Wednesday, September 8, 2010

Kỷ Niệm Thăng Long Và Nhu Cầu Chính Trị - Trần Gia Phụng

Trần Gia Phụng

Vào tháng 7 năm canh tuất (1010), vua Lý Thái Tổ (trị vì 1010-1028) đời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Đại La, và ngài đổi tên Đại La thành Thăng Long. Tính cho đến nay, danh xưng Thăng Long được chẳn một ngàn năm. Nhà nước cộng sản Việt Nam (CSVN) dự tính tổ chức Lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long vào ngày thứ Sáu 1-10-2010 (24-8 canh dần).

Ngày dương lịch và âm lịch nầy không phải là ngày dời đô, cũng không phải là một ngày trọng đại trong lịch sử Việt Nam. Ngày 1-10 là ngày quốc khánh của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (CHNDTQ). Như thế nói trắng ra, vì nhu cầu chính trị, CSVN mượn Lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long để tập họp dân chúng, mừng quốc khánh cộng sản Trung Quốc (CSTQ).

Đây không phải là lần đầu vì nhu cầu chính trị, CSVN sử dụng thủ thuật nầy. Khi mới cướp chính quyền năm 1945, Hồ Chí Minh đã một lần sáng kiến ra cách thức nầy để lấy lòng viên cao ủy Pháp tại Đông Dương là đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu.

Nguyên theo tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945, tại Việt Nam giải giới quân đột Nhật ở nam vĩ tuyến 16 là quân đội Anh và ở bắc vĩ tuyến 16 là quân dội Trung Hoa Quốc Dân Đảng (THQDĐ). Sau khi theo quân Anh, tái chiếm miền Nam Việt Nam, Pháp thương lượng với THQDĐ đưa quân ra Bắc. Sợ bị tiêu diệt, Hồ Chí Minh vội vàng ký với Pháp thỏa ước Sơ bộ ngày 6-3-1946, theo đó Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương (LBĐD) và trong Liên Hiệp Pháp (điều 1); Việt Nam sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa để giải giáp quân đội Nhật (điều 2).

Thỏa ước Sơ bộ hoàn toàn trái ngược với lời thề chống Pháp của Hồ Chí Minh khi trình diện chính phủ vào ngày 2-9-1945. (Đoàn Thêm, 1945-1964: Việc từng ngày, Hai mươi năm qua, California: Nxb. Xuân Thu tái bản không đề năm, tr. 13.) Thỏa ước Sơ bộ bị dân chúng và các đảng phái chính trị theo chủ trương dân tộc phản đối.

Sau khi thương thuyết với THQDĐ, cao uỷ Pháp tại Đông Dương, đô đốc D’Argenlieu, mở cuộc kinh lý khu vực phía bắc vĩ tuyến 16 từ ngày 14-5-1946. D’Argenlieu đến Vạn Tượng (Vientiane, Laos) ngày 17-5-1946, đến Hà Nội chiều ngày 18-5-1946. Trên danh nghĩa, D’Argenlieu là cao uỷ, đại diện chính phủ Pháp tại LBĐD. Việt Nam là một quốc gia trong LBĐD. Vậy D’Argenlieu là nhà lãnh đạo hay quốc trưởng của Việt Nam và là cấp chỉ huy của Hồ Chí Minh. Theo nghi thức ngoại giao, để đón tiếp quốc trưởng, nhà cầm quyền Việt Minh phải treo quốc kỳ (cờ đỏ sao vàng) trong ba ngày để đón D’Argenlieu, nhưng VM nói là để mừng sinh nhật Hồ Chí Minh là ngày 19-5, tránh làm cho dân chúng phản đối chuyện đón quan chức Pháp.

Ngày sinh nhật nầy có nhiều câu hỏi cần được đặt ra.
    1. Nhiều tài liệu cho thấy Hồ Chí Minh nhiều lần ghi năm sinh khác nhau, không chính xác.

    2. Riêng trong đơn xin vào Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) vào đầu năm 1922, Hồ Chí Minh, lúc đó có tên là Nguyễn Ái Quốc, ghi trong phiếu cá nhân rằng ông sinh ngày 15-2-1895. (Jacques Dalloz, “Les Vietnamiens dans la Franc-Maçonnerie coloniale”, Revue française d’Histoire d’Outre-mer, 3ème Trimestre, Paris: Société Française d’Histoire d’Outre-mer, 1998, tr. 105.) Vậy tại sao bây giờ lại đổi ngày sinh thành 19-5.

    3. Trước đó, Hồ Chí Minh không đề cập đến sinh nhật, thì tại sao nhân cuộc viếng thăm của D’Argenlieu lại có chuyện sinh nhật Hồ Chí Minh?
Vì các lẽ đó, dư luận cho rằng Hồ Chí Minh ngụy tạo sinh nhật để treo cờ, nhằm đón tiếp D’Argenlieu. Tuy nhiên, nếu treo cờ để đón đại diện Pháp thì Hồ Chí Minh sợ dân chúng phản đối và kết tội phản bội vì lúc đó tinh thần chống Pháp của dân chúng rất cao, nên Hồ Chí Minh vì nhu cầu chính trị, mượn cớ treo cờ mừng sinh nhật để tránh sự bất bình của dân chúng. Cần chú ý, ngày 19-5 là ngày ra mắt công khai mặt trận Việt Minh năm 1941 ở Pắc Bó, Cao Bằng.

Trường hợp sửa đổi ngày kỷ niệm vì nhu cầu chính trị thứ hai là ngày thành lập đảng CSVN. Vào ngày 6-1-1930, Hồ Chí Minh, lúc đó lấy tên là Lý Thụy, với tư cách là đại biểu của Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS), đứng ra thành lập đảng CSVN tại Hồng Kông. Ngoài những tài liệu Tây phương, tài liệu cụ thể về ngày thành lập đảng là “Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ II của đảng” do Hồ Chí Minh trình bày ngày 11-2-1951. Trong mục thứ hai tiểu đề “Đảng ta ra đời”, Hồ Chí Minh xác định: “Ngày 6-1, Đảng ta ra đời”. (Bài nầy được đăng trong sách do Hồ Chí Minh viết, Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1976, tt. 97-120; và được đăng lại trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Hà Nội: Nxb. ChínhTrị Quốc Gia, 2000, tt. 153-176.)

Như thế, rõ ràng ngày thành lập đảng CSVN là ngày 6-1-1930. Xin kèm theo đây một tài liệu kỷ niệm thành lập đảng CSĐD năm 1948. (Chú ý câu mở đầu: Chính đảng của công nhân Đông Dương thành lập vào ngày 6-1-1930.) (Trích: Chính Đạo, Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại, tập 1, in lần thứ hai, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 247.)

Tuy nhiên, về sau tại Đại hội III đảng Lao Động (tức đảng CSVN) ở Hà Nội từ 5 đến 10-9-1960, Bộ chính trị Trung ương đảng Lao Đông yêu cầu Đại hội thông qua quyết định thay đổi ngày thành lập đảng là 3-2-1930, vì “các đồng chí Liên Xô cho biết ngày đó mới đúng theo tài liệu lưu trữ của Liên Xô”. (Nguyễn Minh Cần, Đảng Cộng Sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế, Nxb. Tuổi Xanh, không đề nơi xuất bản, 2001, tr. 74.)

Năm 1960, do nhu cầu chính trị, đảng Lao Động sửa ngày thành lập đảng theo lệnh của Liên Xô, nhưng cho đến nay, Liên Xô sụp đổ 20 năm rồi, đảng CSVN vẫn chưa chịu sửa lại cho đúng ngày thành lập, mà vẫn bắt học sinh học tập sai ngày, và đảng viên kỷ niệm sai ngày thành lập đảng CSVN.

Chẳng những đổi ngày vì nhu cầu chính trị, mà cũng vì nhu cầu chính trị, CSVN còn sửa luôn lịch để tạo sự bất ngờ trong cuộc tổng tấn công miền Nam Việt Nam vào năm 1968. Nguyên sau khi Bộ chính trị Trung ương đảng Lao Động (CSVN) quyết định sẽ tổng tấn công miền Nam vào dịp Tết Mậu Thân, chính phủ Bắc Việt ra quyết định số 121/CP ngày 8-8-1967, cho Nha Khí tượng thay đổi âm lịch, theo đó tháng chạp năm đinh mùi trong lịch mới ở Bắc Việt không có ngày 30 (âm lịch), trong khi ở Nam Việt có ngày 30 (âm lịch). Điều đó có nghĩa là Tết Bắc Việt Nam đến trước Tết Nam Việt Nam một ngày.

Việc đổi âm lịch nầy có hai điểm đáng ghi nhận:
    1. Nha Khí tượng Hà Nội xác nhận việc đổi âm lịch không theo tính toán của những nhà khoa học lịch pháp, mà theo quyết định của nhà cầm quyền Hà Nội, tức việc đổi âm lịch có tính cách chính trị. (”Lời giới thiệu của Nha Khí tượng” Hà Nội, trong sách Lịch thế kỷ XX , Nxb. Phổ Thông, Hà Nội, 1968.)

    2. Việc đổi âm lịch không được thông báo trước mà chỉ cho dân chúng Bắc Việt biết khi in lịch cho dân chúng sử dụng vào đầu năm 1968, nghĩa là chỉ còn hơn một tháng là đến Tết âm lịch năm mới (mậu thân). (Điều nầy được xác nhận trong “Lời nói đầu” hoặc “Lời giới thiệu” của các lần xuất bản về sau nầy; ví dụ lần xuất bản thứ nhì (1977), thứ ba (1982), và thứ tư (1991). Như thế, phải chăng Hà Nội muốn giữ bí mật việc đổi âm lịch để chuẩn bị cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân?
Việc đổi âm lịch đúng ngày mồng Một Tết Mậu Thân ở ngoài Bắc trùng hợp vào dịp tổng tấn công ở miền Nam Việt Nam, khiến về sau người ta nghi ngờ đây không phải là sự ngẫu trùng, mà đây là một âm mưu có tính toán để đánh lừa Nam Việt Nam và thế giới về lệnh tấn công của Hồ Chí Minh tại Hà Nội vào ngày mồng Một Tết Mậu Thân, 24 giờ đồng hồ tức trước Tết ở miền Nam Việt Nam.

Chẳng những Hồ Chí Minh mà các học trò của ông cũng học theo Hồ Chí Minh đổi ngày vì nhu cầu chính trị. Hồ Chí Minh chết ngày 2-9-1969. Ngày 2-9 là ngày quốc khánh của Bắc Việt cộng sản. Vì vậy, Bộ chính trị đảng Lao Động liền quyết định công bố cho dân chúng biết ngày chết của Hồ Chí Minh là ngày 3-9-1969. Lần nầy nhiều người biết chuyện Hồ Chí Minh chết, đảng Lao Động không thể “lấy thúng úp tai voi” mãi, nên sau năm 1975, đảng CSVN đành phải điều chỉnh trở lại ngày chết của Hồ Chí Minh là 2-9, trùng với ngày quốc khánh của chế độ CSVN.

Quả thật các đảng viên CSVN rất thuộc bài vở của Hồ Chí Minh. Nay thủ thuật ra lệnh cho dân chúng treo cờ để mừng sinh nhật chủ tịch, lại được đảng CSVN tái ứng dụng lần nữa, dùng lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long để tập họp dân chúng Việt Nam mừng quốc khánh CHNDTQ.

Đảng CSVN mừng quốc khánh CSTQ là noi gương chính trị của Hồ Chí Minh, vì Hồ Chí Minh là đảng viên đảng CSTQ. Sau đây là lời tự bạch của Hồ Chí Minh trong bài “Cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt”, viết nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập đảng CSTQ (1/7/1921 – 1/7/1961). Hồ Chí Minh kể rằng: “Riêng về phần tôi, trong hai thời kỳ, tôi đã có vinh dự hoạt động trong đảng Cộng sản Trung Quốc. Đến Quảng Châu hồi 1924-1927, tôi vừa theo dõi phong trào cách mạng trong nước ta, vừa tham gia công việc đo đảng Cộng sản Trung Quốc giao phó … Tôi được tham gia việc dịch tài liệu nội bộ và việc “tuyên truyền đối ngoại”, tức là viết bài về phong trào công nông cho một số báo bằng tiếng Anh. Lần thứ hai tôi đến Trung Quốc (cuối năm 1938) vào thời kỳ kháng chiến chống Nhật. Là một người binh nhì trong “Bát lộ quân”, tôi làm chủ nhiệm câu lạc bộ của một đơn vị ở Quế Lâm. Sau đó, được bầu làm bí thư của chi bộ (kiêm phụ trách nghe rađiô) của một đơn vị ở Hành Dương ...” Cũng trong bài viết trên, Hồ Chí Minh đã mô tả “mối quan hệ giữa cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt Nam thật là: Trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình,/ Tinh thần hữu nghị quang vinh muôn đời!” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tt. 366-367.)

Người sáng lập và lãnh đạo đảng CSVN có vinh dự hoạt động trong đảng CSTQ thì đảng CSVN mừng kỷ niệm quốc khánh CSTQ là chuyện không mới. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh và đảng CSVN mang ơn đảng CSTQ (“Trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình ...”) và muốn trả ơn như thế nào, đó là chuyện của CSVN, chứ không phải là ơn nghĩa của Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam, ngay từ trước một ngàn năm Thăng Long, từ thời Hai Bà Trưng cho đến bây giờ, đã có quá nhiều kinh nghiệm xương máu với tập đoàn lãnh đạo bá quyền Bắc Kinh.

Không thể vì ơn nghĩa giữa hai đảng mà CSVN phản quốc, bán đứng Việt Nam cho CHNDTQ. Vào cuối thế kỷ 20, đảng CSVN đã ký liên tiếp hai bản hiệp ước dâng đất dâng biển cho CHNDTQ trước sự phẫn nộ của dân tộc Việt. Đó là Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, ký tại Hà Nội ngày 30-12-1999, nhượng cho Trung Quốc ải Nam Quan lịch sử, một nửa Thác Bản Giốc, nhiều cao điểm quân sự trọng yếu dọc biên giới phía bắc nước ta; và Hiệp ước phân định lãnh hải, tại Bắc Kinh ngày 25-12-2000 làm cho Việt Nam mất vào tay Trung Quốc khoảng 10,000 Km2 hay khoảng 8% mặt biển Vịnh Bắc Việt.

Nay một lần nữa, Thăng Long, cựu đô trong khoảng 8 thế kỷ của dân tộc Việt Nam, bị đảng CSVN đưa ra làm phẩm vật hiến tế, để mừng quốc khánh của CHNDTQ. Các nhà cầm quyền Trung Quốc đã bao lần đem quân xâm lược Việt Nam và giày xéo cố đô Thăng Long. Trung Quốc là một đại họa thường trực cho dân tộc Việt Nam từ thời cổ đại cho đến ngày nay.

Mượn chuyện kỷ niệm ngàn năm Thăng Long để mừng quốc khánh CHNDTQ là một điều hoàn toàn trái ngược với truyền thống lịch sử của cựu đô Thăng Long và lịch sử của dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam vốn HIẾU HÒA, KHÔNG GÂY HẤN VỚI TRUNG QUỐC, NHƯNG SẴN SÀNG CHỐNG TRẢ TẤT CẢ NHỮNG CUỘC XÂM LĂNG CỦA TRUNG QUỐC.

Vì thế, người Việt Nam không chấp nhận phản đối mạnh mẽ hành vi nhục nhã của nhà cầm quyền CSVN, vì nhu cầu chính trị, mượn lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long để mừng quốc khánh CHNDTQ.

Trần Gia Phụng
(Toronto, 5-9-2010)


Về Nguồn: Nói với sư Minh Tâm, trụ trì chùa Khánh Anh tại Pháp - Diệu Trạm

Diệu Trạm
    Nói với sư Minh Tâm, trụ trì chùa Khánh Anh tại Pháp kẻ chủ trương Về Nguồn TIẾM DANH GHPGVNTN để dễ bề dâng Phật giáo cho Đảng CS hòng phản lại dân tộc, phản lại Phật giáo.
Thưa sư,

Rõ ràng Sư đã tiếm danh, sư đã phản lại nền dân chủ pháp trị của GHPGVNTN, nhưng Sư vẫn to mồm kêu gào nào là dân chủ, nào là trách nhiệm, nào là không tiếm danh, nào trung thành, nào tuân thủ, bao nhiêu mỹ từ sư đều cố gắng mang ra để mong thuyết phục người đọc, nhưng càng kêu gào sư càng chứng tỏ cung cách thiếu lễ phép, thiếu hiểu biết, thiếu đạo đức của sư bấy nhiêu. Sư hãy tỉnh dậy đi sư Minh Tâm ơi, tôi là một kẻ thất phu mà còn thấy được tâm địa không đạo đức, thiếu thành thật của sư, nói chi đến những bậc trí thức hay những người có hiểu biết.

Sư nói về dân chủ ư?

Ngay tại Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ, trong tư cách của một Phóng viên, Sư có quyền viết bài chỉ trích Tổng Thống, nhưng nếu Sư kêu gọi người khác tập họp lại rồi tự lập lên chính phủ, một chính phủ cũng có tên giống như chính phủ Hoa Kỳ, rồi viết bài, ra Thông Tư, Thông Báo chống đối và tìm đủ mọi mánh khóe hòng chống lại Chính Phủ đang cầm quyền, thì tức nhiên Sư là một kẻ phạm pháp, mà hễ phạm pháp thì sẽ bị luật pháp xử trị theo như luật định, càng nặng hơn khi Sư đang là một nhân viên của chính phủ kể cả Sư có là Phó Tổng thống, Bộ trưởng,Thống đốc, Nghị sỹ, Dân biểu, Thị trưởng hay một Tướng lãnh v.v... đi nữa khi hành động như thế là không tuân thủ Hiến pháp, ly khai, lập phe lập nhóm như những thành phần phản loạn, tiếm danh và tìm cách lật đổ Chính phủ mà đại diện là Tổng Thống. Vậy là anh đã phạm pháp, mà đã phạm pháp tất nhiên Sư sẽ bị cảnh sát còng tay, bỏ tù ngay. Sư đừng tưởng Sư sẽ có quyền minh oan là Sư đang hành động vì dân chủ trên một đất nước dân chủ.

Ở đời là vậy, trong Đạo thì cương kỷ đạo đức lại càng phải nghiêm minh hơn, vì Đạo là mẫu mực đạo đức để người đời học hỏi. Sư xưng là Sư đại diện cho Đạo nhưng hành động của Sư thì lại thua Đời. Thua ở chỗ nào? Tôi nói để Sư hiểu nhé. GHPGVNTN có truyền thống lâu đời, có kỷ cương nề nếp, vậy mà Sư bất chấp truyền thống lễ giáo, bất chấp nề nếp của thiền gia, Sư phản chống lại Thầy Tổ trong lúc Thầy Tổ của Sư đang bị chế độ CS đàn áp, tù đày, quản thúc như trường hợp của Hòa thượng Thích Quảng Độ. Sư nghĩ Sư làm vậy là dân chủ sao? Sư nghĩ Sư làm như vậy là đúng hành chánh sao?

Sư nói về Hành chánh ư?

Hành chánh của Sư có đúng với Hiến chương của GHPGVNTN không khi các Sư tự ý Tổ Chức Về Nguồn rồi tự ý tấn phong Sư này lên Hòa thượng, Sư kia lên Thượng tọa mà Sư lại bất cần những Điều khoản được Hiến chương GHPGVNTN và Quy chế của Viện Hóa Đạo quy định?

Các Sư hoàn toàn sai vì hành động này là hành động của những kẻ phản loạn, phá hoại, hủy diệt GHPGVNTN chứ không phải hành động tuân thủ Hiến chương GHPGVNTN.

Trong các GHPGVNTN tại Hải ngọai đều có Tổng vụ Tăng sự, các Sư không cố gắng nâng cao phẩm cách của một Tăng sỹ theo đúng Hiến chương của GHPGVNTN và Quy Chế hay Hiến Chế của các GHPGVNTN tại Hải ngoại đã quy định.

Sư tự ý thành lập Tăng đoàn hải ngoại là Sư đã xé Hiến Chương của GHPGVNTN và vi phạm vào những pháp quy của GHPGVNTN và các GH tại Hải ngoại mà chính các Sư đang lãnh đạo. Việc làm sai trái đó Sư tin là đúng, là tuân thủ Hiến chương của GHPGVNTN sao?

Dù Sư có cố gắng giải thích cách chi đi nữa thì Sư cũng không thể biện minh cho hành động mà người đời gọi là phản lọan của Sư.

Chẳng những vậy mà các Sư còn viết bài mạ lị, vu khống, bôi nhọ rằng Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang và Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ là gìa cả, lú lẫn, vô minh nên Ban hành Giáo chỉ số 9. Sư còn vu khống là Giáo Hội trong nước bị cài người vào nên mới có Giáo chỉ số 9. Sư đang nằm mơ hay Sư đang bị Bộ Chính trị và Ban Bí Thư Trung Ương Đảng CSVN chỉ đạo phải viết lếu láo như thế?

Giáo chỉ số 9 là Giáo chỉ có khả năng chận đứng mọi âm mưu xâm nhập của cán bộ CS nhằm lũng đoạn nội bộ GHPGVNTN hòng tiêu diệt GHPGVNTN theo kế hoạch của Đảng Cộng Sản VN.

Giáo chỉ số 9 như một quả bom làm sụp đổ giấc mộng đảo điên của các Sư, nên các Sư điên đảo mắng nhiếc thậm tệ đức Đệ Tứ Tăng Thống và Đại lão Hòa thượng Viện Trưởng Viện Hóa Đạo. Sư nghĩ Sư làm như thế là đúng hành chánh ư? Hành chánh của bọn lưu manh mất dạy đấy à?

Lý luận của Sư là lý luận cùn mằn, lý luận phản chủ, vong ân bội nghĩa. Bộ Sư nghĩ là trên đời này mọi người đều ngu và dốt như Sư cả sao?

Sư muốn Về Nguồn để thực hiện ước mơ của "Bác" thì Sư cứ "Về" tại sao Sư lại bày trò ngỗ nghịch báng bổ những bậc trưởng thượng đã từng cưu mang dạy dỗ Sư nên người như thế? Làm như như vậy thử hỏi Sư có xứng đáng là một người tu hành hay không?

Hãy tỉnh dậy đi Sư Minh Tâm ơi. Nếu cô DT có xúi giục Sư thì Sư cũng biết điều một chút chứ. Sư còn nhớ năm nào Sư Tánh Thiệt đòi lột y cô DT vì cô DT cùng với Sư tằng tịu trong chùa Khánh Anh không? Sư tung tin là Sư đau bao tử chỉ ăn mì gói nhưng Sư toàn ăn chả, ăn nem, ăn gà tây và ăn đủ thứ thức ngon vật lạ trên đời. Sư nghĩ là việc làm của Sư không ai biết cả à?

Sư có nhớ Ngày Về Nguồn thứ nhất do các Sư tổ chức là ngày nào không, để tôi nhắc cho Sư nhé. Ngày 07 tháng 01 năm 2007, tại Phật Học Viện Quốc Tế, thành phố North Hill. Các Sư đã toan tính tổ chức ngày Về Nguồn đầu tiên tại chùa Pháp Vân ở Canada trong 3 ngày 21, 22 và 23 tháng 9 năm 2007, như vậy ngày Về Nguồn Thứ nhất đã được toan tính tổ chức trước ngày Đại lễ Phật Đản sẽ được tổ chức rầm rộ tại Hà nội được sự chủ tọa của Chủ Tịch nhà nước Cọng Sản Việt Nam Nguyễn Minh Triết, và mục đích của ngày Về Nguồn là để lập công với Đảng hòng khi về VIỆT NAM Sư Minh Tâm và Nhóm Về Nguồn của Sư sẽ được Cộng Sản ban khen trọng dụng. Ngày Về Nguồn ấy được tổ chức trước khi Giáo chỉ số 9 Ban Hành cả gần 5 tháng và đã được toan tính trước Giáo chỉ số 9 cả gần một năm. Giáo Chỉ số 09 do đức Cố Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8-9-2007. Sư Minh Tâm có nghĩ việc làm này là việc làm đúng hành chánh của một Giáo Hội có quy củ không?

Có một điều tôi nhắc để Sư biết nhé. Nếu không có Giáo Chỉ số 9 thì các Sư đã rủ nhau về VIỆT NAM tuốt luốt để lập công với Đảng và bây giờ các Sư còn lãnh quả báo thê thảm hơn nhiều. Như vậy lẽ ra Sư Minh Tâm phải cảm ơn Giáo chỉ số 9 mới phải, đằng này Sư lại vong ân bội nghĩa như vậy có nghĩa là sao?

Hệ thống hành chánh nào cho phép các Sư và Sư Minh Tâm lừa Thầy phản bạn? Hệ thống Hành chánh nào cho phép Sư Minh Tâm tự tung tự tác xem cả Giáo Hội như món đồ chơi của Sư? Cái gọi là Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ của Sư Thắng Hoan và Sư Trí Chơn chẳng qua cũng chỉ là món đồ chơi của Sư Minh Tâm không hơn không kém, mà đây chính là sản phẩm bất trí, bất nghĩa của Bùi Ngọc Đường kẻ đã đánh phá HT Mãn Giác đến ngày lìa đời vẫn không gượng dậy được. Bùi Ngọc Đường đánh phá HT Mãn Giác đến không còn manh giáp, mất hết uy tín lại tiếp tục giựt giây, bày đường chỉ nẻo cho Huỳnh kim Quang và Vĩnh Hảo đánh phá Văn Phòng 2 và chửi bới Đại lão HT Thích Huyền Quang - Tăng Thống của GHPGVNTN, và Đại lão HT Thích Quảng Độ cùng chư vị lãnh đạo của Văn Phòng 2 Viện Hóa Đạo không chút thương tiếc còn hơn cả Cọng Sản và ngoại đạo nữa.

Hệ thống hành chánh nào cho phép Sư Minh Tâm làm việc bất nhân bất nghĩa như vậy? Truyền thống lễ giáo, đạo đức nào cho phép Sư Minh Tâm và nhóm Sư Về Nguồn làm cái việc bất chánh bất lương như vậy? Chỉ có truyền thống vô đạo đức của CS độc ác mà thôi. Truyền thống văn hóa đạo đức nào cho phép Sư làm như vậy? Hệ thống hành chánh nào dù là ngoài đời chứ đừng nói là trong Đạo cho phép Sư Minh Tâm và các Sư Về Nguồn làm điều xằng bậy, mất dạy như thế? Chỉ có bọn Cọng Sản vô thần mới làm như vậy.

Tôi muốn viết nhiều hơn để dạy Sư Minh Tâm và nhóm Về Nguồn một bài học mẫu giáo về luân lý đạo đức, nhưng tôi nghĩ viết nhiều Sư Minh Tâm và các Sư Về Nguồn không đủ trình độ tiếp thu. Tôi tạm dừng ở đây và sẽ tiếp tục dạy dỗ Sư Minh Tâm và các Sư Về Nguồn thêm sau này.

Diệu Trạm

Thắc mắc của cử tri vùng Vịnh - Thiên Ðức

Thiên Ðức

Tôi có nhiều bạn bè và bà con vùng Vịnh nhờ viết một bài báo để làm sáng tỏ những thắc mắc xung quanh sự việc vừa xảy ra như sau: (Riêng bản thân người viết không ở vùng Vịnh)

Ðúng 10 giờ sáng 2/9, lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam được ông Lê Quốc Hùng cùng bà Charlotte Mailliard kéo lên trên Tòa Thị chính thành phố San Francisco. Phát biểu sau buổi lễ kéo cờ Việt Nam, bà Charlotte Mailliard cho biết:

“Chúng tôi rất tự hào vì thành phố San Francisco có hơn 80 Tổng lãnh sự quán của các nước, do vậy vào các ngày Lễ Quốc khánh của các nước, chúng tôi cùng phối hợp tổ chức treo cờ tổ quốc của các nước đó trên tòa thị chính thành phố của chúng tôi. Ðây là một vị trí quan trọng, chúng tôi rất tự hào được treo Quốc kỳ Việt Nam vào ngày Quốc khánh của Việt Nam”.

Ðánh giá về ý nghĩa của buổi thượng cờ nhân dịp Quốc khánh lần thứ 64 của Việt Nam, ông Lê Quốc Hùng, Tổng lãnh sự Việt Nam tại San Francisco nói:

“Ðây là một việc có ý nghĩa hết sức to lớn. Thành phố San Francisco có hơn 700.000 người Việt. Việc chúng ta tổ chức lễ thượng cờ ngay giữa trung tâm thành phố San Francisco – thành phố quan trọng nhất của bang California, Hoa Kỳ đã làm cho bà con Việt kiều ngày càng hiểu rằng, quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ về mặt Nhà nước sẽ càng ngày càng phát triển. Ðồng thời, có tác động đến tâm tư, tình cảm và nguyện vọng hướng về đất nước càng ngày càng mạnh hơn của bà con Việt kiều tại đây. Cũng nhân dịp này, chính quyền thành phố San Francisco đã trao cho chúng ta một văn bản do Thị trưởng thành phố ký, trong đó thừa nhận ngày 2/9 là ngày di sản của Việt Nam tại San Fransisco. Ðây là một thắng lợi trong việc đưa được hình ảnh của Việt Nam ở miền Tây của nước Mỹ”.

San Francisco là thành phố kết nghĩa với thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1995. Trong những năm gần đây, quan hệ giữa hai thành phố có nhiều bước tiến và đạt được một số thành tựu đáng kể ở các lĩnh vực giáo dục, văn hóa và thương mại. Ðây thực sự là một cầu nối quan trọng đóng góp tích cực vào việc phát triển quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Mỹ. (Minh Hiển từ California) (http://vovnews.vn/Home/Le-keo-co-Viet-Nam-tai-San-Francisco/20099/120858.vov)

Nguồn tin này đã được kiểm chứng sự thật và hầu như tất cả báo chí lề phải đều phổ biến kể cả TTXViệt Nam.

Sự kiện trên có thể dẫn đến sự tranh cải về luật pháp hay ngộ nhận về luật pháp trong giới cử tri vùng Vịnh, kính mong các vị dân cử, các cơ quan thẩm quyền, quý vị chức sắc trong hội đoàn và cộng đồng làm sáng tỏ những vấn đề như sau:

1. - Ðược biết cho đến hiện nay chưa có điều luật nào tại Hoa Kỳ cho phép những sinh hoạt chính trị của Cộng sản ra khỏi phạm vi tòa lãnh sự quán. Như vậy sự việc tổ chức chào cờ tại tòa thị chính nói trên có phải là một sự vi phạm luật pháp Hoa Kỳ hay không?

2. - Tòa thị chính thành phố San Francisco có tập tục ngoại giao treo cờ của mỗi quốc gia vào ngày lễ quốc khánh của mỗi nước, thế nhưng trong trường hợp Việt Nam là một nước Cộng sản, và luật pháp Hoa Kỳ hiện nay chưa cho phép hoạt động chính trị của cộng sản trên đất nước Hoa Kỳ, vậy tòa thị chính tiếp tay cho tòa lãnh sự tổ chức công khai chào cờ tại tòa thị chính có vi phạm luật pháp hay không? Nên chăng cần xét lại tập tục này, nhất là đối với Việt Nam Cọng sản. Nếu giả sử rằng trong ngày này một số cá nhân bắt chước hành vi của tòa thị chính treo cờ cộng sản công khai tại tư gia có vi phạm luật pháp hay không?

3. - Chúng tôi yêu cầu có buổi điều trần công khai, để giải thích cho cử tri biết rõ sự việc này, đâu là giới hạn hoạt động của cọng sản trên lãnh thổ Hoa Kỳ trên căn bản luật pháp Hoa Kỳ hiện tại, ai là người chịu trách nhiệm để sự việc đã xảy ra?

4. - Nghị quyết cờ vàng có còn hiệu lực không? Nên chăng có sự tu chính cần thiết để chấm dứt tình trạng lá cờ cộng sản tung bay công khai trên một trụ sở công quyền trong tương lai.

5. - Tập tục treo cờ hằng năm của Tòa Thị chính đặc biệt đối với lá cờ cộng sản Việt nam có vi phạm hiến pháp Hoa Kỳ hay không?

Chúng tôi một số cử tri hiện nay chưa biết chọn ai là người tích cực đấu tranh bảo vệ quyền lợi của người tỵ nạn trong cuộc bầu cử sắp tới, trong khi đó rất đau lòng khi thấy lá cờ cộng sản treo công khai tại tòa thị chính cho dù trong thời gian ngắn ngủi, vậy ai là người bảo vệ quyền lợi chúng tôi xin lên tiếng.

Thiên Ðức



Xê-muốc - Nguyễn Thị Thảo An

Nguyễn Thị Thảo An

Trước khi hỏi Xê-muốc là gì, có lẽ chúng ta nên hỏi Cộng sản là gì – mặc dù, xin nói ngay là Xê-muốc và Cộng sản chẳng mắc mớ gì với nhau.

Để hiểu được chế độ Cộng Sản thật sự là gì, người ta phải sống với nó.

Cơ bản, Cộng sản cấm chỉ sự thể hiện bản năng con người. Chủ trương mọi người phải học cách sống, cách nghĩ, cách nói như một người – điển hình như Pavel (nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết Thép Đã Tôi Thế Đấy) – người thanh niên dâng hiến cuộc đời để phục vụ Đảng Cộng sản.

Thời sau 75, tôi đọc những tác phẩm nổi tiếng của chế độ mới. Trong những Hòn Đất, Đất Nước Đứng Lên,… hình ảnh chị Út Tịch, chị Sứ, anh Núp,… na ná như Pavel – Pavel lại na ná như những nhân vật bị cấy Sinh Tử Phù trong Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung. Càng đọc, càng ngạc nhiên, càng thất vọng. Một nền văn học tuyên truyền, sống bằng những nhân vật giả tưởng. Văn học không phản ảnh đời sống hiện thực xã hội. Nhưng mà không phải, sau này tôi nghiệm ra nó phản ảnh ngược. Người ta nói những điều không làm, và làm những điều không nói. Con người luồn lách giữa thật và giả để tồn tại. Làm thế nào để sống thật với mình? Điều đơn giản, thế mà khó.

Về sau, tôi bắt đầu đọc sách và xem phim của thế giới XHCN. Điều kinh ngạc là nhiều tác phẩm văn học và điện ảnh không có hoặc không đậm tính tuyên truyền như các ngòi bút VN. Điện ảnh – đa số là phim thần thoại – đôi khi còn châm biếm chế độ CS bằng cách này hay cách khác. Như trong Trẻ Mãi Không Già – khi chiếu tới đoạn Vương Quốc Lừa Dối – đã khiến khán giả liên tưởng ngay sự dối trá của chế độ mới. Nhưng bộ phim thần thoại Liên Xô khiến tôi nhớ mãi là Xê-muốc.

Xê-muốc là tên một vị anh hùng dân gian như Thạch Sanh của Việt Nam.

Phim kể rằng, thưở xưa, ở một vương quốc xa xôi trên miền Bắc của đất Nga, đã có thời có một con quỷ xuất hiện. Con quỷ vô hình nhưng tài phép thần thông biến hóa. Mới đầu, nó xuất hiện ở nơi núi non hẻo lánh. Sau, nó xuống đồng bằng, vào nơi thị tứ. Ở chốn đông người, nó giả cách hóa ra thành mọi người. Thấy cha thì giả thành con, thấy vợ giả thành chồng. Giả anh, giả em, giả bà con họ hàng, giả bạn bè, thân thuộc,… Riết rồi con nghi ngờ cha, vợ giết chết chồng, anh em, họ hàng thân thích không nhìn mặt nhau. Ban đầu, chỉ là trò đùa, sau trở thành thật. Án mạng xảy ra hàng ngày. Cả thị trấn sống trong hỗn loạn. Tiếng đồn dội về kinh. Nhà vua cử ngay một sứ giả đến điều tra cho rõ hư thiệt. Con quỷ vui mừng trước thành công lớn. Khi thấy chiếc xe song mã đưa vị sứ giả vào trấn phủ, con quỷ liền biến ra sứ giả đánh xe trở về kinh thành.

Vào kinh, con quỷ càng lộng hành. Nó giả ra hết người này tới người kia. Giả quan để gièm siểm nhau. Giả vua để ban bố những sắc lệnh “trời ơi, đất hỡi”. Giả công chúa, giả hoàng hậu,… Cả triều đình sống trong sợ hãi, không ai dám tin ai. Một không khí đầy giả dối, lừa lọc, nghi kỵ bao phủ kinh thành.

Cuối cùng nhà vua ban chiếu, ai trừ được quỷ, vua sẽ nhường một nửa sơn hà. Tin tức loan ra, cả nước xôn xao. Nhiều dũng sĩ khắp nơi đều quy tụ về kinh xin đi diệt quỷ. Nhưng tất cả đều thất bại. Nhà vua càng ngày càng tuyệt vọng.

Ngày kia, có một anh chàng thi sĩ tên là Xê-muốc – người mang đàn đi hát khắp thế gian để đem niềm vui cho mọi người. Chàng đến kinh đô, hát cho vua. Tiếng hát thật hay, nhưng nhà vua không còn tâm trí nào nghe nữa. Biết nỗi lo của vua, Xê-muốc tình nguyện xin đi trừ quỷ. Vua và cả triều thần đều can ngăn, nhưng Xê-muốc vẫn nhất quyết ra đi.

Khi khảy đàn và cất tiếng hát, Xê-muốc dễ dàng nhận ra bản diện của quỷ. Bởi khi nghe tình ca, quỷ không hề rung cảm, ánh mắt nó cũng không biểu lộ sự hồn nhiên vui vẻ khi nghe những khúc hát dân gian. Không qua mặt Xê-muốc được, con quỷ chạy ra khỏi kinh thành. Xê-muốc lập tức cũng đuổi theo bén gót. Không thể hóa trang thành người được nữa, quỷ biến thành đồ vật. Nó hóa thành đống rơm, Xê-muốc nổi lửa đốt rơm. Nó ngụy trang thành đống đất, Xê-muốc dùng xẻng xúc đất lấp sông. Lập tức, nó biến thành sông khiến nước dâng ngập các cánh đồng. Xê-muốc kêu gọi dân làng khắp nơi đào kinh khơi lạch. Con quỷ thấy vậy liền biến thành ánh nắng thiêu đốt đồng lúa. Xê-muốc kêu gọi nông dân cùng nhau tưới lúa,…

Trong suốt mười năm, cuộc chiến giữa quỷ và Xê-muốc bất phân thắng bại. Nơi nào có quỷ, nơi đó có Xê-muốc. Cả hai như bóng với hình. Đến nỗi lắm lúc con quỷ có cảm tưởng Xê-muốc là bạn mà không hẳn là địch.

Một ngày kia, khi lang thang dọc bờ sông, Xê-muốc tình cờ gặp một cô gái đang giặt áo. Một cô gái xinh đẹp, hồn nhiên, và thơ ngây chưa từng thấy. Tự nhiên, Xê-muốc cảm thấy rung động, say đắm trước ánh mắt hiền dịu trong trắng của nàng. Xê-muốc bắt đầu khảy đàn, hát. Tiếng hát của chàng làm cô gái xao xuyến. Cả hai cùng trò chuyện và đi về làng. Nhưng dọc đường con quỷ đã nhân sơ hở bắt cóc nàng và tự biến thành cô gái. Gặp lại người yêu, nỗi vui mừng quá lớn khiến Xê-muốc không còn sáng suốt. Xê-muốc không nhận ra quỷ. Chàng nguyện sẽ đánh đổi tất cả chỉ để thấy nụ cười của người yêu. Cô gái (quỷ) bảo nhảy vào lửa. Không chút suy nghĩ, Xê-muốc đâm đầu vô lửa. Cô gái (quỷ) bảo, nhảy xuống nước. Không biết nông sâu, Xê-muốc lập tức nhảy ùm xuống sông,… Trước tình yêu, Xê-muốc ngoan như một con cừu. Bao nhiêu tài trí, thông minh, can trường, dũng cảm,… đều biến mất. Giờ đây, Xê-muốc đã là một Xê-muốc khác – một kẻ tầm thường, khờ khạo. Con quỷ thất vọng kinh khủng. Nó bám theo Xê-muốc đã mười năm, thế mà …

Cuối cùng, con quỷ quyết định bỏ đi. Bởi vì, nó nghiệm ra – “Nơi nào có phụ nữ, nơi đó không cần có quỷ.”

Câu kết của bộ phim khiến tôi suy nghĩ mãi. Một câu bôi bác phụ nữ, đi ngược với khẩu hiệu bình đẳng của chế độ. Nhiều chỗ còn có ý châm biếm. Vậy mà cái tay biên kịch Liên Xô vẫn bình yên và bộ phim không bị cấm. Mà không phải chỉ có Xê-muốc. Đó là chưa kể những dòng “văn chương ngoài luồng”. Người viết ở Liên Xô, Đông Âu không tuyên truyền rẻ tiền như ở Việt Nam. Không có một người Nga nào làm thơ thương Stalin hơn cha mẹ, cũng không ai ca tụng ánh mắt Lenin sáng như sao …

Sau 35 năm đất nước hòa bình, 65 năm Đảng lãnh đạo, chế độ vẫn lăm lăm khẩu súng …

Báo chí, truyền thông, văn nghệ vẫn đi theo con đường một chiều của Đảng. Kinh tế thất bại, công nợ cao như núi, xã hội tham nhũng, tuổi trẻ sa đọa, trộm cướp như rươi … Đất nước đang đứng trước nguy cơ mất đất, mất biển. Giới cầm bút vẫn im thin thít. Họ ngoan như một bầy cừu.

Mới đây, đọc bài của Trung tướng Liu-Ya-Zhou (TQ) bàn về niềm tin và đạo đức, có đoạn nhắc tới trong thời Chiến tranh Trung-Nhật, 100 lính Nhật đã áp giải được 50 ngàn lính Trung Hoa tới Yên Tử Cơ để xử bắn. Tôi liên tưởng ngay tới giới cầm bút trong và ngoài Đảng, họ giống như những người lính bó tay chịu chết. Họ cố tình nhắm mắt bịt tai trước mọi hiểm họa của đất nước.

Cái gì đã khiến cho người ta phải chịu đựng như vậy? Chữ “Nhẫn” trong tinh thần Đông Phương? Tâm lý “nín thở qua sông”? Một sự tụt hậu với thế giới, ngây ngô với thời cuộc?

Trong bài tham luận “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước” của nhà thơ Trần Mạnh Hảo, ông viết, “Đất nước Việt Nam chúng ta từ khi Đảng Cộng sản cầm quyền thì dần dần đi xa khỏi quỹ đạo của sự thật. Cứ đi mãi vào quỹ đạo của sự nói dối …. Cứ nói dối mãi thì xã hội đất nước làm sao mà tiến được? Một dân tộc dối trá là một dân tộc sẽ bị diệt vong.”

Một dân tộc sắp bị diệt vong thì làm sao có thể giữ nước?

Chúng ta đang cần một cuộc giải phóng như thế – Rất cần – Trước khi quá muộn.

Nguyễn Thị Thảo An