Friday, May 2, 2014

Ai đã vận động cho tự do của Cù Huy Hà Vũ?



Một tổ chức vận động nhân quyền ở Mỹ mới tiết lộ thông tin về những người đứng sau cuộc vận động đòi phóng thích các nhà bất đồng chính kiến ở Việt Nam.

Trong thông cáo đề ngày 14/4, tiến sỹ Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc Điều hành của Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS), đã cho biết tên của ‘những khuôn mặt đặc biệt’ mà theo ông ‘công luận ít ai biết đến’.

Theo ông Thắng, một trong những người có công lớn giúp tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ được tự do là Thượng nghị sĩ Ben Cardin, Chủ tịch Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương của Thượng viện Hoa Kỳ.

Ông cho biết, hồi tháng Bảy năm ngoái, vợ ông Vũ, luật sư Nguyễn Thị Dương Hà, đã sang Mỹ gặp thượng nghị sĩ đại diện tiểu bang Maryland để vận động về trường hợp của phu quân ngay trước chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang.

Một bức ảnh đang trên trang web của BPSOS cho thấy bà Hà đứng cạnh ông Cardin, và trên tay hai người là một bức tranh chân dung tự họa mà ông Vũ đã vẽ ở trong trại giam.

Qua email, thượng nghị sĩ Cardin nói với VOA Việt Ngữ sau khi ông Vũ được phóng thích: “Tôi hoan nghênh việc thả ông Cù Huy Hà Vũ và hy vọng sẽ chứng kiến thêm các bước đi cụ thể của chính phủ Việt Nam để đạt tiến bộ hơn nữa về nhân quyền, trong đó có việc thả ngay lập tức tất cả các tù nhân lương tâm và các nhà hoạt động cũng như nỗ lực thực chất hơn nhằm duy trì các tiêu chuẩn cao nhất đối với việc bảo vệ các quyền tự do hội họp và bày tỏ ý kiến”.

Hồi tháng Bảy năm 2013, nhiều dân biểu Mỹ đã gửi thư ngỏ tới ông Sang trước chuyến thăm để bày tỏ quan ngại về tình trạng sức khỏe của ông Vũ và kêu gọi trả tự do cho nhà bất đồng chính kiến này.

Các nhà lập pháp của Hoa Kỳ nói rằng ‘một cử chỉ thiện chí như vậy sẽ phát đi một tín hiệu rằng Việt Nam nỗ lực nhiều hơn trong lĩnh vực nhân quyền’.

Hiện tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ vẫn chưa có phát biểu chính thức về việc ông được trả tự do và sang Mỹ.

Các bức ảnh mới được công bố cho thấy ông Vũ đã được tiến sỹ Thắng cùng với các nhà ngoại giao Mỹ, trong đó có ông Scott Busby, Phó trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, đón tại sân bay khi luật sư bất đồng chính kiến này đặt chân tới Hoa Kỳ.

Sau khi phóng thích ông một tuần, chính quyền Hà Nội cũng đã trả tự do trước hạn cho hai nhà bất đồng chính kiến khác là thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung và ông Vi Đức Hồi.

Tin cho hay, một số dân biểu Mỹ cho biết đã ‘đứng ra đỡ đầu các tù nhân vừa được trả tự do’.

Dân biểu David Price từ tiểu bang North Carolina đỡ đầu tiến sỹ Vũ trong khi dân biểu Alan Lowenthal từ tiểu bang California đỡ đầu Nguyễn Tiến Trung.

Trong thông cáo sau khi kỹ sư công nghệ thông tin được đào tạo tại Pháp được thả, ông Lowenthal nói ông hoan nghênh hành động này, và ‘hy vọng đây chỉ là bước đi đầu tiên của chính phủ Việt Nam tiến tới việc tôn trọng pháp quyền và quyền của người dân được chỉ trích chính phủ’.

Nhà lập pháp này được cho là đã ‘liên tục thúc đẩy [Hà Nội] trả tự do cho Trung’.

Tiến sỹ Nguyễn Đình Thắng cho VOA Việt Ngữ biết lý do mới đây ông công khai ngỏ lời cám ơn các nhà lập pháp Mỹ vừa nêu.

Ông nói: “Chúng tôi thấy rằng họ đóng góp rất nhiều và rất cụ thể cho nỗ lực đòi tự do cho tất cả tù nhân lương tâm mà thành quả đầu tiên chúng ta đã thấy rằng có một số tù nhân lương tâm, nổi bật vừa mới được trả tự do. Những người này họ tranh đấu nhiều năm, đóng góp rất nhiều nhưng ít ai ở bên ngoài biết được. May mắn là chúng tôi có làm việc với họ và biết được, thành ra thấy rằng có trách nhiệm cần phải thông tin ra rộng rãi trong cộng đồng để biết được rằng có những con người đã đóng góp rất nhiều nhưng mà một cách âm thầm từ trước tới nay. Chắc chắn đây là áp lực từ phía quốc hội Hoa Kỳ, đặc biệt là Thượng nghị sĩ Ben Cardin, là người đã đích thân nêu trường hợp của tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ ngay tại buổi tiếp tân, khoản đãi ông Trương Tấn Sang tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trước sự hiện diện của ông Ngoại trưởng John Kerry. Chính Ngoại trưởng John Kerry cũng đặt vấn đề tự do cho tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ là một trong những vấn đề quan trọng trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam’.

BPSOS là một trong các tổ chức làm cầu nối giữa gia đình các tù nhân và các nhà lập pháp Mỹ.

Ông Thắng cũng đã nhiều lần đại diện cho tổ chức này ra điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam.

Hà Nội luôn khẳng định Việt Nam không có tù nhân lương tâm mà chỉ bỏ tù những người vi phạm pháp luật.

Hãng tin AP mới đây dẫn lời đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam nói rằng ông Vũ được thả nhờ ‘chính sách khoan hồng’ của Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang, và luật sư bất đồng chính kiến này đi Mỹ vì ‘lý do nhân đạo’.


Suy nghĩ và tưởng niệm ngày 30 Tháng Tư - Janet Nguyễn

Suy nghĩ và tưởng niệm ngày 30 Tháng Tư
Janet Nguyễn
Cách đây 39 năm, Sài Gòn rơi vào tay cộng sản, và cuộc đời tôi bị thay đổi hoàn toàn. Vào ngày này hôm nay, tôi muốn hồi tưởng lại những năm tháng qua, và ảnh hưởng của “Tháng Tư Ðen” đối với chính bản thân tôi, cũng như hàng triệu người Việt Nam tị nạn khác giống tôi, khắp thế giới.

Những kỷ niệm đầu tiên của tôi là cuộc sống trong trại tị nạn, sau khi gia đình tôi lênh đênh trên Biển Ðông. Chú tôi, một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, bị xử bắn ngay ngày Sài Gòn thất thủ. Sợ bị cộng sản trả thù, tất cả chúng tôi phải trốn đi, bởi vì cha tôi từng phục vụ trong quân đội miền Nam Việt Nam. Biết rằng tương lai của chúng tôi ở Việt Nam sẽ rất đen tối, cha mẹ tôi liều mình đưa cả nhà vượt biên đi tìm sự an toàn và tự do cho gia đình.

Ngay khi đến bờ biển Thái Lan, chúng tôi, cũng như nhiều gia đình khác, phải đập bể ghe và bơi vào bờ. Sau một thời gian sống ở các trại tị nạn, chúng tôi may mắn được đặt chân lên đất Mỹ.

Tuy nhiên, đây mới chỉ là sự bắt đầu của một hành trình đầy khó khăn.

Trong lúc nuôi dạy các con, cha tôi vừa làm phụ tài xế xe buýt tại một trường đại học cộng đồng, vừa học tiếng Anh. Gia đình tôi phải sống nhờ vào trợ cấp xã hội, trợ cấp thực phẩm. Quần áo chúng tôi mặc là mua ở các tiệm bán đồ cũ, hoặc do nhà thờ địa phương tặng vào dịp Giáng Sinh. Khi bắt đầu học đại học, tôi phải làm 3 việc mới có đủ tiền chi tiêu, trong lúc học toàn thời gian tại đại học UC Irvine.

Qua những khó khăn trong đời sống, cha mẹ tôi khuyến khích anh em chúng tôi học thành tài và cống hiến lại cộng đồng. Chính vì những lời khuyên này mà tôi quyết định đi vào con đường phục vụ công chúng, trong khi người anh trai tôi gia nhập Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

Bây giờ, tôi đã là nữ giám sát viên đầu tiên đại diện Ðịa Hạt 1, là người Mỹ gốc Châu Á đầu tiên, và là người Mỹ gốc Việt đầu tiên, trong Hội Ðồng Giám Sát Quận Cam. Tôi cũng là giám sát viên trẻ nhất trong lịch sử Quận Cam, là dân cử người Mỹ gốc Việt cao cấp nhất tại tiểu bang California, và là nữ dân cử người Mỹ gốc Việt cao cấp nhất ở Hoa Kỳ.

Cho dù thành công như vậy, tôi không bao giờ quên những gì tôi đã trải qua để có được ngày hôm nay.

Ðể tưởng niệm và để nhắc nhở các thế hệ sau về sự kiện quan trọng này, tôi đã đưa “Tháng Tư Ðen” vào trong nghị trình họp, để Hội Ðồng Giám Sát Quận Cam công nhận hàng năm. Tôi làm như vậy là để tưởng niệm “Tháng Tư Ðen,” để công chúng biết về thời điểm này, và để thấy rằng chúng ta thật sự cần phải bảo vệ tự do và dân chủ khắp nơi trên thế giới.

Kể từ khi có “Tháng Tư Ðen,” đời sống người dân ở Việt Nam ngày càng tệ hại. Vì thế, tôi luôn tham gia các sự kiện chống cộng sản được tổ chức ở nhiều nơi khắp Hoa Kỳ, điều trần trước Thượng Viện Hoa Kỳ, và mới đây nhất, phản đối ý định của thành phố Irvine kết nghĩa với thành phố Nha Trang ở Việt Nam.

Hiện nay, tôi cũng đang làm việc cùng với Dân Biểu Ed Royce để thông qua HR4254, Dự Luật Chế Tài Giới Chức CSVN Vi Phạm Nhân Quyền, nhằm trừng phạt những cá nhân vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Tôi hy vọng những việc làm này sẽ tạo ra thay đổi tích cực cho người dân đang sống tại đất nước mà tôi được sinh ra.

Qua những gì xảy ra trong cuộc đời, tôi có một cảm giác khó tả mỗi khi đến “Tháng Tư Ðen.” Tôi rất buồn khi thấy rất nhiều người Việt Nam và người Mỹ thiệt mạng trong chiến tranh. Thế nhưng, dù đang sống ở Mỹ, tôi cũng nhận thấy rằng, đấu tranh cho tự do và dân chủ là một điều vô cùng cao quý.

Chỉ có tại đất nước này, một người từng sống nhờ trợ cấp xã hội và trợ cấp thực phẩm nay đã trở thành một nhà lãnh đạo trong một cơ quan dân cử quận hạt, quản trị một ngân sách lớn hàng thứ bảy tại Hoa Kỳ.

Riêng đối với gia đình tôi, quyết định phải rời Việt Nam là một câu chuyện buồn, nhưng lại kết thúc có hậu, và tôi luôn trân trọng nó mỗi ngày. Thế nhưng, tôi sẽ không bao giờ quên quá khứ, bởi vì tôi biết, không phải tất cả người tị nạn Việt Nam đều may mắn.

30 Tháng Tư năm 1975 sẽ luôn luôn là ngày để tưởng nhớ hàng triệu người đã hy sinh tính mạng của họ cho những người như tôi, những người mà cuộc đời được thay đổi mãi mãi.

Janet Nguyễn
oOo
Tháng Tư Ðen: Một thời điểm để nhìn lại

Ngày 30 Tháng Tư đánh dấu ngày kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam và mở đầu làn sóng bỏ nước ra đi của hàng triệu người Việt Nam sau khi Sài Gòn rơi vào tay quân cộng sản vào ngày 30 Tháng Tư, 1975.

Ðã nhiều năm qua tôi đã tham dự nhiều buổi lễ lạt ở thành phố Garden Grove và thành phố láng giềng Westminster để tưởng niệm ngày kỷ niệm này mà cộng đồng người Việt gọi là Tháng Tư Ðen. Tôi thấy được những buổi lễ này rất là cảm động khi tôi học hỏi được về những đấu tranh trong lịch sử cho khát vọng dân chủ tự do của một dân tộc.

Nó tưởng nhớ và nó cũng là một lời chứng về lòng can đảm, sự hy sinh, sự quyết tâm và sự thành công tối hậu bằng sự quyết tâm. Chiến tranh Việt Nam là một bi kịch với bao nỗi đau khổ cũng như sự hy sinh mạng sống của nhiều người Mỹ và người Việt. Những người tị nạn và những người di dân từ quốc gia Việt Nam Cộng Hòa trước đây đã đến Hoa Kỳ như là những người Mỹ gốc Việt tự do. Họ đã được vinh danh và ghi nhớ cho sự hy sinh cho tự do và nhân quyền và cho sự đóng góp không ngừng nghỉ của họ cho xã hội dân chủ của chúng ta.

Tháng Tư Ðen không những là một dịp để nhớ lại những hy sinh trong quá khứ mà cũng là ngày vinh danh sự kiên cường của người Việt. Ðã nhiều năm những người di dân Việt Nam đã vượt qua những rào cản xã hội, kinh tế, và ngôn ngữ với một mức độ chưa từng thấy để tiến lên và trở thành một trong những cộng đồng hội nhập nhất trong bất cứ nhóm sắc dân nào. Người Mỹ gốc Việt đã đạt tới điểm cao nhất của sự thành công của xã hội Mỹ trong mọi lãnh vực, từ kinh doanh sản xuất, đến khoa học kỹ thuật, y học, quân sự, cũng như chính quyền.

Chúng ta phải dạy con cái chúng ta và những thế hệ tương lai những bài học quan trọng từ cuộc chiến tranh Việt Nam. Kể cả câu chuyện về thân phận của những người tị nạn sau khi kết thúc cuộc chiến như là một thí dụ mạnh mẽ cho những giá trị tự do và dân chủ. Tháng Tư Ðen sẽ là một thời điểm đặc biệt cho tất cả mọi công dân để nhớ lại những mất mát của bao sinh mạng suốt trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, và để hy vọng một cuộc sống công bằng và nhân đạo hơn cho người dân Việt Nam, và cũng để vinh danh một cộng đồng đã đóng góp quá nhiều từ nhân sự, văn hóa, kinh tế cho cấu trúc xã hội của Garden Grove, một thành phố cổ vũ cho sự đa dạng văn hóa và sắc tộc.

Kris Beard, nghị viên Garden Grove



ĐÀN BÒ

Ta chán lắm nhìn lũ bay theo cộng
Như đàn bò vào lò sát Lê nin
Nghe vẹm nói mà đã vội vã tin
Kéo về nước dể giải hòa với chúng !

Ta chán lắm nhìn lũ bay tơi tả
Quá thương mày mà chẳng biết làm sao
Cộng đã bẫy mày khó chạy đường nào
Tao chỉ biết thắp nén nhang tiễn biệt !

Ba mưới tháng Tư cộng vào cộng giết
Chúng đọa đày mày cải tạo bao năm
Ra nước ngoài quên mẹ hết hờn căm
Nghe vẹm dụ lại đâm đầu về nước

Rắn độc khôn sao mày không bắt chước*
Đánh nó rồi thù sẽ trả không tha
Nó sẽ tìm không quản ngại đường xa
Mày ngu quá quay đầu về nộp mạng !

Tỉnh dậy đi vì trời đang gần sáng
Cùng toàn dân dẹp cộng cứu giang san
Mày chớ quên việt cộng giống dã man
Chúng bắn giết có khi còn chôn sống !

Cứ về đi rồi ngày mai vỡ mộng
Bọn công an và trộm cướp đang chờ
Gái đẹp nhiều môi mọng đẹp như thơ
Ngu thì chết lũ Vịt cừu theo giặc....
 Baky Hà nội

"Viết tặng những đứa ngu "
* Đùa vậy chứ đừng bắt chước rắn độc trả thù không tốt đâu. Rắn hổ mang và rắn cạp nong cạp nia ở miền Bắc trả thù ghê gớm lắm.



Vì Sao Chúng Ta Để Mất Miền Nam Cho Cộng Sản - LS.Lê Duy San

Vì Sao Chúng Ta Để Mất Miền Nam Cho Cộng Sản
LS.Lê Duy San

Cuộc chiến Việt Nam mặc dầu đã được kết thúc trên ba chục năm nay, nhưng nhiều người vẫn còn tự hỏi: “Quân đội của chúng ta hùng mạnh như vậy, tinh thần chiến đấu của quân đội chúng ta anh dũng như vậy, nhiều quân nhân còn xâm chữ “Sát Cộng” vào cánh tay, còn đồng bào ta thì sợ Việt Cộng như cùi, như hủi, bọn chúng tới đâu là đồng bào ta bỏ chạy tới đó, vậy mà tại sao chúng ta lại thua Cộng Sản ?”

Đành rằng nguyên nhân gần và trực tiếp là vì chúng ta bị đồng minh tức Hoa Kỳ bỏ rơi Nhưng còn nguyên nhân sâu xa là gì ? Tại sao người Mỹ lại bỏ Việt Nam? Đã có rất nhiều chính trị gia, chiến lược gia, sử gia Việt Nam cũng như ngoại quốc phân tích và đã đưa ra rất nhiều lý do, chủ quan cũng có, khách quan cũng có, nhưng chưa thấy tác gỉa nào nói tới lý do đạo đức, luật pháp và vì sự thiếu hiểu biết của các chính trị gia miền Nam Việt Nam.

1. Vì đạo đức.

Vì đạo đức, chúng ta không thể bắt chước Cộng Sản, “thà giết lầm còn hơn tha lầm”. Bắt được những tên Cộng Sản, những tên Việt Gian, những tên ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản, chúng ta vẫn đối xử nhận đạo. Hẳn chúng ta còn nhớ, vào năm 1955-1956, một phong trào mang tên là Phong Trào Hòa Bình do các ông Phạm Huy Thông, Lưu Văn Lang, Trần Kim Quan v.v… thành lập. Đây là một phong trào thiên Cộng họạt động với mục đích hỗ trợ cho Việt Cộng và đòi Tổng Tuyển Cử theo Hiệp định Geneve 1954, chính phủ Ngô Đình Diệm cũng chỉ tống xuất một vài tên qua cầu Hiền Lương ra Bắc.

Đến đầu năm 1965 một phong trào khác mang tên tương tự là “Phong Trào Tranh Đấu Bảo Vệ Hòa Bình” do những tên Việt Gian, ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản thành lập như Thượng Tọa Thích Quảng Liên, Bác Sĩ Thú Y Phạm Văn Huyến, Nhà Báo Phi Bằng tức Cao Minh Chiến, Giáo Sư Tôn Thất Dương Kỵ, Bác Sĩ Lê Khắc Quyến v.v.. Gần 30 thành viên của phong trào này đã bị bắt giữ, trong đó có Cao Minh Chiến, Tôn Thất Dương Kỵ và Phạm Văn Huyến. Tướng Nguyễn Chánh Thi đã đề nghị thả dù bọn này ra bắc vỹ tuyến 17 tức bên kia cầu Hiền Lương cho Việt Cộng. Nhưng Thủ Tướng Phan Huy Quát cũng chỉ vì lý do nhân đạo, sợ làm như vậy bọn chúng có thể gẫy chân, què tay vì bọn chúng đâu biết nhẩy dù, nên đã lấy cớ rằng làm như vậy, quốc tế sẽ chỉ trích, và chỉ đồng ý giải giao bọn chúng cho Việt Cộng bằng đường bộ qua cầu Hiền Lương.

Ngày nay, ở hải ngoại cũng vậy. Những người chống Cộng luôn luôn bị một số người vin vào lý do đạo đức, văn hóa để chỉ trích người khác. Nếu chống Cộng hăng say quá thì bị chỉ trích là quá khích. Nếu dùng danh từ mạnh mẽ quá hay bình dân quá thì bị phê bình, chỉ trích là ấu trĩ, là thiếu văn hóa, là phản tuyên truyền có khi còn bị nhục mạ là hạ cấp, là vô học.

Bọn Việt Cộng mở miệng ra nói là thấy tuyền tuyên truyền giả dối, đối đáp thì ngụy biện, vô học, nếp sống thì tàn ác, vô đạo đức. Vậy mà chẳng thấy ai nói gì. Trái lại, nếu có ai vì chống Cộng nói sai một chút, nói quá lời một câu, mà đâu có phải nói họ mà chỉ là nói bọn Việt Cộng hoăc bọn Việt Gian Cộng Sản là bị chỉ trích, bị phê bình liền, có khi còn bị mạ lỵ. Bọn người này, không biết họ thuộc loại nào ? Có thể họ là bọn Việt Cộng nằm vùng, có thể họ là bọn Việt Gian Cộng Sản, nhưng cũng có thể chỉ vì cảm tình cá nhân nên bênh vực nhau. Nói ra họ lại la làng là bị chụp mũ này, mũ nọ. Có điều chắc chắn là không bao giờ thấy họ viết một bài nào chống Cộng. Hoặc nếu có thì cũng chỉ hời hợt hoặc vô thưởng, vô phạt để chứng tỏ ta đây cũng là người chống Cộng. Còn những bài viết chỉ trích những người chống Cộng thì họ phê bình chỉ trích tới nơi, tới chốn.

2. Vì luật pháp.

Vì luật pháp, chúng ta cũng không thể cho chúng mò tôm, bắt ốc như bọn Cộng Sản đã làm đối với những người quốc gia trong thời chiến tranh. Chúng ta phải đưa chúng ra tòa để xét xử theo luật pháp. Dù chúng có tội thì cũng chỉ giam giữ ít lâu rồi lại thả ra. Trường hợp phạt chúng tội tử hình, thật là hiếm. Thường thì chúng ta cũng rất nhẹ tay với chúng. Không những thế, nhiều khi còn để tình cảm lấn áp. Do đó có những trường hợp kẻ bị bắt có thế lực hoặc có liên hệ với các ông lớn trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa được can thiệp và cho tại ngoại ngay từ lúc mới bị bắt hoặc được cho biết trước để mà chạy trốn hoặc phi tang chứng cớ.

Trường hợp điển hình là trường hợp của Nguyễn Đình Ngọc, giáo sư trường Đại Học Khoa Học Saigon. Ông này có hoạt động cho Việt Cộng nên bị bắt. Ông Nguyễn Chung Tú, Khoa Trưởng Trường Đại Học Khoa Học Saigon đã lấy tư cách và uy tín của mình để bảo lãnh cho ông ta. Vì thế, ông Ngọc không những đã được tại ngoại mà cũng chẳng phải ra tòa lãnh án.

Trường hợp thứ 2 là Trần Đình Minh, cán bộ xã Hải Nhuận thuộc quận Hương Điền Tỉnh Thừa Thiên, một Việt Cộng nằm vùng. Tháng 5 năm 1972 (mùa hè đỏ lửa), để ngăn chận cuộc tổng nổi dậy của Cộng quân tại Huế, Thiếu Tá Liên Thành, Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên đã mở cuộc hành quân gọi là Chiến Dịch Bình Minh và đã bắt giữ khoảng 1,500 Việt cộng và nội tuyến trong đó có Trần Đình Minh. Chỉ mấy ngày sau khi Trần Đình Minh bị bắt, Thiếu Tá Liên Thành đã nhận được điện thoại của Đại Tá Dương Quang Tiếp Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Vùng I, ra lệnh thả Trần Đình Minh. Lý do là vì Ủy Viên Chính Phủ Tòa án Quân Sự Mặt Trận Vùng I Chiến Thuật, Trung Tá Cao Chánh Hựu là bạn thân của Đại Tá Dương Quang Tiếp đứng ra làm giấy bảo lãnh cho Trần Đình Minh.

Trường hợp điển hình thứ ba là Nguyễn Ngọc Lương. Ông Tạ Quang Khôi cho biết: “Lương là một cán bộ cộng sản được gài vào Nam theo cuộc di cư năm 1954. Sau Lương được nhận vào đài phát thanh Saigon làm biên tập viên phòng bình luận. Lương bị công an bắt, không phải một lần mà nhiều lần. Nhưng không hiểu sao công an bắt rồi thả mà không giam giữ luôn trong tù hoặc đưa ra tòa xét xử dù biết chắc ông hoạt động cho cộng sản? Không những thế, ông Tổng Giám Đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh còn vào khám thăm Lương mỗi khi y bị bắt.

Trường hợp thứ tư là nhà văn Vũ Hạnh, tên thật là Nguyễn Đức Dũng sinh năm 1926 tại Quảng Nam. Ông là cán bộ văn hoá khu ủy Sài Gòn-Gia Định. Ông Hạnh bị bắt 5 lần, nhưng lần nào cũng có người bảo lãnh cho tại ngọai. Người bảo lãnh sau cùng cho Vũ Hạnh là Linh Mục Thanh Lãng, Chủ tịch Hội Văn Bút.
Tên Bảy Lớp không bắn bỏ cũng uổng
Bênh vực cho hắn là đại ngu !
Vụ Tết Mậu Thân 1968, không thiếu gì những tên Việt Cộng giết người một cách dã man, giết người một cách vô tội vạ, giết người hàng loạt. Vậy mà bọn chúng đâu có bị đưa ai ra tòa? Còn chúng ta, nếu vì qúa tức giận trước những hành động qúa độc ác, dã man của bọn chúng mà tự ý giết một tên Việt Cộng nào đó, thì dù có lý do chính đáng đến đâu cũng vẫn bị kết tội là dã man, là vô nhân đạo. Nếu không bị đưa ra tòa thì cũng bị nhiều người phê bình và thế giới nguyền rủa. Đó là trường hợp của tướng Nguyễn Ngọc Loan đã xử tử tên Việt Cộng Nguyễn Văn Lém tự Bẩy Lớp, kẻ đã sát hại cả gia đình một sĩ quan cảnh sát vào Tết Mậu Thân 1968.

3. Vì thiếu ý thức.

Ngày 24-9-1954, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, thừa ủy nhiệm Quốc trưởng Bảo Đại, ký Sắc lệnh số 94-CP cải tổ nội các. Nhiều chính trị gia tên tuổi đã tham gia như Trần Văn Đỗ Tổng trưởng Bộ Ngoại giao, Bùi Văn Thinh Tổng trưởng Bộ Tư pháp, Phạm Xuân Thái Tổng trưởng Bộ Thông tin và Chiến tranh tâm lý, Trần Hữu Phương Tổng trưởng Bộ Tài chính, Lương Trọng Tường, Tổng trưởng Bộ Kinh tế, Nguyễn Công Hầu, Tổng trưởng Bộ Canh nông, Trần Văn Bạch, Tổng trưởng Bộ Công chính, Nguyễn Văn Thoại Tổng trưởng Bộ Kế hoạch và Kiến thiết, Huỳnh Kim Hữu Tổng trưởng Bộ Y tế, Nguyễn Dương Đôn, Tổng trưởng Bộ Quốc gia giáo dục, Nguyễn Mạnh Bảo Tổng trưởng Bộ Xã Lao, Nguyễn Đức Thuận Tổng trưởng Bộ Cải Cách, Nguyễn Tăng Nguyên, Tổng trưởng Bộ Lao động và Thanh niên, Hồ Thông Minh Tổng trường phụ tá Quốc phòng, Trần Ngọc Liên, Bộ trưởng ở Phủ Thủ tướng, đặc nhiệm Công vụ, Phạm Duy Khiêm Bộ trưởng đặc nhiệm tại Phủ Thủ tướng, Bùi Kiện Tín, Bộ trưởng đặc nhiệm tại Phủ Thủ tướng,Huỳnh Văn Nhiệm, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Nguyễn Văn Cát Thứ trưởng Bộ Nội vụ.

Khi biết tướng Nguyễn văn Hinh (thân Pháp) muốn lật đổ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, họ sợ ông Diệm mất chức nên một số người đã từ chức gây điêu đứng cho TT Ngô Đình Diệm. Sau khi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm vượt qua được cơn sóng gió và tống cổ được Nguyễn văn Hinh ra khỏi nước và thiết lập nền đệ nhất Cộng Hòa thì cũng lúc các đảng phái quốc gia nói riêng, giới chính trị gia miền Nam nói chung, vì thiếu ý thức, vì quyền lợi phe nhóm và nhất là vì ngu dốt, đã đặt quyền lợi của đảng phái, của phe nhóm lên trên quyền lợi của quốc gia dân tộc tìm cách đả phá, chỉ trích chính quyền và đòi hỏi những điều chính quyền không thể thỏa mãi họ được.

Họ đã gây ra cuộc đảo chính bất thành ngày 11/11/1960 mà trong đó nhóm Tự Do Tiến Bộ còn gọi là Nhóm Caravelle chủ xướng, vụ 2 phi công VNCH Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc ném bom Dinh Độc Lập ngày 27/2/1962 do Đại Việt Quốc Dân Đảng chủ mưu làm cho người Mỹ hết tin tưởng vào chính quyền của TT Ngô Đình Diệm dẫn tới cuộc đảo chính ngày 1/11/1963.

Tranh đấu như vậy năm 63 rồi 65 chưa đủ, năm 1975 còn kéo cả đoàn lũ đi rước quân cướp VC vào thành phố nữa mới “đáng khen” chứ !.

Nếu cho rằng trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa, các chính trị gia, các đảng phái quốc gia đã không có cơ hội để thi thố tài năng. Nhưng trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa, họ đã có cơ hội, nhưng họ đã làm được gì? Hết nội các Nguyễn Ngọc Thơ (11/63 - 1/64), các Trần Văn Hương (8/64 - 10/64, đến nội các Phan Huy Quát (2/65 – 6/65), không nội các nào thọ được hơn 4 tháng và dĩ nhiên cũng chẳng ai làm được trò trống gì. Để rồi lại phải trao quyền cho quân đội để trở lại vai trò chỉ trích và quậy phá. Không biết bao nhiêu là cuộc biểu tình, xuống đường để gây rối cho miền Nam. Nào là Phong trào đấu tranh của ký giả miền Nam Việt Nam tục gọi là Phong Trào ký giả đi ăn mày, Phong trào đòi quyền sống của Luật Sư Ngô Bá Thành, Phong trào bài trừ tham nhũng của Linh Mục Trần Hữu Thanh, Ủy Ban Bảo Vệ quyền lợi lao động của Linh Mục Linh mục hốt rác LM Phan Khắc Từ, LM Trương Bá Cần, LM Trần Thế Luân và LM Nguyền Ngọc Lan, và hơn 140 vụ xuống đường khác của bọn Việt Cộng đội lốt sư sãi súi dục học sinh sinh viên biểu tình “chống Mỹ cứu nước”. Đó là chưa kẻ một số người miền Nam khác đã nuôi Việt Cộng trong nhà hay đóng thuế cho Việt Cộng.

Trong cuộc chiến Nam Bắc Hàn, có lúc Nam Hàn chỉ còn một vùng đất nhỏ bằng tỉnh Cà-Mâu của miền Nam, vậy mà nhờ sự quyết tâm hỗ trợ của Mỹ, Nam Hàn vẫn phản công lấy lại toàn lãnh thổ đã mất. Miền Nam Việt Nam còn Thủ Đô, còn vùng 4 và hơn một nửa vùng 3, nếu Mỹ không quyết tâm ngưng viện trợ cho miền Nam Việt Nam thì dĩ nhiên quân đội VNCH cũng sẽ tiến chiếm lại được những vùng đã mất như đã chiếm lại được Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa 1972. Nhưng tiếc rằng chính chúng ta, hay nói cho đúng hơn, chính bọn tướng lãnh côn đồ đã làm xụp đổ nền đệ nhất VNCH, chính bọn chính trị gia ngu dốt, chính bọn sư sãi, linh mục thân Cộng, chính bọn trí thức ăn cơm quốc gia, thờ ma Cộng Sản, đã làm cho người Mỹ thất vọng, không còn muốn giúp chúng ta nữa. Đó là những nguyên do khiến cho miền Nam Việt Nam phải mất vào tay Cộng Sản.

LS.Lê Duy San