Saturday, April 17, 2010

TƯỞNG NHỚ - Ngô Minh Hằng


    (Tháng Tư, thắp nén hương lòng, kính dâng những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hoà
    đã anh dũng hy sinh cho chính nghĩa, cho Tổ Quốc Việt Nam)


    TƯỞNG NHỚ

    Lòng tôi, một nén hương, thành kính

    Xin thắp và xin tưởng nhớ Người
    Hỡi những Anh Hùng dân tộc Việt
    Máu xương Anh hiến dựng xây đời

    Vì yêu dân, nước nên Anh nhận
    Trách nhiệm người trai buổi nhiễu nhương
    Tôi cảm ơn Anh, tôi ngưỡng phục
    Tấm lòng son sắt với quê hương!

    Anh đem dũng cảm, đem kinh lược
    Chiến đấu, Anh ngăn bước giặc thù
    Nguy hiểm không sờn, không nhụt chí
    Cho dầu gục ngã giữa âm u ...

    Dakto, An Lộc hay Rừng Sát
    Quảng Trị, Pleime hoặc Hạ Lào
    Anh đã hào hùng trong chiến thắng
    Hào hùng trong cả bước gian lao!

    Hoàng Sa, Bến Hải xuôi Đồng Tháp
    Có dấu chân Anh khắp bốn vùng
    Xương máu Anh trong từng mạch đất
    Trong từng nhịp thở của non sông!

    Hồn Anh hoà với hồn sông núi
    Dẫu chẳng bia xanh, chẳng sử vàng
    Nhưng đã muôn đơì dân tộc Việt
    Nhớ ơn bồi đắp, giữ giang san!

    Trong từng giọt nước, từng thân cỏ
    Phảng phất như Anh đã mỉm cười
    Có tháng Tư nào loang máu đỏ
    Quê buồn như mắt lệ Anh rơi !!!

    Tháng Tư, ôi tháng Tư oan nghiệt
    Ai xé mà tan những mảnh đời
    Những gói poncho không đất phủ
    Những đau buồn muôn kiếp khôn nguôi

    Tháng Tư, ôi tháng Tư đau xót
    Có những người trai chết vội vàng
    Và có những người không sống nhục
    Chọn cho mình cái chết vinh quang!

    Anh hy sinh thế vì dân, nước
    Tôi biết ơn và thương tiếc anh
    Anh, đã Anh Hùng dân tộc Việt
    Cho dù hoang mộ có VÔ DANH !

    Ngô Minh Hằng


Cần bao nhiêu bài học nữa cho "Khúc Ruột Thừa" ? - Nguyễn Thùy Dung



CẦN BAO NHIÊU BÀI HỌC NỮA CHO NHỮNG KẺ “NGU KHỜ”?
LÀM GÌ ĐỂ CHẤM DỨT NỖI ÁM ẢNH CỘNG SẢN KINH HOÀNG ?

Nguyễn Thùy Dung

Câu hỏi được đặt ra là cần bao nhiêu bài học nữa cho những người “thơ ngây” được bè lũ mafia súc sanh trị Ba Đình gọi là “Khúc ruột thân thương ngàn dặm mà cũng là khúc ruột thừa cần cắt bỏ” ???

“Khúc ruột thân thương ngàn dặm” khi Việt gian cộng sản còn có thể triệt để lợi dụng được, và sẽ lập tức biến thành “khúc ruột thừa cần cắt bỏ” khi chanh đã hết nước, vỏ đã hết xài, cần ném vào thùng rác hay “đem cho chó nhai.”

Đối với cộng đồng GỐC VIỆT hải ngoại và trong nước, thì thứ “khúc ruột thừa” hôi hám thối tha nầy luôn luôn cần “đào sâu, rắc vôi bột, chôn kỹ” cho tuyệt nòi giống “ruột thừa thối tha.”

Trong số hơn ba triệu người Việt hải ngoại, trải ra trên 80 quốc gia, chúng ta tạm phân tích sơ lược 4 thành phần như sau:

1. Tuyệt đại đa số là thành phần TỴ NẠN CỘNG SẢN, ghê tởm chế độ tàn bạo SÚC-SANH-TRỊ của bọn Việt gian cộng sản Hán nô mà đành TẠM THỜI rời bỏ quê hương yêu qúy, chấp nhận hy sinh cả tính mạng, bung ra khắp bốn phương trời, nhưng lúc nào lòng cũng hướng về quê Mẹ, mắt lúc nào cũng đau đáu nhìn về Việt Nam, thương cho hơn 80 triệu đồng bào đang sống quằn quại trong vũng lầy cộng sản hôi tanh với bao thảm cảnh, thảm nạn chồng chất từng ngày, đất nước ngàn đời yêu qúy do tổ tiên, cha ông gầy dựng và gìn giữ với biết bao xương trắng máu đào và nước mắt, nay đang bị nuốt dần từng mảng, từng ngày bởi bọn Hán cộng tàn ác do bè lũ Việt gian Hán nô dâng cúng, lũ Việt gian Hán nô phát sinh và nảy nở bắt đầu từ tên qủy vương Hán nô, đại tội đồ dân tộc Nguyễn Sinh Cung dưới cái tên ăn cắp Hồ Chí Minh đem chủ thuyết tàn ác Mác-Lênin về gieo trồng trên quê hương khốn khổ.

2. Một số khác, khoảng nửa triệu người, phần đông là từ vĩ tuyến 17 trở ra miền Bắc, cũng tìm cách trốn chạy cộng sản bằng đủ mọi phương cách khác với phương cách TỴ NẠN CỘNG SẢN, như “xuất khẩu lao nô”, lấy vợ, lấy chồng, du sinh, nghiên cứu sinh , v.v… qua các nước Đông Âu và Nga sinh sống và không muốn quay về. Vài trăm ngàn người, phần đông từ dưới vĩ tuyến 17 vào Miền Nam đến tận mũi đất cuối cùng của quê hương: Cà Mâu, đã tìm qua các nước Á châu: làm dâu Đại Hàn, Đài Loan, Nhật, Thái Lan, Singapore, Philippines, Indosenia, Malaysia, Cambodia và ngay cả Trung cộng qua hiện tượng buôn người, buôn thân xác phụ nữ, trẻ em. Họ rời bỏ chốn địa ngục trên quê hương để bước vào những địa ngục trần gian khác, tàn bạo không kém. Một số khác nữa, xuất khẩu lao nô” đi “ở đợ” (làm đầy tớ, Việt cộng gọi là “Ôsin”) bên các xứ Trung Đông: Iran, Irac, Libanon, Saudi Arabies, v.v…

Những người nầy vẫn còn là thân phận “Việt kiều”: mang quốc tịch Việt cộng, xử dụng thông hành CHXHCNVN (Chẳng Hề Xấu Hổ Chút Nào Vì Ngu,) do Việt cộng cấp, vẫn còn là công dân của cái gọi là CHXHCNVN, sinh sống ở nước ngoài (Nga, Đông Âu và Á châu,) vẫn bị khống chế bởi NHỮNG “Ổ CHUỘT CHÙ” NGOẠI GIAO VIỆT GIAN CỘNG SẢN có tên gọi là “Tòa Đại sứ” hay “Tòa Tổng lãnh sự Việt cộng”.

Vì thế, họ đành im lặng, chỉ lo cho đời sống cá nhân và gia đình, hoàn toàn không dám vọng động một phần bởi tâm thức sợ hãi chế độ gian manh Việt gian cộng sản còn đeo đẳng, phần khác, vì bị nhồi sọ và tiêm nhiểm quá lâu chủ thuyết vô luân cộng sản, không biết gì về lịch sử hào hùng của dân tộc và hoàn toàn không có một chút ý thức gì về quê hương, dân tộc, đất nước (tất nhiên trừ một số biệt lệ.) Đây đích thị là những VIỆT KIỀU (những người mang quốc tịch Việt cộng và Thông hành do Việt cộng cấp,) theo đúng nghĩa đen của danh từ nầy.

Ở đây xin mở dấu ngoặc để nói về danh từ “Việt kiều”: Việt cộng gọi cộng đồng gốc Việt TỰ DO – TỴ NẠN CỘNG SẢN là “Việt kiều” là theo chính sách cô hữu, mập mờ đánh lận con đen, gian manh, bịp bợm, và ngay cả do bản chất ngu dốt của loài quái vật cộng sản (không hiểu danh từ hán-việt “Việt kiều”) theo đó, “Việt” là người VẪN CÒN MANG quốc tịch Việt cộng, công dân Việt cộng, mang thông hành Việt cộng, “kiều” là người nước này TẠM NGỤ CƯ ở một nước khác vì một lý do nào đó, như nhân viên của chế độ trong các cơ cở ngoại giao - ổ chuột chù ngoại giao Việt cộng,- du sinh, thương gia Việt cộng đi giao dịch thương mại trong một thời gian 5, 7 tháng, v.v…

Tóm tắt, bất kỳ người Việt nào CÒN MANG QUỐC TỊCH VIỆT CỘNG, MANG THÔNG HÀNH VIỆT CỘNG, TẠM THỜI NGỤ CƯ Ở NƯỚC KHÁC (ngoài Việt Nam), gọi là NGOẠI TRÚ NHÂN thì mới gọi là Việt kiều. Còn những người GỐC VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN, lúc ở trại tỵ nạn đã khai là “stateless” (vô quốc tịch,) lúc nhập cư vào quốc gia tỵ nạn trở thành “thường trú nhân” của xứ đó (khác với đám Việt kiều nói trên là ngoại trú nhân là công dân Việt cộng tạm ngụ cư).

Sau một thời gian ”làm thường trú nhân” 3 năm (ở Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi – Canada, Australia,) hay 5 năm (Mỹ,) thì được xin nhập tịch trở thành công dân chính thức của quốc gia tỵ nạn, họ là công dân tại quốc gia tỵ nạn có gốc gác VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN, thí dụ Công dân Mỹ GỐC VIỆT, công dân Canada GỐC VIỆT, công dân Úc GỐC VIỆT, v.v… (US citizen Vietnam origin, Candian citizen Vietnam origin, Australian citizen Vietnam origin, etc...), chứ không bao giờ họ là Việt kiều như Việt cộng vẫn gọi một cách ù lì, đần độn, ngu dốt, trơ trẽn, lưu manh và mập mờ, vì Việt cộng hay chế độ Việt gian cộng sản cũng chỉ gồm toàn những CON VẬT MANG MẶT NẠ DA NGƯỜI, chứ chúng không phải là người nên chúng không phân biệt được tiếng người hay ý nghĩa chữ viết của loài người nên không hiểu hay chỉ hiểu một cách lờ mờ, u mê, đần độn cộng với bản chất lưu manh bịp bợm muôn thưở, cố tình mập mờ một cách trơ tráo.

Một số người, ngay cả những người gọi là trí thức, nhà báo không để ý hay thành phần trẻ không hiểu tiếng hán-việt, vẫn lặp lại những từ ngữ Việt cộng thường dùng trong đó có danh từ “Việt kiều” khi nói về cộng đồng người tỵ nạn cộng sản gốc Việt. Việt cộng là loài dã thú không hiểu tiếng người, không đáng trách – Đáng trách chăng là chính chúng ta vì chúng ta lặp lại theo chúng trên các phương tiện truyền thông của ta. Vì vậy, chúng ta nên hết sức quan tâm TRÁNH XỬ DỤNG hay LẶP ĐI LẶP LẠI những từ ngữ sai lầm của Việt cộng ! Xin đóng ngoặc ở đây.

3. Một số nhỏ trong số người nầy là các tên sai nha của chế độ Việt cộng trong các ổ chuột chù ngoại giao, một số cán bộ tình báo Việt gian cộng sản nằm vùng, được lệnh ra ngoại quốc, tìm đến những nơi nào có đông đảo đồng bào TNCS, bọn chúng im hơi lặng tiếng, chờ thời cơ thuận tiện tìm cách len lỏi, chui sâu trèo cao vào các tổ chức của CĐNVTN, móc nối, cấu kết với bọn Việt gian bưng bô cộng sản, để tìm cách lũng đoạn, khống chế, chia rẽ, phá hoại các tổ chức nầy hầu thi hành nghị quyết 36, giúp chế độ Việt gian cộng sản khống chế tập thể, cộng đồng Việt TNCS trên khắp thế giới, giúp chế độ phi nhân cộng sản kéo dài nền thống trị bạo tàn trên quê hương Việt Nam.

4. Ngoài ra, trong tuyệt đại đa số người được mệnh danh là cộng đồng Việt tỵ nạn cộng sản ta thấy rằng chỉ có:

- Một số nhỏ, rất nhỏ trong số những người ra đi trước ngày Miền Nam bị cộng sản Bắc Việt xâm lăng (du học, nhân viên ngoại giao VNCH, thương nhân, v.v…) ;

- Một số nhỏ khác trong những trẻ nhỏ theo cha mẹ ra đi từ lúc còn nhỏ tuổi, chưa có ý thức gì về sự tàn ác của chế độ cộng sản vô luân (như Bryan Đoàn chẳng hạn) ;

- Một số nhỏ khác nữa, ra đi theo dòng người tỵ nạn cộng sản, nhưng không có ý thức gì về chính trị, về lằn ranh Quốc-Cộng, “thấy người chạy thì mình cũng chạy” (như Đinh Viết Tứ, Lê Văn Ninh, Lê Trọng Văn, Phùng Tuệ Châu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Hữu Liêm, Phạm Duy, Nguyễn Khoa Thái Anh, Vũ Đức Vượng, Nguyễn Bắc Chung, Davis Dương, vợ chồng bác sĩ Kiều Quang Chẩn – Quỳnh Kiều, cha con, anh em nhà Lee’s Sandwichs Lê Văn Ba, Lê Văn Chiếu, Lê Văn Hướng, v.v…) ;

- Một số rất nhỏ trong dòng người ra đi sau ngày THÁNG TƯ ĐEN “chưa thuộc bài cộng sản” hay “mắc bệnh lãng trí (tuệ)”, hay một số “xướng ca vô loài” vội quên những tháng ngày khổ nạn, tù tội, dưới chế độ cộng sản bạo tàn và cũng vì tham danh háo lợi, tối mắt vì chút lợi cỏn con.

Những người nầy hoàn toàn thơ ngây, ngu khờ về bản chất vô luân cộng sản, cộng thêm vào sự ham danh háo lợi, tham lam, ngu dốt, tối mắt vì đồng tiền, không phân biệt sạch dơ. Họ sẵn sàng nhắm mắt, bịt miệng, che tai trước hiện tình đau thương của dân tộc đang xẩy ra từng ngày, từng ngày, họ sẵn sàng phù trợ chế độ cộng sản tàn ác vô luân chỉ vì một chút quyền lợi nhỏ bé, một lời khen nịnh của bè lũ dã thú gian manh cộng sản.

Số người nầy bao gồm luôn cả những kẻ gọi là khoa bảng, trí thức nhưng nghèo nàn về ý thức chính trị, “sống riêng một cõi trong tháp ngà", hoặc loại người vô cảm "sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi !” (bác sĩ, giáo sư, luật sư, nhà báo, v.v…) sẵn sàng bán rẻ lương tâm (“Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”), chạy theo cộng sản cho đến khi bị cộng sản “đá đít” vì “chanh vắt hết nước” vẫn còn chưa mở mắt,) mà ta có thể kể một vài tên (nổi tiếng) như Trịnh Vĩnh Bình, Hoàng Ngọc Tiến, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Đình Hoan, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn An Trung, v.v… Riêng anh chàng “gốc chài lưới nông dân vùng Cà Mâu” Trần Văn Trường “Ao cá Tân Trường Khanh” thì đã … thấm thía cuộc đời.

Bác sĩ Phạm Đăng Long Cơ từng chủ trương và kêu gọi mọi người về “giúp” Việt cộng, y hý hửng làm gương trước, về mở bệnh viện kiếm ăn, đến khi bệnh viện bắt đầu có lời, bị Việt cộng gây khó dễ vì lý do “trốn thuế” (một lý do chuẩn bị cướp đoạt tài sản của y, giống lý do nại ra với Trịnh Vĩnh Bình,) y cự nự phản đối, không những cơ sở bệnh viện vẫn bị tịch thu, bản thân vợ chồng y cũng sắp sửa bị nhốt, cho ra “toà Kangaroo” để lãnh án tù, bọn y hết hồn, bỏ của, ôm đầu máu chạy trở về California, im thin thít, câm họng lại, không còn dám nho nhoe mở miệng khoe khoang hay kêu gọi ai về “đầu tư” cho Việt cộng nữa.

Tương tự, một số những người vô danh khác, sau kinh nghiệm máu Việt cộng lần thứ hai, “vào đầu tư ra đầu teo” bị Việt cộng cướp đoạt cho sạt nghiệp, cũng đành quay về “làm lại cuộc đời”, ngậm bồ hòn làm ngọt, mở miệng mắc quai, nói ra sợ “chúng chưởi đồ ngu”, đành ôm đầu máu trở về nơi tỵ nạn, không dám hé miệng.

Ngoại trừ Trịnh Vĩnh Bình còn phương tiện quật ngược lại Việt cộng một “cú đau điếng” hơn một trăm triệu đô la bồi thường tiền ăn cướp tài sản cơ sở thương mại trị giá vài triệu đô la của họ Trịnh tại Việt nam, những kẻ còn lại đang gánh chịu hậu quả “bài học cộng sản lần thứ hai” đau thương và tủi nhục trong sự khinh bĩ của mọi người như Hoàng Ngọc Tiến, Nguyễn Gia Thiều (cả hai tên này vẫn còn nằm trong nhà tù Việt cộng “mút chỉ cà tha, mút mùa lệ thủy”, “gậm một mối ngu đần trong ngục tối, ta đui mù nhìn ngày tháng dần qua !”) Ta cũng không quên thêm tên một vài kẻ “xướng ca vô loài” mất nhà tại “làng Nghệ sĩ Tân Quy Đông” trong vòng 2 tiếng đồng hồ năm 2005. Thế nhưng, vẫn còn vài con nhạn “xướng ca vô loài” là đà, mon men, “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ” nên chưa tởn (phải chi, nếu họ hiểu được là khi họ “thấy” quan tài, thì chính họ là người nằm trong quan tài chứ chẳng có ai khác.)

Dù không có thống kê chính thức, thì số người ngây thơ ngu muội, ham danh háo lợi nầy cũng không nhiều, phải nói là rất nhỏ, hoàn toàn không đáng kể nếu so với tập thể cộng đồng gốc Việt TNCS trên toàn thế giới ; bọn họ, kể cả những người “nổi XÚ DANH” lẫn vô danh, cao tay lắm cũng chỉ chừng vài ngàn tên, chưa bằng 1/1,000 (một phần ngàn hay 0.1% không chấm một phần trăm,) tập thể Việt TNCS trên thế giới, nhưng lại là những tên cam tâm làm tôi mọi, làm lợi cho chế độ Việt gian cộng sản, gây xáo trộn, làm ô danh tập thể Việt TNCS không ít, trong đó Nguyễn Hữu Liêm là kẻ ồn ào bằng những bài báo sáo ngữ “đi qua hàng triết” rỗng tuyếch ngu xuẩn “bị chúng chưởi” nhiều nhất.

Trong số người tạm phân loại một cách sơ lược nói trên, đáng thương, đáng tội, đáng trách (và cũng đáng khinh,) là loại người thứ tư. Đáng thương vì sự ngây thơ lẫn ngu muội vì hình như trời sinh họ chỉ biểu thị một tâm hồn mãi mãi thơ ngây, NGU MUỘI, và tham danh háo lợi, bon chen, háo thắng, ganh tỵ nhỏ nhen một cách quay quắt.

Theo bản tin của đài VOA, trong số nạn nhân mới nhất do cộng sản (và cũng là nạn nhân do sự NGU MUỘI, tối mắt vì đồng tiền của chính mình,) là ba anh em nhà họ Nguyễn (gồm Nam Nguyễn, Kim Nguyễn và An Nguyễn,) chủ nhân công ty Nexus Technologies, đang phải đối diện với một bản án tổng cộng (của cả 3 anh em,) là trên dưới 100 năm tù và 27 triệu đô la tiền phạt về việc làm ăn gian dối và hối lộ Việt cộng, vi phạm đạo luật có tên Foreign Corrupt Practices Act – Luật trừng phạt tội hối lộ cho người nước ngoài – viết tắt là FCPA. “Ký ca ký cóp cho cọp nó xơi !” Vì đâu ?

Chỉ vài lời “nâng bi”, tâng bốc khách sáo (ngoài cửa miệng đầu môi chót lưỡi) của Việt cộng ? Vì cái lợi mà tối mắt ? Vì tham danh háo lợi ? Phải nói cộng lại tất cả những yếu tố trên (và thêm một vài yếu tố phụ khác nữa,) thì mới đúng.

Họ không phải là những kẻ vô học hay thất học, họ không phải là những kẻ quá nghèo khổ không phương tiện sống (mà phải nói trái lại). Vậy thì, chỉ vì những yếu tố trên mà họ không nhớ là họ đang ở Hoa Kỳ (một nơi mà pháp luật rất nghiêm minh), để có thể làm xằng bậy mà tin là không ai biết gì (quả thật là không ai biết gì trừ các cơ quan an ninh, tình báo các loại như CIA, FBI, và các cơ quan thực thi luật pháp), họ không biết (?) Việt cộng là loại người tàn ác, chuyên nghề lừa bịp vắt chanh bỏ vỏ: Việt gian cộng sản sẽ triệt để lợi dụng khi có thể lợi dụng bất kỳ ai mà chúng HOÀN TOÀN KHÔNG MẤT MÁT GÌ ngoại trừ chút nước bọt đầu môi chót lưỡi, và đến khi người mà chúng lừa gạt bịp bợm bị nạn hay không còn “xài” được nữa thì chúng sẵn sàng vất đi còn tệ hơn là quăng một miếng dẻ rách dơ bẩn.

(Ngay cả tên Việt gian Võ Văn Kiệt, cựu “thủ tướng” VGCS, cũng bị một cú “đâm trí mạng”, Việt cộng lật đật làm bộ mang xác chết qua Singapore, tuyên bố là chết tại Singapore, rồi đem trở về lại Việt Nam, âm thầm làm đáng tang, báo chí Việt cộng chỉ đăng tin sơ sài vài hàng trong mục tin “Chó cán xe”, sau khi bọn VGCS thất bại trong vụ bỏ bom tại nhà tên “cựu đầu gấu” Việt gian cộng sản nầy. Lý do: sau khi bước xuống chiếc ghế quyền lực, y mới thấm thía “làm người dân" trong chế độ “xuống hàng chó ngựa”, nho nhoe viết bài phản đối bọn đầu gấu VGCS đương quyền, nên lũ đầu nậu VGCS đương quyền “ngứa mắt” “chơi cho bỏ ghét, chơi cho nhắm tịt mắt luôn ! Thật đáng đời !)

Đã không có chút lợi lộc gì từ bọn côn đồ vô luân Việt cộng, bọn người “ngây thơ” còn HỐI LỘ cho bọn súc sinh Việt cộng và đây là lý do phạm pháp rõ rệt nhất. Chỉ có những kẻ QUÁ tham lam, u tối, đần độn, tham danh háo lợi, mới không nhìn thấy, nghe biết về điều hiển nhiên đó. Và, thế là họ chính là nạn nhân của chính mình chứ không ai khác, kể cả bọn vô luân tàn ác cộng sản. Tối mắt vì đồng tiền mà không nhìn thấy đâu là môi trường mà họ đang sống.

Nếu họ mở công ty buôn bán kỹ thuật cao với các nước mà luật pháp Hoa Kỳ cho phép, nếu họ buôn bán sòng phẳng mà không HỐI LỘ, không gian dối gì về thương vụ, về kế toán, về thuế vụ thì họ tiếp tục giàu có, ngồi mát ăn bát vàng (vì có nhân viên giúp việc,) mà không phải lo gì cả. Và nếu thế, đã không có chuyện. Nếu họ đầu tư tiền bạc và tài năng tại quốc gia nơi họ tỵ nạn ? Nếu họ đầu tư tiền bạc và chất xám tại các quốc gia đệ tam, không dính dáng chút nào đến các nước hay chế độ cộng sản ? Nếu, nếu và nếu … ? Ôi nhiều chữ “nếu” quá thì đâu có nhiều chuyện đau lòng cho người trong cuộc và phiền lòng cho người ngoài cuộc ít nhiều là đồng chủng, đồng bào với họ !

Ôi đáng thương thay mà cũng đáng khinh bĩ thay những kẻ NGU MUỘI (cộng với) lòng tham danh háo lợi “tuyệt vời” ! Cái giá phải trả của những con người “thơ ngây” (đần độn,) dính dấp với Việt gian cộng sản, là họ phải trả cái giá cao ngất trong nỗi đau tận cùng, tuyệt vọng, cô đơn, trong sự lãng quên, lạnh lùng và khinh khi của mọi người mà người bình dân thường nói gọn: “NGU RÁNG CHỊU !” (Quả là chí lý thay, ngu ráng chịu ! Ngu ráng chịu ! “Hay ! Trên cả tuyệt vời !”)

Cần bao nhiêu “tấm gương” nữa cho những kẻ ngây thơ (và tham lam đần độn) này mở mắt ? Hay “never forever” ??? Anh chị ơi, thế giới hiện nay có hơn 6 tỉ người.

Trong khi đó, Việt gian cộng sản, cướp hết đất nhà của dân nghèo, bán biển, bán đảo thì xoay ra bán rừng đầu nguồn, lừa gạt luôn bộ đội của chúng mà bài Xã luận “Buôn dân bán lính !” của tờ Bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 95 (15-03-2010) đã trình bày trong số BTCN nầy. Thật không còn chữ nghĩa nào để diễn tả chính xác lũ dã thú Việt gian cộng sản mà một vị trưởng thượng đã tóm tắt trong câu nói: “LŨ QUÁI VẬT CỘNG SẢN ĂN NHAU VÀ ĂN ĐỒNG LOẠI !”

Tội ác cộng sản vẫn tiếp diễn từng ngày với nạn buôn người, buôn thân xác trẻ em, phụ nữ theo đúng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nhất là phụ nữ, bị lũ dã thú mặt người dày vò thân xác một cách uất ức tội nghiệp như trong bài “Chuyện kể của những phụ nữ VN nạn nhân buôn người (phần 1)” Chúng ta đọc mà còn uất hận căm hờn thay huống hồ là “nạn nhân trong cuộc” ! Cùng mang thân phận phụ nữ, Thùy Dung cũng cảm nhận một nỗi đau vò xé tâm can như chính mình là người trong cuộc ! TỘI ÁC CỘNG SẢN PHẢI BỊ TRỜI TRU ĐẤT DIỆT ! Nỗi uất hận của người dân quá lớn chỉ chực chờ trào dâng như cơn sóng thần ! Nếu một ngày nào đó mà chúng hết thời thì … (Kinh hoàng biết bao khi tưởng tượng ra “dòng sông máu” của bọn tội đồ dân tộc “phải trả” cho người bị trị trên quê hương nhân một ngày “đẹp trời” nào đó ?!)

Thương thay người dân dưới chế độ cộng sản, bộ đội cũng như dân thường, vẫn tiếp tục là nạn nhân vô tội cho chúng bốc lột “không chừa cái khố !” Hết hy sinh thân mạng cho chúng lợi dụng, may mắn mà không “được tổ quốc ghi công” thì cũng tiếp tục là nạn nhân trong giấc mơ “xuất khẩu lao động sang Nam Hàn làm việc !” mà bài viết “Bọn đầu nậu Bộ Đội Cộng Sản Lừa Đảo Lính Bộ Đội cộng sản xuất khẩu đi lao động tại Nam Hàn !!!” đã trình bày thật sơ lược.

Hơn 3 triệu người Việt hải ngoại có cùng giấc mơ với hơn 80 triệu nạn nhân cộng sản là một nền “DÂN CHỦ, TỰ DO, HÒA BÌNH THỊNH VƯỢNG CHO QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM”. Họ cũng như chúng ta biết rằng không chỉ mơ suông mà thành sự thật nếu không hành động. Nhưng hành động cách nào đây ?

Là con người, ai cũng ham sống sợ chết. Nhưng sống trong nỗi nhục nhằn khốn khổ nhiều khi còn tệ hơn là chết. Điều băn khoăn chính đáng là hành động như thế nào đây cho có hiệu quả ? Công khai hay âm thầm ? Mỗi phương cách đều có những điều lợi và hại mà toàn là những cái hại chết người.

Nhẫn nhịn sống thì giống như con vật vào lò mỗ, “đi vào hư vô” một cách âm thầm. Còn cương quyết đứng lên tìm QUYỀN SỐNG TỐI THIỂU cho bản thân, gia đình, dân tộc thì chọn phản ứng như thế nào ? Phản ứng quyết liệt ? Công khai ? Bạo động ? Bất bạo động ?

Nếu muốn cuộc đời có thể nhìn thấy ánh sáng le lói cuối đường hầm, không cho chính mình thì cũng là tương lai con cháu thì bắt buộc phải chọn một đường lối, một phương cách hành động thích hợp với mình nhất !. Cách nào ? Bài viết “Đấu tranh dân chủ: nên công khai hay âm thầm?” của tác giả Nguyễn Chính Kết, thành viên Ban Đại Diện Lâm Thời Khối 8406”, và có thể nói là Đại diện duy nhất của khối nầy ở hải ngoại, đã trình bày một vài gợi ý hữu ích về niềm băn khoăn chính đáng của người dân trong nước và cả người hải ngoại: người dân trong nước phải là nhân tố chính kết hợp với khối người Việt hải ngoại là hậu phương vững mạnh, tích cực hỗ trợ. Bài viết đã đưa ra vài điểm cần được chú ý nghiên cứu.

Trong khi đó, các nhà dân chủ cựu tù cộng sản như Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, lãnh tụ tôn giáo đang bị “trường kỳ quản chế bao vây” như ngài Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, người tù nhân lương tâm tạm ngưng thi hành án, … vẫn tiếp tục bị lũ côn đồ cộng sản quấy nhiểu và họ vẫn tiếp tục lên tiếng mạnh mẽ, không e ngại, không sờn lòng. Dòng sống dân tộc vẫn tiếp tục chảy ngày càng càng mạnh cho đến lúc khai thông.

“Hết cơn bĩ cực tới hồi thới lai !” Tổ quốc ơi ! Bao giờ hết bĩ cực ? Bao giờ đặng thới lai ???

Hình ảnh TRẠI SÚC VẬT vẫn còn là nỗi ám ảnh trong giấc ngủ của mỗi chúng ta, của mỗi con người Việt Nam, ám ảnh khôn nguôi. Ám ảnh chỉ giảm bớt khi chúng ta bắt tay hành động, bất cứ hành động gì, bất kể lớn nhỏ, miễn là cùng nhắm đến mục tiêu chung là CHẤM DỨT NỖI ÁM ẢNH CỘNG SẢN KINH HOÀNG cho mỗi người, mỗi dân tộc và cho nhân loại. Xin đừng nghĩ là quá sức, hãy làm bất kỳ điều gì trong khả năng cho phép của mỗi chúng ta. Có đi có đến, có làm có kết quả. Đừng chờ đợi, đừng mơ suông ! “Dream comes true” thì phải hành động (tùy khả năng, hoàn cảnh mà hành động). Bất động, trông chờ, ỷ lại chỉ là TÂM THỨC CỦA KẺ NÔ LỆ !

Bao giờ thì hình ảnh TRẠI SÚC VẬT trên đất nước Việt Nam sẽ biến mất ? bao giờ thì hình ảnh TRẠI SÚC VẬT của 5 nước cộng sản trên thế giới biến mất ? Với Việt Nam, câu trả lời đến từ mỗi chúng ta trong và ngoài nước. Tuy nhiên, câu hỏi thứ hai nằm quá tầm với của người Việt chúng ta mà phải đến từ mọi con dân mỗi nước ở nội địa và trên toàn thế giới.

Niềm hy vọng của chúng ta sẽ đến khi nào mỗi con dân của từng nước biết đáp ứng đòi hỏi chung và đòi hỏi riêng cho từng hoàn cảnh của con người chúng ta và chung cho nhân loại để chấm dứt một hiểm họa kéo dài đã quá lâu.

Nguyễn Thùy Dung
Source: http://www.bacaytruc.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5583&Itemid=37


Friday, April 16, 2010

Phê bình LM Nguyễn Văn Lý - Ngô Văn Hiếu

Ngô Văn Hiếu

Đọc bài phỏng vấn LM Nguyễn Văn Lý trên đài BBC ngày 16/3/2010, một ngày sau khi ông được tạm thả về nhà trị bịnh, chúng tôi thấy cần phải góp ý xây dựng.

Trước hết, quyền tự do ngôn luận của LM Lý, dù sai, phải được tôn trọng; ông đang đau yếu và thiếu thông tin. Người ta có thể vội thấy các quan điểm này có chút tích cực như cần có lãnh đạo tài đức, chủ thuyết ưu việt, dân chủ ổn định, và tổ chức kiện toàn.

Tuy vậy, những quan điểm này cần được hỏi lại cho sáng tỏ. Là quan điểm cá nhân hay của các tổ chức chính trị của ông? Ông có bị đe dọa hay tâm trí bất thường? Có phù hợp với chủ trương trước đây của ông? Phê bình ông là xây dựng hay phá hoại?

Có vài điều ta không đủ tin tức để trả lời. Nhưng chúng ta phải tin rằng phê bình chính trị là cần thiết cho việc đấu tranh chính trị. Nếu vì nể nang khỏa lấp điều sai của ông, ta khó mong cộng sản vạch ra các sai lầm của lãnh đạo họ.

Phân tích ý kiến

Linh mục Lý nói: “... công việc hiện nay phải được hướng dẫn bởi một lãnh tụ tài đức vẹn toàn”.

Theo tôi, việc xây dựng tự do dân chủ là đại cuộc của toàn dân, không thể dựa vào "sự hướng dẫn của một lãnh tụ tài đức vẹn toàn" như thời xưa được. Hơn nữa, khó có thể có người vẹn toàn; trong lịch sử, chưa có ai đáng xem mẫu mực như vậy. Cho nên, thật là lạc hậu khi cố công "xây dựng lãnh tụ" và "ỷ lại vào lãnh tụ".

Ông trả lời lời BBC rằng: “Phải có một học thuyết đủ sức thay thế chủ nghĩa Marx - Lenin, có đường hướng sát thực tế để … làm cho Việt Nam ổn định hơn Indonesia, Thái Lan, Philippines”.

Việc ông không nêu ra tên chủ thuyết nào hàm nghĩa là các học thuyết đã có, kể cả "tự do dân chủ", không đủ sức thay thế Mac-Le. Nhưng, sự thật là chủ trương tự do dân chủ đã thắng lợi ở Nga và Đông Âu; và dân ta nên vững tin vào chủ trương này để xây dựng một nền tự do dân chủ thật sự.

Linh mục Lý nói: “Nếu thay đổi mà mất ổn định, tình hình xấu hơn cả Thái Lan, Indonesia, Philippines, thì thà cứ để yên cho Đảng Cộng sản lãnh đạo”.

Vì dân chủ, dân Phi lật đổ TT Marcos năm 1986, dân Thái xuống đường chống quân phiệt năm 1992, và dân Nam Dương hạ bệ TT Suharto năm 1998. Hiện nay, dân 3 nước này đã phát triển xã hội dân sự như đảng phái đối lập, bầu cử dân chủ, báo chí độc lập, và biểu tình tự do. Thỉnh thoảng có nổ bom ở Bali (Nam Dương, 2002) hay ám sát ở Maguindanao (Phi, 11/09) là do khủng bố, không là phó sản của dân chủ. Các xáo trộn xã hội giữa phe áo vàng và áo đỏ ở Bangkok gần đây cũng là nỗ lực hoàn thiện nền dân chủ ở Thái.

CSVN có thể cho rằng các nước nêu trên là "bất ổn" khi thấy dân biểu tình, làm báo chỉ trích nhà nước và lập đảng để tranh quyền; nhưng dân ở các nước đó đang hưởng tự do dân chủ, nỗ lực "ổn định” quốc gia và đòi chính quyền tôn trọng họ.

Thật ra, căn nguyên bất ổn thường do “chính sách vừa ăn cướp vừa la làng” của đảng CSVN. Khi bị hà hiếp, dân chúng khiếu kiện hay biểu tình; thay vì bồi thường, tránh tái phạm và trừng trị kẻ lạm quyền thì họ lại đàn áp dân, gán tội gây rối, biến nạn nhân thành tội phạm. Vậy, muốn ổn định thật sự, phải có chính thể dân chủ.

Linh mục Lý: “Muốn để Việt Nam huy hoàng hơn, thăng tiến hơn, đạo đức hơn, có nền tảng vững chắc hơn thì tổ chức ấy phải hội đủ nhiều điều kiện lắm”.

Làm sao ta có thể nhất thời kiện toàn tổ chức chính trị khi nước ta đang bị thống trị kiểu “đập tan từ trứng nước các mầm mống phản động”? Muốn được vậy, dân ta phải vừa đấu tranh vừa kiện toàn tổ chức; nếu ngược lại tiến trình này, đó là “đặt cái cày trước con trâu”.

Bốn điều sai lầm

Qua các phân tích trên, LM Lý đã có bốn điều sai lầm căn bản như ỷ lại vào lãnh tụ tài đức vẹn toàn, viễn vông đi tìm một chủ thuyết ưu việt, nhầm lẫn giữa dân chủ và hỗn loạn, và thiếu thực tế khi muốn tổ chức kiện toàn giữa hiện tình đất nước.

Các quan điểm nêu trên có thể bị CSVN dùng làm luận điệu biện bạch để kéo dài nền độc tài đảng trị như sau. Ví dụ họ nói Hồ Chí Minh là một lãnh tụ tài đức vẹn toàn”, đã chết mà "vẫn sống mãi trong sự nghiệp” của dân ta. Hay chủ nghĩa Mac-Lê là ưu việt vì từng chống Pháp (1954), Mỹ (1975), Khmer Đỏ (1979), Trung Quốc (1979), đưa Việt Nam vào Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.

Đó là chưa kể cảnh máu lửa ở Nam Tư (Kosovo, 1999), Nam Dương (Jarkata, 1998), Nam Hàn (Kwangju, 1980) được dùng làm con ngáo ộp dọa dân về viễn cảnh "tự do dân chủ hỗn loạn".

Họ cũng có thể nói "Đảng CSVN có nhiều điều kiện như đảng viên đông, tổ chức chặt chẽ, và giàu kinh nghiệm."

Điều đáng nói là các quan niệm này cũng ít nhiều phù hợp với suy nghĩ của nhiều người, kể cả trong giới tự do dân chủ.

Chúng ta nên biết rằng sức mạnh chính là ý thức thấu đáo và tin tưởng sắt đá vào giá trị lý tưởng tự do dân chủ. Đại cuộc đấu tranh không thể dựa vào người lãnh đạo tài đức, mà phải dựa vào chủ trương và sách lược. Ban lãnh đạo chỉ là người chấp hành và chịu tránh nhiệm trước tập thể.

Tóm lại, chúng ta không được nhầm lẫn tự do dân chủ với sự hỗn loạn do dân biểu tình ôn hòa bị đàn áp. Và, cũng không thể xem xã hội ổn định thật sự vì có cường quyền kềm kẹp. Một khi nghĩ rằng thà bị cộng sản độc tài còn hơn là có dân chủ mà hỗn loạn như Thái, Phi và Nam Dương nghĩa là chưa thực sự có niềm tin vào sự ưu việt của dân chủ tự do, và như vậy làm hạn chế khả năng đấu tranh cho tự do dân chủ!

Ngô Văn Hiếu
Source: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2010/04/100413_phebinh_lmnguyenvanly.shtml

Một bà mẹ vất vả ngược xuôi - Ngọc Thủy




Ngọc Thủy

Vào một buổi trưa trong dịp một số các vị cựu quân nhân Biệt Kích ở Bắc Cali tổ chức buổi họp mặt cách đây khoảng bốn năm – không nhớ đó có phải là buổi hội ngộ hằng năm không – tôi được mời đến trong một không khí ấm áp, đậm đà tình nghĩa Huynh Đệ Chi Binh giữa những người từng một thời vào sinh ra tử bên nhau. Sau khi được anh chị Trần Hoàng giới thiệu với những người chung bàn và thật bất ngờ vì đó là điều hân hạnh đối với tôi khi được biết mình đang ngồi bên cạnh bà quả phụ cố Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, là một trong những vị Tướng đã tuẫn tiết để giữ tròn sĩ khí của một Quân Nhân khi miền Nam Cộng Hòa vừa rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt trong ngày 30 tháng Tư năm 1975. Qua vài câu xã giao, tôi và bà nhanh chóng đi vào những tâm tình cởi mở. Với vóc người khá cao lớn, giọng nói mạnh mẽ cùng tiếng cười sang sảng, cho tôi thấy đó là một vị nữ lưu trực tính và quả cảm. Khi ấy, dù đã ngoại lục tuần, bà Phạm văn Phú vẫn giữ được sự duyên dáng và nét tinh anh qua đôi mắt sáng, nụ cười tươi tắn với lối nói chuyện bộc trực trẻ trung.

Hôm ấy, tuy đang hạnh phúc trước cảm tình trân quý nồng ấm của mọi người hiện diện dành cho cố T/T Phạm Văn Phú và bà, nhưng có lúc tôi thấy đôi mắt bà ngấn lệ. Giòng nước mắt lăn chậm ấy như cũng bay vào mắt tôi khi giọng bà tự dưng khàn nhỏ lại bên tai: “Cô Ngọc Thủy cũng là người kẹt lại với biến cố ấy thì chắc cũng thấu hiểu được nỗi khổ đau cùng tận đến thế nào rồi. Cùng một lúc, tôi và các con chịu hai cái tang lớn nhất trong cuộc đời, mất miền Nam, mất chồng mất cha, xem như mất tất cả rồi, lại trong lúc Sàigòn của chúng ta đang kinh hoàng đến hỗn lọan như thế. Mọi người phải tự lo lấy thân mình còn chưa xong còn lo được đến chuyện của ai. Cùng tám đứa con mồ côi trước mắt chưa biết phải xoay sở ra sao mà sống mà nuôi con, nhưng trước hết là phải lo cho ông Phú tôi được chôn cất tử tế chứ. Thế là phải nén chặt lại tất cả sự khổ đau để cố lo tang lễ cho ông ấy được đàng hoàng. Dù đang không, ông Phú tôi đành dứt áo bỏ lại tôi cùng tám đứa con nbỏ bơ vơ, nhưng việc ông làm là đúng khi thế thời như thế. Việc ông làm cho đất nước như vậy, tôi nào đâu dám trách. May mà bên cạnh tôi lúc ấy cũng có vài người thân thiết có nghĩa tình bên cạnh giúp đỡ phần nào đấy cô”.

Buổi gặp gỡ lần đầu đã để lại cho tôi sự thấm thía xót xa về tất cả những mất mát của mọi hoàn cảnh nằm trong sự tan vỡ của quê hương vào tháng tư năm 1975, niềm quý mến về người phụ nữ đã một mình chống đỡ với bao phong ba bão táp xẩy đến dồn dập trước và ngay sau biến cố trọng đại tang thương ấy. Lòng tôi thầm nhủ lúc chia tay là sẽ điện thoại thăm bà luôn để mong bà có thể thêm chút niềm vui trong thời gian đầu mới vừa rời nơi cư ngụ quen thuộc ở Nam Cali để lên vùng nắng ấm San Jose với các con. Thế mà có khi cả hàng năm mới có dịp gọi phôn thăm hỏi được một lần, dù ngẫu nhiên qua vài lần thăm hỏi đó tôi cũng biết thêm là nhà tôi và nhà bà cùng ở vùng North Valley, cách nhau chỉ độ mấy khoảng đường dài. Nỗi đau tâm sự của bà kể lại trong câu chuyện hàn huyên vẫn lởn vởn trong trí nhớ tôi, kèm thêm biết bao hồi ức đau buồn khác đã xẩy đến cho tất cả mọi người trong giai đoạn tối đen của đất nước và cuộc sống lúc ấy.

Tình hình nghiêm trọng cho thấy là phiên họp ngày 11 /3/75 tại Dinh Độc Lập, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu còn muốn giữ lại thị xã Ban Mê Thuột nhưng tới phiên họp khẩn báo ngày 14/3/75 tại Cam Ranh, tức chỉ ba ngày sau, Tổng Thống cùng Bộ Tổng Tham Mưu đã ra quyết định cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú thi hành kế hoạch rút quân. Cuộc di tản diễn ra khá thuận lợi trong hai ba ngày đầu vì bất ngờ, CSBV không biết để đánh chận đường. Con đường duy nhất để tháo quân lúc đó là liên tỉnh lộ 7B từ Phú Bổn nối liền với các tỉnh lân cận. Trên đoạn đường này về đến Tuy Hòa và Phan Rang, Phan Thiết đã trở thành bờ vực từ lộ dưới làn mưa pháo của Cộng quân ráo riết nhắm vào đoàn người di tản gồm nhiều binh lính thuộc các lực lượng, sư đoàn của Quân đoàn II và gia đình binh sĩ cùng mấy trăm ngàn thường dân từ các tỉnh nhập vào.

Dù phải thừa hành theo lệnh tối cao nhưng sự thất bại của Quân Đoàn II cũng là phần trách nhiệm của Tướng Phú nên không ai hiểu nỗi đau đớn xót xa nào bằng của ông trong lúc ấy chính là người vợ luôn sát cánh cùng ông trong mọi hoàn cảnh khốn khó hoặc vui buồn từ trước giờ. Bà đã hết lòng an ủi ông, nhưng ông vẫn không thể nguôi ngoai nỗi khổ đau to lớn đó khi nghĩ đến cái chết oan khiên tức tưởi của nhiều sinh mạng chứ không riêng gì sự mất mát những vùng đất thân yêu máu thịt của miền Nam VN, đến mức mang tâm bệnh não nề. Buổi sáng ngày 29 tháng Tư, trời Sàigòn đã u ám mây đen. Tình hình miền Nam sắp mất gây thành nỗi kinh hoàng cho mọi người. Họ phải thoát chạy khỏi Cộng sản lần nữa bằng mọi cách, mọi phương tiện tìm được.

Giữa giòng người ấy, bà Phạm Văn Phú đang mang bẩy người con (người con trai lớn mười tám tuổi vừa được xuất ngoại du học) ra phi trường. Bà nóng lòng nghĩ đến lời ông buổi sáng dục giã bà hãy mang các con đi trước, ông sẽ cố gắng thu xếp mọi việc rồi sẽ gặp nhau sau. Bà còn nhớ lời bà nức nở khi tạm chia tay: “Ông nhớ đừng làm chuyện gì nguy hại đến tính mệnh. Tôi không đủ sức nuôi nổi tám đứa con thơ một mình đâu”. Ông không trả lời, chỉ xiết chặt tay bà như ngầm bảo, không đâu, nhưng ánh mắt của ông nhìn bà lúc ấy, sao thương yêu mà thê thiết quá. Rồi ông đẩy nhẹ lưng bà, khe khẻ nhắc: “Em và các con đi nhanh lên kẻo trễ”. Bà có ngờ đâu, đó là cái chạm tay lần cuối.

Nhớ lại những cử chỉ khác thường của ông lúc đó, bà bỗng thấy nao nao và lòng dạ như có ai đốt lửa. Bà ngập ngừng giữa sân bay, chưa nỡ rời xa quê mẹ lẫn người chồng thân yêu còn ở lại, dù đang được người bạn Hoa Kỳ thúc hối lên máy bay gần cất cánh. Vừa lúc đó bà nghe người thân tín chạy vội tới báo tin: Tướng Phú vừa uống thuốc độc tự tử, đang cấp cứu ở nhà thương Grall. Không cần suy nghĩ gì nữa, bà tức tốc đem các con trở về hết. Vừa thấy bà và các con vào thăm, Tướng Phú lộ vẻ đau đớn trong ánh mắt, bởi lúc đó ông đã không cử động hoặc nói năng gì được nữa, ông đang trong tình trạng hấp hối bởi độc dược chưa làm ông chết ngay được. Và ông đã vĩnh viễn ra đi vào trưa ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Hình ảnh mới hôm nào của ngày Tết mùa xuân 1975, hai ông bà Phạm Văn Phú chụp cùng các con trong niềm vui hạnh phúc gia đình tràn đầy, có ngờ đâu vài tháng sau, hình ảnh tang thương một góa phụ cùng đàn con dại, bé nhất mới lên năm, lại quấn khăn tang bên cạnh quan tài người chồng, người cha, không tiếng súng tiễn đưa, không lá quốc kỳ phủ mộ. Chỉ có một nỗi buồn đau lớn lao chung gộp lại: niềm đau vận hạn tang thương của đất nước lẫn người thân yêu đã vĩnh viễn ra đi.

Thân cò lặn lội nuôi con từ đó, một người phụ nữ goá chồng với tám đứa con thơ lúc ấy chỉ mới vừa ba mươi chín tuổi. Thương con, thương chồng bà ở vậy, chắt chiu nuôi con trong bủa vây khốn khó của buổi giao thời dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Bao ngày tháng qua đi mang theo bao giòng nước mắt tủi cực đắng cay của người mẹ yếu ớt che chở nuôi dạy đàn con thơ. Căn nhà đang cư ngụ trên đường Gia Long, đối diện nhà thương Grall ngay sau ngày 30-04-75 đã bị những cán bộ miền Bắc tràn vào tiếp thu. Bà Phạm Văn Phú gạt nước mắt xa lìa nơi chốn ấm êm hạnh phúc của những ngày tháng qua một cách bàng hoàng tức tưởi, vội vã tìm thuê ngay một căn nhà nhỏ khác để tạm ổn định cuộc sống mới, rồi bương chải lo cho các con – mà đứa lớn nhất chỉ mới mười lăm mười sáu và bé nhất năm tuổi, khi ấy giống như chú gà con bước đi chưa vững đã phải bám theo chân mẹ và đàn anh chị lội qua cánh đồng lầy cuộc sống không nhìn thấy tương lai. Và người phụ nữ ấy giống như trăm ngàn người phụ nữ khác sau cuộc đổi đời cay đắng, không bị mất chồng trong biến cố tang thương thì cũng phải chịu cảnh thân cò lặn lội nuôi con vì chồng, cha đã bị ở trong trại tù “cải tạo” xa xôi mờ mịt, không biết khi nào mới có ngày trở về.

Bà Phú đã ngược xuôi khắp ngả đường “chợ trời” để mua bán chiu chắt từng đồng cắt, độn cháo rau khoai sắn qua ngày cho các con thơ. Bà cũng quá quen thuộc với con đường xe lửa chạy hàng trên tuyến đường Sàigòn, Phan Thiết, Nha Trang. Cảnh mắt nhắm mắt mở ngủ vội vàng trên toa, cảnh xô vai té ngả rồi gượng đứng lên để cố chen nhau mua hàng bán họ kiếm chút đồng lãi mua gạo cho con, thật ra có thấm gì với sự khổ đau trong tâm hồn và bao sống cảnh nghiệt ngả khác mà gia đình bà và của biết bao người phải hứng chịu từ ngày miền Nam đổ vỡ tan hoang.

Chịu đựng gần mười tám năm với cuộc sống khó khăn ở ngay chính quê hương mình, mỗi ngày thêm mệt mõi, buồn phiền khi một số bạn bè người thân còn kẹt lại cũng lần lượt ra đi như ba người con trai bà cũng đã vượt biển và tới được bến bờ tự do từ mấy năm trước. Đang lúc chới với nhất thì bà may mắn nhận được giấy xuất cảnh từ sự bảo lãnh người con trai trưởng bên Hoa Kỳ.

Ngày Mother’s Day năm nay, bà quả phụ Phạm Văn Phú đã ngoài bẩy mươi. Hạnh phúc của bà là các con, năm trai và ba gái, giờ đây đều đã trưởng thành và rất hiếu thảo, thương kính mẹ. Những lúc cùng các con với các buổi tiệc thịnh soạn do các con chúc mừng Mẹ, đặc biệt là ngày lễ Mẹ hôm nay thì bà lại nhớ những ngày cùng cực đói khổ trong cuộc sống cam go đã trải qua. Bà rơi nước mắt ngậm ngùi nhưng cũng rất hãnh diện với sức mạnh của lòng mẹ đã giúp bà vượt qua tất cả. Vì các con và cho các con.

Ngọc Thủy
Source: http://www.viettribune.com/vt/index.php?id=985