Friday, April 2, 2010

Tổ quốc trước nạn bành trướng Đại Hán - TT Thích Viên Định

TT Thích Viên Định

Trách nhiệm của chính quyền là phải bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ cho tổ quốc và bảo đảm an ninh cho người dân. Đó là một trách nhiệm rất nặng nề nên người lãnh đạo chính quyền phải luôn thận trọng, lưu tâm và đặt lên hàng đầu. Một nhận định sai lầm của vua, của người lãnh đạo, nhẹ thì mất chức, mất quyền, nặng thì mất cả giang sơn, dân tộc. Người xưa thường nói, “Họa tùng khẩu xuất, bệnh tùng khẩu nhập”. Bệnh do miệng ăn nhiều mà vào, họa cũng do lời nói không cẩn thận nơi miệng mà ra. Đó là lời răn cho người bình thường. Còn, “Quân bất hư ngôn” là lời răn cho vua, cho người lãnh đạo. Làm vua, làm lãnh đạo một nước, không được nói đùa, không được hứa dối để lấy lòng. Người nắm giữ vận mệnh quốc gia cần phải cẩn thận đề phòng từng lời nói, từng việc làm trong sự hứa hẹn, kết giao. Nếu không, rất dễ mắc sai lầm, lâm vào thế kẹt, làm cho đất nước và dân tộc gặp nhiều tai họa không lường.

Hãy xem, toàn bộ khối Cộng sản Đông Âu và Liên Xô đồng loạt tan rã, điều đó chứng minh rằng, chủ thuyết Mác-Lê, vô sản, vô thần, vô gia đình, vô tổ quốc là một chủ thuyết sai lầm và không tưởng. Chủ thuyết Mác-Lênin đã gây tai họa và làm chết cả trăm triệu người trên thế giới. Chủ thuyết này chỉ còn được sử dụng như một công cụ để xâm lăng của các nước Cộng sản đàn anh và các Nhà cầm quyền độc tài toàn trị.

Năm 2006, Hội đồng châu Âu đă ra Nghị Quyết 1481, tuyęn bố rằng, Chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội hiện thực do các đảng CS ở Đông âu và Liên Xô chủ trương từ 1945 đến 1991 là phi nhân tính, là thảm hoạ dân tộc và tội ác chống nhân loại.

Với theo chủ thuyết sai lầm nên các nước Liên Xô và Đông Âu tự tan rã. Các nước Cộng sản còn sót lại, tuy vẫn còn hình thức Xã Hội Chủ Nghĩa, nhưng không còn theo đường lối vô sản nữa mà quay lưng lại, gây chiến tranh để tranh giành lãnh thổ và quyền lợi của nhau. Biên giới các nước XHCN “anh em”, nay đã trở thành chiến trường. Năm 1979 ở biên giới Bắc Việt và năm 1988 ở quần đảo Trường sa của Việt Nam … đã xảy ra những cuộc giao tranh đẫm máu giữa Trung cộng và Việt Nam. Gần 100 ngàn binh lính của cả hai bên đã bị giết hại trong những trận chiến ác liệt này.

Đối xử với nhau tàn tệ, hận thù như vậy, nhưng Nhà cầm quyền Việt Nam, dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản, vẫn tiếp tục cam kết, hứa hẹn, dựa vào đàn anh Trung Cộng, tôn thờ chủ thuyết Mác-Lênin “vô tổ quốc” để bảo vệ Đảng mà cũng là bảo vệ quyền lợi phe nhóm riêng tư. Vì vậy, khi Trung cộng lấn chiếm biên giới, biển đảo của nước ta, Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã không dám lên tiếng phản đối một cách mạnh mẽ. Năm 1974, khi Trung cộng đánh chiếm Hoàng sa, Cộng sản Bắc Việt đã cho rằng, “Việt Nam hay Trung quốc, đều là Xã Hội Chủ Nghĩa anh em, nên ai kiểm soát Hoàng sa cũng được” như hai câu thơ của Tố Hữu: “Bên đây biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là anh em”

Năm 1979, Trung cộng lại đánh chiếm biên giới Bắc Việt, rồi năm 1988, tiếp tục đánh chiếm quần đảo Trường sa tận phía Nam tổ quốc, vậy mà Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, hình như đã quên, hàng năm không thấy nhắc nhở hay tổ chức kỷ niệm, tuyên dương những chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong những trận chiến vệ quốc vĩ đại này.

Đã cãi nhau, đánh nhau, cướp đất, cướp biển của nhau như vậy thì cũng là “đồng chí”, chẳng lẽ là “anh em”. Vì vậy, theo nhận định của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thì, mối lięn hệ 16 chữ Vàng: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và 4 Tốt: “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” giữa 2 đảng Cộng sản Việt-Trung chỉ là những gông cùm, xiềng xích đối với toàn thể dân tộc Việt Nam”. (trích Thông Bạch Tổng kết Phật sự năm 2009 của Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN)

Thế nhưng Nhà cầm quyền Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản, theo chủ thuyết Mác-Lê, “vô tổ quốc”, đã hứa hẹn, cam kết, những điều bí mật với đàn anh Cộng sản Trung quốc, nên nay lâm vào thế kẹt, không thể còn làm găng được nữa. Vì vậy, Nhà cầm quyền Cộng sản chỉ còn cách nói qua loa, làm lấy lệ, để giảm áp lực việc chống xâm lăng, bảo vệ tổ quốc của nhân dân Việt Nam mà thôi.

Gần đây đã xảy ra những chuyện khó tin, nhưng lại có thật. Công an Việt Nam đã làm chuyện trái ngược, đã ra mặt ngăn cấm, đe doạ sinh viên, học sinh và nhân dân Việt Nam đi biểu tình chống Trung Cộng xâm lăng. Nhiều người còn bị bỏ tù vì cái tội biểu tình chống ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc. Hơn 4 ngàn năm mới có chuyện ngược đời khó tin này.

Thực trạng đất nước Việt Nam đang bị xâm lăng đã rất rõ ràng: “Trung quốc đã xâm lăng Việt Nam toàn diện và khắp nơi, từ lãnh thổ phía Bắc, sang Tây nguyên, xuống các hải đảo Hoàng sa, Trường sa ở biển Đông; từ tư tưởng, văn hoá, chính trị, đến kinh tế. Hoạ mất nước đang đến từng ngày, từng giờ” (Trích lời Thông Bạch của GHPGVNTN kêu gọi ủng hộ việc “không dùng hàng Trung Quốc” của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ) Cứ xem biên giới Việt Nam thì rõ. Dân Tàu tự do ra vào, coi Việt Nam như một tỉnh của Tàu. Các nhà kinh doanh Trung cộng, nay trúng thầu nơi này, mai trúng thầu nơi khác. Các khu công nghiệp, Hãng xưởng của Trung Cộng tiếp tục mọc lên như nấm trên khắp toàn quốc. Nguy nhất là Trung cộng âm mưu khai thác Bau-xit ở Tây nguyên, nơi địa thế huyết mạch, là xương sống của Việt Nam và nóc nhà của Đông Dương. Mới đây lại nghe tin đã có hơn mười (10) tỉnh cho Tàu thuê đất đầu nguồn lâu đến 50 năm!. Sau 50 năm nữa, các công nhân Tàu đã có cháu nội cháu ngoại đầy nhà, không biết làm cách nào để giải quyết vấn đề nan giải, tế nhị, dây mơ rễ má này được ? Vậy là sẽ có thêm những khu vực, lãnh thổ dành riêng cho người Tàu, giống như khu Chợ Lớn !

Đảo Hoàng sa đã mất hoàn toàn, Trường sa cũng mất gần hết. Tàu “lạ” của Trung Cộng ra vào hải phận Việt Nam như cơm bữa, lại còn ngang nhiên ra lệnh cấm đánh cá, bắt ép, cướp bóc tài sản, ghe thuyền, bắt giam cả ngư dân Việt Nam để đi tiền chuộc, ngay cả khi ngư dân vào đảo Hoàng sa của Việt Nam để tránh bão. Những hành động đàn áp, đoạ đày người dân như thời 1000 năm Bắc thuộc đang xảy ra trên tổ quốc Việt Nam. Những lúc như vậy, lại không có bất cứ bóng dáng nào của Hải quân Việt Nam, để bảo vệ ngư dân mình, hoặc ngăn chặn tàu thuyền Trung Cộng. Nhà cầm quyền Việt Nam lại còn bảo ngư dân phải tự trang bị vũ khí để tự vệ ? Quân đội không bảo vệ tổ quốc, không bảo vệ người dân, thì nuôi quân đội để làm gì ?

Nguy hơn nữa, kẻ xâm lăng lại ở ngay sát cạnh mình và theo chủ nghĩa “vô tổ quốc” của Mác Lênin. Trong khi trong nước cũng có một đảng “Vô Tổ quốc” Mác-Lênin, đã và đang bắt tay, liên kết “đảng với đảng, đồng chí với đồng chí” với kẻ xâm lăng. Họa mất nước đã rất rõ ràng.

Tổ quốc Việt Nam ta, với hơn 4 ngàn năm lập quốc, chưa bao giờ mất một tấc đất, tại sao bây giờ, chỉ có vài chục năm, lại mất đất, mất đảo, mất biển nhanh đến như vậy ?

Trung Cộng đã không đưa ra được lý do nào để chứng minh các hải đảo Hoàng Sa, Trường sa là của Trung quốc. Cũng không có trận chiến nào, quân Việt Nam đã xâm chiếm các hải đảo của Trung hoa. Nhưng Trung Cộng lại chỉ vin vào cái Công Hàm bán nước của Thủ tướng Bắc Việt, Phạm Văn Đồng, ký năm 1958, để chứng minh chủ quyền của họ trên các hải đảo của Việt Nam mà thôi. Nên có lần phát ngôn viên Việt Nam nói rằng, Hoàng sa, Trường sa là của Việt Nam, thì phát ngôn viên Trung Cộng, ông Tần Cương, đă trả lời rằng: “Chúng tôi nhận thấy các tuyên bố khác nhau của Việt Nam trong các thời điểm lịch sử khác nhau”. Không thấy phát ngôn nhân Việt Nam bác bỏ câu nói ấy như thế nào?.

Công hàm bán nước của tập đoàn việt gian cộng sản Việt Nam Phạm Văn Đồng
Nhưng Công Hàm của Phạm Văn Đồng ký, năm 1958, thì không có giá trị trên mặt pháp lý, về phần đất phía Nam vĩ tuyến 17, thuộc quyền sở hữu của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà nên Nhà cầm quyền Miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không đại diện cho toàn dân Việt Nam. Nhưng hiện nay Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam lại bị kẹt bởi, Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam theo tín điều của chủ thuyết Mác, “vô tổ quốc”, nên không dám mạnh dạn đặt vấn đề “biên giới, tổ quốc” với Trung Cộng trên bàn tranh luận. Và cái Công Hàm của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng ký năm 1958, đã bán hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung cộng rồi, nên Nhà cầm quyền Việt Nam thất lý, không dám dùng sức mạnh hải quân để bảo vệ các hải đảo và ngư dân Việt Nam. Trong khi đó, thế lực bành trướng Đại Hán thì hàng ngàn năm nay, vẫn giữ mộng xâm lăng tổ quốc Việt Nam ta. Người Dân quyết chống ngoại xâm, nhưng Nhà cầm quyền cộng sản lại e dè. gây ra tình trạng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Cứ dùng dằng như vậy, tổ quốc sẽ lâm nguy !

Muốn giải quyết vấn đề cấp bách của đất nước hiện nay, chỉ còn một cách, Đảng Cộng sản Việt Nam hãy thức tỉnh, sám hối, quay đầu, trao quyền tự quyết cho nhân dân để thoát khỏi thế kẹt, tiến đến đoàn kết toàn dân, bảo vệ tổ quốc. Không thể giao phó vận mạng tổ quốc và 86 triệu sinh mạng người dân Việt Nam cho đảng Cộng sản được. Phải thay đổi chế độ độc tài, độc đảng sang thể chế đa nguyên, đa đảng. Khi đã có tự do, dân chủ, nhân quyền thì toàn dân Việt Nam sẽ đoàn kết cùng nhau đứng ra giải quyết vấn đề sống còn của tổ quốc hiện nay.

Thích Viên Định




35 năm sau Hành trình tìm TỰ DO



Đất nước có một thời như thế.

Một thời, hàng triệu người Việt Nam đã phải bỏ lại sau lưng những gì mình trân quý nhất để ra đi. Đi về đâu? Đi về phía biển. Tìm gì? Tìm tự do. Một thời, những bài ca không còn được phép hát lên thay cho lời tỏ tình của những kẻ mới yêu nhau. Một thời, những bài thơ không còn được khắc lên hàng phượng đỏ trong sân trường làm chứng tích cho mối tình học trò đầy kỷ niệm. Một thời những căn nhà thân yêu đã bị thay đổi chủ và những trường học, những con đường thân quen đã bị đổi thay tên.

Trong những cuộc hải hành tìm tự do đầy nước mắt của những năm sau 1975, bao nhiêu người đã ở lại trong lòng biển, đã chết trong các trại tỵ nạn, đã chết trong bàn tay hải tặc? Một trăm ngàn, hai trăm ngàn hay năm trăm ngàn như Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc công bố?

Không. Những con số đó chỉ là những phỏng đoán để điền vào khoảng trống cần thiết của một bản thống kê.

Làm sao ai biết được số phận của những em bé chết ngộp khi còn trong bụng mẹ?

Làm sao ai đếm được những xác người bất hạnh đang cố thoi thóp những hơi thở cuối cùng trong bụng kình ngư?

Không, sẽ không bao giờ ai biết. Con số thật đã vĩnh viễn nằm im trong lòng biển cả như nỗi đau câm nín của đồng bào và dân tộc Việt Nam.

Ba mươi lăm năm sau, trên quê hương Việt Nam, có những bà mẹ già nua trong chuỗi ngày tàn vẫn còn nuôi chút hy vọng rằng người phát thư buổi sáng sẽ trao cho mẹ lá thư đầu của đứa con ra đi.

Ba mươi lăm năm sau, có những người vợ nằm nghe tiếng lá rơi mà ngỡ như tiếng chân chồng mình trở về bên căn nhà cũ.

Nhưng từ vực sâu nước mắt đó, từ hố thẳm gian nan đó, những người may mắn sống sót đã tiếp tục hành trình. Khát vọng tự do cao hơn ngọn thủy triều cuồng nộ, ý chí vươn lên mạnh hơn giông bão Thái Bình Dương. Họ đã tranh đấu và thành công trong nhiều lãnh vực. Ba mươi lăm năm, những thuyền nhân tí hon trên những chiếc ghe bằng gỗ mong manh ngày xưa bây giờ đã trưởng thành. Các em đã thành những kỹ sư, bác sĩ tài ba, những khoa học gia lỗi lạc trong nhiều ngành. Em bé ngồi chờ mẹ, người sẽ không bao giờ trở về bên bờ biển Palawan, chắc ngày nay đã lớn. Em bé được chấp thuận định cư trong đợt thanh lọc cuối cùng ở trại tỵ nạn Panat Nikhom, sau khi chị mình tự tử để phản đối cưỡng bách hồi hương, giờ đã nên người.

Ba mươi lăm năm. Thời gian trôi trên giòng sông đời bất tận. Những mái tóc xanh nay đã bạc, những khổ đau chồng chất đã vơi đi, những thương nhớ đợi chờ cũng đã nguôi ngoai. Nhưng ký ức thì không. Những giọt nước mắt của mẹ giữa biển khơi ngày nào đã hóa thành ngọc bích. Những lời dặn dò của cha trong giờ hấp hối là những lời vàng.

Hành trình tìm tự do của hàng triệu người Việt Nam với tất cả đau thương và chịu đựng là báu vật tinh thần của các thế hệ Việt Nam hôm nay, và là di sản văn hóa Việt Nam cho mãi mãi về sau.

(Trích trong thư kêu gọi tham gia chương trình Hành Trình Tìm Tự Do của Hội Quảng Đà Dallas,Texas, Hoa Kỳ)

—————————————————————————————–




Chuyện Buồn Tháng Tư - Ngô Minh Hằng



Giọng ngâm: Hoàng Oanh

NHỮNG NGƯỜI LÍNH NĂM XƯA


    NHỮNG NGƯỜI LÍNH NĂM XƯA

    Năm xưa chồng tôi là người lính,
    Nơi vùng lửa đạn,
    Mồ hôi anh đã đổ,
    Từ Hố Bò Bình Dương, Bình Long,
    Đến Thừa Thiên, Quảng Trị.
    Rồi một ngày anh gục ngã,
    Tại chiến trường Tây Ninh.

    Tôi góa phụ xuân xanh,

    Con thơ chưa tròn tuổi,
    Tiễn đưa anh lần cuối,
    Về nghĩa trang quân đội Biên Hòa

    Đã bao nhiêu năm qua, ....

    Bây giờ,
    Tôi ở nơi xa,
    Đã có cuộc đời khác.
    Nhưng đôi lúc nghĩ đến anh tôi vẫn khóc,
    Thương tiếc xa xăm.

    Tôi về tìm mộ bia anh giữa chập chùng cỏ dại cây hoang,

    Để thắp một nén nhang,
    Nhớ người lính của một thời chinh chiến,
    Nhớ người chồng của một thuở gối chăn.

    Năm xưa chồng tôi là người lính,

    Một lần hành quân,
    Anh đã bị thương,
    Máu anh loang ướt vạt cỏ ven đường.
    Ôi, mảnh đất không tên,
    Đã giữ chút máu xương người lính trẻ.

    Đã bao nhiêu năm qua,

    Bây giờ,
    Anh thương binh tàn tạ.
    Sống trên quê hương đôi khi vẫn thấy mình xa lạ,
    Bạn bè anh,
    Kẻ mất người còn,
    Kẻ quên người nhớ,
    Kẻ vô tình giữa dòng đời vất vả.

    Năm xưa chồng tôi là người lính,

    Nồng nhiệt tuổi đôi mươi,
    Lần đầu tiên ra chiến trường,
    Anh mất tích không tìm thấy xác.
    Mẹ anh khóc cạn khô dòng nước mắt,
    Lòng tôi nát tan.

    Đã bao nhiêu năm,

    Vẫn không có tin anh,
    Anh ơi, dù quê hương mình đã hết chiến tranh,
    Tàn cơn khói lửa,
    Nhưng không phải là một quê hương như anh ước mơ.
    Anh đã biết chưa?
    Hỡi người tử sĩ không tên không một nấm mồ.!!!

    Năm xưa chồng tôi là người lính,

    Sống sót trở về sau cuộc đao binh,
    Sau những tháng năm tù tội,
    Bây giờ anh không còn trẻ nữa.
    Lìa xa quê hương,
    Sống ở xứ người.
    Những năm thánh chinh chiến đã đi qua,
    Nhưng vết thương đời còn ở lại,
    Trong lòng anh,
    Trong lòng những người lính năm xưa.

    Nguyễn Thị Thanh Dương