Thursday, November 12, 2009

Trung Tá Võ Phi Sơn - Đỗ Văn Phúc

Đỗ Văn Phúc
Trung Tá Võ Phi Sơn
Ba mươi lăm năm sau ngày Quốc Hận 30-4-1975. Có ai ngờ những em bé ngày nào bám chéo áo mẹ, hốt hoảng và ngơ ngác trước cơn bão táp đen tối đang ập vào miền Nam thân yêu, nay đang trưởng thành trên quê người với nhiều thành tích đáng nể.

Gần như mỗi ngày, mỗi tháng, chúng ta đều nghe đến một vài tên tuổi mà sự thành đạt của họ trên các lãnh vực đã làm cho gia đình và cộng đồng hãnh diện. Họ đã làm cho người bản xứ thay đổi cách nhìn về người tị nạn VN. Và cũng chính họ, sẽ đánh bật hình ảnh của những kẻ phản bội Brian Đoàn, Ysa Le, Trâm Lê …

Các em xứng đáng là tương lai Việt Nam. Nhất là các em mà trong lòng luôn ấp ủ hình ảnh quê hương quá lá Quốc Kỳ màu vàng ba sọc đỏ, các em biết nói lời biết ơn với sự hy sinh của các thế hệ cha anh.

Hôm nay, chúng tôi xin giới thiệu một hậu duệ của Quân lực VNCH. Đó là tân Trung tá Võ Phi Sơn ở Miami, Florida.

Võ Phi Sơn vừa được vinh thăng Trung Tá vào ngày 1 tháng 3 năm nay 2009 và đang đảm trách việc cố vấn, huấn luyện cho một nước Ả Rập.

Là con của cựu Trung tá Phi công Võ Phi Hổ, khóa 17 Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, Sơn cùng gia đình may mắn thoát được khỏi Việt Nam vào những ngày tang thương cuối tháng 4 năm 1975. Sơn đến Hoa Kỳ khi mới lên 5 tuổi, hoàn toàn bở ngỡ trước cuộc sống mới xa lạ. Trung tá Hổ đã may mắn đoàn tụ gia đình tại đảo Guam, và được đưa về định cư tại Miami, Florida từ cuối tháng 5, 1975.

Nhờ truyền thống gia đình và theo gương bố, là một hoa tiêu khu trục phản lực lỗi lạc của Phi Đoàn 534 thuộc Không Đoàn 92 Chiến Thuật ở Phan Rang, Sơn và các bốn anh chị em lớn lên, học hành thành đạt nơi quê hương mới.

Từ lớp 9, Sơn đã giữ vai trò Chủ tịch của National Honor Society và Science Society tại trường Trung Học. Năm 1985, Sơn đỗ thủ khoa tại W.R. Thomas Junior High với nhiều giải thưởng lớn của liên bang như: Award of Honor do The National Leadership Organization trao tặng; The American Legion School Award do The American Legion trao tặng.

Tiếp theo những năm chót trung học, việc học của Sơn thăng tiến mạnh hơn. Sơn còn là một boyscout với các cấp hiệu cao nhất. Sơn đoạt đai nâu Karate khi vừa học xong trung học. Sơn chơi Trumpet rất xuất sắc, đoạt nhiểu giải tại địa phương và cấp tiểu bang Đặc biệt, Sơn cũng là một cầu thủ football giỏi như đoạt các giải Football School Athlete of the Year 1988, giải Outstanding in Football Performance, Academic Achievement and School Leadership. Sơn từng đem giải nhất cho trường về môn chạy bộ.

Ngoài thể lực, Sơn còn giỏi về việc học, nhất là môn toán.

Sơn đã tốt nghiệp Tối Ưu trên tổng số 597 học sinh của lớp 1988; đoạt giải The Best Student of the Year và Outstanding Math Student Award cùng rất nhiều giải khác với nhiều hiện kim.

Noi theo gương bố, Sơn tình nguyện vào quân đội và được các Nghị sĩ giới thiệu theo học trường Võ Bị West Point khoá 92. Khi trả lời phỏng vấn của đài truyền hình và báo chí địa phương, Sơn đã nói đến sự trả ơn của mình cho quê hương đã rộng lòng dung nạp gia đình: “Khi tôi bắt đầu hiểu biết, tôi được nghe nói rằng xứ sở này có nhiều cơ hội cho tài năng phát triển nên tôi đã cố gắng học hành, và nhờ những cơ hội này, tôi đã có ngày nay. Tôi nghĩ đây là lúc tôi có chút cơ hội đền đáp lại.”

Ra trường, Thiếu Úy Võ Phi Sơn lần lượt phục vụ tại nhiều đơn vị như Sư đoàn 2 Thiết Giáp, Sư đoàn 4 Bộ Binh, Sư đoàn 82 Nhảy Dù. Anh lái các phi cơ trực thăng OH-58 AC, Apache tham chiến tại chiến trường Afghanistan. Lần lượt từ cấp Trung đội trưởng, đại đội trưởng, Phụ tá ban 3, Ban 1 cấp Trung đoàn. Hiện Trung tá Võ Phi Sơn là Cố vấn phụ trách huấn luyện Trực thăng cho quân đội các nước Ả Rập đồng minh.

Võ Phi Sơn đã được báo The Miami News giới thiệu với nhiều lời ca ngợi về sự thành công của gia đình nói chung và cá nhân anh nói riêng.

Đặc biệt, tuy hành quân xa xôi, lúc nào Sơn cũng mang theo trong người lá cờ vàng thân yêu của Tổ quốc Việt Nam (xem ảnh). Bên cạnh những người con ưu tú thế hệ 2 như Đại Tá Lữ đoàn trưởng Dù Lương Xuân Việt, Đại Úy Phi công F-18 Elizabeth Phạm, Đại Úy Phi công Michelle Vũ, Nhà văn Minh Trần Huy (Giải văn học Gironde Pháp), Philipp Roesler (Bộ trưởng Kinh Tế Đức), Phi hành gia Eugene Trịnh, Trung tá Hạm trưởng Lê Bá Hùng, Võ sĩ Phan Nam, Trung tá Bác sĩ Paul Đoàn (Y sĩ trưởng Đoàn Quân Y Viễn Chinh 379 tại Tây Nam Á)…, Võ Phi Sơn đang làm rạng danh người Việt tại quê người.

Chúng ta vinh danh các em, các cháu, không chỉ vì những thành tựu rực rỡ, mà chính vì tấm lòng các em, các cháu luôn hướng về cội nguồn; không như những kẻ hợm hĩnh chim chưa đủ lông đủ cánh đã vội vã quay lưng với cha anh và phủ nhận quá khứ.

Chúng tôi chúc mừng Trung tá Võ Phi Sơn. Cầu mong sẽ có ngày nghe đến nhiều vị tướng tài ba mang các họ Việt Nam trong quân đội Hoa Kỳ.

Đỗ Văn Phúc


VÀI Ý KIẾN VỀ VỤ HỆ THỐNG TRUYỀN THANH, TRUYỀN HÌNH VNHN - Lính Già Wichita

Lính Già Wichita WICHITA

Đầu tiên, tôi xin tự giới thiệu là một HO, cũng sắp đến tuổi về hưu rồi thành ra cũng chưa đủ già để trở nên lú lẫn, mà vẫn ngày hai buổi đi cày để trả nợ áo cơm.Là một thính giả của Đài PTVNHN từ những ngày đầu tiên mà Wichita bắt được làn sóng của Đài. Tiếng nói của Đài đã trở thành người bạn thân thiết của nhiều gia đình VN. Tôi cũng đã hân hạnh viếng thăm Đài nhân dịp về tham dự buổi Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế tại NY cách đây mấy năm. Trước sự nghèo nàn, chật vật của Đài chúng tôi rất thông cảm và thương các anh chị em nhân viên đã có rất nhiều hy sinh.

Thời gian gần đây, sự kiện nổ lớn đã kéo nhiều người vào cuộc tranh cãi chung quanh lời cáo giác của ông Hồng Phúc – Giám đốc chương trình - là Vợ chồng Ông Dương Văn Hiệp và Ông Ngô Ngọc Hùng là 3 trong số 4 Giám đốc đã có tiếp xúc với cán bộ Cộng sản. Theo các dữ kiện đã được nêu ra, chúng tôi có thể nghĩ rằng là hệ thống phát thanh và truyền hình VNHN đã có sự xâm nhập của CS và cả ba nguời qua tố giác của ông HP đã thật sự có vấn đề. Dựa vào đâu mà chúng tôi dám nghĩ như vậy. Thứ nhất dựa vào sự lấp liếm chối quanh, giải thích lòng vòng, bao che của những nhân vật liên hệ. Tục ngữ có câu “có tật giật mình“ cũng đã nói lên điều đó. Ngay tự khởi đầu sự tổ chức của Hệ Thống PT&TH VNHN cũng có vấn đề. Thứ nhất Hệ thống không phải là một công ty kinh doanh có tính cách gia đình mà 2 trong số 4 Giám đốc lại là 2 vợ chồng mà đây là một tổ chức có mục tiêu chính trị nên điều nầy không thể chấp nhận được. (Ngoại trừ đây thật sự là một hệ thống truyền thông tư của ÔB DVH mà lời Ngô Ngọc Hùng bảo là Đài là của toàn thể thính giả thì là những lời mỵ dân, phỉnh gạt). Thứ hai là trình độ lý luận, nhận thức chính trị, miệng lưỡi của Ô,B Dương Văn Hiệp, Ngô Ngọc Hùng và ngay cả của Ông Hồng Phúc cũng không đủ sức để “chiêu hồi“ tên Nguyễn Sĩ Tuệ - Đệ tam tham tán đặc trách người Việt tại Hoa Kỳ, ngay cả miệng lưỡi cỡ Tô Tần, Trương Nghi thời Chiến Quốc sống lại cũng đành bó tay thôi. Vì các CBCS cỡ trung cấp trở lên nhất là giữ một chức vụ quan trọng tại một tòa đại sứ như Hoa Kỳ thì cái tính Đảng trong con người chúng đã thâm căn cố đế biết là chừng nào rồi. Bọn chúng là một lũ hình nộm không tim óc, tai điếc, mắt đui thì quý vị có tranh luận để thuyết phục thì cũng như nước xao đầu vịt mà thôi. Sự tiếp xúc của cặp vợ chồng DVH và tên Tham Tán toà Đại sứ CS cũng đã có quá trình trên 4, 5 năm thời gian ấy quá dài vì nếu tên nầy đã được có ý hồi chánh thì chúng ta đã đọc thấy tin tức xin tỵ nạn chính trị cách đây 1, 2 năm rồi. Thành ra có “hồi chánh“ thì cặp vợ chồng DVH có khả năng hơn tên Tham tán kia. Sự tiếp xúc của cặp vợ chồng nầy chúng tôi nghĩ không phải chỉ có hai lần có tính công khai 1 tại nhà hàng, 1 tại nhà riêng trong hai dịp sinh nhật và tất niên. Để có mặt tham dự trong một bữa tiệc tất niên tại nhà riêng thì sự thân mật giữa chủ và khách phải ở vào mức độ thân thiết chứ không thể hời hợt được. Trong đời thường rất hiếm khi có một sự gặp gỡ lần đầu giữa hai cá nhân mà đã thấy tâm đầu ý hợp để có thể mời nhau tham dự một buổi tiệc gia đình huống gì đối tượng lại là người ở về phía được xem như là kẻ thù chung. Nếu điều nầy thực tế đã xảy ra thì chúng ta cũng thấy tư tưởng cùng chính kiến của cặp vợ chồng DVH như thế nào rồi. Đến đây chúng tôi xin đặt một câu hỏi là bằng cách nào và nhờ vào sự trung gian móc nối của ai mà cặp vợ chồng DVH quen biết với tên Tham tán toà Đại sứ CSVN. Đề nghị Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia DC nên đặt vấn đề và tìm hiểu nhân vật nầy là ai.

Ở Hải ngoại nầy có một cái nghề ít vốn; có khi không cần vốn mà lại thu nhập cao, hái ra tiền mà lại nhàn nhã đó là nghề buôn bán niềm tin tôn giáo, tình bác ái, chính trị của đồng bào. Cái nghề nầy chúng ta thường thấy ở một số các vị thầy tu, các người hô hào làm từ thiện và một số các chủ báo, các chủ tịch hội đòan, đài phát thanh v..v .. Trong lãnh vực chính trị; đầu tiên là tìm mọi cách để chứng tỏ mình có tâm huyết với đất nước, quê hương, chống Cộng triệt để. Khi đã gây được tiếng vang, tên tuổi thì xem là “công ty, tiệm buôn“ của mình đã có tầm cỡ, đã có đủ điều kiện để “ngã giá”, để “ký hợp đồng“ với cá nhân, tổ chức tay sai hoặc ngay chính của kẻ thù chung là bọn CS để hốt bạc. Vì nhiều khi dù có được sự đóng góp, yểm trợ của đồng bào tỵ nạn thì những thu nhập ấy cũng đầy gian nan, và không có lớn chỉ là lượm bạc cắc đâu có bằng giao dịch với CS lắm tiền sẵn sàng chi ra hàng trăm ngàn đô thậm chí hàng triệu đô để làm tay sai cho chúng nó.

Đến đây chúng tôi xin điểm qua một vài luận điểm của vài cá nhân nhằm bênh vực cặp vợ chồng DVH.

1. Chúng tôi đã đọc một bài nhan đề Bức Tâm Thư của một người ký tên Chính Tâm trên tờ báo của ông Nguyễn Tường Thựơc (Ông nầy lớn miệng, thích dùng danh từ đao to búa lớn nhưng thực chất thì thiếu điềm đạm và khả năng không là bao) mổ xẻ để chụp mũ ông Hồng Phúc nhằm bênh vực cho cặp vợ chồng DVH. Trước nhất ông tự gọi mình là Chính Tâm nhưng thật sự tâm ông không chính chút nào khi chỉ đả phá ông HP mà không đề cập gì đến cặp vợ chồng DVH. Cái kiểu phê phán nầy rất giống kiểu của “tiền sư” Nhất Hạnh và nhóm Giao Điểm khi chỉ lên án Mỹ và VNCH trong cuộc chiến VN trước 1975 mà không có một lời - sợ mất lòng – nói đến cái nguyên nhân gây nên cuộc chiến là CSVN, tay sai Nga Tàu. Ông Chính Tâm phân tích chi ly nhưng hoàn toàn suy diễn mà không đưa ra một bằng chứng đáng thuyết phục nào để chụp mũ là ông HP mới chính nguời giao dịch với CS. Theo chúng tôi thấy ông HP tiếp xúc với tên CBCS thì công khai trong 1 bữa tiệc tại nhà hàng mà có tính bất ngờ vì chỉ mới được biết và trước nhiều người chứ không phải là trong phòng riêng hay là tại một địa điểm bí mật. Ông Chính Tâm trích dẫn lời ông HP nói là “tranh luận gay gắt“ là phải có to tiếng, thậm chí là phải đập bàn, đập ghế hoặc là phải có chưởi nhau, gây gỗ hoặc có xô xát mới có thể gọi là “tranh luận gay gắt“ được; chứ còn mức độ như của Ông HP và tên CS kia phải là tâm tình của hai người bạn thân theo như sự suy diễn của ông Chính Tâm. Trước tiên ông Chính Tâm hiểu sai về chữ “tranh luận“. Để chỉ sự kiện hai bên đưa ra những lý luận để thuyết phục bên kia hoặc giành phần có lý, chính đáng về mình; tiếng Việt có các từ tranh luận, tranh biện, biện luận, tranh cãi, cãi lộn và mức độ thấp nhất là chưởi nhau. Chữ tranh luận được dùng trong những trường hợp có tính cách văn hóa, nghiêm chỉnh hơn là cãi nhau hay cãi lộn. Trường hợp của ông HP và tên Tham tán CS hai bên dù có “tranh luận gay gắt“ thì cũng chỉ nằm trong giới hạn lịch sự và văn hoá cũng như sự hiểu biết tối thiểu, vì đây đang ở trong một bữa tiệc sinh nhật của một người bạn giữa đám đông có vai vế do đó không thể có trường hợp to tiếng cãi lộn như Ông Chính Tâm đã bắt buộc. Sự kiện hai nguời trao đổi danh thiếp, báo cho nhau dù có ghi thêm số điện thoại cell phone của tên Tham tán thì cũng chưa thể chứng tỏ sự thân thiết dù mới quen của hai bên được. Trong hành động nầy theo chúng tôi hiểu là một ý đồ có tính nghề nghiệp .Tên Tham tán thì có ý móc nối, ông HP thì có ý giới thiệu cho y đọc những bài viết chống Cộng trong tờ Tạp chí TGNN của mình. Thêm nữa, thái độ của tên Tham tán CS rất tự tin và có vẻ kẻ cả điều nầy đã cho chúng ta thấy rằng y; thứ nhất là một tay có bản lĩnh, thứ nhì là y đã có một chỗ dựa vững chắc nếu không muốn nói là y đang ở vào một tư thế bất khả bại vì đã nắm được con chủ bài trong tay rồi.

Ông Chính Tâm có ý suy diễn để chụp mũ thì chúng tôi xin bày cho ông cách suy diễn như thế nầy thì mới hợp tình hợp lý hơn nè: Ông HP thấy cặp vợ chồng DVH có một mối làm ăn khá quá, thu nhập cao nhờ hợp đồng béo bở nên có ý nhảy vào nhằm chia chác thị trường may ra có được một hợp đồng ngon lành nào không bằng cách chào hàng rằng trong tay cũng có một tờ báo tầm cỡ chẳng thua gì Hệ thống TT&TH VNHN của cặp vợ chồng DVH. Suy diễn cho vui thế thôi chứ ông Chính Tâm sức mấy dám nghĩ tới vì như thế chẳng hóa ra là công nhận cặp vợ chồng DVH là có liên hệ mật thiết hay đang hợp tác với tòa Đại sứ CSVN hay sao.

2. Về cái sự ví von của Ông Nguyễn Đình Toàn trong giai thoại của Khổng Tử để chứng minh là “thấy vậy mà không phải vậy“ và cho rằng ông HP thì nhiều kinh nghiệm hơn các vị NNH và vợ chồng DVH nên có đối chất công khai thì họ làm sao mà hơn nổi ông HP. Từ rất lâu tưởng có hơn 50 năm rồi từ thuở còn tập tễnh làm thơ học trò tôi vẫn kính trọng Ông NĐT, vẫn thích đoạn trích trong kịch thơ “Khúc ca Phạm Thái“ của Ông, nhưng hôm nay thì tôi rất thất vọng về cái kiến thức lý luận của ông .Khi ông bảo cặp DVH và ông NNH là trẻ người, non dạ thì làm sao mà tranh luận lại Ông HP; nói ra điều này là ông dù đang bênh vực họ nhưng lại vô tình phản đối lại họ, hại họ trong khi họ đã hùng hồn tuyên bố là họ có đầy đủ bản lãnh nào là đang làm công tác tuyên truyền hồi chánh, người thì bảo là vào hang cọp để mó dái cọp. Đem một sự kiện đơn giản như là sự hiểu lầm vì đứng hơi xa thấy người học trò cưng vốc nắm cơm mà cho là người ấy đang ăn vụng để so sánh bào chữa cho cặp DVH và NNH thì thật là gượng ép, không đủ thuyết phục. Ba vị nầy đã có tiếp xúc - phải nói là trên mức độ thân mật - với cán bộ của một chính quyền phản dân hại nước mà bản thân quý vị nầy vẫn rêu rao là kẻ thù chung mà cho là không có gì quan trọng hoặc có hại cho chính nghĩa mà tập thể người Việt Tỵ nạn CS vẫn đang đeo đuổi. Chính họ đang đem niềm tin của đồng bào làm vật rao bán đấy.

3. Về một bài viết bênh vực vợ chồng DVH trên báo điện tử Take -2-tango khi ví von ông HP như một đầu bếp chánh của một nhà hàng. Chỉ mới đoạn mở đầu mà tác giả đã để lộ một sự kém cỏi về lý luận như thế thì bài viết sẽ khó thuyết phục được người đọc. Không thể đem sự tranh chấp trong một nhà hàng ăn để ví von với trường hợp của Đài PT VNHN được. Vì trong một nhà hàng, sự đổ vỡ nếu có thì cũng chỉ làm hại cho chính chủ nhân của nhà hàng chứ còn thực khách nếu thấy nhà hàng kỳ nầy tệ quá thì sẽ không đến nữa, nhà hàng ế ẫm. Còn với Hệ thống TT&TH VNHN là một cơ quan truyền thông với mục tiêu đấu tranh nhằm hỗ trợ cho công cuộc quang phục quê huơng nếu đi sai đường thì tác hại to lớn biết là dường nào.

Trước khi kết luận chúng tôi xin đưa ra một dấu hỏi là liệu có khi nào Hệ Thống TH&TH VNHN đã có nhận sự tài trợ từ tòa Đại sứ CSVN. Xin quý bà con suy ngẫm.

Chuyện vợ chồng DVH có tiếp xúc với CS là sự thật không thể chối cãi dù có cố gắng biện minh cách nào đi chăng nữa. Đến đây chúng tôi có một giả thiết rằng ví như ông HP tố cáo xuất phát từ một ý đồ xấu như biết vợ chồng DVH sắp đá mình ra khỏi đài hoặc là xấu hơn nữa là đang “thi hành nghị quyết 36“ của CS như Giáo sư Kim đã phán thì lại nảy sinh ra một vấn đề mới là có khi nào đây là 1 sự đổ bể ngoài dự liệu do sự tranh dành quyền lợi giữa hai bên trước nhà “tài trợ“ là CSVN ? Nếu tình huống nầy có thật thì sự tố cáo của ông HP cũng có lợi cho công cuộc đấu tranh chung của chính nghĩa Quốc gia của người Việt hải ngoại; mặc dầu cũng gây một số tổn thất chứ nếu không để đến một lúc Hệ Thống TT&TH VNHN thật sự chỉ là chi nhánh của hệ thống TT&TH quốc nội thì hậu quả sẽ không thể lường đưọc.

Để kết luận chúng tôi xin đưa ra 2 ý kiến như sau:
    1. Vợ chồng DVH và Ông Ngô Ngọc Hùng nên rời khỏi chức vụ Giám Đốc của Hệ Thống TT&TH VNHN. .Riêng ông HP thì đã xin nghĩ nên không đề cập đến.

    2. Mở một cuộc họp khoáng đại có sự tham dư của nhiều nhân sĩ để tu sửa nội quy làm Đài thật sự trở thành tiếng nói chung của khối nguời Việt Quốc gia tại Hải ngọai. Nếu cần thay đổi tên gọi, tổ chức nhân sự như của một hội đoàn gồm có các Ban chấp hành, Giám sát và cố vấn. Tài chánh chỉ là một Ban trong Ban Chấp hành mà thôi, kêu gọi sự tham gia, yểm trợ vật chất, tinh thần và tài năng của nhiều người tâm huyết để duy trì và phát triển Đài.

    Tuy nhiên, nếu HTTT&TH VNHN là của tư ÔB DVH thì xin miễn bàn.

    Chấm hết.
Lính Già Wichita 11/11/09


Wednesday, November 11, 2009

Trung Tá Lương Trung Việt Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ

Trung Tá Lương Trung Việt

Mời quý vị xem một đoạn video của Bộ quốc phòng HK, nói về Chiến Tranh Việtnam, Iraq. Đoạn video này nói về Trung Tá Lương Trung Việt, vị sĩ quan trẻ này đã không cầm được nước mắt khi được phỏng vấn trong đoạn nhắc tới quê hương ....!

Hiện nay Trung tá Lương Trung Việt đã là Đại Tá Chỉ Huy trưởng Lữ Đoàn biệt cách dù Mỹ đang tham chiến tại Iraq và Aganistan (dưới quyền ông khoảng 10.000 quân nhân Mỹ).

Người ta tự hỏi rằng, một người xa quê hương khi chưa trưởng thành và là một cấp chỉ huy Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ, một đơn vị nổi tiếng vào sinh ra tử lại không cầm được nước mắt khi nhớ đến những áp bức, bất công trên quê hương.

Trong khi đó biết bao thanh niên trí thức Việtnam ngay trong lòng đất mẹ lại dửng dưng. Có phải việt gian csVN đã thuần hóa thanh niên trí thức thành những người vô cảm ?!

Còn những trí thức hải ngoại mang căn cước TỴ NẠN CỘNG SẢN mà lại ÔM CHÂN bọn thái thú việt gian csVN.

---

    Trung Tá Lương Xuân Việt, sĩ quan chỉ huy tại Iraq, vẫn giữ tâm hồn Việt Nam
Hoàng Mai Đạt

"Đi lính là phục vụ Đất nước một cách chính trực và hữu ích"

WESTMINSTER, California (NV) - Trong ngày nghỉ ở nhà, ông có thể dạo đàn guitar, ngâm nga hát một bài tình ca hoặc đọc một cuốn sách viết bằng tiếng Việt. Ngoài mặt trận, ông cầm súng lùng bắt những người vũ trang, hô to những mệnh lệnh bằng tiếng Anh. Người đa năng này là Trung Tá Lương Xuân Việt, một tiểu đoàn trưởng thuộc binh chủng Nhảy Dù của quân đội Hoa Kỳ.

Từ một đứa trẻ chưa đầy 10 tuổi phải di tản ra khỏi Sài Gòn vào cuối Tháng Tư 1975, theo đoàn người tị nạn cộng sản đến nước Mỹ, hơn ba thập niên sau ông Việt đã chỉ huy cả ngàn quân nhân tại mặt trận Iraq. Đời binh nghiệp của ông khởi đầu từ cuộc chiến Việt Nam, đặc biệt là từ một người cha mà ông rất ngưỡng mộ.

Trong gần hai thập niên phục vụ trong quân đội, Trung Tá Việt, 42 tuổi, đã trú đóng tại nhiều nơi như Colorado, Haiti, Bosnia, Kosovo, từng giữ an ninh tại New Orleans sau ngày bão Katrina, và tham chiến tại Iraq vào năm ngoái.

“Tôi đã có mặt tại Iraq 15 tháng,” Trung Tá Việt trả lời nhật báo Người Việt vào ngày Thứ Năm, 21 Tháng Hai.

“Tôi được giao nhiệm vụ hoạt động trong một vùng có diện tích rộng 3,600 cây số vuông. Thành phố Samarra thuộc vùng kiểm soát của chúng tôi,” ông cho biết.

Samarra nằm khoảng 80 dặm về phía Bắc thủ đô Baghdad. Nơi đây có các nhóm nổi dậy thuộc phái Sunni hoạt động rất mạnh chống lính Mỹ và quân đội Iraq.

Đúng hai năm trước, vào ngày 22 Tháng Hai, 2006, những người Al-Qaeda quá khích đã đột nhập, gài chất nổ, phá sập mái vòm vàng tại ngôi đền Al-Askari. Đây là đền thiêng liêng hàng thứ ba của người Hồi Shiite trên thế giới. Sự phá hoại đưa đến những vụ tấn công đẫm máu giữa người Shiite và người Sunni kéo dài trong hai năm qua.

Trung Tá Lương Xuân Việt và các quân nhân của ông đến Samarra sau khi Đền Vòm Vàng bị nổ. Ông Việt đã chỉ huy Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn 505, Lữ Đoàn 3 Tác Chiến, Sư Đoàn 82 Nhảy Dù. Dưới quyền của ông là 850 lính nhảy dù, cộng thêm 300 quân nhân từ các đơn vị yểm trợ như quân cảnh, công binh, thiết giáp, đội tháo gỡ mìn. “Lực lượng của tôi đã có khoảng 1,250 quân nhân.”

“Nhiệm vụ của chúng tôi là đánh bại các nhóm nổi dậy trong vùng Samarra, trợ giúp chính quyền địa phương phục hồi những dịch vụ căn bản như điện, nước, rác, y tế, vân vân,” Trung Tá Việt kể.

“Chúng tôi đạt khá nhiều thành quả tại Samarra. Lính nhảy dù chúng tôi thường xuyên hành quân phản công chống Al-Qaeda. Chúng tôi đã phá vỡ trên một chục ổ khủng bố, tịch thu một số lớn tài liệu tình báo, dẹp tan các nhóm lãnh đạo Al-Qaeda cấp địa phương, bắt giữ trên 1,000 tên khủng bố, giúp người Iraq thành lập bộ tư lệnh cảnh sát quốc gia để tăng cường an ninh tại Samarra, tạo phương tiện cho nỗ lực xây lại Đền Vòm Vàng, phục hồi Samarra và mang lại một cuộc sống dễ thở hơn cho người Iraq.”

Mang lại một cuộc sống bình an cho người khác là một trong các mục tiêu trong đời của Trung Tá Lương Xuân Việt trong một hành trình xuất phát từ Việt Nam, một đất nước cũng bị chiến tranh tàn phá như Iraq. Ông Việt chào đời tại Biên Hòa, sống với cha mẹ ở Sài Gòn trước năm 1975 và trong vùng Los Angeles sau khi tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Ông lớn lên trong một gia đình gồm có tám anh chị em.

Người có ảnh hưởng lớn nhất trong đời của Trung Tá Việt chính là thân phụ của ông. “Đời binh nghiệp luôn luôn là nguồn cảm hứng cho tôi, phần lớn vì tôi ngưỡng mộ và kính nể cha tôi cũng như các chú bác đã đi lính,” ông Việt tâm sự.

“Tôi muốn bắt chước cha tôi, sống với tinh thần trách nhiệm, danh dự, đất nước. Tôi vẫn nhớ những hình ảnh cha tôi xông pha vào chiến trận (trong) bộ quân phục Thủy Quân Lục Chiến mà ông rất hãnh diện, (với) sự tự tin, lòng yêu nước, và sẵn sàng hy sinh mạng sống để bảo vệ đất nước.

“Khi còn bé, tôi từng ao ước được phục vụ trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam. Đáng tiếc là ước mơ của tôi bị tan vỡ theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam.

“Thế nhưng tại quê hương mới này, ngọn lửa phục vụ vẫn bừng cháy trong tôi. Tôi rất biết ơn trước những gì mà đất nước Hoa Kỳ đã mang đến cho tôi và hàng ngàn người tị nạn.

“Mục tiêu duy nhất của tôi trong tinh thần phục vụ đất nước vĩ đại này là đóng góp trong công cuộc bảo vệ tự do và lối sống của chúng ta.”

Tinh thần phục vụ tại chiến trường Iraq của Trung Tá Lương Xuân Việt đã được báo chí Mỹ ghi nhận.

Trong một bài đăng trên trang tin điện tử của tuần báo Time ngày 26 Tháng Sáu, 2007, ký giả Mark Kukis đã viết về sự có mặt của ông Việt tại mặt trận Samarra:

“Làng Binat al Hasan đã vắng vẻ một cách kỳ lạ khi các quân nhân Hoa Kỳ bước xuống từ bốn chiếc trực thăng trong một cuộc hành quân trước khi trời sáng. Trong vài phút sau khi trực thăng đáp xuống, khoảng 75 lính nhảy dù Mỹ và một nhóm quân nhân Iraq đã trải rộng trong một ngôi làng nằm ở sa mạc khoảng 15 dặm về phía Đông Nam Samarra. Các quân nhân đã lùng kiếm trong từng căn nhà mà không thấy ai.

“Trung Tá Việt Lương, chỉ huy trưởng của lực lượng Hoa Kỳ trong vùng Samarra, nói rằng những vụ bạo động do quân nổi dậy gây ra đã gia tăng đáng kể. [...]Ông Lương cho biết lúc trước Samarra và vùng nông nghiệp ở chung quanh chỉ có chừng hai vụ tấn công mỗi ngày. Giờ đây mỗi ngày có đến năm hoặc sáu vụ tấn công.

“Trong một lần hành quân mới đây ở ngoại ô Samarra, quân đội Hoa Kỳ đã bắt 14 người bị tình nghi là quân nổi dậy. Họ đầu hàng khi thấy trực thăng đáp xuống từ trên bầu trời đêm. Cũng có những đêm không bắt được ai tại những ngôi làng bụi bặm. ‘Bất cứ ngôi làng êm ả nào cũng có thể trở thành nơi ẩn náu hoặc điểm hẹn của quân nổi dậy,’ ông Lương nói. ‘Những kẻ xấu không thật sự biết có giới hạn.’”

Cũng trong ngày 26 Tháng Sáu, 2007, đài CNN có một mẩu tin liên quan đến ông Việt tại chiến địa Samarra. Bản tin đó được viết như sau:

“Trong cuộc phỏng vấn dành cho CNN, Trung Tá Việt Lương đã so sánh chiến thuật và động lực của Việt Cộng (trong cuộc chiến Việt Nam) và lực lượng nổi dậy tại Iraq hiện nay. 'Vài chú bác của tôi nay đã trên 60 tuổi vẫn thường viết email cho tôi bằng tiếng Việt Nam. Họ nhắc cho tôi biết về những gì tôi cần để ý tại Iraq' ông kể. 'Quân nổi dậy tại Iraq đang dùng những chiến thuật tương tự (như Việt Cộng).'

“Trung Tá Lương cho biết quân nổi dậy thường ẩn náu trong những ngôi đền để không bị lính Mỹ tấn công. Ông cũng nhận thấy quân nổi dậy luôn trà trộn vào thường dân để không bị quân đội Hoa Kỳ tấn công với hỏa lực của họ. Ông Lương cũng nhận thấy động lực của quân nổi dậy không khác quân du kích cộng sản là bao nhiêu. Ông Lương nói, ‘Tinh thần yêu nước là điều mà bạn không thể coi thường. Người ta có thể chiến đấu và chết cho tinh thần này.’

Nhắc đến giai đoạn rời Việt Nam vào năm 1975, bản tin của CNN có viết thêm: “Ông Lương đã rơi lệ khi nhớ đến cha của ông, một quân nhân của Việt Nam Cộng Hòa. Lúc đó cha của ông đang giúp cho phi đạo tại Sài Gòn được thông trống, để phi cơ của quân đội Hoa Kỳ có thể đáp xuống. Ông Lương kể, 'Lúc đó tôi được thấy một đội trực thăng CH53 hùng tráng đáp xuống như những thiên thần từ trên trời đến cứu chúng tôi.'”

Cha của Trung Tá Việt là ông Lương Xuân Đương, nguyên là thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Vị thiếu tá thuộc binh chủng “Cọp Biển” này đã qua đời tại California vào năm 1997.

Ngoài công tác tại Iraq, ông Việt cũng hãnh diện khi nhắc đến một sứ mạng khác mà đơn vị của ông từng thực hiện tại New Orleans. Tiểu đoàn của ông là đơn vị tiên phong của Sư Đoàn Dù 82 được gởi đến tiểu bang bị bão.

“Tôi đã có một kinh nghiệm độc đáo trong vụ bão Katrina,” ông nói với nhật báo Người Việt. “Là một đơn vị tác chiến, chúng tôi thường chỉ chú trọng đến sứ mạng tác chiến. Khi được gởi đến New Orleans để hỗ trợ cho cơ quan FEMA, chúng tôi bị rơi vào tình trạng thực hiện những công việc ngoài khả năng của mình.

“Làm việc với nhiều cơ quan cấp liên bang, tiểu bang và địa phương không phải là sở trường của chúng tôi. Về mặt đó thì công tác tại New Orleans đã phức tạp hơn những gì chúng tôi đối phó ngoài trận địa.

“Tuy nhiên, tôi tin rằng chúng tôi đã tạo được sự khác biệt rất lớn và đã có thể trợ giúp những đồng bào Hoa Kỳ.”

Trung Tá Việt đã tốt nghiệp bằng cử nhân trong môn Sinh-Hóa Học tại trường University of Southern California. Ông cũng đậu bằng tiến sĩ Khoa Học và Nghệ Thuật Quân Sự.

Ashley Thu Diễm, 13 tuổi; Brandon Xuân Huy, 10 tuổi; Justin Xuân Quốc, 7 tuổi

Trong thời gian trú đóng tại Fort Carson, Colorado đầu thập niên 1990, ông Việt đã gặp bà Quyên Kimberly Lau ở Denver. Vài năm sau họ thành hôn, nay có ba con gồm có một gái, hai trai: Ashley Thu Diễm, 13 tuổi; Brandon Xuân Huy, 10 tuổi; và Justin Xuân Quốc, 7 tuổi. Gia đình ông đang sống tại Fort Bragg, North Carolina.

“Quyên là một người vợ của lính, biết quên mình để lo cho chồng con,” ông Việt nói về vợ. “Sự hỗ trợ bền bỉ của vợ đã giúp tôi có thể chú trọng đến công việc của mình và đạt được thành quả trong những gì tôi làm.”

Mặc dù dành nhiều thời giờ cho quân đội, ông Việt cũng có những thú vui khác.

“Tôi mê thể thao, vẫn chạy bộ rất nhiều,” ông nói. “Tôi cũng thưởng thức văn chương và âm nhạc. Tôi rất thích đọc thơ và tiểu thuyết Việt Nam, cũng như sách Mỹ viết về lịch sử. Tôi từng tập chơi vĩ cầm trong thời thơ ấu, thế nhưng sau này tôi chơi đàn guitar. Tôi yêu thích những bài tình ca của Phạm Duy, Vũ Thành An, vân vân. Những ca khúc này nhắc cho tôi nhớ rằng tâm hồn tôi vẫn thật sự là một tâm hồn Việt Nam.”

Trung Tá Việt đã khuyến khích giới trẻ Mỹ gốc Việt hãy gia nhập quân đội. “Không phải ai cũng có thể đi lính,” ông nói. “Tuy vậy, đối với nhiều người, đi lính là phục vụ đất nước một cách chính trực và hữu ích.”

Sau khi phục vụ tại Iraq, Trung Tá Lương Xuân Việt đã được đưa vào danh sách các sĩ quan được đề bạt lên cấp Đại tá.

“Tôi mong một ngày kia tôi được chỉ huy một lữ đoàn,” ông nói. “Ao ước của tôi là có khả năng để tạo ảnh hưởng tốt đến cho nhiều người, mang đến khác biệt trong đời sống. Ở một cấp chỉ huy cao hơn thì tôi có cơ hội được thực hiện niềm ao ước đó.”

Hoàng Mai Đạt


Tuesday, November 10, 2009

Trọng Ðạt: Biến Ðộng Miền Trung - Trọng Đạt

Trọng Đạt

Trọng Đạt

Chúng tôi xin sơ lược tình hình biến động giai đọan 1966 dựa vào cuốn “1966 Việc Từng Ngày” của ông Ðoàn Thêm.

Cuối tháng 3 -1966 tại Ðà Nẵng có nhiều vụ biểu tình, đóng cửa tiệm, tình hình Huế cũng rất sôi nổi trong khi Ủy ban Lãnh đạo Quốc Gia quyết định triệu tập Hội đồng Tư vấn soạn thảo Hiến Pháp và tổ chức bầu cử cuối năm 1966 thay vì cuối năm 1967 như dự định. Ông Nguyễn cao Kỳ Chủ tịch Uỷ ban hành pháp trung ương cho biết miền Trung có nhiều vụ lộn xộn đình công bãi thị, kho gạo ngoài Huế sắp cạn, trong khi ấy tại Viện Hoá Ðạo Sài Gòn có hai trăm Phật tử biểu tình đi từ Viện tới công trường Diên Hồng trương biển ngữ chống chính phủ. Thượng toạ Thích Tâm Châu kêu gọi Phật tử bình tĩnh chờ chính phủ thoả mãn các nguyện vọng, tại Huế có tới hai chục ngàn người đi tuần hành.

Phật Giáo lại biểu tình khắp nơi đòi chính phủ phải thực thi dân chủ, tổ chức bầu cử Tổng thống và Quốc hội, đầu tháng 4-1966 tình hình miền Trung ngày càng trở nên nghiêm trọng. Nguyễn Cao Kỳ cho biết bác sĩ Nguyễn văn Mẫn, thị trưởng Ðà Nẵng thuê người đi biểu tình chống chính phủ, đe dọa dân chúng, hô hào đình công bãi thị. . ông Kỳ coi như Ðà Nẵng bị Việt Cộng chiếm, sẽ hành quân tái chiếm và xử tử thị trưởng Mẫn. Chính phủ cho biết Việt Cộng muốn bài Mỹ để cô lập Việt nam Cộng Hòa. Ðài phát thanh Ðà Lạt bị nhóm biểu tình đốt, ngoài ra tại Ðà Nẵng, Ban Mê Thuột, Nha Trang cũng có nhiều cuộc biểu tình chống chính phủ. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu Chủ tịch Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia kêu gọi chấm dứt hỗn loạn, đóng cửa các trường học.

Quân đội đã lấy lại Nha Trang, mặc dù Viện Hoá Ðạo kêu gọi bình tĩnh nhưng hàng ngàn người quá khích đã biểu tình đốt xe, xung đột với cảnh sát. Trung tướng Tôn Thất Ðính được cử thay thế Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuẩn làm Tư lệnh vùng Một và đại biểu chính phủ Huế. Phó tổng thống Mỹ Humphrey có tuyên bố bi quan về tình hình Việt nam, ông nói:

“Có ông Trời mới lật được thế cờ ở Việt Nam, đất nước có quá nhiều sự rắc rối”.

Thứ trưởng ngoại giao Mỹ nói TT Trí Quang thao túng chính trường Việt Nam, mục đích không rõ rệt. Phật giáo lập Ủy ban tranh đấu chống chính phủ nhưng bắt đầu chia làm hai phe ôn hoà và quá khích, Thượng toạ Tâm Châu ôn hoà bị phe quá khích dọa ám sát.

Cuộc tranh đấu của Phật Giáo quá khích và các vụ bạo động tại miền Trung bị các nhóm sinh viên đoàn kết, các đoàn thể Công giáo, Việt Nam Quốc dân đảng …. lên án. Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố cương quyết đàn áp biểu tình bạo động, cử Ðại tá Nguyễn Ngọc Loan làm Tổng giám đốc cảnh sát công an thay Ðại tá Phạm văn Liễu và kiêm nhiệm Giám đốc nha an ninh quân đội. Ông Thích Tâm Châu tuyên bố nếu tháng 9 không có bầu quốc hội Phật giáo sẽ biểu tình, Bắc Việt và Mỹ nên rút quân khỏi Việt Nam.

Các cuộc biểu tình và các vụ bạo động ở miền Trung đã kéo dài được hơn một tháng, lực lượng tranh thủ dân chủ tại Ðà Lạt chiếm khu chợ Hoà Bình, quân trấn chiếm lại trụ sở của lực lượng tại Hợp tác xã rau. Giữa tháng 5 Nguyễn Cao Kỳ làm mạnh, cho 5 tiểu đoàn Thủy quân lục chiến ra Ðà Nẵng bằng máy bay chiếm đài phát thanh chạm súng với lực lượng tranh đấu. Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao được cử thay Tôn thất Ðính làm Tư lệnh quân đoàn Một, ông Nguyễn Chánh Thi bị gọi ra trình diện trước ngày 20-5-1966. Trong khi ấy tại Sài Gòn các Ðại đức,Thượng toạ tuyệt thực phản đối chính phủ đem quân ra Ðà Nẵng.

Quân chính phủ và phe tranh đấu đã chạm súng có chết người và bị thương trước chùa Vũ Hội, Ðà Nẵng. Thượng tọa Trí Quang ở Huế đòi quân chính phủ phải rút khỏi Ðà Nẵng, Nguyễn Cao Kỳ phải từ chức ngay, hai bên lại nổ súng tại khu chùa Phổ Ðà, một số chết và bị thương. Ðến ngày 23-5 nhóm nổi dậy ở chùa Tỉnh Hội Ðà nẵng buông súng hàng, khoảng một trăm người trở về quân đội, hơn một ngàn súng bị tịch thu trong chùa, ba chục xác chết hôi thối. Phía chính phủ có 20 người chết hằng trăm bị thương, bác sĩ Mẫn bị bắt đưa về Sài Gòn, tại Ðà Nẵng có tất cả 76 người thiệt mạng trong cuộc dẹp loạn.

Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ làm mạnh hơn trước, Thiếu tá Tôn Thất Tường, Ðại tá Ðàm Quang Yêu cầm đầu vụ Ðà Nẵng bị bắt đưa về Sài Gòn. Ðà Nẵng coi như đã yên chính phủ còn phải lo đối phó với tình hình tại Huế. Cuối tháng 5-1966 tại Sài Gòn nhóm tranh đấu biểu tình liên miên bị giải tán bằng lựu đạn cay. Cuộc tranh đấu của Phật Giáo không có chính nghĩa đã bị chính phủ đàn áp bằng vũ lực trong khi nội bộ Phật giáo bắt đầu chia rẽ suy yếu. Ngày 5-6-1966 Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm họp báo cho biết Huế được tái lập trật tự, ba ngàn quân chính phủ có xe tăng đang trên đường ra Huế, thầy Trí Quang bèn hô hào Phật tử mang bàn thờ xuống đường để ngăn cản lối vào thành phố. Thượng tọa Tâm Châu đã về nước kêu gọi Thiệu Kỳ từ chức nhưng chống bạo động, TT Trí Quang tuyệt thực phải vào nhà thương. Nguyễn Ngọc Loan đích thân chỉ huy cảnh sát dã chiến dẹp bàn thờ và biểu tình.

Nói chung cuộc biểu tình, biến loạn chống chính phủ đã bị dẹp tan trong thời gian ngắn vì không được đa số dân chúng ủng hộ, người ta chán ngấy cảnh biểu tình tuyệt thực kéo dài hết năm này qua năm khác. Cuộc biến động đã bị các đoàn thể tôn giáo, chính trị, đảng phái, sinh viên … lên án vì đã tạo ra tình trạng rối loạn tại hậu phương có lợi cho Cộng Sản. Khoảng gần một năm sau, các sĩ quan cao cấp tham gia biến động đã bị đưa ra toà chịu biện pháp kỷ luật.

Cuộc biến động sau đó bị chìm vào quên lãng vì thực ra nó không có tầm vóc lớn hay nói khác đi tầm vóc Quốc gia mà chỉ là những cuộc biểu tình, ly khai của một số đơn vị miền Trung nhất là Ðà Nẵng, Huế. Sở dĩ chúng tôi nói là không có tầm vóc Quốc gia vì nó không phát triển mạnh tại Trung ương tức Thủ đô Sài Gòn hồi đó, những cuộc biểu tình của Phật giáo chống chính phủ năm 1963 và năm 1964 để lật đổ các chính phủ Ngô đình Diệm và Trần Văn Hương mới có thể coi là có tầm vóc quốc gia .

Thời gian sau, chiến tranh ngày càng mở rộng hầu như báo chí, đài phát thanh không thấy ai bàn tới biến cố này, có thể họ không coi đó là một vấn đề to tát. Gần đây chúng tôi có được đọc bài Biến động Miền Trung của cựu Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi cho rằng phong trào tranh đấu của Phật giáo hồi đó là để đòi chính phủ quân nhân thực hiện bầu cử để miền Nam có một chính quyền dân cử, nhưng dù nói bằng danh từ hoa mỹ nào thì cuộc biến động miền Trung hồi 1966 đã phá rối trị an, có lợi cho Cộng Sản.

Thế rồi 40 năm đã trôi qua nay cuộc biến động đã được làm sống lại trong cuốn hồi ký Biến Ðộng Miền Trung (BÐMT) của cựu Thiếu tá cảnh sát Liên Thành (LT), mới đầu chúng tôi thấy khoảng năm 2005, 2006 tuần báo Sài Gòn nhỏ có đăng một số bài trích trong cuốn sách chưa xuất bản này, một thời gia sau Liên Thành cho in thành sách và ra mắt sách tại một số nơi. Cuốn sách được nhiều người hưởng ứng mua ủng hộ và càng ngày càng được phổ biến. Một điều hơi lạ một đề tài xưa như trái đất, không hấp dẫn gì cho lắm, nó không có tầm vóc quốc gia đã bị thời gian chôn vùi từ trên 40 năm qua nay tự nhiên lại “nổi đình đám” khắp nơi, ngày càng dữ dội rất là “hot” nóng, ngày càng được ra mắt sách tại nhiều nơi tại Mỹ cũng như tại Úc, ngày càng được bàn thảo tranh cãi khắp nơi tại hải ngoại, trên các diễn đàn điện tử, người ta tranh cãi nhau dữ dội, thậm chí xỉ vả, chửi bới lẫn nhau vì bất đồng ý kiến.

Nhiều người khen ông Liên Thành can đảm nói lên những sự thật lịch sử đã được dấu kín bay lâu nay. Dần dần có nhiều người phản ứng chỉ trích trên báo chí về sự sai lạc của các dữ kiện trong cuốn sách, một số nhân chứng cho là ông Liên Thành không nói đúng sự thật. Sau đó có một vài sĩ quan cao cấp trong ngành cảnh sát cũng lên tiếng trên báo Sài Gòn Nhỏ chỉ trích những điểm sai trong cuốn sách. Chúng tôi có hỏi ý kiến một cựu sĩ quan cảnh sát có chức vụ và cấp bậc khá lớn trước 1975, ông này theo Công giáo đã lắc đầu tỏ vẻ không tán thành việc làm của Liên Thành và cho rằng nó sẽ gây xáo trộn trong cộng đồng hải ngoại. Ở đây chúng tôi không bàn về nội dung cuốn sách đúng, sai, hay, dở mà chỉ nêu một số ảnh hưởng không tốt do nó gây ra trong cộng đồng. Có điều đáng nói là ông Liên Thành đã không được giới cảnh sát Quốc gia ủng hộ, bằng cứ là trong các cuộc ra mắt sách của ông không nghe nói Cảnh sát tổ chức ra mắt hay có đại diện tới dự.

Nguyễn Phúc Liên Thành

Ông Liên Thành sinh năm 1942, học lực tú tài, năm 1966 là sĩ quan cấp thiếu uý biệt phái sang làm phó ty Cảnh Sát Thừa Thiên, ông không tốt nghiệp học viện Cảnh Sát quốc gia như nhiều trưởng ty khác, năm 1975 LT giữ cấp bậc Thiếu tá chức vụ cảnh sát trưởng Thừa Thiên. Như vậy năm 1966 ông LT chỉ là một sĩ quan cấp bậc chức vụ nhỏ, học lực trung bình, 24 tuổi, những sự kiện ông kể lại trong sách không thể coi là có tầm vóc Quốc gia được mà chỉ coi như là những biến cố địa phương của một tỉnh lẻ xa xôi. Mặc dù cấp bậc, chức vụ nhỏ, biến cố tại Huế nơi ông làm việc không phải là vấn đề to tát nhưng cuốn sách của ông đã được thổi phồng quá đáng, người ta có cảm tưởng như chức vụ của ông ngang hàng Tổng giám đốc hoặc chỉ huy trưởng Cảnh sát trung ương tại Sài Gòn vì ông kể lại toàn những chuyện to tát, động trời.

BÐMT không thể coi là có tầm vóc bí mật Quốc gia vì nó chỉ kể lại những biến động tại một tỉnh lẻ trong một địa phương nhỏ mà thôi, nếu nói là tầm vóc lớn chúng ta phải kể Hồ Sơ Mật Dinh Ðộc Lập hoặc Khi Ðồng Minh Tháo Chạy của Giáo Sư Nguyễn Tiến Hưng vì nó liên quan đến những việc Quốc gia đại sự , những điều tác giả NTH tiết lộ là những bí mật Quốc gia có liên quan đến giới chức cao cấp trong chính quyền Việt Mỹ và vận mệnh miền Nam trước 1975, tuy nhiên ngay như hai cuốn sách này cũng không được quảng bá rầm rộ như cuốn BÐMT.

Nói về ảnh hưởng của cuốn BÐMT thì ta khó mà chối cãi được, năm ngoái năm kia, trong khi dân oan khiếu kiện tại Sài Gòn, Hà Nội ầm ĩ, đồng bào Công giáo Thái Hà đòi đất, giáo dân đòi toà khâm sứ Hà Nội đang nóng hổi thì Biến Ðộng Miền Trung cũng nổi đình đám ầm ĩ tại Hải ngoại át hẳn vụ toà Khâm sứ và vụ Thái Hà của Giáo dân trong nước, có một nhà báo đã nói cuốn sách này có thể khiến người ta quên đi vụ Thái Hà, Toà Khâm Sứ. Hư thực ra sao chưa rõ nhưng chúng ta phải công nhận nó đã gây xáo trộn khá nhiều trong cộng đồng hải ngoại. Cho tới nay Biến Ðộng Miền Trung vẫn được tiếp tục ra mắt sách, tiếp tục được quảng cáo, lăng sê ầm ĩ .

Trên nhiều diễn đàn ngày càng có thêm những viết bài chỉ trích, than phiền về cuốn BÐMT của LT, cách đây vài tháng trên DCV.online một bài góp ý vơi LT được đưa lên diễn đàn này, ngay sau đó có hàng mấy chục rồi gần một trăm người góp ý, họ đem tác giả bài viết ra đấu tố y hệt như cải cách ruộng đất năm 1955 ngoài Bắc . Những người bênh vực ủng hộ LT chửi rủa, tru tréo, mạt sát tác giả bài viết và sau đó những người ủng hộ tác giả phản pháo lại dữ dội, họ làm như muốn ăn tươi nuốt sống nhau . Ðiều đáng sợ là trong đó vấn đề tôn giáo đã được hai bên đem ra làm đối tượng tranh cãi, bên này chỉ trích nói xấu tôn giáo bên kia, chia rẽ tôn giáo đã thực sự thành vấn đề. Như chúng ta đã biết Cộng Sản thường len lỏi vào cộng đồng để đâm bị thóc chọc bị gạo, CS lợi dụng tối đa sự chia rẽ của người Việt Quốc gia để tạo phân hoá nghi kỵ. BÐMT được đề cập có khi hàng tuần, hàng tháng trên các diễn đàn, được tranh cãi, chỉ trích chửi bới nhau giữa các độc giả hay tranh cãi, dĩ nhiên trong đó CS giả vờ đóng vai độc giả để chửi bới bên kia, đâm bị thóc chọc bị gạo chia rẽ cả hai bên.

Việc ông Liên Thành đem chuyện xưa viết hồi ký không có gì là sai trái, đó là quyền tự do cá nhân của ông, nếu như ông có quảng cáo tối đa tác phẩm BÐMT của ông để bán lấy nhiều tiền hay để đánh bong, khoe khoang cho cá nhân ông thì cũng là quyền của ông. Nhưng vấn đề chúng tôi muốn nói ở đây là tác phẩm của ông nay gây quá nhiều tranh cãi, chia rẽ nặng nề trong cộng đồng Hải ngoại, dù là vô tình hay cố ý nó cũng không có lợi cho chúng ta trong lúc này. Ông LT là người Quốc gia chắc cũng biết rằng xáo trộn chia rẽ là có lợi cho CS, họ chỉ trông đợi có thế như vậy dù việc gây xáo trộn do vô tình hay cố ý chúng ta cũng đều nên tránh né.

Tôi thiết nghĩ tác phẩm của ông nay đã tới tay nhiều người đọc, ông đã bán được khá nhiều sách, ông đã từ một người vô danh tiểu tốt không ai biết tới trở thành nhân vật nổi tiếng và như thế chúng tôi nghĩ cũng là được quá rồi. Có lẽ ông nên thôi ra mắt sách, thôi lên các diễn đàn trả lời người đọc vì gần đây ông ra mắt sách tại Bắc Cali mới khiến cho một người lên tiếng phản bác cuốn sách của ông trên diễn đàn gây lên nhiều tranh cãi chia rẽ như họ đã làm trên các trang diễn đàn khác. Có lẽ là người Quốc gia ông nên nghĩ tới quyền lợi của cộng đồng để phục vụ công cuộc tranh đấu chung của người Việt hải ngoại hơn là đi tranh luận đỏ mặt, tía tai về những chuyện ruồi bu, cũ rích.

Ông LT là nhân chứng lịch sử nhưng không có nghĩa tất cả những điều ông kể lại đều được người ta tin hết, người đọc họ cũng không ngây thơ như vậy đâu.

Trong cuộc phỏng vấn của ông Lâm Lễ Trinh, ông Cao Văn Viên đã kết luận.

“Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng, như trong phim ‘Rashomon’. Một trăm nhân chứng, một trăm sự thật. Ðịnh kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm tình với lòng thành. Hãy để cho hậu thế lượng định và phán xét”
(Lâm Lễ Trinh, Về Nguồn, trang 276.)

Trong phim Rashomon (Nhật, 1951), cái chết của một hiệp sĩ trong rừng đã được năm người nhân chứng khai khác nhau, không biết đâu là sự thực. Ngay như giữa hai ông cựu tướng Cao Văn Viên và Ngô Quang Trưởng khi kể lại tình hình tháng 3-1975 cũng đã có sự khác biệt rõ rệt. Ông Trưởng nói ngày 13-3-1975 ông được triệu về Sài Gòn, tại dinh Ðộc Lập chỉ có một mình ông vào gặp Tổng thống và Thủ tướng và Tổng thống Thiệu buộc ông phải rút bỏ Quân đoàn I ngay hôm 13-3-1975. Ông Cao Văn Viên lại nói buổi họp ngày 13-3 có Tổng thống, Thủ tướng , Trung Tướng Ðặng Văn Quang, ông Cao Văn Viên và hai vị Tư lệnh quân khu III và QK I, ông Thiệu chưa cho lệnh rút quân bất cứ nới nào lúc đó ( 13-3-75).

Chúng tôi nghĩ có lẽ ông Liên Thành nên khiêm tốn như ông Cao Văn Viên, ông không nên quả quyết một cách chắc chắn những sự kiện do mình đã làm nhân chứng, vả lại trong bài CIA Và Các Ông Tướng ông Trần bình Nam có nói.

“Một điều cần nói là không có một tài liệu nào, nhất là tài liệu liên quan đến hoạt động tình báo là hoàn toàn trung thực. Giải mật một tài liệu tự nó cũng có thể là một phần của một chương trình tình báo khác”

Chúng tôi nghĩ có lẽ ông LT nên bớt chỉ trích tố giác người này người nọ vì nó không có lợi cho cá nhân ông, thí dụ như trên Ðàn Chim Việt trong bài nói về Rút bỏ Quân đoàn Một và bài nói về Biến động miền Trung đã có hai nhân chứng là cựu quân nhân rút chạy tại Huế góp ý nói rằng ông Liên Thành tháng 3-1975 đã bỏ một lô đàn em ở Thuận An chạy tháo thân trước và họ đã chỉ trích nặng nề hành động này.

Cộng sản đã được hưởng lợi rất nhiều ở tình hình biến động miền trung năm 1966, nay chúng ta không thể để cho họ lợi dụng Biến Ðộng Miền Trung một lần thứ hai. Cộng đồng người Việt Hải ngoại nay đang có rất nhiều việc trước mắt cần làm như: yểm trợ các nhà đấu tranh dân chủ trong nước, hỗ trợ các tôn giáo tranh đấu cho quyền tự do tín ngưỡng, giúp đỡ thương phế binh VNCH tại Việt Nam, ngăn chận sự xâm nhập của CS nằm vùng vào cộng đồng, biểu tình chống Trung Quốc lấn đất, lấn biển …. ngoài ra chúng ta cần phải đánh giặc chia rẽ.

Trước mắt chúng ta là hằng hà sa số những việc có ý nghĩa cần phải làm cho nhân dân, cho đất nước, việc tranh cãi chửi bới nhau về những chuyện ruồi bu, kiến đậu, xưa như trái đất hơn 40 năm về trước chỉ thêm tốn nước bọt một cách vô ích, nó đã không cần thiết lại có hại cho tình đoàn kết của cộng đồng.

Trọng Ðạt