Friday, May 21, 2010

Hòa giải dân tộc - Nguyễn Hưng Quốc



Nguyễn Hưng Quốc

Lâu nay, trong lãnh vực chính trị, một trong những chữ chúng ta, nhất là những người đang sống ở hải ngoại, thường nghe nhiều nhất là chữ “hoà giải”. Đó cũng là một trong những chữ gây tranh cãi nhiều nhất. Một số người đồng ý. Nhưng một số người khác lại chống đối kịch liệt. Không có kết quả điều tra nào cụ thể, nhưng tôi tin là con số những người chống đối cao hơn hẳn. Cứ nhìn vào các cuộc biểu tình đây đó hay trên báo chí và diễn đàn trên internet thì thấy ngay.

Nhưng tại sao người ta lại chống đối một điều dễ ngỡ là tốt đẹp như thế?

Trước hết, cần lưu ý: không phải chỉ có người Việt chúng ta mới nói đến chuyện hoà giải. Trên thế giới, trong mấy thập niên vừa qua, người ta cũng bàn nhiều đến vấn đề hoà giải. Lý do rất dễ hiểu: không có thời đại nào trong lịch sử, nhân loại lại bị chia rẽ một cách dữ dội và đối xử với nhau một cách độc ác như trong thế kỷ 20 vừa qua. Đệ nhất thế chiến. Đệ nhị thế chiến. Chiến tranh lạnh. Chủ nghĩa apartheid. Chủ nghĩa cộng sản. Xung đột sắc tộc. Hàng trăm triệu người bị giết chết. Hàng mấy trăm triệu người bị thương tật. Vết thương dai dẳng. Thù hận chồng chất. Đối diện với thực trạng ấy, hầu như ai cũng thấy hoà giải là một điều cần thiết. Không thể xây dựng một xã hội hoà bình và giàu mạnh và không thể an tâm hướng tới tương lai khi thương tích trong tâm hồn hàng triệu nạn nhân hay con cháu nạn nhân chưa được lành lặn, khi cảm giác nghi kỵ và thù hằn chưa được xoá bỏ. Bởi vậy, từ khoảng đầu thập niên 1990 đến nay, giới lãnh đạo nhiều quốc gia ráo riết đẩy mạnh quá trình hoà giải. Hoà giải giữa các quốc gia từng có thời thù nghịch và tàn sát nhau như giữa Nhật Bản và Trung Hoa, giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, giữa Indonesia và East Timor, giữa Đức và một số quốc gia Bắc Âu. Hoà giải trong nội bộ từng nước như giữa người Mỹ và người gốc Phi châu từng bị bán hoặc đày sang châu Mỹ làm nộ lệ thế kỷ trước, giữa người Úc và thổ dân, người Tân Tây Lan và người Maori, giữa người Nam Phi và người da trắng từng thống trị và đàn áp họ, v.v…

Nếu hoà giải là xu hướng chính của thời đại, tại sao nhiều người Việt ở hải ngoại lại chống đối chuyện hoà giải?

Lý do đầu tiên, theo tôi, là vì vết thương của người Việt Nam còn quá mới. Chiến tranh kết thúc mới 35 năm. Các trại cải tạo mới đóng cửa cách đây chưa tới 20 năm. Những người trải qua những kinh nghiệm thảm khốc trong chiến tranh cũng như những kinh nghiệm cay đắng trong các trại cải tạo, và tiếp theo, kinh nghiệm hãi hùng trong vượt biên vẫn còn sống và nhiều người vẫn còn tham gia tích cực vào các sinh hoạt chính trị, dù ở thế yếu, xa lắc ngoài đất nước.

Tuy nhiên, đây không phải là lý do không thể vượt qua được. Nỗi đau bị kỳ thị chủng tộc ở Nam Phi còn mới hơn nhiều. Mâu thuẫn giữa Indonesia và East Timor lại càng mới hơn nữa. Vậy mà ở các nước ấy, quá trình hoà giải được tiến hành khá tốt đẹp.

Bởi vậy, theo tôi, lý do thứ hai này quan trọng hơn: chúng ta thiếu sự tin cậy đối với nhau.

Nói đến tin cậy là nói đến góc nhìn từ phía các nạn nhân. Một trong những chấn thương lớn nhất của các nạn nhân là sự đổ vỡ niềm tin đối với chính quyền. Không phải ngẫu nhiên mà câu nói “Đừng tin những gì cộng sản nói; hãy nhìn những gì cộng sản làm” được phổ biến rất nhiều sau năm 1975. Như một thứ danh ngôn. Không chừng đó là câu nói để đời duy nhất của ông Nguyễn Văn Thiệu trong suốt 8 năm làm Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà (1967-1975). Không thể nói đến hoà giải khi niềm tin ấy chưa phục hồi. Nhưng niềm tin chỉ có thể phục hồi từ công lý. Bởi vậy, ở đâu quá trình hoà giải cũng đều bắt đầu bằng sự thừa nhận sự thực. Nước Đức không thể hoà giải với người Do Thái hay nhiều quốc gia khác từng bị chiếm đóng ở châu Âu nếu cứ khăng khăng phủ nhận các tội ác của Nazi, đặc biệt, sự tồn tại của Holocaust. Nhật Bản không thể hoà giải với nhiều quốc gia Á châu, nổi bật nhất là Trung Quốc và Hàn Quốc, nếu không thừa nhận những tội ác chiến tranh của họ ở thập niên 1940.

Chính vì thế, quá trình hoà giải thường bắt đầu bằng một lời xin lỗi chính thức. Một trong những đặc điểm nổi bật nhất trong sinh hoạt chính trị thế giới thời hậu-Chiến tranh lạnh là việc công khai hoá niềm ân hận đối với những lỗi lầm trong quá khứ. Năm 1990, Tổng thống Mỹ George Bush đã xin lỗi 120 ngàn người Mỹ gốc Nhật bị giam cầm trong thời Đệ nhị thế chiến. Cũng năm 1990, Mikhail Gorbachev bày tỏ sự ân hận sâu sắc trước việc Stalin giết chết 15 ngàn viên chức người Ba Lan tại Katyn Forest vào năm 1940 (Đàn Chim Việt: chi tiết này không chính xác, con số này là 22.000 người, chủ yếu là sĩ quan Ba Lan). Đức giáo hoàng John Paul đệ nhị xin lỗi về việc Giáo hội Công giáo đã thất bại trong việc cứu giúp người Do Thái khỏi thảm hoạ Holocaust. Nữ hoàng Elizabeth II của Anh công khai xin lỗi việc nước Anh tàn sát người Maori ở Tân Tây Lan trước đây. Thủ tướng Anh Tony Blair xin lỗi về trách nhiệm của Anh trong nạn đói ở Ireland vào thế kỷ 19. Năm 1998, Tổng thống Bill Clinton xin lỗi người châu Phi về vai trò của Mỹ trong việc buôn bán nô lệ thế kỷ trước. Ở Nhật, năm 1993, Thủ tướng Morihiro Hosokawa bày tỏ sự ân hận và xin lỗi về những tội ác mà nước Nhật đã gây nên thời Đệ nhị thế chiến. Năm 1995, Thủ tướng Tomiichi Murayama lại xin lỗi lần nữa. Năm 1998, trong dịp gặp gỡ với Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae Jung, Thủ tướng Keizo Obuchi lại xin lỗi lần nữa, nhắm chủ yếu vào những nạn nhân người Hàn Quốc. (1) Riêng ở Úc, đầu năm 2009, Thủ tướng Kevin Rudd đã chính thức xin lỗi người thổ dân tại Úc về những chính sách sai lầm của người da trắng trong quá khứ.

Những lời xin lỗi công khai và chính thức như thế chứng tỏ sự thành tâm và thiện chí của các chính phủ nhằm hàn gắn những rạn nứt trong xã hội và giữa các quốc gia để mọi người có thể thanh thản xếp chuyện quá khứ lại hầu hướng tới tương lai, một tương lai hoà thuận và hợp tác. Đó là yếu tố đầu tiên cần có để tạo nên sự tin cậy.

Ở các nước, mọi lời xin lỗi đều đi liền với sự đền bù. Trong hoàn cảnh Việt Nam, tôi không nghĩ sự đền bù là cần thiết, nhất là đối với những người Việt hiện đang sống ở hải ngoại. Thành thực mà nói, họ đã được đền bù. Không phải Việt Nam đền bù. Mà là quốc tế đền bù khi cứu vớt họ từ trên các chiếc thuyền vượt biển mỏng manh hoặc khi chấp nhận cho họ định cư ở các quốc gia tự do, từ đó, bản thân họ và con cháu họ được hưởng một cuộc sống an lành và no ấm, được hưởng các điều kiện giáo dục và an sinh xã hội thuộc loại hoàn hảo nhất thế giới. Họ không cần đền bù. Nhưng họ cần một lời xin lỗi, hoặc ít nhất, một sự nhìn nhận sai lầm từ chính phủ, như một điều kiện đầu tiên xác lập lại niềm tin cậy đã bị đánh mất.

Nhìn nhận sự thực, trong đó có việc nhìn nhận những sai lầm trong quá khứ, chỉ là bước đầu. Một sự tin cậy thực sự chỉ có thể được hình thành qua hành động. Và bằng những chính sách cụ thể. Nhiều người nêu lên yêu sách giải tán đảng Cộng sản hoặc xoá bỏ điều 4 trong Hiến pháp liên quan đến việc độc quyền lãnh đạo đất nước của đảng Cộng sản. Tôi cho những yêu sách như thế là lý tưởng nhưng rất ít có tính khả thi. Không bao giờ có chuyện một đảng cầm quyền tự động giải tán hay từ bỏ quyền lực khi chưa bị đẩy vào thế ở đường cùng cả. Mà trong tình hình chính trị quốc nội cũng như quốc tế hiện nay, có lẽ còn lâu đảng Cộng sản mới bị đẩy vào cái thế đường cùng ấy. Bởi vậy, thực tế hơn, chúng ta chỉ đặt ra một yêu sách: vì đất nước. Vấn đề đảng nào cầm quyền không quan trọng bằng vấn đề lý tưởng xây dựng một đất nước thực sự giàu mạnh, tự do và bình đẳng. Cơ sở để nhìn nhận và đánh giá lý tưởng ấy là các chính sách.

Nhưng vấn đề là: hiện nay đảng Cộng sản có thực sự vì đất nước hay không? Có rất nhiều bằng chứng cho thấy là không. Ít nhất, với họ, đất nước không quan trọng bằng quyền lợi của chính họ. Có ai đó tóm tắt cái thế tiến thoái lưỡng nan của đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay một cách rất tài tình: “Theo Trung Quốc thì mất nước; theo Mỹ thì mất Đảng”. Theo ghi nhận của nhiều người, dường như đảng Cộng sản đang chọn: thà mất nước còn hơn mất Đảng.

Tuy nhiên, điều này đã được nhiều người phân tích, tôi không muốn nhắc lại. Tôi chỉ xin nhấn mạnh một điểm: ít nhất với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, chính quyền Việt Nam hoàn toàn không quan tâm đến lý tưởng xây dựng đất nước. Ý định hoà giải với cộng đồng người Việt chỉ xuất phát từ mưu đồ biến cộng đồng thành công cụ của họ, nhằm phục vụ cho lợi ích của chính họ mà thôi. Có thể thấy rõ điều này qua bức thư Thứ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn gửi Dân biểu Mỹ Cao Quang Ánh ngày 31 tháng 3 vừa qua. Trong thư, ông Nguyễn Thanh Sơn viết:

“Chúng tôi tin tưởng rằng với thiện chí của Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, với vị trí và uy tín của Ngài trong Chính quyền Mỹ cũng như trong cộng đồng người Việt sở tại… với những gì Ngài đã tận mắt chứng kiến và thực sự cảm nhận qua chuyến về Việt Nam vừa rồi, tôi huy [sic] vọng Ngài sẽ cùng hợp tác với chúng tôi để chúng ta có những cuộc trao đổi cởi mở, thẳng thắn nhằm đem lại lợi ích thiết thực góp phần xây dựng cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ nói riêng và trên thế giới nói chung thành cộng đồng người Việt ở hải ngoại thực sự đoàn kết vì Quê hương đất nước ruột thịt của mình.” (2)

Xin hãy lưu ý đến mệnh đề cuối: “nhằm đem lại lợi ích thiết thực nhằm xây dựng cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ nói riêng và trên thế giới nói chung…”

Mục tiêu của hoà giải, như thế, chỉ nhằm “xây dựng cộng đồng người Việt Nam” ở hải ngoại. “Xây dựng” theo chiều hướng nào? Theo chiều hướng “đoàn kết” với chính quyền trong nước! Nghĩa là, nói cách khác, để biến thành công cụ của chính quyền!

Vậy mà cũng gọi là “hoà giải” sao?

À, tự nhiên sực nhớ chuyện năm 2005 chính quyền Việt Nam đã vận động chính quyền Indonesia và Malaysia đập bỏ tấm bia tưởng nhớ những người bị chết trên đường vượt biển ở đảo Galang và đảo Bidong, nơi dừng chân của cả hàng trăm ngàn người tị nạn Việt Nam trước khi được định cư ở một quốc gia thứ ba nào đó.

Chỉ có hai tấm bia nhỏ nhoi ở hai hòn đảo heo hút như vậy mà họ cũng không chịu nổi. Thì nói đến chuyện hoà giải làm gì cho mệt.

Nguyễn Hưng Quốc

Chú thích:

1. Xem “Reconciliation in the Asia-Pacific” do Yoichi Funabashi biên tập, United States Institutes of Peace Press xuất bản tại Washington, D.C. năm 2003, tr. 4-5.

2. Xem toàn văn bức thư trên ở http://josephcao.house.gov/UploadedFiles/Nguyen_Thanh_Son_request.pdf và thư trả lời của ông Cao Quang Ánh ở http://josephcao.house.gov/UploadedFiles/Letter_to_Deputy_Minister_Nguyen_Thanh_Son.pdf



Wednesday, May 19, 2010

Vạch mặt hai thành phần CỘNG SẢN và Công Giáo Quốc Doanh - Đinh Xuân Minh

    „Nhóm Cấp Tiến“ trong lòng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và
    „Thành phần Bảo Thủ“ trong đảng Cộng Sản Việt Nam.
    Trước biến cố việc thuyên chuyển Đức TGM Ngô Quang Kiệt
Lm Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh

Lời phi Lộ:

Trong tựa đề, chúng tôi dùng danh từ „thuyên chuyển“ nghe cho thanh. Nhưng, đúng ra phải viết là „biến cố cách chức“ mới đúng. Nếu đức Tổng từ chức, thì đã không có chuyện xáo động xẩy ra, và đức Tổng không phải ra đi vội vã. Vậy, ai cách chức Ngài? Ai làm đầy tớ tay sai cho Việt Cộng? Ai tòng phạm cho sự dữ? Ai a dua trong biến cố cách chức này? Ai là nạn nhân? Ai là “chiên tế thần”? Và ai là kẻ phản bội lường gạt, một Giuđa thời đại?

Trước hết chúng ta tìm hiểu về thành phần bảo thủ trong đảng Cộng sản Việt Nam.

1. “Thành phần Bảo thủ” trong đảng Cộng Sản Việt Nam là ai?

Trong thời gian vừa qua, chúng tôi có đưa lên mạng bài viết nói về thành phần cấp tiến và bảo thủ trong đảng Cộng sản Việt Nam. Hai nhóm này xem ra đang tranh dành quyền lợi và thanh trừng lẫn nhau.

„Nhóm cấp tiến CS“ chủ trương bang giao với Tây phương và Hoa Kỳ, nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc quân sự, kinh tế và chính trị của Trung Cộng. Ngược lại, thành phần BẢO THỦ, thì bám chặt vào Tầu Cộng. Thành phần này chịu làm nô lệ và nhượng đất bán biển, để hưởng sự bảo trợ của Trung Cộng, nhằm củng cố và giữ địa vị khỏi sụp đổ. Thành phần Bảo thủ là thành phần nhỏ, rất nhỏ, trong đảng CSVN. Họ là một số trong Bộ Chính trị, trong ban Bí thư và một số trong ban lãnh đạo Trung Ương đảng CSVN. Nói chung, thành phần bảo thủ, chỉ là một thiểu số nhỏ, nhưng có quyền hành. Họ lạm dụng quyền lực bạo lực và được bao che của Cộng Sản đàn anh Trung Cộng.

Nhóm bảo thủ này, đành ngậm bồ hòn, dâng hai quần đảo Trường sa và Hoàng Sa cho Tầu Cộng, để hưởng lợi. Chính sách của nhóm bảo thủ này rất tai hại, vì nguy cơ đưa dân tộc Việt Nam tới diệt vong. Và nguy cơ này, dần dần đã hiện rõ. Đất nước Việt Nam đang trở thành Tây Tạng thứ hai tại Á Châu vì tham vọng chủng tộc Hán, chủng tộc cai trị. Rồi đây, chính những kẻ phản động này rồi cũng sẽ bị đàn anh phản bội và trừng phạt. Chờ xem!

Trái ngược với Thành Phần Bảo Thủ trong đảng Cộng Sản Việt Nam. Tất cả những ai yêu chuộng tự do, cổ võ cho nền dân chủ Công Lý hòa bình thật sự, có chiều hướng thân Tây Phương, Âu Châu và Hòa Kỳ thì họ thuộc về „khuynh hướng CẤP TIẾN“. Họ không muốn Việt Nam trở thành một tỉnh lỵ của Trung Cộng, họ không muốn dân tộc Việt Nam bị Hán hóa. Nhóm CẤP TIẾN muốn ngăn chận cuộc Bắc thuộc cận đại lần thứ hai. Họ muốn loại bỏ và khai trừ thành phần BẢO THỦ ra khỏi đảng Cộng Sản Việt Nam, xây dựng một nền thể chế Dân chủ nhân bản đa nguyên pháp trị, phi Cộng sản.

Nhóm BẢO THỦ là thành phần phản bội dân tộc quê hương, bán đứng đất nước cho Tầu Cộng, để hưởng ô dù che trở bảo vệ quyền lợi riêng tư cho nhóm của họ. Dường như thành phần BẢO THỦ Việt Cộng đang thắng thế?

Nếu, chúng ta định nghĩa: tất cả những ai ao ước về Tự do, Dân chủ, nhân quyền v.v. vừa kể trên, là cấp tiến, thì chúng ta có thể nói được rằng, khối người Quốc gia, ít ra, cũng có một mẫu số chung với nhóm người Cộng Sản Cấp Tiến, trước mắt là về một phương diện chính trị này. Như vậy, khối quốc gia, những người tị nạn Cộng sản tại hải ngoại, những người cộng sản cấp tiến, và toàn khối dân tộc, không phân biệt tôn giáo, gọi chung là những thành phần CẤP TIẾN, chống lại thành phần BẢO THỦ Việt Cộng, thành phần dẫn voi Tầu Cộng về dày mồ. (Hồ Chí Minh là thần tượng hay tội đồ dân tộc, chưa xét về mặt này).

Nhóm BẢO THỦ CỘNG SẢN chủ trương không dung thứ bất cứ đường lối chính trị nào khác. Vì thế, nhóm bảo thủ, đứng đầu là Nông Đức Mạnh, đã ra tay hành hung và khủng bố, lập ra những „tòa án nhân dân“ đấu tố, đưa ra những pháp luật rừng rú, để bắt giam tất cả những chiến sĩ dân chủ hòa bình, bắt giữ những Hiệp sĩ đấu tranh dân chủ chân chính.

Thế „nhóm cấp tiến“ trong lòng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, thì sao?

2. „Nhóm CẤP TIẾN“ trong lòng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam

Khuynh hướng „Nhóm cấp tiến“, có từ lúc nào trong lòng giáo Hội Việt Nam? Xin thưa, nó thật sự hoạt động khi chính quyền Miền Nam sụp đổ, khi ngày 30-04-1975, Việt Cộng cưỡng chiếm bạo lực niềm Nam. Nhóm này, còn được gọi là nhóm Linh Mục cấp tiến, linh mục Quốc doanh, một thế lực cũng nằm trong Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo yêu nước.

Khi „Nhóm Cấp tiến Công Giáo“ bắt đầu công khai hoạt động, thì trong thời điểm đó, kỹ thuật thông tin điện tín, không như ngày nay, làm chúng tôi khó liên tưởng, và không thể ngờ được rằng sự kiện đó có thể xẩy ra. Ngoài sức tưởng tượng của chúng tôi! Vậy, chúng ta hãy cùng nhau ôn cố tri ân, những gì đã xẩy ra trong Giáo Hội Việt Nam, tính từ „Ngày dân tộc đau thương“: 30/4/1975, đến nay.

a. Trường hợp thứ nhất: Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận (1928-2002)

Cách đây đúng 35 năm, cũng trong lúc xáo trộn hiện nay trong Giáo hội. Khi đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, qua văn thư thông báo của Tòa thánh, 22/05/1975, nhậm chức Phó TGM Sài Gòn với quyền kế vị, thì „Nhóm Cấp tiến“ đã giăng băng-rôn, biểu ngữ, phản đối việc bổ nhiệm của Tòa thánh. Chủ động là một số „Linh mục quốc doanh“ của TGP Sài Gòn. Kết qủa, Đức cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận bị tù 13 năm, để rồi sau đó, Ngài bị „đày“ ra hải ngoại, vì sự hiện hữu của Ngài bất cứ ở đâu trong nước, đều nguy hại cho chế độ đương thời. Nguyên nhân, chỉ vì Ngài là cháu của giòng họ Ngô, cháu của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm chống cộng khét tiếng.

Và nhóm „Linh mục Cấp tiến“ đã thực thi thâm ý „bứng chức Tổng giám Mục“ ra khỏi Tổng giáo Phận Sài gòn. Đã „diệt“ thì phải diệt tận gốc tránh hiểm họa sau này?

b. Trường hợp thứ hai: Giám Mục Nikolas Huỳnh Văn Nghi

Song song đó, sự kiện lại xẩy ra với Giám Mục Nikolas Huỳnh Văn Nghi (sinh 1928). Ngày 1/07/1974, Ngài được Tòa thánh phong chức Giám mục phụ tá TGP Sài gòn, hiệu tòa Selsea. Ngày 1/08/1974, lễ tấn phong do Hồng Y Agnelo Rossi, tổng trưởng Bộ Truyền Bá Đức Tin chủ phong, với sự phụ phong của hai Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình và Philipphê Nguyễn Kim Điền, tại nhà thờ chính tòa Sài-gòn.

Sau khi được phong Giám mục phụ tá Sàigòn, nhưng gần năm sau, ngày 17/04/1975 Ngài làm Giám Quản Tông Tòa tân Giáo Phận Phan Thiết. Và ngày 6/12/1979, Ngài chính thức là Giám Mục chính tòa, Giáo Phận Phan Thiết.

Từ ngày 10/08/1993 đến tháng 03/1998, đức Giám Mục Nikolas Huỳnh Văn Nghi kiêm chức Giáo quản Tông Tòa TGP Sài gòn, thay cho TGM Nguyễn Văn Bình tuổi già sức yếu.

Ngày 1/07/1995, TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình mất, hưởng thọ 85 tuổi.

Tổng cộng gần trọn sáu (6) năm, kiêm chức Giám Quản tông tòa TGP Sài gòn, Đức cha Nghi đã được phép làm những gì đúng chức năng? Và nhóm „Linh Mục Cấp tiến Sài gòn“ đã tước quyền Ngài như thế nào tại Sàigòn?

Một lần nữa, nhóm „Linh Mục cấp tiến“, đã ngăn chận Giám Mục Nghi thực thi nhiệm vụ, do tòa thánh bổ nhiệm. Tòa TGM Sàigòn trống ngôi sáu (6) năm. Nhóm Linh Mục Cấp tiến tha hồ rảnh tay „dẫn dắt và lãnh đạo“ đoàn chiên mất Mục tử.

c. Trường hợp thứ ba: Đức cố TGM Huế, Philiphê Nguyễn Kim Điền (1921-1988)

Đức cố TGM Nguyễn Kim Điền là một Giám Mục mạnh dạn. Ngài dũng cảm hiên ngang công khai chống „nhóm Cấp tiến“. Chính vì vậy, Ngài được đức cố Thánh cha Gioan Phaolô II, phong tước hiệu là vị „Tổng Giám Mục Anh Dũng“.

Vào những năm đầu thập niên 1980, Đức cố TGM Nguyễn Kim Điền, đã nhiều lần viết thư cho Lm Nguyễn Hữu Vịnh, chủ tịch Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo, phản đối Ủy ban này. Khi đối chọi với nhóm tay sai này của Việt Cộng, Ngài đã hiểu được dã tâm bất nhân và tiên đoán được chúng sẽ thủ tiêu Ngài. Nên, trước khi chết, Ngài đã nói: „Thiên Chúa đã gọi tôi, để tôi chịu chức tù tội và chết vì bảo vệ Nhân quyền và Công Lý“.

Vâng đúng vậy, ngày 8/06/1988, Ngài đã bị cô y tá nhân viên của bác sĩ Dương Quỳnh Hoa và bác sĩ Trần Văn Thọ (Hôn thê) đầu độc thủ tiêu, trong bệnh viện Chợ Rẫy Sàigòn.

d. Trường hợp thứ bốn: TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, qua công văn Tòa Thánh ngày 22-5-2010, „bị“ thuyên chuyển. Chuyển đi đâu? Hay bị phổng tay lộng hành cách chức?

Lại một lần nữa, nhóm „khuynh hướng cấp tiến“ lộng hành, tiếp tay cho Việt Cộng, ném đá dấu tay„bứng“ TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi TGP Hà Nội.

Đây không phải là hình thức thuyên chuyển thông thường, từ địa phận này qua giáo phận khác, song, đây là hình thức „bứng“ cương vị của một Tổng Giám Mục, cho về „hưu non“.

Xét về những trường hợp của Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, GM Nikolas Huỳnh Văn Nghi, cố TGM Philiphê Nguyễn Kim Điền và TGM Giuse Ngô Quang Kiệt đều có mẫu số chung. Qúi Giám mục này đều là nạn nhân của „khuynh hướng Cấp tiến“. Nhóm này được Việt Cộng tiếp tay loại bỏ chức năng Tòa thánh bổ nhiệm. Kết qủa: Đức Cố Hồng Y Thuận thì đi tù. Sau 13 năm tù, Ngài phải từ bỏ quê hương. Riêng đức cố TGM Nguyễn Kim Điền thì bị đầu độc thủ tiêu.

Nay, đức TGM Ngô Quang Kiệt thì bị „lưu đày“. Đức TGM Thuận và Kiệt, cả hai vị bị coi là „nguy hiểm“ cho chế độ và cho nhóm Cấp tiến, nên phải rời khỏi Việt Nam.

Riêng đức cha Nghi, còn được tại chức, có lẽ Ngài cũng đành ngậm đắng nuốt cay, nhìn con cái Chúa đấu đá trong hậu trường. Chắc chắn Ngài rất đau khổ trước những thủ đoạn nham hiểm của nhóm tay sai Cấp tiến trong lòng Giáo Hội.

Riêng trường hợp của đức TGM Ngô Quang Kiệt hơi khác, so với trường hợp của đức cố Hồng Y Thuận và đức cha Nghi về diện và điểm. DIỆN trong trường hợp của Đức TGM Kiệt: Dường như có sự nhường nhịn của Tòa Thánh và của một số Giám Mục trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. ĐIỂM là sự vận động của „Nhóm Cấp Tiến“ tiếp tay cho Việt Cộng. Ai tiếp sức và làm tay sai cho thủ đoạn của Việt Cộng, âm mưu cách chức Đức Tổng?

Họ đổ tội cho „thành phần Cấp tiến trong Hội đồng Giám Mục Việt Nam“ tiếp sức làm tay sai cho Việt Cộng? Họ đổ tội cho „điệp viên đeo thánh giá cấp tiến“ đã được gài vào Tòa thánh? Họ đổ tội cho đức Cha Nguyên Văn Nhơn „nhẹ dạ vâng lời mù quáng“? Họ đổ tội Hội đồng giám mục Việt Nam đang bị quốc doanh hoá? Đúng sai, oan ức? Nếu đúng, thì đây là vết thương trầm trọng cho Giáo Hội Việt Nam. Đức tin đang bị khủng hoảng. Nội bộ cấu xé, không có tình thương và lòng bác ái hy sinh quên mình, và đức chịu đựng nhịn nhục trong tình anh em. Nếu sai, thì qủa đây là sự lên án qúa khích. Nhưng đây, có lẽ cũng là cơ hội để Giáo Hội càng ngày trưởng thành và trong sáng hơn, tạo niềm tin cho bổn đạo nhiều hơn. Cơ hội cho Giáo Hội: Bạch hóa những kẻ làm tay sai cho sự gian ác của Việt Cộng, đang ở trong bóng tối, và „gỡ rối“ đường giây gián điệp gài trong lòng Giáo Hội, phải lộ diện.

(Đúng ngày 13/05, ngày Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, ngày Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, bị ám sát tại quảng trường thánh Pherô, đức Thánh Cha Benediktô XVI, hành hương đến Fatima. Ngài cầu nguyện theo mệnh lệnh Fatima: nguyện cho Cộng Sản trở lại. Cộng sản Đông Âu đã trở lại. Nay chỉ còn CS Trung cộng, Bắc hàn, Cu ba và Việt Cộng. Nguyện xin ba mệnh lệnh Fatima thực hiện trên quê hương Việt Nam thân yêu chúng con.)

Riêng TGM Kiệt: Ngài không chỉ là nạn nhân của anh em đồng giáo, song còn là „vật tế lễ hy sinh“ và là nạn nhân của sự phản bội của chính đồng bổn đạo. Có lẽ, Ngài cũng như Đức Giêsu nguyền rủa kẻ phản bội: Thà ngươi đừng sinh ra thì hơn!?

e. Trường hợp của đức cha Cao Đình Thuyên (Vinh). Ngài xin từ chức trong thời điểm này thì được hiểu là vừa bị gián tiếp „bứng“. Qua đó, ngài còn bày tỏ tình Hiệp thông và Liên đới với đức Tổng, báo động cộng đoàn Công giáo trên thế giới, về hiện tình Công Giáo Việt Nam hiện nay, dưới „triều đại Việt Gian Hồ chí Minh“. (Với 83 tuổi, nếu còn sức khỏe minh mẫn, Ngài vẫn không phải về hưu. Ngài rất còn khôn ngoan sáng suốt. Hướng dẫn và lãnh đạo đoàn chiên bằng trí óc, chứ không cần thiết bằng chân!)

Ngài „về hưu“ đúng trong thời điểm này, là Ngài bày tỏ quan điểm, báo động và phản đối về hiểm họa „thế lực đen“ của nhóm cấp tiến trong lòng Giáo Hội Việt Nam.

3. Nhận định tổng quát

Qua những sự kiện kể trên, và mới đây, qua biến cố thuyên chuyển đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt, chúng ta có những nhận xét về đất nước và Giáo Hội Việt Nam như sau:

* Thành phần BẢO THỦ trong đảng Cộng sản Việt Nam, và Nhóm Linh Mục Cấp tiến, có mẫu số chung: Họ có ô dù lớn: Thành phần VIỆT CỘNG BẢO THỦ thì dựa vào Tầu Cộng để giữ quyền lực bán nước hại dân. Còn „nhóm cấp tiến quốc doanh“ thì dựa vào đảng Cộng Sản Việt Nam, để phản bội, và bán đứng anh em, tạo thành tích nhằm mua chức thánh.

* Hình ảnh người mục tử là hy sinh dấn thân cho đoàn chiên, và bảo vệ cho đoàn chiên. Thì thay vào đó, là hình ảnh „Mục tử đội lốt Cáo“, với lòng lang dạ thú, dùng mọi thủ đoạn ám hại tranh dành „mồi“ của nhau. Đoàn chiên có hai mặt trận để chống chọi: thứ nhất, đó là „tập đoàn lang sói hiện nguyên hình“ (= Cộng Sản Bảo thủ). Thứ hai là „Sói đội lốt Mục tử“, đi chung với đoàn chiên. Đây là vấn nạn lớn, vì đoàn chiên khó nhận ra được đâu là Sói và đâu là Mục tử chân chính. Mục tử tốt lành sẵn sàng dấn thân hy sinh bảo vệ đoàn chiên; Hay đây chỉ là thành phần „mục đồng chăn chiên“, là loại ô bế chiên, tẩm bổ vỗ béo cho chiên, nhằm có dịp „mần“ thịt chiên, bán lông lấy thịt. Thành phần này chẳng cầu mong họ thương tiếc gì đến đoàn chiên.

* Bất cứ ai đi „chệch hướng“ với „nhóm công giáo Cấp tiến“, có nghĩa không chịu khuất phục làm tay sai cho Việt Cộng Bảo Thủ, thì xẩy ra hai trường hợp: một là bị tiêu diệt; hai, để cho đi tù mục xương; ba là cho về „hưu non“. Nếu ngay cả Giám Mục còn bị cho về vườn, thì sá gì, những cha „chánh xứ tép riu“.

* Cả hai: Thành phần VIỆT CỘNG BẢO THỦ và nhóm CẤP TIẾN CÔNG GIÁO, đều dương cao ngọn cờ đoàn kết, yêu dân tộc. Cả hai muốn xây dựng một Xã Hội Công Dân Mới và Con Chiên Mới. Thành phẩn Bảo thủ Việt Cộng thì tiêu diệt người dân, nếu ai không theo đường hướng của họ. Thủ đoạn của Nhóm Cấp tiến Công Giáo là „bứng“, cho về „hưu non“, tạo „của lễ hy sinh toàn thiêu“. Những ai đi „chệch hướng“ nguy hiểm cho chế độ, không „đồng hành“ với thành phần bảo thủ Việt Cộng, đều bị „trừng phạt“.

* Cả hai đều dùng thủ đoạn phản bội, lòng dạ thì lang sói. Nhóm Cấp tiến Công giáo thì sẵn sàng „tế thần“ đồng đạo để lập thành tích với thành phần bảo thủ trong đảng Cộng sản Việt Nam. Còn Bảo thủ Việt Cộng thì sẵn sàng bán nước hại dân để hưởng sự bao che của đàn anh Tầu Cộng.

* Ai đấu tranh cho Công Lý hòa bình, dấn thân cho sự thật công bằng bác ái, làm chứng cho lẽ phải, đều bị hai nhóm này „kết tội“ là phản động, phải „khai trừ“.

Tóm lại:

a. Đạo diễn cho thảm kịch „TGM Ngô Quang Kiệt“ là „Thành phần Bảo thủ Việt cộng“, trong đó có Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch của cái gọi là UBNDTP Hà Nội và Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị. „Nhóm cấp tiến Công giáo“ là diễn viên diễn tuồng. Tựu chung, cả hai có những khuynh hướng cực kỳ cực đoan và rất nguy hại. Một hiểm họa cho dân tộc và Giáo hội! Theo nhóm BẢO THỦ Việt cộng thì bán nước cho Hán Cộng. Theo nhóm Cấp tiến quốc doanh thì bán Giáo Hội cho Satan! Giáo hội Việt Nam đang bị „nhóm cấp tiến“ lãnh đạo.

b. Hai nhóm này đang tìm mọi cách xây dựng một xã hội đầy bất công và hận thù gian ác. Họ gieo mần mống hận thù, chia rẽ, đầy thủ đoạn thâm độc. Thâm tâm họ thì luôn đòi tiêu diệt người khác chính kiến. Khi tiêu diệt xong, chúng kêu gọi đoàn kết. Ai lên tiếng chống lại sự lòng lang dạ sói, thì họ cho là phá rối đoàn kết. Nên, theo họ nghĩ, quy phục sự Ác là phải thời phải lúc và phải đạo. Họ đòi hỏi người khác tha thứ cho họ, nhưng họ không „nhân nhượng“ bất cứ ai đi „chệch hướng“.

c. Mệnh lệnh sứ điệp của đức cố Thánh Cha Gioan Phaolô gửi Hội Đồng Giám mục Việt Nam là: „Collaborer en résident“ (=Cộng tác trong tư thế luôn đề kháng). Dường như một số thành viên trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, mới làm được phần câu đầu „collaborer“!?

d. Đồng bào và con chiên trong nước phải biết tự vệ. Bất hợp tác dân sự là phương pháp hữu hiệu nhất, nhằm bảo vệ chính mình và bày tỏ quan điểm: không là tòng phạm cho sự gian manh độc ác của Việt Cộng.

Giáo hội do thiên Chúa lập bền vững, không có chỗ đứng cho những ai chống lại nhân phẩm và gía trị tôn giáo cũng như quyền tự do làm người của nhân loại con người. Ai tiếp tay cho sự ác, đều là tòng phạm. Cuộc Chiến giữa Thiện và Ác đang tới hồi kết chăng? Trái tim mẹ sẽ thắng!

Thiện chắc chắn sẽ thắng gian Ác!!! Sau cơn mưa trời lại sáng!

Mong ước, mọi người yêu chuộng công lý hòa bình và sự thật cần quyết tâm hăng say hơn nữa!

Lạy Mẹ La Vang, thánh mẫu giáo hội Việt Nam, xin Mẹ giải thoát dân tộc Việt Nam chúng con khỏi tà thần gian ác ma qủy Việt Cộng.

Lm Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh
(Đức Quốc, thứ tư ngày 19/05/2010)


Giáo Hoàng và Quốc Trưởng Vatican: Một Đầu Hai Mặt - Tiến sĩ Trần An Bài




Tiến Sĩ Trần An Bài

Bài viết này nhằm hiểu thêm sự việc Đức Tổng Ngô Quang Kiệt rời khỏi chức Tổng Giám Mục (TGM) Hà Nội, rồi âm thầm vội vã ra ngoại quốc trên một chuyến bay đêm.

* Từ chức hay cách chức?

Lý do chính thức trong vụ Đức Tổng Kiệt rời khỏi chức TGM Hà Nội được chính ngài và Toà Thánh nhắc đến là "Sức khỏe: Bệnh mất ngủ". Nhưng nhiều sự việc không bình thường đã xảy ra chung quanh căn bệnh mất ngủ này, khiến người ta đặt nghi vấn và cho rằng đây chỉ là "căn bệnh chính trị giả tưởng" do Vatican và Cộng Sản Việt Nam (CSVN) giàn dựng lên. Theo dõi lịch trình làm việc trong những năm ở Hà Nội của Đức Tổng Kiệt, vị giám mục trẻ tuổi nhất VN, người ta không thấy có triệu chứng bệnh hoạn gì nơi ngài. Chỉ đến khi Vatican chính thức gửi văn thư ngày 30-1-2008 yêu cầu Đức Tổng Kiệt ngưng tay và hạ giọng trong việc hỗ trợ các giáo dân Hà Nội đốt nến cầu nguyện đòi Công Lý và kể từ ngày 23-9-2008, Cộng Sản Việt Nam (CSVN) căm phẫn đòi đuổi ngài ra khỏi chức TGM Hà Nội thì căn bệnh "mất ngủ" của Đức Tổng bắt đầu phát sinh. Dầu vậy, nhìn cách thức ngài điều khiển Tổng Giáo Phận thì ai cũng phải công nhận: Ngài vẫn còn sung sức như một chiến sĩ can trường khi ra trận. Ngay cả trong giây phút trao quyền ngày 7-5-2010 và hớt hải lên máy bay đêm 12-5-2010 để ra đi không hẹn ngày về, ngài vẫn uy dũng, khoẻ khoắn, chứ không phải nằm trên băng ca được xe Hồng Thập Tự hú còi chở đi.

Giả thuyết một: Nếu Đức Tổng bị bệnh thật thì quả thực hồn ma của bọn Karl Marx, Lênin và Hồ Chí Minh cũng "linh" đấy chứ, vì chúng đã tạo ám khí cho Đức Tổng Kiệt bị bệnh đến nỗi phải từ chức, đúng vào lúc Đảng CSVN run sợ, phải làm hết cách để đuổi ngài ra khỏi Hà Nội. Nếu hồn ma CS không "linh" thì chúng cũng gặp "hên", ngáp phải nhiều con ruồi, như trong quá khứ: Được các cường quốc chọn để thắng miền Nam, được Cộng Đồng người Việt tỵ nạn, dù ghét cay ghét đắng, vẫn cứ gửi tiền mỗi năm hàng tỷ Đô la về VN, vì không nỡ để gia đình và người thân túng đói.
Giả thuyết hai: Nếu Đức Tổng Kiệt không bệnh tật gì và cũng không chịu áp lực nào của Vatican mà khai bệnh giả để đào nhiệm thì thật tội cho những người đã tôn vinh ngài lên bậc Anh Hùng!
Giả thuyết cuối cùng: Nếu Đức Tổng Kiệt đang khỏe mạnh mà phải theo lệnh của Vatican nhận là có bệnh để ký đơn từ chức thì Vatican quả thật tàn ác, chẳng khác nào cha giết con để chiều lòng quân thù.

Trong ba giả thuyết ấy, giả thuyết nào đúng? Từ chức hay cách chức? Còn quá sớm để có câu trả lời chính xác. Tuy nhiên, dù bệnh thật hay bệnh giả, những xáo trộn, những phẫn nộ, những chán chường, những than trách và những hoang mang, thất vọng đang thực sự xảy đến cho các tín hữu VN, trong cũng như ngoài nước. Đa số hình như không tin vào hai giả thuyết đầu mà nghiêng vào giả thuyết cuối là Vatican và CSVN đã mặc cả trao đổi quyền lợi với nhau để hy sinh Đức Tổng Kiệt. Sự tin tưởng này không phải là vô lý nếu biết rằng Giáo Hội Công Giáo hiện đang mang hai bộ mặt.

* Một đầu hai mặt

Giáo Hoàng La Mã - những người kế vị Thánh Phêrô - được Chúa Giêsu giao cho sứ mạng lèo lái con thuyền Giáo Hội, nhưng các ngài còn dựng nên nước Vatican để khoác lên mình thêm chiếc áo Quốc Trưởng. Việc thành lập quốc gia Vatican hoàn toàn không nằm trong chương trình của Thiên Chúa, vì trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã khẳng quyết: "Nước Ta không thuộc về thế gian này" (Gioan, 18, 36). Nước Vatican chỉ được thành lập vào ngày 11-2-1929, sau nhiều tranh cãi, giằng co, mặc cả giữa triều đại ĐGH Piô XI với chính phủ Ý. Gọi là quốc gia Vatican để có tư thế chính trị, chứ thực sự quốc gia này chỉ rộng 44 hectare (tức 110 mẫu), với khoảng 800 người mang quốc tịch Vatican. Nhất cử nhất động của quốc gia này đều không qua được mạng lưới tình báo của chính phủ Ý.

Chính vì Giáo Hoàng thành lập nước Vatican để làm chính trị, nên đã gây ra nhiều hệ lụy tang thương và làm hoen ố bộ mặt thánh thiện của Giáo Hội. Với tư cách Giáo Chủ Đạo CG, mọi hành vi và quyết định của Giáo Hoàng bắt buộc phải dựa trên nền tảng Phúc Âm. Nhưng với tư cách Quốc Trưởng một quốc gia, Giáo Hoàng phải áp dụng những nguyên tắc chính trị. Đạo giáo thì thánh thiện, còn chính trị thì mưu lược.

Sở dĩ Giáo Hoàng bị chống đối vì Giáo Hoàng làm chính trị vụng về, lươn lẹo theo thói đời. Các tu sĩ và ngay chính Giáo Hoàng cũng chỉ được huấn luyện để trở thành một tông đồ rao giảng Tin Mừng Phúc Âm, chứ không được huấn luyện để trở thành một chính khách hay một lãnh tụ trên chính trường. Các tu sĩ CG không được học chính trị, quân sự và tình báo trong chủng viện. Các chính khách phải biết tam thập lục kế để áp dụng trong chính trường, phải có những nữ tình báo chuyên nghiệp, có khi phải dùng cả mỹ nhân kế để săn tin hoặc thủ tiêu đối phương. Nhưng Vatican không thể có những phương tiện này. Vì thế, khi lao mình vào chính trị, Vatican đã tự đặt mình vào một tình huống rất khó khăn và khó xử.

Dù các Giám Mục VN có nói thế nào đi nữa, các giáo dân VN vẫn nghĩ vụ Vatican giải quyết cơn sốt TGP Hà Nội là hoàn toàn mang màu sắc chính trị và không thể chối cãi rằng Vatican đã thua nước cờ chính trị của CSVN, vì Vatican làm sao biết lật lọng và nói dối như Vẹm được. Đó là chưa kể nhiều nhân vật có tên tuổi và lý lịch rõ ràng đang quả quyết và sẵn sàng làm chứng rằng Đức Ông Cao Minh Dung, nhân viên thuộc Bộ Ngoại Giao Vatican, đặc trách Đông Nam Á, là một đặc công CSVN. Chính Đức Ông Dung là người đã giàn dựng việc thay ngôi đổi vị tại TGP Hà Nội, có nghĩa là CS đã xâm nhập được vào Vatican rồi.

* Mình với ta tuy hai mà một

Cũng chính vì có chuyện hàm hồ, lẫn lộn giữa đạo với đời mà nhiều giáo dân rất khổ tâm mỗi khi thấy Giáo Hoàng và hàng giáo phẩm bị phê bình, chỉ trích. Họ vẫn sợ rằng: "Chống Cha là chống Chúa!" Nhưng thực sự, họ đã lầm! Cha không bao giờ là Chúa. Và ngàn lần Chúa cũng không thể là Cha. Nhân dân biểu tình, đả kích các nhà lãnh đạo quốc gia của họ là chuyện thường. Quốc trưởng Vatican mặc cả, đổi chác quyền lợi với CSVN mà sai lầm, tạo cơ hội truyền hơi tiếp sức cho CSVN, làm khổ người dân VN thì tại sao giáo dân VN lại phải tung hô Vatican? Việc vạch mặt chỉ tên những gián điệp CSVN cài vào Vatican, nếu có, tại sao giáo dân VN phải im tiếng? Đã là con người, kể cả Giáo Hoàng và giáo sĩ, cũng đều có thể sai lầm. Đọc lịch sử Giáo Hội, nhiều lần Giáo Hội đã có những sai lầm nghiêm trọng. Chẳng thế mà vào năm 2000, trong một buổi lễ thật long trọng tại Roma, dưới sự chủ tọa của ĐGH Gioan Phaolô II, Giáo Hội đã công khai và chính thức xin lỗi toàn thể thế giới về những lỗi lầm của Giáo Hội.

Đối ngược với thái độ chủ trương yên lặng trước lỗi lầm của Giáo Hội, có người lại để mình rơi vào một thái cực khác. Đó là tình trạng tuyệt vọng: Bỏ đạo, bỏ Chúa khi phải chứng kiến những khuyết điểm của Giáo Hội. Thiết tưởng hành động này cũng không đúng. Những lỗi lầm lớn của Giáo Hội đã xảy ra khi Giáo Hoàng và hàng giáo phẩm đi lạc sang các lãnh vực chính trị, khoa học và xã hội. Do đó, giáo dân và những người đang tìm hiểu về Đạo Công Giáo không nên thất vọng và tức giận để rồi bỏ Chúa, bỏ Đạo, bỏ nhà thờ, ngưng học Đạo, khi thấy Giáo Hội ngu ngơ về chính trị. Đạo Chúa dựa trên nền tảng là chính Chúa, chứ không phải nơi Giáo Hoàng này, Giám Mục nọ. Cho nên, đừng vì lỗi lầm của hàng giáo sĩ mà bỏ Chúa, bỏ Đạo.

Giáo dân thường được nghe những lời giảng quen thuộc này: "Giáo Hội là Mẹ khôn ngoan. Giáo Hội được Chúa Giêsu thiết lập và quyền lực thế gian không thể nào phá nổi..." Và lời kinh Tin Kính giáo dân thường đọc rằng: "Tôi tin Giáo Hội thánh thiện". Đúng vậy! Hãy tin tưởng vào những việc Giáo Hoàng làm trong tư thế thay mặt Chúa Giêsu cai quản Giáo Hội, qua những giáo huấn liên quan đến đức tin và đời sống tâm linh. Còn tất cả những việc Giáo Hoàng làm trong tư thế Quốc Trưởng Vatican thì không phải lúc nào cũng hoàn toàn đúng. Chúa Giêsu chỉ lập Giáo Hội mà không lập Quốc Gia Vatican. Chúa chỉ giao cho Thánh Phêrô coi sóc Giáo Hội, chứ không giao nước Vatican cho thánh Phêrô hay các vị Giáo Hoàng. Vì thế, hãy vững tin rằng ma quỷ không phá hủy được Giáo Hội, nhưng ma quỷ dư sức phá được quốc gia Vatican.

Chúng tôi không chống Giám Mục Rôma, tức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI đang là Giáo Chủ Đạo Thiên Chúa, nhưng chúng tôi phê bình đường lối chính trị nửa mùa của Quốc Trưởng Vatican Ratzinger đã thoả mãn yêu sách chính trị của CSVN, trói tay TGM Ngô Quang Kiệt, một người dám vì đức tin Kitô Giáo đối đầu với bọn CS vô thần, một người con yêu của Quê Hương và Dân Tộc VN đã uy dũng đứng lên chống áp bức CS phi nhân.

Khi giáo triều Vatican làm chính trị ngu ngơ, nửa mùa và sập bẫy CSVN thì phải tự đấm ngực, ăn năn và sửa mình, chứ đừng đưa Chúa ra để biện minh cho sự thất bại và cũng đừng nên trông chờ giáo dân yên lặng để che lấp sai lầm của Giáo Hội, vì thời đại giáo-dân-thần-thánh-hoá-giá o-sĩ đã qua rồi.

Những ai là nạn nhân của những lỗi lầm, kể cả hành vi tội lỗi của Giáo Hội và hàng giáo phẩm, đều có bổn phận phải lên tiếng sửa sai. Thực tế, những nạn nhân của các tu sĩ phạm tội ấu dâm đã lên tiếng để trong sạch hóa bộ mặt Giáo Hội và họ phải được trân trọng.

Đối với ai được Chúa Thánh Thần soi sáng, nhìn thấy những sai lầm và khuyết điểm của Giáo Hội, họ cũng có trách nhiệm phải lên tiếng, vì Giáo Hội cần được mọi thành phần dân Chúa, từ giáo dân đến Giáo Hoàng, trân trọng, bảo vệ và canh tân.

Xin đừng ai lấy đức vâng lời để giữ yên lặng trước tội ác. Cũng đừng ai dùng đức vâng lời để kết án và bắt những người chỉ trích Giáo Hội phải im tiếng, miễn là những chỉ trích này có căn bản, có chứng cớ cụ thể, được trình bày bằng thiện ý và trong tinh thần xây dựng. Chúa Giêsu cũng tán thành việc sửa lỗi lầm cho anh em. (Luca, 17, 3)

* Đòi một - Cho hai

Hầu hết những chỉ trích nhắm vào Vatican trong vụ thuyên chuyển Đức Tổng Kiệt là vì Vatican đã sai lầm trong chính sách và đường lối chính trị khi phải đối đầu với mưu chước của CSVN.

Hành động của Đức Tổng Kiệt khi phát động đòi Công lý cũng chỉ hoàn toàn mang tính cách công bình xã hội, một giáo điều căn bản của Kitô Giáo, tức là đòi lại chủ quyền đất đai của Tòa Khâm Sứ và của Tổng GP Hà Nội thôi, chứ không liên quan gì đến tôn giáo hay chính trị. Nhưng Đảng CSVN sợ các cuộc đốt nến, tụ họp dân chúng đông đảo có thể đụng chạm đến quyền lợi chính trị của Đảng nên họ đòi cách chức TGM Kiệt.

Vatican đã giải quyết yêu sách của CSVN bằng con đường chính trị pha lẫn đạo đức, tức là muốn dùng chính trị để củng cố đạo: Tốt đời, đẹp đạo! CSVN đòi đuổi TGM Kiệt ra khỏi Hà nội, Vatican cũng giàn dựng đưa ngài đi và đi tuốt ra tận ngoại quốc, vượt quá lòng mong ước của chúng. Đây là giải pháp chính trị có pha giáo huấn Phúc Âm: CS xin một, Vatican cho hai. CS tát má phải, Vatican đưa luôn má trái cho nó tát nữa.

Vì thế, giáo dân có quyền bất mãn với Vatican, khi vô lý hy sinh thuộc cấp của mình bằng những mánh lới chính trị, như tạo ra bệnh tật hay biện pháp tay sắt bọc nhung: "Giám Mục phó với quyền kế vị." Các linh mục và giáo dân Hà Nội đã phải một phen hốt hoảng và sửng sốt về "quyền kế vị" này. Trong khi đó, Cộng Sản đang hò hét "Dzô! dzô!" để cạn ly chiến thắng. Chúng còn coi đây là "đại chiến thắng" nữa.

* Bên một đại bại - Bên hai đại thắng

Một bản tin trên mạng với tựa đề xem ra thật chua chát "CSVN đang dành phần thắng về mình trong vụ thuyên chuyển Đức Tổng Kiệt". Chưa có ai chứng minh được rằng trong vụ này, CSVN thua và thua ở điểm nào? Trái lại, phải đau khổ mà nhận rằng Vatican đại bại, CSVN đại thắng. Chúng thắng thật, chứ không phải "cố dành phần thắng". Mình thua thì nên chấp nhận thua. CSVN thắng thì phải cho nó nói thắng.

Tin tức của báo chí CSVN viết rằng: "Thủ Tướng Chính phủ đã chấp thuận cho Đức Giáo Hoàng bổ nhiệm người thay thế TGM Kiệt". Nghe sao mà xót xa, nhức nhối con tim! Nhưng nghĩ cho cùng CS nói vậy cũng có gì sai đâu? Nếu CS không chấp thuận cho Giáo Hoàng bổ nhiệm ĐC Nhơn, liệu Giáo Hoàng có dám bổ nhiệm không? - Chắc chắn là không. Vậy thì phải cho nó thắng.

Đáng lẽ vấn đề cần đặt ra là: Tại sao Giáo Hoàng từ bao nhiêu năm nay đã nhượng bộ, cho phép CSVN được xía vào quyền bổ nhiệm Giám Mục là đặc quyền của Giáo Hoàng? Nếu Giáo Hoàng cứ từ Roma công bố bổ nhiệm Giám Mục nào mình muốn, bất chấp CSVN có đồng ý hay không thì làm sao CS dám dương dương tự đắc khoe là "đã chấp thuận cho Giáo Hoàng bổ nhiệm Giám Mục"?

Nhưng nếu Giáo Hoàng không chấp nhận điều kiện của CSVN thì chuyện gì sẽ xảy ra? Rất nhiều chuyện: Giám Mục được bổ nhiệm sẽ không được truyền chức, không được nhận mũ gậy với lễ nghi rềnh rang, cờ xí rợp trời và kèn trống rền vang. Rồi GHVN sẽ phải làm việc "chui" và sẽ bị làm khó dễ trăm điều. Giả như tình trạng này xảy ra thực như vậy thì cũng giống như thời kỳ Giáo Hội La Mã và Giáo Hội VN trong thời bị cấm đạo mà Giáo Sử ghi rằng đây là thời kỳ huy hoàng nhất của Giáo Hội. Nhưng nay Giáo Hội không muốn cảnh này diễn ra nữa, nên đã áp dụng lý thuyết "thực dụng". Đó là nhượng bộ CSVN để được sống còn, vì chống Cộng thì sợ mình chết trước nó. Kết quả là sau nhiều năm tháng áp dụng thuyết này, Vatican đã nhào nặn ra khuôn mặt HĐGMVN mà tôi phải chua xót dùng lời này để diễn tả: HĐGMVN ngày nay vì sợ Máu Đào Tử Đạo nên đã chấp nhận Màu Đỏ Sao Vàng và chối từ nguồn gốc Màu Vàng Sọc Đỏ.

Những người phê bình HĐGMVN thường bị những "con chiên ngoan đạo" bắt bẻ rằng: "Nói thì hay lắm. Chỉ xúi HĐGM vào chỗ chết. Về VN mà làm đi!" Thiết tưởng đây không phải là lời bênh vực HĐGMVN có tính cách thuyết phục. Sở dĩ HĐ này được các giáo dân kính trọng đặc biệt vì họ tin rằng thành phần HĐ gồm những người can đảm, đã được Chúa chọn lên hàng khanh tướng. Chính các ngài thường dạy dỗ giáo dân "Đừng Sợ!" Đừng sợ súng đạn, đừng sợ đàn áp, đừng sợ Satan, cũng đừng sợ Cộng Sản. Bài học "Đừng Sợ!" này cũng xuất phát từ nơi cửa miệng của các Đức Giáo Hoàng. Khi Giáo Hoàng dạy thế giới "Đừng Sợ!" có ai hạch hỏi và bảo các ngài về VN mà dạy đâu? Sở dĩ người ta dám nghĩ đến con đường Anh Hùng, thay vì con đường Hèn Nhát, mà HĐGHVN phải đi, vì chính các ngài từng giảng dạy rất hùng hồn bài học "Đừng Sợ!" và khuyến khích giáo dân hãy can đảm tiến bước.

* Kết luận

Qua vụ việc từ chức của Tổng GM Ngô Quang Kiệt, Giáo Hội cần xét lại việc có cần phải duy trì Quốc Gia Vatican để cho Giáo Hoàng đu đưa chính trị không? Trong khi các quốc gia văn minh tiền tiến đã loại bỏ nguyên tắc hỗn quyền giữa đạo và đời, tức là phải tách biệt hẳn các hoạt động chính trị ra khỏi các hoạt động tôn giáo. Vậy mà Giáo Hoàng La Mã đang kiêm luôn chức Quốc Trưởng Vatican.

Giáo Hoàng không nên mang hai bộ mặt cùng một lúc: Hãy bỏ bộ mặt chính trị Quốc Trưởng đi, và chỉ nên giữ lại bộ mặt đạo đức Giáo Chủ Đạo Công Giáo. Đạo Giáo thì tốt lành và thánh thiện. Còn chính trị thì lừa lọc và thế tục.

Bộ mặt Giáo Hoàng là bộ mặt đạo đức, bộ mặt nguyên thủy, bộ mặt chân thật, chất phác của ngư phủ Phêrô. Còn bộ mặt Quốc Trưởng Vatican là bộ mặt tô son trát phấn, lòe loẹt, giả tạo và rỗng tuếch!

Với bộ mặt Giáo Chủ Công Giáo, làm sao Giáo Hoàng có thể cho phép các đảng viên Cộng Sản thênh thang bước vào Giáo Đô La Mã được, vì một bên hữu thần, một bên vô thần. Giáo Hội và CS làm sao có thể bang giao với nhau được khi lệnh của Giáo Hội ra vạ tuyệt thông cho những ai hợp tác với CS vẫn còn hiệu lực? Nhưng với bộ mặt Quốc Trưởng Vatican, ĐGH Bênêdictô XVI đã mở cửa mời CS vô thần Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng vào nhà, không khác nào Giáo Hoàng mở cửa Đền Thánh cho quỷ Satan vênh váo xâm nhập. Nhờ vậy, chúng đã dán vào bàn Giáo Hoàng bản án lưu đày cho Đức Tổng Kiệt.

Và đấy là câu trả lời - tuy cay đắng - cho những ai đang thắc mắc về những điều nghịch thường, phi lý đã xảy ra trong vụ thuyên chuyển Đức TGM Ngô Quang Kiệt.

Tiến sĩ Trần An Bài


Tuesday, May 18, 2010

Theo dõi bước chân của kẻ bị trục xuất - Nguyễn Văn Lục

Nguyễn Văn Lục

Thế là xong. Kịch bản đã diễn ra như là nó phải như vậy, không thể khác được. Hơn hai năm trời tranh đấu nay tay trắng ra đi. Les jeux sont faits. Và nếu nói theo ngôn ngữ của một người theo đạo thuần thành thì mọi chuyện xảy ra đúng như ý Chúa định.

Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt rời Việt Nam, vội vã lên đường ra khỏi Việt Nam.

Theo thông cáo của linh mục thư ký tòa Tổng Giám Mục thì Gm Kiệt rời Hà Nội “tiếp tục chương trình chữa bệnh” vì gần đây sức khỏe của ông lại đột ngột suy yếu.

Ông linh mục thư ký ơi. Tôi hiểu cái vai trò thư ký của ông. Thằng bồi thì diễn đúng cái cung cách cử chỉ của một thằng bồi. Ông chủ thì xuất hiện thế nào cho oai phong như một ông chủ. Đó là điều mà triết gia Jean Paul Sartre chúa ghét vì ông cho là kịch cỡm, đóng kịch. Phần ông, đóng vai thư ký tòa Tổng giám mục, ông bắt buộc phải xử dụng thứ “ngôn ngữ Pharisiêu” như thế. Nhưng tôi nghe không lọt tai chút nào.

Trong đời sống, có những lúc phải dám nói sự thật. Đó là một bổn phận tinh thần, một thử thách đạo đức và một sự can đảm đức tin tôn giáo ông ạ. Tôi không nghĩ ông là một linh mục tốt lành. Nhưng biết đâu trong một xã hội nhố nhăng như thế với người chủ mới trong bối cảnh ở Việt Nam, ông tỏ ra thích hợp và có nhiều cơ may trở thành giám mục không biết chừng.

Chỉ khổ cho giáo dân thật thà thôi ông ạ.

Có thể nào để tránh phải đụng chạm với sự thật, ông không ra thông cáo được không?

Tôi đủ tư cách trí thức để cho ông biết sự thật mà đáng lẽ không cần phải nhiều lời. Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt không đi chữa bệnh mà đã bị nhà cầm quyền Hà Nội trục xuất ra khỏi Việt Nam ông ạ. Tôi khẳng định như thế. Số phận ông cũng giống như tình cảnh Hồng y Nguyễn Văn Thuận trước đây mà thôi.

Này nhé, theo tin của nuvuongcongly.net ngày 9-5, ông còn vào Vinh chúc mừng Kim khánh giám mục Cao Đình Thuyên, một người cùng đồng hành chia sẻ những nỗi lo toan chung của Giáo Hội Thiên Chúa giáo. Sáng 10-5, ông còn làm lễ tại dòng Mến Thánh giá Xã Đoài. Sau đó ông quay về Đan Viện Xi-Tô Châu Sơn tại Ninh Bình, nơi mà ông đã định gửi tấm thân cho những ngày còn lại của đời ông. Nhưng ngày 12-5 thì vị Tổng giám mục Nguyễn Văn Nhơn đã từ Hà Nội xuống Ninh Bình đề nghị giám mục Ngô Quang Kiệt về Hà Nội để “có việc gấp”.

Và ngay trong đêm 12-5, ông khăn gói quả mướp rời khỏi Việt Nam.

Điều mà ông không mang theo được và ông đã để lại cho giáo dân và mọi người Việt Nam là cái tinh thần Ngô Quang Kiệt.

Điều mà ông mang theo trong đám hành lý cân nặng nhất của ông là 15.000 chữ ký thiết tha mời gọi ông ở lại với đàn chiên. 15.000 chữ ký ấy phải nhân lên 100 lần thành 1.500.000 mới đúng. Kể từ nay, Ngô Quang Kiệt nằm trong số những người lãnh đạo kiệt xuất trong danh sách những người tiền nhiệm như Trịnh Như Khuê, Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Kim Điền, Phao lồ Lê Đắc Trọng và tôi cũng quý mến tất cả các giám mục đã công khai hỗ trợ tổng giám mục Kiệt trong những giai đoạn tranh đấu cho quyền lợi giáo hội và nay trên bước đường luu vong của ông. Đó là các giám mục Kontum, Lạng Sơn, Hải Phòng, Thái Bình, Bắc Ninh như Nguyễn Đức Tuyên đã viết.

Tất cả thủ tục giấy tờ xuất cảnh nhà nước đã lo chu đáo nhanh chóng có thể chỉ nội trong một ngày. Kể cũng buồn cười, có những việc họ làm rất nhanh lại có những việc họ làm chậm như rùa.

Lý do duy nhất người ta trục xuất ông khỏi Việt Nam chỉ vì người ta sợ ông.

Như lời một vị trong Mặt trân tổ quốc tiết lộ, để ông Kiệt nghỉ hưu ở đâu thì ảnh hưởng của ông trên giáo dân vẫn còn đó nên buộc phải cho ông đi ra nước ngoài.

Đây là công đầu tiên trong vai trò tay sai của Tổng giám mục Nguyễn Văn Nhơn. Ông đã làm một cách xuất sắc. Ai đã sai ông vào Ninh Bình để mời gọi giám mục Kiệt phải về Hà Nội gấp? Phải chăng đó là nhiệm vụ của một Tổng giám mục mới?

Ông Nhơn học trên Giáo Hoang Học viện Piô 10 thì hẳn không quên được những sắc chỉ của giáo hoàng Piô 12 vào năm 1948 đối với chế độ cộng sản. Cụ thể là những thư chung của hàng giám mục Việt Nam năm 1952 có đoạn:

“Chủ nghĩa cộng sản bác bỏ tất cả quyền lợi của nhân vị và gia đình. Chủ nghĩa cộng sản xung khắc tuyệt đối với công giáo. Chủ nghĩa cộng sản bác bỏ Thiên Chúa, bác bỏ mọi tôn giáo, bác bỏ thuyết linh hồn hằng sống đến nỗi Đức Thánh Cha đã tuyên bố rằng: không bao giờ có thể vừa theo cộng sản vừa theo công giáo được và người công giáo nào gia nhập đảng cộng sản thì lập tức bị khai trừ khỏi giáo hội.”

Thư chung của giám mục miền Nam vào năm 1960 cũng nhắc lại cái tinh thần ấy.

Cái tinh thần ấy đã có những nạn nhân làm vật hy sinh tế thần ở Hà Nội như các linh mục Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Ngọc Oánh, Phạm Hân Quynh và Nguyễn Văn Thông.

Nay thì tình thế đã đổi khác. Gió đã đổi chiều, người ta nói đến hòa hợp hòa giải? Nhưng hòa giải với ai? Và hòa giải về cái gì?

Thực tế mà nói, công việc của ông Nhơn tại giáo phận Hà Nội sẽ thuận buồm xuôi gió theo tinh thần chủ bảo tớ nghe, răm rắp đâu vào đó bất kể dân theo đạo nghĩ gì, mong muốn gì.

Nhưng cái nỗi khổ cho ông giám mục Nhơn là từ nay nếu gặp giáo dân thì phải cúi mặt xuống. Vừa rồi người ta đã có nhận xét, ông Nhơn đi giữa hai hàng giáo dân mà mặt nhìn thẳng, không vẫy tay chào lại.

Ông làm sao phủ lấp được bóng dáng Ngô Quang Kiệt? Ông làm sao thay thế chỗ trống Ngô Quang Kiệt trong tim mỗi người giáo dân? Ông sẽ trở thành kẻ xa lạ giữa hơn 300.000 ngàn giáo dân Hà Nội dưới quyền ông.

Dám ông trở thành thứ mục tử lạc loài, chăn chiên mà không có chiên để chăn?

Và vì thế, ông giảng ông nghe. Cùng lắm quanh ông vài kẻ theo đóm ăn tàn. Cái đó thì thời nào chả có. Phần tôi sẽ không liên lạc, điện thoại, không chơi với Paul Deslierres, không rủ ông đi ăn Phở, không mời ông ăn chả giò, những món ăn Việt Nam mà ông ưa chuộng nữa vì ông đã không biết dạy học trò.

Tôi cũng đã đọc tất cả những thư từ của giáo dân chia sẻ về sự ra đi của Giám mục Kiệt mà tôi có được. Tôi cũng nhìn và quan sát cái cảnh ngày lễ nhậm chức của giám mục Nguyễn Văn Nhơn. Một cái cảnh mà trong đời tôi chưa hề nhìn thấy cái cảnh đó bao giờ.

Cái cảnh đó là dấu hiệu của sự trưởng thành, của tinh thần dân chủ hay dấu hiệu của sự bất tín nhiệm?

Có hàng triệu người buồn hoặc thất vọng. Có nhiều người xúc động không cầm được nước mắt. Tôi xin được đứng trong danh sách những người ấy mặc dù danh sách cũng được gửi đến, nhưng tôi đã không ghi danh vào đó làm gì. Vì tôi biết trước đó chỉ là một cách cụ thể hóa một biểu lộ hơn là một thực tế đòi hỏi.

Nay Người đã đi rồi. Thế là hết. Hết tất cả.

Nỗi lo sợ chính của tôi là nay danh hiệu Quốc doanh có thể được nâng cấp lên hàng giám mục như trong một bài viết trước. Lm Đỗ Xuân Quế đã viết một bài cảnh báo về nạn giám mục quốc doanh xâm nhập cả vào tổ chức của Vatican.

Nhưng trước mắt, việc thay thế hai giám mục Kiệt và Thuyên bằng giám mục Nhơn và linh mục Nguyễn Thái Hợp làm chúng ta lo ngại.

Ông Nguyễn Thái Hợp được biết giao du với bọn Tứ nhân Bang và Nguyễn Đình Đầu, thường viết bài cho Công giáo và dân tộc. Tôi có một bài viết của ông qua một người bạn trong nước gửi ra là bài Thử nhân diện con người Việt Nam. Bài viết thuộc loại bài bản, khuôn mẫu như có đoạn, “Chúng ta từng làm nên Điện Biên Phủ, mùa xuân đại thắng 1975, vậy mà 30 năm qua hòa bình độc lập ta làm được gì để không hổ thẹn với cha ông?”

Giáo hội quốc doanh thông qua những việc bổ nhiệm mới đây, phải chăng đó là mục tiêu của chính quyền đề ra trong lúc này?

Nguyễn Văn Lục