Friday, February 5, 2010

Dù đứng thẳng hay quỳ xuống, “XIN” đều có giá trị như nhau - Song Hà



Đứng thẳng hay quỳ xuống, “XIN” đều có giá trị như nhau

Song Hà

Trong xã hội chưa có “luật hành khất” nào được thông qua.

Vì vậy, trong cuộc sống xã hội, bất cứ sự xin xỏ nào đều hoàn toàn là phụ thuộc vào lòng hảo tâm của người được xin, muốn cho hay không và cho bao nhiêu, bao giờ cho là quyền của họ. Vì vậy không bao giờ có luật là “tôi đã xin thì anh phải cho”.

Đọc thông cáo của TGM Đà Nẵng của Đức GM Châu Ngọc Tri về những vấn đề liên quan đến Cồn Dầu tôi thấy khá ngỡ ngàng và cảm thấy khó tin rằng đây là quan điểm của một vị giám mục.

Bài viết có đăng hình của Giám mục và khẩu hiệu Giám mục là “Trời mới, đất mới”. Đọc nội dung, tôi thấy gần như nội dung và cách nói của của những tờ báo mới đây, nghĩa là nói “như sách”, trong đó cũng là cần tôn trọng quyền lợi dân nghèo, là báo cáo thành tích của chính quyền về giải tỏa được bao nhiêu hộ dân, đã kiên trì và thuyết phục như thế nào (để cướp đất của dân), là cần phải thế nọ, cần phải thế kia để đảm bảo đoàn kết lương - giáo, thực hiện nghĩa vụ công dân ... thôi thì đủ cả.

Nhưng thực tế ở đất nước chúng ta, chuyện nói và làm đi ngược nhau đã là lẽ thường.

Vì sao lại có điều lạ lùng này? đọc kỹ nội dung thông cáo mới biết được tại vì “Khó khăn rắc rối lại tập trung vào Giáo hội, nhất là Giáo hội địa phương, nơi sự vụ diễn ra”. Như vậy điều chính yếu là vì sự việc ở Cồn Dầu đã làm cho Giáo hội địa phương phải “rắc rối”, và chính vì ngại cái “rắc rối” đó liên quan đến mình nên mới có bản thông cáo này.

Nếu những việc ở nơi khác, hoặc ngay Cồn Dầu, nhưng không làm “rắc rối” đến giáo hội địa phương,chắc hẳn không bao giờ có bản thông cáo của TGM Đà Nẵng như thế.

Bản thông cáo minh định rõ: Giáo dân Cồn Dầu chỉ có ¼ số dân ở khu vực bị giải tỏa và mặt khác, Thánh đường và Giáo xứ không thuộc diện quy hoạch, do vậy việc giải tỏa này không liên quan đến tôn giáo? Giáo dân có kêu thì chỉ nên kêu về quyền lợi dân sự, không được cùng nhau kêu về vấn đề ảnh hưởng tôn giáo để làm rắc rối đến “giáo hội địa phương”?

Chắc TGM Đà Nẵng xác định rằng với số giáo dân này, có di chuyển đi đâu thì là việc của họ, Thánh đường và nhà xứ vẫn còn, có nghĩa là Giáo hội không bị ảnh hưởng. Kể cả sau này khu vực biến thành khu ăn chơi nhảy múa, khu du lịch... mà không có giáo dân ở đó nữa, thì Thánh đường và nhà xứ sẽ được dùng để làm cảnh bên cạnh khu ăn chơi cho vui, biết đâu thỉnh thoảng TGM còn có dịp qua đó thưởng lãm khu vực này. Và cũng biết đâu nhà nước lại tặng thưởng huy chương cho TGM vì Thánh đường đứng đó như biểu tượng của Việt Nam quá thừa thãi tự do tôn giáo vì có cả những nhà thờ không ai sử dụng đến.

Bản thông cáo cũng cho biết “một người hay một nhóm người không thể nhân danh giáo hội địa phương”... Nhưng một tập thể giáo dân đông đúc, chiếm đa số đã đồng lòng ký đơn và kêu cứu, thì nó là gì nếu giáo hội địa phương không có họ?

Điều vui nhất trong bản thông cáo của TGM Đà Nẵng là nói lên “thành tích đối thoại” của TGM Đà Nẵng về vụ trường tư thục đến nay đã được “đề xuất về Trung ương xin ý kiến của Ban Tôn giáo Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, với câu kết rất tích cực: “Rất mong Ban Tôn giáo Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm giải quyết”. Và theo thông tin không chính thức, đề nghị này của Thành phố cùng với đề án mở trường tư thục của Giáo phận Đà Nẵng đã được đặt lên bàn làm việc của Thủ tướng Chính phủ”.

Như vậy, TGM Đà Nẵng đã vì một ngôi trường tư thục đang được “đặt lên bàn Thủ tướng” mà đã phải hi sinh những thứ khác, như cả tập thể giáo dân Cồn Dầu đang có nguy cơ xóa sổ Giáo xứ, ly tán mất nhà cửa, xa nhà thờ, mất ruộng đất, mất nguồn sinh sống ... chỉ vì một hy vọng mờ ảo nào đó trước mắt?

Đoạn “chúng tôi cũng được thông báo bằng một văn bản chính thức, mang chữ ký của vị Chủ tịch, đại diện cao nhất của chính quyền một thành phố trực thuộc trung ương như Đà Nẵng, với ấn triện và quốc huy, sao lại có thể biến thành một “trò lừa bịp” công khai trước thiện chí của một tổ chức công dân tôn giáo” làm cho người ta nhìn thấy sự “ngây thơ” của bản thông cáo này.

Nếu TGM Đà Nẵng còn chưa có kinh nghiệm, để mà hi vọng lên “cái bàn Thủ tướng” và “tin rằng thiện chí sẽ được đền đáp” thì xin nhớ rằng kể cả khi Thủ tướng đã đích thân đến tận Tòa TGM Hà Nội xem xét, hứa hẹn về Tòa Khâm sứ, thì sau đó vẫn là chó, là cảnh sát đến bao vây và... cướp.

Hoặc chẳng cần đi đâu xa, mời Đức GM Châu Ngọc Tri lên Đà Lạt, vừa nghỉ mát vừa học hỏi kinh nghiệm của Đức GM Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch HĐGMVN. Sau những màn chào đón tươi cười Thủ tướng VN bằng hoa tươi, bằng đón tiếp nồng nhiệt để "đối thoại và hi vọng" thì ngay sau đó, Giáo Hoàng học viện được chiếm đoạt phá bỏ để ... làm công viên.

Đó thật sự là một cái tát vào những ai đang hoặc ngây thơ thừa thãi lòng tin, hoặc để che giấu sự sợ hãi, không dám đối mặt sự dữ, với ma quỷ bằng chiêu bài "đối thoại và hi vọng" với những người cộng sản.

Cái ấn triện Quốc huy mà TGM Đà Nẵng quá tin vào sự linh thiêng của nó đến thế, thì hãy xem các văn bản trắng trợn ... cướp không đất đai của Tòa Khâm sứ, Tam Tòa, Thái Hà, đập nát Thánh giá Đồng Chiêm, Loan Lý, Giáo hoàng Học viện... vẫn đóng dấu Quốc huy đỏ chót đấy cả thôi, chẳng có văn bản nào đóng con dấu Mafia cả.

TTrong bản thông cáo của Tòa Giám mục Đà Nẵng có một câu mà đọc lên thấy khá hài, đó là “chúng tôi đã thẳng thắn nói với các vị hữu trách dân sự rằng: “Với chính sách xã hội hoá giáo dục, đúng ra là Nhà nước phải xin nhân dân cùng làm. Nhưng ở đây, theo đúng qui định, chúng tôi phải làm thủ tục để xin Nhà nước cho phép làm. Nhưng quí vị nên biết, chúng tôi chỉ đứng thẳng mà xin, chứ không bao giờ quỳ gối”.

Trong xã hội chưa có “luật hành khất” nào được thông qua.

Vì vậy, trong cuộc sống xã hội, bất cứ sự xin xỏ nào đều hoàn toàn là phụ thuộc vào lòng hảo tâm của người được xin, muốn cho hay không và cho bao nhiêu, bao giờ cho là quyền của họ. Vì vậy không bao giờ có luật là “tôi đã xin thì anh phải cho”.

Ở Việt Nam, chỉ có duy nhất một thứ ngôn ngữ được sử dụng chỉ từ phía nhà nước, đó là "mượn" nhưng không trả, đó là "thương lượng" nhưng không đồng ý không xong, sẽ có ngay cảnh sát, vũ lực. Đó là người dân phải "tự nguyện" dưới họng súng. Giáo dân Cồn dầu đang đứng vào tình trạng như vậy.

MuMuốn "xin" mà "buộc phải cho" thì hãy làm nhà nước cộng sản. Thực chất, đó là những cuộc "xin đểu" mà bọn mafia thường làm.

Đúng với ngôn ngữ Việt Nam thường dùng, nếu những thứ không phải của mình, thì phải “mua” mới là công bằng. Còn đối với những thứ của mình bị chiếm đoạt, thì phải “đòi”.

Vâng, vẫn biết rằng đứng thẳng mà xin thì đỡ mỏi hơn quỳ gối, nên có thể đứng lâu hơn. Nhưng về tư thế khi đã “xin” dù đứng thẳng, đứng nghiêng, quỳ gối hay nằm xuống đều có ý nghĩa như nhau. Và cũng xin nhớ rằng "miếng thịt không mất tiền chỉ có trong bẫy chuột".

Một chế độ đã đi đến cướp từng tấc đất của dân, kể cả đập phá mồ mả liệt sĩ để cướp đất, thì đừng mong có sự hảo tâm nào đó cho ai, nhất là những tổ chức "thuốc phiện của nhân dân" như của người công giáo.

Trời mới đất mới – xã hội mới dân làm chủ và pháp quyền thì không thể chấp nhận chế độ xin – cho.
Đọc bản Thông cáo của TGM Đà Nẵng, người ta cứ tưởng đây là văn bản của Ban Tôn giáo Chính phủ? Có sự nhầm lẫn nào chăng??

Song Hà

Hòa Hợp Hòa Giải ? Kinh Nghiệm Của Người Tiệp Khắc - Triết Hồ

Triết Hồ

Tôi đề nghị những ai có ý đồ “hoà giải” thì nên suy nghĩ lại. Vì sao? Vì không bao giờ có sự “hoà giải” giữa một bên là các cá nhân yếu đuối và một bên là cả guồng máy chính quyền độc tài sắt thép ....

Theo dõi cuộc tranh luận về những vụ việc chung quanh cuốn Thơ đến từ đâu? xuất bản ở Hà Nội hồi cuối năm 2009 vừa qua, cũng như những nhận định của một số người về trường hợp ông Đặng Tiến và những thái độ “hoà giải”, tôi đoán là trong những người góp ý kiến có lẽ chưa có ai là người Việt ở những nước Đông Âu hậu-cộng sản. Vậy nên tôi mạo muội đóng góp một góc nhìn khác, vì tôi sống ở Tiệp từ 1970 đến nay, lấy vợ người Tiệp và đã trở thành dân nước Tiệp.

Phải nói ngay rằng tôi sinh ra và lớn lên trong chế độ XHCN ở miền Bắc Việt Nam. Thuở còn trẻ tôi tin vào đường lối của Đảng Cộng sản vì chưa từng biết đường lối nào khác. Năm 1970, nhờ có kết quả học vấn tốt nên tôi được sang du học ở Tiệp. Khi được đi Tiệp, tôi hãnh diện lắm vì tưởng mình có cơ hội đến một nước cực kỳ văn minh. Lúc ấy tôi vừa xong trung học nên còn ngây dại lắm, nhưng càng lớn lên, tôi càng nhìn thấy sự thật. Sống ở Tiệp từ 1970 cho đến khi chế độ Cộng sản ở Tiệp sụp đổ cuối năm 1989, tôi chứng kiến vô số những bi kịch trên thân phận con người. Khi Cộng sản ở Tiệp và cả Đông Âu sụp đổ tôi vui sướng vô cùng. Kể từ đó tôi mới được hưởng không khí dân chủ.

Trở lại chuyện “hoà giải”, tôi đề nghị những ai có ý đồ “hoà giải” thì nên suy nghĩ lại. Vì sao? Vì không bao giờ có sự “hoà giải” giữa một bên là các cá nhân yếu đuối và một bên là cả guồng máy chính quyền độc tài sắt thép. Bên yếu chỉ có thể được thu nhận để phục vụ cho bên mạnh, chứ bên mạnh không đời nào nhượng bộ cho bên yếu.

Chuyện “hoà giải” ở Tiệp là một kinh nghiệm. Năm 1977, chính quyền Cộng sản độc tài Gustáv Husák tung ra chính sách “hoà giải”, kêu gọi cộng đồng Tiệp lưu vong trở về để cùng xây dựng đất nước, vì chủ tịch Gustáv Husák sẵn sàng ân xá cho những người “di tản bất hợp pháp” (tức là những người Tiệp đã vượt biên tỵ nạn sang các nước tự do). Kết quả là gì? Kết quả là trong cộng đồng người Tiệp lưu vong trên khắp thế giới, chỉ có khoảng hơn 10 ngàn người nộp đơn xin ân xá. Trong số hơn 10 ngàn người đó có khoảng một phần ba là muốn phục hồi quốc tịch Tiệp để hồi hương, và số còn lại thì chỉ muốn về thăm quê hương, làm những công việc hợp với đường lối của chính quyền Cộng sản, nhưng vẫn giữ quốc tịch ở nước ngoài.

Gia đình nội ngoại bên vợ Tiệp của tôi thời ấy có gần chục người lưu vong ở Pháp, Mỹ, Canada. Trong số đó có vài ba người âm thầm “hoà giải”.

Họ “hoà giải” với ai? Với các công an mật (Státní bezpečnost - StB)? Với các cấp chính quyền? Với các “soudruh” (đồng chí) của Đảng Cộng sản? Không, họ không “hoà giải” được với ai cả.

Đúng ra, một ít người có tài, có học vấn cao cũng được Đảng cho phép làm việc ở Tiệp. Một ông bác của vợ tôi là Giáo sư ở Canada, khi về Tiệp thì được cho dạy ở trường đại học, nhưng phải ở dưới trướng của những ông bí thư dốt nát, mặt mày lạnh như chì.

Ở nước ngoài, cộng đồng Tiệp lưu vong sáng tác ra từ “upravenec” (số nhiều là “upravenci”) để chỉ những người “hoà giải”. Từ “upravenec” đúng ra có nghĩa là “kẻ nâng cấp” , và “upravenci” là “bọn nâng cấp”, vì lúc ấy chính quyền Cộng sản Tiệp dùng cụm từ “upravili vztahy s ČSSR” (“nâng cấp quan hệ với nước Cộng hoà XHCN Tiệp”) để chiêu dụ “hoà giải”!

Cộng đồng Tiệp lưu vong lại còn có từ “kolaborant” để chỉ những kẻ “hoà giải” hay “nâng cấp quan hệ” quá nhiệt tình! “Kolaborant” là kẻ “hợp tác” hay “cấu kết”, nghĩa là kẻ sẵn sàng làm tay sai cho chế độ, ca tụng chế độ, làm tình báo, chỉ điểm cho chế độ.

“Hoà giải”, “nâng cấp quan hệ” hay “hợp tác” chẳng đến đâu, thì cuối năm 1989, đùng một cái, mọi sự chấm dứt. Chế độ Cộng sản sụp đổ.

Từ năm 1990 đến nay, hầu hết những người Tiệp lưu vong đều đã hân hoan trở về thăm quê hương, nhiều người quyết định hồi hương để sống và làm việc trong một nước Tiệp dân chủ.

Còn thân phận của “upravenci” và “kolaborant” thì ra sao? Những kẻ “hoà giải”, “nâng cấp quan hệ” hay “hợp tác” với chế độ Cộng sản trước kia, thì giờ đây rơi vào trạng huống khá là ngượng ngùng. Trong khi người lưu vong bày tỏ thái độ tự hào, thì kẻ “upravenci” và “kolaborant” lại mang mặc cảm, thấy xấu hổ. Người lưu vong trở về Tiệp thì có thể thông cảm với các cán bộ hay Đảng viên trong sạch của chế độ Gustáv Husák thối nát, vì xem đó là hoàn cảnh bất khả kháng của họ trong một giai đoạn lịch sử. Nhưng người lưu vong lại coi khinh những kẻ “hoà giải”. Họ nhìn thấy kẻ “hoà giải” là mang bản chất của kẻ cơ hội, kẻ hèn, kẻ phản bội.

Đến nay đã hơn 20 năm sau ngày Cộng sản sụp đổ, nhưng cảm giác khinh bỉ ấy vẫn chưa phai. Đâu đây vẫn còn những lời bàn bạc về “upravenci” và “kolaborant”. Đâu đây vẫn còn những người đòi hỏi chính quyền hôm nay hãy công bố danh sách những kẻ đã nộp đơn xin “nâng cấp quan hệ với nước Cộng hoà XHCN Tiệp”. Cách đây mấy năm, Stanislav Reiniš vẫn còn công khai chê trách thái độ mất đạo đức (morální poklesek) của những kẻ đã phản bội cộng đồng tỵ nạn lưu vong để “hoà giải” với chế độ độc tài.[1] Năm 2006, đài Radio Praha còn phát thanh một chương trình về người Tiệp hồi hương, trong đó ông Vladimír Špaček, một người hồi hương năm 2000 sau hơn 30 năm lưu vong, còn lên tiếng tố cáo chính sách “nâng cấp quan hệ với nước Cộng hoà XHCN Tiệp” của Gustáv Husák là âm mưu chia rẽ và chinh phục (rozděl a panuj) cộng đồng lưu vong Tiệp.[2]

Cuối cùng, những kẻ vội vã “hoà giải” đã không “hoà giải” được với ai cả, để rồi suốt đời còn lại phải âm thầm hổ thẹn vì cũng khó lòng mà “hoà giải” được với chính bản thân mình.

Triết Hồ

[1] Stanislav Reiniš - Je to stará historie - nebo není? (Neviditelný pes, Pondělí 5.7.2004).

[2] Milena Štráfeldová - Vladimír Špaček projel australskou buš jako zeměměřič (Radio Praha, 29-04-2006).

Wednesday, February 3, 2010

Trần Văn Ân, tên phản trắc - Ngô Kỷ



Ngô Kỷ

Đọc bài phỏng vấn “GS Trần Văn Ân giải thích về ý tưởng Hội nghị Việt kiều …” trên báo Việt Weekly số 5 January 28 – February 3, 2010, tôi ngạc nhiên vô cùng. Lý do là lâu nay dưới mắt tôi thì cựu Trung tá Trần Văn Ân, nguyên phát ngôn nhân của Bộ Quốc Phòng Việt Nam Cộng Hòa là một người tào lao, ba phải, thích nổ, tròn như viên bi, và “lép xép”, nhưng khi đọc xong bài báo thì tôi tự trách mình là mình đã phán đoán và đánh giá sai về y. Trần Văn Ân không đơn giản và vô hại như mình nghĩ, mà trái lại Trần Văn Ân là một con “cáo già” vô cùng nguy hiểm cho cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại. Cái đuôi “Việt gian” của Trần Văn Ân đã đến lúc lòi ra, và y trực tiếp ra mặt thực hiện Nghị Quyết 36 với sự tiếp tay của Trần Văn Chi, phó Tổng giám đốc nhật báo Việt Herald và Lữ Giang.

Chính vì bị Đinh Viết Tứ và Phùng Tuệ Châu “bật mí” trên báo một cách bất ngờ về việc Trần Văn Ân và Trần Văn Chi có liên hệ với Cộng Sản Việt Nam, nên Trần Văn Ân phải buộc lòng nhờ đến báo Việt Weekly để “công khai hóa” hành động “phản quốc” và đâm sau lưng cộng đồng, mà y trình bày một số đoạn như sau:

“… Việc kết hợp chất xám ở hải ngoại với chất xám trong quốc nội là quan niệm nghiêm túc và tốt cho Việt Nam. (…) Tôi cho rằng rất thiết thực, rất cần thiết để có đối thoại. Tuy nhiên để có kết quả tốt của cuộc đối thoại, giữa hai người, hai nhóm, hai phía trước khi ngồi xuống, phải để qua một bên những định kiến, thiên kiến và hận thù. (…) Tôi xin nói ra ngay rằng, những gì anh Đinh Viết Tứ nói ra đều đúng. Tôi rất quí những người như anh Đinh Viết Tứ và chị Phùng Tuệ Châu. Tôi cho họ là những người yêu nước. Tôi chỉ quan tâm đến vấn đề con người và tấm lòng, những Đinh Viết Tứ, Phùng Tuệ Châu và Nguyễn Hữu Liêm là những người yêu nước, có lòng với dân tộc. Tôi đã gặp các anh em đó trong tinh thần yêu nước. (…) Ý tưởng về một mô thức tổ chức “Hội nghị Việt kiều” tôi chỉ nói chuyện với anh Đinh Viết Tứ, chứ không nói chuyện với anh Lê Xuân Khoa. (…) Quan niệm kết hợp, mang chất xám về giúp nước Việt Nam là điều tốt, tôi cho là như vậy.” (…) “Đúng. Xin xác nhận là tôi đi Việt Nam nhiều lần, nhưng tôi không bao giờ có ý gặp bất cứ một giới chức chính quyền nào cả. Tôi cũng không đến những nơi có tính cách “nhạy cảm” và, mục tiêu của tôi chỉ vui chơi, thăm bạn bè, và nói xin lỗi, để sống nốt đoạn đời còn lại của mình. (…) Về thực trạng ở Việt Nam, sau những chuyến đi về Việt Nam, từ năm 85, 86 trở đi, tôi về từ khoảng 91, 92, sau khi hệ thống cộng sản sụp đổ ở Xô-Viết, tôi thấy CSVN nhanh chóng thích ứng với hoàn cảnh mới. Với sự thay đổi mới này, tôi thấy rất tốt, may mắn cho Việt Nam. (…) “Sau đó mỗi năm, về lại tôi thấy sự tăng trưởng về kinh tế mỗi năm thật là kinh khủng, khoảng từ 10% cứ thế mà thay đổi. Mỗi lần về là cái nhìn khác nhau. Trong khi đó, cái nhìn của người chống cộng ở hải ngoại về Việt Nam vẫn vậy, không thay đổi. Nếu không về Việt Nam nhìn tận mắt, việc đánh giá hiện trạng Việt Nam sẽ không chính xác. (…) Đã qua 35 năm là một thời gian dài trong cái nhìn về chính trị, nhất là chính trị quốc tế. Chúng ta thấy nước Hoa kỳ chỉ trong vòng vài ba năm, đã thay đổi hoàn toàn. Nói như thế để thấy rằng, mỗi con người trong bối cảnh đấu tranh chính trị, theo tôi cần nhìn lại để lượng định và thích ứng với hiện trang mới. Rất tiếc, sự thích ứng này tôi hiếm thấy ở quốc ngoại. Hầu như không có (ngưng trích).

Vì bây giờ Trần Văn Ân đã công khai để lộ nguyên hình là một tên Việt gian, do đó tôi không cần phải tốn công đi “lột mặt nạ” như tôi đang làm với công ty báo Người Việt và Trần Văn Chi của báo Việt Herald. Tôi chỉ nhân dịp này trình bày thêm vài điểm để làm sáng tỏ hơn về Trần Văn Ân thôi.

Rõ ràng là ngưu tầm ngưu mã tầm mã, cá mè một lứa. Mọi người đều biết Phùng Tuệ Châu, cùng với Quốc Thắng, Đinh Viết Tứ, Trần Văn Chi làm đài phát thanh Tiếng Vọng Quê Hương và đài Việt Nam Quê Hương ngay trong “Chùa Việt Nam” của sư hổ mang Thích Pháp Châu trên đường Magnolia, Garden Grove để tuyên truyền cho cộng sản và bị biểu tình phải dẹp. Và bây giờ y thị làm giám đốc website tiengquehuong.com. Trong ngày tham dự Hội Nghị Việt Kiều tại Hà Nội, Phùng Tuệ Châu tuyên bố: “Mục đích của Đài phát thanh Tiếng Quê Hương là mở rộng thân tình mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ; giới thiệu sự tiến bộ và phát triển của đường lối, chính sách của Đảng và Nhà Nước Việt Nam.” Thế mà Trần Văn Ân nói “rất quí Phùng Tuệ Châu và Phùng Tuệ Châu là người yêu nước và có lòng với dân tộc.”

Còn Đinh Viết Tứ là một tên bưng bô cho cộng sản từ trước năm 1975. Y công khai tuyên truyền cho cộng sản ngay tại thủ đô tỵ nạn Little Saigon. Y về Việt Nam thường xuyên và viết bài ca tụng Hồ Chí Minh và đảng cộng sản trên mạng và báo chí. Theo báo Hà Tây, cơ quan của đảng bộ Cộng Sản Việt Nam ra ngày 19/5/2007 với tiêu đề “Ở Người trên hết là lòng yêu nước vô cùng chân chính!”, viết về Đinh Viết Tứ như sau: “Luật sư, nhà báo Đinh Viết Tứ hiện đang định cư ở California. Tuy sống xa quê hương, nhưng ông thường xuyên theo dõi tin tức trong nước và còn viết tin về hoạt động của cộng đồng kiều bào Việt Nam ở Hoa Kỳ để gởi về cộng tác với các báo trong nước. Trong chuyến về thăm quê hương mới đây, ông cho biết, mình vừa soạn một dự luật có tên “Luật bảo vệ tôn danh Chủ tịch Hồ Chí Minh” để gởi lên Quốc Hội Mỹ. (ngưng trích).

Cũng trong bài báo này, Đinh Viết Tứ ca ngợi Hồ Chí Minh như sau: “Tôi rất phục Ông Cụ. Sở dĩ tôi luôn nghĩ về đất nước, làm những điều có lợi cho đất nước cũng vì qua cái hình ảnh và tấm gương Ông Cụ mà tôi được biết suốt từ hồi còn nhỏ” (ngưng trích).

Và trong bài báo này, có đăng câu hỏi và trả lời nguyên văn như sau:

- “PV: Như ông nói, ông rất ngưỡng mộ Bác Hồ, ông có bao giờ mong ước được gặp Người?

- Ông Đinh Viết Tứ: Một ngày tháng 9 năm 1969, ở Sài Gòn, khi tôi vừa đi ra ngoài về văn phòng của hãng tin nơi tôi làm việc thì anh tổng thư ký tòa soạn hỏi: “Cậu biết tin gì chưa? Ông Hồ Chí Minh mất rồi!”

Tôi sửng sốt và buồn quá. Rồi viết mấy câu thơ:

“Con tưởng sau này Bác sẽ vô
Bổng đâu hung tin có ai ngờ
Bác đi về cỏi người không hẹn
Giữa lúc non sông nửa cách bờ

Đâu phải riêng mình dân ta đau
Bốn bể năm châu một nỗi sầu
Trời Thu không nắng mây ảm đạm
Tiễn bậc Cha chung của ngàn sau…

Bác đã ra đi qua nẽo đường
Băng rừng, xuyên núi, vượt đại dương
Hai vai mang nặng theo hồn Nước
Độc lập - tự do cho quê hương

Hiến dâng cho nước cả cuộc đời
Con đường giải phóng Bác đã khơi
Lê chân khắp chốn tìm phương thế
Tận diệt đời nô của kiếp người
…..

Thuở nhỏ con hằng nỗi ước mơ
Đến khi khôn lớn thấy Bác Hồ
Từ nay mộng ấy không thành được
Nhớ Bác con đành viết trong thơ…”

Đó là những dòng tâm sự của tôi, đầy xúc động (ngưng trích)

Lữ Giang, Trần Văn Chi và Trần Văn Ân đang hội luận để nhục mạ và phỉ báng chính phủ VNCH
Tham dự Đại Hội Việt Kiều tại Hà Nội, Đinh Viết Tứ tuyên bố: “Đài Tiếng Nước Tôi và Việt Nam Ngày Nay đưa thông tin chính xác về tình hình Việt Nam đến với kiều bào chính là cách giúp bà con hiểu rõ hơn về tình trạng trong nước, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với kiều bào…” (ngưng trích)

Trên nguyên tắc, tôi không nên phí thì giờ phổ biến bài thơ phản quốc, chất chứa sự ngu xuẩn, trơ trẻn và lố bịch của Đinh Viết Tứ. Tuy nhiên vì muốn “nói có sách mách có chứng” rằng Đinh Viết Tứ là tên tay sai và thân cộng, thế mà Trần Văn Ân ca tụng y là “một người yêu nước, có lòng với dân tộc, và đã gặp anh em đó trên tinh thần yêu nước,” điều đó đủ chứng minh Trần Văn Ân là ai.

Còn Luật sư Nguyễn Hữu Liêm ở San Jose, Bắc Cali là ai? Quan điểm chính trị ra sao? Bưng bô cho cộng sản thế nào mà đến nỗi Trần Văn Ân phải lên tiếng ca ngợi là “một người yêu nước, có lòng với dân tộc và đã gặp anh em đó trên tinh thần yêu nước.” Mời quý đồng hương và độc giả đọc bài viết “Nguyễn Hữu Liêm, Một Con Chó Liếm Máu Đồng Loại Không Đắng Miệng” của tác giả Thu Hiền viết từ Hà Nội gởi ra hải ngoại, mà tôi xin được trích sau đây vì bài viết giống quan điểm tôi.

Nguyễn Hữu Liêm, Một Con Chó Liếm Máu đồng loại Không Đắng Miệng.

Tôi đọc xong bài "Nơi giữa Đại hội Việt kiều: Một nỗi bình an" của Nguyễn Hữu Liêm mà phải nôn mửa nhiều lần . Tôi đọc lịch sử nói về thời Tây có những tên Việt gian núp bóng Tây để làm hại đồng bào mình, tôi không mường tượng được trong lòng một tên Việt gian họ ra sao khi làm những chuyện trái với lương tâm là làm hại đồng bào mình để sống thoải mái.

Nguyễn Hữu Liêm theo tôi hắn còn tệ hơn một tên Việt gian. Tôi phải xin phép loài chó để gọi tên nầy là chó . Chó có nhiều con dễ thương biết quấn quít bên chủ. Nguyễn Hữu Liêm là một giống chó hoang chỉ biết ăn thịt , uống máu đồng loại mà không biết đắng miệng. Có thể có người cho tôi dùng chữ quá đáng nhưng xin cho tôi biết ngôn ngữ nào , chữ nào của VN có thể tả chân được một con thú như Nguyễn Hữu Liêm. Hắn đích thực là một con chó dại được bọc bên ngoài bằng lớp vỏ loài người.

Nguyễn Hữu Liêm trong quá khứ đã công khai bênh vực cộng sản nhưng khi viết một bài ca ngợi đảng đã cố uốn nắn mình trở thành một tên bồi bút, hắn viết: "Trong hai mươi năm qua, tôi đã bao nhiêu lần về lại Việt Nam. Lần nào bước vào phi trường Tân Sơn Nhất, tôi cũng vẫn luôn mang một nỗi sợ hãi thầm kín. Không biết là lần này mình có bị trục xuất hay không? Những ngày còn ở trong nước thì vẫn nghĩ đến chuyện công an “mời lên làm việc”. Hắn láo điên cuồng không thua gì tên trung tá công an Nguyễn Như Phong trong tờ công an . Một thằng làm Việt gian, bênh vực cho VC bấy lâu nay mà mở miệng sợ VC bắt.

Con chó lại sủa tiếp: "Vừa bước tới quầy thủ tục nhập cảnh ở Nội Bài, tôi đã được hướng dẫn vào lối đi dành cho đại biểu kiều bào về tham dự Đại hội. Một sĩ quan cấp tá đón tiếp tôi thân mật, vui vẻ. Viên sĩ quan đóng dấu ngay lập tức vào tờ khai nhập cảnh và chào tôi nghiêm chỉnh với nụ cười"

Lần nầy tôi không còn giữ được bình tỉnh nên có xin phép quí bạn đọc được kêu con chó nầy bằng thằng. Có lẽ Nguyễn Hữu Liêm biết VC nhiều hơn nhiều người khác . Hắn sinh ra và lớn lên ở Quảng Trị, một vùng giới tuyến VN. CSVN đã về đây thãm sát, giết người hằng loạt nhất là trận Mậu Thân năm 68, người dân Quảng Trị và Huế đã đổ máu vì lũ ác ôn CSVN thế mà hắn nhìn tên sĩ quan cấp tá VC cười với hắn . Nếu cái đầu của Nguyễn Hữu Liêm không bị lộn cứt như đầu tôm thì mới có thể thấy được cái nụ cười đầy máu và nước mắt của người dân trong miệng thằng công an cấp tá.

Những đọan sau của hắn trong bài viết đã cố tìm ra những nhân vật, từ ngữ trong triết học như "Husserl, theo ngôn ngữ phiên giải của Derrida ", con chó đang cố khoát lên người một chiếc áo triết gia để đánh lừa người đọc . Hắn chẳng phải là một người có trình độ triết học, hắn vay mượn những từ ngữ để tô vẽ lên con người hèn hạ của hắn một ít màu mè hương vị của mùi triết Tây cho có lệ.

Cái đầu của hắn còn thấp lắm nên khi hắn nhìn cảnh Hà Nội bằng câu viết:

"Sáng sớm ngày hôm sau, thứ Bảy, 21 tháng 11, phái đoàn chúng tôi lên xe buýt – có xe cảnh sát hú còi mở đường – đi về Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình. Hà Nội, khi đi ra khỏi khu Ba Đình, là cả một công trường xây dựng.. Các cao ốc thi nhau vươn lên. Có một cái gì đó mang ít nhiều tính bất cập, bất tương xứng giữa những con người và chế độ chính trị, và cả con người tôi thấy trên đường phố, đối với các cao ốc hiện đại đang được dựng cao."

Hắn đâu có biết những cao ốc đang vươn lên ở Hà Nội là tác phẩm của máu và nước mắt . Những tên cán bộ giàu sụ tham ô hút máu nhân dân để có những cao ốc ngày hôm nay mà người chủ chính là những tên chúp bu trong đảng CS. Nguyễn Hữu Liêm từ khách sạn Thắng Lợi đi về Mỹ Đình quá sớm nên hắn không nhìn thấy cảnh những người dân lom khom dưới phố đang ôm từng thùng bánh mì to tướng, ngồi từng góc đường của phố Hà Nội, hắn đâu nhìn thấy cảnh những đứa bé chạy nhanh về bãi rác Nam Sơn để dành lấy những mãnh rác của cuộc đời . Có thể là hắn biết nhưng hắn đã quá hèn để cố tình không nhìn thấy máu và nước mắt của người dân VN chúng ta đang chảy chung quanh những cao ốc mà hắn đang đi qua.

Nguyễn Hữu Liêm viết tiếp:

"Ngày thứ ba của Đại hội, ở cuối phần bế mạc, tôi cùng đứng dậy chào cờ. Bài “Tiến quân ca” được vang cao trong cả hội trường. Lạ thật.. Tôi chưa hề từng nghe Quốc ca Việt Nam (này) trong khung cảnh thể thức như thế. Từ ấu thơ đến bây giờ, tôi từng hát Quốc ca của miền Nam, trước năm 1963 thì cùng với bài hát buồn cười “Suy tôn Ngô Tổng thống.” Ba mươi bốn năm qua là Quốc ca Hoa Kỳ xa lạ, Star Spangled Banner. Nay thì tôi lại nghe và chào Quốc ca Việt Nam và lá cờ đỏ sao vàng. Con người là con vật của biểu tượng. Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước. Tôi cảm nhận được một dòng điện chạy từ đáy lưng theo xương sống lên trên cổ trên đầu như là khoảnh khắc thức dậy và chuyển mình của năng lực Kundalini. Tôi nhìn lên phía trước, khi vừa hết bài Quốc ca, mấy chục cô và bà đại biểu từ Pháp đang chạy ùa lên sân khấu, vỗ tay đồng ca bài “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Tôi nhìn qua các thân hữu Việt kiều từ Mỹ, và ngạc nhiên khi thấy hầu hết – kể cả những người mà tôi không ngờ – đang vỗ tay hào hứng la to, Việt Nam! Hồ Chí Minh! Cả hội trường, và tôi, cùng hân hoan trong tất cả (vẫn là) cái hồn nhiên mà dân tộc ta đã bước vào từ hồi thế kỷ trước."

Hắn vừa viết xong là: "Từ ấu thơ đến bây giờ, tôi từng hát Quốc ca của miền Nam, trước năm 1963 thì cùng với bài hát buồn cười “Suy tôn Ngô Tổng thống" . Hắn buồn cười khi hát bài “Suy tôn Ngô Tổng thống" nhưng hắn lại hồ hỡi khi hát bài “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng” Cả hai bài đều ca tụng lãnh tụ như nhau nhưng Nguyễn Hữu Liêm "buồn cười" bài “Suy tôn Ngô Tổng thống" nhưng hồ hởi ca tụng Cụ Hồ . Hắn tưởng là đưa triết học vào bài viết thì người đọc sẽ bỏ qua cái ấu trỉ của hắn không để ý hắn là một con chó vừa ỉa xong là quay lại liếm vào đống cứt mình.

Tôi nhiều lần cũng đọc bài của Nguyễn Hữu Liêm trên báo danchimviet. com nhưng lần nầy lại thấy hắn biến thành một con chó săn biết vẩy đuôi ca ngợi chủ của hắn là những tên đồ tể khát máu CSVN. Đoạn kết hắn thú tội:

"Xin chân thành cảm ơn tất cả. Ôi hỡi quê hương Việt Nam. Lần này, tôi đã thực sự trở về!"

Thực sự hắn đã trở về với bầy chó sói mà hắn đã xa cách. Đúng là châu về hiệp phố. Xin chúc mừng cho hắn đã tìm được đồng loại .

Thu Hiền (Hà Nội) (ngưng trích)

Đọc bài viết trên, tôi thấy không cần thiết nói thêm gì nữa về Nguyễn Hữu Liêm. Cứ theo “tam đoạn luận” thì Trần Văn Ân không khác gì Nguyễn Hữu Liêm cả.

Tôi không chống đối gì những người Việt hải ngoại về Việt Nam, tuy nhiên tôi khinh tởm bất cứ kẻ nào vênh váo và huyênh hoang “áo gấm về làng” một cách vô ý thức. Trần Văn Ân về Việt Nam vì có con trai làm ăn lớn lao với cộng sản thì cũng là cái chuyện bình thường thôi. Nhưng cái giọng điệu “hồ hởi” khoe khoang về Việt Nam mỗi năm của y quả là một sự trơ trẻn, lố bịch, dị hợm và vô liêm sỉ. Một cựu trung tá với chức vụ cao cấp là phát ngôn nhân của Bộ Quốc Phòng Việt Nam Cộng Hòa, mà không biết nhục khi phải cúi lạy kẻ thù khi về nước, thế thì có gì đáng hãnh diện mà khoe khoang? Mới ngày nào chạy “tóe khói” để xin tỵ nạn, thề thốt đủ điều, thế mà bây giờ chỉ vì chút danh ảo hay chút lợi lộc nhỏ nhoi lại quay 180 độ bán rẻ lương tâm, phản bội lại lý tưởng. Đồ vô liêm sỉ.

Trần Văn Ân cho rằng kết hợp, đóng góp “chất xám” cho Việt Nam là cần thiết và tốt, thế thì với cái danh hiệu “giáo sư”, tại sao Trần Văn Ân không ở luôn bên đó mà đóng góp, xây dựng. Thật là một thằng hèn, chỉ biết nói dốc bằng cái lỗ miệng mà thôi. Việt Nam thay đổi mới, may mắn quá, sao không ở bên đó mà hưởng cái may mắn? Quả thật chỉ biết sủa vớ vẩn mà thôi.

Trần Văn Ân quả là thằng hề ngu xuẩn, không đủ khả năng đóng trọn vai trò mà Bác và Đảng giao phó. Việt Nam làm gì có cái chuyện kinh tế cứ mỗi năm tăng trưởng 10% mà lại đi nổ sảng. Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới (WEF) năm 2010 kỳ này tại Davos, Nguyễn Tấn Dũng cũng phải ú ớ về cái lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của năm 2009 giảm xuống hơn 30% so với năm 2008. Trong khi đô la của Mỹ bị tụt giá trên thế giới, thế mà tại Việt Nam lại tăng từ 15 ngàn lên tới gần 20 ngàn đồng Việt Nam mới đổi được một đô la Mỹ. Thế mà Trần Văn Ân lại sủa bậy. Trần Văn Ân cần phải cập nhật tin tức và ôn bài vở cho cẩn thận kẻo lòi cái ngu của mình ra. Việt Nam Cộng Hòa mất nước cũng tại vì trước kia xử dụng cái đám ngu và vô liêm sỉ như Trần Văn Ân, mà bây giờ Bắc Bộ Phủ dùng lại cái loại ngu này thì chắc cái ngày tàn của Cộng Sản Việt Nam cũng sắp kề.

Trần Văn Ân lại nhai cái luận điệu cũ mềm “hãy về Việt Nam để chứng kiến tận mắt”, cái điệp khúc mà tất cả chóp bu cộng sản đều sủa giống nhau. Cần gì phải về Việt Nam mới thấy hàng ngàn công an đánh người, giật sập Thánh Giá Đồng Chiêm. Cần gì về Việt Nam mới thấy cộng sản dùng luật rừng rú để bóp miệng Linh mục Nguyễn Văn Lý, quản thúc các nhà lãnh đạo tôn giáo, hoặc giam cầm những nhà đấu tranh dân chủ, hay đánh đập dân oan, và trù dập những người ái quốc đòi bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa một cách tàn nhẫn, phi lý, bất công. Cần gì về Việt Nam để thấy xì ke, ma túy, đĩ điếm, ăn mày, tham nhũng, thối nát tràn lan khắp mọi nơi. Trong thời đại internet toàn cầu này thì cần gì phải đi đâu, mà chỉ cần có sự quan tâm thì cái gì chúng ta không biết. Người quốc nội chưa chắc biết rõ những gì xảy ra trong nước bằng người hải ngoại vì trong nước bưng bít thông tin một chiều, dân chúng thiếu phương tiện, máy móc thì làm sao biết được cái gì ngoài mấy bửa ăn chưa chắc là có đủ.

Trần Văn Ân chớ có lếu láo và hỗn xược nói xỏ xiên và xúc phạm đến những người không muốn về Việt Nam làm thân khuyển mã như Trần Văn Ân. Không ngờ một cựu trung tá, một phát ngôn nhân Bộ Quốc Phòng mà đầu óc thiển cận và ngu muội đến thế. Cần gì phải lên hỏa tinh mới biết trên đó không có sự sống, cần gì rờ vô lửa mới biết nó nóng, cần gì rờ vô điện mới biết bị giựt, cần gì đi Tây Bá Lợi Á mới biết nó lạnh, cần gì sống với cộng sản mới biết nó tàn ác, phi nhân. Chỉ có bọn vô liêm sỉ và ngu xuẩn như Trần Văn Ân mới bị “lú” mà thôi.

Bây giờ đến chuyện tên Việt gian Trần Văn Chi, hiện là phó Tổng giám đốc nhật báo Việt Herald tiếp tay với Lữ Giang và Trần Văn Ân nhục mạ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trên các hệ thống truyền thông, báo chí. Bằng chứng là trong chương trình “Gặp Gỡ Báo Chí” trên đài truyền hình băng tầng 18.7 VAN-TV do Bruce Trần làm chủ, ngày 8 tháng 12 năm 2009, ba tên này đã thay phiên nhau “đấu tố” và nhục mạ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa theo đúng kế hoạch của cộng sản. Khi Trần Văn Chi mớm câu hỏi nhận xét ra sao về chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, thì Trần Văn Ân trả lời như sau:

“Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa của mình hoàn toàn dựa vào Mỹ 100%, và khi Mỹ bảo là tôi bỏ các ông, hết nghĩa là hết, cái đó là cái point. Ngược lại thì bên chính quyền Việt Nam bây giờ thì họ dựa vào cái nội tại họ nhiều lắm, chứ mình thì không có cái đó.” (…)

“Tại làm sao mà Mỹ lại muốn dùng những cựu quân nhân hay những người quân nhân, bởi vì thường thường những người quân nhân là những người không có kiến thức đủ về chính trị và kinh tế, và giáo dục vân vân. Thì như thế cho nên rằng dùng những người quân nhân thì nó dễ điều động hơn, dễ control hơn. Dù rằng mình đồng ý hay không đồng ý với ông Diệm, cũng công nhận giữ được thể thống quốc gia. Thế nhưng khi những cái quan trọng nó mất rồi thì một số tướng lên thì cái đầu tiên nó không có kỷ cương quốc gia nữa. Mạnh ông nào thì chiếm lấy cái ảnh hưởng của mình. Thành ra cái chuyện dùng cái chữ không có được đẹp là sau ông Diệm rồi, đến lúc nó là cả cái chuyện bát nháo. Khi mà mỗi ông tướng được lên, ông Khánh mang một mớ tướng lãnh đàn em lên, thế rồi ông Thiệu mang một số, thế rồi ông Khiêm lên, cứ mỗi ông có một cái phần của mình trong đó. Chính ra là sau khi ông Diệm bị lật đổ thì Việt Nam trở thành tình trạng hổn loạn, hổn quân hổn quan. Và đặc biệt cái thời gian mà tệ nhất là nếu quý vị ở Sài Gòn, thời gian mà có 5, 6 ông Cò của mình, nó cứ loạn lên ở Sài Gòn, họ chỉ có đi chơi thôi không à. Thành ra cái kỷ cương càng ngày nó càng mất. Cái đó là cái nhận định của tôi.” (ngưng trích)



Trần Văn Ân quả thật là một tên vô lại, ăn cháo đái bát, vong ân bạc nghĩa, qua cầu rút ván. Chính phủ nào cho Trần Văn Ân bổng lộc, làm được cái chức béo bở như vậy? Tại sao Trần Văn Ân thấy mấy ông tướng hay chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bê bối như vậy mà Trần Văn Ân không từ chức mà lại giữ cái vai trò lớn lao là chức phát ngôn nhân Bộ Quốc Phòng suốt mấy năm trời? Tại sao lúc đó Trần Văn Ân không lên tiếng chỉ trích hay phản đối? Quả thật là một thằng hèn hạ và khiếp nhược. Quốc gia nào, chính phủ nào, tập thể tướng tá, quân nhân nào mà không có người tốt kẻ xấu, thế mà bọn này lại đi “quơ đủa cả nắm”, chờ cho đến giờ này, đúng thời điểm Bắc Bộ Phủ “bật đèn xanh” thì Trần Văn Chi, Lữ Giang và Trần Văn Ân bắt đầu ra mặt nhục mạ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Mục đích để làm gì?



Tôi không phải là cựu Quân Cán Chính của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng tôi thấy hành động lố lăng và mất dạy của 3 tên vô lại này khiến tôi phẫn nộ và tức giận vô cùng. Ngạn ngữ Á-rập cho rằng: “Một con chó trung tín còn giá trị hơn một kẻ vong ân,” và Le Talmud cảnh cáo: “Đừng vứt đá xuống dòng suối mà anh đã uống nước.” Bọn này quả thật không xứng đáng làm con chó, chớ nói chi đến việc làm con người. Trong khi những người Việt tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại đang dồn mọi nỗ lực để hỗ trợ cho công cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ cho đồng bào quốc nội hiện tại đang bị bạo quyền cộng sản áp bức thô bạo, thì trái lại bọn vô liêm sỉ này lại bươi móc quá khứ để nhục mạ, phỉ báng và dè bỉu. Trần Văn Chi, Lữ Giang, Trần Văn Ân quả thật là một lũ khốn kiếp vô luân.



Trần Văn Ân còn tạo sự chia rẽ giữa quân đội và cảnh sát khi y lên án và nhục mạ rằng “5, 6 ông Cò của mình, nó cứ loạn lên ở Sài Gòn, họ chỉ có đi chơi thôi không à. Thành ra cái kỷ cương càng ngày nó càng mất.” Tôi tin là những người Cảnh Sát Quốc Gia sẽ có thái độ thích đáng với lời phát biểu mất dạy và hổn láo của Trần Văn Ân khi đi xúc phạm đến tập thể Cảnh Sát Quốc Gia.



Trần Văn Ân có biết ông Nguyễn Thừa Du, từng giữ chức vụ trung tá, tiểu đoàn trưởng Biệt Động Quân trước khi trở thành ông “Cò Du” không? Thế mà tại sao Trần Văn Ân lại dám xúc phạm đến tư cách và tinh thần chiến đấu của những ông Cò này? Trần Văn Ân hãy chuẩn bị mà trả lời và đối phó với sự phẫn nộ từ các chiến hữu và thân nhân của các ông Cò này trong một thời gian không xa đâu. Trần Văn Ân có đạo đức và có khả năng chiến đấu anh dũng bằng các ông Cò này không?



Tôi lấy làm thắc mắc là báo Việt Herald hiện nay có 3 người là Trần Văn Chi, phó Tổng giám đốc, Lữ Giang và Trần Văn Ân đều là “biên tập viên” chính thức của báo Việt Herald lại cùng nhau nhục mạ, phỉ báng các vị lãnh đạo và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Có phải chăng báo Việt Herald cùng với báo Người Việt đang thi hành Nghị Quyết 36 của Cộng Sản Việt Nam?



Tôi cũng muốn tìm hiểu lý do là tại sao Trần Văn Ân là người thân cộng và về Việt Nam thường xuyên như vậy mà lại đến tham dự và gia nhập vào Ban Lãnh Đạo của Ủy Ban Phối Hợp Đấu Tranh Chống Cộng Sản và Tay Sai do ông cựu Thứ trưởng Giáo Dục Nguyễn Thanh Liêm và cựu Dân biểu Bùi Văn Nhân tức nhà báo Vi Anh cùng các nhân sĩ đứng ra thành lập vào ngày 10 tháng 10 năm 2009 tại Little Saigon, rồi mấy ngày sau lại xin rút lui? Có phải Trần Văn Ân muốn làm “gián điệp” đến theo dõi tình hình đấu tranh của cộng đồng để báo cáo lại với Bắc Bộ Phủ hay không?



Tôi xin ngừng viết tại đây vì tôi quá khó chịu về cái hành động lố lăng của Trần Văn Ân và tập đoàn khi coi thường “sức mạnh cộng đồng.” Mục đích bài viết này là để cảnh báo cùng cộng đồng tỵ nạn biết về hành động phản trắc của tên “gián điệp Trần Văn Ân”. Tôi nghĩ là hai Ban Đại Diện Cộng Đồng của Bác sĩ Nguyễn Xuân Vinh và của ông Đốc sự Nguyễn Tấn Lạc, và 81 hội đoàn từng ký tên yêu cầu Hội Đồng Liên Tôn đứng ra tổ chức bầu cử Ban Đại Diện Cộng Đồng Nam Cali để lo đại sự, thì trước hết quý vị và Hội Đồng Liên Tôn nên giải quyết mấy cái “tiểu sự” trước mắt cái đã. Trước khi nói đến chuyện đội đá vá trời, trước khi muốn giải thể đảng cộng sản và giật sập Bắc Bộ Phủ bên kia Thái Bình Dương cách xa cả mười mấy ngàn dặm, thì quý vị nên trừng trị nhật báo Người Việt nhục mạ lá cờ Vàng ba sọc đỏ trong chậu rửa chân, hỏi tội Đỗ Ngọc Yến đi đêm với Nguyễn Tấn Dũng, phản đối báo Việt Herald đăng bài “Kẻ phản bội” của Lữ Giang nhục mạ cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và cũng là cố Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là một tên “ác ôn côn đồ”, và mới đây nhất là tên Trần Văn Ân, một cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lại đi ca tụng và tuyên truyền cho cộng sản ngay tại thủ đô tỵ nạn Little Saigon. Hãy làm những cái nhỏ trước khi bàn đến cái lớn lao. Hành động lúc nào cũng tốt và thực tế hơn là nói.

Ngô Kỷ

Tuesday, February 2, 2010

Ðổi trắng thay đen - Nguyễn Đạt Thịnh

Nguyễn Đạt Thịnh

“Chúng cháu bị thầy Xương đe dọa sẽ hạ thấp kết quả học tập ép chúng cháu quan hệ tình dục với thầy”, cô nữ sinh Nguyễn thị Thanh Thúy viết trong lá thư gửi cho luật sư Trần Ðình Triển, người được chỉ định để bênh vực cô. Trong thư cô liệt kê một danh sách chi tiết về những người bạn của thầy Sầm Ðức Xương mà cô và các bạn cô phải “quan hệ tình dục”.

Yêu tinh Sầm Đức Sương
Nói cách khác thầy giáo Xương không những lạm dụng quyền chấm điểm, mà còn đem quyền này ra làm áp lực bắt cô Thanh Thúy ăn nằm với thầy; không chỉ riêng cô nữ sinh Thanh Thúy, thầy còn ép cô nữ sinh Nguyễn thị Hằng, và 15 nữ sinh khác thất thân với thầy. Hành động biến nữ sinh thành đối tượng giúp thầy thoả mãn thú tính làm thầy trở thành một con yêu râu xanh tác oai tác quái trong lớp học.

Chưa hết, thầy còn khoe việc thầy làm với bè bạn như khoe một chiến tích vinh quang, và giúp họ được hưởng thú nhục dục mà thầy đã hưởng bên những cô nữ sinh nạn nhân. Hành động chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao khiến thầy Xương trở thành một thứ ma cô nguy hiểm hơn những ma cô chuyên nghiệp, vì thầy dùng quyền lực ép nữ sinh học với thầy “đi khách”.

Chuyện ngược đời là cha mẹ học sinh gửi con đến trường để chúng học điều hay, lẽ phải, văn chương, khoa học, chứ không phải để “vỡ lòng học lấy những nghề nghiệp hay”. Nếu việc làm của thầy Xương xẩy ra ở một nước văn minh thì không những thầy ngồi gỡ lịch trọn đời trong khám đường, mà “nhà nước” trả lương cho thầy cũng sẽ trách nhiệm bồi thường cho cô Thúy, cô Hằng, và 15 bạn học của cô những số tiền lớn lao, mặc dù tiền không bù đắp được những cái ngàn vàng của các cô mà thầy Xương cướp mất.

Mô tả ảnh.Ngược đời thêm nữa là cả hai cô cùng bị truy tố về tội mãi dâm, và cả hai cùng viết những lá thư cho luật sư bênh vực họ, mà họ gọi là “những lá đơn kêu cứu, viết bằng máu và nước mắt.”

Cô Thanh Thúy ghi trong thư gửi luật sư, là cô viết vào lúc 10 giờ sáng ngày 20 tháng Giêng tại trại giam, sau khi phiên tòa phúc thẩm bị hoãn.

Trong lá thư máu cô viết:

“Đây là lá đơn kêu cứu cháu viết bằng máu và nước mắt, kính mong các cô chú cứu cháu. Đã 4 tháng 16 ngày nay, cháu bị giam giữ toàn với người lớn là người dân tộc không biết tiếng Kinh (như mù, như điếc).

Trong 2 tháng qua, cháu không được gặp người thân và không nhận quà, rất khó khăn và khổ sở khi tới ngày vệ sinh phụ nữ. Tội là tội của người lớn mà bọn cháu là nạn nhân sao lại giam cầm cháu. Do đó cháu xin các cô chú cứu cháu với”.

Lá đơn kêu cứu của bị cáo Nguyễn Thị Hằng gửi luật sư Nguyễn Văn Tú cũng có nội dung tương tự. Tờ VietnamNet viết, “Ngoài việc cung cấp tên tuổi những người mà Hằng đã quan hệ tình dục, bị cáo Hằng còn cho biết thêm: ‘cháu có khai toàn bộ tên tuổi những người ngoài Sầm Đức Xương mà các cháu phải quan hệ tình dục, nhưng hiện nay trong hồ sơ vụ án không có tài liệu nào thể hiện lời khai của cháu".

Ra tòa cô Hằng mới biết là tên tuổi những quan chức nhà nước hưởng thụ thân xác học trò của cô đã được các quan chức nhà nước khác xóa bỏ. Do đó không hề có việc cô bị thầy giáo Xương và những người bạn của thầy hiếp dâm mà cô chỉ là một cô gái mãi dâm tiếp khách.

Cái trò đổi trắng thay đen của pháp luật Việt Cộng quả là khiếp đảm; luật sư Nguyễn Văn Tú, biện hộ cô Hằng, nhũn nhặn nói: “các luật sư chúng tôi chỉ mong muốn cơ quan chức năng của tỉnh Hà Giang làm minh bạch, công khai và đúng pháp luật để đảm bảo đúng người, đúng tội!”.

Luật sư Trần Đình Triển
Ông Tú cũng như ông Triển không đòi hỏi thực hiện công lý, không biện hộ cho người vô tội mà chỉ “mong muốn”, chỉ “xin” quý tòa xử công khai và công bằng để bảo đảm một nguyên tắc của nhà nước là truy tố “đúng người, đúng tội.”

Hai “bị can” Thúy và Hằng đã cung cấp tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại, chức vụ công tác của những người đã quan hệ tình dục với các cháu vị thành niên. Trong số đó, nhiều người là quan chức, công chức nhà nước của tỉnh Hà Giang, nhiều người là chủ doanh nghiệp. Những người này được Sầm Đức Xương “môi giới” đưa các cháu vị thành niên tới để họ thực hiện quan hệ tình dục, và trả tiền cho Sầm Đức Xương.

Danh sách thứ nhì ghi nhận tên của 15 cháu gái trong độ tuổi từ 13 đến 17 tuổi bị ép “ăn ngủ” cũng trong trạng huống giống 2 bị can: bị cưỡng ép, dụ dỗ, khống chế, đe dọa buộc phải quan hệ tình dục hoặc lôi kéo người khác phục vụ tình dục cho “nhóm bạn của thầy Xương”.

Bà Nguyễn Thị Toán, vợ bị cáo Sầm Đức Xương cho biết, trong lúc cơ quan điều tra vụ chồng bà ăn nằm với nữ sinh, bà được nhiều người tự xưng là cán bộ của tòa án, viện Kiểm Sát, công an gọi điện hoặc đến gặp bà Toán và “tư vấn” cho bà mang tiền đi “khắc phục hậu quả” (bồi thường cho nạn nhân bằng tiền mặt) để từ đó có tình tiết giảm án cho Sầm Đức Xương.

Ðiều trái cẳng ngỗng trong tòa án Việt Cộng là chỗ ngồi của hai cô Thúy và Hằng: họ không có lý do gì để phải ngồi ghế bị cáo; cũng như 4 chiến sĩ dân chủ Lê Công Ðịnh, Nguyễn Tiến Trung,Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, họ cũng bị đặt ngồi sai chỗ.

Ðiều tréo cẳng ngỗng đó càng tròng tréo hơn với thái độ nhận tội của 2 ông Ðịnh và Trung; liệu hai cô nữ sinh Thúy và Hằng, hai nạn nhân bị quan chức nhà nước bề hội đồng có phải nhận tội mãi dâm không?

Tòa án Việt Cộng man rợ đến như vậy mà dân biểu luật sư Cao Quang Ánh vẫn ca tụng chế độ đổi trắng thay đen là tự do!

Nguyễn Ðạt Thịnh