Sunday, August 29, 2010

Tổng lãnh sự Mỹ gốc Việt ra mắt tại TP.HCM

Hôm qua, Tổng lãnh sự quán Mỹ tại TP.HCM đã tổ chức buổi ra mắt tổng lãnh sự mới là ông Lê Thành Ân tại văn phòng Diamond Plaza.

Ông Lê Thành Ân, 56 tuổi, rời Việt Nam cách nay 45 năm, là quan chức gốc Việt đầu tiên giữ chức Tổng lãnh sự Mỹ tại TP.HCM và nhiệm kỳ của ông sẽ bắt đầu vào cuối tháng này. Ông cũng là người Mỹ gốc Việt giữ vị trí cao nhất trong ngành ngoại giao Mỹ hiện nay. Trước khi đến Việt Nam, ông Ân từng làm việc tại Singapore, Hàn Quốc và gần đây nhất là tại Pháp.

Phát biểu với cử tọa bằng tiếng Anh và tiếng Việt, ông Ân nhấn mạnh: “Chúng ta đều hy vọng một tương lai tươi sáng cho mối quan hệ Việt - Mỹ và tôi sẽ đóng góp sức mình để xây dựng mối quan hệ ngày càng tốt đẹp”.







Friday, August 20, 2010

Con cháu các cụ ! - Trần Văn Giang

    "Cái nhà là nhà của ta
    Công khó ông cha làm ra (*)
    Cháu con phải gin giữ lấy
    Muôn năm giữ nước giữ nhà..."


    (Đồng dao)
    (*) Có bản viết là: “Ông Cố ông Cha lập ra.”
Lời mở đầu:

Nhân dịp Nông Đức Tứng, 47 tuổi, con trai của Tổng bí thư Nông Đục Mạnh vừa được bầu làm bí thư tỉnh ủy Bắc Giang (với 100% số phiếu tán thành!) trong một phiên họp “đột xuất” của ban chấp hành Đảng bô tỉnh ngày 3 tháng 8 năm 2010 vừa qua, tôi chẳng đặng đừng phải vội viết bài này trước khi nhân dân ta trách là:
    “Sao chẳng thấy ai nói năng gì vậy hà? Bộ mấy ông (?) câm và đui hết rồi hay sao?”
Trần Văn Giang

Trước năm 1975, miền Nam Việt Nam có một câu nói để chỉ một tệ trạng liên quan đến vấn đề quyền lợi, tham nhũng mà giới ăn trên ngồi trốc trong chính phủ hoặc quân đội dành cho anh em, con cháu họ hàng thân thuộc của họ. Đó là vấn đề gọi là “Xê ô xi xi - COCC – Con Ông Cháu Cha.” Riêng đối với cs quốc tế và vi-xi, cái tệ trạng này là một văn hóa “đặc trưng” đã được coi là nền tảng tinh túy, là động lực và mục tiêu của của mọi hoạt động trong trên lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội trong chế độ cộng sản. Đây cũng là một “năng lượng” vô giá đã “lan tỏa” và biểu dương phẩm chất của con người công sản xuyên qua mọi ngành mọi giới từ trung ương đến địa phương… (tôi phải tận dụng những chữ của cs mới diễn tả trọn vẹn cái “cốt lõi” của sự “tha hóa” trong chế độ này!) Xin lưu ý đây là “Đồ thật;” không phải là “Đồ sơn” đâu! Csvn còn gọi cái tệ trạng rất thối này một cách văn hoa đượm mầu “văn hóa đảng” nôm na là “Bốn C - CCCC - Con Cháu Các Cụ!” Chữ “Cụ” ở đây dùng là để chỉ các “Cụ trong dân,” các “Cụ đồng chí đảng viên cao cấp” của bộ chính trị có quyền lực truyền từ đời cha, đến đời con, đời cháu… Chẳng khác gì một hình thức “cướp công khai giữa ban ngày” không cần phải dấu diếm vờ vĩnh hay đánh du kích… Có khác gì văn minh của thời kỳ đồ đá, bộ lạc, phong kiến man rợ!

Nhiều tài liệu đã ghi lại là cộng sản quốc tế rất nổi tiếng về vấn đề “Bốn C” này từ lâu lắm rồi. Vài bằng chứng tiêu biểu như sau:

- Fidel Castro vì vấn đề sức khỏe, trao quyền (transfer power) chủ tịch nhà nước và tư lệnh quân đội cho em ruột là Raul Castro ngày 31 tháng 7 năm 2006.

- Kim chính Nhật lên nắm quyền thay cho bố là Kim Nhật Thành làm Chủ tịch nhà nước “suốt đời” (Eternal President) ngay sau khi Kim nhật Thành “hui nhị tì” vì bệnh tim ngày 8 tháng 7 năm 1994. Kim chính Nhật sẽ dự định chính thức trao quyền cho con trai út là Kim Chính Ân vào ngày kỷ niệm sinh nhật 100 năm sắp tới của “lãnh tụ vĩ đại” Kim Nhật Thành (nhằm ngày 15 tháng 4 năm 2012).

- Hun sen, Thủ tường cộng sản Cam bốt, bổ nhiệm con gái là Hun Mana làm “Phụ tá văn phòng phủ thủ tướng” ngày 11 tháng 9 năm 2008. Nên biết mụ Hun Mana trước khi lên làm phụ tá cho ông bố thủ tướng thì đang làm Tổng giám đốc (đầy quyền lực về truyền thông và tuyên truyền) của đài truyền hình và phát thanh Bayon (Director general of Bayon Television and Radio). Ngoài ra trước đó Hun sen đã bổ nhiệm em họ (first cousin) là Hun Chouch – còn có tên khác là Dy Chouch - làm Tổng giám đốc chương trinh khai thác gỗ (logging business) to lớn và béo bở nhất của nước Cam bố t…

- Mao Tân Vũ 40 tuổi, con trai của Mao Ngạn Thanh - người con thứ hai của Mao trạch Đông , vừa được thăng cấp Trung tướng (một tướng trẻ tuổi nhất của quân lực Trung cộng) ngày 4 tháng 8 năm 2010.

Tại sao chế độ cs lại phải cần có “bốn C - CCCC?”

Cũng dễ hiểu. Có hai 2 lý do căn bản:

- Quyền lợi (và quyền lực): Được duy trì một cách liên tục không gián đoạn qua thời gian.

- An ninh: Lý do này còn quan trọng hơn cả vấn đề quyền lợi. Không có người thừa kế với thế lực mạnh bảo vệ thì sẽ có thể mất hết những gì mà “các cụ” đã ki cóp “tiếp thu” từ bao ngày trước!

Bây giờ nói đến chuyện “CCCC” ở nước “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam; Kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Nông Đức Mạnh / Nông Đức Tuấn

(* phần này viết dựa theo một số sự kiện đăng trên “blog Free Lê Công Định”)

Bản thân Nông Đức Mạnh và chức vị ngon lành nhất nước “Tổng bí thư đảng csvn” đã có nhiều nghi vấn lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Có nhiều lời đồn đãi cho rằng Nông Đức Mạnh là con không chính thức của “cha già dân tộc” HCM và hộ lý / “tình nhân bất hạnh” Nông Thị Xuân. Khi báo chí ngọai quốc đặt câu hỏi trực tiếp với Nông Đức Mạnh về vấn đề “Nông Đức Mạnh có phải là con của HCM hay không?” thì Nông Đức Mạnh trả lời lơ lửng con cá vàng theo kiểu huề vốn là:

“Dân Việt Nam ai cũng là con bác Hồ cả!” (sic)

Thiệt tình! Chú Nông à! “Con bác Hồ” có hai loại “Con” khác nhau: “Con thật” và “Con dỏm.” Loại “con thật” như Nông Đức Mạnh thì mới có cơ hội “đục mạnh.” Chứ loại “con dỏm” cỡ dân ngu khu đen vô sản ăn mày ở chợ Đồng xuân thì vẫn muôn đời là dân ngu khu đen ăn mày vô sản thôi.

Từ quyết định của bộ chính trị trung ương đi đến một đại hội “đột xuất” của ban chấp hành đảng bộ tỉnh Bắc Giang, Nông Đức Tuấn, con trai Nông Đức Mạnh, được bầu với số phiếu tán thành 100% (lại chăm phần chăm?) vào chức vụ Bí thư tỉnh Bắc giang. Việc bầu bán chỉ là một hình thức chiếu lệ đi sau chỉ thị ngầm của bộ chính trị. Điều cần lưu ý là đồng chí đương nhiệm Đào xuân Cần bị bãi chức mà không có một thông báo chính thức nào từ đảng csvn về sự vi phạm kỷ luật hay hành vi sai lầm nào! Sự quyết định thay thế cho thấy có một sự chuẩn bị, dàn xếp nhân sự trước khi đại hội đảng lần thứ 11 của đảng cs.

Qua chức vụ mới “Bí thư tỉnh ủy” Nông Đức Tuấn đương nhiên sẽ trở thành “Ủy viên trung ương” của “Ban chấp hành trung ương đảng.” Đây là một cơ chế (gồm 180 ủy viên) sẽ quyết định cho kết quả “Đảng đề cử dân bầu” các ghế lãnh đạo cao cấp của đảng sắp tới.

Nông Đức Mạnh, đương nhiệm chức vụ Tổng bí thư đảng, trước viễn ảnh khó tiếp tục giữ vai trò số 1 của bộ chính trị trung ương trong kỳ đại hội đảng lần thứ 11, đã đẩy mạnh kế hoạch mà hai cha con nhà Nông đã tính toán từ trước dọn đường hoạn lộ lâu dài cho con, chứ không phải chuyện “bất ngờ” hay tình cờ đâu. Đừng có tưởng bở.

Trên giấy tờ, Nông Đức Tuấn sinh ngày 12 tháng 7 năm 1963 tại xã Cường lợi, huyện Na rì, tỉnh Bắc cạn.

Nông Đức Tuấn rời Việt Nam lúc 18 tuổi (vào tháng 9 năm 1981) để đi làm “công nhân xuất khẩu lao động” tại Singwits Đông đức. Vào thời điểm này (1981) Nông Đức Mạnh là Phó bí thư, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Bắc thái. Với ông cha làm lớn như vậy mà tại sao thằng con lại phải đi “xuất cảng lao động?” Nhiều nguồn tin tiết lộ là Nông Đức Mạnh cho con đi Đông đức “lao động trá hình” để cai nghiện ma túy!

Nông Đức Tuấn rời Việt Nam lúc 18 tuổi thì nếu giỏi lắm, hắn cũng chỉ học hết bậc trung học là cùng. Nông Đức Tuấn trở về Viêt Nam cuối năm 1988. Không thấy có ghi chép nào về việc Nông Đức Tuấn học hành ra sao sau năm 1988? 12 năm sau (vào tháng 12 năm 2000) tên Nông Đức Tuấn thấy xuất hiện trên báo chí cs với chức vụ “Phó chủ tịch thường trực trung ương hội thanh niên Việt Nam.” Đến tháng 12 năm 2004, Nông Đức Tuấn là thành viên của “Ban bí thư thành đoàn thanh niên cộng sản Hồ chí minh.” Tháng 1 năm 2008, Nguyễn tấn Dũng bổ nhiệm Nông Đức Tuấn vào chức vụ “Phó chủ nhiệm Ủy ban dân tộc.” Tháng 4 năm 2009, Nông Đức Tuấn trở về Bắc giang giữ chức “Phó bí thư tỉnh ủy phụ trách công tác xây dựng đảng” và chờ thời cơ để bố kéo lên thành “Bí thư tỉnh ủy” ngày 3 thánh 8 vừa qua. (Bên cạnh các chức vụ vừa kể, Nông Đức Tuấn còn là “Đại biểu quôc hội tỉnh Sơn la! Sao mà lắm chức đến thế! Tuy nhiên, không thấy Nông Đức Tuấn có sinh hoạt gì về cái chức tước nghiệp dư kềnh càng “Đại biểu quốc hội này?)

Điều đáng chú ý là từ khi đi “lao động xuất cảng” ở Đức về, không ai biết và thấy Nông Đức Tuấn học hành gì cả mà tiểu sử của Nông Đức Tuấn ghi là có 2 bằng cử nhân (1 bằng về kinh tế và 1 bằng về chính trị). Không lẽ Nông Đức Tuấn tự đại học học tại gia? Mà chúng ta có lạ gì về phần thông tin việc học hành và bằng cấp của giới lãnh đạo cs cứ như “bí mật quốc gia!” Đọc giả yên chí. Cứ thong thả ngồi gãi... đùi chờ xem. Không bao lâu nữa chuyện Nông Đức Tuấn có bằng dỏm sẽ nổ bung ra toàn quốc cho mà xem!

Thực chất của cái “CCCC” bày ra ở đây: chẳng phải làm gì đổ mồ hôi mà cứ được bổ nhiệm, lên chức ào ào... Hiển nhiên, thời cơ của Nông Đức Tuấn đang thực sự bắt đầu...

Nguyễn Chí Thanh / Nguyễn Chí Vịnh

(* phần này viết dựa theo một số sự kiện đăng ngày 15 tháng 9 năm 2008 của tác giả Võ Đồng Đội)

Nguyễn Chí Vịnh sinh ngày 15 tháng 6 năm 1957 tại Hà nội. Nguyễn Chí Vịnh là con út của Đại tướng vi-xi Nguyễn Chí Thanh Bí thư Trung ương cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân giải phóng miền Nam. Nguyễn Chí Thanh hết năm 1967 và có lời đồn (?) là “người” được bom chùm của máy bay B-52 Đế quốc Mĩ cho giải ngũ sớm hơn hạn định ở mặt trận Nam bộ.

Tiểu sử Nguyễn Chí Vịnh ghi là:

- Nguyễn Chí Vịnh theo học trường Văn hóa quân đội và sau đó học trường Đại học kỹ thuật quân sự (?) và làm việc cho Cục nghiên cứu của Bộ quốc phòng.

- Năm 1998 làm “Phó tổng cục trưởng Tổng cuộc 2” (Cơ quan quân báo, trinh sát và tình báo quân đội).

- Năm 1999 được Thủ tướng chính phủ phong đặc cách “quân hàm” Thiếu tướng quân đội nhân dân.

- Năm 2002 được bổ nhiệm Tổng cục trưởng Tổng cục 2, Bộ quốc phòng.

- Năm 2003 trình luận án tiến sĩ (?) chuyên ngành Quan hệ quốc tế.

- Năm 2004 thăng cấp Trung tướng.

- Năm 2009 thăng Thứ trưởng Bộ quốc phòng.

Nguyễn Chí Vịnh được xem là người đầu tiên trong chính quyền cs đã đề xuất, xây dựng, thành lập và tổ chức mạng lưới Tình báo khoa học, Kỹ thuật và kinh tế trong hệ thống tình báo Việt Nam (!) Vai trò và tiếng tăm của Nguyễn Chí Vịnh mỗi ngày một quan trọng hơn. Chị của Nguyễn Chí Vịnh là Nguyễn Thanh Hà là cựu Phó cục trưởng Cục hàng không Việt Nam. Vợ Nguyễn Chí Vịnh là con gái của Trung tướng Đặng Vũ Chính (tức Đặng văn Trung) nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục 2, Bộ quốc phòng” (1994-2002).

Nhìn cho kỹ con đường hoạn lộ của Nguyễn Chí Vịnh thấy có một “bước tiến nhẩy vọt” kỳ diệu! Chỉ trong vòng 10 năm ngắn ngủi (từ năm 1992 đến 2002), Vịnh từ một nhân viên “trợ lý” tầm thường của Cục nghiên cứu, Bộ quốc phòng nhẩy vọt lên 2 chức to kềnh cùng một lúc cho tiện sổ sách nhà nước: “Trung tướng quân đội nhân dân” và “Tổng cục truởng Tổng cục Tình báo quân đội.” Tức là từ một anh chủ quán cháo lòng (đây là “thương nghiệp” đầu tiên của đ/c Nguyễn Chí Vịnh) khiêm nhường trở thành một ông chủ lớn cả về kinh doanh, chính trị và quân sự. Tham vọng tiến thân làm nguyên thủ quốc gia của Nguyễn Chí Vịnh trong tương lai rất gần cũng không có gì gọi là quá đáng!

Vịnh chung với anh rể là Lê Việt Bắc mở ra và làm Giám đốc Công ty du lịch và thương mại TOSECO. TOSECO là chủ của nhiều khách sạn “xịn” trên toàn quốc. Cũng chính TOSECO đã đứng ra môi giới để Bộ quốc phòng mua máy bay SU27 của Liên sô…

Vịnh điều khiển nhiều chương trình mua sắm quan trọng “bí mật” (không cần khai báo giá thầu và mua cái gì?) của Bộ quốc phòng: hợp đồng mua vũ khí, máy bay, tầu thủy, phụ tùng cho phòng không, không quân, thiết giáp, đóng tàu… trị giá đến hàng chục tỉ đô la).

Ngoài ra cũng nên biết thêm, Nguyễn Chí Vịnh lúc đầu theo học khóa 7 Đại học kỹ thuật quân sự từ năm 1977. Đến năm thứ 2 (là năm 1979) thì Vịnh lén phá nóc nhà kho quân khu lấy cắp thuốc lá và quân trang đem bán để ăn nhâu với bạn bè; Xui xèo Vịnh bị bắt với tang chứng. Vịnh bị Hội đồng kỷ luật nhà trường đuổi học 1 năm (sau 1 năm mới cho nhập học lại). Trong giai đoạn treo giò này gia đình Vịnh xin cho Vịnh sang học trường Sĩ quan thông tin (Ậy! Ăn cắp Thông tin?) chứ Vịnh không trở lại trường Đại học kỹ thuật quân sự. Vì Nguyễn Chí Thanh chết hơi sớm cho nên thế lực chính mà Nguyễn Chí Vịnh dựa vào là ông bố vợ, Trung tướng Đặng Vũ Chính – nguyên Tổng cục truởng Tổng cục 2. Người dân bình luận chung là: “Không có Vũ Chính thì không có Chí Vịnh.” (Vịnh không thể lên nhanh được nếu không có thế lực của Vũ Chính) thì cũng không có gì lạ!

Giá mà Nguyễn Chí Vịnh không phải là con Nguyễn Chí Thanh; và nhất là không phải con rể của Đặng vũ Chính thì bây giờ cháu Vịnh cũng chỉ quét lá đa; hay lái xe ôm; hay làm chủ quán cháo lòng bia ôm đâu đó ở Hà nội... lấy gì để làm triệu phú; để tuyên bố lung tung về an ninh tình báo quốc gia, quan hệ quốc phỏng, liên minh quân sự Việt Mỹ...

Lê Duẩn / Lê Kiên Thành – Lê Kiên Trung

Lê Kiên Thành (sinh năm 1955) và em là Lê Kiên Trung (sinh năm 1958) là hai người con trai của người vợ thú 2 của Lê Duẩn. Lê Duẩn đã từng giữ chức lãnh đạo cao nhất - Bí thư thứ nhất / Tổng bí thư - lâu dài nhất của đảng csvn (25 năm 303 ngày – từ 1960 đến 1986).

Lê Kiên Thành được Lê Duẩn gởi đi học ở Liên sô, đậu bằng tiến sĩ khoa học hàng không; hiện đã có 35 tuổi đảng và làm Chủ tịch Hội đồng quản trị “Techcombank,” làm đại biểu quốc hội; làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Xây dựng và phát triển đô thị; chủ một sân golf; Tổng Giám đốc Công ty Thiên Minh và lãnh đạo một vài Công ty khác.

Lê Kiên Trung là Cục trưởng Cục hải quan Thành phố HCM – cơ quan béo bở nhất của thành phố Sài gòn.

Lê Hãn (sinh năm 1929) anh cùng cha khác mẹ với Lê Trung Kiên (Hãn là con cả của bà vợ lớn của Lê Duẩn), là đại tá quân đội nhân dân, nguyên Cục trưởng Cục quản lý các nhà trường quân đội, Tư lệnh Bộ tư lệnh Bảo vệ lăng HCM.

Lê Thị Diệu Muội (sinh năm 1940) là em gái (cùng mẹ) của Lê Hãn, tiến sĩ kinh tế, nguyên Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Ngân sách Quốc hội khóa V; Thứ trưởng bộ Nội Thương.

Cả nhà Lê Duẩn đều làm quan to súng dài của chế độ! Sướng Thật!

Nguyễn Tấn Dũng / Nguyễn Thanh Phượng

Nguyễn Thanh Phượng, 30 tuổi, là con gái thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, từng đi du học ngọai quốc và có bằng Cao học Quản trị kinh doanh (MBA) ở Thụy sĩ.

Nguyễn Thanh Phượng là chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Vietnam Holding Asset Management. Đây là một công ty đầu tư với số vốn gần 800 tỉ đồng Việt Nam. Công ty có khả năng vận động vốn nóng lên đến 100 triệu đô la từ các nhà đầu tư ngọai quốc nhờ uy tín và quan hệ với thủ tướng chính phủ. Nguyễn Thanh Phượng có bao nhiêu kinh nghiệm để nắm trong tay mốt số tiền lớn để đầu tư và khuynh đảo thị trường Việt Nam? Nếu Nguyễn Thanh Phượng không phải là con của Nguyễn Tấn Dũng thì thử hởi có ma nào dám bỏ tiền vào đầu tư với “Viet Capital Fund Management” (VCFM - đọc là “vi xi ép em”)?

“CCCC” là một hình thức thô bỉ của chế độ “gia đình trị và đảng trị” csvn. “CCCC” là một thế lực lũng đoạn và chi phối kinh tế chính trị của Việt Nam… Ngoài các liên hệ quyền lực “gia đình” nổi bật như kể trên, chúng ta còn thấy nhan nhản lọai Lê Nam Thắng con trai Lê Đức Thọ nắm Bộ Bưu chính viễn thông; Lê Mạnh Hà con trai Lê Đức Anh nắm Sở Bưu chính viễn thông thành phố HCM; Trương Gia Bình con rể Võ Nguyên Giáp làm Tổng giám đoấc công ty FPT; Ngô Hòang Hải con rể Nông Đức Mạnh nắm Trưởng phòng tư vấn PMU18…

Bây giờ nhân dân ta có lẽ đã hiểu rõ cái đuôi “Định hướng xã hôi chủ nghĩa” theo sau chính sách “Kinh tế thị trường” nghĩa là gì rồi?!

Ai đã hỏi: “Đồng bào nghe tôi nói rõ không?”

Rõ là một lũ “đồ đểu!”
    … Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó
    Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó…


    (Hoa địa ngục - 1968)
Trần Văn Giang
Tháng 8/2010

Saturday, August 14, 2010

Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người Của Sự Lừa Lọc - Trường Sơn-Trường Hận

Trường Sơn-Trường Hận

Người ta nói, Mao Trạch Đông có lần đã hỏi các đồng chí thân cận của ông rằng: “Tại sao mấy ông cha đạo nói thì giáo dân nghe, còn cán bộ của ta nói thì dân chúng không nghe?”.

Trong trại tù cải tạo, tôi đã nghiệm ra rằng: Cả hai cùng nói về chuyện Thiên Đàng xa xôi. Nhưng khi một linh mục nói, thì ông tin rằng điều ông đang nói là có thật và giáo dân khi nghe cũng biết như vậy. Còn khi các cán bộ nói về Thiên đàng cộng sản, thì họ biết rằng mình đang nói dối và người nghe cũng biết như vậy.

Trong chế độ cộng sản, tất cả mọi chuỵên từ lớn tới nhỏ, tất cả mọi người từ trên xuống dưới, tất cả đều giả dối như vậy.

Tôi kể quý vị nghe câu chuyện tiếu lâm tân thời này. Đó là, điều 4 Hiến Pháp hiện hành của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã viết nguyên văn như sau:

“Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Luật pháp”.

Đảng cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam !!! Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành của cái gì. Từ chủ tịch nước đến một đứa con nít, tất cả đã đều biết rõ, nhưng đều nín thở qua sông, đều giả điếc làm ngơ.

Hiến pháp là đạo luật tối cao, tối thượng, bao phủ mọi luật lệ khác, mà nó lại là một câu chuyện tiếu lâm!

Cộng Sản đã dành được thắng lợi trong cuộc chiến vừa qua vì họ đã có những võ khí mà Thế giới Tự Do và Miền Nam Việt Nam không thể có được. Đó là:

- Họ rất lì lợm và rất vô liêm sỉ.

- Họ rất can đảm, dám bỏ vào miệng trở lại cái mà họ vừa mới khạc nhổ ra. (Các Cụ ngày xưa gọi là “nhổ rồi lại liếm”).

Có người lạc quan thì hy vọng rằng Việt cộng, sau một thời gian tiếp súc với thế giới văn minh, trong tương lai, dần dần họ cũng sẽ biết lợm giọng giống như chúng ta!

Lịch sử của đảng cộng sản Việt Nam và tiểu sử của người sáng lập ra nó là một chuỗi liên tục những sự gian dối lừa lọc.

Tại vì Đảng CSVN là đỉnh cao trí tuệ loài người của sự lừa lọc cho nên đến tận ngày hôm nay, đối với những việc họ làm, những lời họ nói, nhiều người trong chúng ta vẫn còn quá bồng bột dễ tin, vẫn còn lạc quan hão huyền, giống như nhiều người thuộc các thế hệ đi trước.

Mở đầu là cuộc biểu tình ngày 19 tháng 8, 1945, rồi tới chính phủ Liên Hiệp ngày 03/3/1946. Vào thời gian ấy, hầu như cả nước đều đã tin rằng Hồ Chí Minh là một người quốc gia chân chính chứ không phải là một tên tay sai cho phong trào Cộng sản quốc tế. Cho nên các lãnh tụ của nhiều đảng phái chính trị danh tiếng như Vũ hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Tường Tam ... không những đã hăng hái tham gia vào cái gọi là chính phủ Liên Hiệp do HCM nặn ra, mà còn đề cử 70 đảng viên để làm đại biểu quốc hội nữa. Riêng Cụ Nhất Linh Nguyễn tường Tam thì đã đảm nhận chức bộ trưởng bộ ngoại giao, đi Tây, đi Tầu để đánh bóng tên tuổi cho tên cáo già Hồ Chí Minh. Cụ Vũ Hồng Khanh thì đã ký vào Hiệp ước sơ bộ bán nước ngày 6-3-1946, cùng với Hồ chí Minh và Sainteny. Ngay cả Giám Mục Lê Hữu Từ và vua Bảo Đại, lúc đầu cũng đã nhận làm cố vấn cho cái chính phủ liên hiệp lừa bịp đó nữa.

Rồi đến cuộc kháng chiến chống Pháp. Biết bao đại gia tên tuổi, biết bao phú nông giầu có đã hăng hái dâng hiến tài sản cho kháng chiến vì họ được tâng bốc là tư sản dân tộc. Biết bao trí thức văn nhân nghệ sĩ đã hăm hở đi vào chiến khu vì cái danh hiệu trí thức yêu nước ... Nhưng năm 1954, vừa mới chiếm được một nửa giang san là chúng trở mặt,Trí, Phú, Địa, Hào ... đào tận gốc, trốc tận rễ.

Kịch bản cũ lại tái diễn trong cuộc chiến tranh nhuộm đỏ hoàn toàn cả nước Việt Nam. Và cũng đã lại được nhiều người tin theo. Nhưng chỉ một vài ngày sau ngày 30-4-1975, lá cờ nửa xanh nửa đỏ của Mặt Trận Giải phóng Miền Nam đã đồng loạt biến mất và lập tức được thay bằng lá cờ đỏ sao vàng của miền Bắc. Ngay trong cuộc diễu binh ngày 1-5-1975, tất cả mọi một đơn vị tác chiến của Mặt Trận Gỉai Phóng và của phong trào Nam Bộ kháng chiến ngày trước đều đã bị cấm xuất hiện. (Thế mà, ít lắm cũng đã có tới hai vị Quốc Trưởng của VNCH dự tính bắt tay thẳng với MTGP Miền Nam để ... qua mặt đảng cộng sản ngoài Bắc! Một trong hai vị này hiện vẫn còn sống). Rồi chỉ một thời gian ngắn sau đó, tất cả các nhà tư sản dân tộc đã mau chóng biến thành tư sản mại bản, hầu hết các trí thức yêu nước đã trở thành tay sai Mỹ Ngụy, ngay cả một Giáo hội có nhiều công lớn với Cách mạng cũng đã bị giải thể ... Chắc ăn rồi, nên chúng đã trơ tráo để lộ nguyên hình, đảng thì đối tên thành đảng Cộng Sản, nước thì đổi thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa, huỵch toẹt ra với toàn dân rằng “Yêu nước là yêu Xã Hội Chủ Nghĩa”.

Còn về những người bỏ nước ra đi sau ngày 30/4/75, khi đang say men chiến thắng thì chúng công khai sỉ vả: “chúng nó trai thì là một lũ lưu manh, gái thì toàn là đĩ điếm”. Đấy là “nhổ ra”. Nhưng khi thấy họ có tiền có của thì lũ mặt mo đó lại “liếm vào”, lại tâng bốc họ là Kiều bào, là khúc ruột ... già ở xa!

Hòa giải hòa hợp mà đối xử với Nghĩa trang quân đội Biên hòa như là những cái Mả Ngụy, mấy cái Đài tưởng niệm thuyền nhân ở nơi rừng núi xa xôi hẻo lánh tận Thái Lan, Mã Lai, mà cũng cố đòi dẹp bỏ ... Đảng CS Việt Nam theo chủ nghĩa Mác Lê nin và là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Điều 4 hiến pháp đang ghi rõ ràng như vậy. Như thế thì là HÒA TAN, chứ đâu phải là hòa hợp. Vậy mà cá vẫn cắn câu.

Cộng sản thì đương nhiên là vô thần duy vật, đương nhiên là bất cộng đới thiên với tôn giáo, thế mà rất nhiều các nhà lãnh đạo tôn giáo cao cấp cũng đã bị chúng đánh lừa.

Nhưng có lẽ tiêu biểu nhất là việc kêu gọi trình diện học tập sau ngày 30-4-75. Diễn tiến giống hệt như trong vụ Tết Mậu Thân tại Huế trước đó vài năm, các mồ chôn tập thể còn sờ sờ ra đó, thế mà hàng trăm ngàn Quân, Cán Chính Miền Nam đã thản nhiên đút đầu vào rọ. May mà tình hình thế giới đã thay đổi mau lẹ, chứ nếu không thì hàng ngàn Killing Fields đã phủ kín Miền Nam Việt Nam rồi.

Liên tục cho đến ngày hôm nay. Tất cả những màn nhổ ra liếm vào trên đây đều do Hồ chí Minh hay trung ương đảng trực tiếp chỉ huy. Tất cả đều diễn đi diễn lại, từ 1945 cho đến tận ngày hôm nay. Thế mà màn kịch nhàm chán này lúc nào cũng có người tin. Thế mà hầu hết cả nước lại đang im re, chẳng ai dám cười thành tiếng. Vì đó đã là chuyện cơm bữa, cái gì mà chả như thế.

Cái tội lớn nhất của những người cộng sản Việt Nam đã và đang huấn luyện cho toàn dân, ngay từ khi còn học mẫu giáo, đã biết ăn gian nói dối, đã coi sự lừa bịp xảo trá là chuỵên bình thường, hơn nữa lại còn là thành tích đáng ngưỡng phục của những người khôn ngoan khéo léo. Không còn ai biết lợm giọng hay ghê tởm về sự giả dối của chính mình nữa. Trong thời gian gần đây, hàng năm, một số giáo phận Công giáo được phép tuyển mộ chủng sinh để đào tạo thành linh mục. Năm vừa qua, một trong các nội quy của cuộc thi tuyển tại Giáo phận Hà Nội là “không được quay cóp ...”. Gian dối, lừa lọc để được ... đi tu? Phải chăng, chẳng còn mấy người coi sự gian dối là cái xấu xa nữa, kể cả một số các bậc tu hành! Phải chăng chính vì vậy mà trước khi được tham dự các chương trình đào tạo chính thức, tất cả các ứng sinh này đều sẽ phải qua một năm học về tu đức, để gột rửa đi những ... cái thường tình ngoài xã hội.

Lý thuyết Cộng sản là đỉnh cao của sự lừa lọc, là kết tinh của một công trình nghiên cứu lâu dài, nó đã rút tỉa và gom góp được tất cả các thủ đoạn lưu manh gian xảo từ cổ chí kim, trong suốt lịch sử loài người. Nên nó đã tinh vi và ghê rợn tới mức, ngay cả những kẻ đang bị chúng công khai lừa dối phỉnh gạt, tất cả đều nhận thức rõ ràng là mình đang mắc mưu chúng, là mình đang làm những điều có lợi cho chúng, nhưng vẫn phải nhắm mắt làm ngơ, vẫn phải giả câm giả điếc, vẫn phải làm theo ý chúng.

Xin đan cử vài thí dụ:

- Trong trại học tập, chúng ta biết rằng những đồ tiếp tế của gia đình chính là máu và nước mắt của vợ, của con, ăn những cái đó vào để chúng ta không quá xanh xao gầy ốm, không tử vong hàng loạt, để cho Việt cộng hãnh diện rêu rao với mọi người, với quốc tế về “lòng nhân đạo” của chúng ... Biết vậy, nhưng chúng ta vẫn phải ăn.

- Chương trình ODP, chương trình HO và việc cho phép các nhà bất đồng chính kiến qua Mỹ, chỉ là để tống khứ hết các thành phần đối kháng, các “thế lực phản động” ra khỏi nước để “Tiền đồn ngăn Trung Quốc” được thêm ổn định vững mạnh. Biết như vậy, nhưng chúng ta vẫn phải làm đơn xin giấy xuất cảnh.

- Gửi tiền về giúp thân nhân, chínhnuôi béo bọn cán bộ cộng sản, nhưng chúng ta vẫn phải làm vì không thể để cho cha mẹ anh em sống trong đói rách bần hàn.

- Chúng ta cũng không đành lòng, không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước những đồng bào phong cùi bất hạnh, trước các nạn nhân của thiên tai lụt lội và trước cuộc sống lê lết của các chiến hữu thương binh ngày xưa của mình. Chúng ta vẫn nhắm mắt làm, vẫn phải cắn răng giúp đỡ những người không may này, mặc dầu ai cũng biết làm như vậy là tiếp tay nuôi sống chế độ độc tài độc đảng.

- Ngay cả các nhà lãnh đạo tôn giáo cũng vậy, nhiều người đành phải miễn cưỡng hợp tác với bạo quyền, thân thiện với sói dữ để cho đoàn chiên của mình được sống trong an lành yên ổn.

- Đi du lịch Việt Nam là trực tiếp đưa tiền cho bọn bán nước hại dân, nhưng ai mà chả muốn về thăm lại cái nơi chôn rau cắt rốn của mình, ai mà không mong ước sẽ được tận mắt nhìn ngắm những vẻ đẹp, những địa danh mà ngày trước chỉ thấy mơ hồ qua thơ, qua nhạc, qua sách vở. (Còn những kẻ áo gấm về làng, “nhem nhem cho bà con chết thèm”, còn những kẻ táng tận lương tâm, về để hưởng lạc, để thỏa mãn thú tính trên thân xác của đồng bào mình. Những con súc vật dâm đãng, những kẻ tiểu nhân độc ác này chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ).

- Rất nhiều đảng viên cộng sản, rất nhiều thanh niên trí thức trong nước đã đành ngoảnh mặt làm ngơ, đành giả câm giả điếc trước các bất công bóc lột vì sợ rằng những đặc quyền đặc lợi mà Công sản đang ban phát cho mình, cho gia đình mình sẽ bị sứt mẻ thui chột đi.

- Nhân dân Việt Nam vừa trải qua hai cuộc chiến tranh với những sự tàn phá và các đau thương tang tóc khủng khiếp, nên đang đành lòng miễn cưỡng cắn răng chịu đựng, đành nhắm mắt làm ngơ trước các ngang ngược bất công và các sự áp bức bóc lột của các đảng viên cộng sản để được tận hưởng những ngày an bình tạm bợ sau những năm dài chinh chiến điêu linh.

- Rất nhiều người, cả ở trong và ngoài nước, đang âm thầm miễn cưỡng chấp nhận những cái xấu xa thối nát của guồng máy chính quyền cộng sản hiện thời, vì họ coi đó như là một sự “xấu xa cần thiết”, như một “le mal nécessaire”. Cộng sản và nhiều đảng phái chính trị đang làm cho nhiều người tin rằng, nếu cộng sản ra đi, người khác lên thay, tình thế sẽ còn tệ hại hơn nữa.

(Thực ra, những ưu tư và lập luận trên đây chỉ là một con ngáo ộp mà đảng CS Việt Nam trương ra để hù dọa những người nhát gan yếu bóng vía. Ngày xưa, nếu cũng sợ sệt cầu an như vậy thì làm gì đã có đươc những cuộc cách mạng lật đổ các chế độ quân chủ chuyên chế, thí dụ như cuộc cách mạng Pháp năm 1789. Gần đây và sát cạnh Việt Nam là tấm gương của hai nước Nam Hàn và Đài Loan. Trong các thập niên 60, 70, cũng nhờ có những cuộc xuống đường chống đối của sinh viên và các đảng phái đối lập, tuy xã hội có bị tạm thời bất ổn trong một thời gian ngắn, nhưng sau đó, một nền dân chủ thực sự đã được thiết lập, và nền kinh tế của hai quốc gia này càng ngày càng hùng cường vững mạnh như chúng ta đang thấy ngày nay. Trái lại, ngay bên cạnh đó là Bắc Hàn, chính trị thì hoàn toàn ổn định, xã hội thì gần như không hề có một xáo trộn nào, nhưng dân chúng Bắc Hàn thì ngay cả cơm gạo cũng không có đủ mà ăn, cho đến tận ngày hôm nay, người dân vẫn còn đang bị chết vì đói rét. Phải chăng, chính những “bất ổn xã hội” nói trên, như trong Cách mạng Pháp 1789, như tại Nam Hàn, Đài Loan ... mới là những “le mal necessaire” mới là những cái giá mà Việt Nam cũng bắt buộc sẽ phải trả, những sóng gió mà đất nước cũng bắt buộc sẽ phải trải qua)?

- Đáng buồn hơn nữa là trong tương lai, nếu vô phước mà đất nước lại bị giặc Tầu xâm lăng, rất nhiều người trong chúng ta sẽ lại phải cắn răng “đoàn kết” với VC để mà giữ nước.

Tất cả, chỉ vì lý thuyết cộng sản đã là kết tinh của đỉnh cao trí tuệ loài người về sự gian manh lừa lọc.

Dưới thời Hồ Bố, đỉnh cao trí tuệ của sự lừa lọc đã kết hợp với sự cao đẹp của việc chống ngoại xâm và những hoang tưởng về một lý thuyết CS xa vời viễn vông.

Dưới thời Hồ con bây giờ, đỉnh cao trí tuệ của sự lừa lọc đang kết hợp với lòng tham vô đáy và các dục vọng ích kỷ dơ bẩn của những con người vô thần duy vật chất.

Ngày nay, tất cả mọi người đảng viên của đảng Công Sản Việt Nam đều đã biết rất rõ rằng Chủ nghĩa cộng sản chỉ là một mớ lý thuyết mơ hồ viễn vông. Do đó cái gọi là “chuyên chính vô sản” mà đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn đang áp đặt lên đầu lên cổ người dân cũng đã lỗi thời lạc hậu và cũng phải loại bỏ ngay lập tức.

Nói thì nói cho vui vậy thôi, ai mà chả biết, cứu cánh của đảng cộng sản Việt Nam ngày nay, chẳng phải là cộng sản chủ nghĩa, cũng chẳng phải là quốc gia dân tộc, mà chỉ là TIỀN.

Tại các quốc gia tự do, tại Mỹ bây giờ chẳng hạn, chúng ta gia nhập một đảng chính trị là vì chính kiến, vì lý tưởng, tại Việt Nam, nhất là hiện nay, người ta vào đảng CS là để tìm địa vị, tìm lợi nhuận, tìm ... tiền.
    Tiền là Tiên, là Phật,
    Là sức bật của tuổi trẻ,
    Là sức khỏe của tuổi già,
    Là đà hy vọng,
    Là lọng che thân,
    Là cân công lý.
Đó là “Quốc văn giáo khoa thư” của các cháu ngoan già Hồ, đó là kinh nhật tụng của các học viên trong tất cả mọi trường Đảng.

Thẻ đảng ngày nay chỉ là Cái Cần Câu Cơm ... chiên.

Đồng tiền nó liền khúc ruột. Không có độc đảng, độc quyền, độc tài, độc tôn thì làm sao có tự do để vơ vét tiền bạc, để hối lộ tham nhũng, để rút ruột công trình, để thả dàn mà hút tới tận xương tận tủy của nhân dân như hiện nay. Vừa hút lại vừa bóp cổ bịt mồm, nên tuy bị hút tới tận xương tận tủy mà người dân không thể kêu than la khóc.

Ngu sao mà cho đa đảng!
Ngu sao mà không tiếp tục nhổ rồi lại liếm!

Cũng xin lưu ý rằng, nguyên nhận phát sinh ra chủ nghĩa Cộng Sản Của Karl Marx là … tính ghen ăn, đấu tranh giai cấp nghĩa là ghen ăn. Thèm thuồng từ đời ông đời cha rồi. Bây giờ miếng ngon đang dâng tới miệng thì phải đớp chứ. Ngu sao mà Cần, Kiệm, Liêm, Chính!

Làm gì có Niết Bàn Hỏa Ngục, làm gì có Kiếp Sau Kiếp Trước … Chết là hết, ngu gì mà không đớp hít, ngu gì mà không gian manh lừa lọc, không hối lộ tham những để được giầu sang phú qúi, ngu gì mà không tận hưởng các vui thú xác thịt …

Nếu muốn có được một tương lai tươi sáng huy hoàng, nhân dân Việt Nam chỉ có một con đường duy nhất, đó là loại bỏ hoàn toàn cái đảng Cộng Sản hiện nay.

Trường Sơn-Trường Hận

Friday, August 13, 2010

Mặt trận kháng chiến "BỊP" dzịt tiềm

    Mặt trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh Lừa bịp ngay từ lúc đầu !


Lúc 12 giờ 18 phút ngày 5/12/2000 Ký giả Tân Dân của báo Quê Hương thực hiện cuộc phỏng vấn ký giả Hoàng Xuyên của bán nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong, ký giả đầu tiên được mời đến chiến khu biên thùy Ðông Dương của MT Hoàng Cơ Minh tham dự buổi ra mắt ”Cương Lĩnh của Mặt Trận"

Cuộc phỏng vấn dài 16 trang A 4 người viết xin chép lại nhiều kỳ trên Tinparis để quý độc giả rộng đường dư luận.Cùng nhận diện những tên đại bịp cả dân tộc từ "Giải Phóng đến Canh Tân "…..

- Sơn Tùng -
Bài của ký giả Tân Dân

Lời mở đầu: Cụ Hoàng Xuyên là nhà báo đầu tiên được "Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam" mời vào Khu Chiến tham dự Lễ Tuyên Bố Bản Cương Lĩnh Chính Trị. Sau khi ở Khu Chiến về cụ Hoàng Xuyên viết một loạt bài du ký tả lại cuộc đi thăm Khu Chíến được đăng trên bán nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong xuất bản tai Arlington, Virginia khiến Mặt Trận được đồng hương trên thế giới cuồng nhiệt hoan nghênh đưa tin "Mặt Trận" lên tận may xanh như thể Việt Nam chắc chắn sắp được giải phóng khỏi ách thống trị bạo tàn của Cộng Sản.

Số tiền do đồng hương yểm trợ vượt kỷ lục trong một thời gian ngắn đã thu được một số tiền khổng lồ, lên tới hàng chục triệu Mỹ kim. Song song với chiến dịch làm tiền đồng hương, Ban Kinh Tài của Mặt Trận cũng ráo riết hoạt động, 4 tàu đánh cá, nhiều nhà in và con số chưa phải là cuối cùng, 38 tiệm Phở Hoà được khai trương tại nhiều tiểu bang có đông người việt cư ngụ, đó là chưa kể Âu châu, Úc châu và Gia Nã Ðại …

Ðể hiểu rõ thêm về cái gọi là "Mặt Trận” đã có lần ồn ào ấy thật sự có muốn dấn thân làm lại lịch sử giải phóng quê hương hay chỉ lợi dụng lòng căn thù Cộng Sản của Người Việt hải ngoại mà bầy trò kháng chiến bịp bợm với mục đích duy nhất móc túi đồng hương một cách trắng trợn, chúng tôi nghĩ không cách gì bằng phỏng vấn cụ Hoàng Xuyên để có thêm một tiếng chuông vô tư có những điều chưa được nói ra về cái Mặt Trận vang bóng một thời.

Hỏi: Thưa bác Hoàng Xuyên , bác là nhà báo dầu tiên được về thăm Chiến Khu của “ Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam” mà người ta thường nôm na là Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, tuy nay đã rõ rệt trắng đen nhưng còn là đề tài để đồng hương tranh luận. Có nhiều người đến nay vẫn mù quáng hoạt động cho Mặt Trận ấy, nhưng hầu hết đều kết tội bọn chủ chốt anh em Hoàng Cơ Minh, Hoàng Cơ Long, Hoàng Cơ Ðịnh đều là những tên đại bịp mà các ông Phạm Văn Liễu, Phạm Ngọc Lũy Trần Minh Công vì ngây thơ nhẹ dạ cũng mang tiếng lây. Bác không phải là đoàn viên của Mặt Trận, chỉ là một nhà báo duy nhất được mục kích cái Khu Chiến giả tạo và tham dự "Lễ Tuyên Bố Bản Cương Lĩnh Chính Trị" tiếng nói của bác chắc chắn trung thực để gióng lên tiếng chuông vô tư theo sự tai nghe mắt thấy hầu làm sáng tỏ thêm vấn đề. Trước hết xin hỏi tại sao không là người khác , mà bác lại là người may mắn được vào thăm Khu Chiến ?

ÐÁP: Tôi xin đính chính ngay, đó là một "đại bất hạnh", một sai lầm to lớn, chớ không phải là may mắn khi tôi nhận lời đại diện tờ Văn Nghệ Tiền Phong đi về cái Chiến Khu "dổm" đó để cũng bị mang tiếng lây ! Chuyện Mặt Trận Hoàng Cơ Minh cũ rích rồi, bươi ra làm gì nữa đề đồng hương lợm giọng.

Hỏi: Xin bác cho đồng hương biết ý kiến

ÐÁP: Tôi quen ông Phạm Văn Liễu khi còn ở Sài Gòn. Năm 1975 khi tỵ nạn Hoa Kỳ, ông Liễu thường liên lạc với tôi, tâm tình cho tôi biết sơ qua về dự định thành lập mặt trận với nguyên trung tướng Nguyễn Chánh Thi, rồi sau với cựu phó đề đố Hải Quân VNCH Hoàng Cơ Minh. Dĩ nhiên tôi hết sức khuyến khích.

Tháng 7 năm 1981, ông Liễu từ Nam Cali điện thoại cho tôi biết hôm sau sẽ cùng bốn người nữa đến nhà tôi ở Milpitas và yêu cầu "tiện nội" tôi sửa soạn cho bữa cơm 5 người ăn. Khoảng 2 giờ chiều. Liễu đến giới thiệu với tôi những kkuôn mặt mà tôi chưa hề biết lần nào như Hoàng Cơ Minh, luật sư Vũ Ngọc Tuyền, luật sư Nguyễn Tường Bá và Phạm Ngọc Lũy. Tôi được mời dự thính hội nghị bàn tròn để nghe Hoàng Cơ Minh phân tích về tình hình thế giới liên quan đến "cái thế "xuống dốc của Cộng Sản Việt Nam và sự cần thiết khẩn cấp có một lực lượng võ trang của người Việt hải ngoại bắn một tiếng súng khai hoả là các tổ chức cách mạng chống cộng trong nước đồng loạt nổi dậy thì "cái thế tất thắng " (Minh thường dụng cụm từ này) chắc chắn rõ rệt như hai cộng hai là bốn. Cuối cùng Minh cho biết hai tuần sau sẽ có một số cán bộ từ Hoa Kỳ về Khu Chiến. Trong lúc ăn cơm Liễu cho biết Phạm Ngọc Lũy đã nhận lời giữ vai hề "Chủ Tịch Ủy Ban Yểm Trợ Kháng Chiến Trung Ương" và yêu cầu luật sư Vũ Ngọc Tuyền nhận chức Ủy Trưởng Tài Chánh còn tôi làm phụ tá. Ông Tuyền và tôi đều giữ yên lặng, không nhận lời mà cũng không từ chối. Tin buổi họp này bị tiết lộ nên một vài tờ báo Việt ngữ địa phương đăng tin rằng nhà con trai tôi là địa điểm của một buổi họp kín lịch sử. Ít hôm sau tôi gọi điện thoại hỏi luật sư Vũ Ngọc Tuyền về vai tuồng được mời thì ông cười trả lời "Ðó là các ông âý đề nghị chứ tôi đã nhận lời đâu". Tôi trả lời cũng cùng quan điểm.

11 giờ đêm ngày 10/12/1981 Liễu gọi điện thoại cho tôi từ Sacramento rủ tôi về Khu Chiến. Trong lúc ngái ngủ tôi hỏi không suy nghĩ “Khu Chiến nào" Liễu cười chê tôi là anh cả quỷnh rồi. "Ngoài MTQGTNGPVN thì làm gì còn có Mặt Trận nào để rủ về Khu Chiến". Tôi hỏi tại sao lại rủ một anh già yếu như tôi thì Liễu cho biết Ðài Truyền Hình CBS đã cử cameraman Nguyễn Ngọc Ấn. Liễu biết tôi có một số kinh nghiệm về nhiếp ảnh nên yêu cầu tôi cùng đi để phụ trách thu vào ống kính những bức ảnh lịch sử mà anh vững tâm tôi có thừa điều kiện làm việc đó.

Hỏi: Bác nhận lời?

Ðáp: Không, tôi từ chối ! Tôi nhắc cho Liễu biết, tôi đã 64 tuổi (năm 1981) Sức đâu mà băng rừng lội suối, trèo non thì Liễu thuyết phục rằng phụ nữ người ta còn đi về như đi chợ, còn tại sao một "lão gân" như tôi lại không đi được? Rồi anh cho biết, đến biên giới thì có anh em chiến sĩ võ trang, đón hướng dẫn váo Chiến Khu, họ sẽ mang hết hành lý, máy ảnh, máy quay phim mình chỉ chống gậy thơ thới hân hoan đi, khi nào mệt thì dừng lại nghỉ. Liễu cũng cho biết hành trình từ biên giới vào khu chiến mất hai ngày. Tôi hỏi biên giới nào, thì Liễu trả lời: Bí mật quân sự đến nơi sẽ biết! Tôi yêu cầu để tôi suy nghĩ rồi bàn với tiện nội nếu đi đưọc tôi sẽ trả lời, thì Liễu muốn tôi nhận lời ngay bằng cách cho tôi biết là có cả Phạm Ngọc Lũy, Hồ Anh chủ nhiệm báo Văn Nghệ Tiền Phong và một kỹ sư trẻ tuổi ỏ Oregon cùng đi. Ðến Bangkok sẽ có "phái đoàn Nhật Bổn” gồm một giáo sư người nhật tên Tonoko và một số sinh viên Việt Nam trong nhóm Người Việt Tự Do sống lâu năm ở Nhật, trong đó có Ngô Trí Dũng, Nguyễn Văn Ðoàn vân vân … sẽ cùng nhập bọn đi Chiến Khu.

Tôi vẫn không dứt khoát nhận lời.

Còn hai tuần lễ trước ngày lên đường Liễu gọi điện thoại cho tôi biết Hồ Anh và Phạm Ngọc Lũy bị bệnh không đi được. Ðể tôi trả lời dứt khoát nếu không sẽ tìm người khác, Liễu cho biết Hồ Anh đề nghị sẽ trả tiền vé máy bay khứ hồi cho cả Liễu và tôi với điều kiện tôi nhận lời viết bài tường thuật cho báo Văn Nghệ Tiền Phong. Tôi gọi diện thoại cho Hồ Anh để làm sáng tỏ vấn đề. Ðồng thời tôi cũng bảo Hồ Anh nên cố đi để viết theo đường lối của tờ báo thì anh ta thuyết phục tôi rằng cứ việc ghi đầy đủ tất những gì tai nghe mắt thấy rồi về viết lại, nếu cần thì anh ta sẽ hiệu chính sau.

Sau cùng Hồ Anh bảo tôi cứ viết những bài tôi đã viết cho VNTP trong năm năm qua mà Lê Triết đã có lần "cho điểm” là văn viết vững, rất Pro ! Thật ra trước năm 1975 tôi đã từng là thông tín viên của chiến trường cho NBC, KTLA Los Angeles, British Commomwealth International Agency và thông tín viên tự do (free lancer) cho UPI, AP và tuần báo newsweek, v.v... trong 13 năm với những biến cố sôi động xảy ra hằng ngày tại Việt Nam, tôi đã viết hàng ngàn bài tường thuật bằng Anh văn. Vậy thì một bài tường thuật tầm thường dù là "du ký về Chiến Khu" có gì mà không viết nổi. Tôi dè dặt vì chơi với Hồ Anh từ lâu biết tính tình anh ta trở mặt …[……..] không trích.

Hỏi: Ðã biết thế sao bác lại nhận lời đi Khu Chiến để viết bài cho VNTP

Ðáp: Vì Hồ Anh than rằng hắn thật sự bị bệnh và quá bận, năn nỉ tôi cố gắn giúp hắn, hắn đã đưa tiền cho Liễu mua vé máy bay khứ hồi cho Liễu và tôi rồi. Vốn có máu giang hồ, cộng với lòng tò mò muốn biết sự thật có kháng chiến hay không, sau bàn sơ qua với tiện nội, một giờ sau tôi điện thoại dứt khoát nhận lời mời đại diện cho VNTP đi Khu Chiến.

Theo lời yêu cầu của Liễu từ hai hôm trước, mọi người phải có mặt trước 5 giơ chiều Chủ Nhật 22/2/82 tại nhà Nguyễn Văn N, một đoàn viên của Mặt Trận ở Oakland để cùng ra phi trường San Francisco. Ðến nơi tôi thấy cả Phạm Ngọc Lũy, Hồ Anh không ai có dáng điệu gì đau ốm cả. Tôi hỏi thì Liễu nói nhỏ vào tai tôi "họ là những con thỏ gan to bằng ... con kiến. Thôi đừng hỏi nữa". Sau bữa cơm do các anh chị em đoàn viên Mặt Trận khu Oakland khoản đãi để chúc chúng tôi … một ra đi sẽ trở về!

Phái đoàn Hoa Kỳ chính thức lên đường gồm có Phạm Văn Liễu bí danh Trần Trung Sơn trưởng đoàn, tôi đại diện bất đắc dĩ tờ báo […bỏ hai chữ] VNTP, Nguyễn Văn Ấm quay phim cho CBS, kỹ sư trẻ tuổi Trường Sơn Bổn từ Oregon tới. Chúng tôi được khoản 20 đoàn viên Mặt trận đưa tiễn tại phi trường San Francisco. Mọi người vui vẻ đứng chụp hình lưu niệm với phái đoàn, dĩ nhiên không ảnh nào thiếu mặt hai con "thỏ đế". Lợi dụng lúc nhân viên đài truyền hình CBS phỏng vấn Phạm Văn Liễu trước khi lên phi cơ, Hồ Anh kéo tôi ra một nơi dặn dò tôi nhớ ghi mọi chi tiết những gì tai nghe, mắt thấy để về viết bài và chụp nhiều ảnh. Tôi riễu "biết rồi khổ lắm nói mãi".

11 giờ đêm chúng tôi vui vẻ bước lên phi cơ và sau 15 giờ bay chúng tôi đến phi trường quốc tế Bangkok. Ra đón tại phi truờng có Nguyễn Kim Hườn, bí danh Nguyễn Kim (hiện giữ chức Tổng Vụ Hải Ngoại sau khi Phạm Văn Liễu bị anh em Hoàng Cơ Minh hạ bệ) rồi ông bà Nguyễn Chí Trung bí danh Phạm Thái Hòa (Hồi còn mồ ma VNCH, ông Trung được BS Trần Kim Tuyến cử sang làm tình báo tại Tòa Ðại Sứ VNCH tại Bangkok, sau miền nam Việt Nam sụp đổ, ông Trung ở lại và trở thành công dân Thái. Ông bà Trung rất thạo Thái ngữ nên đã thành công trong công tác môi giới trung gian với giới chức thẫm quyền Thái Lan thuê đất rừng để làm Chiến Khu cho Mặt Trận). Phái đoàn Nhật Bản gồm năm thanh niên cũng ra đón tại phi trường để cùng nhập bọn với chúng tôi đi Khu Chiến.

Hỏi: Bác có thể "bật mí" cho biết đích xác Khu Chiến nằm ở đâu không ?

Ðáp: Trong loại bài du lý của tôi chỉ có một đoạn bắt buộc tôi phải viết sai vị trí của Mật Khu, vì cả Hoàng Cơ Minh lẫn Phạm Văn Liễu đều nhiều lần nhắc nhở mọi người, nếu muốn CSVN đem máy bay đến tàn sát thì hãy tiết lộ địa điểm Mật Khu, cho mọi người biết. Chúng tôi nghĩ vấn đề quan trọng là họ có thật sự chiến đấu hay không, còn vấn đề giữ bí mật địa điểm Mật Khu là điều mà không cần dặn chúng tôi, chúng tôi cũng có ý thức bảo mật điều đó. Ít năm sau, mặt nạ bịp bợm của Mặt Trân phơi bày, tôi đã viết mội bài trần tình coi như "viên đạn ân huệ" (coup de grâce) đăng trong VNTP số 233 kể rõ tất những bịp bợm và nói rõ địa điểm Khu Chiến nằm sau trên lãnh tổ Thái Lan, thuộc tỉnh Ubon, làng Bultarit, cách biên giới Cao Miên khoảng 15 cây số.

Tôi xin kể tiếp là sau khi chúng tôi ra khỏi phi trường Bangkok thì ông bà Nguyễn Chí Trung hướng dẫn mọi người lên hai chiếc xe Toyota minivan đi đến Ubon cách Bangkok khoảng 500 kilomét về phía Ðông Bắc, ngừng lại một tiệm ăn nhỏ để dùng bữa. Thái Lan có khỏang 500 ông đại tướng, mỗi ông chia nhau làm chủ một cơ sở thương mại; ông thì làm chủ một số nhà tắm hơi, ông thì cai quản một số sòng bạc, ông thì có một số ổ mãi dâm, vân vân … Ðại tướng Sud Sai làm vua vùng Ubon để khai thác gỗ đồng thời cho thuê một số đất rừng hoang để tổ chức chiến khu như loại Chiến Khu Hoàng Cơ Minh, Nguyễn Văn Chức ( công binh) vân vân ... có lần Nguyễn Chí Trung hỏi tôi nếu tôi muốn có mấy mẫu đất để làm "chiến khu", chỉ cần chi cho tướng Sud Sai 20,000 Mỹ kim tiền vào cửa là xong, ngoài ra chỉ phải trả mỗi tháng 3,000 Mỹ kim tiền thuê ….

Bất hạnh cho dân tộc Việt luôn bị lừa, từ tên tay sai Ðệ Tam Quốc Tế Cộng Sản Hồ Chí Minh (HCM) đánh lừa dân tộc qua chiêu bài "giải phóng bởi thực dân đế quốc phong kiến" Hoàng Cơ Minh (HCM) và bè lũ Việt Tân đã và đang lạm dụng lòng căm thù đế quốc cộng sản cai trị dã man tàn ác đè đầu cởi cổ dân ta cũng với chiêu bài "giải phóng" đến bánh vẽ "canh tân".

Nhìn vào những bản mặt ba xu của đám côn đồ Việt Tân ở Úc bọn này đang manh tâm thôn tính các HỘI CỘNG ÐỒNG khuynh loát tài chánh, khống chế, hăm dọa, hành hung, bức hại người dân lương thiện như những ngày đầu khởi xướng "bạo lực cách mạng" của Hồ Chí Minh và bè lũ Việt Minh.

Hoàng Cơ Minh đứng ra thành lập Mặt Trận Thống Nhất Giải Phóng Việt có phải vì quê hương, vì dân tộc hay lợi dụng lòng căm thù Cộng Sản của nhân dân để móc túi đồng hương và đánh lừa dân tộc. Xin mời quý vị đọc tiếp:

Cơm nước xong mọi người lại lên xe, chạy thêm khoảng 30 cây số thì đến một làng hẻo lánh có tên là Bultaret nằm ngay bên cạnh một khu rừng già. Xe đến một con đường mòn độc đạo có một khúc cây dài chắn ngang do hai ba anh lính địa phương đứng gác. Ông Trung xuống xe đưa cho hai người lính xem giấy phép của Thủ Tướng Thái Lan ký. Anh lính xem xong, chạy vào đồn trình một sĩ quan cấp trên. Viên sĩ quan trẻ tuổi đi ra nói với ông Trung rằng anh không biết Thủ Tướng là ai, chỉ được lệnh của Ðại Tướng không cho ai vào nếu không có giấy pháp do chính Ðại Tướng ký. Thì ra câu "quan thì xa, mà bản nha thì gần" được áp dụng khắp mọi nơi. Ông Trung cố thuyết phục viên sĩ quan trẻ tuổi nhưng vô hiệu, đành phải cho xe lui đến một phòng ngủ rẻ tiền gần đó, mọi người xuống để ông bà Trung lái xe về Bangkok vận động.

Chúng tôi ăn chực nằm chờ ở Bultarit 12 ngày. Ông bà Trung trở lại với giấy phép của Tướng Sud Sai sau khi đã nộp 2,000 Mỹ kim tiền mãi lộ. Sáng ngày 7/3/1982 chúng tôi rời phòng ngủ lại lên xe vượt qua gát canh để vào đường mòn dẫn đến một khu rừng rậm, xuất hiện 5 người ăn mặc quần áo đen tay cầm súng. Nhạc sĩ Trần Thiện Khải, bí danh Trần Khánh tươi cười tiến đến cho biết anh được lệnh dẫn một tiểu đội đến đây đón chào chúng tôi và hướng dẫn mọi người vào Khu Chiến.

Anh phát cho mỗi người một bộ bà ba đen, một đôi dép râu ‘’Bình Trị Thiên’’ một khăn rằn ri và một chiếc mũ đen, rồi yêu cầu mọi người vào gốc cây hay bụi rậm gần đó để thay quần áo. Mười phút sau chúng tôi đã thật sự "lột xác" thành những dị nhân … nửa người nửa ngợm. Thì Trần Khánh yêu cầu mọi người tập hợp để anh thuyết trình, anh lập lại lời đã nói: "Tôi được lệnh chiến hữu Chủ Tịch ra đây đón chào chiến hữu Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hải Ngoại (Phạm Văn Liễu) và quý vị trong phái đoàn Hoa Kỳ và Nhật Bổn và mời quý vị theo tôi vào Mật Khu của chúng ta. Ðường vào mật khu có hơi vất vả, nhưng các anh em chiến sĩ chúng tôi vừa có bổn phận hộ tống, vừa mang hành lý dùm cho quý vị. Ngoài ra , xin quý vị cứ an tâm suốt lộ trình vào Mật Khu đều có đều có binh sĩ võ trang của ta đóng rải rác. Ðường đi mất hai ngày, chúng ta cũng sẽ ngủ lại đêm tại một trạm giao liên".

Phải nói rằng Hoàng Cơ Minh và đồng bọn đã mất khá nhiều ngày giờ để soạn thảo một vụ bịp có quy cũ, mặc dù đôi khi tréo cẳng ngỗng vì ông nói gà bà nói vịt!

Ði được một đoạn đường khá xa, đến một cái đồi dưới ánh nắng khó chịu vùng nhiệt đới thì Khải cho biết có một phụ nữ vào thăm Khu Chiến đến đây bị mệt xỉu nên anh em chiến sĩ đặt địa danh nơi đây là "đồi Bà Xỉu". Rồi đến một khu đầy dây leo chằng chịt thì cũng có tên là "đồi Tarzan" rồi "suối Yamamoto" để kỷ niệm một thân hữu Nhật Bổn đã vào Khu Chiến đến đây vì nóng bức quá phải xuống tắm. Quá trưa, mọi người ngừng dưới một khu rừng rậm, bóng mát dầy đặc, trên nhiều cây cổ thụ có những cụm lan rừng nở đầy hoa. Gần đó là một vũng nước đọng trên vài khối đá to bằng cánh phản đầy rêu và cung quăng bơi lội.

Khải nói địa danh này là “hồ Xuân Hương”. Ăn trưa xong, mọi người lại khăn gói bị gậy lên đường đi một quãng qua “Suối Mơ”, vì cách đó khoảng 500 mét có một cái thác nhỏ. Vất vả nhất là lúc băng qua một vùng cát trơ trụi không cây cối dài khoảng 4 cây số. Nắng trên trời chiếu xuống hắt hơi nóng dưới cát lên khiến mọi người vô cùng khó chịu, nơi này cũng được đặt tên là “sa mạc Kháng Chiến”. Khi mặt trời đã lặn, chúng tôi đến một nơi có sẵn một nhà sàn, mái tranh, vách lá còn khá mới mà Khải nói đó là “trạm giao liên”. Các anh em “chiến sĩ” chia nhau công tác, người thì đem thức ăn ra (sôi nếp, muối vừng, cá khô, lạp xưởng ...), người lo chụm lửa nấu nước, người lo trải báo làm nơi bày thức ăn. Các anh em khác vác súng chia nhau mỗi người một góc để bảo vệ an ninh cho mọi người. Ðêm hôm đó, chúng tôi được nằm trên căn nhà sàn ọp ẹp, còn các anh em “chiến sĩ” thì móc võng nằm chung quanh.

Sáng hôm sau, mặt trời vừa hừng sáng, mọi người lại chuẩn bị lên đường. Từ đây đường đi phần nhiều dưới bóng mát và ít phải leo trèo nên đỡ mệt. Khoảng quá ngọ, chúng tôi được hướng dẫn leo lên một ngọn đồi đầy tre già mọc chi chít. Ðến một ven đồi, Khải chỉ cho mọi người thấy xa xa phía dưới khoảng 5 cây số đường chim bay, có đường mòn và rải rác vài căn nhà tranh mà Khải nói đó là “khu vực của Việt Cộng”, rồi y phịa ra những chuyện giật gân rằng khoảng nửa năm về trước, hai chiến sĩ của ta đã phục kích chỗ gần bản doanh của địch, phá hủy một xe Jeep, giết chết hai tên Việt Cộng, nhưng một trong hai “chiến sĩ anh dũng” của ta đã đền nợ nước. Cái đặc biệt là tuy chết nhưng chiến sĩ can trường của ta vẫn ôm trong người khẩu tiểu liên!

Mỗi người tìm một chỗ dưới rặng tre để ngồi nghỉ trong khi Khải ra lệnh cho ba chiến sĩ trong “đội thám báo” đi trước thám thính xem có an toàn hay không. Nửa giờ sau, Khải cho biết các chiến sĩ đã trở về và cho biết tình hình tương đối an toàn nên mọi người âm thầm luồn lách qua những rặng tre để đi thêm khoảng 30 phút thì trong bụi rậm nhô ra “chiến hữu chủ tịch” và “bộ tham mưu” của ông. Sau này tôi đoán 3 anh “thám báo” chỉ là “đóng kịch” cho có vẻ quan trọng, thật ra họ đi trước báo cho Hoàng Cơ Minh biết chúng tôi đã đến nơi để ra đón.

Hỏi: Ngày giờ ... “lịch sử” ấy là ngày nào?

Ðáp: Khoảng 2 giờ chiều (giờ địa phương) ngày 7/3/1982. Hoàng Cơ Minh gầy gò, mảnh khảnh trong bộ bà ba đen, râu ria cũng gần giống ... già Hồ! Ðầu tiên, “ông Chín” (bí danh của Minh) tiến đến ôm chặt, bắt tay Phạm Văn Liễu và tươi cười nói:

“Ðây là Chiến Khu của chúng ta, xin mời tất cả các chiến hữu đi theo tôi”. Rồi ông ôm từng người và giới thiệu các chiến hữu trong Bộ Tham Mưu gồm có thiếu tướng Tư Lệnh Lê Hồng, bí danh Ðặng Quốc Hiền, Nguyễn Trọng Hùng, Trần Văn Lộc, Hoàng Nhật, v.v... Ði khoảng 100 mét thì đến “đại bản doanh” (sic!) của Mặt Trận. Ðây là một khu đất rừng khoảng hơn một mẫu tây, cây nhỏ và cỏ tranh được dọn sạch, chỉ còn rải rác một số cây cổ thụ. Mọi người được dẫn vào “hội trường” là một căn nhà mái tranh, vách tre dài khoảng 15 mét, rộng 5 mét. Cuối nhà là một bàn thờ Tổ Quốc làm bằng cây rừng cao khoảng 1 mét 30, trên tường có hình bản đồ Việt Nam đè lên lá quốc kỳ Việt Nam màu vàng ba sọc đỏ. Trên bàn thờ ở giữa là một lư hương lớn bằng đồng khói hương nghi ngút, hai bên có hai cây cắm nến (chandeliers) cũng bằng đồng, một bên là đĩa trái cây, một bên là một bình bông cắm các loại hoa rừng. Dọc theo chiều dài của các bức tường, treo rải rác những cụm hoa lan (orchids) đủ màu sắc. Ðầu bên này căn nhà, đối diện với bàn thờ là lá quốc kỳ VNCH được ghim chặt vào tường. Giữa căn nhà, theo chiều dài là một bàn dài làm bằng thân cây rừng, hai bên có hai dẫy ghế dài cũng làm bằng thân cây còn cả vỏ. Ðầu bàn hướng về phía trên bàn thờ là một ghế cá nhân có dựa tay cũng bằng cây rừng.

Vào đến “hội trường”, Hoàng Cơ Minh ngồi trên chiếc ghế chủ tọa và mời tất cả các “đồng chí” an tọa hai bên. Ngồi cạnh Minh bên tay mặt là Liễu, bên trái dành cho tôi, người lớn tuổi nhất trong đám. Sau những lời chào sáo ngữ, Minh lại “vở cũ soạn lại” kể lể và phân tích những khó khăn Việt Cộng đương gặp phải nhất là vấn đề kinh tế lụn bại, mức sống của người dân sau 7 năm độc lập, thống nhất vẫn đói khổ, Việt Nam được xếp hạng là một quốc gia nghèo nhất thế giới nên dân tình oán trách, những phong trào cách mạng trong nước bí mật thành hình chỉ chờ hải ngoại “bắn súng lệnh” là họ sẽ nhất loạt đứng lên tiêu diệt bọn Cộng Sản khát máu. Ðến phần phát biểu ý khiến, tôi hỏi vấn đề lương thực có đủ cho các anh em chiến sĩ thì Minh đáp: “Nhờ tinh thần vượt mọi khó khăn, quyết tâm diệt Cộng giải phóng quê hương nên các chiến hữu cũng như cá nhân tôi, cơm thì ngày được ăn với cá khô, một tuần phải xen kẽ một vài bữa cháo hoa với trứng vịt muối, đau ốm thì chỉ có aspirin và tylenol". Nói đến đây, Minh vén ống quần lên cho tôi thấy từ đầu gối xuống đến mắt cá chân có nhiều mụn nhọt to bằng vẩy cá hay đồng quarter, rồi nói tiếp: “Chính bản thân tôi bị ghẻ lở như thế này mà cũng không dám bỏ tiền đi khám bác sĩ.” Hít một hơi thuốc lá, Minh lại nói: “Quần áo không ai đủ mặc, nhưng ai cũng vui vẻ hăng hái làm nhiệm vụ.” Tôi lại hỏi: “Sao không sắm lấy ít chiếc nỏ để anh em chiến sĩ săn hươi nai, cáo chồn ... tưởng cũng giải quyết được phần nào vấn đề lương thực.” Minh cười: “Có chứ, thỉnh thoảng cũng hạ được hoặc heo rừng hoặc mang mễn, nhưng hàng ngày thì có hai đồng chí có kinh nghiệm cao về “bẫy chuột”. Vì sợ chuột nghe thấy nói đến tên mình sẽ không vào bẫy nên các anh em cứ phải nói trệch hỏi nhau ”hôm nay được mấy ông chí, chứ không dám dùng danh từ “chuột”!

Tôi lại hỏi có được sự trợ giúp trực tiếp hay gián tiếp của Hoa Kỳ không, thì Minh trả lời: “Hoàn toàn không. Trước hết chúng ta phải tự cứu và phải làm được những gì cụ thể tốt đẹp mới mong người ngoài trông thấy rồi trợ giúp chúng ta.” Rồi ông phịa ra câu chuyện: “Nếu có tiền thì công cuộc giải phóng quê hương rất nhanh, vì cách đây không lâu có một tiểu đoàn địch, khoảng 300 người, liên lạc cho biết muốn đem cả vũ khí chạy về với chúng ta. Nhưng chúng tôi không dám nhận vì tiền đâu mà nuôi họ ăn hàng ngày. Người nào không có quần áo, vũ khí thì tiền trang bị vũ khí, quần áo mỗi người cũng phải tốn khoảng 200 mỹ-kim.” Rồi Minh kết luận: “Công cuộc giải phóng quê hương là nhiệm vụ chung của mọi người Việt Quốc Gia, tôi yêu cầu các chiến hữu khi trở lại Hoa Kỳ hãy dùng cơ quan ngôn luận kêu gọi đồng hương khắp nơi trên thế giới tiếp tay cùng chúng tôi thì chắc chắn quê hương chúng ta sẽ được giải phóng một ngày không xa.”

Sau khoảng 2 giờ trao đổi ý kiến mà đúng ra là để nghe “ông Chín” phịa ra những chuyện trên trời dưới biển, mọi người được mời tham quan một vài nơi như nhà bếp, sân tập dượt quân sự, ngôi nhà tranh nhỏ nơi “ông Chín” làm việc và ngủ, rồi ông dẫn đến một cái suối nước chảy rất yếu, cách “đại bản doanh” khoảng 100 mét, được gọi là “Suối Thiên Phù”, vì - theo lời Minh - ở một khu rừng thiêng nước độc như thế này, bỗng có một ngọn suối nằm ngay bên cạnh Mật Khu thì quả là thượng đế thương mà phù hộ cho những người chiến đấu vì quê hương. Khi mặt trời đã bắt đầu lặn, chim chóc đã xào xạc bay về tổ, mọi người được mời đến một góc rừng, dưới mấy cây cổ thụ có một bàn dài làm bằng thân cây rừng. Ngay gần đó là một lều tranh dùng làm nhà bếp. Ông Chín ngồi đầu bàn, mọi người ngồi hai bên. Ông Chín cho biết bữa cơm hôm nay là “đại tiệc” vì được ăn rau, cá khô, lạp xường và ruốc thịt heo.

Sau bữa “đại tiệc”, tôi được một chiến hữu dẫn đến một căn lều nhỏ chỉ vừa một người nằm, giữa đám cỏ tranh cao ngất. Vì có muỗi và đêm lạnh nên anh chiến sĩ mắc cho tôi chiếc mùng cá nhân màu cứt ngựa và một mền đơn cũng của nhà binh. Suốt hai ngày đi đường mệt nhọc, tôi nằm xuống là ngủ như chết. Khoảng 5 giờ sáng hôm sau, Liễu đến chòi tôi ngủ, ngồi bên cạnh và cho tôi biết hôm nay, tại buổi lễ tuyên bố Bản Cương Lĩnh Chính Trị, lúc đến phần đại diện các đoàn thể phát biểu ý kiến thì tôi là người lớn tuổi hơn cả trong phái đoàn Hoa Kỳ sẽ được mời ra phát biểu đầu tiên. Sau những lời ca tụng sự hy sinh và can trường của các anh em chiến sĩ, Liễu dặn tôi đừng quên tuyên bố lớn rằng tôi sẽ “ủng hộ Mặt Trận 2.000 mỹ-kim để mua vũ khí”. Tôi ngồi nhỏm dậy bảo Liễu: “Tôi đem theo 2.000 mỹ-kim, nhưng nằm “valise” 12 ngày ở làng Bultarit, phần nhiều ăn uống tôi phải bỏ tiền ra trả, cộng thêm tiền mua rượu, quà tặng các anh em chiến sĩ, tôi làm gì còn đủ hai ngàn mà tặng ai?”. Liễu cười bảo tôi: “Vì có gần 30 người ở Thái và Lào đến dự nên anh (tức tôi) chỉ làm cử chỉ cò mồi chứ đâu có phải bỏ tiền ra mà sợ.”

Sau khi rửa mặt, tôi được một “chiến hữu” đem hành trang của tôi gồm hai máy ảnh cùng nhiều phim ảnh và cuốn sổ đựng trong hai bao da đen, hướng dẫn tôi đến địa điểm hành lễ là một khu bằng phẳng nằm bên cạnh đồi, phía trong là một phiến đá thiên nhiên mặt bằng phẳng như một bức tường cao khoảng hơn 10 mét, rộng 5 mét. Một lá quốc kỳ VNCH màu vàng ba sọc đỏ vĩ đại được căng thẳng trên mặt tường đá. Phía dưới có ba hàng ghế dài để Chủ Tịch và Ban Tham Mưu ngồi hàng ghế trước, còn các đồng bào và phái đoàn các nước ngồi hai hàng ghế sau. Những khẩu hiệu dài nền vàng chữ đỏ được giăng từ cây cổ thụ này sang cổ thụ kia kín cả khu hành lễ. Dưới mỗi khẩu hiệu là những lá quốc kỳ VNCH treo dầy đặc như một rừng cờ. Ðến địa điểm hành lễ khoảng 8 giờ, tôi thấy ông Minh và mọi người trong Bộ Tham Mưu đã có mặt đầy đủ. Ông Minh, Liễu và Lê Hồng ra đứng nơi chiếc cổng duy nhất để đón các đơn vị võ trang vào tham dự buổi lễ.

Loa phóng thanh bắt đầu hô to: “Ðây là tiểu đoàn Pháo Binh 27 vào khu hành lễ” thì khoảng 20 anh chị em chiến sĩ vũ trang đủ loại súng săn cổ lỗ sĩ, mousquetons, tiểu liên AK ..., đi đầu là chiến hữu chỉ huy đơn vị vừa đeo súng vừa vác hành lý, cùng đi hàng một qua chiếc cổng được “chiến hữu Chủ Tịch” tươi cười vỗ tay đón chào. Rồi đại đội “Thám Báo 36”, trung đoàn “Xung Kích 45”, “trung đội Cảm Tử 72”, vân vân và vân vân ... Ðiều đáng chú ý là số của mỗi đơn vị, nếu cộng lại đều thành số hên “9 nút”. Khoảng gần 200 chiến sĩ vừa đực vừa cái lần lượt vào đứng chung quanh khu hành lễ.

Tôi đứng chụp hình khi họ đi qua khiến tôi lại nhớ đến cái đoàn quân “Tàu phù ô hợp” của Lư Hán khi sang miền Bắc nước ta tước võ khí quân đội Nhật năm 1945. Có những chiến sĩ lối phục sức. mặt mày, tóc tai khá kỳ dị! Trong lúc hành lễ, lợi dụng đệ tứ quyền của một nhà báo tôi len lỏi đi vào những nơi các binh sĩ đứng để chụp ảnh và phỏng vấn một số chiến sĩ đứng phía sau thì không ai thèm trả lời!

Ðến một nơi khác, tôi lại hỏi thì một chiến sĩ người Việt bảo tôi: “Họ là người Lèo, đâu có biết tiếng Việt mà bác hỏi!” Thì ra, Bộ Tham Mưu Mặt Trận đã thuê khoảng 3/4 số người Lèo giả là binh sĩ đứng phía sau với mục đích “mập mờ đánh lận con đen” để chúng tôi chụp hình quay phim quảng cáo với đồng hương rằng lực lượng của Mặt Trận có nhiều, rất nhiều, nhưng chỉ có một số tối thiểu từ các mặt trận gần về tham dự mà thôi. Thật ra thì thực lực quân số của Mặt Trận vỏn vẹn có khoảng không hơn 40 thanh niên ốm yếu lấy từ các trại tỵ nạn ra.

Trong bối cảnh lịch sử đen tối nhất của dân tộc Việt có gần 5000 năm Văn Hiến là thời gian quân Cộng Sản xâm lược miền Nam 30-4-75. Cảnh tượng hải hùng là sự cai trị tàn bạo của chế độ cộng sản chúng đã biến nhân dân miền Nam bằng những con vật hai chân. Chỉ biết cúi đầu để bọn cán bộ sai khiến, hành hạ bức hại, nhân dân lầm than kêu khóc như một địa ngực của trần gian.

Thì những con kên kên của gia đình Hoàng Cơ, cùng đồng bọn những lũ gian manh lợi dụng sự bần hàn cơ cực uất hận của nhân dân, lập ra kỹ nghệ kháng chiến, không vốn nhiều lời. Trên cõi đời này có hai nghề không cần vốn là gái đĩ và Mặt Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh mà nay là quái thai Việt Tân.

Nhưng gái đĩ còn có phẩm hạnh hơn là bọn Việt Tân vì họ đem cái của trời cho để làm vốn độ nhật. Còn gia đình Hoàng Cơ và đám tay sai Việt Tân lợi dụng sự đau thương của dân tộc, đánh lừa dân tộc để tự do móc túi, công khai móc túi và cái nguy hại hơn là là bọn này đã đào tạo một số giới trẻ từ lương thiện nhưng khi đã tham gia Việt Tân thì trở thành những tên đại lưu manh thế giới . Tiếc thay!

Bài của ký giả Tân Dân


Buổi lễ khởi sự bằng nghi lễ thông thường: chào quốc kỳ, phút mặc niệm, đến diễn văn khai mạc của ông Phan Thái Hòa, lời hiệu triệu chiến sĩ của tướng Ðặng Quốc Hiền (Lê Hồng), diễn văn của Trần Trung Sơn (Phạm Văn Liễu) rồi kế tiếp là “hịch” của chủ tịch Hoàng Cơ Minh; sau đó Bản Cương Lĩnh được đọc to, mọi người đồng loạt giơ quả đấm lên cao hô to “Việt Nam Ðộc Lập Muôn Năm! Ðả Ðảo Cộng Sản!” Sau đó một số chiến sĩ được tuyên dương công trạng và được gắn huy chương trong đó có bà Cao Thị Phượng Loan (vợ Nguyễn Chí Trung), Trần Văn Lộc là hai người có công tiếp tế đều đều cho Mặt Trận. Chiến sĩ Hoàng Nhật được khen thưởng vì đã chỉ huy mặt trận tả ngạn sông Cửu Long đánh nhiều trận làm đối phương thiệt hại lớn về nhân mạng và vũ khí (sic!). Cuối cùng là phần phát biểu của đại diện các phái đoàn và đoàn thể. Tôi được mời đầu tiên.

Hỏi: Bác vẫn nhớ lời Liễu dặn đấy chứ?

Ðáp: Nhớ lắm chứ! Ðó là “nghề của chàng mà”! Năm 1945 tham gia “Mặt Trận Kháng Chiến Nam Bộ” tôi bị thực dân bắt cùng Huỳnh Tấn Phát nhốt trong Khám Lớn Sài Gòn 18 tháng. Ở trong tù tôi đã tham dự một lớp huấn luyện về tài hùng biện trước công chúng nên sau khi lớn tiếng ca ngợi “lòng hy sinh dũng cảm vô biên của các chiến sĩ, con yêu của tổ quốc Việt Nam đã vì đại cuộc mà hy sinh cả gia đình hạnh phúc, lẫn cuộc sống đầy tiện nghi tại các quốc gia văn minh về đây hăng say làm lại lịch sử. Ðể tỏ lòng ngưỡng mộ sâu xa đó tôi xin ủng hộ Mặt Trận số tiền hai ngàn mỹ-kim để mua thêm súng đạn diệt thù. Tôi mong rằng hiện diện tại đây cũng có nhiều vị mạnh thường quân yêu nước sẽ nhiệt liệt ủng hộ không những tinh thần mà cả vật chất để các anh em chiến sĩ có thêm phương tiện làm tròn sứ mạng”. Sau khi tôi dứt lời, tiếng vỗ tay vang dội cả khu rừng.

Khoảng 12 giờ thì buổi lễ bế mạc, sau khi tiễn phái đoàn Việt kiều ở các nước lân bang ra về, ông Chín vui mừng hướng dẫn chúng tôi đi tham quan một số cơ sở kể cả việc dẫn vào một hang đá trong đó có một máy điện nhỏ cũ rích và một số dụng cụ mà ông Chín nói đó là để thiết lập đài phát thanh. “Vì không có tiền”, ông Chín nói tiếp, “nên cứ phải mua dần dần mà chỉ dám mua đồ cũ chớ tiền đâu mà mua dụng cụ mới! Chỉ trong một thời gian ngắn chờ một số máy móc ở Nhật gửi về đài phát thanh sẽ có thể hoạt động, chắc chắn vùng Ðông Nam Á, nhất là Việt Nam có thể nghe rất rõ tiếng nói của Mặt Trận!”

Chiều hôm đó, ông Chín dành cho tôi và chú Nguyễn Ngọc Ẩn của Ðài CBS lần lượt phỏng vấn. Trong lúc phỏng vấn, ông Minh nhắc đi nhắc lại rằng chú Ấn và tôi phải giữ tuyệt đối bí mật địa danh của Mật Khu và khi trở về Hoa Kỳ tôi phải dùng mọi phương tiện thông tin để thuyết phục đồng hương Việt Nam khắp thế giới hãy yểm trợ “tất cả cho Mặt Trận” thì đại sự mới mau thành công. Ông nói ông và các chiến hữu của ông đã uống máu ăn thề rằng con đường độc đạo họ phải đi là con đường “Ðông Tiến” hướng về quê hương Việt Nam, kẻ nào đi giật lùi kể cả ông Minh, những người phía sau có quyền xả súng. Ông và các chiến hữu của ông cũng đã quyết liệt nói với vợ con rằng chỉ sau khi Việt Nam được thật sự giải phóng khỏi ách thống trị của Cộng Sản thì họ mới trở lại với gia đình; ngược lại hãy coi họ như đã đền nợ nước. Sau cuộc phỏng vấn, tôi ngỏ ý cho Minh biết hôm sau chú Ấn và tôi sẽ quay phim, chụp ảnh đời sống của các anh em chiến sĩ đồng thời phỏng vấn họ thì Minh nói ngay rằng các chiến sĩ, sau buổi lễ đã trở về đơn vị tác chiến hết, chỉ còn vài chiến hữu ở lại canh gác, không còn ai mà phỏng vấn. Minh cho biết, sáng sớm hôm sau, điểm tâm xong thì tất cả các chiến hữu trong hai phái đoàn Hoa Kỳ và Nhật cùng ra về. Tôi ngạc nhiên hỏi tại sao không cho chúng tôi ở thêm một ngày nữa để nghỉ ngơi và có dịp quan sát doanh trại thì Minh nhanh trí trả lời: “Trước khi các chiến hữu vào thì chúng tôi mong từng giờ từng phút, nhưng sau khi hành lễ xong thì chúng tôi lại mong quý chiến hữu rời nơi này càng sớm càng tốt, sợ số người từ các quốc gia khác đến tham dự buổi lễ có Cộng Sản trà trộn, họ về từ chiều hôm qua có đủ thì giờ báo cho địch biết đem máy bay đến bỏ bom tàn sát, trách nhiệm đó ai chịu? Tôi mong các chiến hữu thông cảm.” Tôi đi lang thang gặp một số cán bộ hỏi dò: “Mặt Trận có bao nhiêu chiến khu?” người thì nói rất nhiều, người thì nói năm sáu chiến khu. Về quân số thì họ “tiết lộ” rằng có nhiều ngàn người rải rác trên các mặt trận, kể cả tại quê nhà vùng giáp ranh Việt Lèo. Có chiến hữu cho tôi biết đây là Ðại Bản Doanh số 7, nhưng mươi phút sau hỏi một chiến hữu khác trong Bộ Tham Mưu thì lại xác nhận đây là Bản Doanh số 9.

Hỏi một binh sĩ thì anh này “tân binh” nên nói thật: “Cháu vào đây gần 3 tháng, nhưng có đánh đấm gì đâu.” Lúc chúng tôi rời Mật Khu, ông Chín đứng chặn lối ra bảo tôi: “Bác Hoàng Xuyên là người lớn tuổi hơn cả, yêu cầu bác nói với tất cả các anh em trong hai phái đoàn Nhật và Hoa Kỳ chụp được bao nhiêu cuốn phim, xin đưa cho tôi, tôi sẽ giao cho hai chiến hữu võ trang đi theo. Khi đến Bangkok sẽ trả lại đầy đủ cho các chiến hữu, vì sợ đến chỗ đồn canh, lính Thái xét tịch thu hết thì không lẽ chúng ta lại tổ chức lại buổi lễ để chụp hình quay phim hay sao?”. Tôi làm theo lời Minh yêu cầu, thu tất cả phim đưa cho Minh, nhưng riêng tôi, có hai cuốn mỗi cuốn 36 kiểu chụp hết rồi nhưng tôi ngại lấy ra cứ để trong máy, nhờ đó mà sau này còn có một số ảnh phổ biến.

Hỏi: Cũng có khá nhiều ảnh Chiến Khu được phổ biến trên các báo, nhất là trên tờ VNTP, vậy ảnh ấy của ai?

Ðáp: Tôi đã nói tôi còn hai cuốn phim, mỗi cuốn 36 kiểu nằm trong hai máy ảnh, là phim tôi chụp buổi lễ, tôi không đưa ông Minh nên mới có ảnh mà in lên các báo. Một điều tự tố cáo cái mưu mô xảo quyệt của Mặt Trận là lúc vào làng Bultarit đến Chiến Khu thời gian đi mất hai ngày, nhưng khi trở ra bằng đường tắt bằng phẳng dễ đi, lại chỉ mất có hơn hai giờ.

Hỏi: Bịp bợm như thế với mục đích gì?

Ðáp: Tôi đoán, có lẽ lúc đầu họ bàn với nhau dẫn phái đoàn đi vòng vo trong rừng để họ nói láo rằng Mật Khu nằm trên lãnh thổ Cao Miên. Nhưng sau, họ đổi ý dẫn về bằng đường tắt cho chính họ đỡ vất vả.

Hỏi: Lúc đi vào “mật khu”, bác và mọi người không biết họ dẫn đi vòng vo tam quốc hay sao?

Ðáp: Làm sao định hướng được, nhất là họ dẫn vào những khu rừng già dầy đặc, tối om, có chỗ người hướng dẫn phải dùng dao chặt những cây nhỏ để có lối đi. Lấy một thí dụ, chúng ta được dẫn đến một khu phố đông đúc ở bất cứ thành phố nào rồi bảo ta tìm đường về khách sạn, ta có làm được không? Chiến hữu Chủ Tịch rời Chiến Khu sau chúng tôi, thế mà khi chúng tôi đến khách sạn ở Bangkok đã thấy chiến hữu chủ tịch có mặt ở khách sạn, tắm rửa, thay quần áo sạch sẽ rồi. Chiến hữu chủ tịch tìm tôi và gặp ở chân cầu thang, câu đầu tiên chiến hữu chủ tịch hỏi: “Bác Hoàng Xuyên hứa ủng hộ Mặt Trận 2.000 dollars, một số anh em chiến sĩ chờ bác đưa tiền để họ đi mua súng đạn ngay!” Tôi ngạc nhiên hỏi lại Minh: “Thế anh Liễu không nói gì với anh à?” Minh lắc đầu. Tôi yêu cầu Minh cho tôi vài phút để gặp Liễu rồi sẽ nói chuyện lại. Gặp Liễu, tôi cằn nhằn thì Liễu cười nham nhở xin lỗi vì nhiều việc nên quên chưa nói cho Minh biết và Liễu hứa sẽ tìm ngay Minh để nói rõ vấn đề. Sau khi gặp Liễu, chỉ năm phút sau gặp lại tôi, Minh đổi ngay thái độ thờ ơ, mặt lạnh như tiền! Tôi hơi khó chịu, nhưng vẫn hỏi về những cuộn phim thì Minh bảo tôi hỏi một chiến hữu khác, tồi chiến hữu khác lại chỉ cho một chiến hữu thứ ba, rốt cuộc không ai biết ai là người giữ mấy chục cuộn phim! Rứa là ... hòa cả làng

Hỏi: Lạ nhỉ! Sao họ lại muốn giữ độc quyền, không muốn để các người thông tin có tài liệu phổ biến những cái họ muốn quảng bá? Phái đoàn Hoa Kỳ sau khi rời Bangkok thì đi đâu, có chuyện gì xảy ra không?

Ðáp: Câu trả lời này xin nhường cho các “quan” có thẩm quyền trong Mặt Trận. Trên đường trở về Hoa Kỳ, chúng tôi theo Liễu ghé Tokyo một tuần lễ để Liễu họp các anh em trong nhóm “Người Việt Tự Do”. Chúng tôi được thong thả nên rủ Tài đi Atami thăm ông bạn đồng tuế Lê Văn Quý, một nhà bác học Việt Nam nổi tiếng đã từng bán trên 200 bằng sáng chế (inventions) cho Chính Phủ Nhật. Ngồi trên xe lửa tốc hành, tôi nói cho Tài biết những cái “tréo cẳng ngỗng” trong Mật Khu, tôi nghi đây lại là một trò bịp mà nếu chúng tôi không khéo sẽ bị vạ lây. Tôi nhắc lại số lượng các chiến sĩ tham dự buổi lễ phần đông là người Lèo, số các đơn vị chiến đấu đều “9 nút”, những lời tuyên bố trái ngược nhau, tại sao lại dẫn đường đi vòng vo trong rừng đến hai ngày trong khi chỉ cần vài giờ. Tại sao lại lừa dối để chiếm mấy chục cuộn phim, thái độ lạnh nhạt của Minh về số tiền 2.000 dollars, vân vân. Tôi nói khi trở lại Hoa Kỳ có lẽ tôi sẽ không viết lách gì cả. Lập tức Trường Sơn Bổn Tài nổi khùng liền lên lớp tôi: “Cháu nghĩ rằng bác là tay sai Cộng Sản thì hãy có ý nghĩ bất hợp tác như thế! Bác nên nhớ khi Hồ Chí Minh thành lập đảng Cộng Sản Ðông Dương trong hang Pac Bó chỉ có ba người. Thế mà, sau khi được quần chúng tích cực tham gia ủng hộ, họ đã giành được độc lập trong tay thực dân Pháp và làm cho Mỹ phải bỏ chạy khỏi Ðông Dương. Vạn sự khởi đầu nan, bác phải để cho người ta có cơ hội, có đà vươn lên đại sự mới thành công được. Chưa gì bác đã định phá hoại ngay thì chỉ có địch mới có những hành động vô trách nhiệm như thế!” Ðể tránh một cuộc tranh luận với một người trẻ đương đầy nhiệt huyết, tôi cáo lỗi rời chỗ đó đi về phía phòng vệ sinh.

Hỏi: Tại sao bác viết cho VNTP?

Ðáp: Về đến nhà hai tuần lễ, tôi vẫn ở trong tình trạng bất động trong khi Hồ Anh hàng ngày hai ba lần điện thoại hối thúc tôi viết bài, sợ để lâu tin tức sẽ thiu (stale news). Tôi nói rõ tất cả cho Hồ Anh biết những uẩn khúc, nghi kỵ tai nghe mắt thấy của tôi, kể cả việc Minh và Liễu dặn chú Ấn (CBS) và tôi đánh lạc hướng đường vào Mật Khu, thì Hồ Anh nói việc ấy không quan trọng. Cuối cùng Hồ Anh bảo tôi cứ viết lại đầy đủ để anh ta định liệu. Loạt bài du ký “Về Thăm Chiến Khu Vùng Giải Phóng” được đăng trên VNTP từ số 151 (ngày 1/5/1982) đến số 156 (ngày 16/7/1982).

Sau loạt bài của tôi thì hầu như, trừ những người cố hữu chống đối Mặt Trận vì lý do này hay lý do khác, tất cả người Việt hải ngoại đều thật sự lên cơn sốt, ai cũng phải công nhận từ trước đến giờ chưa có một phong trào đấu tranh nào được hầu hết mọi người cuồng nhiệt ủng hộ như Mặt Trận HCM. Những “Phong Trào Yểm Trợ Kháng Chiến” được mọc lên khắp đó đây trong một thời gian kỷ lục. Riêng ở Hoa Kỳ tại bang Cali, ngoài “Ủy Ban Yểm Trợ Kháng Chiến” địa phương, người ta còn thành lập ở các công tư xưởng, hãng buôn những nhóm “yểm trợ kháng chiến” riêng rẽ do một người được anh chị em bầu lên làm “Trưởng ban” có nhiệm vụ thâu tiền yểm trợ hàng tháng của mọi người trong nhóm không cần biết người đó có ưng thuận đóng góp hay không. Nơi thì họ ấn định tiền yểm trợ tính theo bách phân (percentage) của tiền lương mỗi cá nhân. Tại các siêu thị, các phòng mạch bác sĩ, nha sĩ, bệnh viện, rạp hát, rạp chiếu bóng và cả tư gia cũng có những “Hộp Kháng Chiến” để mọi người có dịp tham gia tỏ lòng yêu nước. Ngoài ra, người ta còn thường xuyên tổ chức, tại những đô thị lớn trên khắp thế giới những nơi có đông người Việt cư ngụ, những đêm liên hoan, văn nghệ có chiếu phim Kháng Chiến với giá vé cắt cổ, vậy mà những rạp hát chứa năm sáu ngàn người không còn chỗ trống.

Hỏi: Thời gian đó nhiệm vụ của bác làm gì?

Ðáp: Người ta yêu cầu tôi đóng vai “nhân chứng sống” phải khoác vào người bộ áo bà ba đen, đi dép râu, quàng khăn rằn ri đến các nơi tổ chức văn nghệ để ba hoa chích chòe kể lể cuộc hành trình đầy ... gian khổ vào Mật Khu! Cũng có những nơi như Sacramento, Oregon mời cá nhân tôi đem cuốn phim đến chiếu và nói chuyện tại một rạp hát cho hàng ngàn người nghe. Tôi cũng khá bận rộn vì các báo, đài truyền hình Mỹ đến phỏng vấn. Ðiều lạ lùng nữa là, tôi không là cái quái gì trong Mặt Trận, thế mà mỗi buổi tối khách vào ra nườm nượp!

Hỏi: Bác có nghĩ rằng bác cũng chịu một phần trách nhiệm về sự lừa bịp của Mặt Trận không?

Trong khi người Việt nào có kiến thức tối thiểu cũng nhận thức rằng cuộc chiến đấu chống cộng sản để giải phóng quê hương của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh là một tổ chức lừa bịp và cái mặt nạ đó đã rơi xuống vào năm 1984. Thế mà họ vẫn tiếp tục duy trì để đánh lừa người Việt lưu vong và dân tộc.

Một số trí thức khoa bảng tại Úc châu vì tiền, vì hám danh cũng không ngần ngại bán đứng lương tâm cùng đồng lõa với giòng họ Hoàng Cơ vẫn tiếp tục làm tay sai cho cái gọi là "Canh Tân đất nước Canh Tân con người!"

Sơn Tùng (Úc châu)
6-8-2010