Friday, January 15, 2010

Cao Quang Ánh, một Câu Tiễn thời đại?! - Trần An Lộc

    "Hãy nghe Cao Quang Ánh nói và nhìn Mr "Cow" làm"

    "Lặng lẽ vào và lặng lẽ ra khỏi VN. Về tới Mỹ , rồi mới hết "Lặng lẽ",
    tha hồ hứa: tôi sẽ thế này, tôi sẽ thế nọ ...
    Cao Quang Ánh ơi là Cao Quang Ánh !!!"
Trần An Lộc

Đến giờ phút này thì chúng ta đã có đủ tin tức để có những nhận định khách quan về chuyến ghé thăm Việt Nam của dân biểu Cao Quang Ánh trong phái đoàn Dân Biểu của Hạ Viện Hoa kỳ.

Vì vấn đề đã được bàn đến quá nhiều trên các phương tiện truyền thông người Việt hải ngoại, người viết chỉ xin tóm tắt các điểm chính sau:

1. Để được cấp visa nhập Việt Nam, ông Ánh đã chấp nhận điều kiện của CSVN: "Trong thời gian ở VN, ông không gặp gỡ những nhà tranh đấu cho dân chủ, không họp báo và không ra thông báo báo chí" nói cách khác ông cho phép cộng sản Việt Nam tước đoạt quyền tự do ngôn luận của mình!. Một quyền mà sức mạnh được nhân lên nhiều lần trong cương vị một dân biểu Hoa Kỳ. Chấp nhận bị tước quyền họp báo, phát biểu và ra thông báo báo chí của một đại diện dân cử, đồng nghĩa với việc bị tước vũ khí tại chiến trường, nếu người đó là một quân nhân. Tác phong như vậy thì phải gọi là gì? Có phải ông Ánh đang noi gương Câu Tiễn Việt Vương trong cổ sử?

2. Về vụ Đồng Chiêm, ông Ánh phát biểu đó là việc làm của một cá nhân nhỏ ở địa phương, không phải chủ trương của cộng sản trung ương. Sao ông biết?!. Bọn CS luôn luôn ra lệnh ngầm cho thủ hạ, còn đầu lãnh thì chối leo lẻo, cả thế giới đều biết như thế, mỗi mình ông là không, lạ nhỉ??? Hơn nữa những phát biểu mới đây của các cấp lãnh đạo CS đều bênh vực cho việc làm phạm Thánh và vô nhân này, thì không phải do họ chủ trương thì ai trồng khoai đất này?

3. Ông Ánh cho rằng những người H'mong bị Thái Lan trả về Lào, được đối xử tử tế tại các trị tập trung. Ông nói thế là phủ nhận những tố cáo của Phủ Tỵ Nạn LHQ về số phận của 4000 nạn nhân H'mong này. Họ đang đứng trước những sự trả thù tinh vi có kế hoạch mà các hội nhân quyền quốc tế đã lên tiếng báo động với thế giới, còn ông và phái đoàn của ông thì khẳng định ngược lại! Ta phải tin những tổ chức nhân quyền quốc tế dạn dày kinh nghiệm với các chế độ độc tài hay tin ông Ánh và 2 ông dân biểu của Hạ viện Hoa Kỳ!

4. Ông Ánh chủ trương giúp VC mở đại học tại VN và gia tăng số du sinh qua Mỹ học, điều này cho thấy ông đứng về phía tầng lớp thượng tầng xã hội ở VN ngày nay, những người có quyền lực và tiền bạc trong tay, vì chỉ có con cháu họ mới leo lên để vào ngồi trong các đại học ấy hay được đi du học mà thôi. Họ là ai vậy? Xin thưa đó là các cán bộ cao cấp của đảng CSVN, những bọn lợi dụng chức quyền tham nhũng làm giầu bất chánh trên xương máu của 83 triệu người Việt nghèo đói khốn khổ!

Cũng xin nói thên rằng việc mở đại học ở VN đã được nhiều quốc gia và nhiều đại học trên thế giới đề cập với chính phủ VN, với 2 nguyên tắc cơ bản:

- Các đại học phải được tự trị (như ở các quốc gia tiến bộ trên thế giới)
- Không bắt buộc sinh viên phải chọn học các môn triết học Maxist- Leninist và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Hai nguyên tắc cơ bản trên đều bị đảng CSVN bác bỏ, vì thế những đề nghị nàykhông xúc tiến được.

Nay ông Cao Quang Ánh coi bộ rất tâm đắc với việc mở đại học, không biết ông có chấp thuận bỏ hai nguyên tắc cơ bản trên cũng như ông đã chấp nhận tự tước bỏ quyền tự do ngôn luận của mình trong chuyến công tác vừa qua tại Việt Nam?

Có thể ông Ánh đang chơi nước bài của Câu Tiễn ngày xưa để cứu Việt Nam ngày nay chăng?

Người viết xin dành câu trả lời cho công luận.

Trần An Lộc


"Bài Vỡ Lòng Cho Cao Quang Ánh" - Võ Trang

Võ Trang

Tôi đã đọc câu này ra rất nhiều lần - cả trăm lần - để chắc mình không hiểu lầm!

Hãy quên quá khứ ...

Tại hải ngoại, CSVN không ngừng kêu gọi người Việt hãy quên quá khứ để hướng về tương lai. Trong Tâm Sinh Lý học, quên quá khứ là chuyện không thể làm được. Cái gì đã đi vào bộ não thì sẽ ở đó cho đến khi con người lìa đời? Một đôi khi chấn thương sọ nảo hay tinh thần có thể làm gián đoạn dẫn truyền của hệ thống thần kinh. Nhưng khi hồi phục thì người ta vẫn nhớ lại.

Ngày nay, với tất cả thành tựu của con người trong mọi lãnh vực, văn minh trong cả khía cạnh vật chất lẫn tinh thần là nhờ quá khứ đấu tranh của cả mấy ngàn năm không chỉ qua những thành công mà chính là nhờ những thất bại. Thế thì tại sao phải quên quá khứ?

Nhưng "hãy" quên cái quá khứ nào? - Có phải người cộng sản muốn nói đến cái quá khứ tù đày trong những trại học tập không biết ngày mai, bị sỉ nhục mỗi ngày mà vẫn phải cám ơn "cách mạng" đã khoan hồng? Có phải người cộng sản muốn nói đến cái quá khứ của gia đình bị hăm dọa đẩy lên vùng kinh tế mới để nhà cửa còn lại cho "cách mạng" tịch thâu và khi trở về phải ngủ dưới hầm cầu, trên vỉa hè của chính nhà của mình? Quá khứ hãi hùng hể bị chụp mũ là tư sản thì đời kể như tiêu tùng, thân bại danh liệt, tài sản tịch thu, thân tù đày? Quá khứ hãi hùng trên biển cả, khiếp đảm trong bìa rừng Thái, Lào mà mỗi gia đình người Việt ngày nay ở hải ngoại đều có 1 câu chuyện như là một phần đời ... xa hơn nữa, có phải người cộng sản muốn nói đến cái quá khứ của cuộc cách mạng địa chủ năm 1954 đã hành quyết hàng chục ngàn người hay là cuộc chôn sống tập thể cả 5 ngàn người vào Tết Mậu Thân tại Huế năm 1968? Ngược lại, có những quá khứ không nên quên bao giờ chẳng hạn như cuộc cách mạng muà Thu, Đại Thắng Mùa Xuân, những hy sinh vô bờ bến của Hồng Quân Liên Sô và Trung Quốc ...?

Mỗi lần nghĩ về lịch sử oai hùng của dân tộc và những hy sinh của tiền nhân trong công cuộc dựng nước và giữ nước là tôi thấy hãnh diện và sung sướng. Nhưng không phải quá khứ nào cũng huy hoàng và không có lý do gì tôi chỉ nên nhớ những huy hoàng ấy và bỏ qua những sai lầm như một trốn chạy. Còn như để quên quá khứ như một người mất trí thì hướng về tương lai để làm gì?

Ngay tại Việt-Nam ngày nay, nhiều người đã muốn quên quá khứ như mượn rượu để giải sầu. Có người còn muốn quên cả hiện tại. Phải chăng đây cũng là phản ảnh của hiện tượng hút xách, ăn nhậu, chơi ngông ? thêm vào đó chính quyền còn giúp cho đại đa số dân chúng một cuộc sống phải vật lộn với miếng cơm manh áo hàng ngày một và một hệ thống giáo dục tẩy não để họ không có thời giờ nhớ về quá khứ hay phương tiện để tra cứu?

Hãy xoá bỏ hận thù ...

Có lẽ người nói câu hãy quên quá khứ để hướng về tương lai muốn nói là hãy xóa bỏ hận thù để hướng về tương lai? Vì quá khứ là một "hiện thực" khách quan nên không thể quên được. Nhưng hận thù là sản phẩm của tâm tư con người nên con người có thể khắc phục được. Hận thù đưa đến trả thù sẽ làm cuộc sống máu me dơ bẩn. Hận thù làm tâm linh ta khốn khổ, cuộc sống mất đi cái hồn nhiên vô gía và hướng thượng ... và ngay cả sau khi trả được mối thù, cái bàn tay nhuốm máu ấy vẫn không bao giờ rửa sạch ...

Nhưng chính người cọng sản Việt-Nam đã lấy hận thù để làm cách mạng. Có cái lòng hận thù nào để giáo dục cho con cháu như thế này: hôm qua dân quân ta bắn rơi 2 máy bay của Mỹ Ngụy. Hôm nay dân quân ta lại bắn rơi thêm 3 chiếc nữa. Vậy tổng cộng ta đã bắn rơi bao nhiêu chiếc cả thảy? Họ đã lấy hận thù để tiêu diệt tất cả các đảng phái không cùng chính kiến với họ. Sau khi toàn thắng ở miền Nam, thay vì dùng cái cơ hội bằng vàng này để nêu cao chính nghĩa dân tộc và hòa giải quốc gia, họ nhìn ở đâu cũng thấy toàn kẻ thù. Cái tâm lý bệnh hoạn và sợ hãi củng cố chế độ đã làm họ phải quyết định bế môn tỏa cảng trong cả 10 năm đầu. Hậu quả thì như ai cũng biết, nước Việt-Nam đã trở thành 1 trong 10 nước nghèo đói nhất của thế giới. Đánh động được lương tâm của con người qua những việt trợ nhân đạo, chính họ cũng phải nới lỏng nền kinh tế chỉ huy thiếu hiện thực, như đã từng được chứng minh qua các cuộc cách mạng ở Liên Sô và Trung Quốc. Nhưng khi tình hình đã được khả quan hơn nhờ những trao đổi với bên ngoài, họ trở lại nhìn thấy thêm kẻ nội thù, từ chính người dân của họ, những đồng chí mà cách đâu không lâu đã hy sinh cuộc đời cho sự nghiệp "giải phóng" dân tộc do họ chủ xướng. Ngoài những lực lượng thù nghịch, họ đã đặt để thêm những kẻ thù trong những "diễn tiến hoà bình" - nỗi lo sợ và lời buộc tội đã mâu thuẩn với chính danh xưng của những biến chuyển mà nghe ra rất khách quan trong phát triển tự nhiên của con người. Họ khuyên người ta hảy quên quá khứ, xóa bỏ hận thù nhưng chính họ thì không bao giờ, - vì hận thù vốn là sức sống, là linh hồn, là nền tảng của sự an toàn trong tư tuởng và lý luận của những người cọng sản Việt-Nam khi đi làm các mạng!

Nhưng có những hận thù nào ta không nên quên chăng? cho dù cả ngàn năm sau? như hận thù của 2 bà Trưng Trắc Trưng Nhị trước cảnh nước mất nhà tan mà rồi cuối cùng vẫn phải nhảy xuống sông tự vẫn? Trong đấu tranh cho Chủ Nghĩa Xã Hội, người vô sản có nên quên mối thù không đội trời chung với bọn tư bản bóc lột? Không hận thù thì làm gì có cách mạng? những ai còn phân vân với tính chuyên chính vô sản này thì cứ tìm đến ông Tô Huy Rứa để nghe lời giải thích. Hay là chỉ có người cộng sản mới được quyền hận thù?

Mới đây thôi, trong bài diễn văn đọc trước Quốc-Hội Hoa Kỳ, bà Thủ Tướng nước Đức đã nói gì? Cần nhắc lại, bà Merkel đã sống và lớn lên trong xã hội cọng sản Đông Đức mà vẫn trở thành Thủ Tướng của nước Đức thống nhất là một bằng chứng của sự xóa bỏ hận thù: "Nhưng đừng có ai nhầm lẫn: Khoan dung không có nghĩa là thế nào cũng được. Không khoan dung với những ai không tôn trọng và chà đạp các quyền vô giá của con người".

Xóa bỏ hận thù không có nghĩa là đồng lõa với tội ác. Không chịu nhìn thẳng vào cái gì đã gây ra hận thù nhưng chỉ biết kêu gọi xoá bỏ, cũng như họ kêu gọi đoàn kết nhưng không chỉ cho thấy cái gì đã gây ra chia rẽ là một sự lường gạt ấu trĩ và rẽ tiền !.

Để hướng về tương lai ...

Có ai trong chúng ta sống mà không để hướng về tương lai?. Ngay cả trong tu dưỡng cá nhân cũng đễ cho một sự ra đi thanh thảng khi từ giả cuộc đời. Tất cả người Việt chân chính đều mong muốn thấy được một nước Việt-Nam giàu mạnh, công bằng và nhân bản. Nhưng một lần nữa chúng ta đang nói về một tương lai nào? Một sự thành cộng của Chủ Nghĩa Xã Hội tại Việt-Nam và trên toàn thế giới? Quên quá khứ để hướng về tương lai trong diễn dịch của nhà cầm quyền CSVN là quên hết (như người mất trí?) và chấp nhận trở về làm việc cho họ. "Bằng lòng đi em về với quê hương". Những người cộng sản Việt-Nam đã nói rõ ràng rồi: yêu nước là yêu Chủ Nghĩa Xã Hội. Danh từ "đoàn kết" có nghĩa là từ bỏ vị trí chống đối hoặc không đồng chính kiến để trở về dưới sự lãnh đạo của họ. Không có hòa hợp hòa giải gì cả. Hãy thành thật với nhau như chút liêm sĩ còn lại mà chúng ta đều hiểu: không ai có tư cách mặc cả với chế độ CS hiện nay cả!

Tôi không tin là cho đến bây giờ những người gọi là Việt Kiều Yêu Nước vẫn chưa biết mình đang nói cái gì? Xin các Việt-Kiều Yêu Nước đừng lừa dối thế hệ trẻ ngày nay vì họ không có cơ hội để kiểm chứng. Xin đừng tiếp tục làm dơ bẩn những ý tưởng cao đẹp của lòng nhân đạo, tình quê hương là những giá trị cao quí của dân tộc. Nhắm mắt lại như con đà điểu chui đầu vào cát? - những người tự gọi là Việt Kiều yêu nước đi về Việt-Nam xây vài lớp học, đào vài cái giếng rồi giáo dục những người Việt khác cũng nên yêu nước như mình. Chính người viết bài này cũng đã và đang gởi tiền về Việt-Nam để giúp đở bạn bè thân nhân khốn khổ của mình. nhưng yêu nước và "chỉ là" lòng nhân đạo khác nhau rất nhiều!. Hãy nhìn cho rõ cái nguyên nhân chính đã đưa đến tình trạng hiện nay. Đó là hậu quả của một chế độ chính trị lỗi thời đang ngự trị trên cái quê hương khốn khổ này. Con đường đi đã sai lầm rồi thì càng đi càng xa cái đích dù đi bằng cách nào đi nữa. Trong mặt tiêu cực, càng đi càng lãng phí, càng phá hoại như chúng ta đã nhìn thấy xã hội hiện nay. Dù có bao nhiêu nghị quyết, bao nhiêu "rà soát" cũng chỉ là "mị dân" mà thôi.

Chính cái chế độ chính trị này trong hơn 30 năm qua đã đưa đất nước thụt lùi, cụ thể là so với các nước khác trong vùng. Trong lãnh vực xã hội, chính cái chế độ chính trị này đã tạo ra 1 giai cấp thống trị mà giờ đây chẳng khác gì một loại băng đảng, bao che cho nhau và sống trên mồ hôi nước mắt của tuyệt đại đa số người dân còn lại. Cái hậu quả của chế độ chính trị này đã và đang thấy tại các quốc gia đi theo cùng một chế độ chính trị. Tại Việt Nam, để bảo tồn quyền lực, băng đảng này đối với các thế lực cường quốc thì lạy dạ run sợ nhưng đối với chính người dân khốn khổ của mình thì thẳng tay đàn áp. Người cọng sản nói rất rõ: chế độ nào cũng là chế độ độc tài của giai cấp thống trị. Trong chế độ XHCN, đó là giai cấp vô sản. Cho nên chế độ XHCN là chế độ độc tài của giai cấp vô sản. Người cọng sản cười thầm khi những kẻ theo đuôi họ cứ ráng giải thích tính dân chủ tư sản của chế độ cọng sãn.

Nhưng thực tế chúng ta thấy gì? - chế độ của họ ngày nay quả là chế độ độc tài của 1 giai cấp lãnh đạo, nhưng không phải vô sản mà là 1 loại siêu tư sản, được bảo vệ một cách công khai bởi hệ thống chính trị và chính quyền. Điều này không chỉ thấy ở Việt-Nam mà trong hiện thực của tất cả các nước cọng sản ngày nay. Trong kinh tế , nhờ vào quyền lực sẵn có, họ hội tụ tài sãn của cả quốc gia vào trong tay tập đoàn lảnh đạo của họ. Cho nên nhóm bè đãng lãnh đạo của bọn họ rất giàu trong khi quốc gia thì vẫn èo ọt và tuyệt đại đa số người dân thì vẫn nghèo đói. Trong chính trị, băng đảng của họ có quyền lực không khác mấy thời của những lãnh chúa ... cái chế độ như cha truyền con nối là những ngạo mạn, thách thức đối với lương tri của con người. Nếu họ vẫn còn đó và có lẻ phải còn chờ lâu nữa cho đến khi trình độ dân trí của dân ta đủ mạnh để chiến thắng những khó khăn và sợ hãi của cuộc sống thì xã hội sẽ tiếp tục như vậy. Đó là cái tương lai mà Người Việt Yêu Nước muốn hướng về? Còn nếu không, hãy quên bất cứ quá khứ nào cũng được để hướng về 1 tương lại vô định thì nếu người nói không mù quáng là có ý xem thường khả năng phán đoán của người nghe rồi. Một số người Việt khác quả quyết họ vẫn yêu quê hương bằng một con đường hợp tác khác, như con đường của một Tôn thọ Tường thì tôi chỉ còn biết tặng họ lại hai câu thơ của cụ Phan văn Trị:
    Anh hởi Tôn Quyền anh có biết?
    Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng ...
Vào lứa tuổi của tôi có bạn đã chết, đang bị đày đoạ trên chính quê hương của mình, đã vùi thây trong Thái Bình Dương bao la, trong những bìa rừng âm u ở Thái, Lào hay đang lạc lỏng trên những mãnh đất xa lạ nào đó ở Châu Phi, ở Trung Đông ... so với họ tôi may mắn hơn nhiều. Hơn 30 năm đã qua. Vì nhiều lý do: an ninh bản thân và gia đình, an toàn khi có dịp về thăm quê nhà, miếng cơm Tây, manh áo gấm khiến tôi đã vô tình im lặng và tránh né. Giờ đây tóc đã hai màu, còn chút tình mà vẫn không dám nói thì đợi đến bao giờ? Riêng đối với các chiến sĩ VNCH trong đó có hàng cha anh chú bác của tôi, những người đã chết cho cho một chính nghĩa đã bị chối bỏ và chưa bao giờ được nhìn nhận, họ sẽ được những người CSVN viết lại trong lịch sữ như những tội đồ ... tôi có thể nào quên họ, quên cái quá khứ có sự hy sinh vô bờ và cô đơn của họ? Trong tự do của hôm nay tội vẫn nên tiếp tục "hy sinh", không nên nói lên những khát vọng của những người bạn, của đại đa số đồng bào kém may mắn hơn tôi đễ giữ an toàn và phồn vinh cho thiểu số còn lại chấp nhận đổi đời? Tôi không có tư cách để khuyên mọi người nên nói như tôi nói. Nhưng tôi sẽ cảm thấy hổ thẹn khi khuyên họ không nên làm như thế bởi vì với tôi, viết là để công bằng trả lại cho đời chút ân tình mà tôi đã nhận, dù chỉ là ngọn lữa của một que diêm, như một người bạn của chúng tôi có nói, sẽ không đủ sức để sưởi ấm cho cả một mùa đông băng giá này!.

Võ Trang



MẶT TRẬN VĂN HÓA VÀ NHỮNG THỦ TIÊU ÁM SÁT TRÍ THỨC MIỀN NAM VN - Nguyễn Văn Lục

Nguyễn văn Lục
    Mới hôm nào, tay cắp sách...
    Sáng mai này trên phố xá
    Tay bom xăng, tay cầm gạch đá
    Những bước chân rộn rã
    Em kiêu hùng trên phố thị miền Nam ...
Tôi còn nhớ những năm tháng ấy của miền Nam Việt Nam. Thân yêu mà cũng buồn, bực dọc, bất mãn, chán nản, tuyệt vọng. Những năm tháng Sài Gòn giành giật giữa quốc gia và cộng sản. Bằng đủ mọi âm mưu và thủ đoạn giữa tiếng ồn ào của hoan hô, đả đảo với khói lựu đạn caỵ Chúng tôi sống một thời kỳ điên đảo bị giật giây bởi người cộng sản bằng một sự ngây thơ không tưởng, bằng những dằn vặt, giằng co giữa khát khao tự do, dân chủ, công bằng của chúng tôi. Và hơn hết tất cả là khát vọng hòa bình mong chiến tranh chóng chấm dứt.

Chúng tôi sống mất ngủ vì những khát vọng không đạt được mà thực tế trước mắt là chiến tranh, chém giết. Chúng tôi mong ước những trận mưa rào dập tắt khói lửa, nguôi ngoai hận thù. Nhưng thực tế mỗi ngày là những sự lừa phỉnh, dối gạt bằng đủ loại thuốc ngủ có tên phản chiến, nhạc phản chiến, văn chương phản chiến.

Trong khi đó thì người cộng sản với đủ loại “căn cứ lõm” trong thành phố giành giựt tim óc, tâm tư của tuổi trẻ thành phố. Và nếu không giành giựt được thì họ không ngần ngại thanh toán, ám sát giết hại.

Nhưng mỗi khi có một vụ ám sát giết người như vụ ám sát giáo sư Nguyễn Văn Bông, ám sát sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật hay nhà báo Từ Chung, nhà báo Chu Tử thì vô số loại tin đồn được tung ra.

Người ta đổ cho Mỹ sát hại cũng có, nhất là đổ cho chính quyền miền Nam Việt Nam Cộng Hòa. Đó là những dư luận dễ dãi nhất và vô căn cứ nhất. Nhưng nhiều người vẫn tin. Và chính quyền miền Nam thì không có cách gì để cải chính những tin đồn kiểu đó.

Nay thì đã có câu trả lời rõ ràng ai là thủ phạm những vụ ám sát đó.

Không ai khác là cộng sản.

Đó là Đoàn công tác của thành đoàn thanh niên sinh viên, học sinh Sài gòn, Chợ Lớn. Họ chiụ trách nhiệm về những việc ám sát ấy. Họ là những ai? Trụ sở của họ ở đâu? Nay họ làm gì?

Trong khi đó, tổ chức hệ thống mật vụ Việt Nam thời đệ nhị cộng hòa tỏ ra thiếu hữu hiệu như thể bó tay. Tất cả những vụ đốt xe Mỹ, tất cả những vụ đưa người thâm nhập cơ sở, tất cả những vụ phá rối trật tự, phá hoại an ninh, những vụ ám sát các viên chức miền Nam, nhất là các trí thức miền Nam thường không tìm ra dấu vết thủ phạm. Cộng Sản trà trộn khắp nơi, len lỏi vào trong nhiều tổ chức tôn giáo, nhất là Phật giáo. Các tổ chức này như tấm bình phong che chắn cho CS. Có nhiều tấm bình phong như thế có tên là giới sinh viên, giới trí thức, giới Phật tử và giới báo chí. Chẳng hạn, biểu tình là do sinh viên chống chính phủ. Nhưng ai thấy được CS ở đằng sau?

Cái đằng sau mới là quan trọng. Không phải chính quyền cứ đàn áp sinh viên, bắt bớ, giải tán bằng lựu đạn cay, rào kẽm gai là xong, là lấy lại được an ninh trật tự. Nhiều khi chỉ tạo ra những phản ứng ngược chiều, rất bất lợi. Những thành phần sinh viên thầm lặng vô tình bị đẩy cũng đứng vế phía sinh viên xuống đường.

Vấn đề là bắt cho bằng được những kẻ đầu não. Nào có khó khăn gì? Họ là những Huỳnh Tấn Mẫm, Vũ Hạnh, Dương Văn Đầỵ Họ đi khơi khơi ngoài đường. Họ biểu tình, họp báo, viết báo như chỗ không người. Hãy nhốt họ lại. Đủ bằng cớ. Đưa họ đi Côn sơn. Cách ly bọn họ, triệt tiêu tận gốc. Chúng ta đã không làm, bắt rồi thả do áp lực sinh viên, trí thức báo giới, nhà văn.

Có lẽ, tất cả chỉ vì cái khí thế chống Cộng thời đệ nhất cộng hòa không còn nữa? Còn đâu những lời hiệu triệu của TT Ngô Đình Diệm những năm đầu thể chế đệ nhất cộng hòa: Quốc dân đồng bào, ai áp bức bóc lột và chà đạp con người Việt Nam ? Thực dân, phong kiến và cộng sản. Vì vậy mà chính phủ chủ trương kháng đế, bài phong, diệt Cộng ... Hỡi binh sĩ và cán bộ Quốc gia.

Chúng ta tố Cộng là để tranh thủ được lòng dân. Thông điệp đầu năm Ngô Đình Diệm, 1959.

Cảnh sát thời ông Tổng Giám Đốc cảnh sát Trang Sĩ Tấn dẹp biểu tình cũng không xong. Càng tăng cường kiểm soát an ninh, giữ gìn trật tự bằng lựu đạn cay, bằng hàng rào kẽm gai, dùi cui của Cảnh sát dã chiến. Càng gây thêm sự phẫn nộ trong dân chúng. Dư luận cũng như đông đảo quần chúng mất tin tưởng vào chính quyền.

Khi có phong trào thanh niên đốt xe Mỹ, ông Trang Sĩ Tấn đã đưa ra những lời đe dọa vu vơ như sau trong một buổi họp báo ngày 16 tháng chín, 1972: “Những kẻ nào bị bắt quả tang đang phá hoại quân cụ, kể cả những xe cộ, sẽ bị kết án tử hình”.

Ai cũng biết đó là những lời đe dọa vu vơ.

Án tử hình đâu chưa thấy, chỉ thấy thành phố Sài Gòn rơi vào tình trạng xáo trộn liên tục.

Hình ảnh Sài Gòn với rất nhiều xáo trộn chính trị đủ loại là hình ảnh một cuộc chiến tranh đặc biệt, lạ lùng mà kỳ cục. Có lựu đạn cay ngoài đường, có những bộ áo rằn ri. Nhưng cũng có những tà áo nữ sinh, cầm túi chanh, te tác trên đường phố. Có tiếng hát, tiếng hò của đám sinh viên, học sinh vào một buổi tối, tại chùa Ấn Quang. Ở đấy, hẳn không thiếu những tiếng cười. Không thiếu niềm tự hào và hăng say. Trong khi đó, nhìn xuống lề đường, ở mỗi gốc cây đều có bóng lính. Xe nhà binh, xe cảnh sát chạy rần rần, pha đèn mở sáng.

Người ta chỉ thấy một hậu phương rối loạn. Lính tráng ngoài mặt trận làm sao yên tâm cầm súng chiến đấu chống kẻ thù?

Bộ mặt thành phố Sài gòn lộ diện ra khi tôi lần dở lại tờ báo Sóng Thần ra ngày 31 tháng 10 với những hàng tít lớn trên báo: 31/10 Ngày dài vô tận. Ngày dài vô tận là ngày tranh đấu, xuống đường, khí thế bừng bừng như một cuộc tranh đấu nội thù. Ở phần đầu tờ báo Sóng Thần có đăng tâm thư của LM Thanh Lãng viết cho tờ báo Sóng Thần: Đập các anh là đập tất cả chúng tôi. Ai đập ai giữa những người Quốc gia? Bên cạnh đó là các tên tuổi lớn hỗ trợ tờ báo Sóng Thần như Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Hiến Lê, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lam Giang, Lê Ngộ Châu. Và các nghệ sĩ như Năm Châu, Bích Thuận, Kim Chung, Khánh Ly lên tiếng để chịu chung bản án với Sóng Thần. Rồi 32 nhà văn, nhà thơ tên tuổi ký tên chung tuyên bố: Phản đối đàn áp báo chí, truy tố Sóng Thần. Cạnh đó hình ảnh diễn hành của một số luật sư ra tòa biện hộ như các luật sư Bùi Tường Chiểu, Hồ Tri Châu, Lý Văn Hiệp, Trần Ngọc Liễng, Nguyễn Lâm Sanh tại một ngã tư . Ở một góc phòng với bị can Trùng Dương, chủ nhiệm báo Sóng Thần, vây quanh có các luật sư Đỗ Văn Võ, Đặng Thị Tám, Nguyễn Văn Tấn, Nguyễn Tường Bá. Cũng cạnh đó, bà luật sư Nguyễn Phước Đại thay vì cầm tập hồ sơ biện hộ thì lại đang cắt chanh phòng hờ bị lựu đạn cay.

Và biết đâu ở một góc đường, một anh thợ vá xe đang ghi nhận tất cả những hoạt cảnh đó báo về “Trung ương” của anh. Đó là những hình ảnh hai mặt của cuộc chiến trong thành phố, giữa lòng thủ đô Sài gòn của miền Nam.

Không ai ngày nay nghĩ rằng những cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ đó là sai, nhưng điều chắc chắn là đã vẽ đường cho hươu chạy và hơn hết mọi chuyện là gián tiếp bị CS lợi dụng.

Tôi có liên lạc với nhà văn Trùng Dương, chủ nhiệm báo Sóng Thần. Chị khẳng định và xác nhận lại cuộc tranh đấu của báo chí qua vụ báo Sóng Thần là đúng, không làm khác được.

Chắc là như vậỵ

Nhưng bên cạnh sinh hoạt đấu tranh có vẻ dân chủ đó có một thứ đấu tranh một mất một còn giữa Cộng Sản và chính quyền miền Nam thông qua những thanh niên, sinh viên, học sinh. Chính những sinh viên, học sinh này đang đấu tranh, đang hô hào phản đối chính quyền đã góp phần làm tiêu hao lực lượng cũng như tinh thần của miền Nam Việt nam.

Đó mới là bộ mặt thực của cuộc chiến tranh nàỵ Bộ mặt được dẫn dắt và chỉ đạo từ đảng Cộng Sản miền Bắc Việt Nam.

Có một cuộc chiến tranh ngoài Sài Gòn bằng bom, bằng đạn, bằng trực thăng, bằng đại bác 105 ly, bằng hầm chông, bằng xe tăng. Bằng xác người phơi thây bên bờ kinh, bờ rạch. Bằng đô la và xác người.

Nhưng cũng có một cuộc chiến tranh thứ hai ngay giữa lòng Sài Gòn bằng biểu tình, tuyệt thực, xuống đường, bằng hô hào, đả đảo, bằng lựu đạn cay, bằng hàng rào kẽm gai.

Cuộc chiến tranh cân não này ít được ai nói tới, vì không mấy khi có người chết. Mà chỉ có nước mắt của lựu đạn cay. Nhưng nó cũng đủ làm lung lay bất cứ chế độ nào. Nó xói mòn tin tưởng, nó làm lung lay ý chí. Bởi vì bản chất của nó là một cuộc chiến tranh cân não làm hao mòn ý chí phấn đấu, làm suy sụp tinh thần kẻ địch. Biên giới cuộc chiến tranh này không rõ rệt, trộn lẫn ta và địch, địch cũng là ta.

Cuộc chiến tranh trên đường phố Sài gòn diễn ra ở hai mặt: Mặt nổi là những cuộc biểu dương lực lượng của giới sinh viên học sinh như biểu tình, xuống đường, đòi cái này, cái nọ, đòi thả người này người kia, ngay cả đòi thả những cán bộ cộng sản như Vũ Hạnh, sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy. Lý Chánh Trung trong bài viết: Rồi Hoà Bình sẽ đến ghi như sau:

Tôi đã đến đây tham dự buổi tuyệt thực của 20 giáo chức Đại, Trung và Tiểu hoc tại tòa Viện trưởng Viện Đại học Sài gòn, để yêu cầu nhà cầm quyền trả lại tự do cho các sinh viên, trong đó có anh Huỳnh Tấn Mẫm đã bị giam giữ trái phép đúng một tháng qua và đang tuyệt thực, tuyệt ẩm trong khám Chí Hòạ Trong lúc mấy em hát, tôi cảm động không dám nhìn lên, chỉ nhìn xuống...
(trích trong Một thời bom đạn, một thời Hòa Bình, Lý Chánh Trung, trang 62).

Thế nào là trái phép? Bắt giam một cán bộ CS nằm vùng là trái phép? Không ai đặt ra câu hỏi đó cả.

Bên cạnh Lý Chánh Trung còn có một số phụ nữ Đòi quyền sống, còn có các ông Nguyễn Long, Trần Ngọc Liễng, Nguyễn Văn Cước, các Thượng tọa Mãn Giác, Nhật Thường.

Thêm vào đám đông đòi đó, còn có một Thích Nhất Hạnh vu cáo về một cuộc tàn sát chỉ có trong tưởng tượng của ông ấy:
    Làng tôi hôm qua vì có 6 người Cộng sản về
    Nên đã bị dội bom hoàn toàn tan nát
    Cả làng tôi hoàn toàn chết sạch
    Lũy tre ngơ ngác
    Miếu thờ ngã gục
    (Thơ Thích Nhất Hạnh)
Đáng nhẽ ông ấy phải viết rõ như thế này: Chỉ còn sống có mình tôi, để viết những điều vu cáo này. Có thật như thế không? Ngôn ngữ của sự gian dối? Một nhà sư nói gian dối thì phải gọi ông ta là gì?

Và để tường thưởng cho vị thiền sư, cộng sản đã có những lời lẽ trân trọng như sau:

“Người Sài gòn, tuổi trẻ Sài Gòn biết ơn những bậc tu hành chân chính đã quên mình vì nghĩa lớn, những phật tử hy sinh trong bão lửa đấu tranh làm suy yếu kẻ thù, làm rối loạn hậu phương của chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho Sài Gòn, tuổi trẻ Sài Gòn bung ra ào ạt giành một thế đứng công khai phất cao cờ cách mạng sau bao nhiêu năm xúc tích lực lượng chuẩn bị thời cơ”.

Đó là những lời lẽ trân trọng mà người cộng sản đã dành cho Thích Nhất Hạnh. (trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 349).

Phần Trần Bạch Đằng, chúng ta cần đọc mấy dòng thư này của ông ta để chúng ta nhận ra Huỳnh Tấn Mẫm là ai? Ông Trần Bạch Đằng còn giữ lại một mảnh giấy gửi cho ông ta của sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm ghi lại như sau: Xin đoàn thể yên tâm, quyết làm tròn nhiệm vụ. L71. L.71 là mật hiệu của Huỳnh Tấn Mẫm. Mẫm viết thư này tại nhà Quốc khách, nơi được dành làm trụ sở Tổng hội sinh viên. Trớ trêu thay, trụ sở này do ông Nguyễn Cao Kỳ dành cho Tổng Hội sinh viên của Huỳnh Tấn Mẫm chỉ vì mâu thuẫn, muốn chơi ông Thiệu.

Mời đọc thêm đoạn hồi ký bị cấm xuất bản ở trong nước của cựu dân biểu đối lập Hồ Ngọc Nhuận để nắm cho rõ câu truyện này. Ông Hồ Ngọc Nhuận viết như sau về vụ này:

‘Nguyễn Cao Kỳ “xớt” Huỳnh Tấn Mẫm’. Đó là nhan đề bài viết. Huỳnh Tấn Mẫm một lần nữa bị bao vây, truy bắt. Trung tâm sinh viên Phật tử một lần nữa dậy sóng. Một chiếc jeep nhà binh, ngay sau khi tôi “điệu” hết cảnh sát về Tân Sơn Nhứt, chúng tôi đã ập vào trung tâm Quảng Đức, bốc Huỳnh Tấn Mẫm chạy thẳng về dinh Quốc khách ở góc đường Công Lý và Hiền Vương, nay là Trung tâm văn hoá thiếu nhi, góc đường Nam Kỳ khởi nghĩa-Võ Thị Sáu. Chiếc jeep ập vào bốc Mẫm là của Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ và dinh quốc khách lúc bấy giờ cũng thuộc quyền Phó tổng thống.”

Dinh Quốc khách, trung tâm Quảng Đức. Chùa Phổ Hiền. Ấn Quang. Những mái chùa. Tất cả những nơi ấy đã góp chung bàn tay che chở bọn người cộng sản nằm vùng để làm sụp đổ miền Nam Việt Nam.

Và Hồ Ngọc Nhuận đắc thắng viết tiếp:

Tiếp tay cho cộng sản, như vậy, không chỉ có mình tôi. Và lần này vai chánh không là tôi, mà là tướng Nguyễn Cao Kỳ. (trích hồi ký Đời, bản thảo, Hồ Ngọc Nhuận, trang 142).

Cái đất nước mình nó như thế đấy, cái lãnh đạo mình nó như thế đấy.

Và sau đây là danh sách 16 sinh viên bị chính quyền Việt Nam Cộng Hoà bắt. Bắt đúng người, bắt đúng những kẻ đã tiếp tay với Cộng sản. Nhưng vẫn bị sinh viên biểu tình đòi tha họ. Sau này cho thấy họ đều là những cán bộ CS trà trộn vào sinh viên như: Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy, Lê Thành Yến, Phùng Hữu Trân, Trần Khiêm, Đỗ Hữu Ứng, Lê Anh, Võ Ba, Đỗ Hữu Bút, Hồ Nghĩa, Cao Thị Quế Hương, Trương Hồng Liên, Truơng Thị Kim Liên, Võ Thị Tố Nga.

Chưa kể vụ án thành đoàn giải phóng gồm 21 người, trong đó có một số lãnh đạo Thành Đoàn như Ba Vạn, tức Phan Chánh Tâm, Năm Nghị, tức Phạm Chánh Trực. Sau 1975, họ đều là những cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở thành phố Hồ Chí Minh.

Và danh sách những nhà văn, nhà trí thức đòi thả bọn sinh viên cộng sản hãy còn đây. Quốc gia chống Cộng mà lại có chính nhà văn, nhà trí thức người quốc gia biểu tình, đòi thả bằng được những sinh viên cộng sản nằm vùng? Nhiều tờ báo cách này cách khác trở thành phương tiện cho cộng sản lợi dụng.

Bên cạnh đó, về mặt chìm là những toán đặc công cộng sản do thành đoàn tổ chức gài bom phá hoại các công sở, các xe nhà binh Mỹ, các doanh trại Mỹ và cuối cùng là giết hại, ám toán người quốc gia đã không theo họ. Nữ tướng đốt xe Mỹ thời 1960-1970 là Võ Thị Bạch Tuyết lúc đó nay trở thành giám đốc nông trường Đỗ Hoà ở Duyên Hải.

Đầu xuân 1966, Đảng ủy văn hóa khu Sài gòn Gia Định giao cho Vũ Hạnh, một nhà văn nằm vùng công tác đặc biệt là mở một mặt trận văn hóa tấn công miền Nam trong vùng đô thị mà họ gọi là “vùng tạm chiếm”. Vũ Hạnh ngụy trang dưới chiêu bài Bảo vệ Văn hóa, chống lại văn hóa đồi trụy, chống lại văn hóa ngoại lai đầu độc thanh niên miền Nam . Họ tổ chức và xin phép cho ra tờ Tin Văn. Tờ báo trực tiếp được chỉ đạo bởi các cán bộ cộng sản. Đứng đầu là Trần Bạch Đằng. Chủ nhiệm là Nguyễn Mạnh Lương. Và một số nhà văn cộng tác như Lữ Phương, Hồng Cúc, Nguyễn Hữu Ba, Vũ Hạnh. Những nhà văn này còn viết cho tờ Hồn Trẻ với các cây viết như Trần Cảnh Thu, Trần Triệu Luật, Nguyên Hạo, Lê Uyên Nguyên, Tuyết Hữu, Cao Hoài Hà, Thích Quảng Khanh, Anh Vũ, Lê Ngọc Lê, Đinh Khắc Nhu, Lê Việt Nhân ... Toà soạn tờ báo được đặt trong một ngôi chùa. Chẳng hạn tờ Hồn Trẻ do Mười Hải, bí thư khu uỷ văn hóa. Tòa soạn đặt ở ngôi chùa số 29, đường Trần Quang Khải.

Một số chùa chiền trở thành cơ sở bí mật cho các hoạt động phá hoại của cộng sản như Ấn Quang, lúc bấy giờ do TT Thích Thiện Hoa chủ trì, trung tâm Quảng Đức, Đại học Vạn Hạnh. Theo tài liệu của Thành đoàn TNSVHS trong cuốn “Trui rèn trong lửa đỏ” đã viết về Đại học Vạn Hạnh như sau:

Viện đại học Vạn Hạnh thành lập năm 1964 là một đại học của Phật giáo. Trường ở đối diện chợ Trương Minh Giảng. Trước năm 1968, tổ chức cách mạng cũng có hoạt động ở đây. Đêm đón tết Mậu thân, tổ chức cách mạng ngay tại trường với một cuộc tập họp táo bạo, sinh động. Tuy nhiên lực lượng ta thời này chưa mạnh. Tháng 10/68, tình hình tổ chức cách mạng ở trường sau thời gian bị đánh phá, coi như trắng. Thành đoàn chỉ đạo đồng chí Sáu Tỉnh, tức Đỗ Quang Tỉnh, nay là cán bộ ban Hợp tác kinh tế của Uỷ ban nhân dân thành phố về xây dựng lại bằng tổ chức Liên đoàn sinh viên Phật tử Vạn Hạnh.. Và họ đã kết luận: kể từ tháng 5/1972, một chi bộ chính thức của Vạn Hạnh được thành lập.

Và một câu đánh giá quan trọng như sau: Từ những ngày đó, Vạn Hạnh trở thành một pháo đài xuất quân đốt xe Mỹ và chống bầu cử (trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 96).

Còn Ấn Quang được ghi lại như sau:

Những ngọn lửa bùng lên tuyệt đẹp trên đường phố. Các báo gọi những chiến sĩ đốt xe Mỹ là du kích quân sinh viên học sinh. Và chùa Ấn Quang trong những ngày ấy, là một chiến lũy của họ. Những người mẹ, người chị vượt qua những hàng rào cảnh sát, lựu đạn cay, vòi phun nước... đến với những đứa con ngoan của thành phố... “Tụi bay cứ đốt, đốt hết những quân chó đó đi...” Các mẹ, các chị căn dặn, nhắc nhủ với một lòng căm thù như vậy. (trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 110).

Tuy nhiên, dưới mắt người Cộng Sản, họ đã nhìn lại vai trò của Phật giáo như sau:

Viện Hoá Đạo, lá cờ đấu tranh vang dội một thời đang ủ rũ và chia rẽ, phân hóa. Kẻ về Vĩnh Nghiêm với lá cờ chống Cộng rách rưới. Kẻ về Vạn hạnh dò dẫm một lối đi. Người về Ấn Quang gần gũi với quần chúng, với thanh niên. Viện hóa đạo còn lại những chiến lược gia ủng hộ Khánh- Hương đàn áp phong trào, bắn chết học sinh Phật tử Lê Văn Ngọc.

Và kể từ nay: “Ngọn cờ Phật giáo lãnh đạo đấu tranh hạ xuống, ngay từ trong lòng Phật tử, nhường chỗ cho lá cờ cách mạng phất cao lãnh đạo phong trào đấu tranh của Sài gòn, của tuổi trẻ thành phố.”

Năm 1964 đã kết thúc như vậy. Tuổi trẻ thành p[hố kết thúc 10 năm sóng gió, để bước vào cuộc chiến đấu mới 10 năm sục sôi kỳ lạ. (trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 350-351).

Tiếp nối một cách vô tình hay bị mua chuộc có thêm các tờ báo sinh viên như Hoa Súng của Dược Khoa, Văn Khoa với Hạ Đình Nguyên. Nhất là tờ Tin Tưởng, tiếng nói của sinh viên Phật tử. Năm 1968, tờ Tin Tưởng do Phạm Phi Long làm chủ nhiệm, Đặng Minh Chi làm thư ký tòa soạn. Sang đến năm 1970, tờ Tin Tưởng sang tay cho Nguyễn Xuân Lập làm chủ nhiệm, Trần Công Sơn chủ bút và Trịnh Thị Xuân Hồng, thư ký tòa soạn. Sự tiếp tay của những tờ báo như Tin Tưởng với nội dung các bài đòi ngưng bắn vĩnh viễn, đòi Mỹ rút quân. Tất cả đều do bàn tay CS chỉ đạo.

Trong khi đó thì phía miền Nam có Chu Tử, đứng mũi chịu sào trực tiếp tố cáo Vũ Hạnh là Cộng Sản trong nhiều số báo liên tiếp kể từ tháng 10/1966 cho đến cuối năm 1966. Cái dở khóc dở cười của văn nghệ sĩ miền Nam là đã nhiều lần hội Văn bút do Lm Thanh Lãng làm chủ tịch đã công khai bênh vực Vũ Hạnh và cứu thoát y nhiều lần khỏi cảnh tù tội.

Cộng sản đã dùng tờ Tin Văn do Nguyễn Ngọc Lương làm chủ nhiệm, nhân danh bảo vệ và phát huy văn hóa dân tộc, bài trừ văn nghệ phản động đồi trụy. Trong tờ Tin Văn có những bài viết như:

Nhân một quyết định của bộ Văn hóa giáo dục, về việc bài trừ sách báo đồi trụy. Tin Văn số 3, tháng 6-7/1966. Hiện tượng dâm ô đồi trụy trong Văn Học hiện nay. Tin Văn số 9, 15/10/1966. Đọc tác phẩm của Chu Tử, Lữ Phương, số 10, 30/10/1966.

Sau này, trong tài liệu của Thành Đoàn, Vũ Hạnh đã có những nhận xét như sau về tờ Tin Văn:

Tuần báo Tin Văn, với các bài phê bình vạch mặt những tên xung kích chống phá cách mạng qua các tác phẩm đồi trụy, phản động.. Phong trào bảo vệ phát huy văn hóa dân tộc, bài trừ văn nghệ phản động, đồi trụy sớm trở thành phong trào quần chúng sôi nổi, sâu rộng ở Sai gòn và các tỉnh miền Nam, khiến bọn tay sai văn nghệ co lại, nguỵ quyền hoang mang và dĩ nhiên chúng tìm mọi cách để phản kích lại. Sự ra đời những hoạt động văn hóa ngụy dân tộc bị phong trào vạch mặt, chúng trắng trợn cho tên Chu Tử, tay sai của sở công an và Trung ương tình báo ngụy, bắt đầu một chiến dịch đả kích tôi, tố cáo tôi là việt cộng nằm vùng và liên tiếp trong nhiều số báo như vây, y đã vu khống tôi, cốt làm cho những người đã tham gia phong trào sợ hãi. Lúc nầy, Đảng uỷ văn hóa và thường vụ khu uỷ ở nội thành vẫn hằng ngày theo dõi tôi, động viên, chăm sóc về tinh thần lẫn vật chất cho tôi, thông qua vợ tôi, mở đường dây liên lạc mới, tôi trực tiếp nhận sự chỉ đạo của đảng. (trích Từ toà án văn hóa đến Hát cho đồng bào tôi nghe. Vũ Hạnh, Trui rèn trong lửa đỏ trang 179).

Vũ Hạnh hay bút hiệu cô Phương Thảo đã bị chính quyền miền Nam chính thức bắt giữ ngày 02/06/1967. Cứ mỗi lần bị bắt thì lại có những nhà văn, trí thức, sinh viên và đặc biệt Hội Văn bút do Thanh Lãng vào tù lôi ông ta ra.

Chính Vũ Hạnh đã thố lộ về việc bắt giữ ông ta như sau:

Mấy tháng sau đó, tôi bị công an nguỵ quyền bắt giữ là do hai cơ sở của ta làm lộ. Nhưng sự kiện tôi bị bắt giam bấy giờ tạo thêm một cái cớ cho các hoạt động đấu tranh hết sức nhiệt tình của giới sinh viên học sinh. tất cả đều tung ra dư luận khắp nơi rằng tôi bị giam giữ là do Chu Tử vu cáo, rằng chính quyền đã bất chấp pháp luật, chà đạp lên quyền tự do cầm bút một cách hết sức thô bạo. THSV bấy giờ một mặt vận động các giáo sư đại học có lòng yêu nước lên tiếng để ủng hộ tôi, ủng hộ gia đình tôi. (trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 181).

Đọc đoạn văn trên cho thấy Vũ Hạnh đã trắng trợn vu cáo cho Chu Tử dính vào việc bắt giữ ông ta, đồng thời y đã vận động trong giới trí thức để xin tha cho y. Đó là lối vừa đánh trống vừa ăn cướp.

Bên cạnh những tờ báo chính thức như Tin Văn, CS còn tổ chức rất nhiều những báo chí sinh viên hỗ trợ và tiếp tay cho Tin Văn.

Các báo sinh viên do những sinh viên như Trần Thị Ngọc Hảo, quyền chủ tịch Tổng Hội sinh viên làm “báo nói” tố cáo Mỹ Ngụy. Dương Văn Đầy (Ba Đầy biệt danh Bảy Không) làm bích báo sinh viên bên Y khoa đòi chuyển ngữ ở Đại học y khoa.. Nguyễn Trường Cổn, chủ bút báo sinh viên ca tụng quân giải phóng trong dịp tết Mậu thân, bị bắt và bị tòa án quân sự kết tù 5 năm khổ sai. Nguyễn Đăng Trừng đã trốn ra vùng giải phóng bị kết án 10 năm biệt xứ.

Đại học Khoa học có tờ Lửa Hồng, tờ Dấn Thân được ông giáo sư Trần Kim Thạch đỡ đầu. Luật Khoa có tờ Đất mới do Lê Hiếu Đằng, Nguyên Hạo. Tờ Học sinh do Lê Văn Triều làm chủ nhiệm, Nguyễn Thị Liên Hoa quản lý, xuất bản 1000 số.

Nhưng quan trọng là tờ Hồn Trẻ. Tờ Hồn Trẻ đã mượn danh tính một số người viết tên tuổi ở miền Nam lúc bấy giờ như tấm bình phong và giúp làm tăng uy tín cho tờ Hồn trẻ. Đó là các tác giả có tên tuổi như Thiên Giang, Bùi Chánh Thời, Nguyễn Văn Trung, Võ Quang Yến, Trụ Vũ, Tô Nguyệt Đình, Thiếu Sơn, Lương Phương, Vân Trang, Hồng Cúc, Song Thương, Ái Lan, Thảo Lam, Phương Khánh, Thu Quyên, Cao Ngọc Phượng, Phong Sơn, Chinh Ba, Hữu Hoàng, Nguyễn Văn Phụng, Phan Hữu Trình. Như đã nói ở trên, tòa soạn đăt trong một ngôi chùa do một cư sĩ là ông Nguyễn Văn Hoanh đứng vai chủ nhiệm. Mục xã luận là do chính những cán bô cộng sản gộc như Phạm Bá Trực, Mười Hải biên sọan.

Bên cạnh đó là những buổi sinh hoạt văn nghệ, ca nhạc nhằm cổ vũ các phong trào svhs phản chiến, đòi hòa bình. Tờ sinh viên ra mắt độc giả ngày 15/5/1967 do sinh viên Hồ Hữu Nhật làm chủ nhiệm. Tờ sinh viên được coi như biểu tượng của sinh viên tranh đấu. Ở đây, tôi xin nêu danh tánh tất cả những sinh viên thuộc các phân khoa đại họ đã hoạt động cách này cách khác cho cộng sản. Họ đã gài người vào trong các tổ chức sinh viên. Chẳng hạn như phong trào đòi Hòa Bình với chương trình “Hát Cho Đồng Bào tôi nghe, Dậy mà đi, Tiếng hát những người đi tới, Đêm Văn nghệ tết Quang Trung” với sự tham gia của các sinh viên đi theo cộng sản như: Trần Thiện Tứ, bác sĩ Trương Thìn, nhạc sĩ Nguyễn Văn Sanh, nhạc sĩ sĩ Tôn Thấp Lập, Võ Thành Long, nhạc sĩ Trần Xuân Tiến, Phạm Phú Tâm, Trương Thị Hoàng và Trương Thị Anh, Phùng Hữu Trân, Nguyễn Ngọc Phương, Võ Thị Tố Nga, Lê Thành Yến.

Và sau đây là danh sách sinh viên tranh đấu đã tình nguyện vào căn cứ ở Bắc Lộ 7, Campuchia gồm: Phan Công Trình, Nguyễn Đình Mai, Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Nguyễn Văn Sanh, Lê Thành Yến, Trương Quốc Khánh, Huỳnh Ngọc Hải, Dương Văn Đầy, Trần Thị Ngọc Hảo, Huỳnh Quang Thư, Hai Nam, Năm Sao, Trần Thị Ngọc Dung, Hà Văn Hùng, Trương Quốc Khoách.

Trong khi đó như tiếp sức cho địch, các trí thức, dân biểu nhà văn đua nhau ra các bản thông cáo đủ loại. Chúng tôi cũng xin tóm tắt bản Tuyên ngôn của nhóm Quốc Gia, ngày 04/09/1974 về tình trạng đàn áp báo chí tại miền Nam do các dân biểu sau đây đồng ký tên: DB Nguyễn Văn Binh, DB Nguyễn Tuấn Anh, DB Đặng văn Tiếp, DB Nguyễn Văn Cử, DB Dương Minh Kính, DB Nguyễn Trọng Nho, DB Nguyễn Văn Kim, DB Nguyễn Đức Cung, DB Vũ Công Minh, DB Đỗ Sinh Tứ, DB Nguyễn Hữu Hiệu.

Nội dung bản Tuyên bố phủ nhận luật báo chí 007, bênh vực báo Hòa Bình bị bộ Thông tin chiêu hồi đóng cửa, bênh vực các ký giả Nguyễn Thái Lân, Ngô Đình Vận bị gọi lên cơ quan an ninh lấy lời khai. Những bản tuyên cáo, những đòi hỏi như thế chắc là đúng, chắc là hợp pháp, chắc là ngay thẳng vì các vị ấy đều là những người quốc gia chân chính, người có lòng. Nhưng cộng sản đã biết lợi dụng những hoàn cảnh như thế để châm thêm ngòi nổ phá rối trật tự, an ninh ở Sài gòn.

Trong nhiều tháng qua, Hội Văn Bút của Thanh Lãng đã nhiều lần lên tiếng cảnh cáo về tình trạng đàn áp báo chí và coi đó là một ngục tù tư tưởng quy mô nhất.

Nhà văn Nhật Tiến cũng có đọc một bản cáo trạng dài về tình trạng ngộp thở của văn nghệ sĩ miền Nam cũng như của ngành xuất bản sách báo dưới lưỡi kéo kiểm duyệt ác nghiệt.

Cạnh đó là tuyên cáo chống đối chính quyền một cách đương nhiên của khối dân biểu Dân tộc xã hội gồm có: DB Trần Văn Tuyên, Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Ngọc Nghĩa, Nguyễn Phúc Liên Bảo, Nguyễn Công Hoan, Lý Trương Trân, Phan Thiệp, Huỳnh Ngọc Diêu, Trần Văn Thung, Trần Ngọc Giao, Trần Văn Sơn, Trần Cao Đề, Phan Xuân Huy, Tư Đồ Minh, Đinh Xuân Dũng, Lê Đình Duyên, Lý Quý Chung, Kiều Mộng Thu, Nguyễn Văn Hàm, Nguyễn Văn Phước, Nguyễn Hữu Thời, Nguyễn Mậu, Nguyễn Phước Vĩnh Tùng, Mai Ngọc Dược, Hồ Văn Minh, Đoàn Mai.

Riêng bản tuyên bố của nhóm dân biểu Xã hội-Dân tộc mà luật sư Trần Văn Tuyên làm trưởng khối thì chúng ta có quyền nghi ngờ nội dung bản tuyên cáo đó. Vì trong số dân biểu này, có một số đã làm tay sai cho cộng sản như dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quý Chung, Kiều Mộng Thu.

Luật sư Trần Văn Tuyên, một trí thức miền Nam, một người quốc gia chân chính mà còn có thể bị cộng sản giật giây thì còn ai khác nữa? Sau này đánh giá công tội của luật sư Trần Văn Tuyên, Hồ Ngọc Nhuận đã viết trong hồi ký “Đời” của ông như sau:

Luật sư Trần Văn Tuyên, có sách nào đó cho là lý thuyết gia của chủ nghĩa quốc gia chống Cộng, vào quốc hội nhiệm kỳ 2, năm 1971. Nhưng suốt nhiệm kỳ, anh chỉ đi với đối lập và là trưởng khối Xã hội-Dân tộc. Hôm gặp nhau khi đi trình diện với quân quản ở trụ sở Hạ viện, anh còn lạc quan nói: ‘chế độ mới không có luật sư, nhưng tôi hy vọng sẽ được làm bào chữa viên nhân dân’. Về anh cũng như một số các anh như Phan Thiệp, Nguyễn Mậu... thuộc cánh Quốc Dân Đảng miền trung, thật cũng khó mà lấy vài ba năm tham gia chính trị đối lập ở Sài Gòn để cân bằng đánh đổi mấy mươi năm chống Cộng. Nhưng nếu thời gian tham gia tranh đấu chống Mỹ của họ kéo dài thêm năm mười năm nữa thì sao? và đâu là những giọt nước nhỏ nhoi muộn màng giờ chót, thay vì rơi đi nơi khác, lại góp phần làm tràn cái ly? (trích hối ký Đời, bản thảo, Hồ Ngọc Nhuận, trang 165).

Ra đến Hải ngoại, trong Văn Học miền Nam, truyện 3, trang 1771 của Võ Phiến có trích dẫn lời giới thiệu của Trần Bạch Đằng có nêu 3 “tác phẩm tốt” trong thời kỳ 1954-1975 là Vũ Hạnh, Sơn Nam và Võ Hồng và không đề cập một chữ đến vai trò cán bộ CS của Vũ Hạnh. Việc nêu danh có ba tác giả thân Cộng có tác phẩm tốt thật là khó chấp thuận được? Và thế nào là tác phẩm tốt? Và như thế gạt bỏ tất cả những nhà văn miền Nam còn lại trong đó có cả Võ Phiến? Tôi hy vọng rằng nhà văn Võ Phiến chia sẻ những suy nghĩ của tôi viết với sự trân trọng và công bình.

Cùng một tinh thần như Trần Bạch Đằng, trong bài báo của Xuân Trang nhan đề: ‘Tuổi trẻ Việt Nam làm báo’ có viết như sau về hiện trạng báo chí dành cho giới trẻ miền Nam:

‘Một hôm tôi ở tòa soạn nhận được bên anh em bên tạp chí Tin văn gởi biếu cho tờ Tin Văn số 10, với lời dặn dò là tờ Hồn Trẻ rất khó chen chân với các tờ báo nhảm nhí Tuổi hoa, Thiếu nhi, Tuổi ngọc... do bọn Nhật Tiến, Duyên Anh, Bảo Sơn chủ trương. Có lần tôi, tôi giao cho nhà phát hành Độc Lập, đường Trần Hưng Đạo 5 ngàn số thì sau đó y trả về gần đủ ... 5 ngàn số, nghĩa là không bán được tờ nào cả’.

Báo do cộng sản chủ trương không bán được vì không ai mua, nhưng bọn họ vẫn gọi các báo Tuổi Hoa, Tuổi ngọc, Thiếu nhi là những báo nhảm nhí. Đó là cái cung cách của người Cộng Sản.

Bên cạnh những tờ báo chính thức như Tin Văn, người cộng sản đã phát hành vô số báo vệ tinh như các tờ Xung kích, Suối thép, Lửa thiêng, Trung Kiên từ căn cứ đưa vào nội thành. Nhưng những báo này thực sự cũng ít được ai biết tới.

Kết luận phần 1

Nguyễn Đình Thi trong bài viết Câu chuyện gởi tới các bạn tuổi trẻ sinh viên học sinh miền Nam đã viết:

‘Mấy tháng nay, từng bước đấu tranh của các bạn đã được toàn thể đồng bào miền Bắc, nhất là các giới trí thức, đại học, các lứa tuổi trẻ, chăm chú theo dõi với tình thương yêu đầy tự hào. Hai mươi năm lăn lộn lửa đạn, và ngày nay đang tiếp tục chiến đấu, dân tộc ta đồng thời đã không ngừng từ đất bùn mà nhào nặn lại cuộc sống của mình, từng bước tiến lên xóa vỡ bao ngang trái bất công và quét đi những rác rưởi của chế độ cũ’.

Và Lý Chánh Trung trong bài: ‘Làm và tin’ cũng đã viết:

‘Không có mũi nhọn xung kích của thanh niên thì không thể tạo được những xáo trộn dữ dội và kéo dài trong những năm 70, gây được tiếng vang ở nước ngoài và làm cho địch rất lúng túng... Tôi đã nhảy vào cuộc đấu tranh, phần lớn do sức lôi kéo của những người trẻ tuổi nói trên và đó là những ngày đẹp nhất mà tôi đã sống, với những lý tưởng đẹp, những tình cảm đẹp, những gương mặt đẹp mãi mãi không quên’.

Hiện nay, tờ Tuổi trẻ cùng như tờ Tuổi Trẻ chủ nhật, Tuổi trẻ cười tại thành phố Hồ Chí Minh là hậu duệ của những tờ báo sinh viên, học sinh thời trước 1975. Một số bọn họ được trui rèn từ những ngày tháng tranh đấu trong mặt trận báo chí của Sài gòn trước 1975 nay đảm trách nhiệm vụ mới.

Mặt trận báo chí ở đô thị trở thành mũi nhọn hàng đầu trong tất cả các phong trào chống Mỹ, chống Thiệu. Tất cả những tờ báo ấy trở thành vũ khí tư tưởng theo lệnh của đảng góp phần vào sự sụp đổ miền Nam vào năm 1975.

Viết lại những trang này như một bài học ôn lại cho những người dân ở miền Nam trước 1975 nay đã sinh sống ở nước ngoài. Như một bài học. Như một dĩ vãng cần được khơi lại để cùng nhớ những năm tháng ấy.

Nguyễn Văn Lục



2009 Việt Nam Đã Vuột Mất Hai Cơ Hội - Đinh Lâm Thanh

Đinh Lâm Thanh

Cuối 2009, thử tính lại thành quả tranh đấu của người Việt Quốc Gia nhằm giải thể chế độ cộng sản, thì trong năm vừa qua chúng ta đã vuột mất hai cơ hội quan trọng. Đây là những dịp mà toàn dân có thể vùng dậy đồng loạt để lật đổ chế độ cộng sản. Tại quốc nội, những phong trào tranh đấu cần được đề cao nhưng trong đó phải kể đến một số tổ chức dân chủ còn mang tính cách tranh đấu salon, xuất hiện làm cảnh chờ thời và hành động đơn phương, rời rạc. Do đó nỗ lực nội địa không tạo được một sức mạnh khả dĩ có thể vận động quần chúng xuống đường đồng loạt dứt điểm chế độ cộng sản. Xét qua trong năm vừa rồi, chúng ta đã có được hai biến cố, có thể nói rằng, là những cơ hội hợp thời hợp lý, xảy ra đúng vào thời điểm sôi bỏng của cuộc tranh đấu chống chế độ cộng sản: Đó là dịp Trung cộng kéo dân quân qua khai thác bauxite sau khi đã chiếm xong các quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa, và tiếp theo là, hai lần nổi dậy của giáo dân Thái Hà cũng như Tam Tòa.

A. Hai cơ hội

A1. Đảng cộng sản Việt Nam đã lộ hẳn bộ mặt bán nước cho quan thầy Tàu cộng. Chúng hết đường chối cãi khi Tàu tuyên bố Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền của họ, đồng thời xua quân ngang nhiên xâm nhập hải phận cũng như đất liền của chúng ta. Đây chính là bằng cớ tội bán nước của đảng cộng sản Việt Nam mà chúng đã bưng bít từ lâu. Trước đây, giới trẻ cũng như sinh viên Việt Nam xuống đường chống Tàu cộng xâm chiếm các quần đảo cũng như nhượng 84.000 hecta đất thuộc phía Bắc (khu vực Ải Nam Quan và Bãi Giốc), ngụy quyền cộng sản đã vội vàng khống chế dập tắt các cuộc biểu tình để tránh mất lòng quan thầy. Mặt khác cộng sản âm mưu lái dư luận qua những biến cố thời sự khác, ví dụ việc tạo ra những mâu thuẩn trong các tổ chức tranh đấu tại quốc nội cũng như gây tranh cãi ở hải ngoại nhằm hướng dẫn tất cả mọi người hãy quên việc chống đối nhà nước đối với tội dâng biển và bán đất cho ngoại bang. Nhưng rồi kể từ ngày Tàu đỏ ồ ạt đưa từng sư đoàn chính quy cũng như công an và hàng vạn dân đói rách từ các tỉnh giáp ranh giới Việt Nam vào lập nghiệp, khai thác tài nguyên ngay trên quê hương của chúng ta thì lòng yêu nước của toàn dân đã bừng dậy sôi sục trở lại và sẵn sàng trong khí thế chiến đấu một mất một còn với tập đoàn cộng sản Hà nội. Đây là thời cơ để người trong nước cũng như hải ngoại đồng tâm kết hợp, siết tay nhau lật đổ đảng cộng sản hầu kết thúc cuộc chiến ý thức hệ đã kéo dài từ ngày chúng cướp được chính quyền năm 1945. Nhưng tiếc rằng cơ hội nầy đã vuột khỏi tầm tay !

A2. Vũ khí của cộng sản xứ nào cũng vậy, là dùng bao tử bao tử, tù ngục, súng đạn và tuyên truyền để thống trị người dân nhưng với Việt Nam, chúng đã vướng phải một trở ngại, đó là vấn đề tôn giáo. Nói một cách chính xác hơn, cộng sản xung khắc với tôn giáo: Nơi nào tôn giáo mạnh thì cộng sản không thể nẩy nở và tồn tại lâu dài. Lịch sử đã chứng minh, chính tôn giáo đã đánh sập thành trì cộng sản Đông Âu trong những thập niên trước đây. Đối với Việt Nam, để đối phó với một đất nước mà gần phần chín mươi trăm dân chúng đều theo tôn giáo, không Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Cao Đài Giáo, Đạo Hòa Hảo thì là Đạo thờ Ông Bà Tổ Tiên nghĩa là một đất nước có truyền thống văn hóa Văn Minh sâu đậm, mang tính chất Nhân Bản con người và có một đời sống tâm linh Hữu Thần. Đảng cộng sản đã nhanh chóng thành lập những giáo hội quốc doanh và giao cho những tên đảng viên cộng sản hay những người tu hành vẫn còn nặng nghiệp Tham Sân Si lãnh đạo, nhằm xé đôi tổ chức và chia rẽ các tôn giáo lớn. Kết quả cho thấy, hiện giờ tại Việt Nam, những tôn giáo lớn đều có hai hệ thống, một do cộng sản dựng lên để phục vụ chế độ và một vẫn là nơi quy tụ những người hữu thần nhằm bảo vệ đạo giáo chân chính của họ. Nói riêng vấn đề Thiên Chúa Giáo, hàng giáo phẩm dù bị chia thành hai khối nhưng người tín hữu vẫn trung thành với đạo giáo và biết nghĩ đến quyền lợi tổ quốc. Qua hình thức đòi đất của con chiên từ Thái Hà (Bắc) đến Tam Tòa (Trung), người công giáo Việt Nam, do một số linh mục, giám mục không nằm trong hệ thống quốc doanh lãnh đạo, đã xuống đường đồng loạt, biểu tình bất bạo động, từ hàng chục ngàn đến hàng trăm ngàn giáo dân không ngoài mục đích bày tỏ hai lý tưởng: Bổn phận của người tín hữu đối với đạo giáo và của công dân trước hiện tình đất nước. Hàng trăm ngàn người tuân lệnh chủ chăn xuống đường đòi tài sản của giáo hội. Nhìn bên ngoài là nhiệm vụ của giáo dân trước hành động chống lại tình trạng cướp cạn tài sản của tôn giáo, nhưng xét cho kỹ, thì chính giáo dân đã xử dụng quyền công dân của họ nhằm tạo thời cơ cho tất cả các tôn giáo khác cũng như toàn thể dân chúng xuống đường đồng loạt, không ngoài mục đích thúc đẩy cuộc bạo động chống cộng của họ càng ngày càng lan rộng từ thôn quê đến thành thị, từ Bắc vô Nam, đồng thời nhằm tạo điều kiện và tiếp sức cho các lực lượng trong bóng tối ra mặt hành động. Nhưng tiếc thay, cơ hội thứ hai nầy cũng vuột khỏi tầm tay !

B. Nguyên nhân

Trước khi đi vào tiết mục nhỏ nầy, tôi xin phép nhắc lại một điều căn bản trong chương trình tranh đấu: Đã chống là phải chống tới cùng, một mất một còn với cộng sản. Không thể lẫn lộn với hình thức ngoại giao, thương thuyết, van xin để đi đến việc hợp tác hòa hợp hòa giải. Phải đặt đảng cộng sản ra ngoài vòng phát luật, xem chúng là một tập đoàn ăn cắp tài nguyên quốc gia, cướp của người dân và bán nước cho nước cho quan thầy Tàu cộng. Vậy phải phải có lập trường dứt khoát rõ ràng minh bạch là tranh đấu để giải thể toàn bộ chế độ cộng sản, không thể đội chúng lên đầu vái lạy để xin một vài ân huệ ! Một khi tranh đấu kiểu VAN XIN thì trước tiên chúng ta đã mất hết chính nghĩa, trở thành những khối thịt chỉ biết vai mang bị gậy để làm chính trị, thì bọn chúng sẽ xem chúng ta là một nhóm ăn xin, chấp nhận thân phận thấp hèn, cúi rạp mình trước phủ của chúng để cầu cạnh xôi thịt không hơn không kém ! Một khi cộng sản chẳng những xem thường mà còn khinh bỉ những tổ chức tranh đấu cúi lưng VAN XIN thì Hà Nội chỉ cần tung tiền bạc, danh vọng ra để biến thành phần nầy thành công cụ phục vụ âm mưu cho chúng. Chúng ta hãy đứng thẳng dậy, dựa vào sức mạnh của toàn dân, vào lý tưởng quốc gia và tương lai của đất nước để buộc tội cộng sản là một tập đoàn bán nước hại dân chúng ta tranh đấu để giải thể chế độ chứ không thể đóng vai kẻ thất thế quỳ gối một cách yếu hèn trước kẻ thù không đội trời chung. Do vậy năm vừa qua, chúng ta đã vuột mất hai cơ hội là do VAN XIN và NHÂN NHƯỢNG. Xin nhắc rằng chủ trương tranh đấu VAN XIN là lá bài đầu tiên trong kế hoạch hòa hợp hòa giải do cộng sản chỉ thị cho thành phần nằm vùng, cò mồi đón gió nhằm biến người Việt Tự Do hải ngoại trở thành những tổ chức ‘việt kiều yêu nước’ và những con bò ngoan ngoãn để cho chúng tự do vắt sữa.

Tranh đấu cho tự do đất nước, cho dân chủ nhân quyền người dân thì không dễ dàng và đơn giản như hành động ‘van xin’, mà phải áp dụng một hình thức tranh đấu bạo động. Tất cả mọi người, mọi giới phải chấp nhận đổ mồ hôi, đổ máu và hy sinh tính mạng mới tạo được thành quả. Chính máu của những người tranh đấu đổ ra mới cảnh tỉnh những thành phần lưng chừng, mới là ngọn lửa hâm nóng lòng yêu nước của toàn dân đồng thời xương máu chính là là vũ khí cuối cùng để bồi thêm sức mạnh cho những người đang xuống đường tranh đấu. Vai trò của các nhà lãnh đạo đảng phái, tôn giáo đoàn thể cần phải có mặt, chung vai sát cánh với quần chúng chứ không thể tụ họp với nhau trong salon uống trà, chờ xem rồi ra thông cáo.

B1. Khi toàn dân nhận ra tội bán nước của tập đoàn cộng sản qua việc nhượng biển, bán đất đồng thời Hà Nội trải thảm mời Tàu cộng vào định cư và khai thác bauxite, gây tác hại môi trường sinh thái vùng Cao Nguyên thì phản ứng của người dân đã bùng nổ thật sự. Từ đảng viên cộng sản, giới trẻ, trí thức đến thành phần lao động đều lên tiếng nhưng không có một cuộc xuống đường vĩ đại nào khả dĩ chứng tỏ được tinh thần đoàn kết và khả năng tranh đấu của người dân cũng như các khuynh hướng chính trị và màu sắc tôn giáo trong nước. Đáng lý các tôn giáo, đảng phái đối lập, giới trẻ, sinh viên, công nhân xí nghiệp cũng như các hội đoàn tranh đấu cho dân chủ nhân quyền phải thừa cơ hội nầy để tập hợp thành một khối lớn với hàng vạn hàng triệu người xuống đường biểu tình, thì cuộc tranh đấu của toàn dân đã đi vào khúc quanh của lịch sử. Ngoài vài vị dấn thân tranh đấu, chấp nhận tù đày đáng kính trọng ra, thì còn lại, có thể nói đa số những nhà tranh đấu trong nước vẫn còn mang thái độ ‘van xin’. Như vậy dưới mắt bạo quyền cộng sản, họ cũng chỉ là những tổ chức được xếp vào loại dùng để đánh bóng dân chủ cho chế độ. Hơn nữa, một số nhà tranh đấu vừa bị bắt đã vội vàng tự kiểm, ăn năn cam kết để xin được tha thứ thì đều nằm trong sách lược ‘trồng cấy’ người của cộng sản. Những ồn ào về vụ án dành cho những người vừa được thả ra sau khi ăn năn sám hối mà chúng ta vừa nghe, thì đó cũng chỉ là hình thức do cộng sản dọn đường cho các tổ chức cò mồi hoà hợp hòa giải hải ngoại để họ vận động quốc tế đưa những người nầy ra nước ngoài lãnh đạo tranh đấu, không ngoài mục đích nhằm chia năm xẻ bảy cộng đồng người Việt Tự Do hải ngoại. Quá khứ đã cho chúng ta thấy vài người được cộng sản dàn dựng xuất ngoại một cách thần thánh, vừa ra đến nước ngoài, một là lợi dụng tự do truyền thông làm trò cười, kêu gọi hòa hợp hòa giải, hai là sống bám theo các tổ chức nằm trong hệ thống ‘cánh tay nối dài của Hà Nội’. Trong giai đoạn cuối của cuộc tranh đấu chống cộng sản, toàn dân Việt Nam cần cán bộ, cần lãnh đạo ngay tại chiến trường nội địa. Người tỵ nạn cộng sản hải ngoại thấy không cần thiết khi các tổ chức trong nước gởi ra ngoài nhiều cán bộ để hướng dẫn công cuộc tranh đấu ở hải ngoại. Tất cả phải tập trung tại quốc nội để trực diện với bạo quyền Hà Nội, yểm trợ tinh thần những nhà tranh đấu trong nước đang bị tù đày đồng thời để chung vai sát cánh, chia sẻ với toàn dân trong giai đoạn cực kỳ quan trọng nầy. Trong năm vừa qua đảng cộng sản dâng Hoàng Sa Trường Sa, bán đất phía Bắc và trải thảm mời Tàu cộng vào khai thác Bauxite là dịp để cho toàn dân vùng dậy, nhưng tiếc thay cơ hội nầy đã vuột mất. Lý do chính là các tôn giáo, đảng phái và các tổ chức tranh đấu trong nước còn nghi kỵ lẫn nhau, thiếu tổ chức, thiếu phối hợp và nhất là những nhà lãnh đạo vẫn ngồi salon và chủ trương tranh đấu VAN XIN với bạo quyền Hà Nội ! Trong lúc đó ở nước ngoài thì thành phần nằm vùng hòa hợp hòa giải kêu gọi chúng ta đoàn kết mục đích là để chống Tàu (!) mà không nghe đề cập đến tội đồ bán nước của đảng cộng sản Việt Nam !!!

B2. Kể từ năm 1954 đến nay, đây là lần đầu khối công giáo Việt Nam đã xuống đường với một số tín hữu gồm cả trăm ngàn người để ra mặt chống cộng sản. Từ ngoài Thái Hòa kéo vào Tam Tòa qua hai cuộc xuống đường, những cuộc biểu tình trông bên ngoài thì ôn hòa bất động, nhưng thật ra bên trong chính là một khí thế sôi sục của những công dân yêu nước núp dưới bóng con chiên ngoan đạo. Họ tuyệt đối vâng lời các vị chủ chăn và sẵn sàng hy sinh xương máu hầu mở đường cho một cuộc nổi dậy toàn bộ chống chế độ cộng sản. Khí thế của hàng trăm ngàn giáo dân đang ùn ùn bốc lửa, các họ đạo từ Bắc chí Nam đang đợi phát súng lệnh của những vị chủ chăn để vượt qua giai đoạn thứ hai là tranh đấu bạo động. Những nhà tranh đấu, những tổ chức trong bóng tối cũng như hàng tỷ người Thiên Chúa Giáo trên thế giới đang chờ một ‘phản ứng đàn áp đẫm máu nào’ đó của cộng sản để họ có lý do nhảy vào vòng chiến. Nhưng trong lúc khí thế tranh đấu của giáo dân đang ào ào tiến lên cao độ thì bỗng dưng khựng lại như chiếc bong bóng đang bay bị xì hơi và từ từ đâm đầu rơi xuống ! Lý do chính của việc chấm dứt biểu tình khởi đầu từ Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và kết thúc bằng quyết định xuất phát từ Vatican. Đi sâu vào vấn đề là Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chỉ tranh đấu VAN XIN cho quyền lợi của giáo hội mà quên hẳn vai trò công dân của người Việt Nam. Hơn ai hết, các vị Giám Mục là những người đã và đang sống chung, đã biết chủ trương diệt tôn giáo cũng như đã hiểu rất rõ ràng âm mưu thâm độc của cộng sản nhưng các vị lãnh đạo tinh thần có lẽ đã ‘vướng chàm’ cộng sản qua tổ chức ‘giáo hội công giáo quốc doanh’ mà Hà Nội đã ân cần gầy dựng cho các vị giám mục. Vậy khi Hội Đồng Giám Mục Việt Nam dùng con chiên tranh đấu cho mục đích tôn giáo thuần túy hầu xin lại đất đai của nhà chung thì các vị giám mục chỉ làm được một trọng trách đối với giáo hội mà quên hẳn sứ mạng trọng đại mà Thiên Chúa đã đặt lên vai của các vị là trách nhiệm của một chủ chăn đối với đất nước, dân tộc và tổ quốc. Các Giám Mục là những vị học cao hiểu rộng, nhưng người Việt Quốc Gia không thể hiểu được câu nói mà Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã tuyên bố: Người cộng sản chân chính và người quốc gia chân chính thì có thể ngồi lại với nhau ! Cá nhân người viết không dám cho rằng vị Hồng Y nầy lặp lại những gì cộng sản đã nói. Nhưng xin thưa, đã là cộng sản thì không còn chân chính nữa ! Nếu có, thì họ đã nghĩ đến sự tồn vong của dân tộc, chăm sóc cho người dân no cơm ấm áo, bảo vệ từng tấc đất mà tiền nhân đã đổ xương máu gầy dựng và bảo vệ cả mấy ngàn năm nay. Và ngược lại, người quốc gia chân chính thì không thể ngồi chung với cộng sản, vì người chân chính không a tòng theo giặc cướp để chúng bóc lột dân nghèo, tham nhũng vô độ và bán nước cho ngoại bang. Chỉ có những ai hưởng ân huệ của cộng sản thì mới có ý nghĩ ngồi lại bắt tay với kẻ thù mà thôi. Có thể nói một cách vắn tắt rằng, người công giáo không thể nào bắt tay với cộng sản vì cộng sản là loài rắn độc đã loại tôn giáo ra khỏi đời sống của người dân. Người công giáo chân chính nhớ lời Đức Mẹ đã nhắc nhở nhiều lần khi Người hiện ra tại Fatima (đại ý rằng, cộng sản là loài rắn độc, chúng sẽ thống trị thế giới …). Như vậy chính Đức Mẹ đã khẳng định rằng cộng sản vô thần là loài rắn độc, phải trừ khử thì thế giới mới có hòa bình. Nhưng tại sao các vị giám mục Việt Nam lại kêu gọi bắt tay hợp tác hòa hợp hòa giải với chúng đồng thời ép buộc (hình như vậy) Đức Giám Mục Ngô Quang Kiệt phải từ chức vì chính ngài đã mạnh dạn đứng bên cạnh giáo dân và thách đố với chế độ cộng sản trong cuộc tranh đấu vừa qua. Không biết các vị giám mục Việt Nam khi vào nhà thờ có thấy tượng Tổng Lãnh Thiên Thần Micae dùng giáo đâm vào ngực quỷ đỏ ? Có thấy tượng Đức Mẹ đạp đầu con rắn độc đang quấn ngang quả địa cầu ? Đó là điều khẳng định cộng sản là loài rắn độc, không thể chung sống hòa bình với con người. Đó là những hình ảnh nhắn nhủ người công giáo hãy đọc kinh cầu nguyện cho thế giới thoát nạn cộng sản, đồng hãy noi gương Tổng Lãnh Thiên Thần Micae và Đức Mẹ Maria chống loài quỷ cộng sản đến hơi thở cuối cùng. Vatican đã có nhiều kinh nghiệm với cộng sản, nhất là vị Giáo Hoàng đương nhiệm đã một thời giúp Đức Giáo Hoàng Gioan Paul II trong việc lật đổ chế độ cộng sản Balan. Nhưng tại sao ngày nay Vatican lại cản trở các cuộc xuống đường của giáo dân Thái Hà - Tam Tòa ? Có thể vì nguyện vọng của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nên Vatican đã đi sai một nước cờ. Có phải Vatican can thiệp để chấm dứt các cuộc nổi dậy của người công giáo vừa qua để làm vừa lòng ngụy quyền cộng sản Việt Nam hầu được mở bang giao với Hà Nội ? Nếu vậy thì Vatican đã ‘Nhân Nhượng’ ‘Van Xin’ quyền lợi của giáo hội La Mã mà quên mất nguyện vọng của 80 triệu người dân Việt Nam đã và đang đau khổ dưới ách thống trị của loài rắn độc cộng sản.

Cuối năm là cơ hội tính toán sổ sách, chúng ta phải can đảm nhìn vào sự thật để thấy những khuyết điểm của trong nước, ngoài hải ngoại cũng như từ các bạn đồng minh (Vatican-Mỹ) qua nhiều sai lầm để hiểu tại sao Việt Nam đã vuột mất những cơ hội tốt. 2010 là năm cộng sản sẽ quyết liệt gia tăng đánh phá cộng đồng người Việt Quốc Gia về hai mặt văn hóa và truyền thông, đồng thời cũng là năm mà thế giới sẽ xảy ra nhiều biến chuyển trọng đại liên quan đến Việt Nam cũng như nội bộ đảng cộng sản. Chúng ta cùng nhau nghiên cứu những chuyện đã qua để tìm một hướng đi thật chính xác cho những gì sẽ xảy ra trong tương lai. Cổ nhân đã dạy : Biết mình biết ta thì trăm trận trăm thắng thì xin đừng quên !

Đinh Lâm Thanh
Paris, 31.12.2009

* Bài viết đăng trong Nguyệt Báo KBC Hải Ngoại số Xuân Canh Dần, phát hành ngày 14.01.2010 tại Hoa kỳ.