
Sunday, November 29, 2009
“VÌ LÝ DO SỨC KHỎE” - Lm Nguyễn Hữu Lễ
Lm Nguyễn Hữu Lễ
Đầu Mùa Vọng năm 2009
Linh mục Nguyễn Hữu Lễ
![]()
|
Trong thời gian gần đây, tin Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt xin từ chức Tổng Giám mục Hà Nội “vì lý do sức khỏe” được nhiều người bàn tán và câu chuyện còn đang diễn tiến chưa ai có thể biết được đoạn kết sẽ ra sao. Nói cách khác Đức Tổng Giám mục (TGM) Ngô Quang Kiệt sẽ còn ở lại tiếp tục chăn dắt đàn chiên trong Tổng Giáo phận Hà Nội hay sẽ ra đi. Có nhiều người đã lên tiếng bày tỏ ý kiến, đặt vấn đề, phê phán sự kiện này công khai trên các diễn đàn, trên báo chí, cũng như riêng tư với bạn bè. Vì chưa phải là nguồn tin chính thức nên tôi viết bài này với sự dè dặt thường lệ bằng lời mở đầu: “Nếu tin trên đúng sự thật”.
Năm chữ “vì lý do sức khỏe” được hiểu cách đơn giản là một người không còn đủ khả năng về tinh thần hay thể lý để tiếp tục đãm nhận chức vụ mình đang nắm giữ. Trong thực tế, một câu chỉ có năm chữ “vì lý do sức khỏe” lại có nghĩa dài vô tận. Ngoài nghĩa đen nói trên, nó còn được coi là “năm chữ vàng” dùng để nói về một người rời khỏi chức vụ với lý do không cần phải giải thích, hoặc không thuận tiện để nói ra thì “5 chữ vàng” kia được dùng thay thế. Hối lộ tham nhũng bị sa thải và nhốt tù cũng “vì lý do sức khỏe”. Trong đảng cách chức thanh trừng nhau, triệt hạ nhau cũng “vì lý do sức khỏe”. Loại bỏ được một đối thủ có uy tín làm chướng ngại vật cũng “vì lý do sức khỏe”. Đối thủ bị sát hại đang nằm trong lòng đất lạnh cũng “vì lý do sức khỏe”. Các giáo sĩ bị tai tiếng phải rút lui hay bị chuyển đi nơi khác cũng “vì lý do sức khỏe” … và còn thiên hình vạn trạng trường hợp “vì lý do sức khỏe” khác nữa.
Trong khi đó tin TGM Ngô Quang Kiệt làm đơn xin từ chức Tổng Giám Mục Hà Nội cũng vì “lý do sức khỏe”! Điều này đã làm cho nhiều người ngạc nhiên, trong đó có người viết bài này. Khách quan mà nhận xét, tôi không thấy TGM Ngô Quang Kiệt có “trouble” gì về sức khỏe, cả về tinh thần lẫn thể chất. Tuy nhiên tôi có chút e ngại là không biết gần đây Ngài có bị cúm heo hay không, nhưng nếu có thì Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội đã thông báo để giáo dân cầu nguyện cho Ngài. Như vậy phải hiểu làm sao? Cuối cùng tôi hiểu ra rằng, TGM Ngô Quang Kiệt nếu có làm đơn xin từ chức không phải vì Ngài bị yếu kém về sức khoẻ mà ngược lại vì Ngài quá khoẻ trong tinh thần. Đó là lý do Ngài phải xin từ chức.
Năm chữ “vì lý do sức khỏe” được hiểu cách đơn giản là một người không còn đủ khả năng về tinh thần hay thể lý để tiếp tục đãm nhận chức vụ mình đang nắm giữ. Trong thực tế, một câu chỉ có năm chữ “vì lý do sức khỏe” lại có nghĩa dài vô tận. Ngoài nghĩa đen nói trên, nó còn được coi là “năm chữ vàng” dùng để nói về một người rời khỏi chức vụ với lý do không cần phải giải thích, hoặc không thuận tiện để nói ra thì “5 chữ vàng” kia được dùng thay thế. Hối lộ tham nhũng bị sa thải và nhốt tù cũng “vì lý do sức khỏe”. Trong đảng cách chức thanh trừng nhau, triệt hạ nhau cũng “vì lý do sức khỏe”. Loại bỏ được một đối thủ có uy tín làm chướng ngại vật cũng “vì lý do sức khỏe”. Đối thủ bị sát hại đang nằm trong lòng đất lạnh cũng “vì lý do sức khỏe”. Các giáo sĩ bị tai tiếng phải rút lui hay bị chuyển đi nơi khác cũng “vì lý do sức khỏe” … và còn thiên hình vạn trạng trường hợp “vì lý do sức khỏe” khác nữa.
Trong khi đó tin TGM Ngô Quang Kiệt làm đơn xin từ chức Tổng Giám Mục Hà Nội cũng vì “lý do sức khỏe”! Điều này đã làm cho nhiều người ngạc nhiên, trong đó có người viết bài này. Khách quan mà nhận xét, tôi không thấy TGM Ngô Quang Kiệt có “trouble” gì về sức khỏe, cả về tinh thần lẫn thể chất. Tuy nhiên tôi có chút e ngại là không biết gần đây Ngài có bị cúm heo hay không, nhưng nếu có thì Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội đã thông báo để giáo dân cầu nguyện cho Ngài. Như vậy phải hiểu làm sao? Cuối cùng tôi hiểu ra rằng, TGM Ngô Quang Kiệt nếu có làm đơn xin từ chức không phải vì Ngài bị yếu kém về sức khoẻ mà ngược lại vì Ngài quá khoẻ trong tinh thần. Đó là lý do Ngài phải xin từ chức.
|
Hiện nay, trong hàng giáo phẩm của Giáo hội Công giáo Việt Nam, TGM Ngô Quang Kiệt là người được giáo dân và đồng bào trong và ngoài nước quý mến và kính trọng nhất. Người ta quý mến và kính trọng Ngài không những vì đức độ và tính tình hoà nhã của một vị Tổng Giám Mục tuổi trẻ tài cao, mà còn vì tinh thần kiên cường bất khuất của một vị chủ chăn nêu tấm gương can đảm làm chứng nhân cho SỰ THẬT cho đàn chiên noi theo.
Những ai đã theo dõi những trường hợp TGM Ngô Quang Kiệt đã đương đầu một cách khôn ngoan và kiên cường với các viên chức Việt cộng trong những lần “làm việc” mới thấy rõ được tầm vóc của vị Tổng Giám mục trẻ tuổi này.
Những ai nhìn thấy cảnh TGM Ngô Quang Kiệt, tay cầm cây gậy chủ chăn, dẫn đầu đàn chiên đang bước theo chân Ngài, miệng họ hô to đòi chế độ Việt cộng phải trả lại tài sản của Giáo hội bị chế độ tướt đoạt. Đoàn người bước đi một cách hiên ngang trước mắt bầy lang sói vươn dài nanh vuốt đang nhe răng gầm gừ, mới thấy rỏ được hình ảnh vị chăn chiên nhân lành nhưng kiên cường bảo vệ đàn chiên và sẵn sàng liều mạng sống mình vì đàn chiên.
Có thể nói TGM Ngô Quang Kiệt là người Chúa sai đến trong giai đoạn lịch sử này của Giáo hội Việt Nam để làm chứng nhân cho SỰ THẬT, tranh đấu cho SỰ THẬT và sẵn sàng chấp nhận mọi hậu quả, kể cả tù đày vì SỰ THẬT. Vai trò của Ngài trong giai đoạn này cũng để bổ túc và tạo nên một thế quân bình cho sự phát triển trong Giáo Hội dưới chế độ vô thần cộng sản.
Phát triển bộ mặt của Giáo Hội
Sau khi trên quê hương Việt Nam im tiếng súng, Giáo hội Công giáo Việt Nam có nhu cầu khôi phục lại các cơ sở tôn giáo, một số bị chiến tranh tàn phá, số khác bị nhà nước cướp bóc sau ngày đánh chiếm được miền Nam. Việc xây dựng lại nhà thờ và các cơ sở tôn giáo gặp nhiều khó khăn trong những năm đầu, nhưng từ khi chế độ Việt cộng mở cửa cho phép người dân xuất ngoại, các giáo sĩ và tu sĩ bắt đầu ra hải ngoại vận động tài chánh mang về, từ đó phong trào khôi phục lại các cơ sở tôn giáo thuận lợi hơn. Trong một thời gian ngắn, nhiều nhà thờ và cơ sở tôn giáo được xây lên, không những có thể thay vào số đã bị chế độ Việt cộng cướp đoạt, mà còn mọc lên thêm nhiều cơ sở mới.
Có những chức sắc cao cấp và một số linh mục, tu sĩ đã chịu khó bôn ba hải ngoại kiếm tiền về xây dựng Giáo Hội quê nhà. Các vị đó có công đóng góp cho sự phát triển bộ mặt của Giáo hội ngay trong lòng chế độ cộng sản vô thần. Ngày nay sự phát triển của Giáo hội Việt Nam rất khởi sắc trong chiều hướng “tốt đạo đẹp đời” với những sinh hoạt tôn giáo đầy màu sắc trong những ngôi thánh đường khang trang, những trung tâm hành hương bề thế. Có thể nói, chưa có thời nào Giáo hội Công giáo Việt Nam có bộ mặt đẹp và tươi mát như dưới chế độ vô thần cộng sản, một chế độ độc tài với bản chất lưu manh lừa đảo và đặt căn bản trên sự gian dối.
Người ngoại quốc nhìn vào sẽ trầm trồ khen ngợi sức sống của Giáo hội Công giáo Việt nam. Người Công giáo tất nhiên phải hài lòng và hãnh diện về sự phát triển của Giáo hội mình. Dù vậy, tôi vẫn cảm thấy có cái gì lấn cấn trong lòng và điều này làm tôi không yên tâm. Càng có dịp đi lại nhiều, tiếp xúc và lắng nghe nhiều, sự bất an này trong lòng tôi càng dâng cao, tôi phải nói lên, mặc dù biết rằng những gì tôi nói đây có thể không vừa lỗ tai một số người. Tôi không hiểu được trong khi những người Công giáo Việt Nam vui mừng hớn hở trước sự thăng hoa của tôn giáo mình thì những đồng bào ngoài Công giáo sẽ nghĩ gì về Giáo hội Công giáo? Nên nhớ rằng người Công giáo chỉ chiếm trên dưới 10% dân số, vậy đại đa số đồng bào còn lại mà phần đông là những người bị chế độ áp bức và nghèo khổ, có cái nhìn như thế nào về bộ mặt đẹp của Giáo hội Công giáo Việt nam? Đặc biệt là tín đồ thuộc các tôn giáo khác có cái nhìn như thế nào đối với những người Công giáo? Đừng quên rằng chế độ Việt cộng là bậc thầy trong việc dàn dựng và kích bác gây chia rẽ, nhất là chia rẽ giữa các tôn giáo để chúng hưởng lợi. Có lẽ đã đến lúc mỗi người Công giáo phải thành thật với lòng mình để trả lời câu hỏi này: Giáo hội Công giáo Việt Nam có hoà mình với số phận Dân tộc bị chế độ áp bức, có đồng hành với Dân tộc trong cuộc chiến loại bỏ chế độ gian tà, để Dân tộc Việt Nam được vươn lên với cộng đồng nhân loại không?
Ngoài ra tôi cũng có phần lo âu về các cơ sở của Giáo hội đã và đang được phát triển nhiều nơi. Không biết rồi đây chế độ Việt cộng có giở lại thói lưu manh cố hữu ra lệnh “xung công” hết các tài sản của các tôn giáo như chúng đã ăn cướp trắng trợn vào năm 1975 không? Có gì có thể bảo đảm là chúng không giở lại trò lưu manh cũ. Hiện nay nhiều giáo phận và dòng tu còn đang nhì nhằng “xin lại” cơ sở, đất đai và tài sản bị chế độ tịch thu từ 1975. Điển hình là Đức Giám mục Nguyễn Văn Nhơn ở Đà Lạt, Đức Giám mục Nguyễn Văn Tân ở Vĩnh Long đang giằng co với kẻ cướp về cơ sở Giáo Hoàng Học Viện ở Đà Lạt, về Đại chủng viện cùng với nhà dòng Thánh Phaolô ở Vĩnh Long . Có những nơi người dân đã bày tỏ thái độ phản kháng cách công khai và quyết liệt như vụ Tòa Khâm Sứ ở Hà Nội, vụ Thái Hà, vụ Tam Tòa…nhưng rồi kết quả vẫn là “con kiến đi kiện củ khoai!”
Phát triển tinh thần của dân Chúa
Hình thể nước Việt nam có thể sánh như một cái quang gánh, với hai cái thúng ở hai đầu và đòn gánh là dãy Trường Sơn. Giáo Hội Công giáo cũng dựa theo hình thể đó và thiết lập 3 Tổng Giáo Phận vào năm 1960. Tổng Giáo Phận Hà Nội ở miền Bắc, Tổng Giáo Phận Huế ở miền Trung và Tổng Giáo Phận Sài Gòn tại miền Nam .
Một điều đáng buồn và rất nhục nhã cho dân chúng miền Nam là sau khi Việt cộng đánh cướp được miền Nam năm 1975, chúng đã ngang nhiên cướp đi tên Sài Gòn thân yêu của dân tộc và đổi thành cái tên quái đản là Thành Phố Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 7 năm 1976. Mấy tháng sau đó, vào ngày 23 tháng 11 năm 1976, tới phiên tên Tổng Giáo Phận Sài Gòn cũng biến mất để thay vào đó bằng cái tên dị hợm dài ngoằn ngoèo và sặc mùi chính trị, vừa nghe qua đã thấy lợm giọng đó là cái tên “Tổng-Giáo-Phận-Thành -Phố-Hồ-Chí-Minh”. Sự việc này gây bất mãn cho nhiều người. Ngày 23 tháng 11 năm 2005 có một Thư Thỉnh Nguyện, kèm theo nhiều chục ngàn chữ ký gởi Toà Thánh xin phục hồi lại tên Tổng Giáo Phận Sài Gòn. Chi tiết về cuộc vận động này còn lưu trữ trong: http://www.tonggiao phansaigon. org.
Trong 3 Tổng Giáo Phận thì Hà Nội và Sài Gòn ở vị thế địa dư quan trọng hơn Huế, và Tổng Giáo Phận Sài Gòn là nơi có nhiều điều đáng nói nhất. Sau khi Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình qua đời ngày 1 tháng 7 năm 1995, Toà Thánh bổ nhiệm Đức Cha Nicôla Huỳnh Văn Nghi thay thế, nhưng nhà cầm quyền Việt cộng không công nhận nên Đức Cha Nghi phải ra đi. Từ đó Tổng Giáo Phận Sài Gòn bị trống ngôi trong 3 năm, cho tới ngày 1 tháng 3 năm 1998, Toà Thánh chọn được một Giám mục phó chưa ai biết tên tuổi của Giáo phận Mỹ Tho là giáo phận nhỏ nhất ở miền Nam, đó là Đức Giám Mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, đặt vào vị trí Tổng Giám Mục của cái gọi là “Tổng-Giáo-Phận-Thành-Phố- Hồ-Chí-Minh.” Ngày 21 tháng 10 năm 2003 TGM Phạm Minh Mẫn được ban tước vị Hồng y. Hiện nay Hồng y Phạm Minh Mẫn đang còn phụ trách Tổng Giáo Phận và bên cạnh Ngài lúc nào cũng có Linh mục Tổng Đại Diện Huỳnh Công Minh sống chung một mái nhà để giúp đỡ. Với khả năng đặc biệt trong việc vận động tài chánh ở hải ngoại, Hồng Y Phạm Minh Mẫn là vị chủ chăn có công đóng góp lớn lao nhất cho sự phát triển bộ mặt của Giáo Hội Việt Nam .
Về phía Tổng Giáo Phận Hà Nội, sau khi Đức Hồng y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng về hưu, Toà Thánh bổ nhiệm Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, nguyên là Giám mục Lạng Sơn, về làm Tổng Giám Mục Hà Nội vào ngày 19 tháng 3 năm 2005. Vị Tổng Giám Mục trẻ trung mới 53 tuổi đời, trên môi lúc nào cũng nở nụ cười tươi, đã mang làn gió mới vào Tổng Giáo Phận Hà Nội vì các vị tiền nhiệm của Ngài trước đây đều già nua và hay yếu bệnh.
Những ai theo dõi về sứ mệnh mục vụ của TGM Ngô Quang Kiệt đều thấy rằng Ngài là một vị chủ chăn rất nhiệt tình trong việc chăm sóc đàn chiên và xây dựng sự phát triển của Giáo Hội. Nhưng khác với Hồng y Phạm Minh Mẫn ở miền Nam và nhiều Giám mục khác, vị chủ chăn của Tổng Giáo Phận Hà Nội không chú ý nhiều đến sự phát triển bộ mặt của Giáo Hội, nhưng chú tâm vào phát triển về đời sống tinh thần cho giáo dân. Ngài hiểu được nguyện vọng thiết tha của đồng bào công giáo trong việc tranh đấu cho công bằng và SỰ THẬT và Ngài đã can đảm hoà chung nguyện vọng và tiếng nói của mình với những người thấp cổ bé miệng đang gào thét đòi công lý trong một chế độ gian manh và những kẻ cầm quyền không hề biết công lý là gì và không bao giờ dám đối diện với SỰ THẬT.
Có lẽ TGM Ngô Quang Kiệt, sau những năm là Giám mục Lạng Sơn, một giáo phận hoang tàn cả về cơ sở vật chất lẫn về nhân sự sau mấy chục năm dưới chế độ cộng sản, Ngài đã hiểu được rằng, sức sống thực sự của Giáo hội không phải nằm trong các nhà thờ bằng gạch đá, trong các cơ sở tôn giáo khang trang, mà nằm trong tinh thần và đức tin của dân Chúa. Bằng chứng cụ thể là các cơ sở của Giáo hội miền Bắc đã bị tàn phá gần như bình địa, nhưng tinh thần và đức tin của người công giáo vẫn mạnh mẽ kiên cường. Rất nhiều nhà thờ và cơ sở của Giáo Hội ở miền Bắc bị tịch thu làm vựa lúa, làm chuồng gia súc, làm hợp tác xã. Có những ngôi nhà thờ đẹp đẽ trước kia bây giờ “chẳng còn hòn đá nào chồng lên hòn đá nào”! Về nhân sự thì các giám mục bị quản chế, các linh mục, tu sĩ và các vị trong hội đồng giáo xứ bị bắt bớ cầm tù, các chủng viện bị giải tán, các dòng tu bị đóng cửa, việc làm lễ bị cấm đoán. Nói tóm lại cộng sản vô thần đã phá sạch bộ mặt của giáo hội miền Bắc, nhưng họ không thể nào tiêu diệt được đức tin trong lòng con cái Chúa.
Đức tin như hạt giống bị vùi sâu trong đất, khi có mưa xuống là sẽ mọc lên, cho dù là mọc lên giữa đống tro tàn. Đức tin chỉ có thể phát triển và sinh hoa trái trong môi trường SỰ THẬT, hạt giống đức tin không thể nẩy mầm được trong một dung dịch pha trộn sự gian dối và giả hình. Trong sự hiểu biết đó TGM Ngô Quang Kiệt đã sống và hành động để trở nên biểu tượng của niềm tin và là chứng chân của SỰ THẬT trước mặt đàn chiên của mình. Tôi tin rằng cách nói “tốt đời đẹp đạo” mà một số chức sắc công giáo thường rêu rao như là một lối sống đạo hợp thời dưới chế độ cộng sản, không có trong tự điển mục vụ của TGM Ngô Quang Kiệt và chắc chắn là chẳng bao giờ Ngài có được loại “huân chương cao quý!” mà Chủ Tịch Nước đã ưu ái ban cho Giám mục Nguyễn Văn Sang và một vài chức sắc của Giáo hội.
Cái gai trong mắt
Với thái độ kiên cường bất khuất trong vai trò chứng nhân cho SỰ THẬT đó, TGM Ngô Quang Kiệt đã trở thành cái gai trước mắt chế độ Việt cộng. Ngài cũng trở thành một cung đàn lạc điệu giữa các đồng nghiệp. Những kẻ cầm quyền cộng sản không cần che giấu quyết tâm muốn “bứng” TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội. Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND Thành Phố Hà Nội đã nói công khai kết án TGM là xách động giáo dân và muốn “ông Kiệt” đi nơi khác! Ai cũng hiểu rằng một khi họ đã nói như thế, họ sẽ tìm hết mọi cách, đi hết mọi ngã, vận động hết mọi thế lực để thực hiện cho bằng được ý định này. Có thể đây là nguyên nhân chính để TGM Ngô Quang Kiệt phải làm đơn xin từ chức “vì lý do sức quá khỏe” của Ngài.
Một lý do khác là gần đây có nguồn tin nói rằng Toà Thánh Vatican có thể thiết lập bang giao với chế độ Việt cộng trong một thời gian không xa. Căn cứ vào các hiện tượng có tính cách dọn đường như việc đi lại khá thường xuyên giữa các giới chức cao cấp Việt Nam và phái đoàn Toà Thánh. Đặc biệt là trong dịp các Giám mục Việt Nam qua Rôma để chầu Giáo hoàng theo quy định (Ad limina) vừa rồi, Đức cha Nguyễn Văn Nhơn, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, trong một cuộc trả lời phỏng vấn, bày tỏ ước mong có sự bang giao giữa Vatican và chế độ Việt cộng. Nếu thực sự có toan tính này thì vai trò của TGM Ngô Quang Kiệt tại Hà Nội sẽ là một trở ngại. Theo chỗ tôi được biết, việc Toà Thánh bang giao với chế độ Việt cộng là một vấn đề đang được rất nhiều người Việt Nam quan tâm.
Kết luận
Trong quá khứ đã có bài học cho thấy, dưới chế độ Việt cộng gian manh, những ai dám can đảm nói lên SỰ THẬT đều phải ra đi bằng nhiều hình thức khác nhau. Trường hợp điển hình là Đức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Điền vì dám nói SỰ THẬT đã phải “ra đi vĩnh viễn” vào năm 1988. Những người khác như Linh mục Nguyễn Văn Lý, Luật sư Lê Thị Công Nhân, Luật sư Nguyễn Văn Đài vì dám nói lên SỰ THẬT đã phải ra đi để vào tù. Có thể còn nhiều người khác cũng vì làm chứng cho SỰ THẬT mà đã bị ra đi về bên kia thế giới một cách âm thầm không ai hay biết. Trong tâm trí tôi, họ là những anh hùng của thời đại.
Có nhiều người bày tỏ nổi lo âu, sợ rằng TGM Ngô Quang Kiệt sẽ bị ra đi. Tôi cho rằng dù TGM Ngô Quang Kiệt có ra đi thì Ngài cũng đã hoàn thành sứ mệnh là chứng nhân cho SỰ THẬT. Ngài đi vào vị trí đẹp trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam và đi thẳng vào tâm hồn những người yêu chuộng SỰ THẬT. Tên tuổi ngài được ghi bằng nét son. Vấn đề không phải là TGM Ngô Quang Kiệt ở hay đi, điều quan trọng là những gì sẻ xảy ra sau khi TGM Ngô Quang Kiệt ra đi khỏi Tổng Giáo Phận Hà Nội.
Những ai đã theo dõi những trường hợp TGM Ngô Quang Kiệt đã đương đầu một cách khôn ngoan và kiên cường với các viên chức Việt cộng trong những lần “làm việc” mới thấy rõ được tầm vóc của vị Tổng Giám mục trẻ tuổi này.
Những ai nhìn thấy cảnh TGM Ngô Quang Kiệt, tay cầm cây gậy chủ chăn, dẫn đầu đàn chiên đang bước theo chân Ngài, miệng họ hô to đòi chế độ Việt cộng phải trả lại tài sản của Giáo hội bị chế độ tướt đoạt. Đoàn người bước đi một cách hiên ngang trước mắt bầy lang sói vươn dài nanh vuốt đang nhe răng gầm gừ, mới thấy rỏ được hình ảnh vị chăn chiên nhân lành nhưng kiên cường bảo vệ đàn chiên và sẵn sàng liều mạng sống mình vì đàn chiên.
Có thể nói TGM Ngô Quang Kiệt là người Chúa sai đến trong giai đoạn lịch sử này của Giáo hội Việt Nam để làm chứng nhân cho SỰ THẬT, tranh đấu cho SỰ THẬT và sẵn sàng chấp nhận mọi hậu quả, kể cả tù đày vì SỰ THẬT. Vai trò của Ngài trong giai đoạn này cũng để bổ túc và tạo nên một thế quân bình cho sự phát triển trong Giáo Hội dưới chế độ vô thần cộng sản.
Phát triển bộ mặt của Giáo Hội
Sau khi trên quê hương Việt Nam im tiếng súng, Giáo hội Công giáo Việt Nam có nhu cầu khôi phục lại các cơ sở tôn giáo, một số bị chiến tranh tàn phá, số khác bị nhà nước cướp bóc sau ngày đánh chiếm được miền Nam. Việc xây dựng lại nhà thờ và các cơ sở tôn giáo gặp nhiều khó khăn trong những năm đầu, nhưng từ khi chế độ Việt cộng mở cửa cho phép người dân xuất ngoại, các giáo sĩ và tu sĩ bắt đầu ra hải ngoại vận động tài chánh mang về, từ đó phong trào khôi phục lại các cơ sở tôn giáo thuận lợi hơn. Trong một thời gian ngắn, nhiều nhà thờ và cơ sở tôn giáo được xây lên, không những có thể thay vào số đã bị chế độ Việt cộng cướp đoạt, mà còn mọc lên thêm nhiều cơ sở mới.
Có những chức sắc cao cấp và một số linh mục, tu sĩ đã chịu khó bôn ba hải ngoại kiếm tiền về xây dựng Giáo Hội quê nhà. Các vị đó có công đóng góp cho sự phát triển bộ mặt của Giáo hội ngay trong lòng chế độ cộng sản vô thần. Ngày nay sự phát triển của Giáo hội Việt Nam rất khởi sắc trong chiều hướng “tốt đạo đẹp đời” với những sinh hoạt tôn giáo đầy màu sắc trong những ngôi thánh đường khang trang, những trung tâm hành hương bề thế. Có thể nói, chưa có thời nào Giáo hội Công giáo Việt Nam có bộ mặt đẹp và tươi mát như dưới chế độ vô thần cộng sản, một chế độ độc tài với bản chất lưu manh lừa đảo và đặt căn bản trên sự gian dối.
Người ngoại quốc nhìn vào sẽ trầm trồ khen ngợi sức sống của Giáo hội Công giáo Việt nam. Người Công giáo tất nhiên phải hài lòng và hãnh diện về sự phát triển của Giáo hội mình. Dù vậy, tôi vẫn cảm thấy có cái gì lấn cấn trong lòng và điều này làm tôi không yên tâm. Càng có dịp đi lại nhiều, tiếp xúc và lắng nghe nhiều, sự bất an này trong lòng tôi càng dâng cao, tôi phải nói lên, mặc dù biết rằng những gì tôi nói đây có thể không vừa lỗ tai một số người. Tôi không hiểu được trong khi những người Công giáo Việt Nam vui mừng hớn hở trước sự thăng hoa của tôn giáo mình thì những đồng bào ngoài Công giáo sẽ nghĩ gì về Giáo hội Công giáo? Nên nhớ rằng người Công giáo chỉ chiếm trên dưới 10% dân số, vậy đại đa số đồng bào còn lại mà phần đông là những người bị chế độ áp bức và nghèo khổ, có cái nhìn như thế nào về bộ mặt đẹp của Giáo hội Công giáo Việt nam? Đặc biệt là tín đồ thuộc các tôn giáo khác có cái nhìn như thế nào đối với những người Công giáo? Đừng quên rằng chế độ Việt cộng là bậc thầy trong việc dàn dựng và kích bác gây chia rẽ, nhất là chia rẽ giữa các tôn giáo để chúng hưởng lợi. Có lẽ đã đến lúc mỗi người Công giáo phải thành thật với lòng mình để trả lời câu hỏi này: Giáo hội Công giáo Việt Nam có hoà mình với số phận Dân tộc bị chế độ áp bức, có đồng hành với Dân tộc trong cuộc chiến loại bỏ chế độ gian tà, để Dân tộc Việt Nam được vươn lên với cộng đồng nhân loại không?
Ngoài ra tôi cũng có phần lo âu về các cơ sở của Giáo hội đã và đang được phát triển nhiều nơi. Không biết rồi đây chế độ Việt cộng có giở lại thói lưu manh cố hữu ra lệnh “xung công” hết các tài sản của các tôn giáo như chúng đã ăn cướp trắng trợn vào năm 1975 không? Có gì có thể bảo đảm là chúng không giở lại trò lưu manh cũ. Hiện nay nhiều giáo phận và dòng tu còn đang nhì nhằng “xin lại” cơ sở, đất đai và tài sản bị chế độ tịch thu từ 1975. Điển hình là Đức Giám mục Nguyễn Văn Nhơn ở Đà Lạt, Đức Giám mục Nguyễn Văn Tân ở Vĩnh Long đang giằng co với kẻ cướp về cơ sở Giáo Hoàng Học Viện ở Đà Lạt, về Đại chủng viện cùng với nhà dòng Thánh Phaolô ở Vĩnh Long . Có những nơi người dân đã bày tỏ thái độ phản kháng cách công khai và quyết liệt như vụ Tòa Khâm Sứ ở Hà Nội, vụ Thái Hà, vụ Tam Tòa…nhưng rồi kết quả vẫn là “con kiến đi kiện củ khoai!”
Phát triển tinh thần của dân Chúa
Hình thể nước Việt nam có thể sánh như một cái quang gánh, với hai cái thúng ở hai đầu và đòn gánh là dãy Trường Sơn. Giáo Hội Công giáo cũng dựa theo hình thể đó và thiết lập 3 Tổng Giáo Phận vào năm 1960. Tổng Giáo Phận Hà Nội ở miền Bắc, Tổng Giáo Phận Huế ở miền Trung và Tổng Giáo Phận Sài Gòn tại miền Nam .
Một điều đáng buồn và rất nhục nhã cho dân chúng miền Nam là sau khi Việt cộng đánh cướp được miền Nam năm 1975, chúng đã ngang nhiên cướp đi tên Sài Gòn thân yêu của dân tộc và đổi thành cái tên quái đản là Thành Phố Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 7 năm 1976. Mấy tháng sau đó, vào ngày 23 tháng 11 năm 1976, tới phiên tên Tổng Giáo Phận Sài Gòn cũng biến mất để thay vào đó bằng cái tên dị hợm dài ngoằn ngoèo và sặc mùi chính trị, vừa nghe qua đã thấy lợm giọng đó là cái tên “Tổng-Giáo-Phận-Thành -Phố-Hồ-Chí-Minh”. Sự việc này gây bất mãn cho nhiều người. Ngày 23 tháng 11 năm 2005 có một Thư Thỉnh Nguyện, kèm theo nhiều chục ngàn chữ ký gởi Toà Thánh xin phục hồi lại tên Tổng Giáo Phận Sài Gòn. Chi tiết về cuộc vận động này còn lưu trữ trong: http://www.tonggiao phansaigon. org.
Trong 3 Tổng Giáo Phận thì Hà Nội và Sài Gòn ở vị thế địa dư quan trọng hơn Huế, và Tổng Giáo Phận Sài Gòn là nơi có nhiều điều đáng nói nhất. Sau khi Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình qua đời ngày 1 tháng 7 năm 1995, Toà Thánh bổ nhiệm Đức Cha Nicôla Huỳnh Văn Nghi thay thế, nhưng nhà cầm quyền Việt cộng không công nhận nên Đức Cha Nghi phải ra đi. Từ đó Tổng Giáo Phận Sài Gòn bị trống ngôi trong 3 năm, cho tới ngày 1 tháng 3 năm 1998, Toà Thánh chọn được một Giám mục phó chưa ai biết tên tuổi của Giáo phận Mỹ Tho là giáo phận nhỏ nhất ở miền Nam, đó là Đức Giám Mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, đặt vào vị trí Tổng Giám Mục của cái gọi là “Tổng-Giáo-Phận-Thành-Phố- Hồ-Chí-Minh.” Ngày 21 tháng 10 năm 2003 TGM Phạm Minh Mẫn được ban tước vị Hồng y. Hiện nay Hồng y Phạm Minh Mẫn đang còn phụ trách Tổng Giáo Phận và bên cạnh Ngài lúc nào cũng có Linh mục Tổng Đại Diện Huỳnh Công Minh sống chung một mái nhà để giúp đỡ. Với khả năng đặc biệt trong việc vận động tài chánh ở hải ngoại, Hồng Y Phạm Minh Mẫn là vị chủ chăn có công đóng góp lớn lao nhất cho sự phát triển bộ mặt của Giáo Hội Việt Nam .
Về phía Tổng Giáo Phận Hà Nội, sau khi Đức Hồng y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng về hưu, Toà Thánh bổ nhiệm Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, nguyên là Giám mục Lạng Sơn, về làm Tổng Giám Mục Hà Nội vào ngày 19 tháng 3 năm 2005. Vị Tổng Giám Mục trẻ trung mới 53 tuổi đời, trên môi lúc nào cũng nở nụ cười tươi, đã mang làn gió mới vào Tổng Giáo Phận Hà Nội vì các vị tiền nhiệm của Ngài trước đây đều già nua và hay yếu bệnh.
Những ai theo dõi về sứ mệnh mục vụ của TGM Ngô Quang Kiệt đều thấy rằng Ngài là một vị chủ chăn rất nhiệt tình trong việc chăm sóc đàn chiên và xây dựng sự phát triển của Giáo Hội. Nhưng khác với Hồng y Phạm Minh Mẫn ở miền Nam và nhiều Giám mục khác, vị chủ chăn của Tổng Giáo Phận Hà Nội không chú ý nhiều đến sự phát triển bộ mặt của Giáo Hội, nhưng chú tâm vào phát triển về đời sống tinh thần cho giáo dân. Ngài hiểu được nguyện vọng thiết tha của đồng bào công giáo trong việc tranh đấu cho công bằng và SỰ THẬT và Ngài đã can đảm hoà chung nguyện vọng và tiếng nói của mình với những người thấp cổ bé miệng đang gào thét đòi công lý trong một chế độ gian manh và những kẻ cầm quyền không hề biết công lý là gì và không bao giờ dám đối diện với SỰ THẬT.
Có lẽ TGM Ngô Quang Kiệt, sau những năm là Giám mục Lạng Sơn, một giáo phận hoang tàn cả về cơ sở vật chất lẫn về nhân sự sau mấy chục năm dưới chế độ cộng sản, Ngài đã hiểu được rằng, sức sống thực sự của Giáo hội không phải nằm trong các nhà thờ bằng gạch đá, trong các cơ sở tôn giáo khang trang, mà nằm trong tinh thần và đức tin của dân Chúa. Bằng chứng cụ thể là các cơ sở của Giáo hội miền Bắc đã bị tàn phá gần như bình địa, nhưng tinh thần và đức tin của người công giáo vẫn mạnh mẽ kiên cường. Rất nhiều nhà thờ và cơ sở của Giáo Hội ở miền Bắc bị tịch thu làm vựa lúa, làm chuồng gia súc, làm hợp tác xã. Có những ngôi nhà thờ đẹp đẽ trước kia bây giờ “chẳng còn hòn đá nào chồng lên hòn đá nào”! Về nhân sự thì các giám mục bị quản chế, các linh mục, tu sĩ và các vị trong hội đồng giáo xứ bị bắt bớ cầm tù, các chủng viện bị giải tán, các dòng tu bị đóng cửa, việc làm lễ bị cấm đoán. Nói tóm lại cộng sản vô thần đã phá sạch bộ mặt của giáo hội miền Bắc, nhưng họ không thể nào tiêu diệt được đức tin trong lòng con cái Chúa.
Đức tin như hạt giống bị vùi sâu trong đất, khi có mưa xuống là sẽ mọc lên, cho dù là mọc lên giữa đống tro tàn. Đức tin chỉ có thể phát triển và sinh hoa trái trong môi trường SỰ THẬT, hạt giống đức tin không thể nẩy mầm được trong một dung dịch pha trộn sự gian dối và giả hình. Trong sự hiểu biết đó TGM Ngô Quang Kiệt đã sống và hành động để trở nên biểu tượng của niềm tin và là chứng chân của SỰ THẬT trước mặt đàn chiên của mình. Tôi tin rằng cách nói “tốt đời đẹp đạo” mà một số chức sắc công giáo thường rêu rao như là một lối sống đạo hợp thời dưới chế độ cộng sản, không có trong tự điển mục vụ của TGM Ngô Quang Kiệt và chắc chắn là chẳng bao giờ Ngài có được loại “huân chương cao quý!” mà Chủ Tịch Nước đã ưu ái ban cho Giám mục Nguyễn Văn Sang và một vài chức sắc của Giáo hội.
Cái gai trong mắt
Với thái độ kiên cường bất khuất trong vai trò chứng nhân cho SỰ THẬT đó, TGM Ngô Quang Kiệt đã trở thành cái gai trước mắt chế độ Việt cộng. Ngài cũng trở thành một cung đàn lạc điệu giữa các đồng nghiệp. Những kẻ cầm quyền cộng sản không cần che giấu quyết tâm muốn “bứng” TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội. Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND Thành Phố Hà Nội đã nói công khai kết án TGM là xách động giáo dân và muốn “ông Kiệt” đi nơi khác! Ai cũng hiểu rằng một khi họ đã nói như thế, họ sẽ tìm hết mọi cách, đi hết mọi ngã, vận động hết mọi thế lực để thực hiện cho bằng được ý định này. Có thể đây là nguyên nhân chính để TGM Ngô Quang Kiệt phải làm đơn xin từ chức “vì lý do sức quá khỏe” của Ngài.
Một lý do khác là gần đây có nguồn tin nói rằng Toà Thánh Vatican có thể thiết lập bang giao với chế độ Việt cộng trong một thời gian không xa. Căn cứ vào các hiện tượng có tính cách dọn đường như việc đi lại khá thường xuyên giữa các giới chức cao cấp Việt Nam và phái đoàn Toà Thánh. Đặc biệt là trong dịp các Giám mục Việt Nam qua Rôma để chầu Giáo hoàng theo quy định (Ad limina) vừa rồi, Đức cha Nguyễn Văn Nhơn, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, trong một cuộc trả lời phỏng vấn, bày tỏ ước mong có sự bang giao giữa Vatican và chế độ Việt cộng. Nếu thực sự có toan tính này thì vai trò của TGM Ngô Quang Kiệt tại Hà Nội sẽ là một trở ngại. Theo chỗ tôi được biết, việc Toà Thánh bang giao với chế độ Việt cộng là một vấn đề đang được rất nhiều người Việt Nam quan tâm.
Kết luận
Trong quá khứ đã có bài học cho thấy, dưới chế độ Việt cộng gian manh, những ai dám can đảm nói lên SỰ THẬT đều phải ra đi bằng nhiều hình thức khác nhau. Trường hợp điển hình là Đức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Điền vì dám nói SỰ THẬT đã phải “ra đi vĩnh viễn” vào năm 1988. Những người khác như Linh mục Nguyễn Văn Lý, Luật sư Lê Thị Công Nhân, Luật sư Nguyễn Văn Đài vì dám nói lên SỰ THẬT đã phải ra đi để vào tù. Có thể còn nhiều người khác cũng vì làm chứng cho SỰ THẬT mà đã bị ra đi về bên kia thế giới một cách âm thầm không ai hay biết. Trong tâm trí tôi, họ là những anh hùng của thời đại.
Có nhiều người bày tỏ nổi lo âu, sợ rằng TGM Ngô Quang Kiệt sẽ bị ra đi. Tôi cho rằng dù TGM Ngô Quang Kiệt có ra đi thì Ngài cũng đã hoàn thành sứ mệnh là chứng nhân cho SỰ THẬT. Ngài đi vào vị trí đẹp trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam và đi thẳng vào tâm hồn những người yêu chuộng SỰ THẬT. Tên tuổi ngài được ghi bằng nét son. Vấn đề không phải là TGM Ngô Quang Kiệt ở hay đi, điều quan trọng là những gì sẻ xảy ra sau khi TGM Ngô Quang Kiệt ra đi khỏi Tổng Giáo Phận Hà Nội.
Đầu Mùa Vọng năm 2009
Linh mục Nguyễn Hữu Lễ
Saturday, November 28, 2009
"Meet Việt Nam" (Gặp Gỡ Việt Nam) - Lê Văn Ấn

Người Việt Tự Do biểu tình ngay nơi tổ chức Meet Vietnam
trước City Hall TP San Francisco
Lê Văn Ấn
Theo báo Tuổi Trẻ của Việt Cộng thì cuộc gặp gỡ Việt Nam được tổ chức tại San Francisco 2 ngày 15 và 16 tháng 11 năm 2009 là Việt Cộng “muốn thông qua Meet Vietnam đưa ra nhưng hình ảnh khách quan trung thực đến với bà con. Chúng tôi muốn chuyển tải đến bà con thông điệp đất nước ta đang chuyển mình, đang hội nhập để phát triển, mong bà con đồng hành cùng quê hương đất nước, góp phần xây dựng quê hương giàu mạnh”. Lê Quốc Hùng, Tổng Lãnh Sự Việt Cộng tại San Francisco, nghĩa là đã ở Hoa Kỳ một thời gian, đã nghe biết những gì xảy ra ở đây, biết được những đòi hỏi của người Việt tị nạn Cộng Sản, biết trình độ người Việt ở đây ra sao, thế mà qua câu nói trích dẫn trên, khiến người ta nghĩ hắn đang ở giữa rừng Mán, Mọi.
Với trình độ hiểu biết của người Việt ở đây, mà Lê Quốc Hùng dám nói rằng cuộc gặp gỡ này hắn ta muốn đưa ra những hình ảnh khách quan và trung thực thì … hết thuốc chữa. Những hình ảnh mà Việt Cộng đưa ra trong cái gọi là Meet Vietnam có phản ảnh những gì đang có, đang xảy ra ở Việt Nam hay không? Chắc chắn là không. Vậy nếu muốn tuyên truyền cho chế độ của hắn, ít ra hắn cũng tránh những từ ngữ “chọc giận kiều bào”, những từ ngữ khách quan, trung thực không bao giờ có trong ngôn ngữ của Đảng VC, nói cách khác khi người ngoài nghe những từ ngữ này, người ta hiểu đó là những chữ bịp bợm, không bao giờ có trên thực tế trong xã hội Việt Cộng. Đừng trách tại sao người Việt tỵ nạn Cộng Sản cứ biểu tình chống đối mỗi khi chúng xuất hiện. Cái nhục mà người Việt hải ngoại phải chịu đựng đó là “nước quý vị do những kẻ không có lý trí cầm quyền”, một người ngoại quốc đã nói với người Việt như vậy sau một chuyến “đi thực tế Việt Nam’ trở về. Hoặc là Lê Quốc Hùng chỉ muốn nói cho đồng bào trong nước nghe, cho họ đọc chứ không nói cho người Việt hải ngoại? Đành rằng Việt Cộng sống nhờ tuyên truyền, bưng bít, và đàn áp, nhưng nói với người Việt sinh sống tại nước ngoài thì người trong nước có thể không nghe; chứ nói với người trong nước thì “Việt kiều” nghe và biết được rất rõ. Càng nghe càng thất vọng, càng nghe càng xấu hổ nhục nhã với người ngoại quốc đúng như lời Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt nói, ngoại quốc khinh bỉ người Việt vì buôn lậu, ăn cắp khi ra nước ngoài. Vậy thì làm sao mà meet cho được? Làm sao mà mong “khúc ruột ngàn dặm” thông cảm? Làm sao mà người việt hải ngoại dám xưng “bà con” với những tên tuyên truyèn cổ lổ sĩ như vậy được? Ngôn ngữ đã “lạc vận” như vậy, làm sao mà có văn hóa của người Việt Nam mà đem ra triển lãm?
Đất nước Việt Nam có thực sự đang chuyển mình, đang hội nhập để phát triển không? Và phát triển theo hướng nào? Quả thực, Việt Nam đã và đang chuyển hướng, đang hội nhập để phát triển. Nhưng chuyển mình và hội nhập chính trị thì phát triển độc đài toàn trị. Kính tế xã hội thì phát triển dịch vụ buôn người ra ngoại quốc, phát triển mãi dâm ngày càng “phổ biến”, chuyển mình là đàn áp các tôn giáo, tận lực cướp bóc đất của dân, của các tôn giáo, buôn lậu v.v… Bộ mặt Việt Nam kéo dài, trải khắp trên các quốc gia. Diển hình nhất là ngành Hàng Không đã có thành tích buôn lậu, ăn cắp trên phi cơ và khách sạn, làm cho cả thế giới mỗi khi thấy phi cơ Việt Nam lên xuống phải chú ý với con mắt đề phòng như đề phòng kẻ trộm, xa lánh như xa lánh người mắc bệnh truyèn nhiễm. Thực là nhục nhã. Đấy! Việt Nam đang chuyển mình và phát triẻn theo chiều hướng băng hoại xã hội như vậy đó. Meet Vietnam chỉ phơi bày chuyển tả được những ngành nghề trộm đạo.
Một ngành nghề khác không phải đang chuyển mình mà đã phát triển đến “quá độ”, đó là tham nhũng. Tham nhũng khắp nơi, tham nhũng trở thành một bệnh ung thư tới giai đoạn chót. Hai quốc gia “thấm đòn tham nhũng” gần đây là Nhựt Bản và Úc Châu. Người ta nói “làm đĩ mười phương cũng chừa một phương để lấy chồng” chứ bọn Việt Cộng thì chẳng chừa phương nào. Ngang nhiên đòi hối lộ cả với ngoại quốc thử hỏi đối với dân chúng trong nước tham nhũng phải “đánh giá cao” tới mức độ nào?
Chưa hết, Meet Vietnam còn có một khoảng gọi là “Không gian văn hóa” để triển lãm những tác phẩm nghệ thuật, hình ảnh, nhạc cụ cổ truyền v.v… Những “cái này” có dính dáng gì đến cái gọi là “văn hóa Chủ Nghĩa Xã Hội, Văn Hóa Vô Sản” không? Cộng Sản nói chung, Việt Cộng nói riêng, chưa bao giờ triển lãm bất cứ một “tác phẩm nào tượng trưng cho văn hóa Cộng Sản. Tại sao? Vì chủ trương của Cộng Sản là “tiêu diệt văn hóa”. Những du khách đến Trung Cộng, khi hỏi về thành tích của “cách mạng văn hóa” Tàu Cộng, người ta được nghe những tiếng phàn nàn, nguyền rủa vì “bọn cách mạng văn hóa” đã đập bể, phá hoại hầu hết di sản văn hóa cổ của Tàu! Cơ ngơi của Lê Khả Phiêu bị chụp hình, cho chúng ta thấy Phiêu đã hốt cổ vật của các viện bảo tàng đem về nhà hắn ta. Khi những tấm hình cơ ngơi của Phiêu được đưa lên mạng, có một ông già đã phát biểu: Lê Khả Phiêu quả là một người “sản xuất văn hóa”. Văn hóa ăn cắp và ăn cướp. Nhiều người đặt câu hỏi “văn hóa Cộng Sản” ra sao? Sản phẩm của nó thế nào? Những “sản phẩm văn hóa Cộng Sản” có lẽ chỉ được những người chống cộng triển lãm. Đó là những “cảnh đấu tố dã man” chưa từng có trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, những “hố chôn người tập thể” dịp Tết Mậu Thân tại Huế, hay “cảnh một đồi sọ người” ở Campuchia! Trong ngày thứ hai của “Meet Vietnam” gồm các mục hội thảo về công nghệ thông tin, du lịch, giáo dục được tổ chức tại khách sạn InterContinental trên đường Howard, San Francisco. Người Việt hải ngoại chắc chưa ai quên câu chào hàng bất hủ của ông “Chủ Tịch Nước” Nguyễn Minh Triết: “con gái Việt Nam đẹp lắm”. Không biết trước khi làm chủ tịch nước, Nguyễn Minh Triết có làm ma cô hay không, nhưng nhìn cái nheo mắt với nụ cười cầu tài của Triết, ai cũng cho là một tên siêu ma cô. Công nghệ thông tin gồm những gì? Bức tường lửa ngăn chận mạng lưới toàn cầu? Hay kỹ thuật siêu đẳng làm cho dây cáp điện thoại “mục nát trong 30 giây” mỗi khi cần cắt đứt liên lạc giữa những người đấu tranh cho tự do dân chủ trong nước?
Buổi hội thảo về giáo dục là mục hấp dẫn nhất trong cuộc triển làm này. Trong khi Lê Quốc Hùng hô hào “bà con đồng hành cùng quê hương đất nước, góp phần xây dựng quê hương” thì một giáo sư thắc mắc “tại sao các du sinh đi học ở Hoa Kỳ không trở về?” Đây là một câu hỏi “phản động” vì vị giáo sư này thuộc loại “Vịt kiều yêu nước. Chắc chắn ông ta sẽ không được huy chương Xã Hội Chủ Nghĩa. Tuy nhiên, đối với đồng hương hải ngoại thì đây là một vấn đề “hiện thực”. Những tên con cha cháu ông, du học có bằng để: một là trở về Việt Nam thay vào địa vị cha mẹ chúng, hai là rửa tiền hối lộ, tham nhũng của gia đình chúng, ba là học theo sách của Nguyễn Tấn Dũng cho con lấy chồng lấy vợ người Mỹ gốc Việt để rửa tiền, để bảo lãnh cha mẹ, khi cần đã có passport “vọt” qua Mỹ.
Không biết cuộc hội thảo có đưa vấn đề nữ sinh viên muốn tốt nghiệp phải cho giáo sư “cái đáng giá ngàn vàng” của con gái hay không? Có tìm cách phát triển bằng cấp giả trong nước lẫn ngoại quốc không? Vì kỹ nghệ làm bằng giả hiện đang chuyển hướng, hội nhập để phát triển vượt bực, vì nay mai, toàn thể cán bộ Hà Nội đều tốt nghiệp đại học tiến sĩ!
“Meet Vietnam ”, những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Những tên Việt gian, tay sai Việt Cộng quảng cáo Meet Vietnam cho Việt Cộng có thấy xấu hổ không, chứ người Việt Nam nghe Meet Vietnam thấy tủi cho đất nước, nhục cho quốc thể.
“Meet Vietnam đã thành công?”. Đúng! Nhưng là thành công đối với người Việt tị nạn Cộng Sản. Một là đã phơi bày được tội ác của Việt Cộng, hai là đã dạy cho VC một bài học: không dám để mọi người tự do vào cửa mà chỉ những thành phần “có giấy mời” tham dự.
Với trình độ hiểu biết của người Việt ở đây, mà Lê Quốc Hùng dám nói rằng cuộc gặp gỡ này hắn ta muốn đưa ra những hình ảnh khách quan và trung thực thì … hết thuốc chữa. Những hình ảnh mà Việt Cộng đưa ra trong cái gọi là Meet Vietnam có phản ảnh những gì đang có, đang xảy ra ở Việt Nam hay không? Chắc chắn là không. Vậy nếu muốn tuyên truyền cho chế độ của hắn, ít ra hắn cũng tránh những từ ngữ “chọc giận kiều bào”, những từ ngữ khách quan, trung thực không bao giờ có trong ngôn ngữ của Đảng VC, nói cách khác khi người ngoài nghe những từ ngữ này, người ta hiểu đó là những chữ bịp bợm, không bao giờ có trên thực tế trong xã hội Việt Cộng. Đừng trách tại sao người Việt tỵ nạn Cộng Sản cứ biểu tình chống đối mỗi khi chúng xuất hiện. Cái nhục mà người Việt hải ngoại phải chịu đựng đó là “nước quý vị do những kẻ không có lý trí cầm quyền”, một người ngoại quốc đã nói với người Việt như vậy sau một chuyến “đi thực tế Việt Nam’ trở về. Hoặc là Lê Quốc Hùng chỉ muốn nói cho đồng bào trong nước nghe, cho họ đọc chứ không nói cho người Việt hải ngoại? Đành rằng Việt Cộng sống nhờ tuyên truyền, bưng bít, và đàn áp, nhưng nói với người Việt sinh sống tại nước ngoài thì người trong nước có thể không nghe; chứ nói với người trong nước thì “Việt kiều” nghe và biết được rất rõ. Càng nghe càng thất vọng, càng nghe càng xấu hổ nhục nhã với người ngoại quốc đúng như lời Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt nói, ngoại quốc khinh bỉ người Việt vì buôn lậu, ăn cắp khi ra nước ngoài. Vậy thì làm sao mà meet cho được? Làm sao mà mong “khúc ruột ngàn dặm” thông cảm? Làm sao mà người việt hải ngoại dám xưng “bà con” với những tên tuyên truyèn cổ lổ sĩ như vậy được? Ngôn ngữ đã “lạc vận” như vậy, làm sao mà có văn hóa của người Việt Nam mà đem ra triển lãm?
Đất nước Việt Nam có thực sự đang chuyển mình, đang hội nhập để phát triển không? Và phát triển theo hướng nào? Quả thực, Việt Nam đã và đang chuyển hướng, đang hội nhập để phát triển. Nhưng chuyển mình và hội nhập chính trị thì phát triển độc đài toàn trị. Kính tế xã hội thì phát triển dịch vụ buôn người ra ngoại quốc, phát triển mãi dâm ngày càng “phổ biến”, chuyển mình là đàn áp các tôn giáo, tận lực cướp bóc đất của dân, của các tôn giáo, buôn lậu v.v… Bộ mặt Việt Nam kéo dài, trải khắp trên các quốc gia. Diển hình nhất là ngành Hàng Không đã có thành tích buôn lậu, ăn cắp trên phi cơ và khách sạn, làm cho cả thế giới mỗi khi thấy phi cơ Việt Nam lên xuống phải chú ý với con mắt đề phòng như đề phòng kẻ trộm, xa lánh như xa lánh người mắc bệnh truyèn nhiễm. Thực là nhục nhã. Đấy! Việt Nam đang chuyển mình và phát triẻn theo chiều hướng băng hoại xã hội như vậy đó. Meet Vietnam chỉ phơi bày chuyển tả được những ngành nghề trộm đạo.
Một ngành nghề khác không phải đang chuyển mình mà đã phát triển đến “quá độ”, đó là tham nhũng. Tham nhũng khắp nơi, tham nhũng trở thành một bệnh ung thư tới giai đoạn chót. Hai quốc gia “thấm đòn tham nhũng” gần đây là Nhựt Bản và Úc Châu. Người ta nói “làm đĩ mười phương cũng chừa một phương để lấy chồng” chứ bọn Việt Cộng thì chẳng chừa phương nào. Ngang nhiên đòi hối lộ cả với ngoại quốc thử hỏi đối với dân chúng trong nước tham nhũng phải “đánh giá cao” tới mức độ nào?
Chưa hết, Meet Vietnam còn có một khoảng gọi là “Không gian văn hóa” để triển lãm những tác phẩm nghệ thuật, hình ảnh, nhạc cụ cổ truyền v.v… Những “cái này” có dính dáng gì đến cái gọi là “văn hóa Chủ Nghĩa Xã Hội, Văn Hóa Vô Sản” không? Cộng Sản nói chung, Việt Cộng nói riêng, chưa bao giờ triển lãm bất cứ một “tác phẩm nào tượng trưng cho văn hóa Cộng Sản. Tại sao? Vì chủ trương của Cộng Sản là “tiêu diệt văn hóa”. Những du khách đến Trung Cộng, khi hỏi về thành tích của “cách mạng văn hóa” Tàu Cộng, người ta được nghe những tiếng phàn nàn, nguyền rủa vì “bọn cách mạng văn hóa” đã đập bể, phá hoại hầu hết di sản văn hóa cổ của Tàu! Cơ ngơi của Lê Khả Phiêu bị chụp hình, cho chúng ta thấy Phiêu đã hốt cổ vật của các viện bảo tàng đem về nhà hắn ta. Khi những tấm hình cơ ngơi của Phiêu được đưa lên mạng, có một ông già đã phát biểu: Lê Khả Phiêu quả là một người “sản xuất văn hóa”. Văn hóa ăn cắp và ăn cướp. Nhiều người đặt câu hỏi “văn hóa Cộng Sản” ra sao? Sản phẩm của nó thế nào? Những “sản phẩm văn hóa Cộng Sản” có lẽ chỉ được những người chống cộng triển lãm. Đó là những “cảnh đấu tố dã man” chưa từng có trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, những “hố chôn người tập thể” dịp Tết Mậu Thân tại Huế, hay “cảnh một đồi sọ người” ở Campuchia! Trong ngày thứ hai của “Meet Vietnam” gồm các mục hội thảo về công nghệ thông tin, du lịch, giáo dục được tổ chức tại khách sạn InterContinental trên đường Howard, San Francisco. Người Việt hải ngoại chắc chưa ai quên câu chào hàng bất hủ của ông “Chủ Tịch Nước” Nguyễn Minh Triết: “con gái Việt Nam đẹp lắm”. Không biết trước khi làm chủ tịch nước, Nguyễn Minh Triết có làm ma cô hay không, nhưng nhìn cái nheo mắt với nụ cười cầu tài của Triết, ai cũng cho là một tên siêu ma cô. Công nghệ thông tin gồm những gì? Bức tường lửa ngăn chận mạng lưới toàn cầu? Hay kỹ thuật siêu đẳng làm cho dây cáp điện thoại “mục nát trong 30 giây” mỗi khi cần cắt đứt liên lạc giữa những người đấu tranh cho tự do dân chủ trong nước?
Buổi hội thảo về giáo dục là mục hấp dẫn nhất trong cuộc triển làm này. Trong khi Lê Quốc Hùng hô hào “bà con đồng hành cùng quê hương đất nước, góp phần xây dựng quê hương” thì một giáo sư thắc mắc “tại sao các du sinh đi học ở Hoa Kỳ không trở về?” Đây là một câu hỏi “phản động” vì vị giáo sư này thuộc loại “Vịt kiều yêu nước. Chắc chắn ông ta sẽ không được huy chương Xã Hội Chủ Nghĩa. Tuy nhiên, đối với đồng hương hải ngoại thì đây là một vấn đề “hiện thực”. Những tên con cha cháu ông, du học có bằng để: một là trở về Việt Nam thay vào địa vị cha mẹ chúng, hai là rửa tiền hối lộ, tham nhũng của gia đình chúng, ba là học theo sách của Nguyễn Tấn Dũng cho con lấy chồng lấy vợ người Mỹ gốc Việt để rửa tiền, để bảo lãnh cha mẹ, khi cần đã có passport “vọt” qua Mỹ.
Không biết cuộc hội thảo có đưa vấn đề nữ sinh viên muốn tốt nghiệp phải cho giáo sư “cái đáng giá ngàn vàng” của con gái hay không? Có tìm cách phát triển bằng cấp giả trong nước lẫn ngoại quốc không? Vì kỹ nghệ làm bằng giả hiện đang chuyển hướng, hội nhập để phát triển vượt bực, vì nay mai, toàn thể cán bộ Hà Nội đều tốt nghiệp đại học tiến sĩ!
“Meet Vietnam ”, những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Những tên Việt gian, tay sai Việt Cộng quảng cáo Meet Vietnam cho Việt Cộng có thấy xấu hổ không, chứ người Việt Nam nghe Meet Vietnam thấy tủi cho đất nước, nhục cho quốc thể.
“Meet Vietnam đã thành công?”. Đúng! Nhưng là thành công đối với người Việt tị nạn Cộng Sản. Một là đã phơi bày được tội ác của Việt Cộng, hai là đã dạy cho VC một bài học: không dám để mọi người tự do vào cửa mà chỉ những thành phần “có giấy mời” tham dự.
Đem chuông đi đánh nước người kiểu này thì còn nhục nào hơn?
Lê Văn Ấn
Sao Anh Nỡ Đành Quên? - Nguyễn Phúc Bảo Ân

Lăng Tự Đức, Huế
Nguyễn Phúc Bảo Ân
| Mậu Thân 1968 |
Từ thuở hồng hoang, khi con người còn ăn lông ở lỗ, loài chó đã trở thành một trong những người bạn thân thiết. Ban đầu loài chó hoang chỉ mon men đến gần nơi trú ngụ của loài người, để ban ngày thì ăn mót những mẫu thịt thừa, xương cặn, tối đến thì được sưởi ấm từ những bếp than hồng mà con người dùng để giữ lửa, để ngăn thú dữ, và cũng để giữ ấm cho “ngôi nhà”,…. Dần dà các thế hệ chó mẹ đẻ chó con rồi hậu duệ của đàn chó hoang thuở nào trở nên quấn quýt với loài người khi được loài người cho ăn no ngủ ấm, để đáp lại ân nghĩa của con người. Loài chó cũng tận sức tận lực giúp con người trong việc tìm kiếm nguồn thức ăn qua công việc săn bắt thú rừng cũng như báo động cho con người biết, mỗi khi có thú dữ.
Đối với người Việt, một dân tộc phát tích, tồn tại cho đến ngày nay từ nền văn minh lúa nước, ngoài “con trâu là đầu cơ nghiệp” ra thì loài chó cũng gắn bó với người Việt bao đời nay, ngoài công việc săn bắt thú rừng, chó còn trông nhà giữ cửa khi chủ nhà đi vắng, và thêm một “thiên chức” cao cả khác là làm công tác vệ sinh mỗi khi con cái chủ nhà bị tháo dạ. Người Việt, yêu mến loài chó không những bởi tính mẫn cán này của loài chó, bởi thịt chó là món khoái khẩu với nhiều người, “sống trên đời ăn miếng giồi chó, biết khi chết rồi còn có hay không”, và bởi theo người Việt thì loài chó vốn giàu tình cảm, trung thành và có trí nhớ tốt. Chẵng thế mà người Việt đã đúc kết một kinh nghiệm đã ba đời truyền tử lưu tôn rằng: “Lạc đàng nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu”. Tất nhiên ông cha chúng ta chỉ tích lũy được những kinh nghiệm đó bằng những gì họ được thấy, được nghe, chứ không phải từ một công trình nghiên cứu nào về đời sống và tập tính của loài chó để hiểu rằng tất cả những biểu hiện, những hành vi của loài chó mà người Việt chúng ta cho là “lòng trung thành” hay “trí nhớ tốt” thực ra chỉ là tập tính, là bản năng, chứ không phải là trí tuệ.
Đối với người Việt, một dân tộc phát tích, tồn tại cho đến ngày nay từ nền văn minh lúa nước, ngoài “con trâu là đầu cơ nghiệp” ra thì loài chó cũng gắn bó với người Việt bao đời nay, ngoài công việc săn bắt thú rừng, chó còn trông nhà giữ cửa khi chủ nhà đi vắng, và thêm một “thiên chức” cao cả khác là làm công tác vệ sinh mỗi khi con cái chủ nhà bị tháo dạ. Người Việt, yêu mến loài chó không những bởi tính mẫn cán này của loài chó, bởi thịt chó là món khoái khẩu với nhiều người, “sống trên đời ăn miếng giồi chó, biết khi chết rồi còn có hay không”, và bởi theo người Việt thì loài chó vốn giàu tình cảm, trung thành và có trí nhớ tốt. Chẵng thế mà người Việt đã đúc kết một kinh nghiệm đã ba đời truyền tử lưu tôn rằng: “Lạc đàng nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu”. Tất nhiên ông cha chúng ta chỉ tích lũy được những kinh nghiệm đó bằng những gì họ được thấy, được nghe, chứ không phải từ một công trình nghiên cứu nào về đời sống và tập tính của loài chó để hiểu rằng tất cả những biểu hiện, những hành vi của loài chó mà người Việt chúng ta cho là “lòng trung thành” hay “trí nhớ tốt” thực ra chỉ là tập tính, là bản năng, chứ không phải là trí tuệ.
| Cải cách ruộng đất |
Xứ Huế của tôi có thể xem là xứ sở của Đạo Phật bởi mỗi phi tần của triều Nguyễn sau khi Tiên đế qua đời, thì đều phải xuất cung về các làng xã liên cận với Hoàng Thành, xây dựng cho mình một ngôi chùa và tu tập cho đến ngày quy tiên chứ đã là cung phi mỹ nữ rồi, thì không được phép tái giá, chính vì vậy mà ở Huế quê tôi dù đất hẹp người thưa, nhưng hiện có trên 3000 ngôi Chùa và Niệm Phật Đường lớn nhỏ, và dù có làm phép quy y hay không, những hễ thờ cúng ông bà thì người dân Huế tự cho mình là đạo hữu, là phật tử. Vì vậy mà ở Huế thật hiếm có người ăn thịt chó, hiếm có những quán “cầy tơ” như ở đất Bắc, hay ngoài xứ Nghệ, và ở xư Huế quê tôi, những người từng ăn thịt chó thường bị cư dân địa phương xem như là một thành phần hạ tiện trong xã hội, và dẫu người đó là một quan quyền hay một chức sắc thì dân chúng cũng không dành cho bất cứ một sự trọng thị nào như phong tục của người dân xứ kinh kỳ. Nếu có một ai nào đó làm thịt chó thì sẽ gây xôn xao từ làng trên đến xóm dưới, già trẻ gái trai xúm lại xem người ta làm thịt chó, như thể đi xem phường trò, và nhiều câu chuyện được thêu dệt chung quanh loài chó và việc giết thịt chó. Câu chuyện được truyền tụng nhiều lần hơn cả là chuyện một chàng trai xứ Nghệ đi bộ đội vào đóng quân ở Huế, rồi phải lòng một cô gái địa phương vậy là chàng đào ngũ để “xây dựng” với cô gái Huế, anh ta nuôi khá nhiều chó để mỗi khi có họ mạc ở quê nhà vào thăm, thì giết thịt và đãi khách quê hương bằng của hiếm hoi của chốn kinh kỳ. Một lần nọ, có khách từ xứ Nghệ vào thăm, anh ta cũng giết thịt chú chó nhà để đãi khách như bao lần. Với chiếc chày vồ trong tay, anh ta giáng một đòn chí tử vào đầu con chó khiến đôi mắt phòi ra, nhưng con chó vẫn còn kịp chui xuống gầm giường kêu la thảm thiết. Không thể chui vào gầm giường để kết liễu đời con chó, anh bộ đội nắm bàn tay lại như thể đang cầm nắm xôi, hết gọi tắc tắc lại chu mồm huýt sáo. Nghe tiếng chủ gọi, dù đôi mắt đã lọt hẳn ra ngoài, không còn nhìn thấy gì nữa, nhưng nghe tiếng gọi của chủ nhà, chú chó đáng thương cũng định hướng được vị trí của chủ nhà, vừa rên ư ử, vừa cố chút sức tàn trườn đến, vẫy tít chiếc đuôi như cố báo hiệu với “ông chủ” là tôi đây, tôi đây. Và lần này, không để mất cơ hội lần nào nữa, với chiếc chày vồ vụt tới tấp lên đầu lên gáy chú chó ự lên mấy tiếng thương đau rồi trút hơi thở cuối cùng, và không lâu sau đó khách và chủ vui say với những chén tạc, chén thù với món thịt cầy bảy món …
| Đại lộ kinh hoàng |
Nhưng người dân quê tôi mục thị cảnh này, kẻ thì nguyền rủa anh chủ nhà gian ác, người thì khen ngợi chú chó trung thành, dù vừa mới bị chủ giáng cho một chiếc chày vồ lên đầu đến thừa chết thiếu sống, vậy mà khi thấy chủ vờ cho một vắt xôi và cất tiếng gọi thì đã ngoáy tít chiếc đuôi và trườn đến với chủ. Riêng tôi lúc bấy giờ thực sự không hiểu nổi chú chó này vì quá mức trung thành với chủ hay vì có tính mau quên để phải vong thân như vậy?
Sự việc trên đã xảy ra non 3 thập kỷ rồi, bỗng nhiên mọi chi tiết lại hiện về mồn một trong ký ức của tôi khi gần đây từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 11 vừa qua một đại hội thật “hoành tráng” của 1000 người Việt ở nước ngoài vừa diễn ra tại Hà nội, bởi dù quý đại biểu Việt kiều dù là người Nam hay người Bắc cũng đều đã phải bỏ nước ra đi vì một lý do rất chung bởi họ đều là nạn nhân của chế độ cộng sản. Nếu xuất thân từ đất Bắc hẳn họ biết quá rõ về những chiếc chày vồ trí mạng mà đảng và nhà nước cộng sản đã giáng lên đầu thân nhân và đồng bào của họ qua chính sách tiêu thổ kháng chiến khiến, rồi những vụ đấu tố trong cải cách ruộng đất từ 1953 cho đến 1956 khiến hàng trăm ngàn nông dân miền Bắc phải thiệt mạng chỉ vì ông cha của họ đã lưu truyền cho gia đình họ hơn 5 sào ruộng. Chắc họ biết rõ hơn 1 triệu đồng bào miền Bắc đã vì kinh hoàng với những tội ác của cộng sản mà phải rời bỏ bờ tre gốc lúa, quê hương bản quán ở đất Bắc để di cư vào nam vào năm 1954, và hơn 3 triệu đồng bào khác cũng đã bị đe dọa, bị ngăn chặn khi trên đường di cư, rồi phải ở lại đất Bắc để chịu đựng những năm tháng đọa đày nơi địa ngục trần gian ấy bởi họ đã trót mang tư tưởng di cư vào nam để “âm mưu chống lại Bác và Đảng”.
Sự việc trên đã xảy ra non 3 thập kỷ rồi, bỗng nhiên mọi chi tiết lại hiện về mồn một trong ký ức của tôi khi gần đây từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 11 vừa qua một đại hội thật “hoành tráng” của 1000 người Việt ở nước ngoài vừa diễn ra tại Hà nội, bởi dù quý đại biểu Việt kiều dù là người Nam hay người Bắc cũng đều đã phải bỏ nước ra đi vì một lý do rất chung bởi họ đều là nạn nhân của chế độ cộng sản. Nếu xuất thân từ đất Bắc hẳn họ biết quá rõ về những chiếc chày vồ trí mạng mà đảng và nhà nước cộng sản đã giáng lên đầu thân nhân và đồng bào của họ qua chính sách tiêu thổ kháng chiến khiến, rồi những vụ đấu tố trong cải cách ruộng đất từ 1953 cho đến 1956 khiến hàng trăm ngàn nông dân miền Bắc phải thiệt mạng chỉ vì ông cha của họ đã lưu truyền cho gia đình họ hơn 5 sào ruộng. Chắc họ biết rõ hơn 1 triệu đồng bào miền Bắc đã vì kinh hoàng với những tội ác của cộng sản mà phải rời bỏ bờ tre gốc lúa, quê hương bản quán ở đất Bắc để di cư vào nam vào năm 1954, và hơn 3 triệu đồng bào khác cũng đã bị đe dọa, bị ngăn chặn khi trên đường di cư, rồi phải ở lại đất Bắc để chịu đựng những năm tháng đọa đày nơi địa ngục trần gian ấy bởi họ đã trót mang tư tưởng di cư vào nam để “âm mưu chống lại Bác và Đảng”.
Vâng, dẫu họ vẫn còn sống sót để có cơ hội trở thành “khúc ruột ngàn dặm”, nhưng chắc họ vẫn còn nhớ với chủ trương “giết lầm hơn bỏ sót” với khẩu hiệu “TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO ĐÀO TẤT GỐC, TRỐC TẬN NGỌN” hàng ngàn, hàng ngàn sỹ phu Bắc Hà cùng các tiểu thương, các công chức ở đàng ngoài đã bị hành hình hoặc hạ phóng. Còn nếu những đại biểu Việt kiều là những người sinh ra và lớn lên từ bên nay bờ Bến Hải thì chắc họ vẫn chưa thể quên biến cố tết Mậu thân với hơn 7,000 đồng bào vô tội ở Huế bị thảm sát bằng hình thức đập đầu hoặc chôn sống! Chắc họ vẫn còn nhớ mùa hè đỏ lửa 1972 với hơn 15.000 đồng bào Quảng Trị đã bị đã bị đại pháo của cộng quân nghiền nát như thịt bằm trên “Đại Lộ Kinh Hoàng” dài non 10km! Dù các đại biểu Việt kiều đến được bến bờ tự do bằng đường biển, đường bộ thì chắc họ vẫn còn nhớ những ngày hãi hung đối mặt với bão tố phong ba hay hải tặc giữa đại dương, với nhiều thuyền nhân phải ăn thịt người để sống, với những thuyền nhân đã bị cướp, bị hãm hiếp, những thuyền nhân phải tự thiêu, phải treo cổ tự sát ngay sau khi bị Cao Ủy Tỵ Nạn từ chối tư cách tỵ nạn và cả với hơn 70 % những thuyền vượt biên không đến được bến bờ, để một số trở thành tù nhân trong các trại lao cải vì tội “phản quốc”, nữ tù vượt biên đã bị cán bộ quản giáo hãm hiếp, và nhiều, rất nhiều triệu thuyền nhân đã phải vĩnh viễn nằm lại dưới lòng biển lạnh!- “Quân tâm khả cảm uyên biên ngộ
Ký tế thời hồi, vị tế ưu”
- Vâng, thưa quý vị đại biểu Việt kiều,
“Chưa đi đảng gọi Việt gian
Đi rồi đảng lại chuyển sang Việt Kiều
Chưa đi, phản động trăm điều
Đi rồi, khúc ruột đáng yêu nghìn trùng”…
Từ sau đại hội người Việt nam định cư ở nước ngoài lần thư nhất đó, đã có nhiều bài báo viết về những “dự mưu” của đảng và nhà nước cộng sản Việt nam về việc tổ chức “Hội Nghị Việt kiều yêu nước” này. Là một thần dân của nước CHXHCN Việt nam, hàng ngày vẫn phải đọc, phải nghe những chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước về chiến lược nhằm “đối phó với âm mưu diễn biến hòa bình của đế quốc Mỹ là bè lũ người Việt phản động lưu vong ở nước ngoài”, người viết chỉ qua bài viết này để bày tổ nổi băn khoăn của mình rằng tội ác của cộng sản vẫn còn nguyên đó, mà sao anh nỡ đành quên?
Huế, Mùa Vọng Thứ Nhất, năm 2009
Nguyễn Phúc Bảo Ân
Subscribe to:
Posts (Atom)



