Tuesday, November 10, 2009

Trọng Ðạt: Biến Ðộng Miền Trung - Trọng Đạt

Trọng Đạt

Trọng Đạt

Chúng tôi xin sơ lược tình hình biến động giai đọan 1966 dựa vào cuốn “1966 Việc Từng Ngày” của ông Ðoàn Thêm.

Cuối tháng 3 -1966 tại Ðà Nẵng có nhiều vụ biểu tình, đóng cửa tiệm, tình hình Huế cũng rất sôi nổi trong khi Ủy ban Lãnh đạo Quốc Gia quyết định triệu tập Hội đồng Tư vấn soạn thảo Hiến Pháp và tổ chức bầu cử cuối năm 1966 thay vì cuối năm 1967 như dự định. Ông Nguyễn cao Kỳ Chủ tịch Uỷ ban hành pháp trung ương cho biết miền Trung có nhiều vụ lộn xộn đình công bãi thị, kho gạo ngoài Huế sắp cạn, trong khi ấy tại Viện Hoá Ðạo Sài Gòn có hai trăm Phật tử biểu tình đi từ Viện tới công trường Diên Hồng trương biển ngữ chống chính phủ. Thượng toạ Thích Tâm Châu kêu gọi Phật tử bình tĩnh chờ chính phủ thoả mãn các nguyện vọng, tại Huế có tới hai chục ngàn người đi tuần hành.

Phật Giáo lại biểu tình khắp nơi đòi chính phủ phải thực thi dân chủ, tổ chức bầu cử Tổng thống và Quốc hội, đầu tháng 4-1966 tình hình miền Trung ngày càng trở nên nghiêm trọng. Nguyễn Cao Kỳ cho biết bác sĩ Nguyễn văn Mẫn, thị trưởng Ðà Nẵng thuê người đi biểu tình chống chính phủ, đe dọa dân chúng, hô hào đình công bãi thị. . ông Kỳ coi như Ðà Nẵng bị Việt Cộng chiếm, sẽ hành quân tái chiếm và xử tử thị trưởng Mẫn. Chính phủ cho biết Việt Cộng muốn bài Mỹ để cô lập Việt nam Cộng Hòa. Ðài phát thanh Ðà Lạt bị nhóm biểu tình đốt, ngoài ra tại Ðà Nẵng, Ban Mê Thuột, Nha Trang cũng có nhiều cuộc biểu tình chống chính phủ. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu Chủ tịch Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia kêu gọi chấm dứt hỗn loạn, đóng cửa các trường học.

Quân đội đã lấy lại Nha Trang, mặc dù Viện Hoá Ðạo kêu gọi bình tĩnh nhưng hàng ngàn người quá khích đã biểu tình đốt xe, xung đột với cảnh sát. Trung tướng Tôn Thất Ðính được cử thay thế Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuẩn làm Tư lệnh vùng Một và đại biểu chính phủ Huế. Phó tổng thống Mỹ Humphrey có tuyên bố bi quan về tình hình Việt nam, ông nói:

“Có ông Trời mới lật được thế cờ ở Việt Nam, đất nước có quá nhiều sự rắc rối”.

Thứ trưởng ngoại giao Mỹ nói TT Trí Quang thao túng chính trường Việt Nam, mục đích không rõ rệt. Phật giáo lập Ủy ban tranh đấu chống chính phủ nhưng bắt đầu chia làm hai phe ôn hoà và quá khích, Thượng toạ Tâm Châu ôn hoà bị phe quá khích dọa ám sát.

Cuộc tranh đấu của Phật Giáo quá khích và các vụ bạo động tại miền Trung bị các nhóm sinh viên đoàn kết, các đoàn thể Công giáo, Việt Nam Quốc dân đảng …. lên án. Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố cương quyết đàn áp biểu tình bạo động, cử Ðại tá Nguyễn Ngọc Loan làm Tổng giám đốc cảnh sát công an thay Ðại tá Phạm văn Liễu và kiêm nhiệm Giám đốc nha an ninh quân đội. Ông Thích Tâm Châu tuyên bố nếu tháng 9 không có bầu quốc hội Phật giáo sẽ biểu tình, Bắc Việt và Mỹ nên rút quân khỏi Việt Nam.

Các cuộc biểu tình và các vụ bạo động ở miền Trung đã kéo dài được hơn một tháng, lực lượng tranh thủ dân chủ tại Ðà Lạt chiếm khu chợ Hoà Bình, quân trấn chiếm lại trụ sở của lực lượng tại Hợp tác xã rau. Giữa tháng 5 Nguyễn Cao Kỳ làm mạnh, cho 5 tiểu đoàn Thủy quân lục chiến ra Ðà Nẵng bằng máy bay chiếm đài phát thanh chạm súng với lực lượng tranh đấu. Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao được cử thay Tôn thất Ðính làm Tư lệnh quân đoàn Một, ông Nguyễn Chánh Thi bị gọi ra trình diện trước ngày 20-5-1966. Trong khi ấy tại Sài Gòn các Ðại đức,Thượng toạ tuyệt thực phản đối chính phủ đem quân ra Ðà Nẵng.

Quân chính phủ và phe tranh đấu đã chạm súng có chết người và bị thương trước chùa Vũ Hội, Ðà Nẵng. Thượng tọa Trí Quang ở Huế đòi quân chính phủ phải rút khỏi Ðà Nẵng, Nguyễn Cao Kỳ phải từ chức ngay, hai bên lại nổ súng tại khu chùa Phổ Ðà, một số chết và bị thương. Ðến ngày 23-5 nhóm nổi dậy ở chùa Tỉnh Hội Ðà nẵng buông súng hàng, khoảng một trăm người trở về quân đội, hơn một ngàn súng bị tịch thu trong chùa, ba chục xác chết hôi thối. Phía chính phủ có 20 người chết hằng trăm bị thương, bác sĩ Mẫn bị bắt đưa về Sài Gòn, tại Ðà Nẵng có tất cả 76 người thiệt mạng trong cuộc dẹp loạn.

Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ làm mạnh hơn trước, Thiếu tá Tôn Thất Tường, Ðại tá Ðàm Quang Yêu cầm đầu vụ Ðà Nẵng bị bắt đưa về Sài Gòn. Ðà Nẵng coi như đã yên chính phủ còn phải lo đối phó với tình hình tại Huế. Cuối tháng 5-1966 tại Sài Gòn nhóm tranh đấu biểu tình liên miên bị giải tán bằng lựu đạn cay. Cuộc tranh đấu của Phật Giáo không có chính nghĩa đã bị chính phủ đàn áp bằng vũ lực trong khi nội bộ Phật giáo bắt đầu chia rẽ suy yếu. Ngày 5-6-1966 Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm họp báo cho biết Huế được tái lập trật tự, ba ngàn quân chính phủ có xe tăng đang trên đường ra Huế, thầy Trí Quang bèn hô hào Phật tử mang bàn thờ xuống đường để ngăn cản lối vào thành phố. Thượng tọa Tâm Châu đã về nước kêu gọi Thiệu Kỳ từ chức nhưng chống bạo động, TT Trí Quang tuyệt thực phải vào nhà thương. Nguyễn Ngọc Loan đích thân chỉ huy cảnh sát dã chiến dẹp bàn thờ và biểu tình.

Nói chung cuộc biểu tình, biến loạn chống chính phủ đã bị dẹp tan trong thời gian ngắn vì không được đa số dân chúng ủng hộ, người ta chán ngấy cảnh biểu tình tuyệt thực kéo dài hết năm này qua năm khác. Cuộc biến động đã bị các đoàn thể tôn giáo, chính trị, đảng phái, sinh viên … lên án vì đã tạo ra tình trạng rối loạn tại hậu phương có lợi cho Cộng Sản. Khoảng gần một năm sau, các sĩ quan cao cấp tham gia biến động đã bị đưa ra toà chịu biện pháp kỷ luật.

Cuộc biến động sau đó bị chìm vào quên lãng vì thực ra nó không có tầm vóc lớn hay nói khác đi tầm vóc Quốc gia mà chỉ là những cuộc biểu tình, ly khai của một số đơn vị miền Trung nhất là Ðà Nẵng, Huế. Sở dĩ chúng tôi nói là không có tầm vóc Quốc gia vì nó không phát triển mạnh tại Trung ương tức Thủ đô Sài Gòn hồi đó, những cuộc biểu tình của Phật giáo chống chính phủ năm 1963 và năm 1964 để lật đổ các chính phủ Ngô đình Diệm và Trần Văn Hương mới có thể coi là có tầm vóc quốc gia .

Thời gian sau, chiến tranh ngày càng mở rộng hầu như báo chí, đài phát thanh không thấy ai bàn tới biến cố này, có thể họ không coi đó là một vấn đề to tát. Gần đây chúng tôi có được đọc bài Biến động Miền Trung của cựu Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi cho rằng phong trào tranh đấu của Phật giáo hồi đó là để đòi chính phủ quân nhân thực hiện bầu cử để miền Nam có một chính quyền dân cử, nhưng dù nói bằng danh từ hoa mỹ nào thì cuộc biến động miền Trung hồi 1966 đã phá rối trị an, có lợi cho Cộng Sản.

Thế rồi 40 năm đã trôi qua nay cuộc biến động đã được làm sống lại trong cuốn hồi ký Biến Ðộng Miền Trung (BÐMT) của cựu Thiếu tá cảnh sát Liên Thành (LT), mới đầu chúng tôi thấy khoảng năm 2005, 2006 tuần báo Sài Gòn nhỏ có đăng một số bài trích trong cuốn sách chưa xuất bản này, một thời gia sau Liên Thành cho in thành sách và ra mắt sách tại một số nơi. Cuốn sách được nhiều người hưởng ứng mua ủng hộ và càng ngày càng được phổ biến. Một điều hơi lạ một đề tài xưa như trái đất, không hấp dẫn gì cho lắm, nó không có tầm vóc quốc gia đã bị thời gian chôn vùi từ trên 40 năm qua nay tự nhiên lại “nổi đình đám” khắp nơi, ngày càng dữ dội rất là “hot” nóng, ngày càng được ra mắt sách tại nhiều nơi tại Mỹ cũng như tại Úc, ngày càng được bàn thảo tranh cãi khắp nơi tại hải ngoại, trên các diễn đàn điện tử, người ta tranh cãi nhau dữ dội, thậm chí xỉ vả, chửi bới lẫn nhau vì bất đồng ý kiến.

Nhiều người khen ông Liên Thành can đảm nói lên những sự thật lịch sử đã được dấu kín bay lâu nay. Dần dần có nhiều người phản ứng chỉ trích trên báo chí về sự sai lạc của các dữ kiện trong cuốn sách, một số nhân chứng cho là ông Liên Thành không nói đúng sự thật. Sau đó có một vài sĩ quan cao cấp trong ngành cảnh sát cũng lên tiếng trên báo Sài Gòn Nhỏ chỉ trích những điểm sai trong cuốn sách. Chúng tôi có hỏi ý kiến một cựu sĩ quan cảnh sát có chức vụ và cấp bậc khá lớn trước 1975, ông này theo Công giáo đã lắc đầu tỏ vẻ không tán thành việc làm của Liên Thành và cho rằng nó sẽ gây xáo trộn trong cộng đồng hải ngoại. Ở đây chúng tôi không bàn về nội dung cuốn sách đúng, sai, hay, dở mà chỉ nêu một số ảnh hưởng không tốt do nó gây ra trong cộng đồng. Có điều đáng nói là ông Liên Thành đã không được giới cảnh sát Quốc gia ủng hộ, bằng cứ là trong các cuộc ra mắt sách của ông không nghe nói Cảnh sát tổ chức ra mắt hay có đại diện tới dự.

Nguyễn Phúc Liên Thành

Ông Liên Thành sinh năm 1942, học lực tú tài, năm 1966 là sĩ quan cấp thiếu uý biệt phái sang làm phó ty Cảnh Sát Thừa Thiên, ông không tốt nghiệp học viện Cảnh Sát quốc gia như nhiều trưởng ty khác, năm 1975 LT giữ cấp bậc Thiếu tá chức vụ cảnh sát trưởng Thừa Thiên. Như vậy năm 1966 ông LT chỉ là một sĩ quan cấp bậc chức vụ nhỏ, học lực trung bình, 24 tuổi, những sự kiện ông kể lại trong sách không thể coi là có tầm vóc Quốc gia được mà chỉ coi như là những biến cố địa phương của một tỉnh lẻ xa xôi. Mặc dù cấp bậc, chức vụ nhỏ, biến cố tại Huế nơi ông làm việc không phải là vấn đề to tát nhưng cuốn sách của ông đã được thổi phồng quá đáng, người ta có cảm tưởng như chức vụ của ông ngang hàng Tổng giám đốc hoặc chỉ huy trưởng Cảnh sát trung ương tại Sài Gòn vì ông kể lại toàn những chuyện to tát, động trời.

BÐMT không thể coi là có tầm vóc bí mật Quốc gia vì nó chỉ kể lại những biến động tại một tỉnh lẻ trong một địa phương nhỏ mà thôi, nếu nói là tầm vóc lớn chúng ta phải kể Hồ Sơ Mật Dinh Ðộc Lập hoặc Khi Ðồng Minh Tháo Chạy của Giáo Sư Nguyễn Tiến Hưng vì nó liên quan đến những việc Quốc gia đại sự , những điều tác giả NTH tiết lộ là những bí mật Quốc gia có liên quan đến giới chức cao cấp trong chính quyền Việt Mỹ và vận mệnh miền Nam trước 1975, tuy nhiên ngay như hai cuốn sách này cũng không được quảng bá rầm rộ như cuốn BÐMT.

Nói về ảnh hưởng của cuốn BÐMT thì ta khó mà chối cãi được, năm ngoái năm kia, trong khi dân oan khiếu kiện tại Sài Gòn, Hà Nội ầm ĩ, đồng bào Công giáo Thái Hà đòi đất, giáo dân đòi toà khâm sứ Hà Nội đang nóng hổi thì Biến Ðộng Miền Trung cũng nổi đình đám ầm ĩ tại Hải ngoại át hẳn vụ toà Khâm sứ và vụ Thái Hà của Giáo dân trong nước, có một nhà báo đã nói cuốn sách này có thể khiến người ta quên đi vụ Thái Hà, Toà Khâm Sứ. Hư thực ra sao chưa rõ nhưng chúng ta phải công nhận nó đã gây xáo trộn khá nhiều trong cộng đồng hải ngoại. Cho tới nay Biến Ðộng Miền Trung vẫn được tiếp tục ra mắt sách, tiếp tục được quảng cáo, lăng sê ầm ĩ .

Trên nhiều diễn đàn ngày càng có thêm những viết bài chỉ trích, than phiền về cuốn BÐMT của LT, cách đây vài tháng trên DCV.online một bài góp ý vơi LT được đưa lên diễn đàn này, ngay sau đó có hàng mấy chục rồi gần một trăm người góp ý, họ đem tác giả bài viết ra đấu tố y hệt như cải cách ruộng đất năm 1955 ngoài Bắc . Những người bênh vực ủng hộ LT chửi rủa, tru tréo, mạt sát tác giả bài viết và sau đó những người ủng hộ tác giả phản pháo lại dữ dội, họ làm như muốn ăn tươi nuốt sống nhau . Ðiều đáng sợ là trong đó vấn đề tôn giáo đã được hai bên đem ra làm đối tượng tranh cãi, bên này chỉ trích nói xấu tôn giáo bên kia, chia rẽ tôn giáo đã thực sự thành vấn đề. Như chúng ta đã biết Cộng Sản thường len lỏi vào cộng đồng để đâm bị thóc chọc bị gạo, CS lợi dụng tối đa sự chia rẽ của người Việt Quốc gia để tạo phân hoá nghi kỵ. BÐMT được đề cập có khi hàng tuần, hàng tháng trên các diễn đàn, được tranh cãi, chỉ trích chửi bới nhau giữa các độc giả hay tranh cãi, dĩ nhiên trong đó CS giả vờ đóng vai độc giả để chửi bới bên kia, đâm bị thóc chọc bị gạo chia rẽ cả hai bên.

Việc ông Liên Thành đem chuyện xưa viết hồi ký không có gì là sai trái, đó là quyền tự do cá nhân của ông, nếu như ông có quảng cáo tối đa tác phẩm BÐMT của ông để bán lấy nhiều tiền hay để đánh bong, khoe khoang cho cá nhân ông thì cũng là quyền của ông. Nhưng vấn đề chúng tôi muốn nói ở đây là tác phẩm của ông nay gây quá nhiều tranh cãi, chia rẽ nặng nề trong cộng đồng Hải ngoại, dù là vô tình hay cố ý nó cũng không có lợi cho chúng ta trong lúc này. Ông LT là người Quốc gia chắc cũng biết rằng xáo trộn chia rẽ là có lợi cho CS, họ chỉ trông đợi có thế như vậy dù việc gây xáo trộn do vô tình hay cố ý chúng ta cũng đều nên tránh né.

Tôi thiết nghĩ tác phẩm của ông nay đã tới tay nhiều người đọc, ông đã bán được khá nhiều sách, ông đã từ một người vô danh tiểu tốt không ai biết tới trở thành nhân vật nổi tiếng và như thế chúng tôi nghĩ cũng là được quá rồi. Có lẽ ông nên thôi ra mắt sách, thôi lên các diễn đàn trả lời người đọc vì gần đây ông ra mắt sách tại Bắc Cali mới khiến cho một người lên tiếng phản bác cuốn sách của ông trên diễn đàn gây lên nhiều tranh cãi chia rẽ như họ đã làm trên các trang diễn đàn khác. Có lẽ là người Quốc gia ông nên nghĩ tới quyền lợi của cộng đồng để phục vụ công cuộc tranh đấu chung của người Việt hải ngoại hơn là đi tranh luận đỏ mặt, tía tai về những chuyện ruồi bu, cũ rích.

Ông LT là nhân chứng lịch sử nhưng không có nghĩa tất cả những điều ông kể lại đều được người ta tin hết, người đọc họ cũng không ngây thơ như vậy đâu.

Trong cuộc phỏng vấn của ông Lâm Lễ Trinh, ông Cao Văn Viên đã kết luận.

“Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng, như trong phim ‘Rashomon’. Một trăm nhân chứng, một trăm sự thật. Ðịnh kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm tình với lòng thành. Hãy để cho hậu thế lượng định và phán xét”
(Lâm Lễ Trinh, Về Nguồn, trang 276.)

Trong phim Rashomon (Nhật, 1951), cái chết của một hiệp sĩ trong rừng đã được năm người nhân chứng khai khác nhau, không biết đâu là sự thực. Ngay như giữa hai ông cựu tướng Cao Văn Viên và Ngô Quang Trưởng khi kể lại tình hình tháng 3-1975 cũng đã có sự khác biệt rõ rệt. Ông Trưởng nói ngày 13-3-1975 ông được triệu về Sài Gòn, tại dinh Ðộc Lập chỉ có một mình ông vào gặp Tổng thống và Thủ tướng và Tổng thống Thiệu buộc ông phải rút bỏ Quân đoàn I ngay hôm 13-3-1975. Ông Cao Văn Viên lại nói buổi họp ngày 13-3 có Tổng thống, Thủ tướng , Trung Tướng Ðặng Văn Quang, ông Cao Văn Viên và hai vị Tư lệnh quân khu III và QK I, ông Thiệu chưa cho lệnh rút quân bất cứ nới nào lúc đó ( 13-3-75).

Chúng tôi nghĩ có lẽ ông Liên Thành nên khiêm tốn như ông Cao Văn Viên, ông không nên quả quyết một cách chắc chắn những sự kiện do mình đã làm nhân chứng, vả lại trong bài CIA Và Các Ông Tướng ông Trần bình Nam có nói.

“Một điều cần nói là không có một tài liệu nào, nhất là tài liệu liên quan đến hoạt động tình báo là hoàn toàn trung thực. Giải mật một tài liệu tự nó cũng có thể là một phần của một chương trình tình báo khác”

Chúng tôi nghĩ có lẽ ông LT nên bớt chỉ trích tố giác người này người nọ vì nó không có lợi cho cá nhân ông, thí dụ như trên Ðàn Chim Việt trong bài nói về Rút bỏ Quân đoàn Một và bài nói về Biến động miền Trung đã có hai nhân chứng là cựu quân nhân rút chạy tại Huế góp ý nói rằng ông Liên Thành tháng 3-1975 đã bỏ một lô đàn em ở Thuận An chạy tháo thân trước và họ đã chỉ trích nặng nề hành động này.

Cộng sản đã được hưởng lợi rất nhiều ở tình hình biến động miền trung năm 1966, nay chúng ta không thể để cho họ lợi dụng Biến Ðộng Miền Trung một lần thứ hai. Cộng đồng người Việt Hải ngoại nay đang có rất nhiều việc trước mắt cần làm như: yểm trợ các nhà đấu tranh dân chủ trong nước, hỗ trợ các tôn giáo tranh đấu cho quyền tự do tín ngưỡng, giúp đỡ thương phế binh VNCH tại Việt Nam, ngăn chận sự xâm nhập của CS nằm vùng vào cộng đồng, biểu tình chống Trung Quốc lấn đất, lấn biển …. ngoài ra chúng ta cần phải đánh giặc chia rẽ.

Trước mắt chúng ta là hằng hà sa số những việc có ý nghĩa cần phải làm cho nhân dân, cho đất nước, việc tranh cãi chửi bới nhau về những chuyện ruồi bu, kiến đậu, xưa như trái đất hơn 40 năm về trước chỉ thêm tốn nước bọt một cách vô ích, nó đã không cần thiết lại có hại cho tình đoàn kết của cộng đồng.

Trọng Ðạt

Bàn Về Những “Chiêu Bài Mị Dân” - Song Chi

Song Chi

Để giữ vững vị trí độc tôn lãnh đạo, để tiếp tục ru ngủ số đông người dân khờ khạo đồng thời dẹp yên những mầm mống tư tưởng hoài nghi, bất phục và đối kháng trong một thiểu số “cứng đầu”, những nhà nước chuyên chế độc tài luôn luôn phải có những “chiêu bài mị dân” của họ. Ví dụ, với nhà nước Trung Quốc hiện nay, người ta thấy rất rõ những chiêu bài đó là sự phát triển kinh tế và niềm tự hào, tự tôn về dân tộc. Chính những thành tích về phát triển kinh tế, sự lớn mạnh về khả năng quân sự quốc phòng, viễn cảnh về một siêu cường quốc trong tương lai… của Trung Quốc chắc chắn đã tạo nên trong lòng đa số dân chúng của họ một cảm giác bằng lòng và tự hào để tạm quên đi khát vọng về tự do dân chủ, nhân quyền được tôn trọng cũng như sự bức xúc trước muôn vàn bất công, phi lý, những điều tồi tệ trong xã hội. Và hai “lá bài” này phải nói là mạnh, bởi vì với đà phát triển kinh tế như hiện nay, với vị thế của một đất nước khổng lồ trên một tỷ dân và với một tham vọng bành trướng, bá quyền đã có “truyền thống” từ xưa, Đảng và Nhà nước cộng sản Trung Quốc có thể yên tâm mà tại vị khá lâu nữa, nếu như không có bất cứ một khúc ngoặt bất ngờ nào đó của thời cuộc.

Học theo đàn anh, Đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam cũng có những “chiêu bài mị dân” riêng của mình. Trước đây những “chiêu bài” quen thuộc được sử dụng bao nhiêu năm là thành tích về “sự chiến thắng vĩ đại của Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh thần thánh chống Pháp và chống Mỹ, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước” và huyền thoại về vị cha già dân tộc Hồ Chí Minh. Cho đến giờ phút này, những điều này vẫn thường xuyên được lặp đi lặp lại từ trên các phương tiện truyền thông của nhà nước cho đến chương trình giáo khoa suốt 12 năm trung học và cả bậc đại học. Thậm chí, sợ người dân xao lãng, nhà nước còn phát động rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân những cuộc học tập theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh rất là quy mô và tốn kém, bắt cả sư thầy ni cô trong các nhà chùa cũng phải học!

Từ khi thực hiện chính sách “mở cửa” về kinh tế, chính quyền chuyển sang khuyến khích người dân lao vào kiếm tiền, làm giàu bằng đủ mọi cách và sử dụng lá bài “ổn định chính trị, phát triển kinh tế” để người dân quên đi những nhu cầu khác cũng như những câu hỏi lớn khác về đời sống xã hội chính trị của đất nước. Đối lập với sự ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế, một lập luận thường xuyên được những người cầm quyền đưa ra để “hù doạ” nhân dân đó là mọi sự đa đảng, đa nguyên sẽ chỉ dẫn đến sự xáo trộn, rối loạn về chính trị, xã hội và cả kinh tế, lý do là bởi vì trình độ dân trí Việt Nam còn thấp nên mô hình độc đảng với sự lãnh đạo của Đảng CSVN như lâu nay là đúng đắn, tối ưu.

Phải nói là có không ít người dân, nếu không đọc thêm các nguồn thông tin khác hoặc có thêm những trải nghiệm cá nhân về những môi trường sống khác trong những thể chế chính trị xã hội khác, đã tin hoặc tạm bằng lòng với những lý luận như vậy.

Những người cầm quyền đã lừa mị nhân dân của họ với khái niệm về sự ổn định. Tuy nhiên, một xã hội gọi là ổn định về chính trị do được cai trị bởi bàn tay sắt của một thể chế chính trị độc tài, độc đảng không có nghĩa là ổn định về kinh tế và xã hội. Bên dưới cái bề mặt có vẻ ổn định về chính trị, một xã hội được điều hành theo cơ chế “đảng trị” bởi một đảng duy nhất thâu tóm mọi quyền lực trong tay như ở Trung Quốc và Việt Nam luôn luôn chất chứa những mâu thuẫn, nghịch lý do không có sự cạnh tranh, san sẻ, khống chế và kiểm soát lẫn nhau trong quyền lực chính trị và điều hành đất nước, không có một nền luật pháp rõ ràng, minh bạch để điều chỉnh mọi sự sai lệch trong phát triển xã hội cũng như phát triển kinh tế. Chưa kể chính cái thể chế chính trị độc tài độc đảng đã tạo điều kiện cho bao nhiêu bất công, phi lý, những vấn nạn xã hội tồn tại và sinh sôi nảy nở không sao giải quyết nổi như nạn tham nhũng, hối lộ, tệ cửa quyền, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo quá lớn, bản thân người dân thì không có tự do dân chủ và nhân quyền thì bị chà đạp… Còn trong phát triển kinh tế, sự thiếu vắng một nên luật pháp minh bạch và sự cạnh tranh sòng phằng cũng làm cho nền kinh tế của quốc gia đó có nhiều bất ổn, rủi ro. Tất cả những điều đó sẽ tạo nên những mâu thuẫn từ trong bản chất chế độ, như những đợt sóng ngầm âm ỉ chỉ chờ có cơ hội thuận tiện là trào lên phá vỡ sự ổn định bề mặt kia bất cứ lúc nào.

Cũng như nhà cầm quyền Trung Quốc, nhà cầm quyền Việt Nam luôn luôn đem những thành tích tăng trưởng về kinh tế và sự thay đổi trên bề mặt xã hội để xoa dịu nhân dân và biện minh cho sự thống trị của Đảng.

Trong khi đó, bị nỗi ám ảnh về cái đói cái nghèo của thời bao cấp, cả xã hội Việt Nam ngày nay đang lao vào kiếm tiền, và không ít người dân tự an ủi rằng so với thời bao cấp chưa xa thì cuộc sống bây giờ đã dễ thở hơn, còn nếu so với cái thời miền Bắc trước năm 1975 thì rõ ràng một trời một vực rồi.

Nhung như đã nói, phát triển kinh tế chỉ mới là một phần trong việc chứng tỏ xã hội đó đang đi lên theo chiều huớng tích cực, còn bao nhiêu vấn đề khác: khoảng cách giàu-nghèo và sự bất công quá lớn trong xã hội, tài nguyên của đất nước bị khai thác đến cạn kiệt, thiên nhiên bị tàn phá không thương tiếc, môi truờng sống bị ô nhiễm nặng nề, chất lượng cuộc sống của đa số người dân chưa đuợc cải thiện tận gốc và chế độ an sinh xã hội chưa đuợc quan tâm đến, chưa kể là sự xuống cấp, tha hóa về đạo đức xã hội, mọi giá trị đều bị lệch chuẩn… Như thế là một xã hội đang phát triển một cách phi nhân tính và lệch lạc, chệch hướng so với con đuờng phải đi là xã hội phải ngày một văn minh, con nguời ngày một tự do, tự chủ, đuợc coi trọng và hạnh phúc hơn!

Thế nào là một xã hội phát triển lành mạnh, nhân bản, đúng hướng?

Khi mà trong xã hội đó tất cả mọi mục tiêu hướng tới đều phải vì con người, đặt sự tự do hạnh phúc của con người lên trên hết.

Khi mà trong xã hội đó mọi người dân có quyền đi bầu chọn những người xứng đáng nhất lên điều hành đất nước và có quyền lên tiếng phê phán kêu gọi những người này phải từ bỏ chức vụ nếu họ bất tài, thất đức hoặc có những hành vi sai trái làm hại cho đất nước, cho nhân dân. Người dân có quyền lên tiếng bày tỏ chính kiến, quan điểm chính trị xã hội của mình một cách ôn hoà, có quyền phê bình, phản biện mọi chủ trương đường lối chính sách của Nhà nước mà không bị chụp mũ phản động, phản quốc, bị gây khó dễ thậm chí bị bắt bớ, cầm tù.

Khi mà trong xã hội đó người dân biết rằng nếu có bất cứ chuyện gì xảy ra họ có thể trông cậy vào luật pháp, luật pháp sẽ bảo vệ họ, nhà nước sẽ bảo vệ họ nếu họ đúng, nếu họ bị những kẻ côn đồ hành hung hoặc những kẻ lạ mang danh nước láng giềng anh em đánh cướp, bắt giữ…

Khi mà trong xã hội đó con người từ lúc sinh ra cho đến khi chết đi luôn luôn cảm thấy an tâm rằng nếu họ lương thiện, đi làm và đóng thuế đầy đủ cho nhà nước thì ngược lại, khi cần họ có thể trông cậy vào sự hỗ trợ của nhà nước như lúc thất nghiệp, khi đau yếu lúc già cả không nơi nương tựa… Và do đó họ có thể sống một cuộc đời nhẹ nhàng ít lo nghĩ, không phải bon chen giành giật mọi cơ hội, chỉ biết chăm chăm thu vén cho cá nhân mình vì khi có việc gì xảy ra không biết trông vào đâu.

Khi mà trong xã hội đó người dân tin rằng đồng tiền đóng thuế từ bao mồ hôi công sức của họ được nhà nước sử dụng một cách hợp lý, công khai và minh bạch.

Mọi người dân đều được tạo điều kiện tốt nhất để học hành và khi đến trường những đứa trẻ không phải học những kiến thức vô bổ, những điều dối trá mà ngay người thầy dạy chúng cũng không tin và bản thân chúng cũng biết như vậy.

Mọi người dân đều có những cơ hội như nhau để thành đạt và bằng cấp, tước vị, chỗ làm đều không thể mua mà có.

Khi mà trong xã hội đó người dân không phải chịu những tai hoạ, những cái chết oan uống có thể đến từ bất cứ đâu, từ bất cứ lý do nào do sự vô trách nhiệm, làm ăn gian dối của người khác như cầu gãy, nhà sập, điện giật trên đường hố ga sụp dưới chân hay sữa nhiễm độc, phở ướp phóoc-môn…

Khi mà trong xã hội đó sự vất vả của người nông dân công nhân được đền bù xứng đáng, tiếng nói của người trí thức được coi trọng, tài năng của người nghệ sĩ được phát triển tối đa trong sự tự do không ai cấm đoán…

Khi mà trong xã hội đó báo chí được quyền nói lên sự thật, được quyền đứng về phía lẽ phải, đứng về phía nhân dân và những giọt nước mắt.

Mọi lời nói phải cũng như mọi tiếng kêu oan không lọt thỏm vào sự im lặng.

Khi mà trong xã hội đó con người không có quá nhiều nỗi lo, cho dù những nỗi lo có lý hay vô lý. Khi con người không có quá nhiều nỗi sợ, và mọi nỗi sợ đều do chính quyền tạo ra.

Khi cái tốt, cái thiện, điều tử tế không phải là điểu hiếm hoi hay bất bình thường và cái xấu, cái ác, điều không tử tế lại tràn ngập khắp nơi và trờ thành bình thường.

Khi con người không vô cảm trước mọi điều tồi tệ đang xảy ra hàng ngày, không cúi đầu bạc nhược trước cường quyền, biết đau đớn trước vận mệnh của đất nước và của dân tộc.

Khi mà trong xã hội đó mọi người biết xấu hổ, kẻ làm quan biết đến đến hai chữ xin lỗi – xin lỗi nhân dân, xin lỗi lịch sử và biềt đến văn hoá từ chức. Khi lòng yêu nước không bị kết tội còn kẻ xu nịnh, phản quốc lại được tôn vinh.

Chỉ khi đó xã hội ấy mới là một xã hội đang phát triển đúng hướng, lành mạnh, và nhân bản.

Còn nếu không, đừng nói với nhân dân tôi về độc lập, tự do và hạnh phúc, về công lao của Đảng, về chủ nghĩa Mác – Lê Nin bách chiến bách thắng và tư tưởng của Hồ Chí Minh vĩ đại.

Đừng nói với nhân dân tôi muôn vàn những khái niệm, lý luận, những mỹ từ sáo rỗng…

Bởi vì, khi không đem lại được độc lập tự do hạnh phúc cho nhân dân sau hơn sáu mươi năm điều hành đất nước, còn có lý do gì để Đảng cầm quyền đó tiếp tục tại vị?
Nguồn: talawas.org


Chuyến về quê đặc biệt của một hạm trưởng hải quân Hoa Kỳ gốc người Việt tỵ nan CS


Ben Stocking,
Associated Press Cymbidium,
X-Cafe chuyển ngữ

Đà Nẵng, Việt Nam – Ngày Miền Nam thất thủ, Lê Bá Hùng (LBH), một cậu bé lên 5, di tản cùng với 400 người tỵ nạn chen chúc trên một chiếc thuyền đánh cá chật chội. 34 năm sau, cậu bé này trở về quê hương trong một tình huống không ai ngờ – hạm trưởng của một khu trục hạm Hoa Kỳ.

Hôm thứ Bảy, Hạm Trưởng LBH điều khiển chiếc khu trục hạm Hoa Kỳ Lassen cập bến Đà Nẵng, quê của “China Beach”, nơi mà ngày xưa binh sĩ Mỹ dùng làm nơi dưỡng quân sau các cuộc hành quân trong chiến tranh Việt Nam. Cuộc chiến này đã chấm dứt vào ngày 30 tháng Tư, 1975, ngày Sài Gòn bị quân cộng sản Miền Bắc Việt Nam đánh chiếm.

Đó cũng là ngày LBH và gia đình khởi đầu một cuộc hành trình vô định trên một chiếc thuyền đánh cá được lèo lái bởi cha của LBH, một sĩ quan chỉ huy của hải quân Miền Nam Việt Nam. Họ được chiếc tàu hải quân Hoa Kỳ Barbour County cứu vớt ngoài khơi, đưa đến một căn cứ Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân, rồi đến một trại tỵ nạn ở California, và sau cùng đến định cư tại tiểu bang Virginia, nơi đó họ xây dựng lại cuộc đời.

LBH trở về trên chiếc Lassen, một khu trục hạm dài 155 mét giá 800 triệu đô la, được trang bị hỏa tiễn tầm xa Tomahawk và một thủy thủ đoàn 300 người. Chiếc Lassen cùng với chiếc USS Blue Ridge, một soái hạm của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, đang hoàn tất những đợt thăm viếng hữu nghị cuối cùng đến Việt Nam bắt đầu từ năm 2003 khi chiếc USS Vandergriff ghé thăm TP HCM, ngày xưa là Sài Gòn.

Hạm trưởng LBH tuyên bố sau khi đặt chân lên bờ hôm thứ Bảy “Tôi nghĩ sẽ có ngày trở lại nhưng thật tình là tôi đã không dự đoán là trở về với cương vị hạm trưởng của một tàu chiến Hoa Kỳ. Đây là một vinh dự cá nhân cao quý”. Ông ta chập chững nói vài chữ tiếng Việt “Tôi tự hào là người Mỹ, nhưng tôi cũng rất tự hào về nguồn gốc Việt Nam của tôi.”

Những chuyến thăm viếng này tiêu biểu cho những cố gắng của Hoa Mỳ và Việt Nam để phát triển mối quan hệ giữa hai bên để làm quân bình thế lực Trung Quốc trong vùng, mà không làm bất bình người hàng xóm khổng lồ phương bắc.

Thẳng về phía Đông Đà Nẵng là quần đảo Hoàng Sa, nơi Trung Quốc và Việt Nam đang có vấn đề tranh cãi sôi nổi về chủ quyền, đó cũng là nơi Trung Quốc đã đánh bật quân đội miền Nam vào năm 1974. Hai bên cũng đang tranh chấp về Trường Sa, một chuỗi đảo được xem là có khối lượng dự trữ dầu hỏa và khí đốt đáng kể.

LBH lớn lên ở Huế, một thành phố ở bờ biển miền trung cách Đà Nẵng khoảng 105 kí lô mét về hướng bắc, nơi ông vẫn còn nhiều họ hàng. Ông trở về một xứ sở đã thay đổi rất nhiều so với những ngày tháng chiến tranh.

Dọc theo bờ biển Đà Nẵng nơi mà các quân lính Hoa Kỳ đã thường bơi lội và lướt sóng, các khách sạn hạng sang như Hyatt và Marriott đang mọc lên. Du khách đổ dồn về vùng này để có thể chơi một vài đường banh ở sân gôn được thiết kế bởi tay gôn thượng hạng Colin Montgomerie.

Mối giao hảo giữa Hoa Kỳ và Việt Nam cũng thay đổi rất nhiều từ khi hai cựu thù bình thường hoá quan hệ vào năm 1995. Giao thương giữa hai nước tăng vọt và liên hệ ngoại giao, quân sự của hai bên cũng trở nên gần gũi hơn.

Biểu tượng sâu sắc của sự quan hệ đang đổi thay có thể được nhận thấy ở nơi không xa chỗ LBH đặt chân lên bờ. Đó là một căn cứ không quân ngày xưa nơi mà quân đội Hoa Kỳ từng lưu trữ, pha trộn và bơm thuốc khai quang Da Cam lên máy bay. Quân đội Hoa Kỳ rải thuốc Da Cam chứa đựng độc tố dioxin để quân đội Cộng Sản Bắc Việt Nam không có chỗ trú ẩn. Cả hai quốc gia đang hoạt động với nhau để dẹp chất dioxin khỏi căn cứ, chất này tồn tại trong đất sau cả chục năm.

Nhưng vẫn có dấu hiệu của những cản trở, buổi lễ chào mừng những thủy thủ Hoa Kỳ bị đình trệ hai tiếng trong khi hai bên bàn cãi cách dương quốc kỳ của hai quốc gia trên soái hạm Blue Ridge.
Sĩ quan chỉ huy dân sự vụ Jeff Davis của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ nói bên Hoa Ký muốn treo hai quốc kỳ ở trên boong chính, trong khi bên Việt Nam muốn thượng kỳ ở cột cờ. Rốt cuộc, họ treo lên cột cờ.

Khi LBH rời Việt Nam vào năm 1975, chỉ có bốn trong tám người con thoát được. Số con còn lại kẹt ở Việt Nam cho đến khi được đoàn tụ với gia đình vào năm 1983. LBH không nhớ nhiều về chuyến đi ba ngày trên tàu đánh cá, chấm dứt sau khi họ cạn lương thực, nước uống và nhiên liệu.

Nhưng ông còn nhớ một cách sâu sắc những hình ảnh của người cha gương mẫu, ông Lê Bá Thông, hiện nay đã 69 tuổi và chưa bao giờ trở lại Việt Nam. Sau khi gia đình định cư ở bắc Virginia, ông Thông làm việc trong một siêu thị, đi từ chức người gói hàng cho đến vị trí quản lý.

LBH nói “Tôi lúc nào cũng muốn trở thành một người như cha tôi. Ông luôn luôn kiên trì và đã vượt qua nhiều thử thách.”

Nguồn: Ben Stocking,
Associated Press
Cymbidium,
X-Cafe chuyển ngữ

OTTAWA KỶ NIỆM 20 NĂM SỤP ĐỔ BỨC TƯỜNG BÁ LINH VÀ CÔNG BỐ VIỆC XÂY DỰNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM NẠN NHÂN CỘNG SẢN - Trần Gia Phụng

Trần Gia Phụng

Chiều Thứ Hai 9-11-2009, tại Government Conference Center ở thủ đô Ottawa, Văn phòng thủ tướng Canada phối hợp với nhóm Tribute to Liberty, đã tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm sụp đổ bức tường Bá Linh và công bố dự án xây dựng TƯỢNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM NẠN NHÂN ĐỘC TÀI CỘNG SẢN tại thủ đô nước Canada.

Số người tham dự đông hơn so với dự tính ban đầu của Ban Tổ Chức, vì vậy ngoài khoảng 200 ghế ngồi, những người tham dự phải đứng chung quanh hội trường hoặc ngồi ngoài phòng tiếp tân. Đa số các bộ trưởng trong Hội đồng chính phủ và những dân biểu Quốc hội Liêng bang đã đến tham dự. Về phía dân sự, đông đảo nhất là cộng đồng người Canadian gốc các nước Đông Âu trước đây bị cộng sản thống trị. Riêng phái đoàn người Canadian gốc Việt Nam gồm 11 người trong đó có đại diện Liên Hội người Việt Ottawa (4 thành viên), đại diện Uỷ Ban Yểm Trợ Phong Trào Dân Chủ Quốc Nội Toronto (4 thành viên) và đại diện Hội Cựu Quân Nhân Ontario (3 hội viên).

Buổi lễ do thủ tướng Canada là Stephen Harper chủ tọa, bắt đầu lúc 2G.30 khi ông bộ trưởng Public Safety trong chính phủ Liên bang là ông Peter Van Loan, người điều khiển chương trình, công bố lý do buổi lễ. Bộ trưởng Peter Van Loan gốc người Estonia. Ông bà của ông bộ trưởng đã di cư sang Canada tỵ nạn cộng sản từ sau thế chiến 2.

Người khách đầu tiên được ông Peter Van Loan giới thiệu lên diễn đàn là đại sứ Cộng Hòa Liên Bang Đức, George Witschel. Vị đại sứ nói bằng ba ngôn ngữ Anh, Pháp và Đức, nhắc lại sơ lược ý nghĩa lịch sử của sự kiện nầy, nhất là việc thống nhất nước Đức trong hòa bình.

Diễn giả kế tiếp là Wladyslaw Lizon, chủ tịch Polish Canadian Congress (Nghị hội người Canadian gốc Ba Lan). Ông Lizon nhắc lại những kinh nghiệm của người Ba Lan, ông cảm ơn đất nước Canada đã mở rộng đón nhận di dân và ông đặc biệt cảm ơn chính phủ Harper đã đồng ý cho xây dựng Tượng đài Tưởng niện Nạn nhân Cộng sản tại thủ đô Ottawa.

Diễn giả chính của buổi lễ là thủ tướng Stephen Harper Ông nhấn mạnh đến sự quan trọng của việc bức tường Bá Linh bị sụp đổ ngày 9-11-1989, đã ảnh hưởng chẳng những Âu Châu mà toàn thế giới. Thủ tướng Harper đã long trọng công bố dự án xây dựng TƯỢNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM NẠN NHÂN ĐỘC TÀI CỘNG SẢN trước sự vỗ tay hoan hô của cử tọa. Tưởng cũng nên nhắc lại, trước đây, tại Hà Nội, Stephen thủ tướng Harper đã nói một câu hết sức nổi tiếng với nhà nước cộng sản Việt Nam, đại ý là chính phủ Canada không dùng nhân quyền để đổi lấy đồng dollar.

Chung quy, các diễn giả nói trên đều xoay quanh lịch sử, ý nghĩa việc bức tường Bá Linh sụp đổ mà báo chí đã viết đến. Lời thủ tướng Stephen Harper công bố dự án xây dựng tượng đài nạn nhân độc tài cộng sản được bà Alide Forstmani, gốc người Latvia, chủ tịch Hội đồng Quản Trị của Tribute Liberty trình bày chi tiết hơn khi bà lên diễn đàn, phát biểu ý kiến.

Bà nhắc lại việc hàng trăm triệu người đã chết vì ý thức hệ cộng sản, hàng triệu công dân Canada gốc là nạn nhân cộng sản độc tài hay thuộc những gia đình nạn nhân cộng sản độc tài, trong đó có một số người có mặt hôm nay trong hội trường nầy. Bà nói việc xây dựng Tượng đài Tưởng niệm Nạn nhân Cộng sản không phải chỉ để tưởng nhớ những người đã chết dưới chế độ cộng sản, mà còn để giáo dục, nhắc nhở các thế hệ kế tiếp về những tội ác của chế độc độc tài cộng sản. Bà cảm ơn chính phủ Canada đã chấp thuận dự án xây cất tượng đài tại thủ đô Ottawa.

Buổi lễ diễn ra rất trang nghiêm, kết thúc khoảng sau 4 giờ chiều cùng ngày sau khi toàn thể những người tham dự cùng đứng lên làm lễ chào quốc kỳ Canada. Đặc biệt sau buổi lễ, thủ tướng Stephen Harper đã mời tất cả những người trong hội trường ở lại. Thủ tướng ân cần vui vẻ chào hỏi và chụp hình chung với một số đại diện cộng đồng và quan khách tham dự.

Ở đây, tưởng cũng xin thêm Tribute to Liberty là một tổ chức thiện nguyện, nhằm phục vụ những người yêu chuộng tự do ở Canada và trên thế giới. Ban điều hành Tribute to Liberty gồm có một Hội đồng Quản trị và một Hội đồng Cố vấn. Hội đồng Quản trị hiện nay gồm bốn người Canadian gốc các nước Estonia, Ukraine, Latvia và Việt Nam, gia nhập với tư cách cá nhân chứ không phải là đại diện sắc tộc hay cộng đồng. Hội đồng cố vấn gồm đại diện của 17 cộng đồng các sắc dân Đông Âu, vùng Baltic, Nam Hàn, Trung Quốc và Cuba.

Ngoài ra, Hội đồng Quản trị Tribute to Liberty đang xúc tiến thành lập một Board of Patrons gồm những nhà đấu tranh dân chủ, những nhân vật uy tín được quốc tế biết đến trong những cộng đồng thuộc các quốc gia đã thoát ách cộng sản cai trị hay đang bị cộng sản cai trị.

Hiện nay, tổ chức Tribute to Liberty đang cố gắng thực hiện dự án xây dựng TƯỢNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM NẠN NHÂN ĐỘC TÀI CỘNG SẢN. Dự án đã được cơ quan National Capital Commission chấp thuận cho đặt tượng đài ngay tại thủ đô Ottawa. Địa điểm chính xác sẽ được thảo luận và quyết định sau.

Ban điều hành Tribute to Liberty đang còn kiện toàn tổ chức, tìm kiếm vùng đất tại thủ đô Ottawa để xây dựng tượng đài, và nhất là đang kiếm cách gây quỹ để đài thọ phí tổn. Dự án xây dựng tượng đài dự tính sẽ cần 1,5 triệu Gia kim. Tổ chức Tribute to Liberty kêu gọi toàn dân Canada, đặc biệt những người thuộc gia đình tỵ nạn cộng sản, dù ít dù nhiều, hãy tiếp tay với ban Xây dựng Tượng đài để có thể hoàn tất công trình thật ý nghĩa nầy.

Để thấy rõ tầm ý nghĩa lớn lao của của công trình xây dựng TƯỢNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM NẠN NHÂN ĐỘC TÀI CỘNG SẢN, chúng ta cần chú ý rằng tại Canada, ngoài những thổ dân bản địa Canada, đại đa số dân cư Canada đều là di dân đến từ bốn phương trời. Những đợt di dân đầu tiên đến từ Âu Châu vào cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Những đợt di dân từ giữa thế kỷ 20, đến từ các nước Đông Âu và từ Á Châu, có cùng một mẫu số chung, đều là những nạn nhân độc tài cộng sản, trong đó, đợt cuối cùng là những thuyền nhân (boat people) Việt Nam.

Các chế độ độc tài cộng sản trên thế giới đều có những nét giống nhau, mà Quốc hội Âu Châu họp ngày 25-1-2006 tại Strasbourg, một thành phố miền Tây bắc nước Pháp, đã ghi nhận như sau:

“Những chế độ toàn trị cộng sản từng cai trị ở Trung và Đông Âu trong thế kỷ qua, và hiện vẫn còn cầm quyền ở vài nước trên thế giới, tất cả (không ngoại trừ) biểu thị chân tướng của sự vi phạm nhân quyền tập thể. Những vi phạm nầy khác nhau tùy theo nền văn hóa, quốc gia và giai đoạn lịch sử, bao gồm cả những cuộc ám sát và xử tử cá nhân hay tập thể, gây chết chóc trong các trại tập trung, cho chết đói, đày ải, tra tấn, nô lệ lao động, và những hình thức khác về khủng bố thể xác tập thể, ngược đãi vì chủng tộc hay tôn giáo, vi phạm các quyền tự do lương tâm, tư tưởng và phát biểu, tự do báo chí và cả không đa nguyên chính trị.” (điều 2) (Nguyên văn: The totalitarian communist regimes which ruled in Central and Eastern Europe in the last century, and which are still in power in several countries in the world, have been, without exception, characterised by massive violations of human rights. The violations have differed depending on the culture, country and the historical period and have included individual and collective assassinations and executions, death in concentration camps, starvation, deportations, torture, slave labour and other forms of mass physical terror, persecution on ethnic or religious base, violation of freedom of conscience, thought and expression, of freedom of press, and also lack of political pluralism.)

Theo số liệu trong sách Le livre noir du communisme : crimes, terreur et répression, do Stéphane Courtois chủ biên, Edition Robert Laffont, S.A. Paris 1997, thì số nạn nhân của các chế độ cộng sản các nước trên thế giới có thể ước lượng như sau:
    Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa : 65 triệu

    Liên Xô : 20 triệu

    Cambodia : 2 triệu

    Bắc Triều Tiên : 1,5 triệu

    Việt Nam : 1 triệu

    Đông Âu : 1 triệu

    Afghanistan : 1,5 triệu

    Phi Châu : 1,7 tri ệu

    Nam Mỹ : 150,000
Đây chỉ là số liệu những người tử vong vì bàn tay sắt máu của cộng sản. Chắc chắn số nạn nhân bị bạo hành dưới chế độ chuyên chính độc tài toàn trị cộng sản trên thế giới lên đến hàng tỷ người. Vì sự vi phạm nhân quyền nặng nề của các chế độ cộng sản, nên dân chúng các nước bị cộng sản cai trị đã kiếm tất cả các cách bỏ nước ra đi tìm tự do, đến nỗi có một nhạc sĩ Việt Nam, ông Trần Văn Trạch, đã nói rằng “cây cột đèn cũng muốn ra đi ”.

Hiện nay, dân số Canada khoảng trên 32,000,000 người, trong đó có khoảng 8,000,000 người có nguồn gốc từ các nước bị cộng sản cai trị, nghĩa là 25% hay một phần tư dân số Canada, là những người tỵ nạn hay con cháu những người tỵ nạn cộng sản.

Nhìn vào bảng thống kê của Le livre noir du communisme: crimes, terreur et répression do Stéphane Courtois chủ biên, hai điều dễ nhận ra là:

1. Trong số các nước trên, còn lại 4 nước đang bị cộng sản thống trị là Trung Quốc, Bắc Hàn, Việt Nam và Cuba (trong nhóm Nam Mỹ).

2. Tất cả các sắc dân các nước trong bảng thống kê đều có mặt tại Canada.

Với một tỷ lệ dân số lớn lao thuộc thành phần tỵ nạn cộng sản hay con cháu những ngưòi tỵ nạn cộng sản tại Canada, việc xây dựng Tượng đài Tưởng niệm Nạn nhân Độc tài Cộng sản là một việc làm rất ý nghĩa đúng như bà Alide Forstmani đã phát biểu tại Ottawa nhân Lễ kỷ niệm 20 sụp đổ bức tường Bá Linh ngày 09-11-2009 là không phải chỉ để tưởng niệm những người đã chết dưới chế độ cộng sản, mà còn để giáo dục, nhắc nhở các thế hệ kế tiếp về những tội ác của chế độ độc tài cộng sản.

Xin mời quý đồng hương tìm hiểu thêm về công việc xây dựng TƯỢNG ĐÀI NẠN NHÂN ĐỘC TÀI CỘNG SẢN qua web site: www.tributetoliberty.ca, và e-mail liên lạc với tổ chức Tribute to Liberty theo địa chỉ sau đây: info@tributetoliberty.ca.

Trần Gia Phụng
(Toronto, 10-11-2009)