Saturday, January 16, 2010

Hoàng Sa Tổ Quốc Ghi Ơn Những Anh Hùng Tử Sĩ Việt Nam Cộng Hòa


    1. HQ.Th/Tá: Ngụy Văn Thà
    63A/700.824

    2. HQ.Đ/Úy: Nguyễn Thành Trí
    61A702.714

    3. ThS.1/TP: Châu

    4. TS /QK: Nguyễn Văn Tuấn
    71A700.206

    5. TS /GL: Vương Thương
    64A700.777

    6. TS /TP: Võ Văn Nam
    71A705.697

    7. TS /VCh: Phan Ngọc Đa
    71A703.001

    8. ThS ĐT: Trần VănThọ
    71A706.845

    9. TT ĐT: Thanh

    10. HQ.Tr/Úy: Vũ Văn Bang
    66A/702.337

    11. HQ.Tr/Úy: Phạm Văn Đồng
    67A/701.990

    12. HQ.Tr/Úy: Huỳnh Duy Thạch
    63A/702.639

    13. HQ.Tr/Úy: Ngô Chí Thành
    68A/702.453

    14. HQ.Tr/Úy: Vũ Đình Huân
    69A/703.058

    15. THS.1/CK: Phan Tân Liêng
    56A/700.190

    16. THS.1/ĐK: Võ Thế Kiệt
    61A/700.579

    17. THS. /VC: Hoàng Ngọc Lê
    53A/700.030

    18. TRS.1/VT: Phan Tiến Chung
    66A/701.539

    19. TRS. /TP: Huỳnh Kim Sang
    70A/702.678

    20. TRS. /TX: Lê Anh Dũng
    70A/700.820

    21. TRS. /ĐK: Lai Viết Luận
    69A/700.599

    22. TRS. /VC: Ngô Tấn Sơn
    71A/705.471

    23. TRS. /GL: Ngô Văn Ơn
    69A/701.695

    24. TRS. /TP: Nguyễn Thành Trong
    72A/700.861

    25. TRS. /TP: Nguyễn Vinh Xuân
    70A/703.062

    26. TRS. /CK: Phạm Văn Quý
    71A/703.502

    27. TRS. /CK: Nguyễn Tấn Sĩ
    66A/701.761

    28. TRS. /CK: Trần Văn Ba
    65A/700.365

    29. TRS. /ĐT: Nguyễn Quang Xuân
    70A/703.755

    30. TRS. /BT: Trần Văn Đàm
    64A/701.108

    31. HS.1 /VC: Lê Văn Tây
    68A/700.434

    32. HS.1 /VC: Lương Thành Thu
    70A/700.494

    33. HS.1 /TP: Nguyễn Quang Mén
    65A/702.384

    34. HS.1 /VC: Ngô Sáu
    68A/700.546

    35. HS.1 /CK: Đinh Hoàng Mai
    70A/700.729

    36. HS.1 /CK: Trần Văn Mông
    71A/703.890

    37. HS.1 /DV: Trần Văn Định
    69A/700.627

    38. HS /VC: Trương Hồng Đào
    71A/704.001

    39. HS /VC: Huỳnh Công Trứ
    71A/701.671

    40. HS /GL: Nguyễn Xuân Cường
    71A/700.550

    41. HS /GL: Nguyễn Văn Hoàng
    72A/702.678

    42. HS /TP: Phan Văn Hùng
    71A/706.091

    43. HS /TP: Nguyễn Văn Thân
    71A/702.606

    44. HS /TP: Nguyễn Văn Lợi
    62A/700.162

    45. HS /CK: Trần Văn Bây
    68A/701.244

    46. HS /CK: Nguyễn Văn Đông
    71A/703.792

    47. HS /PT: Trần Văn Thêm
    61A/701.842

    48. HS /CK: Phạm Văn Ba
    71A/702.200

    49. HS /DK: Nguyễn Ngọc Hoà
    71A/705.756

    50. HS /DK: Trần Văn Cường
    72A/701.122

    51. HS./PT: Nguyễn Văn Phương
    71A/705.951

    52. HS /PT: Phan Văn Thép
    70A/703.166

    53. TT.1 /TP: Nguyễn Văn Nghĩa
    72A/703.928

    54. TT.1 /TP: Nguyễn Văn Đức
    73A/701.604

    55. TT.1 /TP: Thi Văn Sinh
    72A/703.039

    56. TT.1 /TP: Lý Phùng Quý
    71A/704.165

    57. TT.1 /VT: Phạm Văn Thu
    70A/702.198

    58. TT.1./PT: Nguyễn Hữu Phương
    73A/702.542

    59. TT.1 /TX: Phạm Văn Lèo
    73A/702.651

    60. TT.1 /CK: Dương VănLợi
    73A/701.643

    61. TT.1 /CK: Châu Tuỳ Tuấn
    73A/702.206

    62. TT.1 /DT: Đinh Văn Thục
    71A/704.487

    HQ. 4

    HQ Th/Úy:
    Nguyễn Phúc Xá

    Tr. Khẩu 20

    HS1/VC
    : Bùi Quốc Danh

    Xạ Thủ

    Biệt-Hải

    Nguyễn Văn Vượng

    Xung Phong Tiếp Đạn

    HQ.5

    HQ Tr/Úy:
    Nguyễn Văn Đồng

    ThS/ĐT: Nguyễn Phú Hào

    TS1TP: Nguyễn Đình Quang

    HQ.16

    TS/ĐK: Xuân

    HS/QK: Nguyễn Văn Duyên

    Người-Nhái

    Tr/Úy NN: LêVăn Đơn

    Tr. Toán HS/NN: Đỗ Văn Long

    TS/NN: Đinh Hữu Từ

ooOoo

Văn Tế Anh Hùng Tử Sĩ VNCH Hoàng Sa

30 năm ngày giỗ Trận hải chiến Hoàng Sa
19 Tháng 1 Năm 1974


Đây Hoàng Sa. Đây Hoàng Sa
Trận hải chiến lẫy lừng trong lịch sử
Bảo vệ quốc gia - Vẹn toàn lãnh thổ
Vinh quang thay - Hải lực Việt oai hùng
Giữa biển khơi, bao chiến sĩ hy sinh
Máu tô thắm dệt thành trang hùng sử

Ba mươi năm xưa
Một ngày rực lửa
Trung Cộng ngang tàng
Xua chiến hạm tính nuốt trôi đảo Việt
Nào Soái Hạm, Trục Lôi, Hộ Tống
Nào Phi Tiễn Đĩnh, nào Hải Vận Hạm chở quân
Tiến ầm ầm, dậy sóng biển Đông

Hải đội xung kích Hải Quân ta
Trực chỉ Hoàng Sa
Quần đảo hoang sơ, ẩn hiện khói sương mờ
Nằm án ngữ nơi bao lơn nước Việt
Lãnh hải xa, bao đời ông cha ta trấn thủ
Bia đá rành rành, văn bản vẫn còn ghi
Thế mà nay, quân xâm lược rình mò
Giống cuồng khấu, ôm giấc mơ Nam tiến
Ta sẵn sàng nghênh chiến
Dàn đội hình quần thảo một phen
Quyết không hổ danh
Hậu duệ Ngô Quyền, Trần Quốc Tuiấn

Lực lượng ta:
Trần Khánh Dư Khu Trục Hạm
Trần Bình Trọng, Lý Thường Kiệt Tuần Dương Hạm
Nhật Tảo Hộ Tống Hạm oai phong
Biển động sóng cuồng
Súng gầm khạc lửa
Chiến hạm địch quay cuồng bốc cháy
Bộ Tham Mưu tan xác banh thây
Đô Đốc, Tá, Úy, Hạ Sĩ Quan, Đoàn Viên
Thương vong vô số kể
Địch cố thoát vòng vây
Điên cuồng chống trả
Hộ Tống Hạm Nhật Tảo trúng pháo địch
Lửa cháy bùng thượng từng kiến trúc
Ổ súng ngả nghiêng
Đài chỉ huy tan nát

Trung Tá Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà
Dáng dấp thư sinh - Chỉ huy quyết liệt
Dạn dầy hải nghiệp - Sói biển phong sương
Bị trọng thương, quyết theo tầu vào lòng biển

Thiếu Tá Hạm Phó Nguyễn Thành Trí
Trọng thương nhưng tinh thần bất khuất
Xin được chết theo tầu
Hạm trưởng lắc đầu:
''Anh phải đi
Xuồng đào thoát cần một vị chỉ huy
Hãy để một mình tôi ở lại''
Ôi khẳng khái
Những anh hùng biển cả
32 Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Đoàn Viên đã vị quốc vong thân.
Chiến sĩ Hải Quân
Kiên cường bắn tới viên đạn cuối
Trước khi chìm vào lòng biển Mẹ mênh mông

Ngày hôm nay, 19 tháng Giêng năm 2004
Nhớ ngày các anh em đã xả thân vì Tổ Quốc
Lũ chúng tôi, bạn bè cùng trang lứa
Quân chủng Hải Quân, tình chiến hữu năm xưa
Trước bàn thờ bài vị trang nghiêm
Ba mươi năm ngày giỗ trận
Thắp nén nhang thơm tưởng niệm
Dâng ly rượu lễ chí thành
Cúi mong các bạn hiển linh
Hồn thiêng về đây chứng giám
Xin được nghiêng mình vinh danh những anh linh tử sĩ oai hùng:
Hải Quân Trung Tá Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà
Hải Quân Thiếu Tá Hạm Phó Nguyễn Thành Trí
Hải Quân Trung Úy Vũ Văn Bang
Trung Úy Cơ Khí Ngô Chí Thành
Trung Úy CK Hàng Hải Thương Thuyền Huỳnh Duy Thạch
Hải Quân Trung Úy Vũ Đình Huân
Hải Quân Trung Úy Nguyễn Văn Đông
Hải Quân Thiếu Úy Lê Văn Đơn
Một Hải Quân Thiếu Úy vô danh
Hải Quân Thiếu Úy Nguyễn Phúc xạ
Thượng Sĩ Quản Nội Trưởng Châu
Thượng Sĩ Vận Chuyển Lễ
Trung Sĩ Cơ Khí Nguyễn Tấn Sĩ
Trung Sĩ Thám Xuất Lê Anh Dũng
Trung sĩ Điện Tử Trung
Trung Sĩ Giám Lộ Vương Thương
Trung Sĩ Quản Kho Tuấn
Trung Sĩ Trọng Pháo Nam
Hạ sĩ Vận Chuyển Lê Văn Tây
Hạ Sĩ Trọng Pháo Trứ
Hạ sĩ Trọng Pháo Hùng
Hạ sĩ Giám Lộ Ngô Văn Ơn
Hạ sĩ Vận Chuyển Trứ
Hạ Sĩ Nguyễn Thành Danh
Hạ Sĩ Quản Kho Nguyễn Văn Duyên
Hạ sĩ Đỗ Văn Long
Thủy thủ Trọng Pháo Đức
Thủy thủ Điện Tử Thanh
Thủy thủ Trọng Pháo Thi Văn Sinh
Thủy thủ Trọng Pháo Mến
Thủy thủ Cơ Khí Đinh Hoàng Mai
Và hai mươi sáu chiến hữu Hải Quân mất tích

Nhớ chư linh xưa
Tung hoành dọc ngang - Biển Đông vùng vẫy
Lướt sóng kình ngư - Giữ gìn lãnh hải

Hỡi ơi
Nào ngờ biển Đông sóng dậy
Hải âu gẫy cánh trùng dương

Các anh đi
Để nhớ để thương
Cho mẹ, cho cha, cho vợ, cho con
Cho bạn bề các cấp
Gương tuẫn quốc, muôn đời ghi công nghiệp
Lòng hy sinh, sáng mãi đến ngàn thu

Trước bàn thờ
Đèn nến lung linh
Hương trầm ngào ngạt
Hồn linh thiêng
về chứng giám lòng thành
Con Rồng cháu Lạc hy sinh
Xứng danh Liệt Tổ, Liệt Tông
Tổ Quốc muôn đời ghi nhớ

Cung Duy Thượng Hưởng

(Trần Quán Niệm và Phạm Tứ Lang hợp soạn Ngày 1 tháng 1 năm 2004)

http://hqvnch.net/default.asp?id=909&lstid=4


Hà Văn Ngạc

Sự tranh chấp về chủ quyền của các đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được các sử gia và các nhà nghiên cứu về thềm lục địa trình bày rất nhiều. Gần đây nhứt là trong cuốn Ðịa lý Biển Ðông của Hải Quân Trung Tá Vũ Hữu San, một công trình nghiên cứu tỉ mỉ, đã sưu tập những tài liệu để chứng minh chủ quyền Việt Nam không những về các hoạt động để xác nhận chủ quyền của quốc gia mà còn phân tích tỉ mỉ về các dữ kiện địa chất, thảo mộc và khí tượng để minh xác là những hải đảo trong vùng Hoàng - Trường Sa đã được tổ tiên chúng ta đặt chân tới đặt bia miếu và trong quá khứ gần đây Việt Nam Cộng Hòa đã tiếp tục tham dự các hoạt đông khí tượng trên bình diện quốc tế.

Khi chính phủ bảo hộ Ðông Dương của người Pháp vào năm 1933 đã ra nghị định sát nhập hành chánh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào các tỉnh ven biển thì chỉ có duy nhứt Nhật bản phản kháng mà thôi và cũng chỉ phản kháng lấy lệ và người Pháp vẫn tiếp tục thi hành nghị định đã ban bố trong công báo Pháp. Ngay cả người Anh, những nhà hàng hải của họ đã khám phá thấy các đảo vùng Trường Sa, nhưng khi Việt Nam, Pháp và Tây Ban Nha ký hiệp ước bảo hộ vào năm 1862 thì họ đã không phản ứng gì.

Sự chiếm đóng quân sự của Ðài Loan trên đảo Thái Bình, của Phi Luật Tân trên đảo Loại Ta, của Trung Hoa Dân Quốc trên đảo Phú Lâm cực bắc của quần đảo Hoàng Sa chỉ vì người Pháp, trong cuộc chiến tranh Ðông Dương đã phải đương đàu ngặt nghèo với các cuộc hành quân tảo thanh cũng như phòng thủ trong đất liền nên chỉ có thể dặt quân trú phòng trên đảo Hoàng Sa mà thôi bằng khoảng một trung đội Lê dương và đã bỏ ngỏ các đảo quan trọng khác. Ðặc biệt là đảo Thái Bình của quần đảo Trường Sa dã bị quân đội Nhật cưỡng chiếm trong đệ nhị thế chiến. Khi quân Nhật đầu hàng thì Trung Hoa Dân Quốc chỉ có nhiệm vụ giải giới quân đội Nhật nhưng họ đã lợi dụng tình thế bối rối lúc bấy giờ của người Pháp để chiếm cứ luôn, cùng với đảo Phú Lâm của quần đảo Hoàng Sa. Riêng về đảo Phú Lâm thì khi đó chiến tranh quốc - cộng đến thời kỳ gần kết thúc tại lục địa, khiến Trung Hoa Dân Quốc đã buộc phải bỏ ngỏ một thời gian và Trung Cộng đã lấn chiếm vào giữa thập niên 50.

Vào khoảng thời gian này thì Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa còn đang ở trong thời kỳ phát triển mạnh, vả lại Hải Quân còn phải tham dự các cuộc hành quân bình định của chính phủ trong sông ngòi cũng như ngoài ven biển nên các hoạt động ngoài biển khơi chỉ được hạn chế trong công cuộc tiếp tục yểm trợ sự hiện diện uqân sự trên đảo Hoàng Sa khi quân Pháp rút khỏi Việt Nam và dựng bia để khẳng định chủ quyền quốc gia trên đảo, đại diện cho quần đảo Trường Sa là đảo trường Sa (Spratly) mà thôi. Hơn nữa, đảo Phú Lâm lại nằm quá sát vĩ tuyến 17 nên còn nằm trong khu vực phi quân sự theo hiệp đinh Ba Lê năm 1954 mà chính phủ Việt Nam Cộng tuy không công nhận nhưng vào lúc này vẫn muốn không vi phạm.

Cho đến khi kỹ thuật khai thác về dầu hỏa ngoài khơi được tiến triển thì vấn đề thềm lục địa được đặt ra, và chủ quyền của các quốc gia trên các hải đảo được chú trọng nhiều hơn. Trong kỳ hội thảo về bản đồ khu vực của Liên Hiệp Quốc cho Á Châu và Viễn Ðông lần thứ sáu (Sixth United Nations Regional Cartographic Conference For Asia And The Far East) họp tại Teheran, thủ đô Ba Tư vào tháng 10 năm 1970 và kéo dài một tháng, trong đó có các phái đoàn của các nước Ðông Nam Á như Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan), Nhật Bản, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Thái Lan vân vân tham dự, Phái đoàn Việt Nam do Ðại Tá Ðoàn Văn Kiệt (Lục Quân) Giám đốc Nha Ðịa Dư quốc gia, trực thuộc Bộ Quốc phòng, hướng dẫn trong đó có một vị kỹ sư địa dư và tôi tham dự. Trong mấy ngày đầu của cuộc hội thảo, phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan, do một vị tướng 3 sao lục quân cầm đầu) đột nhiên nêu vấn đề chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi phát triển trong hội trường.

Vào thời gian này thì tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân đã có thành lập từ lâu Phòng Nghiên cứu hay Phòng 5, và phòng này đã thu thập được nhiều tài liệu lịch sử cũng như pháp lý về chủ quyền của quốc gia Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng vì đây là một cuộc hội thảo có tính cách hợp tác kỹ thuật do Liên Hiệp Quốc tổ chức, nên tôi đề nghị ngay với Ðại Tá Trưởng phái đoàn là phái đoàn Việt Nam sẽ thảo luận với các phái đoàn Ðông Nam Á khác để được sự ủng hộ của họ hầu phát biểu ý kiến lên hội trường là không đặt vấn đề chủ quyền quốc gia trong cuộc hội thảo nặng về kỹ thuật đồ bản này. Sau đó thì phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc đã không phản đối hay nêu thêm gì khác. Cũng cần ghi thêm ở đây là sau kỳ hội thảo tại Teheran Ba Tư, phái đoàn tham dự các cuộc hội thảo kế tiếp đều được Bộ Tư Lệnh Hải Quân đề cử sĩ quan xung vào phái đoàn. Việc nêu chủ quyền trên các hải đảo Hoàng và Trường Sa của Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan) trong một cuộc hội thảo kỹ thuật của Liên Hiệp Quốc đã là một chỉ dấu của một khúc quanh về tranh chấp về chủ quyền các hải đảo, các sự đối đầu sẽ không chỉ còn nằm trong phạm vi tuyên cáo và phản đối lấy lệ về ngoại giao nữa như các quốc gia trong vùng đã từng làm trước đây. Lý do quan trọng nhứt là việc thăm dò các mỏ dầu hỏa từ năm 1969 đến năm 1971 của Việt Nam cộng hòa ngoài khơi Vũng Tàu và Côn Sơn đã làm cho các lân bang chú ý kể cả Trung Công và Cộng sản miền Bắc. Chúng ta còn nhớ là trong khoảng thời gian này, Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa đã ra tận một trong các dàn khoan để châm lửa đốt hơi dầu khánh thành sự thành công về công cuộc tìm kiếm với một trữ lượng dầu đáng kể do một công ty khảo sát địa chất Huê Kỳ tại Houston đảm trách trong một vùng khoảng 4 ngàn hải lý vuông.

Kể từ tháng chạp năm 1971 thì Việt Nam Cộng Hòa đã đặt ra vấn đề chia khu vực đặc nhượng đã hoàn tất, nhưng mãi đến tháng 7 năm 1973 việc nhượng quyền khai thác mới được công bố. Việc chậm trễ này là do nhu cầu chính trị của thời điểm này mà chính phủ Huê Kỳ đã khẩn khoản yêu cầu Việt Nam Cộng Hòa trì hoãn vì vào lúc đó phong trào phản chiến đang lên cao và họ đã chúi mũi dùi vào các hoạt động của các tổ hợp liên quốc dầu hỏa tại Việt Nam và Cam Bốt. Một phần quan trọng nữa là quốc hội Huê Kỳ đã lưu ý đến thềm lục địa vùng Ðông Nam Á vì vấn đề này có liên hệ tới chính quyền của Huê Kỳ tại vùng này. Do đó vào các năm 1970-71 việc thăm dò mỏ dầu ít được quảng bá để làm dịu bớt phong trào phản chiến tại nội địa Huê Kỳ cũng như không làm phương hại tới hòa đàm Ba Lê. Cộng sản Bắc Việt cũng biết được các dự định của Việt Nam Cộng Hòa về việc đặc nhượng nhưng mãi tới tháng 6 năm 1971 mới lên tiếng phản đối. Ðương nhiên là Trung Cộng cũng đã theo dõi các tiến triển về thăm dò trong lòng biển và chú tâm nhiều về các trữ lượng dầu hỏa đáng khích lệ trong vùng Biển Ðông.

Song song với việc thăm dò dầu hỏa là công cuộc thực hiện đặt quân trú phòng trên các đảo còn bỏ trống thuộc quần đảo Trường Sa do chính Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa chủ trương và nắm phần chủ độngvề mọi công tác. Công cuộc thực hiện này là kết quả của một cuộc thao dượt hạm đội vào đầu mùa hè năm 1973 do Bộ Tư Lệnh Hạm Ðội lúc bấy giờ là HQ Ðại Tá Nguyễn Xuân Sơn đề xướng với sự chấp thuận của Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Tôi với chức vụ là Chỉ huy trưởng Hải đội 3 (Hải đội tuần dương) đã được Tư Lệnh Hạm Ðội trao phó trách nhiệm tổ chức lực lượng và đặt kế hoạch thao dượt cũng như chương trình thám sát các hải đảo. Sau khi hòa đàm Ba Lê được ký kết, thì Hạm đội bấy giờ mới có được một số chiến hạm tạm rảnh tay với công tác tuần dương, cho nên thành phần của hải đội đặc nhiệm đã gồm các chiến hạm khiển dụng hoặc tạm hoãn biệt phái cho Bộ Tư Lệnh Hành Quân Biển, trong công tác tuần phòng cận và viễn duyên. Vào những năm chiến tranh sôi động thì các chiến hạm lớn hay nhỏ không thuộc loại chuyên chở đều phải thay phiên nhau tham dự công tác tuần dương hay tuần duyên hoặc đảm trách một vài nhiệm vụ yểm trợ hải pháo tùy theo nhu cầu trong vùng công tác. Bởi vậy sự hoạt động của các chiến hạm theo từng phân đoàn hay hải đoàn ít khi được tực hiện và có thể nói là gần như không có, và nếu có thì thời gian hoạt động rất hạn hẹp. Cũng cần lạm bàn thêm tại đây là cuộc chiến tranh tiễu trừ cộng sản trong nội địa đã phải cần sự tham dự của các đơn vị Hải Quân rất nhiều vì hệ thống sông ngòi và kinh rạch từ Cửa Việt vào Miền Nam qua mũi Cà Mâu cho đến Kinh Vĩnh Tế chạy dọc theo biên giới Miên Việt từ Hà Tiên cho tới Châu Ðốc.

Thành phần của Hải Ðội dặc nhiệm thao dượt gồm có: 1 Khu trục hạm, 3 Tuần dương hạm, 1 Trợ chiến hạm, 2 Cơ xưỡng hạm. Cơ xưởng hạm HQ 802 (Hạm trưởng HQ Trung Tá Vũ Quốc Công) là soái hạm của cuộc thao dượt. HQ 801 có chở theo sinh viên Sĩ quan của Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang và một vị Hạm trưởng được tăng phái trên chiến hạm này để huấn luyện về tiếp tế ngoài khơi, vì vậy cuộc thao dượt còn là một môi trường huấn lyện trên đại dương cho các sĩ quan Hải Quân tương lai.

Hải đội đặc nhiệm thao dượt rời quân cảng Sàigòn trực chỉ đảo Trường Sa và tới đảo vào một buổi sáng. Thời tiết vào đầu mùa hè đã bắt đầu nóng nên cuộc đổ bộ lên đảo được thực hiện thật sớm vì đảo không có cây tương đối lớn khả dĩ có thể cho bóng mát để trú nắng. Công tác trên đảo gồm có dựng cờ quốc gia và xây cất một tấm bia vì tấm bi cũ đã không còn thấy, có thể là đã bị các ngư phủ của các quốc gia lân bang khi dừng chân trên đảo đã phá vỡ.

Sau khi đổ bộ lên đảo Trường Sa, hải đội thao dượt trực chỉ đảo Thái Bình, Nam Yết (phía nam đảo Thái Bình) và đảo Sơn Ca (đông Thái Bình). Ði qua đảo Nam Yết và Sơn Ca Hải đội thao dượt chỉ quan sát đảo chứ không đổ bộ và sau đó tất cả các chiến hạm đã bỏ neo phía nam đảo Thái Bình. quân trú phòng của Ðài Loan trên đảo đã phải đặt trong nhiệm sở tác chiến, nhưng sau đó họ nhận thấy quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa nên có thể họ đã an tâm. Hải đội đã liên lạc bằng quang hiệu để xin thăm viếng xã giao trên đảo và được sự đồng ý. Phía đoàn do Tư Lệnh Hạm Ðội hướng dẫn đã lên đảo vào khoảng gần trưa và đã được Ðại Tá Thủy Quân Lục Chiến Chỉ huy trưởng quân trú phòng tiếp đón trong phòng khách của Bộ Chỉ Huy và không có cuộc đi thăm viếng trên hải đảo có thể vì lý do bảo mật của họ.

Sau khi Thái Bình, Nam Yết và Sơn Ca, Hải đội trực chỉ phía bắc hướng về hai đảo Song Tử Ðông và Song Tử Tây và ghé qua quan sát đảo Loại Ta. Ðảo Loại Ta lúc đó đã do quân đội Phi Luật Tân trú đóng, và một chòi canh đơn sơ có thể được quan sát dễ dàng từ bên ngoài. Hai đảo Song Tử Ðông và Tây tuy nhỏ nhưng rất gần nhau và có một số cây lớn có thể cho bóng mát.

Cuộc thao dượt kéo dài khoảng 1 tuần lễ, trong suốt các hải trình từ đảo này tới đảo khác, các chiến hạm tham dự đã thực tập mọi phương tiện truyền tin từ hiệu kỳ cho đến vô tuyến âm thoại, thực tập các chiến thế phòng không cho đến chống tiềm thủy đĩnh, hộ tống và tiếp tế ngoài khơi.

Sau cuộc thao dượt, vị Tư Lệnh Hạm Ðội và tôi liên lạc chặt chẽ với Chánh Võ phòng Phủ Thủ Tướng để xin cho hai chúng tôi được trình bầy về quần đảo Trường Sa. Sau khoảng một tuần lễ thì lời thỉnh cầu của chúng tôi được chấp thuận. Hai chúng tôi và một vị Hạ Sĩ quan (Thượng Sĩ VC Nguyễn Mạnh Hưởng) thuộc phòng hành quân Hải đội 3 đã đến Phủ Thủ Tướng với đầy đủ sơ đồ và kính chiếu để thuyết trình trong một buổi hội của Hội đồng nội các do chính Thủ Tướng chính phủ Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm chủ tọa và đông đảo các vị bộ trưởng. Phần thuyết trình là phần mở đầu của buổi hội vào khoảng 9 giờ sáng. Tư Lệnh Hạm Ðội, sau phần trình bầy chi tiết địa lý của các hải đảo cũng như sự chiếm đóng đã lâu ngày của Trung Hoa Dân Quốc và Phi Luật Tân, đã mạnh mẽ đề nghị Việt Nam Cộng Hòa phải có sự hiện diện quân sự trên đảo thuộc quần đảo Trường Sa như: Nam Yết, Trường Sa (Spratly) Song Tử Ðông và Song Tử Tây v.v... Ðề nghị của Hải Quân đã được toàn thể nội các tán đồng ngay mà không có thắc mắc nào được đưa ra thêm để bàn cãi. Sau phần trình bầy phái đoàn Hải Quân rút ra khỏi phòng hội để hội đồng nội các thảo luận tiếp sang các mục khác của buổi hội.

Sau đó, lệnh từ Bộ Quốc Phòng đã đến Bộ Tổng Tham Mưu, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Cục Công Binh và Tiểu Khu Bình Tuy để thi hành việc đồn trú quân trên các đảo vùng Trường Sa. Ðảo được thực hiện trước nhất là đảo Nam Yết. Tôi được chỉ định là Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của cuộc hành quân Trần Hưng Ðạo 22 (chỉ số không chắc chắn). Vào cuối tháng 5, khi gió mùa đông nam đã nhẹ nhẹ thổi, Dương Vận Hạm HQ 504 (Hạm trưởng HQ Trung Tá Vũ Hữu San) khởi hành từ cầu Tự Do, với khoảng một trung đội công binh, xuồng cao su và vật liệu xây cất doanh trại cho một trung đội bộ binh. Sau gần 36 giờ hải hành, việc đổ bộ công binh và vật liệu xây cất cũn như nước ngọt lên đảo rất mỹ mãn và công tác xây cất được khởi sự ngay. Sau vài ngày thì có thêm Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ 4 (Hạm Trưởng HQ Thiếu Tá Nguyễn Quang Ðộ) tới tăng cường. Trong thời gian xây cất, Thuỷ Quân Lục Chiến của Trung Hoa Dân Quốc ở đảo Thái Bình có gởi một xuồng 3 người xuống gần tới các chiến hạm và khi nhận dạng được thì họ quay đầu về sau đó không có hành động gì khác.

Công cuộc xây cất doanh trại được hoàn tất trong vòng hơn 2 tuần lễ và một lễ thượng kỳ đã được tổ chức long trọng trên đảo với nhân viên hải quân, công binh và địa phương quân trú phòng. Một bảng khắc chữ bằng kim loại không rỉ sét (inox) ghi tên cuộc hành quân Trần Hưng Ðạo ... và cấp bậc, danh tánh của tôi là Chỉ Huy Trưởng cuộc hành quân cùng ngày tháng đã được gắn trên nền của kỳ đài. tin từ một cựu chiến hữu Hải quân còn ở lại quê hương cho biết là hình ảnh của bản khắc nói trên đã được Việt cộng xử dụng ít nhất là một lần trong một cuộc triển lãm tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân VNCH cũ để chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng và Trường Sa.

Theo nhiều phân tích gia thì trong thế kỷ 21, vùng Châu Á Thái Bình Dương sẽ trở thành một khu vực kinh tế rất quan trọng của thế giới, cho nên Trung Cộng không những chỉ muốn đạt tới và duy trì vai trò một siêu cường kinh tế mà còn muốn tái diễn một sức mạnh đế quốc của họ trong lịch sử đối với các nước lân bang như là thuộc quốc phải thần phục và triều cống. Trong quá khứ về trước người Trung Hoa không có khả năng để quan tâm tới biển cả nên chỉ phần lớn xâm lăng bằng đường bộ và lực lượng Hải quân của họ chỉ đủ để bảo vệ vùng ven biển và chống hải tặc hoành hành các vùng cận duyên và các cửa sông. Nhưng vai trò mới của Trung Cộng trong vùng Ðông Nam Á về kinh tế cũng như ảnh hưởng về chính trị, cộng thêm với khả năng tối tân của lực lượng hải quân nên Trung Cộng đã đặt nặng vấn đề bành trướng chủ quyền trên mặt biển như một trọng tâm trong tiến trình trở thành một siêu cường trong thế kỷ tới. Cho nên việc hoàn tất cưỡng chiếm toàn quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 bằng một lực lượng hùng hậu về hải lục không quân cũng như quân thủy bộ, và vào các năm sau 1975, các hành động lấn chiếm bằng cách đánh bật lực lượng hải quân Việt cộng để dành giựt cùng cắm dùi các hải đảo cũng như các bãi đá ngầm trong vùng Trường Sa, đã chứng tỏ là các đường lối của họ đã theo đúng các chỉ đạo chiến lược bá chủ vùng Ðông Nam Á.

Báo Tuổi Trẻ phát hành ngày 18 tháng tư 98 tại Sàigòn có đăng tải cuộc phỏng vấn của Ðài phát thanh quốc tế Pháp (RFI), Bà Mônich Sơmiliê Giăngdrô (nguyên văn), giáo sư Luật Ðại Học Ðường Paris đã khẳng định là việc Trung Cộng chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa là hoàn toàn trái với luật pháp quốc tế, vì những tài liệu lịch sử cho thấy quần đảo thuộc về Việt Nam. Bà cũng đề cập đến các dẫn chứng lịch sử từ thế kỷ 17 và thời vua Minh Mạng. Về phía Trung Cộng, tuy họ nói có những tài liệu xưa hơn cả tài liệu của Việt Nam, nhưng lại chưa đưa ra được văn bản nào đáng tin cậy để chứng minh. Ðài RFI cũng nêu tờ Minh Báo của Hồng Kông (ngày 4-4) tiết lộ Trung Cộng có kế hoạch biến một đảo thuộc Hoàng Sa thành một trung tâm du lịch như Hawaii với khách sạn và nhà hàng và một giới hữu trách ở đảo Hải Nam xác nhận là trong vài năm tới sẽ bắt đầu tổ chức du lịch trên quần đảo Hoàng Sa. Ðài RFI nhận xét kế hoạch này cho thấy Bắc Kinh vẫn không từ bỏ tham vọng lấn chiếm lãnh thổ dần từng bước không những tại biên giới trên bộ mà còn ở vùng biển. Bộ Ngoại giao cộng sản VN đã kịch liệt lên án kế hoạch này và khẳng định là mọi hành động trái phép của ngoại quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều là sự vi phạm chủ quyền lãnh thổ của VN. Cũng nên ghi thêm l38 đây là Trung Cộng và Việt cộng đã có tới 10 vòng hội đàm nhưng vẫn chưa giải quyết xong vấn đề Hoàng Trường Sa và cả biên giới trên bộ. Báo Tuổi Trẻ cũng tố cáo là bằng việc xây cất cơ sở hành chánh và với kế hoạch xây khu du lịch để đón du khách, Bắc Kinh đã sáng tạo ra ảo tưởng là quần đảo này vĩnh viễn thuộc về Trung Cộng. Không những thế, ngày 21 tháng 5 vừa qua Trung Cộng lại thêm một lần nữa xác nhận chủ quyền trên các đảo Trường Sa. Phát ngôn nhân của bộ ngoại giao Trung Cộng nói: Trung Cộng có chủ quyền không thể chối cãi ở Trường Sa và các vùng biển lân cận và còn nói thêm là các tầu Trung Cộng có những hoạt động khảo cứu khoa học bình thường ở vùng nói trên hồi gần đây là vấn đề hoàn toàn nằm trong lãnh hải của họ. Trong khi đó thì Bộ Ngoại Giao của Việt cộng nói chiếc tầu nghiên cứu khoa học của Trung Cộng đã hoạt động sâu trong thềm lục địa Việt Nam từ tháng 4 năm nay.

Mặc dầu Việt Nam và Trung Cộng đã có hơn 10 cuộc thương thảo về chủ quyền các hải đảo và lẫn cả biên giới trên bộ, nhưng đến nay vẫn chưa có một kết quả cụ thể nào và đượng nhiên chúng ta sẽ còn thấy nhiều phen gay go xẩy ra giữa Việt Nam và Trung Cộng trong tương lai nhất là Việt Nam và Thái Lan đã chia phần biển để tìm kiếm dầu trong vịnh Thái Lan sau khi đã đạt tới một sự thỏa thuận về lằn ranh khai thác trên mặt biển.

Hà Văn Ngạc
Jun. 15/98
ooOoo
    Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại nói về Hải chiến Hoàng Sa


Nhân lễ Tưởng niệm và vinh danh các chiến sĩ đã hy sinh trong trận Hải Chiến Hoàng Sa sẽ được cử hành nhiều nơi như Dallas, Texas; San Diego, CA; Nam Cali, Bắc Cali, Paris, Pháp; Melbourne, Úc … để vinh danh những chiến sĩ Hải Quân và các quân cán chính khác (Địa phương Quân …) đã anh dũng hy sinh bảo vệ từng tấc đất quê hương, Tuyết Mai xin gởi đến quý vị bài phỏng vấn Cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (PĐĐ HVK Thoại), người trực tiếp ra lệnh khai hỏa, tấn công Tàu chiến Hải Quân Trung Cộng ở Quầnđảo Hoàng Sa. Đây là một trận chiến vô cùng hùng anh, oanh liệt thể hiện tinh thần anh dũng của chiến sĩ áo trắng nói riêng, của dân tộc VN nói chung, sẳn sàng hy sinh để chống ngoại xâm trong lịch sử VN cận đại.

Lúc đó, năm 1974, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại là Tư Lệnh Hải Quân vùng I Duyên Hải, chịu trách nhiệm bảo vệ vùng duyên hải của Quân khu I, bao gồm quần đảo Hoàng Sa. Cựu Phó Đề Đốc HVK Thoại đã nhận báo cáo tình hình có thuyền bè Trung Cộng xuất hiện ở vùng đảo này từ đầu và đã trực tiếp trình lên Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Chính Cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại là người trực tiếp nhận thủ bút từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh đối phó với tình trạng xâm nhập bất hợp pháp của Trung Cộng và cũng chính Cựu Phó Đế Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại ra lệnh cho Cựu Đại Tá Hà Văn Ngạc, Sĩ quan Chỉ huy chiến thuật khai hỏa trong trận Hải chiến Hoàng Sa.

Kính mời quý vị theo dõi câu chuyện giữa Tuyết Mai và Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại vể diễn tiến trận Hải chiến Hoàng Sa, bắt đầu khoảng 10 giờ sáng ngày 19 Tháng Giêng, 1974 và kéo dài hơn ba mươi phút.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc (khi nói chuyện TM gọi Phó Đề Đốc là Đô Đốc cho ngắn gọn) giới thiệu sơ qua về Quần đảo Hoàng Sa. Trước 1974 Trung Cộng có hành động nào gây chiến ở vùng đảo này không?

PĐĐ HVK THOẠI: Trên đảo không có dân cư sinh sống, chỉ có đài khí tượng quốc tế với bốn nhân viên làm việc. Hai mươi bốn Địa Phương Quân thuộc tỉnh Quảng Nam trú đóng trên bốn đảo, họ di chuyển bằng xuồng cao su. Theo tôi biết thì trước năm 1974 không có sự đụng chạm nào đáng kể với Trung Cộng. Đến đầu năm 1974 Trung Cộng thấy Mỹ rút quân ra khỏi Miền Nam thì họ có kế hoạch xâm chiếm rõ ràng, như cấm cờ hay ồ ạt đổ bộ một số người lên đảo. Khi chúng ta bắt đầu dùng biện pháp đối phó thì họ đưa hạm đội rất mạnh mẽ ra đây.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc khi Đô Đốc được tin có tàu lạ trong vùng lãnh hải của chúng ta, Đô Đốc có trình lên Tổng Thống Thiệu, lúc đó Tổng Thống Thiệu đang ở đâu ?

PĐĐ HVK THOẠI: Đêm 16 Tháng 1, trong công tác Hải quân thường lệ, tôi được báo cáo có nhiều ngư thuyền lạ và có dấu hiệu của một vài hoạt động trên đảo. Lúc đó tôi đang dùng cơm với Tổng Thống Thiệu và một số tướng lãnh ở Mỹ Khê, Đà Nẳng. Tôi có trình cho Tư Lệnh Quân Khu I , tức là Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, cũng có mặt tại bữa cơm đó. Trung Tướng Trưởng bảo tôi tới trình ngay với Tổng Thống Thiệu. Tổng Thống Thiệu ra lệnh tôi sáng ngày mai tức 17 Tháng 1đến Bộ Tư Lệnh Hải Quân vùng I Duyên Hải để thuyết trình rồi Tổng Thống Thiệu sẽ cho chỉ thị.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc trong cuốn “Can Trường Trong Chiến Bại”. Đô Đốc có kể Tổng Thống Thiệu viết thủ bút trong vòng 15 phút, ra lệnh Hải QuânVN đối phó với tình hình căn thẳng với Trung Cộng ở quần đảo Hoàng Sa. Theo Đô Đốc Tổng Thống Thiệu có cân nhắc kỹ trước khi ra lệnh đối đầu với Trung Cộng, Hải quân TC rất hùng mạnh.

PĐĐ HKV THOẠI: Tổng Thống đã nghe tôi tường trình tình hình đêm trước, tôi tin chắc là Tổng Thống đã suy nghĩ kỹ. Sáng hôm sau, trong vòng 45 phút, trước khi quyết định, Tổng Thống có hỏi rất nhiều câu hỏi, và có bàn với các vị tướng lãnh hiện diện trước khi lấy giấy mực ra viết thủ bút cho tôi thi hành. Hơn nữa tôi cũng xin nhắc lại là quyết định của Tổng Thống không phải cho nổ súng để tấn công, tiêu diệt hạm đội của Trung Cộng. Chỉ thị của Tổng Thống là mời các ngư thuyền cũng như chiến hạm lạ ra khỏi lãnh hải của chúng ta. Lúc đó tôi cũng chưa chắc những chiến hạm hiện diện đó là của Trung Cộng. Tổng Thống chỉ thị là làm thế nào để chứng minh cái chủ quyền quốc gia của chúng ta trên các hải đảo bằng mọi biện pháp ôn hòa. Nếu họ không tuân lệnh thì bắt buộc mình phải dùng võ lực để mời họ ra. Trước khi cho nổ súng chúng tôi cũng đã cho chiến hạm của chúng tôi đuổi họ ra, nhưng sự khiêu khích của họ càng ngày càng nhiều hơn, cho nên Cựu Đại Tá Hà Văn Ngạc có bàn với tôi là phải đi tới quyết định “ khai hỏa”.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc như vậy thì trận chiến Hoàng Sa lúc đầu dự tính chỉ đuổi những ngư thuyền và chiến hạm ra khỏi lãnh hải, chứ không dự tính trước sẽ có một cuộc hành quân, một trận hải chiến dữ dội giữa Hải Quân VNCH và Hải Quân Trung Cộng?.

PĐĐ HVK THOẠI: Không, không. Tôi nhấn mạnh là không có một cuộc hành quân gì cả. Hôm 18/1 tôi có ra lệnh bằng giấy trắng mực đen cho Đại Tá Hà Văn Ngạc có thể thi hành nhiệm vụ có giấy tờ, nhưng đó không phải là cuộc hành quân mà chỉ là việc làm rất là thường xuyên.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc nói rõ những sự kiện trước khi quyết định khai hỏa, lúc đó Đô Đốc ở đâu?

PĐĐ HVK THOẠI: Lúc đó tôi đang ở Đà Nẳng.Trước khi khai hỏa , Cựu Đại Tá Hà Văn Ngạc cũng đã trình cho tôi rất chi tiết mọi hành động, mọi sự di chuyển của chiến hạm Trung Cộng cũng như của các ngư thuyền cùng mọi chuyện xảy ra trên đảo. Tôi đã ra lệnh mỗi chiến hạm cho một toán đổ bộ lên đảo để thám sát, cho nên chúng tôi nắm rất vững tình hình. Trước khi khai hỏa thì Đại Tá Ngạc có nói với tôi rằng, sự khiêu khích đã đến cái độ thế nào rồi cũng phải nổ súng. Nếu để Trung Cộng nổ súng trước thì bên HQVN sẽ bị thiệt hại nặng nề vì chiến hạm của họ rất tối tân, trong lúc chiến hạm của HQVN to và chậm, lúc đó sẽ không xoay xở kịp. Đại Tá Ngạc có bàn với tôi và tôi đồng ý là khi tình hình không thể nào làm khác được thì chúng ta phải nổ súng trước, và chúng ta nổ súng đồng loạt thì địch phải phân tán hải pháo của họ ra.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc lực lượng hai bên lúc đó như thế nào?

PĐĐ HVK THOẠI: Không kể những ngư thuyền có trang bị vũ khí, lúc đầu họ có hai chiến hạm lớn, sau có tăng viện thêm hai chiếc là bốn, cho thấy rõ ràng là họ còn một lực lượng trừ bị, sẳn sàng tăng cường trong vài giờ . Về phía Việt Nam thì có hai chiến hạm và mất cả ngày mới có thêm hai chiến hạm nữa là bốn chiến hạm. Khi giao chiến thì mỗi bên có bốn chiến hạm.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc diễn tiến trận chiến như thế nào?

PĐĐ HVK THOẠI: Buổi chiều 18 Tháng 1, khi bên HQVN đã ra dấu hiệu bật đèn cũng như ra nhiều dấu hiệu để mời họ ra, Tàu Trung Cộng đã không ra khỏi lãnh hải mà có hành động gây hấn như dọa nạt, chỉa súng vô chiến hạm HQVN và chạy rất gần. Lúc đầu HQ VN làm theo chỉ thị của Tổng Thống, nghĩa là ôn hòa mời họ đi ra, nhưng họ nhất dịnh không chịu ra. Cho đến sáng ngày 19 Tháng 1, 1974 tình hình rất căn thẳng, không thể kéo dài hơn được nữa thì trên soái hạm HQVN Đại Tá Ngạc ra lệnh khai hỏa và chiến hạm Trung Cộng phản pháo, bắn trả lại. Sau đó chiến hạm Trung Cộng thấy Nhật Tảo nhỏ nhất và chạy chậm nhất vì hư một máy nên Trung Cộng đã dồn hải pháo vào chiếc Nhật Tảo, chiếc này chìm trong thời gian rất ngắn. Hạm trường là Thiếu Tá Ngụy Văn Thà đã hy sinh theo chiến hạm.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc là người ra lệnh cho Đại Tá Ngạc khai hỏa?

PĐĐ HVK THOẠI: Đại tá Ngạc có đề nghị rằng “Tới lúc nào đó thì phải nổ súng, vì họ không chịu ra, mình phải dùng võ lực theo chỉ thị của Tổng Thống Thiệu, tức là vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội”. Tôi có nói với Đại Tá Ngạc: "Khi nào ông sẳn sàng thì khai hỏa”. Lúc các chiến hạm ở trong vị thế không thuận lợi thì Đại Tá Ngạc cho khai hỏa. Khi nổ súng thì tôi có nghe trong máy truyền tin, lúc đó khoảng 10 giờ sáng ngày 19 Tháng 1, 1974.

TUYẾT MAI: Thưa theo Đô Đốc, chúng ta không có chuẩn bị, không có kế hoạch trước, lúc đó HQVN có kêu cứu với các Cố Vấn Mỹ?

PĐĐ HKV THOẠI: Trong cương vị của cấp chỉ huy tôi đã biết và tôi phải biết là HK sẽ không tham dự cuộc chiến dù nguy kịch đến đâu. Đó là điều tôi đã biết trước, tuy nhiên tôi cũng có điện thoại về Bộ Tư Lệnh Hải Quân, để hỏi vị trí của Đệ Thất Hạm Đội của HK thì được biết là lúc nào họ cũng hoạt động vùng biển Đông. Bộ Tư Lệnh cho biết Đệ Thất Hạm Đội có mặt tại đó. Tôi không hy vọng họ tham gia, nhưng tôi cần họ cứu vớt người trên biển. Khi sự việc xảy ra rồi, không có chiến hạm nào của Mỹ đến cứu vớt.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc sự thiệt hại của hai bên, cũng như HQVN hy sinh như thế nào?

PĐĐ HVK THOẠI: Sau nửa tiếng đồng hồ giao tranh thì hai bên đều rút lui vì hai bên đều thiệt hại nặng cả. Bên HQVN chiếc Nhật Tảo bị chìm, tử thương 58 người (đa số thuộc chiến hạm Nhật Tảo và số còn lại thì gồm có hai người nhái trên đảo). Mỗi chiến hạm có một số bị tử thương. Phía Trung Cộng cũng bị thiệt hại nặng nề, một chiếc bị chìm, về nhân mạng có một số sĩ quan cao cấp bị tử thương , thành ra không thể nói bên nào chiến thắng hay chiến bại . Tuy nhiên tôi được tin từ Cố Vấn HK cho biết một lực lượng hùng hậu gồm 17 chiến hạm khác từ Hải Nam đang hướng về hướng Hoàng Sa, trong đó có 13 chiến hạm với bốn chiếc tiềm thủy đỉnh loại tàu ngầm .

Với một lực lượng như vậy , tôi biết mình không thể nào đối đầu được. Bên HQVN có tăng cường thêm hai chiếc nữa tức là sáu chiếc, nhưng khi hai chiếc sau đang trên đường tới thì Cố Vấn Hoa Kỳ cho biết nếu mà thêm hai chiến hạm VN tham chiến thì sẽ có phi cơ phản lực của Trung Cộng từ đảo Hải Nam đến dội bom. Tôi nghĩ, nếu bên Trung Cộng dùng phi cơ phản lực để dội bom, mà phi cơ VN không ra tham chiến được thì các chiến hạm VN sẽ bị lâm nguy, nên tôi cho các hạm đội trở về.

TUYẾT MAI: Mỗi quân binh chủng có những trận chiến lẫy lừng làm cho người lính rất hãnh diện về tinh thần chiến đấu anh dũng của quân binh chủng mình, có lẽ trận Hải chiến Hoàng Sa là niềm hãnh diện của những “Chiến sĩ áo trắng”. Quân chủng Hải Quân đã chọn ngày 19 /1 làm ngày tưởng niệm và vinh danh các chiến sĩ HQ đã hy sinh. Đây cũng là ngày để ung đúc, nuôi dưỡng tinh thần chiến đấu anh dũng của các chiến sĩ Quân chủng HQ.

PĐĐ HVK THOẠI: Vâng, tôi thấy đó là chuyện phải làm để vinh danh những chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ Tổ Quốc. Tổ chức những lễ vinh danh hay lập tượng đài để tưởng nhớ là điều phải làm . Từ năm 1975 luôn có tổ chức ngày giỗ ở Saigon. Sau 1975 rải rác nhiều nơi trên toàn thế giới, nơi nào có Hải Quân đều có tổ chức ngày giỗ để tưởng nhớ đến những tử sĩ. Chúng tôi cũng tìm gia đình của những chiến hữu đã hy sinh trong trận Hoàng Sa để giúp đỡ, và ở San Diego cũng cố gắng xây đài tử sĩ Hoàng Sa.

TUYẾT MAI: Để kết thúc cuộc nói chuyện này, kính xin Đô Đốc nói vài lời cuối cùng.

PĐĐ HVK THOẠI: Ngày nào tôi còn sống, tôi vẫn nhớ tới những chiến sĩ đã hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa. Có một điều chắc chắn là đối với thế hệ mai sau, sự hy sinh đó không phải là sự hy sinh oan uổng. Chúng ta sẽ tìm mọi cách để đòi lại những hải đảo đó. Đây là một nỗi đau buồn cho một số gia đình HQ nhưng cũng là niềm hãnh diện chung cho dân Việt Nam. Đây là một hành động rất anh hùng của các chiến sĩ Hải Quân, tôi mong nhân dân Việt Nam, những thế hệ mai sau sẽ nhớ mãi.

Tuyết Mai


















Danh Sách Anh-Hùng Tử-Sĩ Hoàng-Sa
http://haichienhoangsa.freetzi.com/danhsach.htm


Đừng nghe những gì … - Nguyễn thanh Ty


Nguyễn thanh Ty


Thời Tông Tông Nguyễn văn Thiệu còn ngồi trên ngai vàng, Việt cộng không có ngán ông chút nào hết. Ngày nào chúng cũng pháo kích, đặt mìn, đào đường đắp mô, phá rối, khủng bố … đủ thứ chuyện trên đời, để lật nhào ông và làm cho chế độ tự do mau sụp đổ để chúng vào cai trị, đè đầu, đè cổ dân chúng miền Nam.

Thậm chí, chúng còn cho người “chui cao, luồn sâu” tận giường ngủ của ông để đêm đêm thọt cù lét cho ông nhột chơi nữa.

Nhưng khi, ông không còn cơ hội cầm cờ trong tay để phất nữa, thì chúng lại sợ và thù ông chí chết.

Cả một đời làm tổng thống, ông Thiệu chỉ để lại cho hậu thế một câu danh ngôn “đáng đồng tiền bát gạo”, giá trị hơn nhiều tỷ Mỹ Kim, hơn hẳn 36 tấn vàng mà Bắc Bộ Phủ vội vàng bợ về Bắc chia chác cho nhau ngay những ngày đầu 75.
    “Đừng nghe những gì cọng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cọng sản làm”
Câu danh ngôn này, ba mươi mấy năm qua, đã làm cho Việt cộng xang bang xất bất. (không phải cho người Việt hải ngoại tha bang thất quốc đâu)

Nó trở thành một câu “thần chú” vô cùng hiệu nghiệm để hoá giải các chiêu thức của Vi Xi đưa ra “mà mắt thiên hạ”.

Câu “thần chú” này được “nhân dân hóa” thành một “khẩu quyết” dễ nhớ, dễ thuộc để đối phó với ngón võ “Ơn Đảng, ơn Bác”.

Việt cộng bất cứ làm gì, nói gì, ban hành nghị quyết gì, người dân chỉ đọc câu “khẩu quyết” trên là mọi sự đều hóa giải thành con số không hết trọi.

Việt cộng lo sợ, điên đầu và căm thù cái “khẩu quyết” này vô cùng tận. Nhưng cũng không tìm ra chiêu thức mới nào để trừ khử tiêu diệt được nó.

Càng ngày cộng sản càng lộ chân tướng là con cáo đội lốt người, người ta mới thấy và khâm phục “tuệ nhỡn” của Tông Tông Thiệu. Nó giống y chang câu nói của tướng độc nhãn Do Thái Mosche Dayane: Muốn thắng Cộng sản thì hãy cho Cộng sản vô nhà.

Bây giờ thì cộng sản đã “lọt ổ” vô nhà rồi. Bây giờ thì cộng sản tuy tiếng rằng chiếm được đất nhưng đã thấm đòn bị thua. Từ thua tới thua trên mọi con đường: Chính trị, kinh tế, xã hội, nhân văn … nhất là nhân tâm. Người dân trong nước phản kháng chế độ hà khắc bằng cách bất hợp tác. Do sự kiêu căng, hãnh tiến và ngu dốt, họ đã kéo lùi dân tộc ngày càng trở về thời đồ đá, đồ đồng và bây giờ là đồ đểu.

Bây giờ thì Đảng ta ra sức hô hào đổi mới. “Đổi mới hay là ngỏm củ tỉ ” câu khẩu hiệu này đã được trương lên hơn hai mươi năm. Có lẽ dân miền Bắc thấy nó có đổi mới thật. Nhưng dân miền Nam thì thấy nó cũ xì. Nó đang trở lại y chang thời kỳ trước năm 1975 hay còn tệ hơn thế nữa.

Từ chiếc áo dài tha thướt được phục hồi thay cho bộ đồng phục vải Nam Định nhuộm nâu, nhuộm xám ngoài Bắc tràn vô, cho chí mấy cái “văn hóa đồi trụy” như thi tuyển hoa hậu, nhảy đầm … được Đảng ta ra sức phát huy và được long trọng gọi tên khác đi (tránh bắt chước tụi Ngụy) là “Duyên dáng Việt Nam” và “múa đôi” cho có vẻ “đậm đà bản sắc dân tộc” và “hoành tráng - ấn tượng”

Mấy bà già trầu, “má nuôi chiến sĩ” ngày xưa từng đào hầm, gánh gạo nuôi giấu “cán bộ ta” nay mất ruộng, mất nhà, ra vỉa hè nằm lăn lóc, xin ăn qua ngày, há hốc miệng ra, kêu lên:

- Chèng ơi! Sao thấy giống hồi thời Mỹ Ngụy dzậy cà? Nói cách mạng đổi mới sao không thấy tới mà cứ thấy thụt lùi hoài dzậy? Lão Thiệu nói thiệt đúng! Cách mạng mình nói dzậy mà không phải dzậy! Ơn Bác, ơn Đảng! Thiệt tình!

Nói dzậy mà không phải dzậy!

Mời độc giả xem qua cái quyết định dưới đây để coi Đảng ta “Nói dzậy mà…”
    Quyết định số: 1568/QĐ-TTg, ngày 27 tháng 11 năm 2006

    THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

    Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

    Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;

    Xét đề nghị của Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương,

    Quyết định:

    Điều 1: Đồng ý chuyển mục đích sử dụng 58 ha đất khu nghĩa địa Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương do Quân khu 7, Bộ Quốc phòng quản lý sang sử dụng vào mục đích dân sự để phát triễn kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương.

    Điều 2: Giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương…

    Chỉ đạo việc quản lý khu nghĩa địa Bình An bình thường như các nghĩa địa khác theo qui định của pháp luật.


    Điều 4: Bộ Quốc phòng (Quân khu 7) thực hiện việc di chuyển… hoàn tất trong tháng 7 năm 2007.

    Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng (ấn ký)

    (Công báo số 09-10 (7/12/ 2006)
Trước khi xem cái Quyết định này có ý nghĩa gì, xin mời quý đọc giả lượt qua môt đoạn phim ngắn về “quá trình công lao” của tướng râu kẽm Nguyễn cao Kỳ cho cái thành quả này..

Phim có tính chất giả tưởng.

“Phó vương Kỳ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, vễnh hàm râu kẽm, hùng dũng tuyên bố với binh sĩ: - Chúng ta quyết đánh tụi Vi Xi đến giọt máu cuối cùng”. Xế chiều, trên TV người ta thấy Phó vương bay trực thăng ra hạm đội 7 của Hoa Kỳ. Cảnh tiếp theo Phó vương xô chiếc trực thăng xuống biển để hạ quyết tâm: - Không đánh đuổi được tụi Vi Xi ra khỏi nước, quyết không về! (Giống câu thề khi đi nhậu: Không say không về!)

Nhiều năm (bắt chước Bác) tìm đường cứu nước tại Mỹ, Phó vương Kỳ bị thất bại liên miên. Đêm đêm ông mài kiếm dưới trăng, vừa uống X.O vừa chửi trời, chửi đất và chửi đời. Đời đã đá ông bầm dập. Không giống như trong hồi ký ông tự viết về đời mình như là “một đứa con cầu tự”. Đi đánh cá thì cá trốn ráo trọi. Bán ghe lên bờ, mở tiệm rượu. Khách chưa kịp đến mua thì Phó vương sẵn buồn tình trong lòng, nên uống hết sạch. Sập tiệm. Hết vốn vay mượn, phải đến ở nhờ nhà đàn em kiếm cơm qua ngày. Gia đình ly tán. Vợ là Đặng thị với con gái bỏ đi làm MC ca nhạc để mưu sinh.

Năm 1992, Phó vương làm đơn xin về nước, bắt chước Hàn Tín áp dụng “khổ nhục kế” để mưu đại sự. Bắc Bộ phủ vừa nghi kỵ vừa hận về mối thù cũ nên sổ toẹt đơn của Phó vương, không cho về.

Trong thời gian ẩn nhẫn đợi chờ thời cơ, Phó vương chiếm được trái tim bà vợ của đàn em mà mình đang ăn nhờ ở đậu. Người đàn em bị đàn anh “vi chủ thành khách” bèn “ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu!.

Tháng 6 năm 2003, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Việt cộng, Trần đình Bin, sang Mỹ làm công tác kiều vận, kêu gọi “đàn bò sữa đem sữa về nhiều thêm”. Phó vương chớp thời cơ mời Bin đi đánh gôn và ăn cơm nhà hàng. Dịp này, Phó vương xin Bin giúp cho về “thăm quê hương” một chuyến. Lấy cớ là tuổi già sắp theo Bác. Bin ngẫm nghĩ hồi lâu rồi gật đầu đồng ý giúp.

Năm đó, Phó vương về, đi lông rông, không làm nên tích sự gì vì Bắc Bộ phủ còn cho “âm binh” theo dõi và điều tra hành vi nhất cử nhất động “diễn tiến hoà bình” của tên phản động nhiều nợ máu với nhân dân.

Cũng thời gian đó, ở hải ngoại không hiểu được “chí lớn” của Phó vương cứ cho là tên phản bạn lừa thầy nên chửi rủa, thóa mạ kịch liệt. Trước những phản ứng gay gắt, giận dữ của tập thể “huynh đệ chi binh” và Cộng đồng người Việt hải ngoại, Phó vương chỉ nhếch hàm râu kẽm cười khinh bỉ. Cho bọn lính tráng và đám phó thường dân ganh ăn, ghét ở, là lũ chuột nhắt hồ đồ, là chim se sẻ làm sao biết được chí lớn của chim hồng, chim hộc.

Qua năm sau, Phó vương lập được công lớn. Lần này về nước, Phó vương dẫn theo mấy tay “đế quốc tư bản” mang kè kè túi bạc đô la xanh kếch sù, tìm kiếm đất đai tốt để lập nơi du hí. Bắc Bộ phủ thấy đô la đổ ra ào ào, híp mắt sung sướng. Từ đó, Phó vương được Đảng ta tin dùng, nhưng cũng “có mức độ”. Những lời nói của Phó vương đều được “trên” xem xét, mớm trước rồi mới được phát. Hoặc lúc cao hứng, bốc đồng Phó vương có phát ngôn loạn xị thì báo chí cũng được lệnh cắt xén, ráp nối thành những “hòn đá bắn hai chim”, làm cho Phó vương ở cái thế toòng teng “đi chẳng nở, ở không xong”.

Dịp may đến lần thứ hai, phước vô đơn chí, họa bất trùng lai, năm 2005, nhân dịp Tể Tướng Khải sang Mỹ cầu viện đô la, phu nhân mới của Phó vương (vợ của đàn em bị chiếm) thỏ thẻ với đức lang quận: -Thiếp có họ hàng với Tể Tướng Khải, tướng công nên tìm cách cận kề thì sẽ được nhiều lợi lộc về sau.

Vợ chồng Phó vương y kế, tìm cách lân la mời Tể tướng Khải đi “in roi” mấy chổ nhảy sexy. Kết quả rất mỹ mãn. Tể tướng Khải hứng chí ra mặt.

Nhưng ban đầu, Tể Tướng Khải vẫn có thói quen “cảnh giác”, địch lúc nào cũng tìm cách xâm nhập phá hoại ta nên có ý nghi ngờ, e mụ này ý đồ “thấy sang bắt quàng làm họ” nên bắt mụ phải kinh qua “thử máu nhận họ”. Nếu đúng, mới cho lại gần.

Hai người nhỏ máu đầu ngón tay vào ly … nước lã. Hai giọt máu dần dần hòa vào nhau và lạ thay môt ngôi sao vàng hiện lên giữa màu máu đỏ tươi.

Thế là vui quá. Tha hương ngộ cố tri. Hỏi rõ ngọn ngành, té ra hai bên là thông gia.

Từ đó, những ngày ở tại Mỹ, Phó vương Kỳ với Tể Tướng Khải bá vai nhau đi đánh gôn và nhảy đầm, uống rượu và xem vũ sexy thoải mái.

Một hôm, đang lúc vui vẻ, Khải bỗng thở dài, mặt sụ xuống, tỏ vẻ buồn bả. Kỳ ướm lời hỏi han. Khải than rằng:

- Mấy năm nay, bọn Việt kiều gởi tiền về nước nhiều quá, gần bằng 1/5 tổng số tiền cả nước làm hộc máu một năm. Với món hời như thế, bất chiến tự nhìên thành, khoẻ re như bò kéo xe, nên Đảng ta thừa thắng xông lên, muốn moi thêm càng nhiều càng tốt, bèn kêu gọi “hòa hợp hòa giải” để chiêu dụ bọn nó mang đô la về nước làm ăn. Nhưng, kêu khản cả cổ, tốn nhiều giấy in nghị quyết này quyết định nọ vẫn chẳng thấy mấy đứa về. Chỉ tại cái thằng Thiệu nó đầu độc bà con ta là “Đừng tin những gì cộng sản nói”. Ta nghĩ đến đó là lòng thấy buồn, miệng ăn không thấy ngon, rượu X.O uống không thấy đậm đà, mấy em không còn mấy hấp dẫn như trước!

Thời cơ đến, Kỳ được dịp tỏ lòng tri kỷ, hiến kế:

-Tể tướng đừng lo lắng quá mà có hại cho mình rồng. Thần nghĩ, chiêu dụ bọn nó không khó gì. Bọn nó có tính nhân của đàn bà và hay quên. Bây giờ Đảng ta chỉ cần tỏ ra chút ít nhân đạo thì bọn nó sẽ “hồ hởi phấn khởi” quên hết quá khứ đau thương ngay ráo trọi.

- Bằng cách gì? - Khải hỏi tới.

- Trước tiên, theo ý Thần thì nên trả lại Nghĩa trang Quân đội Biên Hoà cho bọn họ.

- Tại sao trả cái nghĩa địa xác chết mà bọn nó lại yên lòng được?

- Hãy bắt chước Nguyễn Trãi “lấy chí nhân mà thay cường bạo”. Bước một Ta vờ hòa giải với người chết trước. Bước hai hòa giải với người sống. Khi được rồi thì ta nắm đầu chúng chẳng khó gì. Cái sách lượt 10 ngày học tập để tỏ lòng nhân đạo khoan hồng cũng còn xài tốt lắm. Khi bọn chúng lũ lượt kéo về thì ta sẽ…

- Ừ! Nghe cũng phải. Để ta xem xét cẩn thận mới được.

Đó là rượu nói. Về đến nhà Tể tướng Khải quên tuốt lời hứa. Phó vương Kỳ lại được (bị) người Việt hải ngoại chửi bới thêm một trận te tua nữa.

Nhưng cũng nhờ bà vợ có chút máu mủ thông gia với Tể Tướng Khải nên vợ chồng Phó vương Kỳ về Việt Nam đều đều như đi chợ để làm “Cò” và “trúng quả” nhiều lắm.

Có người tò mò hỏi:

- Tụi Việt cộng nó thù Ngài lắm. Sao bây giờ cho Ngài đi đi, về về Việt Nam như con thoi vậy?

Kỳ cười bí mật, hàm râu kẽm nhúc nhích lên xuống, hạ giọng thầm thì:

- Mấy “người anh em” họ tha thiết mời tôi về đấy chứ. Tôi nào có thèm lậy lục van xin như cái bọn bố láo, bố lếu ở ngoài này vu cho tôi. Tôi có sứ mạng!

Đùng một cái, Tể Tướng Khải bị Bắc Triều cho rớt đài. Anh nông dân du kích nửa mùa ở miền Tây là Nguyễn Tấn Dũng được Hồ Cẩm Đào đưa lên thay thế. Ban đầu, Bắc bộ phủ ai nấy đều ngạc nhiên lấy làm lạ. Một người như Dũng không có tí thành tích gì trong quá khứ, lại là dân miền Nam không tin được, bỗng chốc nhảy tót lên bàn độc. Sau, bức màn thâm cung bí sử được ông cựu TBT Nguyễn văn Linh hé ra mới biết: Nguyễn tấn Dũng và Nguyễn chí Vịnh đều là “Hổ chủng” của tướng Nguyễn chí Thanh, một tướng của Bắc triều đào tạo, giống như Nông đức Mạnh là “Long chủng” của “Bác Hồ muôn vàn kính” yêu vậy.

Mọi người lúc đó mới mừng rỡ, sung sướng thở phào ra: - À ra thế!

Thời gian cứ đủng đỉnh trôi và mấy cái sân gôn “hoành tráng đầy ấn tượng” ở Sài Gòn, Phú Quốc, Hà Nội… được hình thành.

Phó vương Kỳ trúng mối lớn, ăn chia huê hồng phần trăm với “mấy người anh em” một cách rất “ấn tượng” và vui vẻ trên mức tình cảm.

Trong lúc cụng ly X.O với “mấy người anh em” vấn đề “hòa hợp hòa giải” với người chết lại được Phó vương khoèo lại với Tể tướng Dũng.

Tể tướng Dũng trẻ, đẹp trai, mặt mày sáng sủa, tuy hơi dốt một chút, nhưng không sao. Bác Mười đã từng là thợ thiến heo, Bác Anh từng là phu đồn điền cao su có học hành gì đâu? Thì đã sao? Vẫn đánh thắng được ba tên đế quốc đầu sỏ thế giới. Nước ta vẫn từng bước tiến vững chắc tới hố Chủ Nghĩa Xã Hội đó mà.

Tể tướng Dũng tửu lượng rất cao, xưa kia lúc còn là du kích, đã từng chơi hàng lít đế Gò Đen, nên uống rượu X.O như uống nước lã. Lần này vừa cụng ly với Kỳ vừa bàn chuyện “lấy nhân nghĩa mà thay cho cường bạo” rất lấy làm tâm đắc.

Sau khi cạn chừng ba chai X.O Hennessy, Tể tướng Dũng vỗ vai Phó vương Kỳ và quyết:

- Nghe người anh em nói, tui thấy được quá! Tui chơi tới bến luôn!

Nói thì nói vậy, Phó vương về nhà thao thức chờ đợi “ Cú chơi tới bến”, không ngủ được, hai con mắt cứ trỏm lơ như hai cái vỏ con nghêu úp lên vậy.

Mãi cho đến ngày 27 tháng 11 năm 2006 mới thấy cái Quyết định ở trên ban hành. Phó vương Kỳ chụp vội và đọc cái Quyết định rất kỹ. Đọc tới đọc lui năm lần, bảy lượt vẫn không tin ở mắt mình cái hàng chữ ỡm ờ trong quyết định viết rành rành:

“Điều 1: Đồng ý chuyển mục đích sử dụng 58 ha đất khu nghĩa địa Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương do Quân khu 7, Bộ Quốc phòng quản lý sang sử dụng vào mục đích dân sự để phát triễn kinh tế-xã hội tỉnh Bình Dương.”

Phó vương Kỳ lẩm bẩm:

- Mẹ nó! Mình lại mắc lừa nó rồi! Hôm trước mình xin nó làm một “cú” thật ngoạn mục để mình lấy điểm đặng dằn mặt với cái bọn bố láo hải ngoại rằng là:

“Đảng và Nhà nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam xin trả lại Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa cho thân nhân các tử sĩ Quân lực VNCH, được trùng tu phục hồi như cũ, để tỏ thành tâm thiện chí trong việc “hòa hợp hòa giải dân tộc”.

Mà bây giờ, trong quyết định, chúng lại nói khơi khơi “chuyển sang sử dụng vào mục đích dân sự để phát triễn kinh tế”.

Thế là thế nào? Thế có chết mình không chứ!

Hôm sau, Phó vương Kỳ ôm theo cái bản sao Quyết định lên Phủ Tể Tướng xin gặp Dũng để dọ hỏi xem người soạn thảo có viết nhầm hay không. Chầu chực mãi cho đến trưa, bụng đói, mắt hoa, tay chân bắt đầu bắt chuồn chuồn mới được Dũng cho kêu vào.

Phó vương Kỳ chưa kịp nói lời nào, Tể tướng Dũng đã chặn họng:

- Tôi đã biết ý anh muốn nói gì rồi. Đây là quyết định của Bộ Chính trị, chứ không phải cá nhân tôi. Tôi có hứa với anh thật, nhưng anh cũng rõ là Đảng và Nhà nước ta đều ở trong cơ chế làm chủ tập thể. Việc anh nêu ý kiến thì tốt đấy. Nhưng Trưng Ương xét thấy mấy cái hài cốt của lính Ngụy đánh thuê cho Mỹ nằm đấy phí đất đi. Nay Đảng quyết định dụng 58 ha đất đó làm kinh tế thì tỉnh Bình Dương nói riêng và đất nước ta nói chung sẽ giàu to. Anh cứ tính nhẩm xem thì biết: Cứ 1 mét vuông trị giá sơ sơ chừng 1 lượng vàng y bốn số chín.

58 ha = 58..000 m2 x 1 lượng vàng = ???

- Thôi anh lui ra. Khỏi ý kiến, ý cò gì nữa. Đảng đã quyết rồi. Không thể sửa.

Nói xong, sai cận về đuổi ra cửa.

Phó vương Kỳ tính trong bụng chắc mẫm kỳ này lập công to nhưng không dè cú đá giò lái của Tể tướng Dũng còn độc hơn cú đà đao của Quan vân Trường hay cú hồi mã thương của La Thành nên đứng chết trân. Hai hàng râu kẽm trên mép bỗng quặp xuống, trở nên cứng hơn thép, làm cho môi trên không nhúc nhích được. Từ đó Phó vương Kỳ bị chứng á khẩu. Chỉ có miệng ăn chớ không có miệng nói.

Trở lại cái chuyện nghĩa địa Bình An và Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa.

Thế hệ sinh sau năm 1975 có lẽ không biết cái trò lập lờ đánh lận con đen về chữ nghĩa này: Nghĩa địa và nghĩa trang.

Suốt chiều dài chống cộng giữ nước hơn hai mươi năm, mười tám ngàn lính chiến VNCH miền Nam đã hy sinh và được chôn cất tại đây. Phần đất mà những người lính anh dũng đã yên nghĩ vĩnh viễn ở đây đã được Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa long trọng đặt tên là Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa.

Sau năm bảy lăm, không những Việt cộng bắt tất cả Quân, Cán, Chính miền Nam vào các trại tù để lao động khổ sai mà chúng còn giam cầm cả người chết để trả thù. Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa cũng bị giam cầm, canh giữ suốt ba mươi hai năm bởi Quân khu 7. Tính chính xác đến ngày hôm nay là 32 năm 2 tháng.

Chúng cố tình xóa đi cái tên “Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa” và thay vào đó cái tên “nghĩa địa Bình An” để người dân lâu ngày quên đi cái di tích này.

Hành động trả thù người chết của Việt Cộng để thỏa mãn lòng hận thù không thua gì hành động của Vua Gia Long đối với nhà Tây Sơn thuở xưa.

Câu “nghĩa tử là nghĩa tận” đối với cộng sản không có nghĩa lý gì.

Tất cả các nghĩa trang công hay tư khắp miền Nam đều bị cào mồ, cuốc mả, san bằng để chiếm dụng vào việc gọi là “dân sự”.

Nghĩa trang VNCH ở Cần Thơ, ở Gò Vấp, bị sang bằng ngay trong những năm đầu tiên để xây nhà cho cán binh VC ở. Nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, nghĩa trang Bắc Việt, Nghĩa trang Chi Hoa cũng bị san phẵng để làm công viên.

Hãy ngẫm lại mà xem, hài cốt lính Mỹ rãi rác khắp nơi từ núi cao cho đến chốn rừng sâu, Việt cộng cũng cố công đi tìm từng lóng xương, để trao trả cho Chính quyền Mỹ. Còn mồ mả lính Cộng Hòa, những người anh em cùng da vàng máu đỏ thì bị cào đi là nghĩa làm sao?

Ngày xưa, Việt cộng xem Mỹ là kẻ thù không đội trời chung, nay lại trãi thảm đỏ mời rước vào Dinh Chủ tịch nước vào Phủ Thủ tướng. Trong khi “những khúc ruột xa ngàn dặm” lại cấm cửa. Muốn vô nhà phải xin phép. Vậy cớ làm sao?

Tất cả chỉ vì đồng đô la màu xanh chứ không thể vì cái chữ “nhân” vô nghĩa.

Miệng thì hô hào “hãy quên thù hận cũ để hòa hợp hòa giải” mà bàn lông lá tay lại thò sang tận hai hòn đảo hoang ở Mã Lai và Nam Dương đập nát hai tấm bia của người tỵ nạn bị bỏ thây dưới lòng đại dương trên đường chạy trốn cái chế độ bạo tàn. Hành động đó đã đủ nói lên cái chủ trương “giết tuyệt, diệt tận” của VC.

Tờ Nhân Dân trong số đề ngày 29 tháng 12/2006 có đăng một tin, tựa đề: “Xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang nhân dân phải theo qui hoạch”

Nội dung cho biết là Bộ Xây Dựng đang lấy ý kiến hoàn chỉnh dự thảo “Nghị định về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang nhân dân” trình Thủ tướng trong thời gian tới.

Nhiều người có con em, chồng con hay thân nhân, bạn bè được chôn cất trong Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa bấy lâu nay, rất đau lòng vì không được bén mãng tới nơi để thăm viếng, thắp nén hương trên mộ hằng năm như trước, nay nghe thấy cái Quyết định vừa ban hành của Thủ tướng Việt cộng Nguyễn Tấn Dũng đã vội mừng. Và họ cho rằng cộng sản đã đến lúc hồi tâm chuyển ý. Đồ tể bậy giờ đã chịu bỏ dao xuống để thành Phật.

Nhưng qua những sự thật vừa liệt kê trên, cho thấy cộng sản không từ một thủ đoạn nào để xóa bỏ tất cả “tàn tích” của chế độ cũ.

Bao nhiêu di tích lịch sử đã bị phá bỏ, bao nhiêu nghĩa trang đã bị san bằng, thì cái Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa là cái gai cuối cùng Việt cộng phải nhổ đi thôi. Đã nhổ được cái gai trước mắt, thu được một số tiền khổng lồ từ người chết, lại được tiếng “hòa hợp hòa giải” thì ngu gì mà không làm.

Đạo lý là cái gì? Lương tâm là cái gì? Chỉ là thứ xa xĩ của bọn tiểu tư sản. Người cộng sản không có và cũng không cần những thứ vô bổ đó.

Nó không giúp ích gì cho công cuộc xây dựng và tiến lên Xã hội Chủ nghĩa, tiến tới Thế giới Đại đồng.

Rồi đây, sau thời gian ấn định, tháng 7 năm 2007, tỉnh Bình Dương chắc sẽ ra thông báo cho dân chúng khẩn cấp di dời mộ ở “nghĩa địa Bình An”. Mộ nào không di dời sẽ được coi là mộ hoang, chính quyền sẽ “giúp đỡ di dời”.

58 ha đất vàng ở đây sẽ được mau lẹ chia lô bán để phát triễn kinh tế - xã hội.

Chẳng mấy chốc sau đó nhiều hotel ba sao, năm sao sẽ mọc lên. Sân gôn hoành tráng sẽ khánh thành. Nhiều nhà tắm hơi mát xa, cà phê ôm, làng nhậu… sẽ nở rộ. Đám tư bản đỏ cùng cậu ấm cô chiêu sẽ dập dìu kéo nhau tới đó ăn chơi du hí thả dàn.

Người dân nghèo đứng hai bên đường nhìn cảnh tượng đó sẽ ngậm ngùi than lên rằng: Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu nói không sai,
    “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”
Nguyễn thanh Ty



TỰ HÀO DÂN TỘC ? - Trần Văn Giang

Trần Văn Giang

* Lời mở đầu: Đây là nhận định và ý kiến cá nhân của người viết mà thôi. Đúng hay sai còn tùy hoàn cảnh, kinh nghiệm và sự thẩm định của mỗi đọc giả.

Cụ Trần Trọng Kim, một nhà giáo lỗi lạc, một học giả danh tiếng và cũng là vị Thủ Tướng đầu tiên của Việt Nam, đã viết trong bộ sử “Việt Nam Sử Lược” (1925) về tính tình, tư cách của người Việt Nam (nguyên văn – trang 7 tiểu mục “Người Việt Nam”) như sau: “Về đàng trí tuệ và tính tình thì người Việt nam có cả tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, làm năm Đạo Thường cho sự ăn ở. Tuy vậy, vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác nhạo chế. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình, nhưng mà khi đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.

Tâm địa nông nỗi hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma tin quỷ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tín tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng Nhân, biết thương người và hay nhớ ơn.”

Những lời nhận định về người Việt này đã cũ trên 80 năm mà chưa thấy ai lên tiếng phê phán Cụ là “không chính xác”,“sai lầm”, “thiếu công minh”, “thiên vị” hay “sỉ nhục dân tộc”!

Nhiều người còn cho là Cụ có nhiệt tâm muốn thành thật vạch ra những cái tốt và cái xấu của người mình để hậu sinh học hỏi, sửa đổi; hầu xây dựng một tương lai trong sáng và tiến bộ cho đất nước.

Đất nước vừa trải qua những biến cố nghiêm trọng, lòng người hoang mang, ngờ vực, suy tư … Người Việt ở trong nước cũng như ở hải ngọai đã có rất nhiều băn khoăn nan giải về vấn đề “mình phải tự nghĩ về mình thế nào?” hoặc “mình nên trả lời thế nào về dân tộc mình trong trường hợp có người ngọai quốc hỏi?”. Trong bài nhận định này, tôi xin phép theo bước chân của cụ Trần Trọng Kim để đóng góp một vài ý kiến cá nhân có thể còn rất phiến diện. Rất mong được quý vị đọc giả chỉ giáo thêm.

Trong thời buổi này, người Việt, chẳng cần phải tự hào mà cũng chẳng cần phải tự ti. Khi được hỏi mình cứ trả lời cho đúng, đầy đủ, vừa phải, không dư thừa … là được rồi. Chối bỏ nguồn gốc của mình, hay vênh vang ngạo mạn đều hồ đồ cả - Cứ nói sự thật. Việt Nam cũng như mọi dân tộc khác, cũng có cái hay cái đẹp, cũng có cái xấu xa. Tự hào, hay tự ti, là ở ngay chính con người mình. Nếu mình thật sự giỏi thì chẳng cần biết mình là dân tộc nào, thiên hạ đều phục.

Người Việt chẳng có gì mà phải tự ti. Thế giới còn có nhiều nước tệ hại, kinh sợ hơn Việt Nam nhiều: cướp bóc giữa ban ngày, đĩ điếm đứng đầy đường, dân đen bị bóc lột hành hạ tàn nhẫn hơn, chính phủ độc tài cai trị sắt máu hơn, xã hội bị phân hoá khủng khiếp hơn, tham nhũng ở nhiều nước còn tàn chi hơn … (tôi không tiện liệt kê tên các quốc gia này vì vấn đề tế nhị!) Tóm lại, chẳng có lý do gì phải tự ti mặc cảm.

Người Việt Nam cũng chẳng có gì quá đáng để tự hào. Tự hào thế nào được khi quốc gia bị bêu riếu mọi nơi là lạc hậu. Tự hào thế nào được khi quốc tế liệt kê Việt Nam trong danh sách các quốc gia đàn áp tôn giáo tận mạng, tham nhũng như ranh, dân trí đội sổ, dân chủ có nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời. Chắc chắn sẽ có người sẽ giận dữ lên tiếng nhắc nhở tôi về lịch sử vẻ vang của Việt Nam, cái tài quân sự của người Việt, đánh thắng đế quốc Mông cổ; và mới đây đánh thắng luôn một lúc 3 đế quốc. Trong vấn để chiến thắng trong lịch sử này, tôi xin dẫn một câu chuyện điển hình về đại sứ VC tại Thái Lan mới đây để quý vi suy gẫm. Đại sứ VC đã trình bày một cách tự hào về Việt nam với Quốc Vượng Thái Lan là: ”Nước Việt Nam chúng tôi rất tự hào vì đã đánh thắng 3 đế quốc.”

Quốc Vương Thái Lan điềm đạm trả lời đại sứ VC là: “Nước Thái lan chúng tôi cũng rất tự hào vì không phải đánh nhau với một đế quốc nào cả!” (nên biết Thái Lan cũng không phải đánh nhau với quân Mông cổ!)

Lịch sử Việt nam hiện nay đã được viết dài dòng về công cuộc đấu tranh chống Pháp dành độc lập cho 25 (?) triệu dân Việt. Kết quả đưa đến việc thực dân Pháp đầu hàng sau trận Điện Biên Phủ 1954. Đồng thời, lịch sử thế giới cũng ghi lại là Thánh Gandhi của Ấn độ, dành lại độc lập cho 600 triệu dân Ấn độ mà không phải đổ một giọt máu nào. Ngay như thiên tài quân sự Tổn Tử (trong “Binh pháp Tôn Tử,” trang 4, Thiên thứ 3 “Mưu Công”) đã định nghĩa thế nào là “Quân sự giỏi” như sau (nguyên văn): “Đại phàm cái phép dụng binh, làm cho cả nước địch khuất phục trọn vẹn là thượng sách, đánh nó là kém hơn. Thế nên bách chiến bách thắng cũng chưa phải cách sáng suốt trong sự sáng suốt. Không cần đánh mà làm kẻ địch khuất phục mới gọi là sáng suốt nhất trong sự sáng suốt.

Cho nên thượng sách trong việc dùng binh là lấy mưu lược để thắng địch, kế đó là thắng địch bằng ngoại giao, kế nữa là dùng binh thắng địch, hạ sách là tấn công thành trì. Cho nên người giỏi dụng binh, thắng được địch quân mà không phải giao chiến, đoạt thành mà không cần tấn công, phá quốc mà không cần đánh lâu, nhất định phải dùng mưu lược toàn thắng mà thủ thắng trong thiên hạ, quân không mỏi mệt mà vẫn dành được thắng
lợi hoàn toàn.”

Như vậy, “thắng mà không phải đổ một giọt máu nào!” mới gọi là giỏi. Chứ còn phải nướng vài triệu nhân mạng để giải phóng vài chục triệu nhân mạng thì không biết phải nói hay ở chỗ nào?… Cũng nên biết thêm, thực dân Pháp mặc dù không bị thua trận ở Algeria, nhưng thực dân Pháp đã phải tự động trả độc lập cho Algeria (hoàn cảnh quốc gia này bị Pháp đô hộ giống y hệt như hoàn cảnh của Việt Nam) vì chính sách thực dân đã bị xem là lỗi thời, bị quốc tế phỉ báng.

Hiển nhiên, nhiều người ngoại quốc đã có sẵn những thành kiến về người Á châu nói chung (và người Việt Nam nói riêng) là hay ăn cắp vặt, lười biếng, ở bẩn thiếu vệ sinh thì mình cũng giải thích với họ là dân tộc nào cũng có kẻ thế này người thế khác; Hoặc gặp kẻ tán tụng dân tộc mình (phần lớn vì vấn đề thông lệ giao tế, không biết họ có thành thật hay không?) như là: “À! Anh thuộc về dân tộc vẻ vang nhất của thời đại …”. Thì cũng từ tốn cố giải thích với họ là bây giờ là thế kỷ 21 rồi, những chuyện đánh nhau không cần thiết đó đã xưa rồi, bỏ qua đi tám, lập lại cũng chẳng có ích lợi gì. Những “vẻ vang” đó không thể tự nhiên mang lại no ấm, hạnh phúc hơn cho dân tộc.

Hãy nghe một nữ sinh viên Việt Nam du học (bây giờ còn được gọi là du sinh) ở Singapore (Tân Gia Ba) đã tâm sự như sau: “Em chả dám bàn về chính chị chính em gì hết. Bởi vì bố mẹ
bảo em là con gái không nên xen vào chuyện làng chuyện nước”!

Năm 2001, cả giòng họ nhà em chắt mót lắm mới đủ tiền cho em đi Singapore du học tự túc. Thời gian mới qua em rất bất ngờ vì người dân bên đó hòa đồng và mến khách còn hơn cả cái kiểu tiếp khách của các bác trong các chương trình du lịch bên mình nhiều lắm. Em có một cô bạn gái người Singapore bên đấy. Hôm nọ, cô ấy rủ em đến nhà mấy người bạn Singapore chơi. Cô ấy lại dặn em là ‘khi người ta hỏi thì đừng bảo là người Việt Nam nhá!’ Em ức lắm và vì tự ái dân tộc nữa nên đến lúc mấy người kia hỏi em cứ nghênh mặt lên và trả lời ngay: ‘I am Vietnamese.’ Úi giời ơi! Sau câu trả lời ấy thái độ của cả nhóm thay đổi ngay. Cả buổi chẳng có ma nào hỏi han gì đến em câu nào nữa. Khi về cô bạn kia mới giải thích cho biết phụ nữ Singapore rất có ác cảm với phụ nữ Việt Nam bởi vì 80% phụ nữ Việt Nam qua Singapore đều làm … hết. Họ không muốn thân với em vì sợ em sẽ cướp chồng họ.

Đấy! Các bác cho em lời khuyên là có nên nghênh mặt bảo mình là người Việt Nam nữa không???”
Chúng ta nên buồn năm phút!! Hay nên tự hào năm phút?! Nghiêm chỉnh mà nói cho nhau nghe, hay để dạy dỗ con cái thôi là Việt Nam có nhiều cái rất đẹp và đáng tự hào. Bởi vì một cô gái xấu xí đến đâu, nếu nhìn kỹ vẫn tìm thấy một vài nét đặc biệt. Chẳng hạn cái thông minh cũng có thể làm mờ các khuyết điểm khác đi. Đất nước không thể vì một nền kinh tế chậm tiến, lạc hậu, nghèo đói, bị đè đầu cưỡi cổ triền miên mà người dân phải cho rằng mình đành chịu đựng một sự nhục nhã. Lịch sử Việt Nam dài hơn 4000 năm thì 60 hay 100 năm đâu có nghĩa lý gì. Nếu phải so sánh với các nước khác trên thế giới thì vấn đề lạc hậu, xuống dốc như thế này phải làm các ông lãnh đạo cảm thấy xấu họ mới đúng. Người dân đen không có gì phải xấu hổ cả. Kể cả cô em gái du học ở Singapore!

Ở hoàn cảnh nào cũng vậy. Không ai muốn vạch áo cho người xem lưng. Nhưng phải nói cho nhau nghe là ở Việt Nam hiện nay, lãnh đạo không hề để ý gì đến văn hóa Việt Nam; cho nên nền văn hóa cứ thế mà tụt dốc phi mã. Các lãnh tụ “siêu việt”, “kiệt xuất” hoang tưởng chỉ có một cách, một phương thức một bài duy nhất dùng để phô trương, tự hào về Việt Nam là “chiến thắng vinh quang”; ngoài ra không có một thực chất hay một khả năng nào có thể dùng để xây dựng, phát triển dân giầu nước mạnh được. Nhật Bản sau 30 năm bại trận, từ đống tro tàn, không tài nguyên … trở thành một siêu cường của thế giới. Việt Nam sau 30 năm chiến thắng vinh quang, với tài nguyên dồi dào … vẫn không làm nổi một cái đinh ốc cho ra hồn. Hoang tưởng là ở chỗ đó.

Ở ngọai quốc, khi nói đến Việt Nam là người ta nghĩ ngay đến các vấn đề “nghèo”, “cộng sản”, “vòng lẩn quẩn cộng sản - nghèo …” tòan những cái “negative values”; chứ chẳng thấy “vinh quang” ở đâu cả? … Không hiểu dân tộc Việt Nam mắc nợ gì với CS mà CS cứ đeo dính dân tộc mình hoài vậy? (nên biết trên thế giới có trên 193 quốc gia – kể cả Vatican City - nhưng chỉ còn vỏn vẹn có 4 dân tộc “anh hùng” vẫn còn mắc nợ CS thôi!?)

Mỗi người có quan điểm chiến lược khác nhau; Có mức độ kỳ vọng khác nhau. Nhưng tôi nhìn nhận là người Việt có một số ưu điểm như sau:

1. Chịu được gian khổ (bị đô hộ trên 1000 năm vẫn sống; ăn “bobo,” khoai sắn độn dài dài vẫn sống; bị tù đày dài dài vẫn sống; nhịn đói 10 - 20 ngày trên biển vẫn sống, …)

2. Tương đối dễ hòa và hội nhập với nền văn hóa dị biệt của nước người

3. Tương đối chăm chỉ so với một số dân tộc khác

4. Tương đối thông minh (không ngu quá!)

Chỉ có cái điểm “chịu đựng” là coi bộ nổi bật. Ba điểm còn lại cũng còn lờ mờ, khó nói, không rõ cho lắm! Nhưng mà dân tộc nào chả thế! Không chịu đựng được thì đã họ tự sát hết từ lâu rồi còn gì. Mà đâu có thấy dân tộc nào tự tử ào ào một lúc chỉ vì khổ quá đâu?

Nói về “văn hoá lưu vong” dường như chỉ có Do thái và Việt Nam có. Nhưng so sánh Do thái và Việt nam có vẻ không công bằng. Dân Do thái bỏ đất đai ra đi vì bị các áp lực tôn giáo (Hồi giáo) và chủng tộc (Ả rập) ở Địa trung hải quá mạnh. Nếu ở lại họ sẽ bị tiêu diệt, bị xóa sổ. Dân Việt Nam bỏ đất nước ra đi bởi vì chính trị của người chính người Việt Nam chứ không phải vì áp lực của lân bang (hãy xem lại lịch sử thấy là dù Tầu có đánh mạnh đến đâu đi nữa, thì người Việt vẫn bám lấy đất và chiến đấu đến cùng!) Cái giống nhau là dân Do thái và dân Việt sống rải rác ở nhiều quốc gia Âu châu vẫn nhất là ở Hoa kỳ. Bây giờ hãy nhìn dân Do thái và dân Việt lưu vòng trên đất Mỹ.
Chúng ta tìm thấy rất nhiều chuyện để học từ dân Do thái.

Người Do thái ở Mỹ không phải là những người “… bài bác nhạo chế nhau … thường thì nhút nhát … hay khiếp sợ … tâm địa nông nổi hay làm liều … không kiên nhẫn … hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài … hiếu danh vọng … thích chơi bời, mê cờ bạc … Kiêu ngạo và hay nói khoác … (nguyên văn lời của cụ Trần Trọng Kim đã viết ở phần trên!)” như dân Việt lưu vong. Ngược lại, dân Do thái (lưu vong) gián tiếp chỉ huy mọi chính sách của Mỹ: người Do thái gần như hoàn toàn kiểm soát nhiều lãnh vực quan trọng nhất trong sinh hoạt kinh tế (nhà băng, thị trường chứng khoán ...) và khoa học (giáo sư đại học, khoa học khảo cứu gia, bác học …) và quan trọng nhất là hoàn toàn kiểm soát “media” (truyền thông, báo chí, kỹ nghệ phim ảnh, truyền hình ...) ở Hoa Kỳ, Chỉ riêng với vấn để truyền thông (“media”) này, người Do thái đã dùng nó để hướng dư luận và quan điểm của dân Mỹ và đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách lãnh đạo đối nội cũng như đối ngoại của Hoa kỳ theo các chiều hướng có lợi cho quốc gia Do thái. Vì vậy, Do thái chỉ có khoảng 3 triệu dân vẫn đánh thắng một cách rất dễ dàng các liên minh quân sự của Ả Rập có đến trên 100 triệu! Người Do thái lưu vong không cần phải lên tiếng tự hào về dòng giống Do thái của họ.

Các dân tộc khác sống trên đất Mỹ phải tự nhiên nể và sợ họ là đằng khác!

Dân Việt lưu vong không có cái gì phải xấu hổ về sự lưu vong của mình. Có xấu hổ hay không là những các nỗ lực khoe khang hoang tưởng, phỉ báng lẫn nhau, ném bùn vào mặt nhau, đâm sau lưng nhau ở hải ngoại. Dân Việt Nam lưu vong mình nên cố gắng nhìn bài học lưu vong của dân Do thái để xây dựng một niềm tự hào, một sức mạnh lưu vong riêng cho chính mình.

Lúc nào cũng ra rả chiến thắng này, chiến thắng nọ; nhưng nhìn lại xem ai? phe nào, là những người thực sự chịu đau khổ. Thực tế cho thấy “kẻ thua” thì ngoài một số ít chết (tỷ lệ số chết quá nhỏ so với dân và quân Việt bị chết!) chẳng thương tổn gì gọi là quá đáng cả. Họ vẫn là cường quốc, vẫn mạnh giỏi. Còn nước Việt Nam dân số đứng thứ 13 trên thế giới, với diện tích thuộc hàng trung vẫn bị coi là “nhược tiểu” (hãy xem nước Đức với diện tích và dân số như Việt Nam mà không bao giờ bị xem là nhược tiểu!) mà lại có về hài lòng! Tự sướng tự rên! Tự hào! Không biết lấy ở đâu ra? Tại sao chúng ta không làm cho mình thật mạnh để không nước nào dám xâm lấn, dám xâm lăng, dám cai trị chúng ta? Chúng ta tự hào thông minh, nhưng đó chỉ là cái thông minh vặt. Chúng ta dùng những “thành tích” nổi bật của một số nhỏ người Việt ở nước ngoài để cho rằng Việt Nam giỏi, nhưng đó chỉ là cái “tâm lý nhược tiểu.” Chúng ta phải dùng những cái “không phải của mình” để “tự khen;” đem những lời khen “ngoại giao” của người ngoại quốc để “tự thỏa mãn” cái tâm lý nhược tiểu của mình. Những người được đào tạo tài giỏi ở nước ngoài là nhờ “tài của nước ngoài” chứ không phải cái “tài của nước mình,” chưa đáng được dùng để gọi là “tự hào dân tộc.” Phải chờ đến lúc có du sinh ngọai quốc nài nỉ, nộp đơn xin được đến “du học” ở Việt Nam để học cái tài của nước Việt mình thì mới tính đến chuyện “tự hào” cũng chưa muộn!

Nếu chúng ta không suy gẫm kỹ lưỡng và đánh giá cho đúng con người mình, không dám nhìn thẳng vào sự yếu kém chung của mình, mà chỉ nhìn vào một vài “thành tích nổi bật lẻ tẻ” rồi tự hào, từ mãn thì đến muôn năm nữa vẫn không thoát ra khỏi cái thân phận nhược tiểu. Như vậy có một vấn để quan trọng thấy rõ không chối cãi được là vấn đề “lãnh đạo” (kể cả loại lãnh đạo “sắt máu” như Hitler của Đức quốc xã!). Lãnh đạo sáng suốt sẽ đưa đất nước vượt lên các yếu kém lạc hậu, các chèn ép của quốc tế. Thật là buồn, nếu chưa muốn nói là một sự sỉ nhục phải là công dân dưới chế độ CS, đã và đang phải chấp nhận những kẻ không ra gì lãnh đạo mình. Đó là cái lãnh đạo thiếu đạo đức, lãnh đạo đang hủy họai đạo đức, đang hủy hoại truyền thống tốt lành của xã hội Việt Nam; lãnh đạo dốt nát, độc ác, lãnh đạo lừa dối hành hạ dân lành. Ở Việt Nam bây giờ sự dối trả là căn bản cho mọi sinh hoạt của xã hội. Dối trá từ việc học hành, thi cử, việc làm, sản xuất cho đến thái độ cư xử với những người chung quanh với một đất nước như vậy thì chỉ còn có các bác thật “anh hùng” và thật “kiệt xuất” mới dám có “can đảm” cảm thấy tự hào vì nó.

Cái óai oăm ở đây là hình như là người dân Việt Nam ở trong nước chưa cảm thấy có nhu cầu cần thiết để thay đổi chế độ và đòi hỏi thêm quyền chính trị. Bởi lẽ, như đã nói ở trên, người Việt Nam mình giỏi “chịu đựng” mà!. Ừ thì chịu đựng nghèo, chịu đựng đói khổ đã đành; nay thậm chí còn giỏi chịu đựng cả sự sỉ nhục! Chưa có nhu cầu thay đổi, thì đào đâu ra động lực thay đổi. Không có động lực thì cũng kể như cứ việc thong thả nằm yên theo kiểu “con rùa lật ngửa” cho nó được việc! Cho qua ngày qua tháng! Muốn đi đến chỗ “có động lực” thì phải có một bộ máy giáo dục, thông tin hữu hiệu để giải thích cho mọi người hiểu tại sao cần phải có sự thay đổi (Nên biết “Lãnh đạo cũng giống như tã lót. Nó cần phải được thay thường xuyên – vì chung một lý do!) và thay đổi sẽ đem lại cho họ và con cháu họ những ích lợi gì. Nói tóm lại, đây là một chuyện to tát phải làm. Rất tiếc công việc này còn to tát hơn vì CS đã biến một khối 83 triệu người Việt thành mù, điếc và câm từ khuya rồi. Người có can đảm đi khai sáng họ sẽ bị lên án là “phản động”!. Người muốn đi chữa bệnh nan y (Mù câm và điếc) sẽ phải trả giá rất đắt như bị tù đày, bị bao vây an sinh. Thành ra, chỉ còn một giải pháp tiêu cực là đợi cho tham nhũng đến cùng cực, sự suy sụp đạo đức xã hội đến tột đỉnh thì CS sẽ tự nó hủy diệt nó! Cái giá của sự chờ đợi này có thể con đắt hơn mấy lần đi tù, bị bao vây kinh tế mà rất ít người biết.

Đôi khi mình cũng cần soi gương, không phải để tự ti hay tự hào, mà để tự đặt câu hỏi cho mình. Tự hỏi mình là tại sao người Việt thông minh mà dân tộc mình vẫn phải chịu nghèo đói; tại sao người Việt chăm chỉ mà vẫn còn người Việt đi làm thuê làm mướn với lương rẻ mạt ở những quốc gia cũng chẳng hơn Việt Nam bao nhiêu như Mã lai, Ba lan, Hung gia lợi …; Có lẽ vì vì chúng ta không dám chấp nhận sự thật, vẫn ngủ quên trên chiến thắng; vẫn coi thường những dân tộc khác mà không biết là họ khôn ngoan hơn mình.

Đôi khi cũng nên nhìn vào gương để thấy mình còn may mắn vì nước Việt Nam mình ít ra chưa biến thành một Tây tạng hay một Đài loan thứ hai. Cứ đem cái quá khứ vẻ vang của dân tộc ra mà tự hào thì cái hiện tại chỉ càng làm cho mình đau lòng thêm. Hãy nhìn các anh hùng dân tộc đã đứng lên chiến đấu dành độc lập cho đất nước. Nếu chỉ mấy ông ấy đứng lên một mình không thôi thì có lẽ đã bị Tầu hay Tây (hay Mỹ) nó mượn chỗ đội nón từ khuya rồi. Làm quái gì mà có được “chiến tích thần kỳ”. Các ông ấy phải cần có sự hy sinh vô bờ vô bến của dân ngu khu đen nữa chứ!!! Lãnh đạo đến; rồi lãnh đạo lại đi (hoặc bị tiêu diệt!) Nhưng dân thì muôn đời vẫn còn. Cổ nhân đã nói : “Quân nhất thời; Dân vạn đại”! là vậy. Dân tộc và nước Việt Nam đã bị vùi dập nhiều rồi; không đáng phải bị lãnh đạo (bất xứng) vùi dập thêm.

Lời Kết:

Trước khi muốn chạy, thì phải tập đi cái đã. Dù có muốn hay không, dù đã sửa sắc đẹp toàn diện rồi, mình cũng vẫn là người Việt Nam, điều đó không thể chối cãi được. Câu hỏi đơn giản là mình có tự hào về bản thân mìnkhông? Nếu mình không có tự hào cá nhân thì cũng chưa nên bàn đến tự hào dân tộc.

Tự hào thì có nhiều thứ lắm. Lịch sử liệt kê ra hai loại tự hào là

- Thành quả quân sự (chiến tranh
- Chiến tranh lại được chia ra làm hai loại: chiến tranh tự vệ và chiến tranh xâm lược mà ông cha mình gọi là “mở màng bỏ cõi!”).

Oái oăm là cả người tự vệ lẫn người xâm lược cùng tự hào một lượt. Người xâm lược tự hào về sức mạnh. Xâm lược thành công nhanh chóng trong một thời gian ngắn được xem như một niềm tự hào, một chiến tích vẻ vang. Người đấu tranh tự vệ giữ nước tự hào về sự kiên cường, bất khuất, anh dũng.

- Thành qủa xây dựng:

Các nước giàu mạnh tân tiến ngoài cái tự hào chiến tranh họ còn tự hào về các công trình xây dựng lớn lao, nền kinh tế khoa học kỹ thuật vượt bực góp phần vào sự phát triển chung của thế giới. Nhưng thật buồn là Việt Nam ta, cho đến nay chỉ có một cái tự hào về chiến tranh thôi! Tự hào chiến tranh cuối cùng là chiến thắng trong cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu nước!” Cái chiến tranh này xẩy ra đúng vào lúc thế giới đang ở giai đoạn chiến tranh lạnh (giữa “Tây Phương và Nga sô” hay là “Thế giới Tự do và Cộng Sản quốc tế”) thì chỉ riêng có một mình Việt Nam là nhào đầu vào chiến tranh nóng thôi! Việt Nam thắng trận có nên tự hào không? Có lẽ có! Nhưng đó là tự hào của người Cộng sản chứ không phải là tự hào của “Tổ quốc Việt Nam”.

“Giặc Mỹ” đến giúp Nam Hàn tự do đánh nhau với CS Bắc Hàn trước khi có chiến tranh nóng ở Việt Nam. Bây giờ là năm 2007, chiến tranh nóng Việt Nam đã nguội ngơ rồi! Dân tộc Việt Nam đã trở thành “dân tộc anh hùng rồi”! Bắc Hàn và Nam Hàn đã đồng ý chia lãnh thổ từ lâu rồi; “Đế quốc Mỹ” vẫn còn có quân đội đóng ở Nam Hàn. Đã có ai thấy là “đế quốc Mỹ” cướp một tấc đất nào của Nam Hàn không? “Đế quốc Mỹ” còn ở đó giúp Nam Hàn tự do phát triển thành một sức mạnh kinh tế giầu có nhất ở Á châu mà nhiều con gái nước Việt anh hùng muốn sang làm cô dâu! (Không thấy có cô gái Việt Nam nào muốn sang làm cô dâu ở Bắc Hàn anh hùng cả! Lạ nhỉ!!!)

Trần Văn Giang