Tuesday, November 17, 2009

Đâu là mục tiêu chiến lược của Đại Hội Việt Kiều 2009? - Hồng Lĩnh

    Việt gian,Việt Cộng,Việt Kiều nhóm họp tại Hà Nội 2009
Hồng Lĩnh

Theo các thống kê, số Việt kiều cư ngụ tại tất cả các nước trên thế giới có khoảng 3.000.000. Riêng tại tại Hoa Kỳ có khoảng 1.521.353.

Phần đông thuộc thành phần chống cộng lánh nạn và tên gọi là NVHN. Từ năm 1975 cho tới năm 2004, năm CSVN ra Nghị Quyết 36, tại địa bàn rộng lớn nầy, tiếng nói của NVHN phiá Tây (khác Đông Âu) xem ra là tiếng nói độc nhất đại diện Việt kiều.

Không kể các Việt kiều tại Đông Âu như ở Tiệp với trại Sapa hay các trại nằm gần biên giới Áo và ở cách thủ đô Budapest phía nam là cả một vấn nạn kinh khủng.

Cộng đồng NVHN phía Tây được xem là cánh quân hải ngoại đang cực lực chiến đấu cho dân chủ hóa VN, gây nhiều rắc rối cho CSVN tại địa bàn kinh tế thị trường dân chủ béo bở, mà chúng muốn tiếp cận bền vững.

Nên chúng tung ra Nghị Quyết 36 mà Đại Hội Việt Kiều 2009 tại Hà Nội là một trong các trụ quan trọng.

Các Mục tiêu cùa Nghị Quyết số 36/NQ-TW 6/3/2004

Thật thế, sau khi đã ổn định xong vấn đề cư ngụ và kinh tế. Cộng đồng NVHN đi vào chiến đấu cho dân chủ hóa VN theo chiến lược bất bạo động.

Tuy chưa có một tổ chức tổng quát. Nhưng đã có nhiều chánh đảng ra đời, nhiều cộng đoàn và các nhóm lưu động hay bất động ở tại các địa phương, đã thành công trong các vận động một số chính quyền địa phương tiểu bang hay thành phố công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ của người Việt hải ngoại.

Ngoài ra còn vận động được một số Nghị Quyết kết án CSVN vi phạm Nhân Quyền và tự do Tôn Giáo tại Việt Nam. Ngoài các vận động đòi trả tự do cho các chiến hữu Dân Chủ đang bị cầm tù tại quốc nội và làm cho dân chúng tại các Dân Chủ hiểu rõ hơn cái dối trá và gian ác của CSVN đối với dân chúng Việt Nam.

Truyền thông NVHN, ngoài nhiệm vụ thông báo các vụ đàn áp tại quốc nội cho thế giới biết để họ can thiệp, tập trung vào đánh phá các huyền thoại Hồ Chí Minh, huyền thoại giải phóng và thống nhất của CSVN cũng như chuyển lửa về quốc nội để thức tĩnh toàn dân.

Các cuộc biểu tình với rừng cờ vàng ba sọc đỏ đã nhiều lần bắt bọn đầu sọ CSVN, khi ra ngoại quốc, luôn phải thay đổi chương trình và lộ trình để rồi phải dùng cựa hậu.

Trong mục tiêu vô hiệu hóa chiến thuật CSVN bóp bao tử và cô lập hóa các nhà Dân Chủ và gia đình của họ tại quốc nội, NVHN đã yểm trợ kinh tế và ủng hộ tinh thần. Ngoài ra còn vận động các tổ chức quốc tế lo về Nhân Quyền trao gỉải thường khích lệ các nhà tranh đấu trong nước đang bị tù đày.

CSVN rất bối rối trước các tấn công của cánh quân NVHN hăng say nầy. Nên Hà Nội phải công khai bắt tay xử lý NVHN và dùng Nghị quyết số 36 như chiến lược thôn tính và đánh phá.

Cho tới năm 2004, đa số cộng đồng người Việt hải ngoại bị Cộng Sản Việt Nam lên án là “Bọn phản quốc”. Thế nhưng tự nhiên tất cả biến thành “khúc ruột ngàn dậm xa xôi. Một bộ phận không thể tách rời”.

Nghị Quyết 36 là lệnh cho quân cán hành động đánh phá NVHN. Vậy đâu là các hướng tiến của Nghị Quyết ấy ?

Hướng thứ nhất có lối đánh gián tiếp

Qua các chiêu bài không quên quê hương, góp tay xây dựng đất nước và tiếng phao là CSVN đã thay đổi rồi và chẳng còn gì để sợ, chúng chiêu dụ chuyên gia và tư bản Việt kiều về đóng góp bằng sức lực, qua đầu tư vốn liếng hay về du lịch VN.

Hướng tấn công nầy nhắm ba mục tiêu: làm xuất huyết cộng đồng và có một số ngoại tệ khổng lồ. Ngoài ra qua cho màn du lịch tại VN, CSVN khá lưu manh vừa mở cửa cho về, lại vừa phao tin là nếu chống đối ra mặt tại hải ngoại, khi về tới nơi, người NVHN có thể bị làm khó dễ. Sự kiện nầy sẽ làm mất đi sự ra mặt công khai chống đối CSVN như khi chúng chưa mở cửa. Một số rất đông của NVHN,vì ham mê chút lợi cá nhân hay cho việc du lịch hay du hí, sẽ không ra mặt biểu tình hay hội họp công khai. Sợ bị CSVN chụp hình và có bằng chứng để gây khó dễ, nếu chúng muốn. Hơn nữa cuộc chiến đấu đã kéo dài 34 năm nay. Nên khi được về thăm quê hương là một mở xú páp. Do đó lòng căm tức CSVN có phần nào nhẹ dần. Nên số người nầy đâm ra uể oải. Không hăng xay như buổi vừa tới bến tự do. Một làm xuất huyết NVHN khá tinh vi.

Hướng thứ hai đánh trực diện

CSVN hỗ trợ ra báo viết, đài phát thanh, truyền hình và các Việt Meets như hiện nay tại California. Chúng bỏ tiền mở đài phát thanh, truyền hình, báo viết. Gian manh mua chuột, thuê mướn một số tên ngang nhiên tự xưng là ký giả, để lòng vào làng văn làng báo hầu phá thúi, chửi bới, chụp mũ, bôi nhọ, đánh lận con đen suy tôn những tên nằm vùng đứng lên lãnh đạo cộng đồng chỗ nầy hay chỗ khác.

Về lâu về dài, những người đứng đắn còn chút thiện chí sẽ nản lòng buông trôi. Những người có lý tưởng vững chắc sẽ mất rất nhiều đồng minh cảm thấy cô đơn dù không nản chí.

Chưa hết, Nghị Quyết 36 còn chủ trương tích cực đầu tư cho chương tình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài. Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh thiếu niên.

Tuổi thơ như những tở giấy trắng mà cộng đồng NVHN chưa chú trọng đúng mức, thời CSVN sẽ nắm lấy cơ hội viết lên những bài thơ “yêu nước, yêu quê hương là yêu đảng và Bác Hồ. Bởi vì đảng và Bác có công đánh Tây đuổi Mỹ để dành độc lập. Còn ngụy quân ngụy quyền là bọn phản quốc".

Rồi đây ai sẽ là những người còn có khả năng giải thích tường tận cho con cháu và thế hệ mai sau, thế nào là chiến tranh ý thức hệ, tại sao nước Việt Nam nhược tiểu bị cuốn theo cơn lốc tàn bạo của lịch sử? Và trong tương lai sẽ còn những bậc phụ huynh nào kềm giữ được con cháu mình vì ham vui, ham lợi chạy theo giao du với văn hóa vận và trí vận trá hình của CSVN?

Hướng thư ba đánh qua lối khen thưởng vuốt ve

Nghị quyết 36 còn chủ trương phát hiện, bồi dưỡng những nhân tố tích cực, việc khen thưởng, động viên những người có thành tích và đưa vào nền nếp việc khen thưởng các tổ chức và cá nhân người Việt ở nước ngoài có thành tích”.

Có thể đây là miếng mồi ngon đối với những người ngây ngô hay phường buôn thần bán thánh, bất lương vô liêm sỉ, ham mê chút ảo vọng và nịnh bợ. Và cuối cùng CSVN chủ động đấu tranh với các biểu tượng cố tình đi ngược lại lợi ích của chúng » !

Hướng thứ tư đánh chiếm tính cách đại diện người gốc Việt của NVHN

Nghị Quyết 36 nêu mục tiêu nầy: « Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài cần được kiện toàn cơ cấu tổ chức, biên chế và phương tiện hoạt động đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới. Tăng cường cán bộ chuyên trách về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở những nơi có đông người Việt Nam sinh sống. Chúng kiện toàn cơ cấu tổ chức để làm gì và qua tổ chức nào?

Kiện toàn cơ cấu tổ chức có liên quan gì với đại hội Việt kiều không ?

Cho tới hôm nay, tại địa bàn hải ngoại, tiếng nói của NVHN, tuy không có một tổ chức đại diện tổng quát, được xem là tiếng nói độc quyền của người Việt hải ngoại và cũng là tiếng nói người Việt tự do chống CSVN.

Tuy đã có nhiều cố gắng và thao thức. Hiện NVHN chưa có một tổ chức tổng quát có tính cách đại diện chính thức cho toàn khối NVHN trong vấn để chỉ đạo, hoạch định các kế hoạch hành động cũng các vận động ngoại giao. Họa chăng chỉ có một số tổ chức nhỏ hay một số nhóm riêng rẽ nhau. Sự kiện nầy làm giảm mất đi nhiều hiệu lực của cuộc đấu tranh cho dân chủ hóa VN.

Trong tương lai sẽ có một tranh hùng giữa NVHN và nhà nước CSVN để chiếm quyền đại diện tiếng nói của tất cả người gốc Việt ở nước ngoài. Phía NVHN không dồi dào ngân quỹ như CSVN. Nhưng có nhân lực đông đảo và nhiều tài ba khác chia rẽ và chưa có tổng chỉ huy hay tổng đại diện. Phía nhà nước CSVN rất dồi dào ngân quỹ. Nhưng nhân lực tại hải ngoại chẳng có bao nhiêu, tuy bề ngoải có chút đoàn kết do cố gắng nối kết của các tòa đại diện của CSVN tạo ra, và chưa có gì gọi là tổ chức quần chúng rộng rãi.

Nói chung vần đề là sẽ có một giao chiến nảy lửa để chiếm vai trò đại diện cho người gốc Việt tại hải ngoại và CSVN tung ra cái tổ chức gọi là Hội Nghị Việt Kiều không ngoài mục tiêu ấy.

Hội Nghị Việt Kiều lần thứ nhất tại Hà Nội? Xem CSVN phô cái gì với Đại Hội Việt Kiều?

Tại buổi họp báo vừa qua ở Hà Nội, ông Trần Trọng Toàn, phó chủ nhiệm Uỷ Ban Nhà Nước Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài, loan báo là theo dự kiến sẽ có khoảng chín trăm người Việt hải ngoại về tham dự hội nghị Việt Kiều lần thứ nhất tổ chức tại Hà Nội từ ngày 21-23/11/2009.

Theo Trần Trọng Toàn, thì chín trăm người về tham dự là những đại biểu Việt kiều tiêu biểu từ một trăm lẻ một (101) quốc gia và vùng lãnh thổ.

Hội nghị Việt Kiều lần đầu tiên sẽ diễn ra tại Trung Tâm Quốc Gia Hà Nội với chủ đề “Tạo Một Cộng Đồng Đoàn Kết Vững Mạnh, Góp Phần Tích Cực Vào Việc Xây Dựng Đất Nước.

Theo lời ông Trần Trọng Toàn, hội nghị sẽ thảo luận và đóng góp ý kiến xoay quanh các vấn đề chính như xây dựng cộng đồng Việt kiều đoàn kết vững mạnh và hướng về đất nước, giữ gìn và phát huy bảnh sắc truyền thống dân tộc trong cộng đồng Việt kiều, chuyên gia trí thức doanh nhân Việt kiều góp phần vào việc xây dựng đất nước

Đại Hội Việt Kiều là một diễn đàn mở

Đây là một diễn đàn mở vì thế những vấn đề nêu ra trong hội nghị cũng là những vấn đề mở. Diễn đàn mở này sẽ rất hay vì từ trước Việt Nam nhiều lần tổ chức các buổi họp mặt dành cho Việt kiều song không hiệu quả lắm, vì thế hội nghị lần này là dịp để lắng nghe vì muốn thay đổi hay cải tiến thì cần lắng nghe ý kiến của Việt kiều theo TS. Nguyễn Ngọc Hùng. Một người am hiểu và theo dõi sát về hội nghị Việt kiều lần thứ nhất sắp tới đây, tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hùng thuộc Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội, thành viên trong Bộ Giáo Dục và Đào Tạo.

Cò mồi nào được mời về dự hội nghị?

Câu trả lời của Ủy ban nhà nước liên quan tới đại biểu được mời có đại diện cho ai không ? Ts Nguyễn Ngọc Hùng nói:

1.- « Nếu mà dùng chữ đại biểu thì có rất nhiều người trong số này là đại biểu bởi họ được các hội Việt kiều hoặc chi hội Việt kiều các nước gởi về ».

2.- « Thế còn những nơi chưa có Hội Việt Kiều thì tự những nhóm bà con sinh hoạt chung với nhau và thường xuyên có mối liên hệ với trong nước. Đây là những người đã đóng góp rất nhiều cho các hoạt động kinh tế văn hoá xã hội từ nước ngoài với Việt Nam. Chúng tôi coi đây là những đại biểu tiêu biểu cho phong trào ủng hộ và giúp đỡ cho đất nước ».

3.- « Tôi nghĩ Uỷ Ban Người Việt Ở Nước Ngoài mời những người như vậy. »

4.- « Nếu mà dùng chữ đại biểu thì có rất nhiều người trong số này là đại biểu bởi họ được các hội Việt kiều hoặc chi hội Việt kiều các nước gởi về. Thế còn những nơi chưa có Hội Việt Kiều thì tự những nhóm bà con sinh hoạt chung với nhau và thường xuyên có mối liên hệ với trong nước (bắt đầu lậm lờ đánh lận con đen).

Phỏng đoán mục tiêu chiến lược của Đại Hội Việt Kiều 2009 tại Hà Nội

Qua tuyên bố của Trần Trọng Toàn, phó chủ nhiệm Uỷ Ban Nhà Nước Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài, về mục đích của Đại Hội Việt Kiều lần thứ nhất, Trần Trọng Toàn dùng màn khói đặc «góp phần xây dựng tích chất nước » để che dấu điểm mà CSVN muốn đạt được. « Kiện toàn cơ cấu tổ chức cộng đồng người Việt hải ngoại ». Mục đích nầy nằm trong nghị quyềt 36. Và Đại Hội Việt Kiều là dụng cụ thực hiện.

Thật thế, thành phần của 900 đại biểu về phó hội, qua cách vơ vét thâu góm của các đại diện tại hải ngoại của CSVN để có thành phần nầy, không phải là thành phần chuyên lo kinh tế.

Trái lại là một góp nhặt tại 101 nước trên thế giới. Sự góp nhặt nầy sẽ cho phép CSVN nói họ là đại biểu về phó hội và mập mời để đánh lận con đen về tư cách đại diện của người Việt tại hải ngoại.
Cho nên mục tiêu chính của Đại Hội Việt Kiều là lợi dụng danh từ ấy để đi tới việc thành lập ban đại diện tổng quát cho người Việt hải ngoại dưới sự chỉ đạo của CSVN.

Dụng cụ nầy, với sự yềm trợ tài chánh dồi dào của CSVN, sẽ tư cho có tính cách đại diện người Việt hải ngoại để đánh phá NVHN trên nhiều mặt trận.

NVHN sẽ bị tấn công trên các mặt trận sau đây

1.- Sau khi đã cắt được lực lượng của NVHN, qua chiêu bài về xây dựng đất nước và thăm quê hương, ra ba thành phần: Thành phần về hợp tác, thành phần về ăn chơi và thành phần không về. Nên những cuộc biểu tình cả chục ngàn tham giữ, như cuộc biểu tình chống Trần Trường trước đây sẽ rất khỏ xảy ra.

2.- Ban đại diện sinh ra sau Đại Hội Việt Kiều tại Hà Nội, mà các thành phần tự xưng tới từ 101 quốc gia, sẽ tranh dành với cộng đồng NVHN, nay không có tổ chức tỗng quát, trong vai trò đại diện tỗng quát.

3.- Ban đại diện nầy, với tài trợ dồi dào của CSVN sẽ gây ra nhiều ngăn cản, qua cách nầy hay cách khác, đối với các vận động của NVHN cho dân chủ nhân quyền tại VN.

4.- Ban đại diện nầy sẽ mở mặt trận treo cờ đỏ tại các trường như tại Đại Học USC Nam Cali dịp nay.

5.- Ban đại diện ấy sẽ tiếp tục trò chơi văn hóa vận Meets Viet Nam một cách rộng rãi hơn.

6.- Đó là những điểm xem ra rất có thể xảy ra và còn nhiều điểm khác cũng có thể xảy ra.

Nhưng cũng đừng quên điểm sinh tử và cũng là nhược điểm của phong trào dân chủ « Rất yếu kém về tồ chức » và CSVN biết rõ nhươc điểm nầy. Nên chúng sẽ tập trung tất cả cố gắng để tạo ra một cái gì đó mang bộ mặt, dầu chỉ có ngoài mặt, gọi là một tổ chức trên giấy tờ đại diện người Việt tại hải ngoại.

Hồng Lĩnh
    Việt gian Việt cộng Việt kiều

    Anh mang danh Việt kiều yêu nước
    Ngày anh về lắm kẻ đón mừng anh
    Đón các anh, kẻ thế quyền, quan tước
    Mừng các anh, toàn một lũ lưu manh.

    Các anh bây giờ, có tiền và kiến thức

    Đất nước cần các anh để dựng xây?
    Nơi vạn dậm nghìn trùng, bao khúc ruột
    Hãy mau về, về góp những bàn tay.

    Đất nước Việt Nam nghèo, ai cũng biết

    Dân Việt Nam đói khổ, ai cũng hay
    Có một điều không biết ai thấu triệt?
    Tại sao nghèo, nghèo mãi tới hôm nay?

    Ngày anh đi, nước mình chưa mất

    Giặc còn xa, anh đã vội cao bay
    Nơi hải ngoại, anh làm giàu trước nhất
    Của cải thêm nhiều, kiến thức thêm hay.

    Lúc anh đi, anh là người chui rúc

    Trốn mà đi, vì lùn sục đêm ngày
    Bọn chúng bảo: anh là đồ phản quốc
    Nay anh về, mừng đón rộng vòng tay.

    Rõ là người CS nay đã tốt?

    Đã quên đi quá khứ, nghĩ tương lai?
    Các anh về để dựng xây bồi đắp
    Vì quê hương đang bị mất từng ngày.

    Không biết các anh có thật là yêu nước?

    Hay chỉ phường giá áo túi cơm?
    Đi với giặc, thì ai ai cũng biết
    Cũng chỉ là một lũ bán giang sơn.

    Cọp Taberd

AI LÀM LỢI CHO CỘNG SẢN VÀ BẰNG NÀO ĐỂ DIỆT CHẾ ĐỘ HÀ NỘI - Đinh Lâm Thanh

Đinh Lâm Thanh

Tiếp theo bài "Cộng Sản Việt Nam Muốn Gì Ở Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại" xuất hiện trên các websites và báo chí cách đây không lâu, hôm nay tôi hân hạnh trình bày cùng Quý Vị Độc Giả bài viết tiếp theo: "Ai làm Lợi Cho Cộng Sản và Bằng Cách Nào Để Diệt Chế Độ Hà Nội", mục đích góp phần đáp lời kêu gọi của Luật Sư Lê Thị Công Nhân trước ngày bị bắt và tác giả Trịnh Việt Bắc qua bài "Hãy Ngưng Gởi Tiền Về Nước Nuôi Đảng và Nuôi Gái Tơ" vừa được post ra trên mạng Take2Tango.

Phải thành thực mà nói, tuyệt đối không làm lợi cho Cộng sản nghe qua rất dễ nhưng dứt khoát chấm dứt trong một sớm một chiều thì cũng khó thực hiện, vì trong chúng ta, có người không nhiều thì ít đã và đang hà hơi tiếp sức nuôi dưỡng chế độ! Chỉ một ví dụ nhỏ nhưng đã khó giải quyết, vì ngày nào còn những người sắp hàng đi mua bao gạo nanh chồn, gói bún, xấp bánh tráng hũ mắm, gởi tiền về cho thân nhân hoặc còn mặc các loại quần áo xuất phát từ Việt Nam thì đều có thể xem như một hành động gián tiếp nuôi dưỡng chế độ. Đồng ý chúng ta mua hàng hóa là giúp các thương nghiệp tư nhân Việt Nam, nhưng chung quy đồng ngoại tệ trước sau gì cũng chui vào túi riêng của tập đoàn lãnh đạo Cộng sản. Vậy làm cách nào để bóp chết Cộng sản Việt Nam ? Trước tiên theo tôi, vấn đề nào quan trọng đứng hàng đầu trong việc làm lợi cho chế độ Cộng sản thì cần phải nghiên cứu và đề nghị nên chấm dứt khẩn cấp. Tiếp đến, có những chuyện cần cứu xét lại và phải có một chương trình hành động càng sớm càng tốt, và cuối cùng, những vấn đề nào đòi hỏi thời gian, chúng ta có thể xếp vào các giai đoạn kế tiếp trong tương lai.

Trong bài nầy, tôi muốn đưa ra một vài điểm chính theo tầm quan trọng trong vấn đề làm lợi cho Cộng sản đồng thời góp xin góp ý cùng tất cả đọc giả hầu tìm cách chận đứng kịp thời những số tiền đang ào ạt đổ về Việt Nam. Ngoài ra xin đề nghị một vài giải pháp để cùng nhau bắt tay ngay từ bây giờ trong việc giải thể chế độ Cộng sản Hà Nội.

1. Ai làm lợi cho chế độ Cộng sản Việt Nam ?

Trước hết, xin đề cập đến các thành phần đem tiền của về đầu tư tại Việt Nam, dù lớn hay nhỏ cũng là những hành động không thể chấp nhận. Trong lúc cộng đồng người Việt hải ngoại ngày đêm tranh đấu để đánh đổ cho bằng được chế độ Cộng sản độc tài thì một số nhỏ đem tiền của về đóng góp, hà hơi bơm sức để Hà Nội có phương tiện cai trị 82 triệu dân tại nội địa. Hợp tác với Cộng sản dù dưới hình thức nào cũng là một hành động nối giáo cho giặc, cầm dao đâm ngay trước mặt đồng hương mình. Những ai về đầu tư ? Có thể là những người đã thành công ở nước ngoài nhờ bám vào cộng đồng người Việt, hoặc những tên xảo trá, cướp bóc, lừa lọc người thân bạn bè tại hải ngoại, kinh doanh làm ăn bất hợp pháp, trồng cần sa bạch phiến, tổ chức ăn gian tiền trợ an sinh xã hội cấp rồi đem tiền của về đầu tư đều cùng một hình thức làm giàu chế độ để Hà Nội có phương tiện đánh phá trở lại cộng đồng. Như vậy người có công (Cộng sản) kẻ góp của (Việt kiều đầu tư) để bóc lột sức lao động người dân trong nước đồng thời chia rẽ tập thể người Việt hải ngoại đều mang chung một tội với Tổ Quốc cũng như toàn thể dân tộc Việt Nam.

Vấn đề đầu tư làm ăn lớn với Việt Nam từ trước đến nay chỉ đếm trên đầu ngón tay, chừng năm bảy trường hợp nhưng hoàn toàn thất bại mà báo chí đã nói đến nhiều. Độc giả đã biết rõ những ai, chương trình đầu tư gì và Cộng sản Việt Nam dàn cảnh vu cáo buộc tội thế nào để cướp giật...tôi thiết nghĩ không nên nêu ra đây mất thời giờ của quý vị. Trong mục nầy tôi muốn gởi đến độc giả một hình thức đầu tư của nhiều Việt kiều dưới dạng "chui", nghĩa là xuất vốn để cho người nhà, vợ bé, nhân tình tổ chức điều hành những cơ sở thương mãi. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh đến cách làm ăn thiếu lương thiện, thiếu đạo đức và lợi dụng tình trạng xã hội thối nát tại Việt Nam như cho vay nặng lãi, bán thuốc tây giả, bán cần sa bạch phiến cũng như mở các động "ôm" đủ loại, các phòng trà café trá hình, các cơ sở "cầm đồ" ăn cướp. Hành động của thành phần nầy chẳng những đã góp công sức làm lợi cho chế độ, đẩy tuổi trẻ vào con đường sa đọa mà còn tiếp tay Cộng sản bóc lột dân nghèo đến tận xương tủy. Vấn đề cầm đồ tại Việt Nam do một số Việt kiều xuất tiền kinh doanh là một hình thức cho vay nặng lãi, ăn cướp trên tình trạng nghèo đói và đau khổ của dân chúng Việt Nam. Chủ tiệm chỉ thuận cầm thế từ 25% đến 40% tùy theo trị giá món hàng trường hợp cầm nữ trang, xe, hoặc nhà đất có thể cầm đến 50 đến 60 %. Nếu khách hàng không chuộc lại trong thời gian hạn định nào đó, các món hàng xem như thuộc quyền sở hữu các chủ tiệm. Ở Việt Nam, một khi người nghèo đem đồ đạc đi cầm mấy ai có khả năng chuộc về !

Ngoài ra, có những người thường đi về Việt Nam vài ba chuyến trong một năm dưới danh nghĩa du lịch hoặc thăm gia đình với mục đích che đậy hành vi buôn bán lẻ của họ. Tôi không phản đối việc làm ăn để phụ thêm nguồn lợi cho gia đình mà có thể xem là một việc làm đáng khích lệ, nhưng không phải ở trường hợp nầy vì đây là một hành động đi đêm, bắt tay và làm lợi cho Cộng sản, tuy không ồ ạt nhưng những số tiền chui qua ngã nầy cũng là những con số đáng kể. Những người buôn bán lẻ dưới hình thức chui với Việt Cộng dù không lớn lao nhưng chính là một hành động làm ô uế thanh danh Cộng đồng. Biết bao nhiêu Việt kiều đã bị khép vào các tội buôn lậu, vận chuyển bạch phiến, buôn bán hàng giả mạo, quỵt tiền, quỵt tình mà chúng ta được biết qua các cơ quan truyền thông báo chí.

Một thành phần thứ ba cần nêu ra ở đây là những cụ già, các ông bà sồn sồn về Việt Nam ăn chơi, du hí, cưới vợ bé, cặp trai tơ, kiếm gái rẻ tiền. Thành phần nầy không biết còn nhớ trước khi bước lên máy bay hoặc chui xuống ghe trốn ra biển đã có lời nguyền là không đội trời chung với Cộng sản, cũng như lúc ký giấy xin tỵ nạn chính trị hay tuyên thệ nhập tịch đã khẳng khái xác định rằng, tôi không thể sống dưới chế độ Cộng sản và tôi không thể quay lại Việt Nam vì sự an toàn cho tính mạng ! Ngày nay, ông già trở về chống gậy tìm gái, đàn ông đêm chui trong động, ngày ăn nhậu từ xóm ra đầu ngõ. Một số bà sồn sồn thì li bì trong các tổ quỷ trai tơ. Thật không ra thể thống gì khi một người bỏ xứ ra đi vì chính trị nay trở về nhởn nhơ sung sướng giữa một chế độ, nơi mà chính mình đã bị xem là chó ghẻ, bị lột trần và xô ra biển cả. Hành động trên đây xét ra còn vô liêm sĩ, hèn hạ và đáng phỉ nhổ hơn một số ca nhạc sĩ, vì đồng tiền, đã chối bỏ danh xưng "người tỵ nạn", Việt Nam xin làm "công dân ưu tú của xã hội chủ nghĩa".

Thành phần thứ tư là đại đa số, có thể nói gần như tất cả những người định cư ở hải ngoại đều vấp phải dưới hình thức gởi tiền về phụ giúp gia đình, bàn con bạn bè cũng như quyên góp giúp các cơ sở xã hội tại Việt Nam. Đây là một vấn đề nan giải mà nhiều người, nhiều hội đoàn đã nêu ra nhưng thật khó giải quyết một cách dứt khoát. Con số gần 5 tỷ $US bơm về Việt Nam trong năm 2006 theo đường chính thức qua các ngân hàng nhà nước (theo Cộng sản) là một số tiền lớn do mồ hôi nước mắt của người Việt hải ngoại, trong đó phải kể đến những người phải làm việc hai job, nhịn từ tô phở, ly café sáng rồi dành dụm từng đồng để giúp đỡ gia đình. Sự đùm bọc người thân ruột thịt tại quê nhà thật đáng khích lệ. Nhưng phải để ý chuyện nầy chính Cộng sản lại lợi dụng tình gia đình máu mủ ruột thịt để vét túi những ai mà trước đây chúng hằng xỉ vả bằng những danh từ thậm tệ. Thành thử hành động đầy tình người của người Việt tự do hải ngoại đã trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho chúng.

Thử làm bài tính nhỏ, ví dụ, một triệu gia đình người Việt tự do ở nước ngoài, một triệu gia đình gởi về cho cha mẹ, anh chị em, thân nhân bà con để mua thực phẩm, chạy chữa thuốc thang, sửa sang nhà cửa, xây cất mồ mã ông bà đổ đồng 500 $US/gia đình/năm thì Việt Cộng có trong tay nửa tỷ dollars. - Việt Kiều về du lịch hằng năm lên đến 2 triệu người (theo Cộng sản) ngoài tiền máy bay qua Air Việt Nam, tiền mua visa, tiền thuế nhập cảnh trên 1000 $US mỗi đầu người, tiền chi tiêu ăn uống, quà cáp, may sắm, di chuyển cho bản thân và gia đình chừng trung bình 1500 $US thì Việt Cộng có trong tay 5 tỷ dollars. Trường hợp những cụ gìà về kiếm gái tơ, các ông bà sồn sồn về du hí, hưởng lạc mỗi năm một vài lần thì số tiền chui vào túi Cộng sản còn nhiều hơn nữa. Chưa kể các cơ sở kinh tài cho Việt Cộng đầy dẫy tại các thành phố lớn ở hải ngoại, từ dịch vụ du lịch, sản xuất, thương mãi còn đem về cho Hà Nội những doanh số đáng kể. Tất cả số tiền trên được tập đoàn Cộng sản lòn ra lại nước ngoài để tạo dựng cơ sở chống phá cộng đồng, làm của riêng mua sắm bất động sản cho cá nhân gia đình thân thuộc. Hãy tính xem nhờ tiền của Việt kiều mà chúng đã tạo được bao nhiêu cơ sở, nhà cửa ngay trong thủ đô Tỵ Nạn các thành phố lớn ở Mỹ cũng như khắp thế giới. Xin ghi nhớ câu nầy: Không có binh pháp nào cho phép vừa đánh địch vừa tiếp tế cho địch. Hãy dừng lại bằng tất cả mọi giá, làm lợi cho cộng sản là nối giáo cho giặc, chính chúng ta đang đào hố tự chôn mình !

2. Bằng cách nào để đánh đổ tập đoàn Cộng Sản Hà Nội.

Chỉ có hai vũ khí để đánh bại Cộng sản Việt Nam : Sự đoàn kết của tất cả các thành phần trong Cộng động người Việt hải ngoại và dứt khoát chấm dứt gởi ngoại tệ về làm lợi cho Cộng sản dưới bất cứ hình thức nào. Hai hành động chính trị và kinh tế nầy phải được phối hợp đồng loạt, chặt chẽ và quy mô bằng sự quyết tâm của tất cả mọi người thì đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đi tới chỗ tự tiêu diệt trong một thời gian không bao xa.

1. Không về Việt Nam du lịch thì làm gì Việt Cộng thu được vài 5 tỷ $US trong một năm. Chúng sẽ dẫy chết tức khắc như cơn nghiện ma túy thiếu thưốc !

2. Không về Việt Nam du hí, cưới vợ bé, tìm trai tơ, kiếm gái trinh hay ăn nhậu say sưa ngày đêm thì Cộng sản Việt Nam sẽ không thu được một số ngoại tệ đáng kể về các hoạt động phục vụ thiếu văn hóa nầy.

3. Không thể chấm dứt tức thời việc gởi tiền về nuôi gia đình thì phải nghiên cứu đặt lại vấn đề làm sao để cha mẹ già, anh em ruột thịt tạm sống qua ngày đồng thời phải giải thích cho thân nhân phải bóp bụng trong một giai đoạn nào đó. Phải chấm dứt những phí phạm bơm tiền cho giới trẻ - con em giòng họ với Việt kiều tại Việt Nam - có phương tiện vung vãi đua đòi, ăn chơi trác táng trong các phòng trà, ổ điếm hay theo trò đỏ đen, số đề, cá độ. Đề nghị giải thích cho người thân tại Việt Nam biết để họ thông cảm trong giai đoạn trọng đại mà cộng đồng hải ngoại đang đánh trực diện vào tập đoàn Cộng sản. Làm thế nào để mọi người đều hiểu và tham gia đóng góp công sức vào cộng việc chung. Thật ra nói thì dễ nhưng cũng khó khăn cho việc dứt điểm trong một sáng một chiều, nhưng nếu tất cả mọi gia đình ở hải ngoại cắt bớt một phần, một nửa, hay hai phần ba, tùy theo hoàn cảnh của từng gia đình thì cứ tính xem, Cộng sản Việt Nam sẽ mất ngay một số lớn ngoại tệ. Đây là một việc làm thật đau lòng và khó thực hiện, nhưng cầu mong tất cả mọi người can đảm và thân nhân tại Việt Nam phải cảm thông thì chúng ta sẽ thắng lớn trước lời van nài cầu xin của Cộng sản với "khúc ruột ngàn dặm".

4. Không nhắm mắt làm việc từ thiện để tiền của, mồ hôi của những tấm lòng nhân ái từ nước ngoài rơi vào tay Quỷ Đỏ. Cần dành những số tiền đóng góp nầy vào các quỹ yểm trợ tranh đấu cho Tư Do Nhân Quyền. Trường hợp cần thiết thì phải cân nhắc và chắc chắn việc làm của mình được sự bảo đảm qua người thân gia đình hay các nhà tu hành tại Việt Nam.

5. Đồng loạt tẩy chay hãng Hàng Không Việt Cộng thì chúng sẽ sập tiệm ngay tức khắc, vì công ty nầy chỉ sống nhờ người Việt nước ngoài. Cứ tính một người từ ngoại quốc về Việt Nam, trung bình chi trên dưới 1000 $US cho một vé máy bay, chúng sẽ mất số doanh thu hàng năm là bao nhiêu (trên 1 tỷ $US nếu tính 1 triệu người đi, chưa tính một người mỗi năm về hai ba chuyến).

6. Tẩy chay các cơ sở kinh tài của Việt Cộng, từ các văn phòng chuyển tiền, tổ chức du lịch, bán vé máy bay, các công ty xuất nhập khẩu, các cửa tiệm bán thực phẩm, quần áo, đồ mỹ nghệ….Chúng ta chống Cộng nhưng vẫn để các cơ sở kinh tài của tập đoàn Hà Nội công khai làm ăn trước mặt thì cũng như không ! Cần phải có thái độ dứt khoát, tẩy chay là thượng sách. Nhất là vệc gởi tiền về Việt Nam qua các công ty của Việt Cộng chính hiệu hay trá hình dưới nhiều hình thức.

Tất cả tiền của do chúng ta bơm về Việt Nam dưới hình thức nào hay tiêu dùng qua các cơ sở kinh tài của bọn chúng đều là một cách làm lợi cho tập đoàn Cộng sản và những số tiền kếch sù nầy sẽ trở thành những ngọn giáo đâm thẳng vào cộng đồng chúng ta. Có dứt khoát việc ngưng bơm tiền về Việt Nam dưới mọi hình thức thì đảng Cộng sản sẽ dãy chết như người nghiện khi thiếu bạch phiến !

Hành động chấm dứt gởi tiền đồng loạt sẽ chứng minh cho thế giới thấy thái độ dứt khoát của cộng đồng người Việt hải ngoại trong ván bài chót nhằm quật ngã chế độ Cộng sản Việt Nam hiện nay.

Đinh Lâm Thanh

* Trích trong "Một Đời Xót Xa", Nam Việt xuất bản và Tự Lực phát hành tháng 6/2008 tại Cali, USA.


NGHỊ QUYẾT 36 THẮNG LỚN - Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất


Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

(Lời nói đầu: Tiêu đề của bài viết là một câu nói khó nghe, nhưng chân thật. Nếu người Việt tỵ nạn chúng ta không thừa nhận sự thật, chúng ta lại sẽ mất trắng về tay bọn VGCS như chúng ta đã mất miền Nam . Chuyện này sẽ xẩy đến có lẽ chẳng bao lâu nữa. Thắng lợi Cờ Vàng lúc đó chẳng giúp ích gì cho chúng ta. Bởi vì thắng lợi đó chẳng qua chỉ là những quyết định hành chánh, chứ không phải là luật của nước Mỹ. Nó chỉ có tính chính trị mà không có tính cưỡng hành, và nhất là nó không đủ sức mạnh để ngăn chận những đợt sóng trở cờ đón gió xô tới. Vụ đài VNHN nên coi là một tiếng chuông cảnh báo, được coi là cuối cùng thì tốt nhất. Sau đây chúng tôi xin đi vào bài viết.)
------------ --------- --------- --------- --------- -

Bà Bút Vàng ngôn: tên Nguyễn Phương Hùng nói xấu giáo sư Vinh: ergo hắn là cộng sản. Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh phán: Tôi không nói anh (Nguyễn Phương Hùng) là CS, nhưng anh có những bài viết chứng tỏ anh là Việt gian. Còn nhà văn Chu Tất Tiến điểm mặt: Nam Nhân, Việt Thường luôn luôn đánh phá tất cả mọi người chống cộng, sure bọn này là CS. Đấy là vài ba điển hình tố cộng mà chúng tôi đọc được trên internet gần đây. Cả ba là những người có máu mặt trên báo chí, các diễn đàn, và trong cộng đồng. Những nhà chống cộng khác trong đám dân trên không chằng, dưới không rễ thì loạn trên các diễn đàn, không sao kể cho xiết. Thế nhưng, chuyện ông bà Dương Văn Hiệp, Lưu Lệ Ngọc, giám đốc của đài VNHN mời cán bộ tòa đại sứ VGCS tại Washington tới nhà ăn nhậu với cả đám nhân viên, bạn bè thì lại là chuyện bìn h thường, chả có con ma nào théc méc. May mà hai năm sau nhà báo Hồng Phúc mới khui ra. Giả như ông Hồng Phúc không ngứa miệng phun ra thì chuyện đã đi vào quên lãng. Các ông bà Ngô Ngọc Hùng, Dương Văn Hiệp, Lưu Lệ Ngọc vẫn nghiễm nhiên là các nhà chống cộng đầy thành tích. Chứ có ai rỗi hơi mà bới móc ra làm chi cho mệt xác, biết đâu còn mang họa vào thân. CS đặt tòa lãnh sự tại Houston , ai ai cũng nhoi nhoi phản đối. Các ông lãnh đạo chống cộng tại địa phương kêu gọi dân biểu tình trước một cái chợ. Đại thành công! Nghe đâu những 5 ngàn người. Biểu tình xong, ai về nhà nấy, thỏa mãn. Tự ái của đồng bào đã được vuốt ve: biểu tình những 5 ngàn người lận. Các nhà chống cộng lại ghi thêm được một thành tích hiển hách giữ làm credit để dùng cho sau này. Thằng CS vẫn cứ đặt tòa lãnh sự của chúng để tiện cấp chiếu khán cho đồng bào về nạp mãi lộ và du hí. Có sao đâu. Sự việc ồn lên một dạo, nhưng êm rồi. Lại đâu vào đấy: đường ta ta cứ đi, đường nó (VGCS) nó vẫn phăng phăng bước tới. Làm gì nhau đây! Chẳng lẽ đường lối hợp tác giai đoạn của nhà chống cộng Al. Hoàng với Việt Tân ép phê (effet) lẹ thế?

Hoạt cảnh chống cộng của chúng ta hiện nay đại khái là như vậy. Trước đây không có thế. Bây giờ thay đổi rồi. Người ta cho rằng đó là kết quả của Nghị Quyết 36 của VGCS. Ai tin cứ tin. Ai không tin thây kệ. Tự do mà! Dưới con mắt loạn thị của người viết thì quả thật nghị quyết 36 có vẻ đang thắng lớn. Nó thắng thế nào, thắng làm sao, và tại sao thắng, đó là những vấn đề chúng tôi muốn đem bàn đến ở đây.

Vài nét về Nghị Quyết 36

Phần lớn chúng ta có lẽ chỉ nghe nói Nghị Quyết 36 nhưng chưa thấy cái đồ quỉ này nó mặt ngang mũi dọc ra sao. Vâng, chính xác cái văn kiện này được gọi là Nghị Quyết 36/NQ-TW (Xin vắn tắt là NQ36) được Bộ CT đảng VGCS ban hành ngày 26-3-2004. Trước khi có NQ36, VGCS đã thử thời vận nhiều cách để nhử mồi người tỵ nạn ở nước ngoài. Nhiều tên trí thức ăn cơn quốc gia thờ ma CS như BS Bùi Kiện Tín ở Pháp, TS Phó Bá Long ở Canada (?) v.v. đã ra công khuyển mã giúp cho bọn VGCS, nhưng đều mang thất bại. Năm 1993, VGCS đã thử mở ra một cái gọi là Đại Hội Việt Kiều, Phó Bá Long xun xoe về tham dự có gởi kiến nghị xin VGCS bỏ chiếu khán cho Việt kiều về thăm nhà, dễ dãi việc mua nhà đất, và nhất là Long còn đề nghị VGCS ban lệnh đại xá cho tất cả mọi người bỏ nước ra đi tỵ nạn CS. Tội vạ gì mà đại xá đây, GS Long?

Cha đẻ của NQ36 là Phan Diễn. Phan Diễn đứng hàng thứ 15 trong Bộ CT đảng CS, bí thư thành ủy Đà Nẵng, một tên tham nhũng có hạng. Diễn là con Phan Thanh, cháu nội Phan Khôi. Cụ Phan Khôi là một nhà văn hóa lớn chủ trương Nhân Văn Giai Phẩm chống đảng nên bị thanh trừng và bị cô lập cho đến chết. Nếu Trường Chinh đấu tố bố mẹ đẻ ra hắn không làm chúng ta ngạc nhiên, thì chúng ta cũng chẳng nên lấy làm lạ chuyện Phan Diễn hoàn toàn vô cảm đối với việc người ông của hắn bị bạc đãi và bị đầy ải cho đến khi xuống lỗ. Đó là kết quả trăm năm trồng người của tên cáo già Hồ Chí Minh. Phan Diễn không những đã dửng dưng trước việc đảng đầy đọa ông nội hắn mà còn cúc cung tận tụy phục vụ CS bằng cách cuối đời đẻ ra cái NQ36 bất nhân mà chúng tôi đang nói đây.

NQ36 gồm có 4 phần. Phần cuối cùng phân công các cơ quan có trách nhiệm thì hành nghị quyết. Các phần 1 và 2 dành tâng bốc, vuốt ve, khuyến dụ, và hứa hẹn đủ điều với cộng đồng người tỵ nạn. Qua nghị quyết, VGCS công nhận người tỵ nạn, mà chúng đổi danh xưng gọi là người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài, thành công về nhiều mặt, có tiềm lực kinh tế lớn, có tinh thần yêu nước, gắn bó với quê hương. Chúng xác nhận có một số đã trở về đầu hàng VGCS và đóng góp cho chúng. Nhưng đồng thời chúng cũng không quên cảnh cáo rằng nhiều người vẫn còn ra sức chống phá CS. Tuy thế chúng lại nói đảng và Nhà nước luôn luôn coi cộng đồng người tỵ nạn là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, nên cần phải được săn sóc và giứp đỡ, nhất là trong các lãnh vực phát thanh, truyền hình và các nhu cầu về văn hóa. Chúng kêu gọi xoá bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp tạo ra, xây dựng tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Chúng hứa hẹn nhà nước sẽ thỏa thuận với các nước hữu quan về khuôn khổ pháp lý để đồng bào ổn định cuộc sống và bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng ngưới tỵ nạn theo luật pháp, công ước và thông lệ quốc tế. Chúng khuyến khích người tỵ nạn mau chóng hội nhập để làm ăn, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết, đùm bọc, thương yêu nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa bà con sinh sống với trong nước, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người, góp phần xây dựng quê hương đất nước, đặc biệt nhấn mạnh là chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung cuả dân tộc, nghĩa đúng của lối nói này là chống lại VGCS.

Phần 3 mới là chủ yếu của nghị quyết, gồm có các điểm sau đây:

1. VGCS sẽ tiến hành đàm phán và ký kết các thỏa thuận cần thiết với các nước, trong đó có các hiệp định lãnh sự, hiệp định tư pháp, bảo vệ lợi ích của người tỵ nạn, giải quyết các yêu cầu của người tỵ nạn liên quan đến vấn đề quốc tịch. Hứa tạo điều kiện để đồng bào tỵ nạn về thăm quê hương, thân nhân. Cụ thể hóa và hoàn thiện các quy định về xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại ở trong nước của người tỵ nạn, thông thoáng và đơn giản hóa các thủ tục. Giải quyết nhanh chóng thủ tục cho người tỵ nạn hồi hương hoặc về làm ăn, sinh sống có thời hạn ở trong nước. Tiếp tục giải quyết những vấn đề tồn tại về mua nhà ở trong nước, thừa kế, hôn nhân gia đình, nhận con nuôi ... liên quan đến người tỵ nạn. Dành cho người tỵ nạn giá dịch vụ như công dân trong nước

2. Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức hải ngoại vào công cuộc phát triển đất nước. Xây dựng chế độ đãi ngộ đối với chuyên gia, trí thức hải ngoại có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản lý, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao, góp phần phát triển nền văn hóa, nghệ thuật trong nước. Mở rộng hợp tác, thu hút sử dụng chuyên gia, trí thức hải ngoại tham gia các công việc ở trong nước, làm việc cho các chương trình, dự án hợp tác đa phương và song phương của Việt Nam với nước ngoài hoặc trong các tổ chức quốc tế có chỉ tiêu dành cho người Việt Nam và tư vấn trong các quan hệ giữa Việt Nam với đối tác nước ngoài.

3. Hoàn chỉnh và xây dựng mới các chính sách thu hút người tỵ nạn hoạt động đầu tư, kinh doanh ở trong nước. Mở rộng và tạo thuận lợi hơn nữa chính sách kiều hối. Phát huy khả năng của người tỵ nạn làm dịch vụ, thiết lập và mở rộng phong trào tiêu thụ hàng hóa của VN.

4. Đổi mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các hình thức tập hợp với mục đích khuyến khích những hoạt động hướng về quê hương của người tỵ nạn, nhất là của thế hệ trẻ. Chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người tỵ nạn, kể cả với những người mà VGCS coi là còn có định kiến, mặc cảm với chúng.

5. Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người tỵ nạn, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho người tỵ nạn, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng Internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt. Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên tỵ nạn. Tổ chức cho các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ cộng đồng. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ tỵ nạn về nước biểu diễn và tham gia các đoàn VN đi biểu diễn quốc tế. Thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật, triển lãm, hội thảo, du lịch về cội nguồn, tức là về phục vụ cho VGCS.

6. Đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác thông tin, tuyên truyền để bịt mắt người tỵ nạn về tình hình đất nước và chính sách của đảng CS. Đầu tư cho các chương trình dành cho người tỵ nạn của các đài phát thanh, truyền hình và Internet. Chú trọng đổi mới nội dung, hình thức. Hỗ trợ việc ra báo viết, mở đài phát thanh, truyền hình ở ngoài nước. Xây dựng thư viện trên mạng Internet để phục vụ người tỵ nạn. Hỗ trợ tiền bạc để vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc gửi sách báo, văn hóa phẩm ra hải ngoại để phục vụ cộng đồng tỵ nạn.

7. Hoàn chỉnh chính sách khen thưởng đối với người tỵ nạn có công đối với CS. Đồng thời có biện pháp đấu tranh phù hợp (tức là tiêu diệt) với những người có biểu hiện cố tình đi ngược lại với VGCS.

8. Củng cố và phát triển các tổ chức xã hội làm công tác vận động người tỵ nạn. Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài có trách nhiệm coi công tác đối với người tỵ nạn là một nhiệm vụ chính trị quan trọng. Chủ động tăng cường tiếp xúc, vận động, truyền bá và phổ biến chủ trương, chính sách của đảng VGCS.

9. Tăng cường cán bộ chuyên trách về công tác đối với người tỵ nạn tại cơ quan đại diện ngoại giao của VGCS ở những nơi có đông người tỵ nạn sinh sống. Một số bộ, ngành và một số tỉnh, thành phố có quan hệ nhiều với người tỵ nạn cần có bộ phận giúp cơ quan lãnh đạo trong công tác đối với người tỵ nạn. Bổ sung kinh phí cho công tác này.

Xét về mặt thực hành, các chính sách nêu trên có tác dụng hai mặt. Một là nó tạo ra con đường cho CS xâm nhập và trà trộn vào cộng đồng hầu lũng đoạn, chinh phục, và nhuộm đỏ khối người tỵ nạn chúng ta. Và hai là nó cung cấp cho người tỵ nạn một thứ vũ khí rất lợi hại để chúng ta tự đánh đấm, chém giết nhau không cần đến bàn tay của bọn VGCS. Tác dụng gây lũng đoạn này báo chí quen gọi là “chụp mũ” hay là “đội nón cối”. Sống trong một cộng đồng chống cộng mạnh, kẻ bị đội nón cối rất khó được tín cẩn. Hậu quả thê thảm của việc đội nón cối lên đầu nhau là người ta coi nhau là kẻ thù cần phải tiêu diệt còn hơn là CS. Rất nhiều người nhân danh chống cộng để đội nón cối lên đầu người khác, mặc dầu thời đại này đối với VGCS, dép râu, nón cối là thứ trang bị cá nhân cho các cán bộ CS đã hoàn toàn lỗi thời rồi. Có thể nói đa số những người tố cáo và chụp mũ kẻ khác đều mang tinh thần phe phái và định kiến: kẻ không theo chúng tôi và hành động khác chúng tôi tất nhiên là CS. Hà mỗ này cũng đã từng là nạn nhân của việc bị úp chụp cái nón cối lên đầu, nên bây giờ cứ như con chim bị ná vậy. Ngay cái tựa đề của bài viết này chưa biết chừng cũng có thể có kẻ vin vào đó la toáng lên rằng chúng tôi ca tụng CS hoặc làm lợi cho CS. Nhưng bất chấp, chúng tôi viết trong tinh thần tự kiểm để biết mình, biết người. Thế thôi. Chúng tôi không viết theo lối xảo ngôn của một số nhà chống cộng hiện nay để lừa bịp và ru ngủ quần chúng. Có kẻ viết rằng CS đang dẫy chết. Người khác lại bảo Hànội đang hoảng lên vì đảng đang tan rã. Chừng nào thì VGCS mới dẫy chết? Nó dẫy chết nhưng nó đang sắp nuốt sống cộng đồng tỵ nạn rồi đấy. Mở banh mắt ra mà nhìn. Nó tan rã ư? Một năm có được mấy đứa phải trả thẻ đảng vì bị đào thải, so với hàng ngàn hàng vạn đứa khác đạp lên nhau để mong được vào đảng. Đó là sự thực. Hãy lương thiện với đồng bào. Hãy nói lên sự thật cho đồng bào nghe. Đừng phỉnh gạt, dấu giếm, lừa bịp, tội nghiệp đồng bào. Với một cái nhìn lương thiện thì NQ36 đang thành công lớn cả về hậu quả xâm nhập lẫn tác dụng gây phân hóa trong cộng đồng.

Hậu quả của xâm nhập

Có ai trong chúng ta còn nghi ngờ việc VGCS len lỏi xâm nhập vào hàng ngũ người tỵ nạn không? Chắc chắn là không, mặc dầu chúng ta chưa bao giờ bắt được tại trận một tên VGCS nào hết. Nhưng chúng ta tin và điều tin tưởng của chúng ta là thật, chỉ đơn giản dựa trên sự thật lịch sử là ngày xưa chúng ta có cả một chế độ vững chắc, một quân đội hùng mạnh, cùng với nhiều cơ quan an ninh dầy đặc mà còn có những tên VGCS trà trộn vào ở hẳn trong dinh Độc Lập được, thì bây giờ trong một cộng đồng phân hóa như hiện nay, VGCS đi vào sống giữa chúng ta là chuyện quá dễ dàng. Chúng có thể là du học sinh, là cán bộ đi tu nghiệp, là thương gia đi khảo sát thị trường, là người di tản buồn, là thuyền nhân, là diện ODP, diện con lai, diện bảo lãnh, thậm chí cả diện HO (lao) nữa. Nói tắt một câu, cán bộ CS len lỏi vào sống trong cộng đồng là điều không còn gì phải thắc mắc. Chúng ta không căn cứ vào đâu được để xác định tên A, tên B là VGCS. Nhưng nhìn vào một số lãnh vực sinh hoạt hàng ngày trong cộng đồng thì thấy rõ là có VGCS hiện diện giữa chúng ta thật, và ảnh hưởng của chúng đang mỗi ngày mỗi lớn dần. Sau đây chúng tôi xin nêu lên một số hiện tương trong các lãnh vực sinh hoạt trong cộng đồng tỵ nạn chúng ta để mọi người thấy rằng VGCS đã xâm nhập vào trong cộng đồng đến mức nào rồi.

1. Làm ăn thương mại

Trước kia không người tỵ nạn nào dám hở miệng nói ra là họ có dính líu làm ăn buôn bán với CS. Nhưng bây giờ, nhiều con buôn tỵ nạn công khai giao dịch với cán bộ CS không cần giấu diếm. Chúng ngang nhiên đến dự tiệc chiêu đãi của Nguyễn Minh Triết, của Nguyễn Tấn Dũng. Chúng mời cán bộ CS về nhà ăn nhậu mà chẳng thèm sợ ai đàm tiếu. Còn hơn thế nữa, bọn cán bộ trong nước dám công khai tạo mãi các khu thương mại trên đất Mỹ ngay tại khu vực đông người tỵ nạn để chúng ta làm giầu cho chúng. Chẳng còn ai nghi ngờ về chuyện bọn mafia CS mua những cơ sở thương mại và dịch vụ tại hải ngoại để kinh doanh, hoặc do con cái của chúng đang ở ngoại quốc đứng tên, hoặc do người tỵ nạn là bà con đứng tên dùm. Có trường hợp được đươc nhận diên, nhưng nhiều trường hợp khác còn được giấu kín. Người tỵ nạn đem tiền về VN tiêu xài hay gởi tiền về trong nước dưới nhiều hình thức. Tiền này chui vào túi các cán bộ CS. Đồng tiền đó lại được bọn tư bản đỏ đem ra nước ngoài kinh doanh buôn bán. Đây là một chuyến đi khứ hồi của đồng dollar Mỹ. Thử hỏi xem có ai trong chúng ta coi đó là một thách đố không? VGCS kêu gọi người tỵ nạn đem tiền về đầu tư, nhưng chính chúng lại đi đầu tư ở ngước ngoài. Sự thể cho thấy là một mặt bọn VGCS không còn tin tưởng vào tương lai của chế độ, nhưng mặt khác chúng đạt được thành công trong việc biến khối người tỵ nạn thành những kẻ làm giầu cho chúng. Người tỵ nạn tự nhiên trở thành những con bò cho bọn mafia CS vắt sữa ngay trong những cái chuồng mà đồng bào tạo dựng nên. Lợi nhuận do việc đầu tư này VGCS dùng để tài trợ cho các hoạt động đánh phá người tỵ nạn, một phần chúng nuôi bọn chống cộng cò mồi ở hải ngoại. Mối nhục lớn cho cộng đồng là các nhà chống cộng của chúng ta cứ mỗi khi hoạt động lại phải ngửa tay xin tiền từ các tên VGCS hoặc những kẻ làm ăn với chúng. Nếu bỏ chút ít tiền bạc ra mướn lũ cò mồi chống cộng cho vui thì tại sao chúng không làm. Chúng có thiệt hại gì đâu. Cuộc đấu tranh chống cộng vì có lũ cò mồi đã trở thành trò hề lố bịch. Lãnh tiền của CS để chống cộng. Tiếu lâm thật, nhưng lại là thực tại muôn thuở.

2. Văn hóa, văn học

Sách báo tuyên truyền của VGCS bầy công khai trong các tiệm sách, thư viện, những nơi có đông người tỵ nạn. Các cuộc trao đổi giáo sự, sinh viên diễn ra hầu như thường xuyên giữa các đại học trong và ngoài nước. Con em người tỵ nạn về trong nước học hỏi được cái gì từ đỉnh cao trí tuệ VGCS? Hiện tượng giao lưu văn hóa qua cái gọi là hội thảo chuyên đề của các nhà trí thức trong và ngoài nước cũng đã thấy lai rai xẩy ra. Điều đáng ngạc nhiên là các nhà trí thức tại hải ngoại lại không hề nghĩ là mình đang tự chui vào cái tròng hoà hợp hòa giải của VGCS. Bằng cấp cao nhưng trí đoản của bọn school smart (mọt sách) là như thế. Thực tế đang diễn ra, đám khoa bảng thường lại là những kẻ có tinh thần chủ bại và đầu hàng trước nhất. Người bình dân về VN thăm nhà nhưng tinh thần chống cộng vẫn quyết liệt. Trái lại bọn trí thức sẵn sàng HHHG với VGCS dưới các chiêu bài mầu mè. Ai là người chịu trách nhiệm để cho các loại văn hóa phẩm và tài liệu tuyên truyền xâm nhập. Người bình dân bận làm ăn rất ít đọc sách. Tuổi trẻ trình độ Việt ngữ đủ đâu vào đâu mà đọc tiếng Việt. Vậy thì ai vào đây, ai thích đọc và ai cần đọc sách của CS?

3. Tổ chức, đoàn thể

Cán bộ CS xâm nhập để lũng đoạn, làm ung thối, và phân hóa các đoàn thể, tổ chức của người quốc gia là chuyện xưa như trái đất rồi. Trước năm 1975, CS len lỏi trà trộn vào quân đội, cảnh sát, đảng phái, báo chí, cả đến các tôn giáo bằng đủ mọi hình thức. Ngày nay cũng sách đó thôi. Không đoàn thể nào, tổ chức nào, cộng đồng nào không bị chia năm sẻ bẩy do CS và tay sai xâm nhập phá hoại. Lạ lùng thay, nhóm nào cũng có người theo, người ủng hộ. Rõ ràng là đồng bào không có khả năng phân biệt được ai là CS, ai quốc gia, ai chống cộng thiệt, ai chống cộng cuội, mà chỉ a dua theo cảm tính. Ai là kẻ đứng sau lưng để phá nát các công đồng, đoàn thể? Không ai cả, mà chỉ toàn thấy rặt là những nhà chống cộng rất hăng say và to tiếng. Nếu cứ tính công sức những nhà chống cộng này đổ ra cho công cuộc chống cộng thì chắc chắn bọn CS nằm vùng đã không còn đất sống, thậm chí cái chế độ của chúng ở trong nước cũng đã bị tiêu ma lâu rồi. Nhưng kết quả ngược lại, CS càng ngày càng xâm nhập sâu hơn vào các cộng đồng đủ mọi ngành nghề, mọi sinh hoạt, và càng ngày chúng càng tung hoành trắng trợn hơn, mọi người đều thấy nhưng không làm gì được, bởi vì có nhiều người theo chúng. Người nặng đầu óc mê tín thì cho rằng NQ36 là một thứ bùa ngải rất linh. Nó có sức trấn áp mọi phương pháp chống lại nó. Nhưng người không tin vào bùa ngải quyết đoán rằng không có bùa ngải gì cả, chẳng qua là tại bọn VGCS học mót cái bí quyết quốc truyền của tổ phụ Washington của nước Mỹ thôi. Bí quyết này đã được chứng minh là cực kỳ hiệu nghiệm. Nó có thể đạp đổ những thần tượng cao ngạo nhất. Nó ngồi một chỗ mà với tay ra tận ngàn dặm giết chết lãnh tụ của một nước khác dễ như chơi. Nó còn có khả năng như một nhà ảo thuật đại tài, làm biến mất một quốc gia khỏi bản đồ thế giới. VGCS có tiền rừng bạc bể lại nắm được bí quyết này trong tay, hèn chi mà cộng đồng tỵ nạn không rã như vôi vữa gặp mưa.

4. Từ thiện, bác ái

Đây là mặt NQ36 xâm nhập mà người tỵ nạn khó đối phó nhất. Trước những thiên tai bão lụt và những khó khăn thiếu thốn của đồng bào trong nước, nếu chúng ta bỏ mặc thì chính chúng ta tự cảm thấy nhẫn tâm. Nhưng đã có quá nhiều kinh nghiệm cho thấy lòng bác ái của người tỵ nạn đã bị lợi dụng quá đáng. Có thể nói không có đồng tiền nào của chúng ta bỏ ra cứu giúp đồng bào nghèo trong nước mà không bị chia năm sẻ bẩy, đến được tay đồng bào thì ít, chui vào túi bọn cán bộ thì nhiều. Đấy là chưa kể gặp phải bọn lưu manh lấy công việc từ thiện như một nghề sinh sống. Tình trạng này vô tình biến nhiều người vốn có lòng hảo tâm trở thành ích kỷ, và bọn tay sai CS đội lốt làm từ thiện mặc sức lộng hành.

5. Văn nghệ và truyền thông

Phải nói tác hại lớn nhất mà NQ36 đưa đến là việc san bằng lằn ranh quốc cộng trong lãnh vực văn nghệ và truyền thông. Về văn nghệ, như chúng ta thấy hiện nay, ca sĩ trong nưóc hoàn toàn thoải mái khi ra hát tại hải ngoại, nếu không mốn nói là còn được nâng niu chiều chuộng rất mực nữa là khác. Đổi lại, ca sĩ hải ngoại về trình diễn trong nước cũng được đón tiếp niềm nở. Sự khác biệt ở chỗ là ca sĩ hải ngoại trở về hầu như không em nào không nói vài cầu bợ đỡ CS để lấy lòng. Hèn và đê tiện. Xướng ca vô loài, người xưa đánh gia không sai. Trong khi đó bọn con hát trong nước ra lại thường kênh kiệu lên mặt. Có đứa còn lớn lối đe dọa chôn sống cộng đồng tỵ nạn. Vô giáo dục. Cũng lại là xướng ca vô loài nữa. Một đứa hèn vì sợ bóng sợ gió, một đứa mất dậy với tâm lý đắc thắng cho thấy sự hiệu lực của tác dụng đồng hóa trong lãnh vực ca nhạc tới mức nào.

Đồng hóa là bước kế tiếp chủ yếu sau bước xâm nhập. Đồng hóa cũng có nghĩa là hòa hợp hòa giải (HHHG), nhưng nó gỡ bỏ được cái rào cản ý thức thệ của người Việt hải ngoại một cách tự nhiên và êm thấm hơn. Ban đầu người tỵ nạn còn chống các con hát từ trong nước ra, nhưng dần dần nhiều người đã không còn muốn chống vì ghiền giọng rên của bọn con hát trong nước đến nỗi không nghe nhớ chịu không nổi. Các trung tâm băng nhạc và các tay cai thầu văn nghệ biết rất rõ tâm lý đó nên đã mặc tình thao túng.Bọn này rất hăng hái vinh danh QLVNCH nhưng lại âm thầm làm công cụ của NQ36. VGCS không đứng ra làm công việc hòa hợp này mà để cho người tỵ nạn tự làm lấy qua trung gian các trung tâm băng nhạc và bọn cai thầu văn nghệ. Chính sách dùng người của địch để thôn tính và cai trị địch đã có từ thời Triệu Đà xâm lăng Âu Lạc của Thục An Dương Vương, được gọi là “Dĩ di công di”. Hiện nay bọn Tầu cộng cũng áp dụng chính sách Dĩ di công di để xâm lăng nước ta.

Chính sách Dĩ di công di càng trở nên hiệu nghiệm khi VGCS dùng văn nghệ tỵ nạn, nói chung là nền ca nhạc thời chinh chiến để hội nhập người tỵ nạn với CS một cách rất tài tình mà ít người nhìn ra. Thật vậy, cuộc chiến đấu tự vệ của nhân dân miền Nam sở dĩ còn được lưu hương cho đến ngày nay ngoài việc nó có chính nghĩa, mà còn đặc biệt nhờ tính chất vừa bi hùng vừa lãng mạn của nó nữa. Nói chiến tranh mà lãng mạn thì có lẽ là nghịch lý. Nhưng đúng chứ không sai. Bóng dáng người lính chiến đậm nét phong sương nhưng kiêu hùng đã một thời là mơ ước của các cô gái miền Nam . Người lính chiến trở thành một thứ thần tượng trong trái tim của phần lớn thiếu nữ trẻ. Thật vậy, không có gì đẹp bằng hình ảnh một chàng trai lãng tử vừa ôm súng gác vừa làm thơ, giết địch xong là ngồi xuống viết thư tình, trong giao thông hào vẫn kể chuyện tình sử cho nhau nghe, về đến doanh trại là ba chân bốn cẳng dọt đi thăm người yêu … Trên thế gian này không có thứ lính tráng nào kiêu hùng và lãng mạn đến như thế. Và tất nhiên cũng không có cuộc chiến nào tàn khốc nhưng lại đẹp và nên thơ như thế. Nét đẹp đó chỉ tìm thấy trong cuộc chiến đấu chống CS xâm lược của nhân dân miền Nam được diễn tả qua hàng ngàn ca khúc rất mê hoặc. Những giá trị văn học nghệ thuật này đã trỏ thành bất tử, và sẽ còn tồn tại và lưu truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ đời nọ qua đời kia, thời gian chắc chắn không thể nào bôi xóa được. VGCS biết rất rõ điều đó. Chúng muốn xóa đi nhưng không xóa nổi nên đành phải thả lỏng cái thứ văn nghệ “phản động” này với ý đồ tương kế tựu kế để chinh phục người tỵ nạn. Đó là lý do tại sao có chuyện ca sĩ vẹm cũng hát nhạc lính trên những sân khấu hải ngoại, chỉ trừ những ca khúc mang tính chiến đấu cao và quá rõ rệt. Ngày nay, những ca khúc thời chinh chiến bị trộn lẫn với loại nhạc “mì ăn liền” đang thịnh hành tại hải ngoại và được biết trong nước cũng thế. Nó vừa trở thành cái cần câu cơm cho bọn con buôn văn nghệ (và cả cho lũ VGCS nữa), đồng thời còn là phương sách rất tự nhiên và hữu hiệu để đồng hóa người tỵ nạn. Hát nhạc lính dể vinh danh QLVNCH thì ai bắt bẻ và chống đối được. Nhưng điều trớ trêu là người ca sĩ mới về nước hát ca tụng CS, vừa trở ra lại hát vinh danh người lính VNCH. Người quân nhân QLVNCH cần bọn thợ hát vô luân này vinh danh sao? Điều bất nhân không thể tha thứ được là có trung tâm băng nhạc của người tỵ nạn hoặc cai thầu văn nghệ đã tự ý sửa lời của một số ca khúc để được VGCS chấp nhận cho hát.

Truyền thông cũng giống như văn nghệ. Có thể nói truyền thông cũng là lãnh vực xâm nhập thành công nhất của NQ36. Rất nhiều người cho rằng VGCS đã mua được hầu hết các cơ quan truyền thông của người Việt tỵ nạn. Cũng không sai lắm. Một số chương trình phát thanh và báo chí lấy lý do chống Tầu cộng, công khai kêu gọi người tỵ nạn hòa hợp hòa giải với VGCS. Điều lo ngại này có cơ sở dựa trên hai lý do. Thứ nhất là vì cái bụng. Thực tế là rất ít có tờ báo nào hoặc đài phát thanh nào tự trang trải được chi phí nhờ vào quảng cáo. Ở Mỹ, tiền mướn đài tính theo giá Mỹ, trong khi quảng cáo tính theo giá VN. Nhân viên, biên tập viên, xướng ngôn viên thường phải sinh sống bằng nghề khác. Nhiều người làm truyền thông không lương vì yêu nghề. Thực trạng đó bắt buộc người chủ đài phải nghĩ đến chuyện kiếm tiền bằng cách khác để nuôi sống đài, và nhất là nuôi sống bản thân và gia đình. Việc họ sa vào tay bọn VGCS hay những thế lực đen tối khác là điều dễ hiểu. Người Mỹ nói đúng, kẻ nắm túi tiền, người đó điều khiển. Lý tưởng này, lý tưởng nọ đành phải gác qua một bên. Thứ hai là ỷ vào cái lá chắn tự do. Ở các nước phương Tây, nhất là tại Hoa Kỳ, tự do ngôn luận và tự do thông tin thường được coi là vô giới hạn, được luật pháp bảo vệ. Sự lạm dụng tự do quá trớn là cánh cửa lớn cho CS xâm nhập và những con buôn trong ngành truyền thông ruớc CS vào. Chúng ta thấy rất rõ nhưng đành chịu bất lực, không làm gì được.

Trên đây chỉ là một số khía cạnh trong đời sống hàng ngày của người tỵ nạn mà bọn VGCS đã thọc bàn tay vào một cách rõ rệt qua NQ36. Còn rất nhiều mặt khác chưa dám quyết đoán, nhưng đã có những dấu hiệu đáng nghi ngờ. Chắc chắn thời gian sẽ trả lời.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất


Monday, November 16, 2009

Cộng Sản Hà Nội Đi Về Đâu? - Nhã Nam



Nhã Nam

Nếu ai đã đọc 2,000 ngày Trấn Thủ Củ Chi của Xuân Vũ, thì đều biết, qua tác phẩm đó ông đã nêu lên, trong những năm của thập niên 60, tình trạng thật bi đát của cục R, của lực lượng Giải Phóng Miền Nam và qua đó chúng ta thấy được, cuộc xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa do Cộng Sản Miền Bắc chủ động giải phóng Miền Nam để thống nhất đất nước, chỉ là chiêu bài hầu che dấu manh tâm của cộng sản Hà Nội là, miền Bắc vào cai trị miền Nam.

Để nhận thức được thực chất miền Bắc trị miền Nam như thế nào, hãy ngược dòng thời gian nhìn lại những nhà trí thức miền Nam, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trần Bửu Kiếm, Dương Quỳnh Hoa, Trịnh Đình Thảo, Tôn Thất Dương Kỵ, Lê văn Hảo … trong thời gian thành lập Mặt Trận Dận Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN), họ đã vô cùng phấn khởi khi tin vào lời hứa của Lê Duẩn, sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đảng sẽ để cho CPLTCHMNVN điều hành và quản trị theo thể chế dân chủ cộng hòa, song song với miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa … đến khi toàn dân yêu cầu thống nhất tổ quốc thì sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Thế nhưng khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, những nhà trí thức ngây ngô này đã trở thành những vật tế thần đáng thương, khi Trần Bửu Kiếm với tư cách đại diện ủy ban soạn thảo gởi bản dự thảo ra Hà Nội, Lê Duẩn đã phẩn nộ khi nhận được bản dự thảo kế hoạch hậu chiến của CPCHMNVN, triệu tập bộ chính trị và lật lọng nói:” Đảng ta không chấp nhận chủ nghĩa địa phương cục bộ của một số phần tử trí thức miền Nam! Đảng ta cương quyết không dung dưỡng ý thức hai thể chế trong một nước việt Nam thống nhất… phải thống nhất tổ quốc trước năm 1976. Do đó đã bức tử CPCMLTCHMNVN và sáp nhập

MTDTGPMNVN vào Mặt Trận Tổ Quốc để thống nhất đất nước theo chủ nghĩa xã hội vào cuối năm 1975.

Sự thống nhất này đã vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris 1973, làm mất đi sự viện trợ của các nước tư bản cho miền Nam thời hậu chiến, và chính sự vội vã này đã không có đủ thời gian tính để chuẩn bị cho sự hội nhập của hai nền kinh tế khác biệt giữa Bắc và Nam, đã nhanh chóng đẩy nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Hãy nghe lời than uất nghẹn của Nguyễn Văn Trấn trong Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội: ”Nếu đã gấp rút thống nhất về hành chánh hai miến đất nước, thì sự phát triển kinh tế đòi hỏi một sự chỉ đạo chiến lược cho sự phát triển toàn diện …. Tư tưởng địa phương chúa, miền Bắc đối với địa phương chư hầu, miền Nam đã dẫn đến hậu quả rất tai hại: cái miền Bắc xí phần với miền Nam mà cưỡng ép sự thống nhất đã phá hoại môi trường của Chính Phủ Cách Mạng Miền Nam tranh thủ sự giúp đỡ của các nước tư bản, của Asean. Cái thống nhất cùng sánh vai tiến lên xã hội chủ nghĩa, đối ngoại làm xấu đi quan hệ có thể thiết lập được, đối nội thì gây một sự sợ hãi ngay trong lớp trung lưu giàu có và trí thức.”*

Sự lật lọng và phản bội trắng trợn này đã dấy lên mầm mống chống đối ngầm của những cán bộ cách mạng tập kết miền Nam, và Họ chỉ chực chờ cơ hội để bộc phát. Cơ hội đó đã đến, khi Mikhail Gorbachev, đề ra chương trình tái cấu trúc và chính sách cởi mở để cứu vản nền kinh tế khủng hoảng của Nga, thì tại Việt Nam Nguyễn Văn Linh sau khi lên làm Tổng Bí Thư trong những năm giữa thập niên 80 đã theo lối mòn đó, cũng hô hào cởi mở. Lồng theo chính sách cải cách và cởi mở (nửa vời) này, để thể hiện sự phản kháng của mình, những cán bộ miền Nam tập kết điển hình, Nguyễn Văn Trấn, Trần Văn Trà, Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng, Đỗ Trung Hiếu … đã tập hợp lại trong Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ (CLBNNKCC) với đặc san Truyền Thống Kháng Chiến (TTKC), họ nhằm mục đích đẩy mạnh phong trào dân chủ hóa, công khai hóa, phản ánh các mặt đấu tranh đòi đổi mới theo nghị quyết đại hội 6. Đặc san này chỉ làm theo tinh thần của nghị quyết của đại hội 6, nhưng họ vẫn bị chụp mũ là biên soạn, phổ biến tài liệu có nội dung xuyên tạc chế độ xã hội chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Dù đặc san TTKC bị ngưng hoạt động sau đó không lâu nhưng nhóm họ vẫn tiếp tục tranh đấu. Năng nổ nhất trong giai đoạn này là Nguyễn Hộ, chủ tịch CLBNNKCC đã trả thẻ đảng, bị đưa ra tòa, qua vụ án Nguyễn Hộ, bị quản thúc tại gia nhưng vẫn hiên ngang phản kháng cho đến ngày nhắm mắt. Bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam cho rằng, CLBNNKCC là tổ chúc chống đảng sau Nhân Văn Giai Phẩm.

Dư âm chống đảng của CLBNNKCC vẫn còn chưa dứt, nhất là sau biến cố 1991 tại Nga đã kéo theo sự sụp đỗ hoàn toàn chế độ cộng sản tại Nga và tại Đông Âu, thì tại miền Bắc các cựu đảng viên cách mạng lão thành, các cựu chiến binh cao cấp, các nhà trí thức, khoa bảng Bắc, Nam: Trần Độ, Phạm Quế Dương, Bùi Tín, Vũ Tu Hiên, Trần Xuân Bách, Trần Khuê, Nguyển Thanh Giang, Hoàng Minh Chính, Bùi Minh Quốc, Tiêu dao Bảo Cự, Hà Sĩ Phu, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đăng Quế, Nguyễn Đình Huy cùng với các lãnh tụ của các đoàn thể tôn giáo: Nguyễn Quang Vinh, Hồ Tấn Khoa, Lê Quang Liêm, Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Văn Cội, Trần Đình Ái, Nguyễn Hồng Quang, Nguyễn Văn Lý, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sĩ, Thích Thiện Minh … và được sự hổ trợ của lực lượng người Việt hải ngoại và quốc tế, đã tiếp nối và làm mạnh hơn. Nếu CLBNNKCC chỉ đề nghị thi hành đúng đắn tinh thần nghị quyết của đại hội 6,thì ở giai đoạn này kéo dài cho đến nay, không còn hiền hòa như trước, chỉ đề nghị và yêu cầu, họ đã đi thẳng vào vấn đề, sẽ không thể có sự phát triển kinh tế để theo kịp các nước ở Đông Nam Á nếu cứ vẫn duy trì chính sách kinh tế quái dị, kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó phải có sự thay đổi tận gốc rễ: muốn phát triển kinh tế phải có sự tự do về chính trị, khi đã có sự tự do chính trị thì phải có sự tự do kính tế đi kèm theo. Sau đó họ còn đi xa hơn nữa, chống tham nhũng và đòi hủy bỏ điều 4, nghĩa là đa nguyên, đa đảng.

Nhũng nhân vật chống đối và đòi hỏi quyết liệt trong giai đoạn này là, Trần Độ, Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Lê Quang Liêm, Nguyễn Hồng Quang, Nguyễn Văn Lý, Thích Tuệ Sĩ, Thích Thiện Minh …, nhất là Trần Độ, một tướng lãnh về hưu từng giữ những chức vụ quan trọng trong quân Đội và trong đảng, dù bị trù dập, hăm dọa, bắt bớ và khai trừ ra khỏi đảng nhưng ông vẫn tiếp tục tranh đấu tự do, dân chủ cho Việt Nam cho đến chết.

Thử cho rằng, sự đấu tranh của các thành phần kể trên, chẳng qua chỉ vì bị mất mát về quyền lợi của cá nhân hay của đoàn thể? Nếu quả thực như vậy, thì tại sao trong giai đoạn này lại có những người trẻ: Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn, Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, Phương Nam, Đỗ Nam Hải … họ là những người đã được sinh ra và lớn lên trong sự nuôi dưỡng và giáo dục của một nền văn hóa ưu việt được mệnh danh là, đỉnh cao của trí tuệ loài người, nghĩa là đã không bị ảnh hưởng chút nào đến cái nền văn hóa được gọi là “nền văn hóa đồi trụy” của Mỹ – Ngụy, nhưng vì sao họ đã quay lại 180 độ để dấn thân chống lại cái chế độ đã dạy dỗ và cưu mang họ? Phải chăng, họ đã tìm được câu trả lời cho sự dấn thân thân của mình khi nhìn về nước Nhật, từ một nước bại trận năm 1945, đất nước bị tàn phá, nhưng chỉ 30 năm sau năm 1975 dưới chế độ tự do, dân chủ nước Nhật đã trở thành một trong những cường quốc về kinh tế của thế giới. Cũng thời gian 30 năm đó, Viêt Nam thống nhất đất nước năm 1975 với tài nguyên phong phú hơn gấp bội phần, nhưng dưới chế độ cộng sản độc tài đảng trị, đến năm 2005 họ đã đưa đất nước cũng trở thành, thay vì giàu mạnh, trở thành một trong những nước nghèo nhất thế giới!

Cộng sản Hà Nội cũng biết được điều đó nhưng ở họ, chỉ biết quyền lợi của bè nhóm hơn là quyền lợi của đất nước, bất chấp mọi đối kháng để bám lấy quyền lực, và chính điều này đã và đang đưa họ, lâm vào trình trạng khủng hoảng nội bộ. Sự khủng hoảng này đã có từ lâu, nhưng chỉ được nổ mạnh khi Võ Nguyên Giáp, sau đó tướng Nguyễn Nam Khánh cùng với Đồng Văn Cống, Phạm Văn Xô (hai người này là thượng cấp trực tiếp của Lê Đức Anh trước đây ở chiến trường miền Nam), Nguyễn Văn Thi tố đích danh Lê Đức Anh đã khai man lý lịch, về ngày nhập đảng và cũng còn tố cáo tập đoàn Lê Đức Anh – Đỗ Mười đã sử dụng T4, Tổng Cục 2 là công cụ, để lập hồ sơ giả mạo nhằm vu khống để loại bỏ những thành phần không cùng phe, nhóm với mình. Sự khủng hoảng này càng ngày, càng đưa đến trình trạng chia rẻ trầm trọng nội bộ của cộng sản Hà Nội hơn khi Võ Văn Kiệt đăng đàn với những bức thư, chỉ trích mạnh mẽ những sai phạm của chính sách độc tài hiện hành cần phải sửa đổi, và đồng thời góp ý kiến cho kế hoạch 5 năm của đại hội đảng cộng sản lần thứ 10, ông đã nhấn mạnh, muốn phát triển kinh tế của đất nước, thì phải có dân chủ, tự do. Qua đó cho chúng ta thấy, nội bộ đảng cộng sản Hà Nội đã vỡ ra , phe Võ Nguyên Giáp với những cựu tướng lãnh hồi hưu và các nhà cách mạng lão thành cộng với Võ Văn Kiệt cùng với những cán bộ tập kết miền Nam và phe Lê Đức Anh – Đỗ Mười đang cầm quyền.

Dù đang rất bận rộn công du đây đó, Hồ Cẩm Đào đã tìm cách dành thời gian để vội vàng sang thăm Việt Nam lần thứ ba, trong cương vị người quyền lực nhất nuớc Trung Quốc vào cuối tháng 10 năm 2005, trước ngày họp hội nghị trung ương đảng lần thứ 13, để cứu vãn và thêm sức cho phe đàn em tay sai Lê Đức Anh – Đỗ Mười. Nhưng vẫn chưa yên tâm, trước ngày đại hội đảng khoảng tuần lễ, Hồ Cẩm Đào lại phái nhân vật thứ tư của bộ chính trị Giả Khánh Lâm sang để tạo thêm ảnh hưởng trong việc sắp xếp nhân sự trong bộ chính trị và chính phủ qua việc yêu cầu, đồng chí Hồ Cẩm Đào mong muốn đồng chí Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng. Điều này đang báo trước, sẽ có nhiều màn đấu đá và chia rẽ trầm trọng cung đình nội bộ cộng sản Hà Nội trong kỳ đại hội đảng lần thứ 10 được tổ chức vào giữa năm 2006 và sẽ kéo dài trong tương lai.

Khi đã được theo ý muốn không lâu sau đó Hồ Cẩm Đào đã cho 16 chữ vàng để thể diện tình bạn láng giềng thấm thiết: láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai và theo tinh thần 4 tốt, láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.

Thực chất cùa 16 chữ vàng này chỉ là hình thức che dấu sau này về tình trạng chủ tớ hay nói khác đi cung cách thiên tử và chư hầu giữa Trung Quốc và Việt Nam qua nhũng việc: dù nhiều thành phần trong xã hội nhất là Võ Nguyên Giáp đã hai lần gửi thư cho bộ chính trị cảnh giác về mối tai hại khôn cùng về môi sinh cũng như yếu tố rất quan trọng về chiến lược khi cho Trung Quốc khai thác bauxite tại Cao Nguyên Trung Phần (Tây Nguyên) mà không qua một cuộc đấu thầu nào cả, nhưng cộng sản Hà Nội đã bỏ ngoài tai những ý kiến đóng góp đó mà còn cho là, đây là kế hoạch lớn của đảng! 16 chữ vàng không dừng tại đó, đã cưởng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam để sáp nhập vào huyện Nam Sa, tỉnh Hải Nam và sau đó tự ý khoanh vùng lãnh hải hình lưõi bò mà phần lớn lãnh hải Việt Nam lọt vào vùng lưỡi bò này. Từ đó những tàu, thuyền Việt Nam đánh cá trong vùng lãnh hải của mình nhưng đã bị Trung Quốc tự cho là của họ nên đã ngang nhiên bắn giết hay giam giử các ngư nhân Việt Nam để sau đó đòi tiền chuộc mạng… Với những hành động ngang ngược kể trên, cộng sản Hà Nội chỉ lên tiếng đề nghị thay vì gửi công hàm ngoại giao để quyết liệt phản đối.

Trứơc thái độ ương hèn và khiếp nhược của cộng sản Hà Nội qua việc khai thác Bauxite, Trường Sa, Hoàng Sa và vùng lãnh hải lưởi bò, nhân dân trong nước (kể cả hải ngoại) không thể chấp nhận nên họ đã biểu lộ lòng công phẩn đối với cộng sản Hà Nội và qua đó thể hiện lòng yêu nước của mình chống giặc ngoại xâm tiêu biểu: Nguyễn xuân Nghĩa, Nguyễn Hữu Tín, Nguyễn Mạnh Sơn, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Kim Nhàn, sinh viên Ngô Quỳnh, Phạm Văn Trội, nhà giáo Vũ Hùng, Blogger Mẹ Nấm, Blogger Người Buôn Gió, Phạm Ðoan Trang Cộng sản Hà Nội chẳng những đã không hổ trợ mà còn nêu lý do, đã bị bọn xấu, diễn tiến hòa bình giựt dây chống lại nhà nước để trù dập, bắt bớ, đưa ra tòa và tù tội.

Trước tình trạng bất ổn ở trong nước: một nội bộ mâu thuẫn và chia rẽ, các đoàn thể tôn giáo đòi hỏi tự do tôn giáo, các cao trào đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền đang nở rộ trong nước và nhất là bản chất bán nước chỉ vì quyền lợi của phe nhóm.

Với tình huống đó đã đẩy tương lai của cộng sản Hà Nội sẽ đi về đâu? Câu trả lời không thể nào khác hơn là, chắc chắn sẽ đi đến tình trạng cáo chung.

Đến đây câu hỏi được đặt ra, lực lượng người Việt hải ngoại phải làm gì để hổ trợ cho Nguời Dân trong nước nổi dậy làm cuộc cách mạng để đẩy sự cáo chung đến sớm hơn.

Nhã Nam