Sunday, June 27, 2010

Võ Sĩ Lê Cung phục thù Scott Smith trong giải Strikeforce/M-1 Global 26/6/2010

    Cung Le (7-1) hạ đo ván Scott Smith (17-7) chưa đầy hai hiệp
Hiệp nhất: Smith tấn công tới tấp và đẩy Cung Le sát hàng rào. Trận đấu tại San Jose nên thành phần ủng hộ Cung Le rất đông đảo. Nhiều người mang theo cờ vàng ba sọc đỏ để phất lên nhằm cổ vỏ tinh thần Cung Le. Trong hiệp này Cung Le lui vào thế thủ và chờ đợi trả đòn. Đúng với chiến thuật đã chuẩn bị, Smith tìm cách tấn công với ý định hạ gục Cung Le ngay trong hiệp đầu.

Hiệp nhì: Ngay khi bắt đầu, hai bên đã tấn công nhau ngay. Cung Le tung những cú đá liên tục vào võ sĩ Smith. Ngọn cước cuối cùng trúng vào bụng Smith và anh ta chứng tỏ rất đau. Cung Le tiến gần và giáng hàng loạt cú đấm dứt điểm. Và ở phút 1:46 của hiệp hai, Smith bị đo ván.

Trước đây, Scott Smith luôn bày tỏ sự bực dọc khi phải đấu với Cung Le lần thứ hai trong hai trận đấu nhưng sau khi thua Cung Le trong trận đấu hồi hộp tối thứ Bảy tại HP Pavilion, Scott Smith có vẻ muốn tái đấu lần thứ ba. Theo Scott Smith sau trận bị đánh gục trong hiệp hai, “Đấu với Cung Le, tôi rất hân hạnh được bước vào võ đài với võ sĩ này. Dù thắng, huề hay thua, đấu với Cung Le cũng xứng đáng tham gia.” Mặc dù thời gian ngắn hơn trận trước giữa Cung Le (7-1) và Smith (17-7) chứng tỏ đây là đậu thư hùng hấp dẫn của tổ chức The Strikeforce.

Mặc dù Smith đã vận dụng chiều cao đẩy Cung Le lùi trong hiệp đầu nhưng hiệp sau Cung Le đã phản công dần bằng ngọn cước độc đáo của anh. Và với cú đá ruột của mình, Cung Le đã dứt điểm luôn trận đấu võ đài lần thứ hai giữa hai võ sĩ nỗi tiếng. Đây là một chiến thắng đáng ghi của võ sĩ Cung Le vì trong những ngày trước Cung Le phải tập trung lo lắng chuyện gia đình. Như Cung Le mô tả “đây là một tuần nhiều chuyện xảy ra cho tôi. Vợ tôi chuyễn bụng 14 giờ và phải sanh con chúng tôi trong điều kiện khó. Tối thứ Sáu chỉ ngủ được 4 hay 5 giờ.”

Dù sao, Cung Le cũng đã vượt qua và chiến thắng một trận oanh liệt.

Source: http://nguoivietboston.com/?p=26222


http://www.youtube. com/watch? v=DgBBNnyyItI
http://www.youtube. com/watch? v=rnLb67EbzWE
http://www.youtube. com/watch? v=crXSYLOL7JM
http://www.youtube. com/watch? v=4Y-id5Kfpno
http://www.youtube. com/watch? v=IBcP6SLgXoU
http://www.youtube. com/watch? v=kcrY0RAWbfc
http://www.youtube. com/watch? v=0jp8uNpOaaE

Phiếm: Nếu Việt Nam Cộng Hòa thắng … - Trần Văn Giang

    “Điều mà tôi biết chắc chắn đó là: Tôi không phải là Mác-xít”
    (F. Engels – cha đẻ của thuyết cộng sản, bạn thân của Karl Marx - viết trong một lá thư gởi cho bạn là Eduard Bernstein ngày 2 tháng 11 năm 1882).

    “As Karl Marx used to say about the French "Marxists" in the 1870s, What is certain is that I myself am not a Marxist”
    (in Friedrich Engels’ letter to Eduard Bernstein of 2 November 1882)
Trần Văn Giang

Đã có nhiều lời kêu gọi, nhắn nhủ, mồi chài ... thành thật cũng có, lừa phỉnh cũng có của cả phe ta lẫn phe cs thứ thiệt, cs cò mồi, cs điếu đóm, cs phản tỉnh, cs giờ thứ 25 (30/4)… về vấn đề gọi là “hãy quên quá khứ”, “nhìn về tương lai”, “hòa hợp hòa giải …” làm cho một số lớn phe ta (tỵ nạn cs) ở hải ngoại đang có sẵn lượng mỡ hơi cao trong máu hoang mang rồi nhào dzô “hồ hởi” tham gia tổ chức này, hội đoàn nọ với các chủ trương / cương lĩnh “cương điệu” loạn xà bần, cùng với ban chấp hành gồm các thành viên “tả pín lù” liệt kê thành tích lại tùy hỷ với hoạt động nồi chõ; rồi chửi bới lẫn nhau nghe như hát hay … Bài này rất tiếc lại không bàn về cái hũ “tương chao” “hãy quên quá khứ , nhìn về tương lai …” mà lại thử “hoang tưởng” vẽ lại một quang cảnh “không thực” (unreal) và góp bừa vài ý kiến may ra làm sáng tỏ những hoang mang không cần thiết vô bổ đang lưu hành qua các “tuyến” truyền thông Việt ngữ (loại truyền thông chỉ làm cho áp huyết người đọc lên cao một cách “vô tư” lãng xẹc). Đó là vấn đề:

Nếu (“what if”) trong cuộc chiến tranh Nam Bắc – Quốc cộng vừa qua, chính quyền miền Nam (VNCH) thắng cộng sản bắc việt thì điều gì sẽ xảy ra? và điều gì đã không xảy ra?

Trước hết, tạm dùng như tiền đề, người viết mạo muội trình bày vài ý kiến chủ quan cá nhân về các vấn đề chính trị đang sôi nổi; rồi sau đó xin kính mời quý vị đọc giả cùng tha hồ tham gia, trao đổi nhận định, quan điểm, nhận xét, bàn loạn, chụp mũ (nếu cần!)…

Hồ chí minh

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, chăm phần chăm, HCM sẽ được coi như là hồ chính mi gian dâm, một tên vô lại thất học, nhân vật chính trị gian ác, lường gạt quốc tế, nhưng lại ngu xuẩn nhắm mắt nhắm mũi tuân theo mệnh lệnh phản dân tộc của quan thầy cs quôc tế “cắt mạng” biết bao nhiêu sinh linh Việt vô tội, đưa dân tộc và đất nước Việt Nam vào con đường oan nghiệt tàn hại đến xuống hàng chó ngựa qua con đường chủ nghĩa xã hội vô duyên thối hoắc. Huyền thoại thần thánh, tư tưởng và đạo đức của HCM sẽ chỉ thấy có trong các trang mục vui cười, chuyện cấm đàn bà, chuyện cấm trẻ em dưới 18 tuổi. Tất nhiên sẽ không bao giờ có cái gọi là “lăng bác Hồ” tốn kém công quỹ và lãng phí địa ốc (real estate) … Nếu “lăng” loại này đã lỡ xây cất xong rồi thì sẽ có 3 trường hợp xẩy ra cho kiến trúc sai lầm lớn lao này:
    - Một là sẽ bị san bằng thành bình địa, biến thành trại nuôi súc vật (animal farm) hay bãi đậu xe (parking lot);

    -Hai là sẽ được dùng làm viện bảo tàng để triển lãm các tội ác diệt chủng, hại dân, bán nước của HCM và tập đoàn csvn;

    - Ba là sẽ được sửa chữa lại thành nhà xí công cộng với giá “khuyến mãi” phải chăng để giải tỏa bớt phần nào quốc nạn đái đường, ỉa bụi của dân Hà nội …
Việt Nam

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, đầu tiên, hiển nhiên sẽ không có hàng trăm, hàng ngàn quân cán chính miền Nam bị ngang nhiên xử tử, tù đầy, hành hạ, tra tấn trong các trại “tù cải tạo” của cs. Lịch sử cho thấy Hoa kỳ và đồng minh sau khi thắng trận ở Âu châu cũng như tại Thái bình dương không hề bao giờ lập ra tại tập trung để “cải tạo” hàng trăm ngàn người thuộc phe thua trận (phe trục Nhật - Đức). Hoa kỳ và đồng minh chỉ đem ra xử ở “Tòa án tội ác chiến tranh” tổng cộng 112 nhân vật dân sự và tư lệnh quân đội quan trọng của Đức quốc xã (trong đó 11 người lãnh án từ hình) và 43 nhân vật dân sự và tư lệnh quân đội quan trọng thuộc quân phiệt Nhật (chỉ 7 người lãnh án tử hình). Những người Đức và Nhật bị tử hình (xử bắn hoặc treo cổ) đều có thành tích nổi tiếng đã giết hàng ngàn, hàng trăm ngàn dân vô tội và tù binh đồng minh. VNCH cũng theo cái tiền lệ này, dưới sự giám sát của quốc tế và đồng minh, sẽ đem xử các tội phạm chiến tranh cs qua các “Tòa án tội ác chiến tranh”. Dĩ nhiên, một số nhỏ gồm nhân vật lãnh đạo chóp bu cs sẽ được cho đi chầu lê-nin vì đã có thành tích khát máu giết hại dân Việt như Hồ chí minh (nếu còn sống), Trường chinh (qua vụ “Cải cách ruộng đất 1953-1956” phát động bởi chủ tịch nhà nước cs Hồ chí minh dựa theo mô hình “thổ địa cải cách” của Trung cộng 1946–1949; Trường chinh chỉ đạo trực tiếp qua chức vụ tổng bí thư đảng csvn, đã giết và bức tử trên 100 ngàn dân vô tội). VNCH sẽ xóa sổ, cho lên bảng phong thần ngồi ngắm gà khỏa thân cái đám điếu đóm Hoàng phủ ngọc Tường, Hoàng phủ ngọc Phan, Nguyễn đắc Xuân, Lê văn Hảo, Trần quan Long, Phan chánh Dinh …. đã nhúng tay vào máu đồng bào Huế trong vụ thản sát tết Mậu thân 1968 (Theo tổng kết của Douglas Pike, và từ các quan sát viên độc lập không thân Mỹ và VNCH, năm 1970 thì trong vụ thảm sát tết Mậu thân 1968 tại Huế của cs tổng số dân sự tử vong ở Huế và vùng phụ cận là 7.600 - chết lẫn mất tích, có trên 2000 người vẫn còn mất tích).

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, sẽ không có ai hưỡn di tản di tiếc, chạy trốn bỏ quê hương làm khỉ gì?. Rồi ngày hôm nay sẽ còn có hàng trăm ngàn người vô tội vẫn còn đang sống sót, không phải bỏ xác ngoài biển cả, không bị hải tặc Thái lan hãm hiếp, cướp bóc … trên đường vượt biên vượt biển tìm tự do.

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, sự thống nhất nước Việt Nam mới thật sự có ý nghĩa bời vì dân miền Nam tự do đã có cơ hội sống tiếp cận, thấm nhuần văn minh giòng chính (main stream) của thế giới tự do (chứ không phải loại văn minh “đỉnh cao” đểu giả bánh vẽ qua tuyên truyền khoác lác, thông tin một chiều bưng bít của cs) dễ dàng chấp nhận và bao bọc dân miền Bắc (bằng chứng như đã thấy dân Tây Đức của khối tự do gánh vác gánh nặng của cs Đông Đức sau khi bức tường Bá linh bị đập bỏ).

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, sự sung túc, trù phú của miền Nam dễ cảm hóa, dễ khai hóa dân miền Bắc một cách êm thắm.

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, người miền Nam (VNCH) sẽ không thể làm cho người miền Nam có cái mặc cảm ngây ngô “cà rem ở miền bắc nhiều quá ăn không hết phải đem phơi” hay là “ôi thôi cái gì chứ ở ngoài Bắc ti-vi và tủ lạnh chạy đầy đường…” quái đản…

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, sử sách nước Việt sẽ được ghi chép đúng sự thật. Sài gòn vẫn mang cái tên là thân yêu hiền hòa “Sài gòn Hòn ngọc viễn đông” với các con đường và công viên mang tên các anh hùng dân tộc chống tầu chống Pháp chứ không mang tên những tên cha căng chú kiết cs quốc tế hay các thứ thổ phỉ, giả tưởng bố láo, trợ lý rẻ tiền, “hài” nhảm nhí ba xu của cs như loại Lê-nin, Xít-ta-lin, HCM, Lê duẫn, Lê văn tám, Võ thị sáu, Nguyễn văn trỗi, Nguyễn thị minh khai, Nguyễn văn cừ, Hồ tùng mậu,

Nếu miền nam (VNCH) thắng, thể chế chính trị của Việt Nam sẽ tiếp tục tiến triển theo khuôn khổ thể chế dân chủ thực sự dân chủ Tây phương với 3 ngành Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp độc lập và kiểm soát lẫn nhau (“check and balance”) chứ không theo có cái thể chế cs man rợ độc đảng hoành hành áp bức dân theo luật rừng như đảng cướp mafia ở Việt Nam: “đảng là nhà nước”, “đảng và nhà nước là một”, “quốc hội (lập pháp) nhà nước (hành pháp) và tòa án nhân dân (tư pháp) là một”, “đại biểu quốc hội là do đảng cử dân bầu!”. Cái gì cũng có “đảng” nhúng tay vào; cái gì cũng “văn hóa đảng …”. Tất cả là vì “đảng” “do đảng” thì dân chủ và dân tộc đâu có nghĩa gì đâu?!

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, người Việt Nam ở mọi nơi sẽ không có “nỗi buồn” đến nỗi phải dùng những từ ngữ nghèo nàn, ngược ngạo tréo lưỡi, ngớ ngẩn … như hiện nay. Anh ngữ vẫn tiếp tục là một ngoại ngữ phổ thông. Nga và Hoa ngữ chỉ có trong sách tự điển bán tại tiệm sách chứ sẽ không có lớp học, không có ai điên khùng đi học hai ngoại ngữ bần tiện này làm cái quái gì.

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, không có người miền Bắc tràn vào miền Nam cướp nhà cướp đất, cư xử với dân miền Nam ngày nay tệ còn hơn cách cư xử của những tên thực dân ngoại chủng đã đến cai trị Việt Nam ngày trước.

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, bản chất người miền Nam hiền hòa, nhân hậu, bao dung, với sự xung túc no ấm sẽ không có các cuộc dàn xếp trả thù tiểu nhân hèn hạ và những vụ vơ vét của cải chở về Bắc như đã thấy từ người miền Bắc sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, nước Việt Nam sẽ có một nền kinh tế phồn thịnh nhất nhì Đông nam Á. Việt Nam sẽ là một nước sản xuất và xuất cảng hàng tiêu thụ mạnh mẽ như Đại hàn (cùng hoàn cảnh với Việt Nam - nhưng cs Bắc hàn không thắng Nam hàn), Đài loan, Tân gia ba … chứ không là một quốc gia nghèo rách rưới như ăn mày, bị khinh rẻ, chịu nhục nhã, đi làm điếm, làm lao động giá rẻ mạt ở nước láng giềng không hơn gì Việt Nam, xếp hàng xin lấy chồng Đại hàn, Đài loan, Trung quốc ...

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, người dân Việt Nam phó thường dân, dân ngu khu đen mỗi ngày ra ngõ không gặp phải anh hùng, kiệt xuất, liệt sĩ, tiến sĩ…

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, Trịnh công sơn có lẽ còn sống và có vợ con đàng hoàng yên ổn; và thay vì TSC hát:
    “Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay
    Ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi…”
thì TCS sẽ hát:
    “Bao nhiêu năm rồi còn mãi u mê
    Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt …”
Nếu miền Nam (VNCH) thắng, Phạm duy không cần thiết phải lộ chân tướng phản thùng “chống gậy”; đỡ phải thất công sáng tác loại nhạc “tình người (?)” loại “nhổ rồi liếm” như loại bài “54, 75”
    “Một ngày bảy lăm, con bỏ hết giang sơn
    Hai mươi năm tình, yêu người yêu cuộc sống!
    Giờ nơi nước mình niềm đau thay nỗi vui
    Sàigòn đã chết rồi, phải mang tên xác người
    Một ngày dĩ vãng, ôi gần hay xa!
    Ðất nước hai phen chứng kiến bao chia lìa
    Ðời của cha con: hai lần vẫy chào
    Chào từ giã quê hương trong hận đau …”
Hoa kỳ

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, uy tín của Hoa kỳ trên vai trò đồng minh và khả năng yểm trợ kinh tế quân sự sẽ gia tăng mạnh mẽ hơn. Ảnh hưởng của Hoa kỳ trong vấn đề đối tác thương mại và đầu tư ở Việt Nam cũng vậy. Riêng sự đầu tư mạnh mẽ của Hoa kỳ vào Việt Nam sẽ làm đời sống dân Việt khá hơn về mọi mặt - mức sống (standard of living), y tế an sinh (health & welfare), giáo dục và đào tạo (education & training).

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, có một số người Việt cứ thong thả nộp đơn xin di dân (immigrant) sang sinh sống ở Hoa kỳ chứ không phải đi chui, như hoàn cảnh dân Việt vượt biên tỵ nạn cs khố rách áo ôm hay FOB, ODP, HO đến Mỹ!!! tương tự như dân Nhật và dân Đại hàn đã di dân sang Mỹ từ nhiều thế kỷ qua; rồi lập các phố Nhật “Little Tokyo” hay phố Đại hàn “Korean town” trên các thành phố lớn ở Hoa kỳ.

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, cựu chiến binh Hoa kỳ tham chiến ở Việt Nam (Vietnam veterans) sẽ có mức độ trầm cảm (depression) rất thấp. Những tên trước đây từng ồn ào biểu tình phản chiến chống đối chính sách tham chiến ở Việt Nam của chính quyền Hoa kỳ sẽ được xem như như những tên phản bội, hèn nhát thay vì những người yêu chuộng hòa bình.

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, Hoa kỳ có thể sẽ công nhận là “chất độc da cam” (Agent Orange) đã gây độc hại gây ung thư và khuyết tật (birth defects); và sẽ tận tình tài trợ, giúp đỡ các nạn nhân người Việt.

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, Hoa kỳ sẽ xây đài tưởng niệm chiến sĩ Hoa kỳ tham gia chiến tranh Việt Nam tai Việt Nam thay vì ở Washington DC.

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, phim “Killing Fields” sẽ chỉ thuần túy là một phim thuộc loại giả phim tưởng (fiction) của Hollywod; và sẽ không đọat được giải gì cả ..

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, Hoa kỳ sẽ xây Disneyland tại Hà nội, Huế và Sài gòn; sẽ mở quán hamburger Mac Donald và cà phê Starbucks tại mỗi góc đường của các thanh phố lớn; sẽ mở hàng loạt các sòng bài (casinos) tại biên giới Việt-Trung hoa và Việt-Cam bốt để dân tầu và dân Miên tha hồ vui vẻ xếp hàng đến chung tiền cho Việt Nam thay vì cứ lăm le chiếm đất, lấn dân, lấn biển …

Trung cộng

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, sự hiện diện của Hoa kỳ ở Việt Nam làm Trung cộng không dám ngang nhiên “chấn áp” Việt nam và các nước lân cận như chúng ta đang thấy. Kể từ năm 1971, người Mỹ đã có ý định bỏ rơi Việt Nam, TT Nixon bắt đầu cho thi hành việc rút quân đội Mỹ có hệ thống ra khỏi Việt Nam trong chương trình gọi là “Việt nam hóa chiến tranh Việt Nam” (Vietnamization of the VietNam war / Peace in Honor ? – “rút lui ? trong danh dự”). Đánh hơi được sự kiện then chốt này (và sự thỏa thuận ngầm giữa Nixon và Chu ân lai) Trung cộng đã cưỡng chiếm của Việt Nam các đảo Hoàng sa năm 1974; rồi Trường sa năm 1988,

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, thì với ảnh hưởng chính trị cũng như sức mạnh quân sự của Hoa kỳ ở Việt Nam, Trung cộng không thể và không có đủ khả năng xâm lăng Việt Nam và “dậy cho Việt nam một bài học” năm 1979 … Ngoại trừ Trung cộng muốn có thế chiến thứ III. Theo Luật sư Lê Chí Quang, chính phủ “cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đã “nhượng bộ” cho Trung cộng chiếm đóng, kiểm sóat vùng lãnh địa biên giới (khoảng 720 kí-lô-mét vuông) và lãnh hải (3200 hải lý vuông – vào khoảng 11,000 ki-lô-mét vuông) của Việt Nam.

Nếu miền nam (VNCH) thắng, sức mạnh kinh tế của Việt Nam ở Á châu sẽ không cho phép hàng hóa rẻ tiền, thiếu phẩm chất, nguy hại của Trung cộng thao túng thị trường và đầu độc dân Việt Nam như ngày hôm nay.

Đông nam Á

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, không có sự triệt thoái quân sự của Hoa kỳ ở Việt Nam thì sẽ không có thuyết “Domino” ;Có nghĩa là, Cam bốt vẫn tiếp tục nhận sự viện trợ của Hoa kỳ, sẽ đứng vững không mất vào tay thổ phỉ Khmer đỏ; và sẽ không có chuyện “Killing Field” làm cho một phần ba dân Cam bốt (trên 2 triêu nhân mạng) bị giết bởi Khmer đỏ man rợ.

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, sẽ không có cuộc chiến tranh biên giới Việt - Cam bốt năm 1977-1978 (kéo dài mãi đến năm 1989 mới ngưng hẳn) làm hàng ngàn thanh niên Việt và Cam bốt hy sinh. Dân Việt sẽ tiếp tục sang buôn bán giao thương với dân Cam bốt thay vì trẻ con Việt Nam chạy sang Cam bốt làm điếm để sống, để nuôi gia đình nghèo ở Việt nam.

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, sự hiện hiện của người Mỹ ở Việt Nam cùng với các kỹ thuật khoa học tân tiến nhất hoàn cầu sẽ thiết lập các cơ sở tiên đoán và dự phòng thiên tai (chẳnh hạn như động đất, sóng thần..) cho vùng Đông nam Á … Có lẽ sẽ làm giảm thiểu rất nhiều những tổn thất về tài sản và nhân mạng trong trận sóng thần Tsunami vào tháng 12 năm 2004 (làm thiệt mảng trên 230 ngàn người!)

Toàn cầu (Global)

Nếu miền Nam (VNCH) thắng, hàng hóa “Made inVietnam” sẽ tràn ngập thị trường thế giới; sẽ hiên ngang đối chọi với hàng hóa “Made in China”. Việt Nam sẽ làm cho hàng hóa “Made in China” thực sự là biểu hiệu của sự khinh bỉ made in china …

Lời cuối

Câu chuyện “Nếu miền Nam (VNCH) thắng…” chưa thể chấm dứt ở đây. Người viết chỉ chỉ xin tạm ngừng để nghỉ xả hơi và chờ đợi …

Ngoài ra, cũng nên biết, cộng sản luôn luôn tuyên truyền láo khoét là:

“Chủ nghĩa tư bản đang đứng bên bờ vực thẳm!”

Nhưng mà hiện nay cs lại cho là chủ nghĩa cộng sản vinh quang, vô địch tiến xa hơn tư bản một bước!. Thử tính lại, “chủ nghĩa cộng sản đang (đứng / nằm / ngồi) ở đâu vậy?” (mà hình như chỉ còn có “4” nước cs “vinh quang” trên mặt đất thì phải?)

Chờ xem! “Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt?”

Trần Văn Giang



Thursday, June 24, 2010

Thánh Tích Đạo Phật Giáo Hòa Hảo - Trần Gia Phụng



Trần Gia Phụng

Kính thưa các Bậc Trưởng thượng,

Thưa quý quan khách,

Tôi xin cảm ơn Ban Tổ chức đã tạo điều kiện cho tôi phát biểu hôm nay, nhân dịp Lễ Khai Đạo Phật Giáo Hòa Hảo (PGHH) lần thứ 71. Tôi đã thưa chuyện tại diễn đàn nầy nhiều lần. Nay thêm một lần nữa cũng là dịp tôi xin ôn lại chuyện lịch sử. Ôn lại những kinh nghiện lịch sử trong quá khứ rất thiết thực và ích lợi để chúng ta nhìn về tương lai.

Kính thưa quý vị,

Lần nầy, chúng tôi xin trình bày về những thánh tích của đạo PGHH. Tôi xin giới thiệu sơ lược các thánh tích chính của PGHH: Thánh địa PGHH là làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Làng Hòa Hảo là nơi Đức Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) khai sáng đạo PGHH ngày 18 tháng 5 năm kỷ mão tức ngày 4-7-1939. Tổ đình PGHH là ngôi nhà của ông bà Huỳnh Công Bộ, nơi sinh trưởng của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ. An Hòa Tự là ngôi chùa do Đức Phật Thầy Tây An (1807-1856) đặt tên và do đệ tử của ngài xây dựng. Đức Phật Thầy Tây An là người sáng lập môn phái Bửu Sơn Kỳ Hương hay Phật giáo Tứ ân, tiền thân của PGHH. Trải qua nhiều đời trụ trì và nhiều lần trùng tu, An Hòa Tự được xây thành mái ngói tường vôi từ năm 1936. Sau khi Huỳnh Giáo chủ khai sáng đạo PGHH, nhiều vị trong ban Trị sự chùa quy y với Đức Thầy và làm văn tự hiến chùa. Khi trở về thăm viếng chùa, ngày 8-7-1945, Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ cung thỉnh lư hương từ tổ đình và an vị lư hương nơi chánh điện An Hòa Tự.

Kính thưa quý vị,

Phật giáo Hòa Hảo là tông phái Phật giáo do Đức Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) khai sáng ngày 18 tháng 5 năm kỷ mão (4-7-1939), tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang). Sau khi thành lập, đạo PGHH càng ngày càng phát triển, khiến người Pháp lo ngại. Từ tháng 5-1940 đến tháng 10-1942, Pháp liên tục giam giữ Đức Huỳnh Phú Sổ ở nhiều nơi khác nhau. Cuối cùng, do sự can thiệp của quân đội Nhật, Huỳnh giáo chủ được thả và được đưa về sống ở Sài Gòn từ tháng 10-1942.

Năm 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng, Đức Huỳnh Phú Sổ đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đòi độc lập dân tộc. Ngày 21- 9-1946, Đức Thầy chính thức thành lập Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng, gọi tắt là Dân Xã Đảng, được đồng bào miền Tây hưởng ứng mạnh mẽ. Tuyên ngôn của Dân Xã Đảng do Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ công bố, nhấn mạnh: "Việt Nam Dân Xã Đảng là một đảng dân chủ, chủ trương thiệt thi triệt để nguyên tắc chánh trị của chủ nghĩa dân chủ: "chủ quyền ở nơi toàn thể nhân dân". Đảng Dân Xã chủ trương "toàn dân chánh trị, thế tất đảng chống độc tài bất cứ hình thức nào." (Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa Hảo Hải ngọai ấn hành, Sấm giảng thi văn toàn bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ, Houston: 2004, tr 533.)

Chủ trương của Đức Thầy và Dân Xã Đảng hoàn toàn đi ngược với chủ trương của Việt Minh cộng sản. Đức Thầy bị Việt Minh cộng sản hãm hại nhiều lần. Nhân một cuộc xô xát giữa Dân Xã Đảng và VM, VM mời Đức Thầy đến họp ngày 16-4-1947, để giải quyết các cuộc xung đột giữa lực lượng hai bên tại Sa Đéc. Trên đường tham dự cuộc họp, đoàn của Đức Thầy bị tấn công tại kênh Đốc Vàng Hạ (thôn Tân Phú, Kiến Phong). Đức Thầy biệt tích từ đó. (Theo: http://hoahao.org). Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tin rằng Đức Thầy vẫn còn sống.

Những lý do chính khiến VM cộng sản trước sau quyết tâm hãm hại Đức Huỳnh Phú Sổ và PGHH vì lúc đó tín đồ PGHH là một khối quần chúng có tổ chức khá chặt chẽ, nên Việt Minh CS rất lo sợ và đề phòng PGHH. Khối tín đồ của PGHH lại là nông dân. Cộng sản Việt Nam theo chủ trương của Mao Trạch Đông, lấy nông thôn bao vây thành thị, và xem nông dân là thành phần nòng cốt của cuộc cách mạng. Thế mà nông dân miền Tây nam tin tưởng vào PGHH hơn là tin tưởng CSVN. Đối với CSVN, đó là một "tội" nặng mà CSVN không thể dung thứ được.

Cộng sản chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp, thâu tóm ruộng vườn, đất đai của nông dân vào các hợp tác xã nông nghiệp do CS quản lý, trong khi PGHH chủ trương khẩn hoang, lập trại do nông dân làm chủ, vừa sản xuất, vừa tu học. Nói cách khác chủ trương nông nghiệp giữa hai bên hoàn toàn trái ngược nhau. Nếu chủ trương của Đức Thầy được truyền bá, thì cộng sản không thể tuyên truyền và phát triển trong quần chúng nông thôn. Vì vậy, Cộng sản liên tục đánh phá Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ và PGHH.

Chủ trương đánh phá đạo PGHH của CSVN tiếp tục sau ngày 30-4-1975, khi đảng CSVN cầm quyền trên toàn cõi Việt Nam. Chính sách đàn áp tôn giáo của CSVN rất khôn ngoan. Các tôn giáo có nhiều liên hệ quốc tế như Phật giáo, Ky-Tô giáo La-Mã, các tông phái Tin Lành, thì CSVN có phần dè dặt khi đụng chạm, vì có thể bị dân chúng các nước trên thế giới phản đối, ảnh hưởng xấu đến ngoại giao hay ngoại thương. Trái lại, các tôn giáo địa phương như PGHH là một tôn giáo thuần túy Việt Nam, không có liên hệ quốc tế, nên CSVN công khai thẳng tay đàn áp.

Ngay khi vừa chiếm miền Nam, chẳng những CSVN bắt giam, hành hạ, ngược đãi những tín đồ PGHH muốn hành đạo theo truyền thống tín lý của PGHH, mà CSVN còn tịch thu Trụ sở Văn phòng Giáo hội PGHH Trung ương (Hội đồng Trị sự Trung ương) tại Ấp 1, thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, dùng trụ sở nầy làm văn phòng huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Ngoài ra, CSVN tịch thu luôn Viện Đại học Hòa Hảo được thành lập ở Long Xuyên năm 1972, sáu trường Trung học, hai bệnh viện ở tỉnh An Giang do PGHH điều hành và vài trăm độc giảng đường ở các tỉnh, quận có nhiều tín đồ PGHH.

Trong thời gian gần đây, CSVN kiếm cách xóa bỏ tiếp những di tích lịch sử của PGHH, như ngày 10-11-2005, CSVN phá bỏ Thư viện Thánh địa PGHH, tháng 04-2008 đập phá hai ngôi chợ tên là Chợ Đình và chợ Mỹ Lương, do Đức ông Huỳnh Công Bộ thiết lập gần Tổ đình PGHH. Vào tháng 3 năm nay (2010), lại có tin CSVN lấy lý do trùng tu An Hòa Tự để đập phá An Hòa Tự trong khi An Hòa Tự vẫn đang ở tình trạng hoàn hảo, nhờ tín đồ chăm sóc hàng ngày.

Ở đây, tôi xin mở ngoặc một chút. Tại các nước trên thế giới, những di tích cổ xưa, dầu cổ lỗ lỗi thời, dầu hư hao vì thời tiết qua thời gian, người ta vẫn giữ gìn nguyên bản để bảo tồn di tích lịch sử chứ không đập phá để xây dựng lại. Đặc biệt, người ta rất hãnh diện về tuổi tác của những di tích lịch sử nầy

Kính thưa quý vị,

Chính sách văn hóa của CSVN là cắt đứt quá khứ với hiện tại, xóa bỏ tất cả những truyền thống văn hóa đi ngược với chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy, CSVN tiêu hủy những tài liệu lịch sử, di tích văn hóa, tượng đài, miếu mạo của người xưa nhằm chôn vùi quá khứ. Đó là lý do CSVN đổi tên trường và đập phá tượng Phan Thanh Giản ở Cẩn Thơ, nhằm cắt đứt truyền thống hào hùng của trí thức miền Nam xuất thân từ ngôi trường mang tên anh hùng dân tộc Phan Thanh Giản.

Di tích lịch sử tôn giáo là những thánh tích ràng buộc đời sống tâm linh của tín đồ với quá khứ tôn giáo. Cộng sản VN đập phá các thánh tích PGHH nhằm xóa bỏ những kỷ niệm thiên liêng của PGHH thời khai đạo, ngõ hầu cắt đứt đời sống tâm linh của tín đồ PGHH với giáo sử PGHH.

Tín đồ PGHH ở trong nước đang bị đàn áp dữ dội, mà vẫn can đảm đứng lên đòi hỏi bảo vệ thánh tích của mình. Chúng ta hiện nay đang định cư ở những nước tự do dân chủ, chúng ta có bổn phận lên tiếng tố cáo âm mưu đen tối của nhà cầm quyền CSVN, nhằm bảo vệ những thánh tích của PGHH, bởi vì đây cũng là những di tích lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Lịch sử luôn luôn biến chuyển. Không có chế độ nào bền vững lâu dài. Chỉ có dân tộc là trường tồn. Vậy chúng ta phải lên tiếng bảo vệ những di tích lịch sử qua khỏi cơn hoạn nạn hiện nay dưới chế độ CSVN. Chắc chắn, một lúc nào đó, chế độ CSVN sẽ bị giải thể, nhưng PGHH luôn luôn trường tồn với dân tộc. Qua khỏi cơn hoạn nạn, Giáo hội PGHH trong nước sẽ phát triển bình thường trở lại và những thánh tích của PGHH sẽ tồn tại cùng đất nước và dân tộc.

Trân trọng cảm tạ quý vị đã lắng nghe và kính chào quý vị.

Trần Gia Phụng
(Toronto, 20-6-2010)

Wednesday, June 23, 2010

TÌM RA SỰ THẬT “THỰC”? - Linh mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm

Linh mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm

Bối cảnh của một chuyến đi

Nhằm đánh dấu 350 năm thành lập hai giáo phận đầu tiên và 50 năm thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Năm Thánh 2010 đã khai mạc trọng thể tại Sở Kiện, Hà Nội dịp lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam 24-11-2009. Chỉ hơn một tháng sau thì xảy ra vụ thánh giá Đồng Chiêm bị đập nát. Người tín hữu Công Giáo vừa bàng hoàng và phẫn nộ trước hành vi báng bổ của chính quyền cộng sản, vừa ngạc nhiên và đau đớn khi thấy tuyệt đại đa số các giám mục hai giáo tỉnh Huế và Sài Gòn hoàn toàn thinh lặng. Không một lời nói, không một cử chỉ hiệp thông với anh chị em giáo tỉnh Hà Nội. Tình trạng phân hoá trong nội bộ Công Giáo càng thêm trầm trọng và phơi bày công khai khi đức cha Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn được bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục (TGM) Phó Hà Nội với quyền kế vị, và chỉ mấy hôm sau là Đức TGM Giu-se Ngô Quang Kiệt rời khỏi Việt Nam giữa đêm hôm khuya khoắt, chẳng khác chi một kẻ tội đồ bị trục xuất khỏi quê hương.

Chính trong bối cảnh đó mà Hồng Y Phạm Minh Mẫn (ĐHY), Tổng Giám Mục Sài Gòn, đã lên đường đi Rô-ma gặp các quan chức cấp cao của Toà Thánh, và sau khi trở về, đã có bài trả lời phỏng vấn liên quan đến chuyến đi; bài trả lời đó được đăng tài trên tuần báo Công Giáo & Dân Tộc, số 1762, tuần lễ từ 18-06 đến 24-06-2010. Xin được chia sẻ một vài suy nghĩ sau khi đọc bài trả lời phỏng vấn đó.

Tại sao đi? Đi để làm gì?

Hồng Y nói: Trong tình hình một số ý kiến trên mạng hay qua truyền tai nhau, tạo nên dư luận gây ít nhiều hoang mang và bất ổn trong cộng đoàn Giáo hội và xã hội, ví dụ như một vài dư luận cho rằng có sự tắc trách của Bộ Truyền giáo, sự thoả hiệp của Bộ Ngoại giao, sự cấu kết của một ít nhân vật trong Giáo hội vì tư lợi, sự ngây ngô của Vatican…, một số giám mục đề nghị tôi đi tìm hiểu sự thật “thực” tận gốc rễ. Qua những lời trên đây, HY vừa cho ta thấy nguyên nhân nào khiến ngài rời Việt Nam để có mặt tại Vatican từ ngày 30-05 đến 03-06-2010, vừa cho thấy mục tiêu của chuyến đi, đó là để tìm hiểu sự thật “thực” tận gốc rễ. Chuyến đi này không phải là một chuyện hoàn toàn cá nhân, nhưng còn theo lời đề nghị của “một số giám mục”. Các vị này là những ai, gồm bao nhiêu người, nắm chức vụ gì trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGM/VN), ngài không nói.

Những hoạt động trong chuyến đi

Tại Rô-ma, những người đầu tiên được HY gặp gỡ và thăm hỏi là những linh mục, tu sĩ, giáo dân Việt Nam được ngài gửi tới học. Đây là chuyện bình thường, nhưng chắc không ở trong mục tiêu quan trọng của chuyến đi. Ngay cả việc đi thăm đức hồng y Etchegaray cũng vậy, cũng chỉ là một cuộc thăm viếng xã giao.

Nhưng hai cuộc gặp quan trọng hơn cả trong chuyến đi này, trước hết là cuộc gặp tại Bộ Ngoại Giao Toà Thánh sáng ngày 01-06, với vị Ngoại trưởng là Đức TGM Dom. Mamberti, và với Thứ trưởng, đức ông Ern. Ballestrero; kế đến là cuộc gặp tại Bộ Truyền Giáo với Tổng Trưởng là ĐHY Ivan Dias. Tại mỗi nơi, HY Phạm Minh Mẫn đã “giải bày tình hình do dư luận tạo ra”. Ngài đã nói những gì, giải bày thế nào thì không ai biết. Nhưng phần trả lời, thì tại cả hai nơi, ngài đã nhận được một nội dung hoàn toàn giống nhau. Phía Bộ Ngoại Giao thì Bộ đã “lắng nghe và tôn trọng ý kiến cùng bản thân của đương sự” (tức là Đức TGM Hà Nội Giu-se Ngô Quang Kiệt). Tại Bộ Truyền Giáo cũng vậy, Bộ “luôn lắng nghe và tôn trọng ý kiến cùng bản thân của người liên hệ” (vẫn là Đức Tổng Kiệt). Và dựa vào cách làm của cả hai bộ là “lắng nghe và tôn trọng ý kiến cùng bản thân của người liên hệ”, cuối cùng “Đức Thánh Cha chấp thuận lời Đức Cha Ngô Quang Kiệt xin từ nhiệm Tổng Giám Mục Hà Nội vì lý do sức khoẻ”. Và đây là sự thật “thực” ĐHY đã phải vượt bao nhiêu ngàn cây số đến tận Rô-ma để cất công đi tìm.

Nói nôm na là như thế này: Sở dĩ có “dư luận gây ít nhiều hoang mang và bất ổn trong cộng đồng Giáo Hội và xã hội” là do việc Đức Giáo Hoàng bổ nhiệm đức cha Nguyễn Văn Nhơn thay thế đức cha Ngô Quang Kiệt trong cương vị Tổng Giám Mục Hà Nội. Việc thay thế đó bắt nguồn từ việc đức cha Kiệt xin từ chức vì lý do sức khoẻ. Và trong việc này, cả hai bộ Ngoại Giao cũng như Truyền Giáo đều tôn trọng ý kiến, nguyện vọng của đương sự.

Tóm lại: mấu chốt của vấn đề, hay là sự thật “thực”, chính là việc đức cha Ngô Quang Kiệt xin từ chức mà thôi. Có gì đâu mà phải ầm ĩ!

Những điều gây thắc mắc

Thế nhưng đối với công luận, mọi chuyện không đơn giản như thế. Giả sử đức cha Kiệt lâm trọng bệnh, không còn khả năng lãnh đạo, hay đến tuổi về hưu, thì bất cứ vị nào được Đức Giáo Hoàng bổ nhiệm thay thế, cộng đồng tín hữu cũng hoan hỷ đón nhận. Lịch sử đã chứng minh điều đó. Nhưng việc đức cha Kiệt rời khỏi chức vụ TGM Hà Nội, lại chính là đòi hỏi của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, qua văn thư đề ngày 23-09-2008 của ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân Thành phố Hà Nội, gửi HĐGM/VN do đức cha Nguyễn Văn Nhơn làm Chủ tịch. Vậy thì điều người tín hữu Việt Nam muốn biết, đó là mối tương quan giữa hai sự việc: giữa đòi hỏi của nhà cầm quyền Hà Nội và việc Đức Giáo Hoàng chấp thuận cho đức cha Kiệt từ chức. Điều người tín hữu Việt Nam nóng lòng muốn được soi sáng là HĐGM/VN đóng vai trò nào trong việc thay thế TGM Hà Nội, Đức Cha Ngô Quang Kiệt. Cũng liên quan đến vụ việc này, một nhân vật quan trọng khác mà tín hữu Công Giáo Việt Nam muốn có thông tin, đó là vị đại diện Toà Thánh đến thăm Việt Nam lần chót, vào đầu năm 2009: Đức ông Cao Minh Dung. Đâu là vai trò của đức ông trong việc liên quan đến Đức Tổng Kiệt? Trong bài trả lời phỏng vấn, HY Phạm Minh Mẫn có cho biết là chiều ngày 02-06 ngài đã “gặp gỡ linh mục, tu sĩ Việt Nam đang làm việc tại Vatican”, nhưng nhân vật mà mọi người chờ đợi là đức ông Cao Minh Dung thì ĐHY không hề nhắc tới. Như thế cũng có nghĩa là thắc mắc của người tín hữu Việt Nam liên quan đến đức ông Cao Minh Dung, vẫn chưa có câu trả lời.

Liệu có tìm ra sự thật “thực”?

HY Phạm Minh Mẫn có một kiểu nói khá độc đáo khi thêm tính từ “thực” vào danh từ “sự thật” (sự thật “thực”). Điều này chẳng phải không có lý do. Là vì trong chế độ hiện thời tại Việt Nam, mọi phương tiện truyền thông đều nằm trong tay Nhà Nước. Có nhiều đài truyền hình và truyền thanh trên khắp nước, từ trung ương tới địa phương, với trên dưới 700 tờ báo, nhưng tất cả chỉ nói những điều được phép nói. Khi đề cập đến chuyện nói dối, nói láo … trong xã hội chúng ta đang sống hôm nay, nhà văn Nguyễn Khải đã viết trong tập Tuỳ Bút của ông: “… các cuộc trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của đảng, của chính phủ, của quốc hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất. Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy… Nói dối lem lẻm, nói dối lỳ lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ. Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết; nói để mà nói …”. Chính vì vậy mà khi nổ ra vụ Toà Khâm Sứ – Thái Hà chẳng hạn, nếu chỉ dựa vào báo đài của Nhà Nước, hay cả khi đọc báo Công Giáo & Dân Tộc, không ai biết được: thực sự chuyện gì đã xảy ra.

Và điều ta phải đặc biệt quan tâm, là tình trạng này chẳng phải không ảnh hưởng đến truyền thông Công Giáo. Hôm xảy ra vụ Đồng Chiêm chẳng hạn, đố ai vào trang mạng của HĐGM mà tìm được thông tin! Còn trang mạng của Toà TGM Tp. HCM, trong bài “Tự do báo chí là nhựa sống của nền dân chủ”, lấy nguồn từ Vietvatican, thì chuyện trớ trêu là đã cắt xén đoạn nói đến Trung Quốc, Bắc Hàn, Việt Nam … cũng như đoạn sau đây: “Tất cả các chính quyền và các tổ chức nói trên đều theo đường lối cai trị độc tài, sợ hãi sự thật, chủ trương ngu dân, nên tìm mọi cách và đưa ra mọi luật lệ để kèm kẹp con người và đất nước trong tình trạng nô lệ, chậm tiến, dốt nát …”.

Một ví dụ khác, đó là nếu có ai nghe đoạn ghi âm lời đức cha Nguyễn Văn Khảm, Giám mục Phụ tá Sài Gòn, nói về chuyến đi Hoa Kỳ của ĐHY Phạm Minh Mẫn đến Long Beach chủ toạ Đại lễ Lòng Thương Xót Chúa, rồi đem đối chiếu với vô số thông tin liên quan trên mạng, đố ai biết được sự thật “thực” ở chỗ nào. Và ví dụ cuối cùng là dịp lễ nhậm chức của Đức Tân TGM Hà Nội ngày 07-05-2010: nếu có ai vào trang mạng của Uỷ Ban Kinh Thánh mà đọc bài của Peter Nguyễn Minh Trung, thì 15.000 chữ ký của thỉnh nguyện thư gửi Đức Giáo Hoàng đã bị hô biến thành panô với những chữ “Nguyễn Văn Nhơn, Bùi Văn Đọc, Võ Đức Minh: biến khỏi trái đất này !” Vậy thì câu hỏi dai dẵng vẫn cứ đeo đuổi chúng ta là: sự thật “thực” ở đâu?

Sự thật “thực” về Giáo Hội Việt Nam?

HY Phạm Minh Mẫn vượt núi băng ngàn đến tận Rô-ma để tìm sự thật “thực”, nhưng liệu ngài có giúp được Đức Giáo Hoàng tìm ra sự thật “thực” về Giáo Hội Việt Nam? Dĩ nhiên Đức Giáo Hoàng biết những thay đổi diễn ra tại Việt Nam trong mọi lãnh vực kể cả tôn giáo. Ngày nay cuộc sống khá hơn, người dân được tương đối tự do hơn. Các tôn giáo được phép xây cất, tổ chức lễ lạt, huấn luyện chức sắc, đi ra nước ngoài, v.v… Du khách đến Việt Nam lác mắt khi thấy các nhà thờ ngày Chúa nhật động nghẹt người, ơn gọi linh mục, tu sĩ rất đông, số đi ra nước ngoài truyền giáo đến cả ngàn. Đó là mặt tích cực, và cũng là mặt nổi. Trong khi đó, các lãnh vực như y tế, giáo dục, xã hội … đều là độc quyền của Nhà Nước. Đi xin tiền giúp người nghèo thì được, nhưng tranh đấu cho quyền lợi của người nghèo, đòi hỏi sự công bằng cho người nghèo thì không. Tôn giáo không được tự do phục vụ con người. Trong một chế độ độc tài toàn trị, thì “đối thoại”“hợp tác” chỉ là những mỹ từ của người chấp nhận ngửa tay xin. Xin cái gì ? Thưa xin lại những quyền chính đáng của mình đã bị nhà cầm quyền tước đoạt. Sự thật “thực” phũ phàng là như thế. Liệu Đức Giáo Hoàng có biết rằng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam hôm nay, chỉ vì muốn thoả hiệp với nhà cầm quyền để được yên thân, mà đánh mất khả năng ngôn sứ: quay lưng lại người nghèo, hững hờ với các tôn giáo bạn, thờ ơ với vận mạng dân tộc, với tương lai đất nước? Liệu Đức Giáo Hoàng có biết rằng khi thánh giá tại Đồng Chiêm bị đập nát, tuyệt đại đa số các giám mục hai giáo tỉnh Huế và Sài Gòn đã ngậm miệng làm thinh? Thế thì trước câu hỏi: liệu Đức Giáo Hoàng có biết được sự thật “thực” về Giáo Hội Việt Nam hôm nay, xem ra chưa có câu trả lời!

Kết luận

Đạt tới chân thiện mỹ là khát vọng tự nhiên của con người. Khát vọng tìm cho ra sự thật càng mãnh liệt khi con người sống trong môi trường đầy dẫy những lừa lọc, gian dối. Tìm cho ra sự thật, đó là mối quan tâm của ĐHY Phạm Minh Mẫn khi ngài nói đến sự thật “thực” và đã cất công đi tìm. Nhưng khi sự thật mình đi tìm lại chính là sự thật mình muốn có bằng bất cứ giá nào, thì liệu sự thật mình khám phá ra, đã là sự thật “thực” hay chưa? Người đọc bài của ĐHY vẫn cứ phải tự tìm lấy câu trả lời. Không biết đến bao giờ Giáo Hội Công Giáo Việt Nam mới tìm lại được sự bình an đã mất, mới tìm lại được sự đồng tâm nhất trí đã tan rã, mới tìm lại được lòng tin tưởng kính mến đã nhạt phai đối với hàng giáo phẩm kể từ khi Đức Cha Giu-se Ngô Quang Kiệt rời khỏi chức vụ TGM Hà Nội trong một hoàn cảnh còn nhiều ẩn số chưa được giải mã?

Sài-gòn, ngày 24 tháng 06 năm 2010
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm
pascaltinh@gmail.com