Saturday, June 18, 2011

Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19-06






Cố vấn Ngô Đình Nhu
6 tháng 8 năm 1960: “Các bạn ra đi hôm nay, là đã vượt ra khỏi tầm bảo vệ của chính phủ. Ra đi, có thể các bạn không hẹn ngày về. Những người con ưu tú của Dân Tộc, đêm nay giã từ Thủ Đô, để lao vào vùng địch, chiến đấu cho tự do và độc lập của Tổ Quốc, cho hòa bình. Vì hẳn các bạn cũng biết, Việt Nam là tiền đồn của thế giới tự do. Các bạn là những Chiến Sĩ Tiên Phong, đi chiến đấu ngay trong lòng địch; để ngăn chặn làn sóng cộng sản xâm nhập vào Nam, tiến đánh hậu phương chúng ta. Đây là một sứ mạng hết sức to lớn, và rất đáng cảm phục.

Thay mặt Tổng Thống, thay mặt chính phủ, tôi trân trọng gởi đến các bạn lời khen ngợi ý chí vô cùng cam đảm của các bạn, lòng yêu nước vô bờ bến của các bạn, khi đơn thương, độc mã dấn thân vào đất địch, để chịu trăm ngàn nguy hiểm, mà không được một sự yểm trợ nào cả. Xin cầu chúc các bạn vượt qua mọi gian lao, nguy hiểm và thành công trong sứ mạng”.













Vinh Danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
19-06-2011

teolangthang.blogspot.com

Nhật Lệnh Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
19-06-1973
Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu






“Trung thành với Tổ Quốc – Xả thân vì lý tưởng Quốc Gia”



Gửi Súng Cho Tao
Nguyễn Cung Thương

Tao cụt một chân một tay
Nhưng còn một tay
Viết thư giùm cho thằng mù hai mắt
Nghe nói ở xứ người chúng mày "cày" như trâu
Nhưng không quên đồng đội
Chia đôla cho chúng tao, như chia máu ngày nào
Tao cũng sớt cho mấy thằng bạn: phế binh Việt Cộng!
Chúng cũng què đui sứt mẻ như nhau
Bởi đảng của chúng bây giờ là lũ đầu trâu...
Có điều tao không thể hiểu
Bao nhiêu năm qua
Chúng mày cứ mãi dặn dò
Thế giới văn minh, đừng làm gì bạo động
Liệu chúng mày có thể hoà hợp được không
Với lũ kênh kênh hổ báo?
Những con thú cực kỳ giàu có
Mang "thẻ đỏ , tim đen"
Nợ Nga, sợ Tầu, lạy Mỹ
Với quan thầy cung cúc tận tụy
Quay về đàn áp dân đen
Chúng đóng đinh Jesus lần nữa
Bịt Miệng Cha, trói Phật, nhốt Sư quản lý chùa
Chúng tao lết lê trên thành phố Cáo Hồ
Nên biết rõ từng tên đại ác
Trên bàn tiệc máu xương dân tộc
Nhà hàng nào chúng cũng ăn nhậu
Bé gái nào cũng bị chúng mua trinh!
Chúng ta sẽ tỉa từng thằng
Đất nước cần nhiều "quốc táng"
Bớt được mạng thằng Cộng Sản nào
Thì địa ngục xã hội chủ nghĩa này
Còn có chút sáng láng hơn
Hãy gửi tiền cho những nhà tu
Để họ mở cửa nhà tù
Còn chúng tao là chiến sĩ
Hãy gửi về cho chúng tao vũ khí
Thằng cụt tay sẽ chỉ cho thằng mù mắt bấm cò
Thằng còn chân sẽ cõng thằng què quặt
Trận chiến sau cùng này sẽ không có Dương Văn Minh!

Nguyễn Cung Thương
Sàigòn, VN
Nguyễn thị Thảo An

Không biết bắt đầu từ thuở nào có một quy luật hình thành là ở một thể chế chính trị, đều thành lập một lực lượng để bảo vệ mình, lực lượng đó được gọi là quân đội. Quân đội sinh ra từ chế độ và nó cũng vẽ nên những chân dung của chế độ. Chế độ tốt sẽ xây dựng nên một quân đội tốt. Quân đội tốt sẽ không dung dưỡng một chế độ xấu.

Từ hơn hai nghìn năm về trước, người lính Việt Nam với chiếc áo trấn thủ, mang gươm giáo ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vu giết thù diệt loạn, bảo quốc an dân, giữ gìn cơ nghiệp của tiền nhân. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, hình ảnh của người lính thay đổi qua bao thời thế, nhưng trách nhiệm không hề thay đổi.

Người thanh niên tuổi trẻ Việt Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên thệ Vị Quốc Vong Thân. Người tuổi trẻ đã trở thành người lính. Anh trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương. Người lính với chiếc nón sắt xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in rõ bóng trên nền trời xanh lơ. Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm mòn nửa vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương.

Bắt đầu từ thập niên Sáu Mươi, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng cối, với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích cồng nô lệ, đã toan tính nhuộm đỏ quê hương, thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận bước quân thù, để bảo vệ miền Nam.

Ðất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ.

Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương. Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn. Ðã đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen. Hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với đời gian khổ và đánh bạn với gian nguy.

Anh với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước ngang tầm ngực. Anh đã đi qua những địa danh xa lạ: Ashau , Ia Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Hay anh truy địch ở bờ sông Thạch Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với rừng Tràm, rừng Ðước, đến Ðồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo ve như sáo thổi.

Anh đã đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã xuống địa danh chẳng quen dấu chân anh. Người lính nằm xuống ở Miền Nam xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Ðông xác thân thối rửa Từ Ấp Bắc, Ðồng Xoài, Bình Giả … cho tới Tống Lê Chân, An Lộc, Bình Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời Miền Nam được yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi người lính đã đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đã đem mỗi một 206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường quê hương muôn ngã, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại. Ðể cho người dân quốc gia được sống no ấm ở hậu phương.

Những người dân quốc gia, những người dân quốc gia không hề muốn trở thành dân Cộng Sản, những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng Sản tới và núp bóng người lính để được sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ hoàn toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể không liên quan gì tới họ. Và họ tự trấn an lương tâm rằng người lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của người lính.

Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là đời gian khổ, và tương lai người lính đếm được trên từng ngón tay. Thế nên, người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lõng. Bỗng hình như anh cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta tội nghiệp người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá nước trong sách vở, báo chí và truyền hình.

Người lính bị bắt cóc vào văn chương tiểu thuyết là những người lính giấy, vào văn chương để tự phản bội chính mình, để thoả mãn cho những kẻ trông con bò để vẽ con nai, và ngồi phòng khách để diễn tả chiến trường đỏ lửa. Người lính trên trang giấy ngang tàng và hung bạo, chửi rủa chính phủ, chống chính quyền và ghét cấp chỉ huy, lính la cà trong quán rượu, uống rượu chẳng thấy say, và càng say càng đập phá. Người lính xuất hiện trên sân khấu thì phong lưu và đỏm dáng hay trắng trẻo no tròn. Anh mặc đồ trận mới toanh còn nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi đầu môi anh ca bài ca mời gọi ái tình, à người yêu của anh lính là những cô mắt ướt môi hồng, áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính trọn kiếp trong ti vi. Như vậy thì quá mỉa mai cho cái gọi là anh trai tiền tuyến, em gái hậu phương. Trong khi đó, ở ngoài đời những người vợ lính là những người chống giữ thầm lặng ở xã hội hậu phương.

Ðó là những người đàn bà bình dị với tấm áo vải nội hoá rẻ tiền, với đôi guốc vông kẽo kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con nhỏ dại, gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa tháng gạo ăn. Ðó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn thăm chồng ở các Trung Tâm Huấn Luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi với vài ổ bánh mì làm quà gặp mặt. Ðó là những người âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương.

Hạnh phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ. Có thể ở một thỏi son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa con bé nhỏ chào đời tháng trước.

Người vợ lính cũng là những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Ðó là những người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu giếm mảnh khăn sô.

Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho người chồng an tâm cầm súng. Ðể anh, người lính, anh mang sự bất công to lớn, sự bạc đãi phũ phàng, anh vẫn đi và vẫn sống, vẫn chiến đấu oai hùng giữa muôn ngàn thù địch.

Ở chiến trường, anh đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh khi, trên đầu anh có lãnh đạo tồi, sẵn sàng dẫm xác anh để cầu vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân.

Những người dân của anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đòi quyền sống, trong đó không bao gồm quyền sống của anh.

Những kẻ để trái tim rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng trước sự ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí ngoại quốc thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ nhận định, mù quáng trong định kiến. Tất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử. Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng.

Ngày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973 hiệp định Paris được ký kết Hoà Bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà bình của họ và nhận giải Nobel. Nhưng hoà bình đến ở Việt Nam tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái hoà bình bi thảm.

Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân đắp nên thành luỹ để ngăn bước quân thù. Từ Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng như người lính Việt Nam Cộng Hòa?

Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay ăn luôn năm trái bắp sống và những lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da.

Người lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An Lộc, Bình Long. Và thủ đô, vòm trời thân yêu mà anh mơ ước để tang truy điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh.

Người lãnh đạo anh còn mè nheo ăn vạ. Và anh, anh phải đóng trọn vai trò làm vật hy sinh. Trước nguy nan, lãnh đạo anh tìm đường chạy trốn thì anh vẫn còn cầm súng ở tiền phương. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban Mê Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng ở đó, anh vẫn phải tử thủ cho con đường tẩu thoát của cấp lãnh đạo anh tuyệt đối được bình yên.

Và đồng minh của anh, người đồng minh đã từng sát cánh, cùng chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay lại nghiễm nhiên nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con người đang yên nghỉ ?

Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết. Không chỉ cái chết riêng cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đuờng đạn xuyên qua, xác thân anh ngã xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang vác quả địa cầu, người lính đã mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường triệt thoái.

Trên những con đường từ Cao Nguyên không thiếu những người lính gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ, tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên đỡ đạn, cho nên thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước cuối đời ở ngưỡng cửa thủ đô.

Bởi lãnh đạo đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với nham nhở mình trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi thay. Có thật không? Hai mươi năm chiến tranh kết thúc? Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm quả có thật không?. Ngày buông rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường dân? Và có thật không? Anh được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù?

Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần cho những xác bơ vơ. Lính khổ lính cười, dân khổ để người lính khóc. Và có ai, từng có ai trong chúng ta đã khóc thương cho đời lính?

Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu. Bởi trái tim anh đã hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở một mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc? Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu.

Lịch sử đã sang trang, và loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng trên trái đất? Thế nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô tình. Cả thế giới đồng thanh công nhận và gửi điện văn chúc mừng sự thống nhất ở Việt Nam. Và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt Nam đi vào cõi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới nhập tên. Hoà bình đã nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời người Cộng Sản, nhưng hoà bình không thật đến ở Việt Nam.

Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự. Như con giun, con dế sợ ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh thời thượng.

Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hoà và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà. Người Lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn trước trong trái tim của người dân Việt Miền Nam.

Bởi từ khi những người bộ đội Cộng Sản bước chân vào thành phố, thì người dân Quốc Gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay hình như luôn theo nhau đi vào lịch sử. Vậy thì, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế mới hay ta chìm dưới đáy biển Ðông, không phải vì khẩu súng rơi trên tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật về người Cộng Sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của người lính vượt quá nỗi bi thương.

Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm trăm ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt. Ðể cho chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do, để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gạt chính mình.

Ðể cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh xuân không phải vùi chôn ở những gốc mì. Ðể cho bà mẹ già không phải ngồi mơ ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy.

Nhưng lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người Cộng Sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời bình. Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu luôn số phận tàn nhẫn trong thời bình. Anh người lưu vong trong lòng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh.

Bởi Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ chiến trường Tù Ngục này mà Cộng Sản đã chứng minh được Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ Cộng Sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân. Chúng lập nên một vương quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên giết người theo kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẻ, bằng lao động vinh quang, bằng thời gian không thể đếm.

Người lính bước vào trận chiến mới, chiến trường có tên là cải tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có lãnh đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm đày đọa sỉ nhục anh dưới hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng khoai vớ vẩn. Ðặt hy vọng của anh máng vào những mốc thời gian.

Người lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình. Anh chết đói bên những vòng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh chết khát khi bên ngoài mưa rơi tầm tã. Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối cô đơn Anh vượt qua sự chết để đem về nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Ðôi mắt anh cao ngạo và chân đạp chữ đầu hàng.

Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ý nghĩa đời người. Anh đã chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước ra mà sống. Ðể anh trở về từ địa ngục trần gian. Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đã trở về:
    Ta về cúi mái đầu sương điểm
    Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
    Cám ơn hoa đã vì ta nở
    Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

    Tô Thùy Yên
Nước mắt anh không rơi trong ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương. Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến?

Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng chung dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh?

Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh bước vào đời lần nữa.

Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi theo dòng đời nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học trò giờ tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven Eleven trên đường phố Mỹ.

Ba mươi sáu năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu chữ cái bắt đầu từ a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ để viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh.

Chúng ta đã quá may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những anh hùng như người lính Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những anh hùng bình thường mà ta chưa có dịp vinh danh.

Nhưng cho tới nay, ta đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia. Chúng ta những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo chống, đưa qua những con sóng dữ Việt Nam. Những người quốc gia đã sang thuyền trong cơn quốc nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn Hồng Thuỷ của Việt Nam.

Chúng ta, những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ trên máu xương người lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia. Có phải giờ đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những trang thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta to.

Ngày nay, Người Cộng Sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của thuở nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người Quốc Gia sẽ thức tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của Người Lính chúng ta. Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở thủ đô đã ngã xuống hôm nào.

Ðể một mai, khi quê hương không còn giống Cộng Sản, ta đem anh về trở lại quê hương. Ðể anh được đứng lên chính nơi anh ngã xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh.

Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề “xây dựng lại đất nước trong thời hậu Cộng Sản”. Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính ? Bởi, một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng được một xã hội đáng gọi là nhân bản.

Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà. Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc, thì dân tộc ta mới mong có được những truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai.

Nguyễn thị Thảo An


Wednesday, June 15, 2011

VIỆT CỘNG LÀ THẾ LỰC XÂM LĂNG NỘI ĐỊA TÀN ĐỘC - Trương Minh Hòa

Trương Minh Hòa

Thông thường, khi nói đến giặc ngoại xâm, hay xâm lăng, người ta nghĩ ngay đến giặc từ nước ngoài đến, dung vũ lực đánh chiếm và đặt nền mống cai trị tàn ác; lý do là thế lực ngoại bang, không cùng chủng tộc, ngôn ngữ, lịch sử, nên chúng đối xử dã man với dân bị trị, dùng mọi biện pháp trấn áp để giữ đất chiếm đóng được lâu dài, vơ vét ”mạnh, sạch và hết” tài nguyên, kể cả khai thác sức người làm nô lệ.

“Mấy đời bánh đúc có xương?
Mấy đời ngoại tặc, biết thương dân mình?”

Trong suốt quá trình lịch sử thế giới, từ thời bộ lạc, đã có giặc ngoại xâm từ bộ lạc nầy sang xâm chiếm bộ lạc khác, kẻ bại trận bị mất đất, hang động ... kể cả người, suốt đời làm thân nô lệ nếu không đứng lên giành lại quyền sống, đánh lại quân thù, khôi phục chủng tộc; do đó nhiều bộ tộc đã bị sát nhập, đồng hóa vì không quật khởi, giành lại những gì đã bị mất. Bộ lạc chiến thắng trở thành kẻ ngoại xâm, đầu tiên ra tay tàn sát thanh niên, đàn ông, hãm hiếp phụ nữ và sau đó biến tất cả thành phần còn lại của bộ lạc bại trận thành nô lệ.



Thời kỳ phong kiến, các nước tranh nhau lãnh thổ, quyền lợi, nhất là các nước lớn hay mang quân xâm lăng nước khác: tại Á Châu, nổi tiếng Hán tộc, là giống dân có truyền thống hiếu chiến, xâm lược, tìm mọi cách để thôn tín nhiều nước khác, biến thành lãnh thổ, đồng hóa, nên ngày nay mới có một nước Trung Hoa rộng lớn, đông dân, là kết quả của quá trình của ”hàng ngàn năm xâm lược, cướp đất” nước khác, thủ tiêu mất văn hóa, chủng tộc, ngôn ngữ của nhiều sắc dân sống gần Hán Tộc. Một dân tộc có truyền thống xâm lược, đồng hóa các nước khác, nên Hán tộc cũng rất sợ bị các nước chung quanh trả thù, ưu tư của kẻ gây ra thù hằn, đó là lý do mà Tần Thủy Hoàng đã tốn hàng triệu sinh mạng để xây Vạn Lý Trường Thành, sợ các nước khác mang quân đến đánh.

Thời thuộc địa, các nước Âu Châu nhờ phát triển kỷ nghệ, cần tài nguyên nên mang quân sang xâm chiếm các nước ở các châu lục khác, thời kỳ vàng son thuộc địa, hầu hết các nước Âu Châu đều có thêm lãnh thổ ở ngoài nước họ; nổi bật là hai nước Anh, Pháp, có nhiều thuộc địa nhất trong số các nước.

Hình thức xâm chiếm nước khác để cai trị, bốc lột con người, vơ vét tài nguyên đã không còn hợp thời và nhất là bị lên án khi thế giới nhận ra kẻ xâm lược khác màu da, ngôn ngữ, rõ rang là giặc, nên Liên Hiệp Quốc cũng lên án. Do đó, các đế quốc Cộng Sản là Liên Sô, Trung Cộng đã ”sáng tạo” ra hình thức ”xâm lăng” hiện đại ”các nước bằng thế lực nội địa”; tức là kẻ xâm lăng vẫn có cùng huyết thống, ngôn ngữ … nhưng đầu óc của họ là hoàn toàn ”ngoại bang”, phục vụ quyền lợi ngoại bang, là thứ giặc ngoại xâm nội địa, khó nhận ra nhưng tàn ác hơn cả các thế lực ngoại xâm đã từng xuất hiện trong lịch sử nhân loại. Đây là hình thức xâm lược khéo léo, che đậy bởi: xã hội chủ nghĩa, nhà nước vô sản chuyên chính, thế giới đại đồng, quốc tế vô sản, các thế lực xâm lăng nội địa là mô thức ”xâm lược” mới của Cộng Sản, gây bao tang tóc cho nhân loại kể từ sau cái gọi là cách mạng tháng 10 năm 1917.

Thời chiến tranh lạnh, đế quốc đỏ Liên Sô đã thành công bước đầu trong việc dùng dân bản xứ để làm lực lượng xâm lược ngay chính quê hương họ; đó là những chế độ nhà nước tại một số quốc gia, do Nga dựng lên, dùng người của chính các nước bị trị trong lực lượng quân đội, công an, để trấn áp chính dân mình và bọn xâm lược nội địa chỉ nhằm phục vụ quyền lợi ngoại bang và tuân hành lịnh ngoại bang để thẳng tay tàn sát chính dân mình, mức độ tàn ác còn dã man hơn những thế lực ngoại bang trong lịch sử.

Liên Sô đã áp đặt nền độ hộ trên các nước trong khu vực liên bang Nga và dựng lên những chế độ ngoại xâm bản địa ở Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp Khác, Tây Đức … các chế độ cai trị nêu trên chính là ”thế lực xâm lăng nội địa”, thay mặt đế quốc đỏ Liên Sô để đô hộ những dân tộc bị xâm lược, nên tại những nước nầy, thỉnh thoảng có những cuộc khởi nghĩa của dân chúng, Liên Sô thường mang quân, xe tăng sang để đàn áp dã man, hầu bảo vệ chế độ tay sai cho Nga, nhưng được mệnh danh là ”làm nghĩa vụ quốc tế”. Tại Á Châu, Trung Cộng dùng các đảng Cộng Sản nội địa để biến thành ”thế lực xâm lược” do Bắc Kinh chỉ đạo, tác động tại Bắc Hàn, Miên (thời khmer Đỏ), Lào, Việt Nam ngày nay.

Riêng tại Việt Nam, lực lượng ngoại xâm nội địa Việt Cộng, do ”đệ nhất thái thú Hồ Chí Minh” cầm đầu, ban đầu phục vụ quyền lợi Liên Sô và sau đó có thêm Trung Cộng sau 1949. Tức là thời sau hiệp định Genève 1954, tại miền bắc, đã bị ”giặc Việt Cộng xâm lăng” là thái thú cùng một lúc hai mẫu quốc là Nga-Tàu.

Nước Việt Nam từng bị nô thuộc hàng ngàn năm lịch sử, giặc xâm lược Tàu, qua hệ thống cai trị, thái thú đã đối xử tàn ác với dân Việt Nam, lời than oán vang dội ngàn năm, vẫn còn: ”bắt dân ta xuống biển mò ngọc trai, lên rừng tìm ngà voi, sừng tê giác”…. Đây là những thứ mà triều đình mẫu quốc và kẻ cả Hán Tộc đều thích tiêu dùng.

Thời đại Việt Cộng, giặc xâm lược nội địa, phục vụ cùng một lúc hai mẫu quốc, nên tập đoàn thái thú Việt Cộng cút cung tận tụy, tuân lịnh, mang quân xâm lăng miền nam, vũ khí được hai mẫu quốc cung cấp, đưa vài thế hệ miền bắc vào cảnh ”sinh bắc tử nam”. Nên tất cả tài nguyên, sinh lực, kinh tế miền bắc, dưới chế độ ngoại xâm nội địa Việt Cộng, sống cơ cực, đói khổ, phải dùng cả nhau bào thai người để làm thức ăn ”bồi dưỡng” thay thịt cá, mà chúng gọi là ”chất đạm”, phổ biến trong” chế độ ăn uống” của dân bị trị miền bắc.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, giặc ngoại xâm ”từ bắc vô nắm tay cầm búa dao, tay kia cầm A.K để giết dân lành”, coi miền nam là vùng đất của một ”nước khác” nên đoàn quân xâm lược miền bắc và tay sai Việt gian là Mặt Trận Dân Hại Khủng Bố Miền Nam do tên Nguyễn Hữu Thọ cầm đầu, đã tràn vào cướp bóc, tàn ác như lời tên giặc Nguyễn Hộ: ”nhà chúng ta ở, vợ chúng ta lấy, con chúng ta bắt làm nô lệ” thật là dã man như thời bộ lạc, nhưng được tái diễn vào thời đại văn minh nhân loại. Giặc đến nhà, tha hồ cướp, chúng sử dụng các phương tiện do chính miền nam có sẵn để chuyên chở hàng hóa ăn cướp:

- Trên bộ dung xe hơi, nườm nượp và trường kỳ chạy từ nam ra bắc, mang những hàng hóa từ bàn ghế, đến cái ly, chén … đương nhiên là vàng, ngoại tệ là những mặt hàng ”ưu tiên ăn cướp”.

- Dùng hàng trăm chuyến tàu lớn, bằng đường biển, vớt vét hàng hóa, gia dụng từ nam ra bắc …. bọn giặc ngoại xâm nội địa Việt Cộng đã ”cướp sạch, vét sạch và nạo sạch” tài sản, đái quần của nhân dân Việt Nam một cách dã man với bài bản cướp bốc theo chủ nghĩa Marx Lenin và tư tưởng súc vật ”đệ nhất thái thú Hồ Chí Minh” sát sinh không gớm tay nhưng miệng hay rêu rao ”yêu nước, thương dân”.

Đối với dân chúng, những gia đình có quan hệ đến chính quyền VNCH bị cướp nhà, đất … dân chúng bình thường bị lùa về vùng rừng thiêng nước độc, gọi là kinh tế mới, để bọn giặc ngoại xâm Việt Cộng tha hồ ”cách mạng thành công, biến nhà dân thành nhà cán bộ và thân nhân của chúng”. Giặc xâm lăng nội địa Việt Cộng vơ vét và có cả gia đình của chúng gọi là ”cách mạng” hùa nhau hôi của dân chúng một cách tàn tệ, hận thù nầy chồng chất từ năm nầy qua năm khác, chứng minh hành động gian ác của bọn giặc xâm lược nội địa Việt Cộng.

Giặc xâm lược rất dã man, dù cùng màu da, ngôn ngữ, chúng thẳng tay đàn áp những cuộc ”khởi nghĩa” của dân chúng qua nhiều tổ chức, phong trào phục quốc … hàng chục ngàn ”nghĩa binh thời đại” đã bị sát hại dã man, lớp tù đày, khi công cuộc khởi nghĩa dành lại chủ quyền dân tộc bất thành. Một trong những tên giặc ác ôn thuộc giặc xâm lược nội địa là tên Nguyễn Tấn Dũng, cùng với một số tên giặc ác độc khác, đàn áp thẳng thay cuộc khởi nghĩa chống ”giặc Ngoại xâm nội địa”, do thủ lãnh Trần Văn Bá phát động cuộc” đứng lên chống giặc ngoại xâm Việt Cộng để cứu nước”. Anh hung Trần Văn Bá, kế tục sự nghiệp chống xâm lược của tiền nhân nước Việt, dù ”không thành công, cũng thành nhân” lưu danh thiên thu. Hàng ngàn” nghĩa binh phục quốc” do anh hung Trần Văn Bá lãnh đạo đã hy sinh vì tổ quốc, ghi thêm trang sử về cuộc chiến đấu chốn ”ngoại xâm nội địa Việt Cộng”. Tức là trong lịch sử dân tộc, có các cuộc xâm lược của giặc Tàu, giặc Tây và giặc Cộng.

Chống Cộng là chống ngoại xâm và nhất là ngày nay giặc Cộng trở thành thái thú cho giặc Tàu là Trung Cộng. Giặc Cộng gian ác hơn cả hầu hết các thứ giặc xâm lược trong lịch sử, chúng cai trị dân chúng Việt Nam bằng chính sách hà khắc: ”vơ vét công sức của dân ta tận xương tủy và đem bán người làm lao nô, phụ nữ làm điếm, để mang tiền về làm giàu cho tập đoàn thái thú”. Bọn giặc xâm lược nội địa Việt Cộng dùng thủ đoạn gian manh, tuyên truyền láo khoét để đánh lừa dân Việt Nam bị cai trị qua cái gọi là ”xã hội chủ nghĩa” để giữ vững chế độ bạo quyền, đại diện cho giặc Tàu tại Việt Nam. Giặc Việt Cộng chiêu mộ người bản xứ để làm lực lượng bảo vệ bạo quyền thái thú với quân đội là” đám lâu la” quân hại nhân dân, công an nhân dân … lợi dụng hai chữ ”nhân dân” để đàn áp ”nhân danh” theo lịnh của giặc xâm lược nội địa Việt Cộng. Do đó, tại hầu hết các nước tư Đông Âu đến Á châu … chưa có nước nào giành lại độc lập, tự do, thoát khỏi bàn tay giặc xâm lược nội địa Cộng Sản, do quân đội, công an thực hiện, mà do nhân dân tự động đứng lên. Thế nên, người Việt Nam hãy đứng lên đánh lại bọn giặc ngoại xâm nội địa Việt Cộng, đừng mong chờ vào lực lượng bộ đội, công an … chúng chỉ là công cụ của giặc, có nhiệm vụ bảo vệ cho thế cai trị của giặc tại Việt Nam mà thôi. Trong lịch sử chống xâm lăng, chưa hề nghe, biết quân lính giặc Tàu đứng lên để đánh lại bọn thái thú, nên trường hợp Việt Nam ngày nay vẫn như thế.

Giặc ngoại xâm nội địa Việt Cộng là thứ tam vô: ”vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc”, chúng lếu láo ”thế giới đại đồng” để ngụy trang bản chất làm ”lực lượng xâm lược do nước ngoài chỉ đạo”. Tức là Việt Cộng không bao giờ công nhận có tổ quốc, nhưng cái ”thế giới đại đồng” là quê hương của cái mẫu quốc Nga-Tàu, đó chính là ”tổ quốc thân thương của giặc Việt Cộng”. Người không nhà, thì làm gì có nhà để bảo vệ, người vô sản thật sự, đâu cần phải bảo vệ tài sản … nên giặc Việt Cộng đâu có tổ quốc mà bảo vệ. Tuy nhiên, để mị dân chúng bị cai trị, chúng bày trò ”bảo vệ tổ quốc” để đưa dân tộc bị trị vào tròng ngoại bang.

Giặc ngoại xâm nội địa Việt Cộng, ngoài vơ vét tài nguyên, bốc lột tận xương tủy, bán làm nô lệ dân bị ”đô hộ” tại Việt Nam, giặc Cộng còn với bàn tay lông lá, mưu toan ”xâm lược hải ngoại” qua các thế lực ”ngoại xâm”, nổi bật là ”lực lượng xâm lăng Việt Tân”, ló đuôi ”xâm lăng hải ngoại, đất của người Việt tỵ nạn” khi chúng tự khai, lạy ông con ở bụi nầy, tự xác nhận là lực lượng ”xâm lược đất hải ngoại” bằng lập trường:

1. Công nhận giặc xâm lăng nội địa là ”thành phần dân tộc” để ngụy trang, coi dân Việt Nam bị đồng hóa thành Việt Cộng, mà đám giặc ”xâm lược nội địa” nầy là phục vụ cho Trung Cộng. Như vậy giặc Việt Tân cũng đã và đang tiếp táy với giặc xâm lăng nội địa Việt Cộng để đồng hóa dân Việt thành Tàu. Trong lịch sử Việt Nam, không có ai xác nhận rằng: ”quân Tàu là thành phần dân tộc Việt Nam”, là tự xem mình là Hán tộc, tự đồng hóa, là mất nước đấy. Tuy nhiên băng đảng Việt Tân xác nhận: ”đảng Việt Cộng là thành phần dân tộc”, mà Việt Cộng là ”đồng chí anh em với Trung Cộng”, tức là Việt Cộng không có anh em với dân tộc Việt Nam, nhưng là ”anh em với Trung Cộng”. Điều nầy tự băng đảng Việt Tân đã ”xác định nguồn gốc” giặc của chúng, đó là thế lực ”xâm lược” của Việt Cộng ở nước ngoài.

2. Coi tên ”đệ nhất thái thú” Hồ Chí Minh là có công với đất nước: trong lịch sử dựng và giữ nước Việt Nam, có ai công nhận hay được sử ghi: ”thái thú Tô Định, Mã Viện, Trương Phụ, Sầm Nghi Đống …. là có công với đất nước Việt Nam bao giờ?. Theo đó, điều nầy một lần nữa minh xác: ”Việt Tân cũng chính là lực lượng xâm lược hải ngoại”.

Một điều nguy hiểm là giặc ngoại xâm nội địa Việt Cộng tại Việt Nam, chúng dùng chiêu bài yêu nước, bảo vệ tổ quốc để đánh lừa dân chúng từ bấy lâu nay, do đó dân chúng tưởng Việt Cộng cũng yêu nước, nên mới đây, chúng bày ra chuyện tổ chức dân chúng biểu tình trước sứ quán, lãnh sự Trung Cộng để xoa dịu lòng căm thù của dân chúng vào chế độ ”thái thú Việt Cộng”. Trong lịch sử đô hộ giặc Tàu, chuyện thái thú chống lại thiên triều Trung Hoa ít xảy ra, thì nay thái thú Việt Cộng giả vờ chống ”thiên triều Bắc Kinh” cũng là gian kế ”cách ngạn quan hỏa”, để dân tưởng thái thú Việt Cộng cũng ”yêu nước”, nhưng khi nhìn các cuộc biểu tình, thấy ngay ”rừng cờ đỏ một sao vàng” để chống lại ”cờ đỏ với 5 sao vàng” tự nó lòi ra cái gian ý của cả hai thái thú Việt Cộng và Trung Cộng. Ở nước ngoài, băng đảng tay sai Việt Tân, cũng ngụy trang: cờ vàng, đấu tranh dân chủ đa nguyên … nhưng bên trong thì ”Việt Cộng là thành phần dân tộc, Hồ Chí Minh có công với đất nước” nên bọn tay sai nầy tự chúng vạch lưng cho người xem thẹo, không còn nghi ngờ gì nữa bán chất giặc ở hải ngoại. Do đó, khi giặc xâm lược nội địa Việt Cộng phát động biểu tình chống Trung Cộng ở trong nước, thì ở nước ngoài, tay sai Việt Tân hưởng ứng, biểu tình chống Trung Cộng, thật là nhịp nhàng như quân xâm lược với Việt gian.

Dân tộc Việt Nam đã từng trải qua những thời kỳ đen tối qua hàng ngàn năm nô lệ giặc Tàu, trăm năm đô hộ giặc Tây, nay cũng hơn nửa thế kỷ, dân ta đắm chìm trong vòng ”đô hộ giặc Cộng”. Giặc Cộng xâm lược miền nam rõ hơn cả ”đêm giữa ban ngày” thế mà tên nhạc sĩ Việt gian Trịnh Công Sơn trân tráo: cho cuộc kháng cự chống lại giặc xâm lăng miền bắc là: ”nội chiến từng ngày”. Trong lịch sử nước Việt, có ai cho cuộc kháng chiến chống Tàu, đánh Tây là ”nội chiến” bao giờ?.

Toàn dân Việt Nam trong nước hãy noi theo tiền nhân dựng và giữ nước, truyền thống chống giặc ngoại xâm: cùng nhau xuống đường, đánh đuổi bọn giặc ngoại xâm nội địa Việt Cộng để có độc lập, tự do, cơm áo … người Việt hải ngoại hãy cùng nhau tẩy chay giặc xâm lược Việt Tân ”để cho cộng đồng được yên, ổn cố đời sống …. chống ngoại xâm là nghĩa vụ của tất cả mọi người dân trong và ngoài nước. Muốn có kết quả, trước hết phải tận diệt giặc ngoại xâm trực tiếp là ”tập đoàn thái thú Việt Cộng” và hải ngoại là: ”thế lực cánh tay của giặc nối dài Việt Tân”.

Giặc Cộng và Việt gian vô cùng ma mảnh, chúng lo sợ ngày tàn, nên tìm cách đánh lạc hướng, giả vờ chuyển sang chống Trung Cộng dưới chiêu bài ”bảo vệ bờ cõi”, nhưng thực ra, Việt Cộng không có tổ quốc, chúng bảo vệ cái gì? Nhưng chúng chỉ bảo vệ quyền lợi tập đoàn thái thú và ngoại bang Trung Cộng.

Xin chớ bị giặc đánh lạc hướng, mục tiêu hàng đầu, trước mắt luôn là ”giặc xâm lược nội địa Việt Cộng”.

Trương Minh Hòa
12.06.2011


Mắng thằng việt cộng đăng bài trên báo Việt Nam Tự Do số ra ngày 3/6/11

Để trả lời đoạn văn sau đây:
    “Chính là để bảo vệ cái luận điểm của tớ học được và trải nghiệm từ thực tế cuộc sống là:
    KHÔNG AI CÓ THỂ ĐÁNH ĐỔ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN BẰNG CHÍNH NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN”. (Gần đây tớ mới biết Lê nin cũng đã từng nói như thế khi giáo dục các d/c không hoàn thành nhiệm vụ của mình. Té ra ông De Gaulle cũng chỉ là “học tập” cụ Lê nin thôi!), của tác giả Tô Hải đăng trên báo Việt Nam Tự Do số ra ngày 3/6/11.

    Nguyễn Nhơn

















    MẮNG VIỆT CỘNG GIÀ TÔ HÔ
    CHỬI VIỆT CỘNG TRẺ THỐI DŨNG


    Nè, việt cộng già Tô Hải nghe đây
    Mầy là thằng Bắc Kỳ BẢY LĂM
    Khi đồng bào Miền Nam nói
    Bờ Ca bảy lăm là để chỉ

    Bọn việt cộng ăn cướp từ Bắc vô
    Phân biệt với người Bắc thân thương
    Cùng chia sẻ ngọt bùi trước Bảy Lăm
    Cho minh bạch đừng chụp mũ

    Ngày Tô Hô vô Nam
    Trên vai vẻn vẹn một cái bồng
    Đựng đồ đạc các thứ
    Phía dưới lủng lẳng mỗi “cụ hồ”

    Từ mở mắt cho tới khi xuống lỗ
    Chỉ biết bú cụ hồ và sư tổ Lê nin
    Thiếm xực thêm Lão tây già
    Thực dân lõ đít De Gaulle, C`est fini le dire

    Tiềng Tây bồi có nghĩa là:
    Thôi hết nói nổi rồi
    Mầy nay đã hết thời
    Hãy câm miệng, đừng hô khẩu hiệu thúi nữa.

    Rồi, bây giờ tới phiên việt cộng trẻ Thối Dzũng
    Thủ tướng gì thằng mất dạy mầy
    Mới đây lại mở miệng thúi hô:
    “Một tấc đất, một tấc biển, quyết không để mất!!!”
    Trời đất hỡi! Mầy u mê quá vậy!
    Tám chục dặm Lãnh Hải mất tiêu rồi, biết không?

    Luật Quốc tế, Lãnh Hải hai trăm dặm
    Tụi bây mới nho nhe ra được trăm hai chục
    Phỉ Tàu xông vô cắt cáp tỉnh bơ
    Cả lũ bây trơ mắt ếch ra nhìn, có hổ thẹn không?

    Một Tấc đất, quyết không mất hả?
    Muôn ngàn cây số mất rồi có biết không?
    Từ Nam Quan đến Mũi Cà Mau
    Chinatown mọc như da chó vá, biết không?

    Lại còn nỗi nhục Quốc thể nầy:
    Trời Đất quyết không dung
    Chệt Tàu xài tiền Nhân dân tệ của chúng
    Khắp phố thị ta như ao nhà của nó, biết không?

    “Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
    Lũ gian tà còn bán nước cầu vinh
    Giặc cuồng Minh thừa cơ tứ ngược
    ... Thẹn nhục nầy để lại ngàn thu …!!!

    BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO đó, biết đọc không?!

    Nguyễn Nhơn
    12/6/11


Saturday, June 11, 2011

Vịt Tiềm

    Lại Đảng Việt Tân Chó Chết
Lão Móc

Lời giới thiệu: Cứ lâu lâu, người Việt tỵ nạn lại thấy đảng Việt Tân (VT) loan tin đảng viên của mình bị bắt vì về nước biểu tình với “dân oan”, biểu tình “chốngTrung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa”. Những đảng viên VT bị VC bắt giữ vài ngày rồi thả, ra hải ngọai lại được vài tờ báo “chàng hảng” phỏng vấn. Ba cái trò hề miết rồi cũng không được ai để ý.

- Mới đây, đảng VT “chơi nổi” đăng tải một bài viết về “DÂN OAN”, và lần này, đảng VT đã được MẸ NẤM, một blogger trong nước “góp ý” rất tới nơi, tới chốn, như sau:

“… Đồng hành cùng dân oan dưới hình thức biểu tình phải chăng VT đang muốn tạo ra một cuộc cách mạng hoa lài tại VN nhờ vào hiệu ứng đám đông?

Nếu lấy hệ lụy dân oan để đấu tranh với CS thì VT đang đi vào vết xe đổ của chính đảng CS không hơn không kém …

… Tôi cho rằng một khi đã làm cách mạng thì hãy xây dựng cho mình một chủ thuyết đích thực. Giải phóng hoàn toàn sự “oan” của dân. Chứ đừng thay nỗi oan này bằng một oan khiên khác, bởi đó là điều tối kỵ khi xây dựng nền móng tư tưởng và các lý thuyết điều chỉnh xã hội.

Và khi chưa tìm ra cách hữu hiệu để bảo vệ và tạo chính danh cho mình thì đừng nên để thêm bất kỳ ai phải khổ nữa”.

- Cũng mới đây, khi nhóm Nhật Ký Yêu Nước tổ chức biểu tình ngày 5-6-2011, đảng VT lại “dây máu ăn phần” khiến các bạn trẻ phải “la làng” vì sợ VC nó lại ghép vào chuyện liên lạc với “đảng phản động có lai-sân VT”. Đảng phái gì mà ai cũng tránh né như cùi hủi mà cứ trơ mặt ra cứ như là EM VIỆT CỘNG – nói theo cách nói của ông Kiêm Ái.

Để mọi người nhìn rõ MẶT THẬT CỦA ĐẢNG VIỆT TÂN VÀ NHỮNG VIỆC LÀM TÁC HẠI CHO CÔNG CUỘC TRANH ĐẤU HIỆN NAY, chúng tôi xin cho đăng tải lại bài viết “Cầm Vàng Mà Lội Qua Sông”của Lão Móc Nuyễn Thiếu Nhẫn.
________________
    Cầm vàng mà lội qua sông
    Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng!

    (Ca dao)
Cách đây 15 năm, một quyển hồi ký ra đời đã làm xôn xao dư luận và làm cho Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam (gọi tắt là Mặt Trận) đã tìm mọi cách đánh phá là quyển “Hồi Ký Một Đời Người”.

Tác giả quyển sách là cụ Phạm Ngọc Lũy, Chủ Tịch Phong trào Quốc Gia Yểm trợ Kháng chiến. Cụ Phạm Ngọc Lũy còn được nhiều người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản trên khắp thế giới biết đến vì cụ là Thuyền trưởng tàu Trường Xuân, chiếc tàu cuối cùng đã đưa trên 4000 người thoát khỏi “Xứ Tù Chung Thân”“nước Việt Nam xã nghĩa” trong ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Người in và phát hành quyển sách là ông Đỗ Thông Minh. Cùng với nhà báo Huỳnh Lương Thiện, ông Đỗ Thông Minh là một trong những người sáng lập ra Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam (từ nay viết tắt là MT). Cùng với nhà báo Huỳnh Lương Thiện, ông Đỗ Thông Minh đã từ Nhật đến Hoa Kỳ điều hành báo Kháng Chiến, cơ quan ngôn luận của MT. Khi MT bể hai lần thứ nhất vì sự tranh giành tiền bạc giữa ông Phạm Văn Liễu và ông Hoàng Cơ Định, họ đã rời bỏ MT.Ông Huỳnh Lương Thiện làm báo Mõ Tỵ Nạn và hiện nay là tuần báo Mõ San Francisco. Ông Đỗ Thông Minh trở về Nhật viết và in sách.

Mở đầu quyển “Hồi Ký Một Đời Người, Tập 2”. ông Đỗ Thông Minh viết:

“Cao trào đấu tranh đã như sóng thần dâng lên đến tột đỉnh nhờ sự gắn bó giữa Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam và Phong Trào Quốc Gia yểm Trợ Kháng Chiến cũng như giữa hai tổ chức này với các đoàn thể và đông đảo quần chúng.

- Sự nức lòng của quần chúng đã thể hiện qua việc 2.000 người chen lưng thích cánh đi đón tiếp chiến hữu Chủ tịch Hoàng Cơ Minh từ chiến khu về ngay tại phi trường Los Angeles, Hoa Kỳ. Những buổi nói chuyện tiếp theo đó đồng bào đã đến tham dự đông nghẹt khiến cho hàng trăm người phải đứng ngoài hội trường.

- Sự hợp nhất tất cả lòng người như một đã thể hiện qua việc hình thành 138 Ủy Ban Yểm Trợ Kháng Chiến trên toàn thế giới. Tất cả đã làm sống lại bừng bừng tinh thần “Hội Nghị Diên Hồng” qua “Đại Hội Chính Nghĩa” ngay tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn với 3.000 người từ khắp Âu, Á, Mỹ, Úc về tham dự. Và qua việc hàng trăm đoàn thể người Việt khắp nơi tự nguyện ký văn thư ủng hộ Mặt Trận là một hiện tượng chưa từng thấy trong cộng đồng người Việt ở cả trong nước cũng như ngoài nước.

- Sự lớn mạnh của công cuộc đấu tranh đã thăng hoa thành hàng trăm buổi hội họp Yểm Trợ Kháng Chiến dưới mọi hình thức của mọi người, mọi giới đầy cảm động liên tiếp diễn ra ở khắp mọi nơi. Các vùng đông người Việt thì không thiếu một địa danh nào mà ngay cả tận những nơi xa xôi thuộc phần Nam hay Bắc bán cầu rất ít người cũng thấy góp mặt. Mọi người đều chung một ý thức trách nhiệm là chúng ta tự cứu mình trước khi kêu gọi mọi người khác cứu mình.

Tiếc thay trong lúc khí thế lên cao như vậy thì một số nhân vật lãnh đạo Mặt Trận hoặc vì quá tự mãn, hoặc vì quá nôn nóng cho đại cuộc, hoặc vì tỵ hiềm cá nhân đã không tự chế được mình nên đi dần đến chỗ độc đoán, kết bè phái đấu tranh nội bộ với nhau khiến Mặt Trận đi dần đến chỗ rạn vỡ. Khẩu hiệu “Đoàn Kết Là Vũ Khí” chính Mặt Trận nêu lên đã bị bỏ rơi lúc nào không hay! Những người lãnh đạo Mặt Trận mà như vậy thì Phong Trào cũng bị ảnh hưởng nặng nề và quần chúng xa rời là điều tất nhiên không thể tránh được.

Độc đoán dẫn đến sai lầm, rồi dùng độc đoán để che đậy sai lầm là kết quả của sự thiếu tinh thần dân chủ và phản tỉnh. Vì đại nghĩa, quần chúng nhanh chóng hết lòng yểm trợ đấy, nhưng nếu làm việc không đứng đắn thì quần chúng cũng bỏ rơi nhanh chóng như vậy. Ở những xã hội tự do và thông tin đầy đủ như ở hải ngoại này thì những việc khuất tất không lừa được ai, không kéo dài được lâu.”

Cũng trong “Lời Tựa” quyển hồi ký này, tác giả là cụ Phạm Ngọc Lũy, Chủ tịch Phong trào Quốc Gia Yểm trợ Kháng chiến, đã viết những dòng chữ cay đắng như sau:

“1994, Mười năm! Mười năm đã thực sự đi qua. Mười năm có thể một thế hệ mới đã trưởng thành, thế hệ cũ đang lùi vào dĩ vãng. Mười năm, thời gian có thể đủ để làm thành công đuợc một cuộc cách mạng, làm tốt đẹp được một chuyện đổi đời. Nhưng, mười năm, thời gian lại chưa đủ xóa đi được cái bẽ bàng của sự phản bội với chính nội tâm mình, làm lu mờ đi cái mặc cảm bán đứng niềm tin của đồng bào, mặc cảm đồng lõa với những gian thương mua bán ước mơ và niềm hy vọng của cả một dân tộc.”

Cũng trong “Lời Tựa”, cụ Phạm Ngọc Lũy đã viết:

“Những sự thực được viết ra đây không phải để công kích một đoàn thể hay cá nhân nào. Viết ra như một đóng góp về những kinh nghiệm thất bại của bước trước gửi lại cho “những bước chân sau” để tránh giẫm lên những lỗi lầm.”

Tiếc thay những lời tâm huyết của cụ Phạm Ngọc Lũy, ông Đỗ Thông Minh là những người đã có thời gian dài gắn bó với Mặt Trận đã không được những người tiếp tục lãnh đạo Mặt Trận sau khi Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, Chủ tịch của Mặt Trận qua đời trong một đợt Đông tiến, lắng nghe.

Trong “Hồi Ký Một Đời Người, Tập II” các ông Đỗ Thông Minh, Trần Minh Công đều xác nhận là ông Hoàng Cơ Minh đã chết. Các hãng thông tấn quốc tế như Reuters, AFP, UPI… đều loan tin ông Hoàng Cơ Minh tử trận. Chỉ có Mặt Trận là lúc nào cũng khẳng quyết là “Chủ tịch Hoàng Cơ Minh vẫn còn sống và đang lãnh đạo công cuộc kháng chiến tại … quốc nội”. Năm 1995, ông Nguyễn Kim, Tổng vụ trưởng Hải ngoại của MT (nay là Chủ tịch đảng Việt Tân) gửi lời chúc Tết của Chủ tịch Hoàng Cơ Minh trên đặc san Đồng Tâm của Mặt Trận; ông Bùi Minh Đoàn tức Lý Thái Hùng (hiện nay là Tổng bí thư đảng Việt Tân) khẳng định là: Chủ tịch Hoàng Cơ Minh vẫn còn sống và sẽ xuất hiện khi điều kiện cho phép (sic!)”.

Theo một bức thư của luật sư Hoàng Duy Hùng gửi cho bà doctor-to-be Trần Diệu Chân, (lúc đó) là phát ngôn viên của Mặt Trận thì “năm 1991, chính phủ Hoa Kỳ đưa Mặt Trận ra Tòa ở San Jose với 39 tội danh gồm cả việc trốn thuế, buôn bán thuốc phiện v.v… Năm 1995, chính phủ Hoa Kỳ ngưng không tố Mặt Trận những tội danh này nữa vì hai bên đã đi đến một điều đình và nhất là vì ông Hoàng Cơ Minh là thủ lãnh đã qua đời”. Theo tài liệu từ tòa án mà chúng tôi có được thì các người bị bắt là các ông Hoàng Cơ Định, Nguyễn Kim Hườn và ông Bình Tấn Nguyễn, em vợ của ông Hoàng Cơ Định. Phía Mặt Trận phải thuê luật sư biện hộ, đóng tiền ngoại hầu tra, lập ra “Quỹ Công Lý” thu góp khoảng 120.000 Mỹ kim.

Ông Đỗ Thông Minh đã có nhận xét về việc này khi trả lời cuộc phỏng vấn của cụ Phạm Ngọc Lũy như sau: “Kể cũng lạ, đối đầu với Sở Thuế tức chính phủ Hoa Kỳ mà phải dùng đến “Công Lý”, lại không thấy nêu ra điểm nào sở thuế “phi Công lý” cả.”

Trong năm 1994, Mặt Trận thua vụ kiện báo chí. Ngay trong phiên tòa tại San Jose, ông Cao Thế Dung, một bị cáo đã phải kêu gọi trước Tòa: “Mặt Trận là một Chính phủ vô hình, Một Chính Phủ Đen.”

Sau đó, Mặt Trận đã dùng thủ đoạn “khủng bố trắng” là dùng báo chí ngoại vi để đánh phá, mạ lị, vu cáo các ông Nguyễn Thanh Hoàng, Cao Thế Dung, Nguyên Vũ.

Cũng cùng một phương cách, ngay sau khi luật sư Hoàng Duy Hùng lên tiếng tố cáo về cái chết của Chủ tịch Hoàng Cơ Minh, những việc làm khuất tất của Mặt Trận. Cựu tù nhân Phạm Văn Thành, một cựu đoàn viên của Mặt Trận lên tiếng qua “Những Dòng Tâm Tư Nước Mắt” kêu gọi những người lãnh đạo Mặt Trận hãy quan tâm đến những đoàn viên đã hy sinh và còn đang bị tù đày thì, lập tức những người này bị đánh phá một cách tàn độc như trước đó Mặt Trận đã đánh phá các nạn nhân trong vụ án “Mặt Trận kiện báo chí.”

Điều chua xót nhất là Mặt Trận đã dùng những đồng tiền tình nghĩa mà đồng bào hải ngoại đóng góp cho công cuộc kháng chiến giải phóng quê hương quay lại đánh phá những người chống Chộng, những cơ quan truyền thông chống Cộng – như đài phát thanh Quê Hương (lúc đó) là cơ quan truyền thanh đã đứng ra tổ chức “Diễn Đàn Công Luận” lên tiếng về Mặt Trận.

Mặt Trận lúc nào cũng la làng là mình bị đánh phá, nhưng, chính Mặt Trận lại là một tổ chức tìm mọi cách đánh phá công cuộc chống Cộng, gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại. Theo một tài liệu do luật sư Hoàng Duy Hùng phổ biến thì, vào năm 1999, khi các ông Hoàng Duy Hùng, Phạm Văn Thành lên tiếng trên “Diễn Đàn Công Luận” do đài phát thanh Quê Hương tổ chức tại San Jose, Mặt Trận đã không dám công khai đối chất. Đảng Việt Tân phải họp Đại Hội để tìm cách giải quyết một cách bí mật. Theo luật sư Hoàng Duy Hùng thì, trong Nội san Việt Tân số 38 tháng 7&8 năm 1999, ở đoạn 4 cột hai trang 10, đã viết về đại hội bí mật đó như sau: “Qua phần hai là sinh hoạt nội bộ của Đảng Bộ Bắc California. Vì ngày hôm sau Chủ Nhật 11 tháng 7 năm 1999 là ngày nói chuyện của Hoàng Duy Hùng và Phạm Văn Thành tại San Jose, cho nên hầu hết thời giờ sinh hoạt bình định, đối phó, phản đòn với những xáo trộn đang xảy ra một cách trầm trọng tại Bắc Cali, nhất là tại San Jose thủ phủ chính trị của người tỵ nạn.”

Để thực hiện “những kế hoạch bình định, đối phó, phản đòn với những xáo trộn đang xảy ra một cách trầm trọng tại Bắc Cali” chắc chắn cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản tại Bắc California không sao quên được chuyện bà Trần Diệu Chân, phát ngôn viên của Mặt Trận đã cùng đứng tên với ông Chủ tịch Hoàng Cơ Minh trong một đơn kiện đài phát thanh Quê Hương lên Tổng đài AM-1120 và cơ quan FCC.

Trong quá khứ, Mặt Trận đã làm những chuyện khuất tất như chỉ thị cho Đoàn Thanh niên Phan Bội Châu là một tổ chức ngoại vi tìm cách đánh phá tinh thần chống Cộng của đồng bào trong vụ biểu tình chống Trần Trường bằng cách tổ chức chiếu những slides lấy từ tài liệu tuyên truyền cho VC của Lê Lý Hayslip, thả chim bồ câu trong Đêm Thắp Nến; lén lút phát lồng đèn có in câu “Vì Các Cháu Thiếu Nhi, Toàn Dân Ta Kháng Chiến” tại Tết Trung thu được tổ chức tại Houston vào ngày 24 tháng 9 năm 1999 do ban Đại Diện Cộng Đồng tổ chức.

Vừa khai tử Mặt Trận, công khai ra mắt đảng Việt Tân, đảng đã chỉ thị tổ chức ngoại vi của mình là Ủy Ban vận Động Chính Trị (VPAC) tổ chức cái gọi là “Ngày Tự Do Việt Nam” vào ngày 30 tháng 4 năm 2005 tại Hoa Thịnh Đốn. Bị dư luận phản đối, đảng Việt tân đã cho thêm ba chữ “Đấu Tranh Cho” để biến ngày này thành “Ngày Đấu Tranh Cho Tự Do Việt Nam”.

Dư luận cho rằng đây là hình thức ra mắt của đảng Việt Tân với đảng CSVN để từng bước ngồi chung với đảng CSVN trong “tiến trình dân chủ hóa”.

Tháng 1 năm 2006, đảng Việt Tân lại “bể” một lần nữa – cũng do chính từ những người lãnh đạo đảng tố cáo. Lần “bể” này không phải do tranh dành tiền bạc mà là vì … “chệch hướng”! Bác sĩ Trần Xuân Ninh, Ủy viên Trung ương đảng VT đã phát biểu về việc Vũ Mão, Trưởng Ban Đối Ngoại của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội CSVN, tuyên bố VC sẽ mời “một số Việt kiều có cống hiến lớn cho đất nước làm đại biểu Quốc Hội” như sau: “Tất cả tạo sự suy đoán rằng sẽ có thay đổi chính trị. Người dân thì đơn giản cho rằng đảng và nhà nước CSVN sẽ phải nhượng bộ, và rồi Mỹ sẽ tới Việt Nam. Các giới hoạt động chính trị thì có những tính toán để hy vọng có chân trong sự thay đổi này. Những tính toán này dựa trên hai nền tảng.

Nền tảng thứ nhất: tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ trong khuôn khổ chấp nhận đối tác CSVN.

Nền tảng thứ hai: mong mỏi sự chấp nhận của CSVN. Thí dụ như xuống giọng mềm đi thái độ quyết liệt đấu tranh chấm dứt chế độ bằng chiến thuật thay đổi từ từ qua hợp tác và bầu cử.

Bằng cách làm việc từ thiện và cải thiện dân sinh để mua lòng cử tri. Bằng cách hô hào đồng bào hải ngoại về nước dạy dân chủ và nhân quyền cho người dân đang bị áp chế để họ đấu tranh. Bằng cách ra tín hiệu sẵn sàng hợp tác với một phe gọi là Đổi Mới trong đảng CSVN để loại phe Thủ Cựu (trong vụ Tổng Cục 2). Hy vọng mình sẽ được nhận lên một đoàn tàu mà nhóm lãnh đạo CS gọi là Hy Vọng hay Đổi Mới hiện nay đang lái. Bằng cách o bế chiều chuộng những nhà đấu tranh dân chủ để hy vọng họ sẽ hợp tác với mình trong một cái lien minh chính trị đối lập với nhà nước CS.”

Tưởng không có lời nhận xét nào rõ ràng hơn về “sự chệch hướng” của đảng Việt Tân, cũng như “những tính toán” của một số tổ chức, đảng phái tại hải ngoại qua lời phát biểu của bác sĩ Trần Xuân Ninh qua việc Vũ Mão thả cái mồi “Đại biểu Quốc Hội” để dụ mấy ông “to đầu mà dại…!”

Việc bà “Tiến sĩ” Trần Diệu Chân trong buổi ra mắt sách “Đông Âu tại Việt Nam” của ông TBT Lý Thái Hùng tại San Jose, đã kẹp cổ bà đảng viên VT Kim Loan đưa ra khỏi phòng họp khi bà này lên tiếng về việc đài phát thanh Chân Trời Mới và đài Tiếng Nước Tôi trong tiết mục “Câu Chuyện Lịch Sử” đã cho phát thanh một bài viết của tên tay sai VC Hà Dương Dực bênh vực VC trong cuộc xâm chiếm miền Nam. Tên Hà Dương Dực này lôi cả những người đã chết như cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và viết như sau:

“Nói về chính nghĩa của cuộc chiến thống nhất, chúng ta có thể nói miền Nam thua ngay từ khi Ngô Đình Diệm làm mất chính nghĩa Dân tộc, Tự Do.”

Tên Hà Dương Dực còn tỏ ra hỗn xược và cực kỳ khốn nạn – như “Bác của nó” là tên tội đồ dân tộc Hồ Chí Minh - đã xúc phạm tới tiền nhân khi“bác bác, tôi tôi” với Đức Thánh Trần – tên này đã viết những dòng chữ mất dạy như sau:

“Nguyễn Trãi mới qua có mười năm kháng chiến mà khi thắng trận còn kiêu hãnh, sinh chướng, chọc ghẹo con gái nhà lành bên hồ Trúc Bạch, rồi lấy làm nàng hầu.”

Luật sư Nguyễn Văn Chức có ví von việc làm này của Lý Thái Hùng (chỉ thị đài phát thanh Chân Trời Mới, Tiếng Nước Tôi phát thanh bài của tên Hà Dương Dực) cũng giống như việc làm của tên đặc công Trần Văn Đang, kẻ đã giấu chất nổ trong xe Vespa với mục đích giật sập một khách sạn Mỹ trong thời kỳ chiến tranh. Và luật sư Nguyễn Văn Chức, cách đây 3 năm, đã đặt câu hỏi:
    “LÝ THÁI HÙNG, TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG VIỆT TÂN THEO LỆNH CỦA VIỆT CỘNG, HAY TỰ NGUYỆN ÔM BOM PHÁ HOẠI CÔNG CUỘC TRANH ĐẤU CHO TỰ DO, DÂN CHỦ VÀ NHÂN
    QUYỀN MÀ TOÀN DÂN VIỆT NAM THEO ĐUỔI TRONG SUỐT 31 NĂM QUA?”
“Vì đại nghĩa, quần chúng nhanh chóng hết lòng yểm trợ đấy, nhưng nếu làm việc không đứng đắn thì quần chúng cũng bỏ rơi nhanh chóng như vậy”. Tưởng không có nhận xét nào xác đáng hơn nhận xét này của học giả Đỗ Thông Minh, một trong những người đã thành lập Mặt Trận, nhưng cũng đã lập tức rời bỏ Mặt Trận khi những người lãnh đạo của tổ chức này đi vào con đường sai quấy, phản lại lòng tin cậy, niềm tin yêu của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản!

Trước kia, cụ Tản Đà có câu: “Tội ác lớn nhất là lợi dụng lòng yêu nước!”. Qua thế kỷ 21, câu nói này lại càng có lý hơn khi áp dụng vào đảng Việt Tân.

Xem ra thời nào cũng chỉ có bọn dân đen chúng ta là tội nghiệp! Thời nào bọn dân đen, bọn “thất quốc tha bang” chúng ta, sau khi bị bọn Tướng lãnh quân phiệt, bọn chính khứa hoạt đầu, bọn truyền thông “lợi dụng chiêu bài chống Cộng để mưu sinh” lợi dụng lòng tin của chúng ta để buôn dân, bán phở, lợi dụng quyền tự do báo chí để giở trò vu cáo, mạ lỵ hèn hạ, dùng tiền mua chuộc bọn côn đồ hành hung hăm dọa những người làm truyền thông chân chính phục vụ lẽ phải và sự thật … làm vỡ mộng thì cũng đành phải ngâm nga câu:
    “Cầm vàng mà lội qua sông
    Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng!”
Lão Móc