nam khi họ cố đưa lãnh tụ Hồ Chí Minh của đảng này lên hàng thánh sống.”. (Trích nguyên văn, cột 2 trang 52 đến cột đầu trang 53 – và cũng xin được miễn lạm bàn về cú pháp).

Không biết các chương khác của quyển hồi ký này thế nào, chứ một chương do Võ Biền K24 trích đăng, khi đọc xong, theo nhận xét của người viết bài này, Nguyễn Đăng Mạnh là loại văn nô ngoại hạng! Ngoại hạng vì trước (và có thể sau) Nguyễn Đăng Mạnh (NĐM) không có tài liệu nào của “đảng ta” đưa ra mà cường độ đánh bóng Hồ Chí Minh dữ dội bằng một chương được trích dẫn trong ĐH 85. Phải nói rằng NĐM đã phủ một vòng hào quang chói lọi quanh cuộc đời Hồ Chí Minh (HCM). Tôi không hiểu, Võ Biền lấy tài liệu ở đâu để cho rằng NĐM là “một nhà văn sống gần ông Hồ” vì đọc những dòng hồi ký được trích, tên này tự thú chỉ có hai lần “thấy” HCM. Lần đầu tiên tại Bắc Ninh, ở vai trò học sinh đứng làm cảnh từ xa, đón “bác”. Thế nhưng, “bác” chỉ “đứng lại một lát, liếc nhìn chung quanh một chút, mặt đầy cảnh giác, rồi ông đi rất nhanh vào phòng thông tin”. Thái độ và hành động này được NĐM biện hộ:

- “bác” chạy nhanh vì quá rét với nguồn tin Việt Nam Quốc Dân Đảng đang hoạt động mạnh trong vùng! (ĐH 85 trang 53). Lần thứ hai tại Vinh là cuộc nói chuyện với đồng bào của HCM và theo NĐM, mặc dầu “không hề tỏ ra là người hùng biện” và “nói chậm, ngắn, không lưu loát”, khi nói hớ hay có cử chỉ thô bỉ (tự giơ tay hoan hô chính mình) thì HCM mau chóng đánh trống lảng sang đề tài khác. Đây là sự đánh bóng tuyệt hảo để nói lên rằng cáo Hồ là người của quần chúng, không mầu mè, mê hoặc, đôi khi cũng nhầm lẫn một cách “đáng yêu!” Ngoài hai lần được “thấy” và kể lại, kỳ dư, tài liệu viết về Hồ đều tham khảo từ những tên cáo già như Hoàng văn Hoan, Lê Quang Ba, Diệp Minh Châu, Vũ Kỳ. Những tên này dầu có biết được sự thật về cuộc đời HCM chăng nữa, bố bảo cũng không dám hé răng, ngoại trừ những chuyện vinh danh “bác”. Thêm vào đó, tài liệu tham khảo của NĐM còn lấy từ Nhật Ký Trong Tù và Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện của chính tác giả HCM! Cái điêu ngoa của NĐM là trình bày lại một vài sự kiện tàn ác của Hồ như câu chuyện “chơi hoa rồi lại bẻ cành bán cho Trần Quốc Hoàn” mà cả làng, cả nước, cả thế giới đều biết như việc thủ tiêu Nông thị Xuân và 3 người em gái họ để chứng tỏ mình viết lên sự thật. Như vậy, cái gọi là hồi ký NĐM có phản ảnh trung thực cuộc đời HCM chăng? Nếu không vậy, việc đưa tập hồi ký NĐM lên mạng lưới toàn cầu là một âm mưu lừa đảo, một trò tiểu xảo xưa như trái đất mà những con cáo lão thành trong ngành tuyên vận cộng sản đem ra áp dụng với hy vọng đánh lừa người nhẹ dạ, ngây thơ. Số người này sẽ trở thành những chiếc loa thổi cho tập hồi ký được bay xa và lan rộng! Nếu nó thật sự phản ảnh về cuộc đời của con qủy họ Hồ với hai bàn tay vấy đầy máu đồng loại, thủ tiêu những nhà cách mạng chân chính, với những màn hiếp dâm thanh nữ thì NĐM dầu có “chối béng” (như Võ Biền cho biết) cũng không thể nào tránh khỏi tội “tru di tam tộc”. Bởi vì, chỉ dịch một bài viết nhân quyền mà phải lãnh án tù mục xác, thì việc đụng chạm đến “thần tượng” của “đảng ta”, xử tử vẫn được xem là còn quá nhẹ đối với người cộng sản Việt Nam!

Để kết thúc nhận xét về hồi ký NĐM, xin tóm lược một đoạn nói lên trò biện hộ lố lăng đối với thái độ dâm đãng của “bác”. Năm 1965, có hai nữ dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng đạt thành tích “xịt” máy bay Mỹ, được tuyên dương, Ngô Thị Tuyến và Nguyễn Thị Hằng. Theo NĐM, Nguyễn thị Hằng “là một cô gái quê mà rất trắng trẻo, cao ráo”, chính vì vậy mới được triệu ra Bắc. Và dĩ nhiên, vưu vật như vậy phải được đưa đi trình diện “bác” ngay. Khi gặp em, “bác” chẳng hỏi han gì về thành tích “xịt” máy bay Mỹ của dân quân Hằng mà “Câu đầu tiên của vị Chủ tịch nước là: “Cháu có buồn đi tiểu, bác chỉ chỗ cho mà đi.”. (Trích ĐH 85, trang 60). Đọc đến đây thì ai cũng thấy được cái bản chất dê xồm và già dịch của con quỷ dâm dục họ Hồ; thế nhưng, NĐM lại bào chữa và cho đó là thái độ chăm lo, săn sóc của “bác”:

- “Ông Hồ một mặt yêu nhân loại rộng lớn, mặt khác, quan tâm rất cụ thể thiết thực đến những con người cụ thể quanh mình.” (ĐH 85, trang 60).

Tôi thì không có cái nhận xét “siêu việt” đầy chất “đỉnh cao trí tuệ” này như NĐM nhưng nhìn sự việc trên bình diện thực tế. Đây là một tác động tâm-sinh-lý. Khi nhìn thấy mặt “bác”, cô dân quân Hằng lại cứ tưởng là máy bay “lên thẳng” của Mỹ nên có thể cô đã quá “cảm động” đến nỗi muốn “són” ra quần, định “xịt” ngay vào mặt “Chủ tịch nước”. Là người kinh nghiệm đầy mình trên hành trình “cách miệng”, bôn ba tìm của lạ, nhìn mặt em Hằng là “bác” biết ngay em đang ở giai đoạn nào! Vì vậy, mới gặp, “bác” đã vội vàng tình nguyện dẫn đường cho em vào nhà tiểu! Kinh nghiệm lâu ngày biến thành tập quán trên con đường “Chủ tịch nước” đi gieo tóc tang cho những mảnh đời trinh nữ Việt! Đội đít lãnh tụ “tầm cỡ” này thì Tố Hữu có đạp mồ sống lại cũng phải chào thua mà chết trở lại, sau khi thốt lên lời tự thán: Trời đã sinh Hữu sao còn sinh Mạnh!.

Tác giả Võ Biền K24 cũng có ý định so sánh sự dối trá tuyên truyền từ trước đến nay của tập đoàn cộng sản Việt Nam về cuộc đời thần tượng HCM của chúng với “sự thật” trong hồi ký NĐM. Tuy nhiên, sự so sánh này đã không xảy ra trong bài viết. Phải chăng sự dối trá của hồi ký NĐM đã chiếm quán quân, vượt trên tất cả mọi tài liệu dối trá mà đảng CSVN đang có và điều này đã khiến độc giả chúng ta không đọc được sự so sánh của tác giả Võ Biền? Công trình dàn dựng để đưa hồi ký NĐM ra khắp thế giới qua mạng lưới điện toán của hệ thống tuyên truyền CSVN đã thất bại ê chề. Đã không có một cơ quan truyền thông nào của người Việt hải ngoại mắc mưu cáo vì chưa có ai, chưa một tờ báo nào sao chép, trích lại và phổ biến - chỉ có tác giả Võ Biền K24 và Đa Hiệu 85, đáng buồn thay! Đúng như ngôn ngữ anh Võ Biền K24: chuyện cười... ra nước mắt (ĐH 85, đầu trang 52).

Trở lại cái vấn nạn cho cá nhân tôi về câu hỏi đặt ra của vài người tôi quen, tôi biết – xin được nói lên lời tạ lỗi vì thái độ thiếu cẩn trọng trong câu chuyện đối đáp ban đầu. Riêng trong nội bộ Võ Bị, hai anh Chủ nhiệm Đa Hiệu, anh Tổng Hội Phó đặc trách truyền thông, chắc chắn các anh đã đọc, đã thấy, và đã hiểu bài viết của tác giả Võ Biền K24 như cá nhân tôi, được trình bày ở phần trên. Các anh đã nhận lãnh trách nhiệm về việc “vi phạm một sai lầm lớn lao” và ngỏ lời từ nhiệm trong một điện thư phổ biến trên mạng lưới Tổng hội. Cũng trong điện thư này, tôi được biết ĐH 85 đã được chuyển đi rộng rãi đến cá nhân, đoàn thể, tổ chức bên ngoài Võ Bị. Tôi xin được nói lên lời hoan hô tinh thần trách nhiệm của quý anh. Tuy nhiên, với kinh nghiệm của vài năm ra đời trước các anh, tôi nhận thấy đoạn điện thư sau đây chẳng những không giải quyết được thực trạng gây phiền nhiễu trước mắt mà còn có thể tạo nhiều tranh cãi đưa đến lũng đoạn:

- “Việc tranh nhau từ nhiệm trong biến cố này hoàn toàn không phải vì lòng phục vụ Trường Mẹ của chúng tôi đã khô cạn, không phải vì thân xác, sức khoẻ chúng tôi đã mỏi mệt trước những chuỗi sinh hoạt dồn dập trong việc phục vụ cộng đồng người Việt hải ngoại, phục vụ Quê hương và Tổ Quốc Việt Nam, lại càng không phải chí vẫn còn nhưng lòng nản, trước những ngọn giáo vô tình đôi khi làm đau xót con tim những kẻ đang dấn thân làm việc cho tập thể, những ngọn giáo được phóng ra, không phải từ phía địch quân cộng sản mà từ một hướng vu vơ nào đó, đôi khi ngay chính trong nội bộ chúng ta.”. (Trích Điện thư vobivietnam@yahơgroups.com, Mimosa Dalat alphamimosa@...)



Tập cận chiến
Tân Sĩ Quan K 19

Một tác phẩm đưa ra trình làng là mặc nhiên trở thành nàng dâu trăm họ. Khen chê, bình phẩm là cái quyền của người đọc. Là cha đẻ của một đứa con tinh thần, dĩ nhiên, ai cũng đều mong ước đón nhận nhiều lời khen hơn tiếng chê, nhưng họ cũng hiểu được rằng không kỳ vọng gì bắt gặp được một vườn hoa lý tưởng đầy hoa Hồng ngát hương. Chỉ có một nơi tạo ra được khu vườn toàn một giống hoa đua nở – hoa cứt lợn. Nơi ấy là khu vườn văn hóa cộng sản. Anh đã phán xét đúng “không phải từ phía địch quân cộng sản”; bởi vì, sự phổ biến hồi ký NĐM từ tác giả Võ Biền K24 là điều mà CSVN mong ước, nhất là trên diễn đàn ngôn luận của tập thể cựu SVSQ/TVBQGVN. Chúng còn muốn gửi lời chân thành cám ơn đến các anh là đằng khác! Không có lửa thì chẳng bao giờ có khói. Không có chuyện trích đăng hồi ký NĐM thì sẽ không có phản ứng và nhận xét của độc giả trong và ngoài tập thể Võ Bị. Hướng xuất phát ý kiến và nhận xét là từ khối độc giả to lớn của qúy anh, của tờ Đa Hiệu chứ không phải như anh nêu lên “từ một hướng vu vơ nào đó, đôi khi ngay chính trong nội bộ chúng ta.”. Chẳng lẽ, độc giả Đa Hiệu, trong và ngoài tập thể, đều là một bọn vu vơ, trong đó có cá nhân tôi?! Một độc giả bên ngoài, ông Hoàng công Chính (HCC), đã gửi tới tờ báo Con Ong Việt một điện thư (vì không có địa chỉ điện thư của ĐH?) nói lên sự bất mãn của ông ta đối với hai bài viết trong ĐH 85, xin được trích đoạn:

- “Đa Hiệu 85, từ trang 53 đến trang 67, tác giả Võ Biền K24 đã trích đăng bài của một tên cán bộ CS, ca tụng Hồ chí Minh một cách khôn ngoan kín đáo và tế nhị.
Cũng trong số này, đặc san Đa Hiệu 85 đã trích đăng bài của Đào Hiếu, Cán Bộ CS, nói đến lý tưởng của một SQ xuất thân từ TVBQGVN Dalat “Trung úy SQ Ngụy nhưng ghét Mỹ vào đây (vào bưng)… và chỉ muốn làm một anh du kích.

Khi nói đến TH/CSVSQ/TVBQGVN, người ta thường kính nể, Vì nơi đây tập trung những SQ xuất sắc của QLVNCH, có lý tưởng quốc gia và tinh thần chống cộng tuyệt đối. Cả một tập thể VB, không còn nhân tài nào nữa hay sao? Chôm bài từ trên internet đem xuống “cơ quan ngôn luận” của TH/CSVSQ/TVBQGVN làm quan điểm và đường lối của mình.”.

Quả tình, nồng độ uất ức của ông HCC đã bốc lên quá cao trong lời văn. Tuy nhiên, cá nhân tôi xin cảm ơn những tình cảm ông dành cho tập thể cựu SVSQ/TVBQGVN được che dấu đằng sau sự uất hận trong trạng thái mất bình tĩnh. Chính vì vậy, mong rằng bài viết này đến tay ông để ông có thể chiết trung được một nhận định đứng đắn và trong sáng hơn về tập thể cựu SVSQ chúng tôi.

Tờ ĐH 85 cũng đã tạo ra hệ lụy kéo dài trên mạng lưới điện thư Tổng Hội. Ý kiến và nhận xét cá nhân của cựu SVSQ đưa ra, dĩ nhiên, không ai giống ai. Đồng ý, khuyến khích và bất đồng, chống đối đối với hai bài viết trên ĐH 85 đều có cả. Đây là một hình thức cần được khích lệ. Tuy nhiên, điều đáng phiền trách là anh Tổng Hội Phó đặc trách truyền thông và phần hành liên quan thiếu kiểm soát để một số điện thư, thay vì đưa ra ý kiến và nhận định xoay quanh nội dung các bài viết, lại đâm ra châm chọc, rồi cuối cùng đưa đến tranh cãi, chụp mũ ý kiến của nhau (ngay cả động chạm đến cá nhân) với những lời lẽ nặng mùi! Có một vị trẻ người, khóa nhỏ đã biến diễn đàn thành nơi “chửi mất gà” kéo dài với hàng chục điện thư vì một vài vị đàn anh, một độc giả bên ngoài không cùng quan điểm “bảo hoàng hơn vua” của mình! Một ông đàn anh khóa lớn lại đi quá đà đối với những ý kiến nêu lên ngược với suy nghĩ cá nhân mình (không bao che cho “lỗi lầm” -từ ngữ điện thư của anh Tổng Hội Trưởng):

- “Chuyện không đáng bận tâm mà làm cho to chuyện là phải suy nghĩ tại sao? Ai giựt dây? Có bàn tay CS nào trong này không?”.

- “Chúng ta là những người Cựu SVSQ của Trường Võ Bị Quốc Gia VN mà còn bị lôi cuốn vào trong các móc ngoặc của nghị quyết 36 thì làm sao tranh đấu cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền cho dân tộc VN chúng ta được?”.

Thật hùng tráng và đầy tính chất “chính trị”! Khi sự việc đã trở thành “chuyện” thì việc bận tâm hay không là do suy xét cá nhân. Ông niên trưởng này có thể cho đây là việc không đáng bận tâm nhưng với người khác, khi soi rọi vấn đề bằng kính chiếu yêu, họ thấy những khía cạnh khác hơn và họ có quyền đưa ra ý kiến, phê bình. Chẳng lẽ niên trưởng muốn biến mảnh đất Tổng Hội CSVSQ thành khu vườn chỉ rặc một loài hoa – hoa mõm chó?! Hơn thế nữa, chuyện đâu còn có đó, sao lại quá vội vàng chụp mũ cộng sản cho nhau?! Mạnh dạn đưa lên dấu hỏi này, bởi vì, thưa đàn anh, gần 34 năm lưu vong, kẻ viết bài này, đàn em của niên trưởng, chưa một lần trở lại quê hương để cúi đầu đi dưới bóng cờ máu mà chúng mình đã có lần thề hủy diệt. Cũng cám ơn đàn anh đã đụng chạm đến Nghị quyết 36 của CSVN. Không hiểu đàn anh có đọc nghị quyết này chưa để biết rằng “giao lưu văn hóa” là một ưu tiên hàng đầu của nghị quyết?. “Giao lưu văn hoá” theo “định hướng xã hội chủ nghĩa” là “xuất khẩu” tài liệu tuyên truyền ca tụng lãnh tụ và chế độ để cấy vào đầu óc trong veo của con cháu chúng ta; “xuất khẩu” đám văn nghệ sĩ gia nô ra nước ngoài hầu lung lạc tinh thần đấu tranh của quần chúng bằng lời ca, tiếng nhạc. Và tuyệt đối cấm nhặt sự giao lưu ngược chiều về trong nước! Xin hãy đặt trách nhiệm và tinh thần tự giác lên trên tình cảm cá nhân và liên hệ gia tộc để có một cái nhìn khách quan hơn, mong vậy thay!

Cũng xin được nêu lên vài ý kiến đối với bức điện thư của anh Đinh Tiến Đạo Khóa 24, Chủ bút đặc san Đa Hiệu, trần tình về các bài vở của ĐH 85. Theo tinh thần điện thư này thì công việc anh làm hoàn toàn đúng, không có gì sai trái, lầm lỗi như hai anh Tổng Hội Trưởng và Tổng Hội Phó đặc trách truyền thông đã thừa nhận. Đúng là thái độ “chưa thấy quan tài, chưa đổ lệ” (ngôn ngữ chuyện kiếm hiệp Tàu)!. Lý do viện dẫn: anh đã thi hành đúng mức chỉ thị của hai kỳ Đại hội CSVSQ 15 và 16 là phải có những “bài viết về chính trị để cùng người dân Việt trong và ngoài nước đấu tranh cho một nước Việt Nam Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền”.

Thú thật, tôi không hiểu được sự liên quan thế nào giữa việc đăng tải “những bài viết về chính trị” và việc “để cùng người dân Việt trong và ngoài nước đấu tranh cho một nước Việt nam Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền”. Nhưng thôi, xin đề cập đến điểm anh Đạo nêu lên: sở dĩ đăng “nguyên con” một chương hồi ký của NĐM là vì:

- “Thể hiện tinh thần ấy (Phải có những bài viết về chính trị -chú thích của người viết), ngay trong ĐH 79, chúng tôi đã trích dẫn bài “Vietnam Revisited: The Myths of the War” trong đó có một cuộc phỏng vấn của đài PBS vối hai tác giả Mỹ, một chê bai một khen ngợi QLVNCH mà không cắt xén những quan điểm chê bai QLVNCH của một trong hai tác giả trên để cho chúng ta có được một cái nhìn đúng đắn khi đọc được sự tranh luận của hai tác giả trên. Và ngay cả từ ĐH79, chúng tôi cũng đã cho xuất hiện những bài viết của những tác giả trong nước như: TKTT, PHS, DTH v.v... cho đến hết nhiệm kỳ mà không nhận một lời phàn nàn nào của các CSVSQ/TVBQGVN”.

- “Do đó theo quan điểm của tôi bài viết “Những Chuyện Dối Trá Trong Xã Hội CS của tác giả Võ Biền vẫn nằm trong đường hướng tôn trọng sự trung thực vẫn có từ những số Đa Hiệu trước. Ngoài ra, độc giả của Đa Hiệu là những CSVSQ hay thân hữu là những bậc trí giả có tầm hiểu biết cao và rộng và có lập trường quốc gia vững chắc nên độc giả của Đa Hiệu không phải là đối tượng để Đa Hiệu phải làm công việc “tuyên truyền” tức cắt xén những bài viết gửi đến và chỉ để lại những tin “có lợi” mà thôi. Theo tôi, làm điều đó (tức cắt xén – chú thích của người viết) là ĐH đã coi thường độc giả. Vả lại chính sự không “cắt xén” này sẽ đem đến những tin tức trong nước một cách trung thực theo lối nghĩ của một số bài viết của những tác giả sống dưới chế độ CS hầu độc giả của Đa Hiệu có một nhận xét chính xác về tình hình trong nước mà không rơi vào tình trạng “lạc quan tếu”.

Việc đăng tải cuộc phỏng vấn của PBS, bài vở của TKTT, PHS, DTH v.v... và ngay cả đoạn hồi ký của NĐM, trên phương diện hình thức đều giống nhau -TRÍCH ĐĂNG. Nhưng trên phương diện nội dung và quan điểm, sự khác biệt rất xa và rất sâu. Hai tác giả Mỹ trong cuộc phỏng vấn đã đưa ra hai cái nhìn, hai quan niệm khác nhau về chiến tranh Việt Nam, căn cứ vào diễn biến có thật. Như hai người cùng nhìn một bức họa Picasso, một người có thể khen đó là tuyệt tác, người thứ hai có thể cho đó là vẽ bậy, vẽ bạ. Những bài viết của TKTT, PHS đã vạch trần (sự thật) lối cai trị tàn ác, độc tài với mớ luật rừng của chế độ cộng sản trong nước. Tất cả thật khác xa với mớ giấy lộn được gọi là hồi ký NĐM mà nội dung chất chứa đầy rẫy những lời ca tụng tên tội đồ dân tộc HCM với những bằng chứng vay mượn, láo khoét, dối như vẹm, kèm theo một chuỗi biện hộ, tâng bốc trơ trẽn! Vì vậy mà độc giả đã không có phản ứng trước những bài vở trích đăng trong ĐH 79, nhưng ĐH 85 với hai bài trích đăng thì thật khác xa. Không biết anh Đạo có thấy được cái kích thước khác biệt này không nhỉ?.

“Nhân vô thập toàn”, ông bà ta dạy vậy. Có lỗi biết nhận lỗi, không cãi chày, cãi cối là điều đáng quý, là thái độ tự trọng. Còn nếu chưa thấy được lầm lỗi của chính mình thì có thể tham khảo ý kiến những người có nhiều kinh nghiệm hơn, trước khi đưa ra lời biện minh.

Tội quá! Đâu có ai bắt ép anh phải cắt xén bài vở gửi đến để trở thành người thiếu vô tư. Anh đã đưa độc giả chúng tôi lên tận mây xanh “có tầm hiểu biết cao” và rồi cho chúng tôi đo ván một cách đường đột trong cùng một đoạn thư, “hầu độc giả ĐH không rơi vào tình trạng lạc quan tếu”! Điều muốn nói và đã nói ở đây là anh đưa lên một đoạn hồi ký chất chứa toàn dối trá, gian manh, xảo quyệt mà anh cứ cho là “sự thật”! Là người cầm bút, chẳng những chỉ đọc tựa bài mà còn phải đọc kỹ giữa hai dòng chữ. Ông bà ta thường răn, “bút sa, gà chết”. Dĩ nhiên chết một con gà thì không nhằm nhò gì ở xứ này, tuy nhiên “bút sa” đưa đến tình trạng “chết trong lòng một ít” mới là điều đáng nói. Tôi cũng không nghĩ là anh Đạo có ý định làm truyền thông “hai chiều ly biệt” như ông Vũ Bình Nghi tại Bắc Cali và tờ Người Việt tại Nam Cali. Mong là một hôm nào đó anh thức ngộ được những giòng chữ đơn sơ này.

Bài viết này tôi sẽ gửi đến tờ báo của một vị đàn em để phổ biến, vì đó là nơi xuất phát ý kiến một bạn đọc về Đa Hiệu 85. Rồi theo số phận của nàng dâu trăm họ, tôi biết, cũng sẽ phát sinh tiếng bấc, tiếng chì, sẽ có lời khen, tiếng chê, khuyến khích hoặc than phiền. Cũng sẽ có phản ứng từ một vài vị trong tập thể “Cùi”: nhẹ nhàng thì trách phiền, khuyến cáo, nặng nề hơn -chửi bới, nguyền rủa- với luận điểm, “tại sao vạch áo cho người xem lưng?”! Tôi rất ghét câu nói “vạch áo cho người xem lưng” vì đó là quái thai ngôn ngữ của những đầu óc nô lệ, phong kiến -những tên Đốc Phủ Sứ thời Tây thuộc. Hành vi “Phủ bênh phủ, huyện bệnh huyện” một thời đã làm cho dân ta khốn khổ không ít, chẳng những thế nó còn làm trì trệ bước tiến hóa của dân tộc. Sở dĩ tôi đưa bài viết này ra bên ngoài mà không gửi về tòa soạn Đa Hiệu vì theo một Thông cáo mới nhất của Tổng hội (ngày 4 tháng 3 năm 2009), đặc san đã “tạm thời đình chỉ phát hành cho đến khi có thông cáo mới”, và cũng vì như tựa bài: chuyện trong họ đã ra ngoài làng. Đa Hiệu 85 đã cởi trần đi vào quần chúng (phổ biến sâu rộng ra bên ngoài qua lời thông báo trong điện thư của anh Tổng Hội Trưởng –đã dẫn ở phần trên) thì không cách chi có thể lấy thúng mà úp voi. Một điều cầu mong xuất phát tự đáy lòng tôi là tất cả chúng ta, những tên Cùi còn tại thế, biết dẹp bỏ tự ái cá nhân, phe nhóm và Khóa xuất thân để gìn giữ, bồi đắp thanh danh ngôi trường thân yêu xưa bằng hành động, ngôn ngữ và phong thái. Được như vậy, chúng ta sẽ không làm tủi hổ vong linh của bao người, Niên trưởng, Đàn em, đã anh dũng, kiêu hùng nằm xuống trong cuộc chiến Quốc, Cộng.

Chuyện lầm lỗi trên phương diện phát ngôn, truyền thông không những xảy ra với đặc san ĐH mà còn là chuyện thường xuyên trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Đối với một vài tổ chức, hội đoàn chống cộng, đã có cảnh cười ra nước mắt khi ông chủ tịch được mời lên phát biểu, bỗng bị “bà nhập”, tuyên bố trật đường rày, thay vì lên án, lại ca tụng giặc thù! Điều này dĩ nhiên làm nản lòng hội viên, đoàn viên, tổ viên... không ít. Tức khí đi tìm xuất thân thằng “khốn nạn” mới bật ngửa ra, ngài chủ tịch là kẻ thường xuyên đi du hí, có tiền nổi, bạc chìm đầu tư tại Việt Nam! Trách ai bây giờ? Trách ông Trời chăng? Ngài ngự quá cao! Chỉ còn có trách mình tiêu cực a dua theo chân bè phái và cảm tình để dồn phiếu cho kẻ bất xứng. Tuy nhiên, tình cảm sám hối này chỉ xảy ra trong chốc lát, trái đất vẫn quay và năm tới... lại tái cử thằng “khốn lịn”.

Phạm Đình Thừa