Wednesday, November 4, 2009

KHÔNG AI KHÁC LÀ CỘNG SẢN… MẶT TRẬN VĂN HÓA VÀ NHỮNG THỦ TIÊU ÁM SÁT TRÍ THỨC MIỀN NAM VIỆT NAM - Nguyễn Văn Lục

Nguyễn Văn Lục

Mới hôm nào, tay cắp sách...
Sáng mai này trên phố xá
Tay bom xăng, tay cầm gạch đá
Những bước chân rộn rã
Em kiêu hùng trên phố thị miền Nam ...

Tôi còn nhớ những năm tháng ấy của miền Nam Việt Nam. Thân yêu mà cũng buồn, bực dọc, bất mãn, chán nản, tuyệt vọng. Những năm tháng Sài Gòn giành giật giữa quốc gia và cộng sản. Bằng đủ mọi âm mưu và thủ đoạn giữa tiếng ồn ào của hoan hô, đả đảo với khói lựu đạn cay. Chúng tôi sống một thời kỳ điên đảo bị giật giây bởi người cộng sản bằng một sự ngây thơ không tưởng, bằng những dằn vặt, giằng co giữa khát khao tự do, dân chủ, công bằng của chúng tôi. Và hơn hết tất cả là khát vọng hòa bình mong chiến tranh chóng chấm dứt.

Chúng tôi sống mất ngủ vì những khát vọng không đạt được mà thực tế trước mắt là chiến tranh, chém giết. Chúng tôi mong ước những trận mưa rào dập tắt khói lửa, nguôi ngoai hận thù. Nhưng thực tế mỗi ngày là những sự lừa phỉnh, dối gạt bằng đủ loại thuốc ngủ có tên phản chiến, nhạc phản chiến, văn chương phản chiến.

Trong khi đó thì người cộng sản với đủ loại “căn cứ lõm” trong thành phố giành giựt tim óc, tâm tư của tuổi trẻ thành phố. Và nếu không giành giựt được thì họ không ngần ngại thanh toán, ám sát giết hại.

Nhưng mỗi khi có một vụ ám sát giết người như vụ ám sát giáo sư Nguyễn Văn Bông, ám sát sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật hay nhà báo Từ Chung, nhà báo Chu Tử thì vô số loại tin đồn được tung ra.

Người ta đổ cho Mỹ sát hại cũng có, nhất là đổ cho chính quyền miền Nam Việt Nam Cộng Hòa. Đó là những dư luận dễ dãi nhất và vô căn cứ nhất. Nhưng nhiều người vẫn tin. Và chính quyền miền Nam thì không có cách gì để cải chính những tin đồn kiểu đó.

Nay thì đã có câu trả lời rõ ràng ai là thủ phạm những vụ ám sát đó.

Không ai khác là cộng sản.

Đó là Đoàn công tác của thành đoàn thanh niên sinh viên, học sinh Sài gòn, Chợ Lớn. Họ chiụ trách nhiệm về những việc ám sát ấy. Họ là những ai? Trụ sở của họ ở đâu? Nay họ làm gì?

Trong khi đó, tổ chức hệ thống mật vụ Việt Nam thời đệ nhị cộng hòa tỏ ra thiếu hữu hiệu như thể bó tay. Tất cả những vụ đốt xe Mỹ, tất cả những vụ đưa người thâm nhập cơ sở, tất cả những vụ phá rối trật tự, phá hoại an ninh, những vụ ám sát các viên chức miền Nam, nhất là các trí thức miền Nam thường không tìm ra dấu vết thủ phạm. Cộng Sản trà trộn khắp nơi, len lỏi vào trong nhiều tổ chức tôn giáo, nhất là Phật giáo. Các tổ chức này như tấm bình phong che chắn cho CS. Có nhiều tấm bình phong như thế có tên là giới sinh viên, giới trí thức, giới Phật tử và giới báo chí. Chẳng hạn, biểu tình là do sinh viên chống chính phủ. Nhưng ai thấy được CS ở đằng sau?

Cái đằng sau mới là quan trọng. Không phải chính quyền cứ đàn áp sinh viên, bắt bớ, giải tán bằng lựu đạn cay, rào kẽm gai là xong, là lấy lại được an ninh trật tự. Nhiều khi chỉ tạo ra những phản ứng ngược chiều, rất bất lợi. Những thành phần sinh viên thầm lặng vô tình bị đẩy cũng đứng vế phía sinh viên xuống đường.

Vấn đề là bắt cho bằng được những kẻ đầu não. Nào có khó khăn gì? Họ là những Huỳnh Tấn Mẫm, Vũ Hạnh, Dương Văn Đầỵ Họ đi khơi khơi ngoài đường. Họ biểu tình, họp báo, viết báo như chỗ không người. Hãy nhốt họ lại. Đủ bằng cớ. Đưa họ đi Côn sơn. Cách ly bọn họ, triệt tiêu tận gốc. Chúng ta đã không làm, bắt rồi thả do áp lực sinh viên, trí thức báo giới, nhà văn.

Có lẽ, tất cả chỉ vì cái khí thế chống Cộng thời đệ nhất cộng hòa không còn nữa? Còn đâu những lời hiệu triệu của TT Ngô Đình Diệm những năm đầu thể chế đệ nhất cộng hòa: Quốc dân đồng bào, ai áp bức bóc lột và chà đạp con người Việt Nam? Thực dân, phong kiến và cộng sản. Vì vậy mà chính phủ chủ trương kháng đế, bài phong, diệt Cộng ... Hỡi binh sĩ và cán bộ Quốc gia.

Chúng ta tố Cộng là để tranh thủ được lòng dân. Thông điệp đầu năm Ngô Đình Diệm, 1959.

Cảnh sát thời ông Tổng Giám Đốc cảnh sát Trang Sĩ Tấn dẹp biểu tình cũng không xong. Càng tăng cường kiểm soát an ninh, giữ gìn trật tự bằng lựu đạn cay, bằng hàng rào kẽm gai, dùi cui của Cảnh sát dã chiến. Càng gây thêm sự phẫn nộ trong dân chúng. Dư luận cũng như đông đảo quần chúng mất tin tưởng vào chính quyền.

Khi có phong trào thanh niên đốt xe Mỹ, ông Trang Sĩ Tấn đã đưa ra những lời đe dọa vu vơ như sau trong một buổi họp báo ngày 16 tháng chín, 1972: “Những kẻ nào bị bắt quả tang đang phá hoại quân cụ, kể cả những xe cộ, sẽ bị kết án tử hình”.

Ai cũng biết đó là những lời đe dọa vu vơ.

Án tử hình đâu chưa thấy, chỉ thấy thành phố Sài Gòn rơi vào tình trạng xáo trộn liên tục.

Hình ảnh Sài Gòn với rất nhiều xáo trộn chính trị đủ loại là hình ảnh một cuộc chiến tranh đặc biệt, lạ lùng mà kỳ cục. Có lựu đạn cay ngoài đường, có những bộ áo rằn ri. Nhưng cũng có những tà áo nữ sinh, cầm túi chanh, te tác trên đường phố. Có tiếng hát, tiếng hò của đám sinh viên, học sinh vào một buổi tối, tại chùa Ấn Quang. Ở đấy, hẳn không thiếu những tiếng cười. Không thiếu niềm tự hào và hăng say. Trong khi đó, nhìn xuống lề đường, ở mỗi gốc cây đều có bóng lính. Xe nhà binh, xe cảnh sát chạy rần rần, pha đèn mở sáng.

Người ta chỉ thấy một hậu phương rối loạn. Lính tráng ngoài mặt trận làm sao yên tâm cầm súng chiến đấu chống kẻ thù?

Bộ mặt thành phố Sài gòn lộ diện ra khi tôi lần dở lại tờ báo Sóng Thần ra ngày 31 tháng 10 với những hàng tít lớn trên báo: 31/10 Ngày dài vô tận. Ngày dài vô tận là ngày tranh đấu, xuống đường, khí thế bừng bừng như một cuộc tranh đấu nội thù. Ở phần đầu tờ báo Sóng Thần có đăng tâm thư của LM Thanh Lãng viết cho tờ báo Sóng Thần: Đập các anh là đập tất cả chúng tôi. Ai đập ai giữa những người Quốc gia? Bên cạnh đó là các tên tuổi lớn hỗ trợ tờ báo Sóng Thần như Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Hiến Lê, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lam Giang, Lê Ngộ Châu. Và các nghệ sĩ như Năm Châu, Bích Thuận, Kim Chung, Khánh Ly lên tiếng để chịu chung bản án với Sóng Thần. Rồi 32 nhà văn, nhà thơ tên tuổi ký tên chung tuyên bố: Phản đối đàn áp báo chí, truy tố Sóng Thần. Cạnh đó hình ảnh diễn hành của một số luật sư ra tòa biện hộ như các luật sư Bùi Tường Chiểu, Hồ Tri Châu, Lý Văn Hiệp, Trần Ngọc Liễng, Nguyễn Lâm Sanh tại một ngã tư . Ở một góc phòng với bị can Trùng Dương, chủ nhiệm báo Sóng Thần, vây quanh có các luật sư Đỗ Văn Võ, Đặng Thị Tám, Nguyễn Văn Tấn, Nguyễn Tường Bá. Cũng cạnh đó, bà luật sư Nguyễn Phước Đại thay vì cầm tập hồ sơ biện hộ thì lại đang cắt chanh phòng hờ bị lựu đạn cay.

Và biết đâu ở một góc đường, một anh thợ vá xe đang ghi nhận tất cả những hoạt cảnh đó báo về “Trung ương” của anh. Đó là những hình ảnh hai mặt của cuộc chiến trong thành phố, giữa lòng thủ đô Sài gòn của miền Nam.

Không ai ngày nay nghĩ rằng những cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ đó là sai, nhưng điều chắc chắn là đã vẽ đường cho hươu chạy và hơn hết mọi chuyện là gián tiếp bị CS lợi dụng.

Tôi có liên lạc với nhà văn Trùng Dương, chủ nhiệm báo Sóng Thần. Chị khẳng định và xác nhận lại cuộc tranh đấu của báo chí qua vụ báo Sóng Thần là đúng, không làm khác được.

Chắc là như vậỵ

Nhưng bên cạnh sinh hoạt đấu tranh có vẻ dân chủ đó có một thứ đấu tranh một mất một còn giữa Cộng Sản và chính quyền miền Nam thông qua những thanh niên, sinh viên, học sinh. Chính những sinh viên, học sinh này đang đấu tranh, đang hô hào phản đối chính quyền đã góp phần làm tiêu hao lực lượng cũng như tinh thần của miền Nam Việt nam.

Đó mới là bộ mặt thực của cuộc chiến tranh nàỵ Bộ mặt được dẫn dắt và chỉ đạo từ đảng Cộng Sản miền Bắc Việt Nam.

Có một cuộc chiến tranh ngoài Sài Gòn bằng bom, bằng đạn, bằng trực thăng, bằng đại bác 105 ly, bằng hầm chông, bằng xe tăng. Bằng xác người phơi thây bên bờ kinh, bờ rạch. Bằng đô la và xác người.

Nhưng cũng có một cuộc chiến tranh thứ hai ngay giữa lòng Sài Gòn bằng biểu tình, tuyệt thực, xuống đường, bằng hô hào, đả đảo, bằng lựu đạn cay, bằng hàng rào kẽm gai.

Cuộc chiến tranh cân não này ít được ai nói tới, vì không mấy khi có người chết. Mà chỉ có nước mắt của lựu đạn cay. Nhưng nó cũng đủ làm lung lay bất cứ chế độ nào. Nó xói mòn tin tưởng, nó làm lung lay ý chí. Bởi vì bản chất của nó là một cuộc chiến tranh cân não làm hao mòn ý chí phấn đấu, làm suy sụp tinh thần kẻ địch. Biên giới cuộc chiến tranh này không rõ rệt, trộn lẫn ta và địch, địch cũng là ta.

Cuộc chiến tranh trên đường phố Sài gòn diễn ra ở hai mặt: Mặt nổi là những cuộc biểu dương lực lượng của giới sinh viên học sinh như biểu tình, xuống đường, đòi cái này, cái nọ, đòi thả người này người kia, ngay cả đòi thả những cán bộ cộng sản như Vũ Hạnh, sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy. Lý Chánh Trung trong bài viết: Rồi Hoà Bình sẽ đến ghi như sau:

Tôi đã đến đây tham dự buổi tuyệt thực của 20 giáo chức Đại, Trung và Tiểu hoc tại tòa Viện trưởng Viện Đại học Sài gòn, để yêu cầu nhà cầm quyền trả lại tự do cho các sinh viên, trong đó có anh Huỳnh Tấn Mẫm đã bị giam giữ trái phép đúng một tháng qua và đang tuyệt thực, tuyệt ẩm trong khám Chí Hòạ Trong lúc mấy em hát, tôi cảm động không dám nhìn lên, chỉ nhìn xuống... (trích trong Một thời bom đạn, một thời Hòa Bình, Lý Chánh Trung, trang 62).

Thế nào là trái phép? Bắt giam một cán bộ CS nằm vùng là trái phép? Không ai đặt ra câu hỏi đó cả.

Bên cạnh Lý Chánh Trung còn có một số phụ nữ Đòi quyền sống, còn có các ông Nguyễn Long, Trần Ngọc Liễng, Nguyễn Văn Cước, các Thượng tọa Mãn Giác, Nhật Thường.

Thêm vào đám đông đòi đó, còn có một Thích Nhất Hạnh vu cáo về một cuộc tàn sát chỉ có trong tưởng tượng của ông ấy:

Làng tôi hôm qua vì có 6 người Cộng sản về
Nên đã bị dội bom hoàn toàn tan nát
Cả làng tôi hoàn toàn chết sạch
Lũy tre ngơ ngác
Miếu thờ ngã gục
(Thơ Thích Nhất Hạnh)

Đáng nhẽ ông ấy phải viết rõ như thế này: Chỉ còn sống có mình tôi, để viết những điều vu cáo này. Có thật như thế không? Ngôn ngữ của sự gian dối? Một nhà sư nói gian dối thì phải gọi ông ta là gì?

Và để tường thưởng cho vị thiền sư, cộng sản đã có những lời lẽ trân trọng như sau:

“Người Sài gòn, tuổi trẻ Sài Gòn biết ơn những bậc tu hành chân chính đã quên mình vì nghĩa lớn, những phật tử hy sinh trong bão lửa đấu tranh làm suy yếu kẻ thù, làm rối loạn hậu phương của chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho Sài Gòn, tuổi trẻ Sài Gòn bung ra ào ạt giành một thế đứng công khai phất cao cờ cách mạng sau bao nhiêu năm xúc tích lực lượng chuẩn bị thời cơ”.

Đó là những lời lẽ trân trọng mà người cộng sản đã dành cho Thích Nhất Hạnh. (trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 349).

Phần Trần Bạch Đằng, chúng ta cần đọc mấy dòng thư này của ông ta để chúng ta nhận ra Huỳnh Tấn Mẫm là ai? Ông Trần Bạch Đằng còn giữ lại một mảnh giấy gửi cho ông ta của sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm ghi lại như sau: Xin đoàn thể yên tâm, quyết làm tròn nhiệm vụ. L71. L.71 là mật hiệu của Huỳnh Tấn Mẫm. Mẫm viết thư này tại nhà Quốc khách, nơi được dành làm trụ sở Tổng hội sinh viên. Trớ trêu thay, trụ sở này do ông Nguyễn Cao Kỳ dành cho Tổng Hội sinh viên của Huỳnh Tấn Mẫm chỉ vì mâu thuẫn, muốn chơi ông Thiệu.

Mời đọc thêm đoạn hồi ký bị cấm xuất bản ở trong nước của cựu dân biểu đối lập Hồ Ngọc Nhuận để nắm cho rõ câu truyện này. Ông Hồ Ngọc Nhuận viết như sau về vụ này:

‘Nguyễn Cao Kỳ “xớt” Huỳnh Tấn Mẫm’. Đó là nhan đề bài viết. Huỳnh Tấn Mẫm một lần nữa bị bao vây, truy bắt. Trung tâm sinh viên Phật tử một lần nữa dậy sóng. Một chiếc jeep nhà binh, ngay sau khi tôi “điệu” hết cảnh sát về Tân Sơn Nhứt, chúng tôi đã ập vào trung tâm Quảng Đức, bốc Huỳnh Tấn Mẫm chạy thẳng về dinh Quốc khách ở góc đường Công Lý và Hiền Vương, nay là Trung tâm văn hoá thiếu nhi, góc đường Nam Kỳ khởi nghĩa-Võ Thị Sáu. Chiếc jeep ập vào bốc Mẫm là của Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ và dinh quốc khách lúc bấy giờ cũng thuộc quyền Phó tổng thống.”

Dinh Quốc khách, trung tâm Quảng Đức. Chùa Phổ Hiền. Ấn Quang. Những mái chùa. Tất cả những nơi ấy đã góp chung bàn tay che chở bọn người cộng sản nằm vùng để làm sụp đổ miền Nam Việt Nam.

Và Hồ Ngọc Nhuận đắc thắng viết tiếp: Tiếp tay cho cộng sản, như vậy, không chỉ có mình tôi. Và lần này vai chánh không là tôi, mà là tướng Nguyễn Cao Kỳ. (trích hồi ký Đời, bản thảo, Hồ Ngọc Nhuận, trang 142).

Cái đất nước mình nó như thế đấy, cái lãnh đạo mình nó như thế đấy.

Và sau đây là danh sách 16 sinh viên bị chính quyền Việt Nam Cộng Hoà bắt. Bắt đúng người, bắt đúng những kẻ đã tiếp tay với Cộng sản. Nhưng vẫn bị sinh viên biểu tình đòi tha họ. Sau này cho thấy họ đều là những cán bộ CS trà trộn vào sinh viên như: Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy, Lê Thành Yến, Phùng Hữu Trân, Trần Khiêm, Đỗ Hữu Ứng, Lê Anh, Võ Ba, Đỗ Hữu Bút, Hồ Nghĩa, Cao Thị Quế Hương, Trương Hồng Liên, Truơng Thị Kim Liên, Võ Thị Tố Nga.

Chưa kể vụ án thành đoàn giải phóng gồm 21 người, trong đó có một số lãnh đạo Thành Đoàn như Ba Vạn, tức Phan Chánh Tâm, Năm Nghị, tức Phạm Chánh Trực. Sau 1975, họ đều là những cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở thành phố Hồ Chí Minh.

Và danh sách những nhà văn, nhà trí thức đòi thả bọn sinh viên cộng sản hãy còn đây. Quốc gia chống Cộng mà lại có chính nhà văn, nhà trí thức người quốc gia biểu tình, đòi thả bằng được những sinh viên cộng sản nằm vùng? Nhiều tờ báo cách này cách khác trở thành phương tiện cho cộng sản lợi dụng.

Bên cạnh đó, về mặt chìm là những toán đặc công cộng sản do thành đoàn tổ chức gài bom phá hoại các công sở, các xe nhà binh Mỹ, các doanh trại Mỹ và cuối cùng là giết hại, ám toán người quốc gia đã không theo họ. Nữ tướng đốt xe Mỹ thời 1960-1970 là Võ Thị Bạch Tuyết lúc đó nay trở thành giám đốc nông trường Đỗ Hoà ở Duyên Hải.

Đầu xuân 1966, Đảng ủy văn hóa khu Sài gòn Gia Định giao cho Vũ Hạnh, một nhà văn nằm vùng công tác đặc biệt là mở một mặt trận văn hóa tấn công miền Nam trong vùng đô thị mà họ gọi là “vùng tạm chiếm”. Vũ Hạnh ngụy trang dưới chiêu bài Bảo vệ Văn hóa, chống lại văn hóa đồi trụy, chống lại văn hóa ngoại lai đầu độc thanh niên miền Nam. Họ tổ chức và xin phép cho ra tờ Tin Văn. Tờ báo trực tiếp được chỉ đạo bởi các cán bộ cộng sản. Đứng đầu là Trần Bạch Đằng. Chủ nhiệm là Nguyễn Mạnh Lương. Và một số nhà văn cộng tác như Lữ Phương, Hồng Cúc, Nguyễn Hữu Ba, Vũ Hạnh. Những nhà văn này còn viết cho tờ Hồn Trẻ với các cây viết như Trần Cảnh Thu, Trần Triệu Luật, Nguyên Hạo, Lê Uyên Nguyên, Tuyết Hữu, Cao Hoài Hà, Thích Quảng Khanh, Anh Vũ, Lê Ngọc Lê, Đinh Khắc Nhu, Lê Việt Nhân... Toà soạn tờ báo được đặt trong một ngôi chùa. Chẳng hạn tờ Hồn Trẻ do Mười Hải, bí thư khu uỷ văn hóa. Tòa soạn đặt ở ngôi chùa số 29, đường Trần Quang Khải.

Một số chùa chiền trở thành cơ sở bí mật cho các hoạt động phá hoại của cộng sản như Ấn Quang, lúc bấy giờ do TT Thích Thiện Hoa chủ trì, trung tâm Quảng Đức, Đại học Vạn Hạnh. Theo tài liệu của Thành đoàn TNSVHS trong cuốn “Trui rèn trong lửa đỏ” đã viết về Đại học Vạn Hạnh như sau:

Viện đại học Vạn Hạnh thành lập năm 1964 là một đại học của Phật giáo. Trường ở đối diện chợ Trương Minh Giảng. Trước năm 1968, tổ chức cách mạng cũng có hoạt động ở đây. Đêm đón tết Mậu thân, tổ chức cách mạng ngay tại trường với một cuộc tập họp táo bạo, sinh động. Tuy nhiên lực lượng ta thời này chưa mạnh. Tháng 10/68, tình hình tổ chức cách mạng ở trường sau thời gian bị đánh phá, coi như trắng. Thành đoàn chỉ đạo đồng chí Sáu Tỉnh, tức Đỗ Quang Tỉnh, nay là cán bộ ban Hợp tác kinh tế của Uỷ ban nhân dân thành phố về xây dựng lại bằng tổ chức Liên đoàn sinh viên Phật tử Vạn Hạnh.. Và họ đã kết luận: kể từ tháng 5/1972, một chi bộ chính thức của Vạn Hạnh được thành lập.

Và một câu đánh giá quan trọng như sau: Từ những ngày đó, Vạn Hạnh trở thành một pháo đài xuất quân đốt xe Mỹ và chống bầu cử (trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 96).

Còn Ấn Quang được ghi lại như sau:

Những ngọn lửa bùng lên tuyệt đẹp trên đường phố. Các báo gọi những chiến sĩ đốt xe Mỹ là du kích quân sinh viên học sinh. Và chùa Ấn Quang trong những ngày ấy, là một chiến lũy của họ. Những người mẹ, người chị vượt qua những hàng rào cảnh sát, lựu đạn cay, vòi phun nước... đến với những đứa con ngoan của thành phố... “Tụi bay cứ đốt, đốt hết những quân chó đó đi...” Các mẹ, các chị căn dặn, nhắc nhủ với một lòng căm thù như vậy. (trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 110).

Tuy nhiên, dưới mắt người Cộng Sản, họ đã nhìn lại vai trò của Phật giáo như sau:

Viện Hoá Đạo, lá cờ đấu tranh vang dội một thời đang ủ rũ và chia rẽ, phân hóa. Kẻ về Vĩnh Nghiêm với lá cờ chống Cộng rách rưới. Kẻ về Vạn hạnh dò dẫm một lối đi. Người về Ấn Quang gần gũi với quần chúng, với thanh niên. Viện hóa đạo còn lại những chiến lược gia ủng hộ Khánh- Hương đàn áp phong trào, bắn chết học sinh Phật tử Lê Văn Ngọc.

Và kể từ nay: “Ngọn cờ Phật giáo lãnh đạo đấu tranh hạ xuống, ngay từ trong lòng Phật tử, nhường chỗ cho lá cờ cách mạng phất cao lãnh đạo phong trào đấu tranh của Sài gòn, của tuổi trẻ thành phố.”

Năm 1964 đã kết thúc như vậy. Tuổi trẻ thành p[hố kết thúc 10 năm sóng gió, để bước vào cuộc chiến đấu mới 10 năm sục sôi kỳ lạ. (trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 350-351).

Tiếp nối một cách vô tình hay bị mua chuộc có thêm các tờ báo sinh viên như Hoa Súng của Dược Khoa, Văn Khoa với Hạ Đình Nguyên. Nhất là tờ Tin Tưởng, tiếng nói của sinh viên Phật tử. Năm 1968, tờ Tin Tưởng do Phạm Phi Long làm chủ nhiệm, Đặng Minh Chi làm thư ký tòa soạn. Sang đến năm 1970, tờ Tin Tưởng sang tay cho Nguyễn Xuân Lập làm chủ nhiệm, Trần Công Sơn chủ bút và Trịnh Thị Xuân Hồng, thư ký tòa soạn. Sự tiếp tay của những tờ báo như Tin Tưởng với nội dung các bài đòi ngưng bắn vĩnh viễn, đòi Mỹ rút quân. Tất cả đều do bàn tay CS chỉ đạo.

Trong khi đó thì phía miền Nam có Chu Tử, đứng mũi chịu sào trực tiếp tố cáo Vũ Hạnh là Cộng Sản trong nhiều số báo liên tiếp kể từ tháng 10/1966 cho đến cuối năm 1966. Cái dở khóc dở cười của văn nghệ sĩ miền Nam là đã nhiều lần hội Văn bút do Lm Thanh Lãng làm chủ tịch đã công khai bênh vực Vũ Hạnh và cứu thoát y nhiều lần khỏi cảnh tù tội.

Cộng sản đã dùng tờ Tin Văn do Nguyễn Ngọc Lương làm chủ nhiệm, nhân danh bảo vệ và phát huy văn hóa dân tộc, bài trừ văn nghệ phản động đồi trụy. Trong tờ Tin Văn có những bài viết như:

Nhân một quyết định của bộ Văn hóa giáo dục, về việc bài trừ sách báo đồi trụy. Tin Văn số 3, tháng 6-7/1966. Hiện tượng dâm ô đồi trụy trong Văn Học hiện nay. Tin Văn số 9, 15/10/1966. Đọc tác phẩm của Chu Tử, Lữ Phương, số 10, 30/10/1966.

Sau này, trong tài liệu của Thành Đoàn, Vũ Hạnh đã có những nhận xét như sau về tờ Tin Văn:

Tuần báo Tin Văn, với các bài phê bình vạch mặt những tên xung kích chống phá cách mạng qua các tác phẩm đồi trụy, phản động.. Phong trào bảo vệ phát huy văn hóa dân tộc, bài trừ văn nghệ phản động, đồi trụy sớm trở thành phong trào quần chúng sôi nổi, sâu rộng ở Sai gòn và các tỉnh miền Nam, khiến bọn tay sai văn nghệ co lại, nguỵ quyền hoang mang và dĩ nhiên chúng tìm mọi cách để phản kích lại. Sự ra đời những hoạt động văn hóa ngụy dân tộc bị phong trào vạch mặt, chúng trắng trợn cho tên Chu Tử, tay sai của sở công an và Trung ương tình báo ngụy, bắt đầu một chiến dịch đả kích tôi, tố cáo tôi là việt cộng nằm vùng và liên tiếp trong nhiều số báo như vây, y đã vu khống tôi, cốt làm cho những người đã tham gia phong trào sợ hãi. Lúc nầy, Đảng uỷ văn hóa và thường vụ khu uỷ ở nội thành vẫn hằng ngày theo dõi tôi, động viên, chăm sóc về tinh thần lẫn vật chất cho tôi, thông qua vợ tôi, mở đường dây liên lạc mới, tôi trực tiếp nhận sự chỉ đạo của đảng. (trích Từ toà án văn hóa đến Hát cho đồng bào tôi nghe. Vũ Hạnh, Trui rèn trong lửa đỏ trang 179).

Vũ Hạnh hay bút hiệu cô Phương Thảo đã bị chính quyền miền Nam chính thức bắt giữ ngày 02/06/1967. Cứ mỗi lần bị bắt thì lại có những nhà văn, trí thức, sinh viên và đặc biệt Hội Văn bút do Thanh Lãng vào tù lôi ông ta ra.

Chính Vũ Hạnh đã thố lộ về việc bắt giữ ông ta như sau:

Mấy tháng sau đó, tôi bị công an nguỵ quyền bắt giữ là do hai cơ sở của ta làm lộ. Nhưng sự kiện tôi bị bắt giam bấy giờ tạo thêm một cái cớ cho các hoạt động đấu tranh hết sức nhiệt tình của giới sinh viên học sinh. tất cả đều tung ra dư luận khắp nơi rằng tôi bị giam giữ là do Chu Tử vu cáo, rằng chính quyền đã bất chấp pháp luật, chà đạp lên quyền tự do cầm bút một cách hết sức thô bạo. THSV bấy giờ một mặt vận động các giáo sư đại học có lòng yêu nước lên tiếng để ủng hộ tôi, ủng hộ gia đình tôi. (trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 181).

Đọc đoạn văn trên cho thấy Vũ Hạnh đã trắng trợn vu cáo cho Chu Tử dính vào việc bắt giữ ông ta, đồng thời y đã vận động trong giới trí thức để xin tha cho y. Đó là lối vừa đánh trống vừa ăn cướp.

Bên cạnh những tờ báo chính thức như Tin Văn, CS còn tổ chức rất nhiều những báo chí sinh viên hỗ trợ và tiếp tay cho Tin Văn.

Các báo sinh viên do những sinh viên như Trần Thị Ngọc Hảo, quyền chủ tịch Tổng Hội sinh viên làm “báo nói” tố cáo Mỹ Ngụy. Dương Văn Đầy (Ba Đầy biệt danh Bảy Không) làm bích báo sinh viên bên Y khoa đòi chuyển ngữ ở Đại học y khoa.. Nguyễn Trường Cổn, chủ bút báo sinh viên ca tụng quân giải phóng trong dịp tết Mậu thân, bị bắt và bị tòa án quân sự kết tù 5 năm khổ sai. Nguyễn Đăng Trừng đã trốn ra vùng giải phóng bị kết án 10 năm biệt xứ.

Đại học Khoa học có tờ Lửa Hồng, tờ Dấn Thân được ông giáo sư Trần Kim Thạch đỡ đầu. Luật Khoa có tờ Đất mới do Lê Hiếu Đằng, Nguyên Hạo. Tờ Học sinh do Lê Văn Triều làm chủ nhiệm, Nguyễn Thị Liên Hoa quản lý, xuất bản 1000 số.

Nhưng quan trọng là tờ Hồn Trẻ. Tờ Hồn Trẻ đã mượn danh tính một số người viết tên tuổi ở miền Nam lúc bấy giờ như tấm bình phong và giúp làm tăng uy tín cho tờ Hồn trẻ. Đó là các tác giả có tên tuổi như Thiên Giang, Bùi Chánh Thời, Nguyễn Văn Trung, Võ Quang Yến, Trụ Vũ, Tô Nguyệt Đình, Thiếu Sơn, Lương Phương, Vân Trang, Hồng Cúc, Song Thương, Ái Lan, Thảo Lam, Phương Khánh, Thu Quyên, Cao Ngọc Phượng, Phong Sơn, Chinh Ba, Hữu Hoàng, Nguyễn Văn Phụng, Phan Hữu Trình. Như đã nói ở trên, tòa soạn đăt trong một ngôi chùa do một cư sĩ là ông Nguyễn Văn Hoanh đứng vai chủ nhiệm. Mục xã luận là do chính những cán bô cộng sản gộc như Phạm Bá Trực, Mười Hải biên sọan.

Bên cạnh đó là những buổi sinh hoạt văn nghệ, ca nhạc nhằm cổ vũ các phong trào svhs phản chiến, đòi hòa bình. Tờ sinh viên ra mắt độc giả ngày 15/5/1967 do sinh viên Hồ Hữu Nhật làm chủ nhiệm. Tờ sinh viên được coi như biểu tượng của sinh viên tranh đấu. Ở đây, tôi xin nêu danh tánh tất cả những sinh viên thuộc các phân khoa đại họ đã hoạt động cách này cách khác cho cộng sản. Họ đã gài người vào trong các tổ chức sinh viên. Chẳng hạn như phong trào đòi Hòa Bình với chương trình “Hát Cho Đồng Bào tôi nghe, Dậy mà đi, Tiếng hát những người đi tới, Đêm Văn nghệ tết Quang Trung” với sự tham gia của các sinh viên đi theo cộng sản như: Trần Thiện Tứ, bác sĩ Trương Thìn, nhạc sĩ Nguyễn Văn Sanh, nhạc sĩ sĩ Tôn Thấp Lập, Võ Thành Long, nhạc sĩ Trần Xuân Tiến, Phạm Phú Tâm, Trương Thị Hoàng và Trương Thị Anh, Phùng Hữu Trân, Nguyễn Ngọc Phương, Võ Thị Tố Nga, Lê Thành Yến.

Và sau đây là danh sách sinh viên tranh đấu đã tình nguyện vào căn cứ ở Bắc Lộ 7, Campuchia gồm: Phan Công Trình, Nguyễn Đình Mai, Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Nguyễn Văn Sanh, Lê Thành Yến, Trương Quốc Khánh, Huỳnh Ngọc Hải, Dương Văn Đầy, Trần Thị Ngọc Hảo, Huỳnh Quang Thư, Hai Nam, Năm Sao, Trần Thị Ngọc Dung, Hà Văn Hùng, Trương Quốc Khoách.

Trong khi đó như tiếp sức cho địch, các trí thức, dân biểu nhà văn đua nhau ra các bản thông cáo đủ loại. Chúng tôi cũng xin tóm tắt bản Tuyên ngôn của nhóm Quốc Gia, ngày 04/09/1974 về tình trạng đàn áp báo chí tại miền Nam do các dân biểu sau đây đồng ký tên: DB Nguyễn Văn Binh, DB Nguyễn Tuấn Anh, DB Đặng văn Tiếp, DB Nguyễn Văn Cử, DB Dương Minh Kính, DB Nguyễn Trọng Nho, DB Nguyễn Văn Kim, DB Nguyễn Đức Cung, DB Vũ Công Minh, DB Đỗ Sinh Tứ, DB Nguyễn Hữu Hiệu.

Nội dung bản Tuyên bố phủ nhận luật báo chí 007, bênh vực báo Hòa Bình bị bộ Thông tin chiêu hồi đóng cửa, bênh vực các ký giả Nguyễn Thái Lân, Ngô Đình Vận bị gọi lên cơ quan an ninh lấy lời khai. Những bản tuyên cáo, những đòi hỏi như thế chắc là đúng, chắc là hợp pháp, chắc là ngay thẳng vì các vị ấy đều là những người quốc gia chân chính, người có lòng. Nhưng cộng sản đã biết lợi dụng những hoàn cảnh như thế để châm thêm ngòi nổ phá rối trật tự, an ninh ở Sài gòn.

Trong nhiều tháng qua, Hội Văn Bút của Thanh Lãng đã nhiều lần lên tiếng cảnh cáo về tình trạng đàn áp báo chí và coi đó là một ngục tù tư tưởng quy mô nhất.

Nhà văn Nhật Tiến cũng có đọc một bản cáo trạng dài về tình trạng ngộp thở của văn nghệ sĩ miền Nam cũng như của ngành xuất bản sách báo dưới lưỡi kéo kiểm duyệt ác nghiệt.

Cạnh đó là tuyên cáo chống đối chính quyền một cách đương nhiên của khối dân biểu Dân tộc xã hội gồm có: DB Trần Văn Tuyên, Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Ngọc Nghĩa, Nguyễn Phúc Liên Bảo, Nguyễn Công Hoan, Lý Trương Trân, Phan Thiệp, Huỳnh Ngọc Diêu, Trần Văn Thung, Trần Ngọc Giao, Trần Văn Sơn, Trần Cao Đề, Phan Xuân Huy, Tư Đồ Minh, Đinh Xuân Dũng, Lê Đình Duyên, Lý Quý Chung, Kiều Mộng Thu, Nguyễn Văn Hàm, Nguyễn Văn Phước, Nguyễn Hữu Thời, Nguyễn Mậu, Nguyễn Phước Vĩnh Tùng, Mai Ngọc Dược, Hồ Văn Minh, Đoàn Mai.

Riêng bản tuyên bố của nhóm dân biểu Xã hội-Dân tộc mà luật sư Trần Văn Tuyên làm trưởng khối thì chúng ta có quyền nghi ngờ nội dung bản tuyên cáo đó. Vì trong số dân biểu này, có một số đã làm tay sai cho cộng sản như dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quý Chung, Kiều Mộng Thu.

Luật sư Trần Văn Tuyên, một trí thức miền Nam, một người quốc gia chân chính mà còn có thể bị cộng sản giật giây thì còn ai khác nữa? Sau này đánh giá công tội của luật sư Trần Văn Tuyên, Hồ Ngọc Nhuận đã viết trong hồi ký “Đời” của ông như sau:

Luật sư Trần Văn Tuyên, có sách nào đó cho là lý thuyết gia của chủ nghĩa quốc gia chống Cộng, vào quốc hội nhiệm kỳ 2, năm 1971. Nhưng suốt nhiệm kỳ, anh chỉ đi với đối lập và là trưởng khối Xã hội-Dân tộc. Hôm gặp nhau khi đi trình diện với quân quản ở trụ sở Hạ viện, anh còn lạc quan nói: ‘chế độ mới không có luật sư, nhưng tôi hy vọng sẽ được làm bào chữa viên nhân dân’. Về anh cũng như một số các anh như Phan Thiệp, Nguyễn Mậu... thuộc cánh Quốc Dân Đảng miền trung, thật cũng khó mà lấy vài ba năm tham gia chính trị đối lập ở Sài Gòn để cân bằng đánh đổi mấy mươi năm chống Cộng. Nhưng nếu thời gian tham gia tranh đấu chống Mỹ của họ kéo dài thêm năm mười năm nữa thì sao? và đâu là những giọt nước nhỏ nhoi muộn màng giờ chót, thay vì rơi đi nơi khác, lại góp phần làm tràn cái ly? (trích hồi ký Đời, bản thảo, Hồ Ngọc Nhuận, trang 165).

Ra đến Hải ngoại, trong Văn Học miền Nam, truyện 3, trang 1771 của Võ Phiến có trích dẫn lời giới thiệu của Trần Bạch Đằng có nêu 3 “tác phẩm tốt” trong thời kỳ 1954-1975 là Vũ Hạnh, Sơn Nam và Võ Hồng và không đề cập một chữ đến vai trò cán bộ CS của Vũ Hạnh. Việc nêu danh có ba tác giả thân Cộng có tác phẩm tốt thật là khó chấp thuận được? Và thế nào là tác phẩm tốt? Và như thế gạt bỏ tất cả những nhà văn miền Nam còn lại trong đó có cả Võ Phiến? Tôi hy vọng rằng nhà văn Võ Phiến chia sẻ những suy nghĩ của tôi viết với sự trân trọng và công bình.

Cùng một tinh thần như Trần Bạch Đằng, trong bài báo của Xuân Trang nhan đề: ‘Tuổi trẻ Việt Nam làm báo’ có viết như sau về hiện trạng báo chí dành cho giới trẻ miền Nam:

‘Một hôm tôi ở tòa soạn nhận được bên anh em bên tạp chí Tin văn gởi biếu cho tờ Tin Văn số 10, với lời dặn dò là tờ Hồn Trẻ rất khó chen chân với các tờ báo nhảm nhí Tuổi hoa, Thiếu nhi, Tuổi ngọc... do bọn Nhật Tiến, Duyên Anh, Bảo Sơn chủ trương. Có lần tôi, tôi giao cho nhà phát hành Độc Lập, đường Trần Hưng Đạo 5 ngàn số thì sau đó y trả về gần đủ... 5 ngàn số, nghĩa là không bán được tờ nào cả’.

Báo do cộng sản chủ trương không bán được vì không ai mua, nhưng bọn họ vẫn gọi các báo Tuổi Hoa, Tuổi ngọc, Thiếu nhi là những báo nhảm nhí. Đó là cái cung cách của người Cộng Sản.

Bên cạnh những tờ báo chính thức như Tin Văn, người cộng sản đã phát hành vô số báo vệ tinh như các tờ Xung kích, Suối thép, Lửa thiêng, Trung Kiên từ căn cứ đưa vào nội thành. Nhưng những báo này thực sự cũng ít được ai biết tới.

Kết luận phần 1
Nguyễn Đình Thi trong bài viết Câu chuyện gởi tới các bạn tuổi trẻ sinh viên học sinh miền Nam đã viết:

‘Mấy tháng nay, từng bước đấu tranh của các bạn đã được toàn thể đồng bào miền Bắc, nhất là các giới trí thức, đại học, các lứa tuổi trẻ, chăm chú theo dõi với tình thương yêu đầy tự hào. Hai mươi năm lăn lộn lửa đạn, và ngày nay đang tiếp tục chiến đấu, dân tộc ta đồng thời đã không ngừng từ đất bùn mà nhào nặn lại cuộc sống của mình, từng bước tiến lên xóa vỡ bao ngang trái bất công và quét đi những rác rưởi của chế độ cũ’.

Và Lý Chánh Trung trong bài: ‘Làm và tin’ cũng đã viết:

‘Không có mũi nhọn xung kích của thanh niên thì không thể tạo được những xáo trộn dữ dội và kéo dài trong những năm 70, gây được tiếng vang ở nước ngoài và làm cho địch rất lúng túng... Tôi đã nhảy vào cuộc đấu tranh, phần lớn do sức lôi kéo của những người trẻ tuổi nói trên và đó là những ngày đẹp nhất mà tôi đã sống, với những lý tưởng đẹp, những tình cảm đẹp, những gương mặt đẹp mãi mãi không quên’.

Hiện nay, tờ Tuổi trẻ cùng như tờ Tuổi Trẻ chủ nhật, Tuổi trẻ cười tại thành phố Hồ Chí Minh là hậu duệ của những tờ báo sinh viên, học sinh thời trước 1975. Một số bọn họ được trui rèn từ những ngày tháng tranh đấu trong mặt trận báo chí của Sài gòn trước 1975 nay đảm trách nhiệm vụ mới.

Mặt trận báo chí ở đô thị trở thành mũi nhọn hàng đầu trong tất cả các phong trào chống Mỹ, chống Thiệu. Tất cả những tờ báo ấy trở thành vũ khí tư tưởng theo lệnh của đảng góp phần vào sự sụp đổ miền Nam vào năm 1975.

Viết lại những trang này như một bài học ôn lại cho những người dân ở miền Nam trước 1975 nay đã sinh sống ở nước ngoài. Như một bài học. Như một dĩ vãng cần được khơi lại để cùng nhớ những năm tháng ấy.

Nguyễn Văn Lục


Cách Cho Quý Hơn Của Cho - Đinh Lâm Thanh

Đinh Lâm Thanh

Nếu có một nông dân nghèo đến thăm chúng ta với gói quà trên tay gồm vài ba củ khoai, trái cà thì hình ảnh nầy sẽ thật cảm động và đáng quý hơn việc một triệu phú tổ chức quay phim chụp hình cảnh bố thí cho người nghèo đang diễn ra nơi cộng cộng. Cũng như trường hợp bà con, bạn bè đồng hương giúp nhau, dù một số tiền nhỏ được kín đáo để trong phong bì thì tế nhị và lịch sự hơn khi người thọ ơn phải trịnh trọng nhận những tờ giấy bạc trăm trước ống kính thu hình của ân nhân.

Chuyện xảy ra cách đây vài năm nhưng tất cả người Việt hải ngoại còn nhớ: Một người Việt Nam ở Mỹ gởi khoảng chừng 200 dollars (!) về giúp một nhà tranh đấu trong nước, sau đó ông ta viết chuyện cho tiền nầy với tên tuổi địa chỉ của người nhận lên trên net và phổ biến khắp các diễn đàn để đánh bóng cá nhân thì người nhận tiền bị công an làm khó dễ. Đây là việc mua danh cá nhân một cách thiếu tế nhị và đã vô tình làm hại cho người thụ hưởng trong nước (Thời đó công an theo dõi gắt gao các nhà tranh đấu).

Tôi biết rằng đại đa số người Việt hải ngoại đều làm việc thiện giúp đồng bào trong nước. Nhưng họ gởi quà, gởi tiền về cho thân nhân, bạn bè và anh em đồng đội cũ một cách kín đáo và thiết thực hơn, không ồn ào phô trương nêu tên tuổi cá nhân mình để được cộng đồng người Việt hải ngoại chú ý. Điều đáng buồn là rất nhiều người, đa số là thành phần có tiền của, mỗi khi làm việc thiện thì họ yêu cầu quay phim chụp hình, làm phóng sự. Đây là những hình thức làm việc thiện trơ trẽn của những kẻ háo danh bất tài vô tướng. Thành phần nầy cũng chẳng khác gì những ông bà làm chính trị bằng đường tắt, chữ nghĩa không đi đến đâu, khả năng kiến thức gà mờ, nhưng thường chường mặt ra trong các lần tổ chức từ thiện.

Tôi biết, bình thường muốn thành công lạc quyên cứu trợ thì những người tổ chức phải nghĩ đến những buổi dạ vũ, văn nghệ hay bữa cơm thịnh soạn để quý ông bà có dịp khoe của, khoe con cháu hoặc đánh vào tâm lý những người thích nổi bằng cách trịnh trọng mời họ lên sân khấu với danh tánh và số tiền ủng hộ ! Những cuộc lạc quyên như vậy đã mất hẳn ý nghĩa vì mục đích họ bỏ ra số tiền nhỏ không ngoài việc mua vui hoặc mua danh. Ngoài ra cũng có những người tổ chức chẳng những thích nổi mà còn lợi dụng kiếm tiền nên xem việc tổ chức cứu trợ như một nghề tay trái. Như vậy việc tổ chức từ thiện không khác gì là một cuộc trình diễn ‘cách cho nặng hơn tình cho’ !

Thời gian gần đây rộ lên phong trào giúp đở đồng bào đang bị thiên tai bão lụt tại quê nhà. Các cơ quan đoàn thể đều ra công sức tổ chức những buổi cơm tình nghĩa, những lần trình diễn văn nghệ thiện nguyện hay ra mắt sách, với quảng cáo rằng, dùng tiền để giúp đỡ những thành phần khốn khổ ở quê nhà. Tổ chức thành công thu được nhiều tiền nhưng rồi tiền đi đâu ? Bay hơi hoặc bị ngâm tôm làm vốn, hay người tổ chức giả vờ quên trong lúc đồng bào ruột thịt đang ngày đêm trông chờ từng manh áo, cái mền, ký gạo, viên thuốc trong lúc trẻ con khóc hết nước mắt trông đợi vài giọt sữa của những người có lòng từ tâm từ nước ngoài !

Cách mấy ngày nay, trên các diễn đàn vừa tiết lộ một điều cũng thấy đau lòng: Đại nhạc hội giúp thương phế binh của QLVNCH thành công thật tốt đẹp với một số lớn tiền thu được nhưng số tiền đến nay vẫn còn nằm trong túi của ban tổ chức vì ban tổ chức muốn tự tay mình phân phối số tiền trên mà không qua một tổ chức khác. Trong lúc đó một tổ chức khác đưa ra danh sách yêu cầu được quyền phân phối. Tranh nhau việc phân phối làm gì ? Ai làm cũng được. Miễn làm sao tuyệt đối tiền không rơi vào tay cán bộ cũng như cò mồi ăn có, không trao cho thương phế binh cộng sản, không hao hụt bay hơi trên đường từ Mỹ đến tận tay anh em thương phế binh của QLVNCH là quý lắm. Quý vị có công tổ chức và thành công tốt đẹp, cả thế giới đã biết và hoan hô tinh thần làm việc của quý vị. Quý vị có danh sách chính xác để trao tiền cho thương phế binh VNCH, quý vị bảo đảm không mất một xu, không hao một cắc thì xin hãy phối hợp với nhau để số tiền trên sớm về tận tay những anh em thương phế binh đang trông đợi, nhất là hoàn cảnh bây giờ, đang lúc thiên tai bão lụt khắp cả nước. Cộng đồng người Việt hải ngoại sẽ ghi ơn quý vị nếu quý vị biết phối hợp với nhau và việc làm của quý vị thật trong sáng.

Người Việt hải ngoại nên ghi nhận rằng, tâp đoàn cộng sản ngày đêm mong ước thiên tai liên tục đổ xuống trên đầu người dân Việt Nam ! Vì đây là thời cơ ‘được mùa’ để chúng ngữa nón ăn mày kêu gào lòng nhân đạo thế giới và rút ruột người Việt hải ngoại. Cứ mỗi lần thiên tai bão lụt trút xuống đầu người dân Việt thân thương là lúc cha con chúng nó ‘hồ hởi’ ăn mừng. Từ những cán bộ khu xóm, quận tỉnh đến trung ương đều lợi dụng ‘ơn mưa móc’ của thế giới tự do, hồ bao của người Việt hải ngoại và đau khổ bất hạnh của người dân trong nước. To đầu thì kiếm tiền triệu, tép riu cũng hốt tiền nhậu, áo quần, phẩm vật, thuốc men. Thiên tai bão lụt là cơ hội để chúng lùa Xơ –Ni-Cha-Cố-Thầy…ra hải ngoại vắt sữa đưa về ăn chia. Lá bài ‘Tim da trắng tóc quăn’, ‘xanh vỏ đỏ ruột’ đã bị lật ngữa thì chỉ còn đám cò mồi của Hà Nội ở hải ngoại và Xơ-Ni-Cha-Cố-Thầy ... được cộng sản Hà Nội cho phép hành nghề thế chỗ.

Tập đoàn cộng sản phải có trách nhiệm và bổn phận mỗi khi bị thiên tai bão lụt đối với nạn nhân trong nước khi họ phải chịu cảnh màn trời chiếu đất, thiếu cơm, thiếu thuốc. Nhưng bọn chúng đã phủi tay và bán cái trách nhiệm cho thế giới tự do. Chưa một lũ người nào tàn bạo, vô nhân đạo và dã man như tập đoàn cộng sản Hà Nội. Lúc tốt trời thì tha hồ ăn cướp, cái gì cũng vơ cũng vét … và khi thiên tai bão lụt thì chúng lại ‘hồ hởi’ ‘hả hê’, sai đàn em mang ‘bị gậy’ lên đường vái lạy khắp năm châu để đem tiền về cho chúng. Người ta không bao giờ thấy những tổ chức xã hội của tập đoàn cộng sản ra tay cứu trợ mà chỉ thấy chúng tranh nhau xâu xé mồ hôi nước mắt của nhân và giành giật nhau đút túi những số tiền của người Việt hải ngoại gởi về cứu trợ đồng bào trong nước.

Đồng ý rằng chúng ta không thể làm ngơ trước thảm cảnh của đồng bào ruột thịt trong nước, nhưng phải làm thế nào để đồng tiền mồ hôi nước mắt của chúng ta phải đến tận tay những nạn nhân. Thật khó nghĩ ra một phương cách khả dĩ nào để công việc cứu trợ được hữu hiệu, nhưng tôi thử đề nghị một ý kiến nhỏ như sau:

Mỗi người Việt hải ngoại chắc chắn đều có những người thân, dòng họ, sui gia, người tình cũ, bạn bè, bạn học, thầy trò, chiến hữu, đàn-anh-đàn-em, cùng họ đạo, cùng gia đình Phật tử, lối xóm, cùng làng thì tùy theo khả năng và chịu khó bỏ chút thời giờ gởi thẳng tiền giúp đở họ qua một ngân hàng chuyên phụ trách chuyền tiền. Theo tôi biết có nhiều văn phòng chuyển tiền về VN (từ quân lỵ, thành phố đến thủ đô) rất nhanh chóng và lệ phí đã rẻ (5$ cho 100-500$ và 4$ từ 500$ trở lên …) lại nhanh chóng (dưới 24 giờ có giấy hồi báo). Nếu không cần rườm rà đánh bóng vì phải đi dự tiệc, phải chờ đợi và phập phồng không biết tiền cứu trợ đi về đâu thì xin vui lòng gởi theo hình thức nầy. Đây là làm việc thiện một cách hữu hiệu, kín đáo, thiết thực và chính xác.

Tóm lại làm việc thiện không phải là cơ hội để mua danh. Một khi xem đây là hình thức để khoe khoang thì việc làm sẽ mất hết ý nghĩa. Tôi không tin mấy về lời khuyên cho rằng, làm việc thiện để được ơn tha thứ hay chuộc lại tất cả các tội lỗi đã phạm nhưng đây là một cử chỉ để thể hiện tình người. Nhịn một tô phở hoặc vài ly café để đóng góp tiền bạc do chính mồ hôi nước mắt của mình trước cảnh thương đau của nạn nhân thiên tai bão lụt là một việc làm phúc đức còn tốt hơn đi chùa niệm Phật, đi nhà thờ đọc kinh nhưng trong tâm vẫn còn mang nặng ba cái tầm thường: Tham Sân Si.

Xin Ơn Trên trả công cho những người biết làm điều thiện.

Đinh Lâm Thanh


30 Năm Nữa Việt Cộng Cò Sợ ... Không - Đặng Quang Chính

Đặng Quang Chính

30 năm rồi người Việt sợ ai nhất? Sợ Việt Cộng. Họ chạy từ Bắc vào Nam năm 1954. Rồi sau đó, họ chạy ra nước ngoài năm 1975. 30 năm nữa, người Việt còn sợ không? Trước khi trả lời, chúng ta xem qua một số sự kiện lịch sử.

Sau Công Nguyên hơn 10 năm, hai Bà Trưng nổi lên chống giặc Tàu. Thua trận, hai bà tự vẫn chết. Mã Viện, tướng nhà Hán, dựng cột đồng, khắc hàng chữ: ”Cột đồng gãy, Giao Châu diệt”, ý muốn nói, cột đồng đó gãy thì dân Việt ta thời ấy sẽ bị diệt vong. Người Việt đi qua, lấy đá chất vào chân cột, lâu ngày xoá đi dấu vết của cây cột đó.

Tiếc rằng, thời gian sau, từ họ Triệu đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn ngàn năm, nước ta bị Tàu đô hộ.

Cuộc chiến 20 năm (1954-1975) đã tạo cho người dân Việt một tâm lý lo sợ thường trực. Ngoài Bắc, chính quyền CS dùng cách cai trị kiềm kẹp và sắt máu, làm cho người dân lo sợ. Họ lo sợ cho cả đến cái ăn cũng phải dấu diếm (ăn thịt gà phải dấu lông không dám đế cho người hàng xóm thấy). Trong Nam, trước 1975, tại những vùng mà lính VNCH không kiểm soát được, khi người dân bị chính quyền "cách mạng" gán tội ”Việt gian”, chắc chắn sẽ được mời đi "làm việc" vào ban đêm...và sau đó, bị chặt đầu, mổ bụng ..hoặc đập đầu, chôn sống.

Sau năm 1975, khi chính quyền miền Bắc đã thâu tóm cả hai miền, họ không lấy cây kim sợi chỉ của dân. Họ lấy nhà bằng cách đưa dân đi vùng kinh tế mới. Họ đoạt tài sản người dân bằng chiến dịch ”đánh tư sản mại bản”. Họ kiểm soát người dân bằng cách thắt bao tử, theo lối ”ngăn sông cấm chợ”. Những người chống lại đường lối của họ, chẳng hạn, như Trần Văn Bá, từ Pháp xâm nhập về VN, bị bắt, bị chúng xử tử!.

Hơn 30 năm qua (1975-2005), dân chúng sợ chính quyền còn hơn người dân ngày xưa sợ cọp. Sợ mà không biết cách nào để trừ khử, họ đành phải rời đất nước, chạy ra sinh sống ở xứ người. Ai không đi được, đành nhẫn nhục sống cho qua ngày tháng. Gần đây, có Linh Mục Nguyễn Văn Lý, chống lại chính quyền, nhưng thấy tâm lý người dân quá sợ CS nên ông đã dùng câu nói sau như một khẩu hiệu: ”Ðừng sợ những gì CS làm, mà hãy làm những gì CS sợ”. Một người khác trong nhóm Linh Mục Lý, phân tách hai chữ: ”Nhát” và ”sợ”, cũng không ngoài mục đích khuyến khích mọi người mạnh dạn chống lại những sai trái của chính quyền.

Dân Việt, những người sợ CS, chạy ra nước ngoài, còn tiếp tục sợ dài dài.

Trước đây, chúng tôi có bài viết: ”Rủ nhau cùng về”, nội dung khuyến khích những người đã về VN (dù bất cứ lý do gì) nên dành một ngày nào đó trong năm (30.04 hay Tết Nguyên Đán) để tưởng niệm những thân nhân hay đồng bào của mình đã chết trong cuộc chiến 20 năm trước đây.

Kết quả nhận được là:

1. Người viết bị chụp mũ là thân Cộng. Những người trong nhóm này lấy những chữ, những đoạn (có thể không hợp ý của họ) rồi "xé" ra ... rồi thêm hành thêm tỏi.
2. E sợ sẽ bị công an "làm thịt". Họ không nói theo kiểu của nhóm trên, nhưng có ý cho rằng, tác giả bài viết "Rủ nhau cùng về" giở trò chim mồi.
3. Nghi ngờ tính khả thi của sự viêc.

Tóm lại, dù ý kiến đóng góp rơi vào một trong 3 điểm nêu trên, tất cả đều ít nhiều nói lên tâm lý sợ sệt, khi nghĩ đến chuyện phải làm việc đó. Thân nhân mình đã chết trong cuộc chiến, theo họ, nếu làm tưởng niệm, chỉ nên làm âm thầm, đừng làm công khai; vì nếu làm bằng cách tập trung nhiều người, mà nhà nước lại gắn cho nhóm chữ "diễn biến hòa bình" thì nguy to!.... Sợ lắm!!...

Dân đen sợ nhà nước ...
Nhà nước sợ anh láng giềng Trung Cộng.

Anh bạn tôi, hiện đang làm công việc giáo dục ở VN, thuật lại một chuyện mà chính anh đã chứng kiến. Một trường trong thành phố Sài gòn, nhận được sự trợ giúp của chính quyền Đài Loan, nên định làm một buổi lễ khánh thành khá long trọng. Khi chính quyền nhận được chỉ thị sao đó của tòa Lãnh Sự Trung Quốc, trường kia đành phải dẹp ngang buổi lễ dự trù.

Nhà nước sợ anh láng giềng Trung Cộng.

Do đó, khi thanh niên, sinh viên biểu tình về vụ Hoàng Sa, Trường Sa, nhóm biểu tình đã bị lực lượng công an ngăn chận. Họ ngăn chận tại chỗ và dùng nhiều cách khác để chận đứng sự biểu tình tại các trường học.

Như vậy, cái SỢ này đã trở thành hệ thống. Tay sai sợ đàn anh, rồi tay sai làm cho con dân của mình phải sợ chính quyền tay sai, để họ trở thành những Thái thú của người Tàu trong thời đại mới. Theo kiểu này, e rằng, nước ta có thể sẽ quay về thời kỳ từ họ Triệu đến trước thời nhà Ngô, bị nước Tàu đô hộ cả ngàn năm. Lúc đó, người Việt ở hải ngoại chắc cũng đành chịu bó tay; giống như hiện nay, người Tàu ở nước ngoài, khi được hỏi có phải họ là người Trung Quốc không, họ nói họ là người Đài Loan. Lúc đó, khi Trung quốc đặt tên cho Việt Nam là Quảng Nam chẳng hạn (họ đã có Quảng Đông và Quảng Châu rồi)... có lẽ người Việt ở nước ngoài sẽ nói mình là người của "Việt Nam xưa".

Cách diễn đạt như trên, nếu đúng trong thực tế, thì tình hình chính trị của nước nhà sẽ không mấy khả quan. Ai còn tâm lý sợ chính quyền CS … sẽ tiếp tục nuôi trong người sự sợ hãi đó. Tâm lý sợ hãi này, nếu có ”di truyền” lại cho con cháu, thì người Việt vẫn còn tiếp tục có nỗi sợ hãi dài dài. Tuy nhiên, nếu biết cách giải trừ, sự sợ hãi sẽ bị triệt tiêu. Như đứa trẻ đi trong đêm tối, nếu cả nhóm 5 (7) đứa cùng đi, cùng hát vang trời, chúng sẽ bớt, hay không còn sợ bóng tối, sợ ma. Khi toàn dân đoàn kết, quyết tâm thực hiện một công việc chung, trụ đồng của Mã Viện sẽ bị xóa mất dấu vết. Ngày nay, nếu dân Việt thật sự đoàn kết, Tàu Cộng sẽ không dám ngang nhiên đặt trụ phân chia ranh giới của chúng đến tận Côn đảo của nước ta. Hiện tại, sự đoàn kết như thế chưa thể có được. Người Việt ở nước ngoài, về VN (1) vào hai ngày như nói trên, rồi tất cả làm lễ tưởng niệm thân nhân của mình, những người đã chết trong cuộc chiến 20 năm vừa qua. Cứ thử làm vậy rồi sẽ thấy việc gì xảy ra. Chắc chắn chính quyền CS sợ sự tập trung đông người theo cách đó. Hoá ra, chúng ta sợ Việt Cộng, mà thật ra, chúng cũng sợ người Việt ở nước ngoài; nếu chúng ta có quyết tâm cùng làm một việc như thế - hay bất cứ việc nào khác -(2) Buồn cười thay!! … hai bên chỉ vì SỢ nhau mà chưa thể đoàn kết. Nhưng trước hết, để mọi người Việt ở nước ngoài có thể có cùng quyết tâm, chúng ta hãy loại trừ những trang Web làm tay sai của bọn cầm quyền trong nước. Chính những trang Web đó đã tạo sự mất đoàn kết trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Do đó, dù 30 năm hay lâu hơn thế nữa, ngày nào cuộc chiến giữa cái thiện và ác vẫn còn, ngày ấy những trang Web đấu tranh cho cái thiện vẫn còn tồn tại.

Đặng Quang Chính
Oslo 03.09.2009

*****
Ghi chú:

(1) Mỗi năm, người Việt ở nước ngoài về lại VN khoảng 100.000 người. Không biết con số này phải đươc điều chỉnh chưa.
(2) Ðoàn kết thì ai cũng nói được; nhất là đảng CS Việt Nam. Nhưng, đoàn kết theo cách của đảng ta là mọi người phải đi theo tấm bảng chỉ đường của những “đỉnh cao trí tuệ”. Và cái "đỉnh cao" này, sau 30 năm, không làm được một góc nhỏ, so với Nhật Bản (1945-1975) mà cứ tự hào, hênh hoanh, tuyên truyền rầm rộ.

NHÌN RA VẤN ĐỀ MỚI HÀNH ĐỘNG CHÍNH XÁC ĐỂ KHỎI PHÍ CÔNG, UỔNG SỨC - Đặng thiên Sơn

Đặng thiên Sơn

Nhiều ngày trong tuần lễ vừa qua, các cơ quan truyền thanh, báo chí, truyền hình, đặc biệt là về phía Mỹ đã nói về trường hợp một sinh viên Việt Nam tại trường Đại học San Jose State, ban toán học, đến từ thành phố Hồ tặc đã bị cảnh sát San Jose dùng “Baton” đánh lên đầu và bắn súng “Taser” sau khi họ đã còng tay người sinh viên này.

Câu chuyện bắt đầu trở thành ầm ỉ khi báo San Jose Mercury News phát hành tại San Jose tung ra hai bài viết có tựa đề “Những âm thanh tệ hại” (The worst part is the sound) và “ Bằng video đã cho thấy Cảnh sát San Jose dùng “Baton”, súng “Taser” bắn kẻ bị tình nghi (San Jose police officers caught on video using baton, Taser gun on suspect) trong hai ngày 24 và 25 tháng mười 2009. Kèm với bài viết là đoạn video dài 2 phút 53 giây, chứng minh cảnh sát đã hành động trái phép. Đoạn video này được quay bằng điện thoại cầm tay, và được văn phòng luật sư Nguyễn Hoàng Duyên cung cấp. Theo tường thuật thì câu chuyện đã xảy ra vào ngày 3/ 9/09, cách nay gần hai tháng. Được tóm tắc như sau: “Trong ngày 3/9/09, một người bạn cùng phòng với sinh viên VN tên Phương Hồ, là Jeremy Suftin đã dùng xà bong đổ vào đĩa thịt bò Hồ đang ăn. Trong lúc lời qua tiếng lại, Phương Hồ đã cầm con dao cắt thịt chỉ vào Jeremy Suftin với những lời lẽ hăm dọa. Jeremy Suftin gọi 911 và cảnh sát đến. Khi cảnh sát đến nơi thì sự cải vả đã chấm dứt, Phương Hồ không cầm vũ khí nào trên tay. Vì tiếng Anh kém, Phương Hồ không hiểu lời yêu cầu của cảnh sát biểu đưa tay ra để “chịu trói” nên tỉnh bơ định bỏ đi ra chỗ khác, nhưng đã bị cảnh sát đè xuống còng tay lại. Tiếp theo đó là trận đòn “Baton” của cảnh sát viên Kenneth Siegel giáng xuống và mùi súng “Taser” của cảnh sát viên Steven Payne Jr. tặng cho Phương Hồ. Sau đó, sinhviên này bị câu lưu một ngày một đêm tại sở cảnh sát… Khi trả lời phỏng vấn báo San Fransico Chronico, Phương Hồ cho biết vì không hiểu tiếng Anh nên không biết cảnh sát muốn gì, mới bị họ đè xuống còng tay. Và vì không hiểu luật pháp Hoa Kỳ nên mới nhờ luật sư can thiệp chậm trể như vậy”.

Ngay khi báo báo SMN đặt vấn đề, Cộng Đồng VN chưa kịp lên tiếng, thì Thị trưởng Chuck Reed, sĩ quan cảnh sát Ronnie Lopez, nghị viên khu vực 3 là Sam Licarrdo, nghị viên Kansen Chu khu vực 4, đã đồng loạt lên tiếng. Những nhân vật này cho biết chính quyền đang mở cuộc điều tra để làm sáng tỏ sự việc. Sự quá mau mắn của Chuck Reed và sở cảnh sát đã cho thấy khác biệt lớn lao, so với sự kiện cảnh sát San Jose bắn chết Daniel Sơn Phạm ngày 10/5/09. Trong vụ Daniel Sơn Phạm, mặc dù chính quyền, sở cảnh sát, biện lý cuộc nhận được hàng ngàn thỉnh nguyện thư của gia đình nạn nhân và cử tri VN yêu cầu điều tra minh bạch, nhưng họ vẫn im lặng không ngó ngàng gì tới. Để rồi cuối cùng, sau đó, biện lý cuộc ra phán quyết cho biết hai cảnh sát bắn Daniel Sơn Phạm không làm sai, nên miễn truy tố.

Bài viết này, không đề cập đến “đúng hay sai” về hành động của cảnh sát khi tiếp cận với dân chúng. Nếu nói sai, thì dù cho hình ảnh không rõ ràng của đoạn video với tiếng kêu gào của nạn nhân cũng đủ chứng minh cho thấy cảnh sát quá thô bạo rồi. Hơn nữa, khi ông Chuck Reed, sở cảnh sát đã lên tiếng đang tiến hành điều tra, thì thái độ đứng đắn nhứt là giữa bình tỉnh để đợi chờ kết quả. Nên vấn đề đặt ra ở đây, nếu CĐNV tại San Jose muốn là điều gì đó trong lúc chờ đợi, thì điều cần thiết là phải nhìn ra sự việc để hành động được đúng mức, chính xác.

Trước tiên đừng quên rằng, Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại là một Cộng Đồng Tỵ Nạn Cộng Sản tức Tỵ Nạn Chính Trị. Thứ hai, dù rằng trên quan hệ tình người cũng phải thấy ngay, chuyện một du học sinh bị bạo hành khác với chuyện một công dân người Mỹ gốc Việt bị cảnh sát bắn chết. Nếu xác định được hai điểm vừa kể, chúng ta mới thấy trường hợp của Phương Hồ là một trường hợp đặc biệt. Sự đặc biệt này dựa trên ba quan điểm Tình, Lý và Chính trị. Do đó, nó đòi hỏi sự tế nhị, sáng suốt và quyết định đứng đắn của từng cá nhân, của Ban Đại Diện Cộng Đồng, của những tổ chức, đảng phái, để tránh trường hợp bị “cháy túi, trắng tay”.

- VỀ TÌNH: Trên phương diện nhân bản và đồng loại. Dẹp qua các thành kiến Phương Hồ là một du học sinh, là thành phần vừa hồng vừa chuyên được Việt Cộng đào tạo từ nhỏ. Nhưng, khi nhìn hình ảnh của đoạn video với âm thanh hỗn độn, khó ai tránh được sự thương hại khi tai nghe những tiếng rên la, đau đớn thảm thiết của nạn nhân. Những cảm xúc này càng tăng trong lòng người nghe, khi nghĩ đến cái chết của Daniel Sơn Phạm không được chính quyền Chuck Reed giải quyết minh bạch. (Xin mở dấu ngoặc ở đây, suy nghĩ này loại ra trường hợp nếu có những tên Việt Cộng nằm vùng tại các Toà Lãnh Sự, Tòa Đại Sứ của chúng đi ra đường bị cảnh sát Mỹ đánh, bợp tai hay cả việc bị bắn chết).

- VỀ LÝ: Từ bức xúc dồn dập chuyện này đến chuyện kia, cộng đồng VN San Jose đòi hỏi chính quyền địa phương một câu trả lời thỏa đáng là điều đương nhiên. Đòi hỏi này dựa trên tinh thần duy trì công lý mà quyền thụ hưỏng danh cho mọi sắc tộc, chớ không phải vì Phương Hồ là người VN. Lên tiếng để đòi hỏi chính quyền xác định thái độ, hành động của cảnh sát khi tiếp cận với người dân tới mức độ nào mới đúng, đối với những người không có vũ khí nguy hiểm trên tay hay họ không có hành động nào nguy hại đến cảnh sát? Câu hỏi này, người dân cần sự trả lời rõ ràng để còn tin tưởng hay không vào sự làm việc cảnh sát.

- VỀ CHÍNH TRỊ: Phương Hồ là người của chế độ cộng sản VN. Phương Hồ là thành phần ưu tú của đảng và nhà nước VC được xuất cảng sang Hoa Kỳ. Do đó, kẻ có đủ tư cách pháp nhân ra mặt bảo vệ, binh vực quyền lợi cho Phương Hồ là bọn VC nằm vùng tại San Fransico, chớ không phải là người Việt tỵ nạn CS, Ban Đại Diện CĐVN hay bất cứ một đoàn thể nào tại San Jose .

Có những suy nghĩ cho rằng, Tòa Lãnh Sự VC tại SF không lo cho Phương Hồ, thì đây là cơ hội người Việt quốc gia đứng ra lo, để lôi kéo những du học sinh, con cháu VC về với chính nghĩa quốc gia. Đây là suy nghĩ hời hợt, thiếu chính chắn. Tại sao không nghĩ ngược lại, chính Việt Cộng tại S.F đang tung ra vấn đề Phương Hồ lúc này sau khi đã tính toán kỹ. Nhưng, VC dấu mặt và mở rộng cửa cho những kẻ hấp tấp bước vào cái bẩy mà chúng đã giăng ra. Bởi vì nếu VC ra mặt, thì đâu còn chỗ trống để CĐVN nhảy vào đòi công lý (?)

Hãy nghĩ, Phương Hồ bị cảnh sát “hành hung” xảy ra tới nay đã gần hai tháng. Nhưng tại sau hôm nay văn phòng luật sư của nạn nhân mới tung ra trên báo SMN để làm rùm beng? Phải chăng điều này là sự sắp xếp, tính toán kỷ của kẻ chủ mưu đứng sau lưng? Có ba giả thuyết được mọi người bàn tán đến:

1. Giả thuyết 1: Sự tung tin trên báo chậm trể vì sự trao đổi mua bán, giá cả đoạn video giữa với luật sư của Phương Hồ và Dimitri Masouris, người đã quay được đoạn phim tới lúc này mới ngả giá xong.

2. Giả thuyết 2: Cuối tháng 10/09, là thời điểm Việt Cộng tung tiền ra thuê mướn luật sư, báo chí và bật đèn xanh làm lớn chuyện để lôi kéo cộng đồng VN nhập cuộc. CĐVN vốn nhạy cảm và đang bất mãn chính quyền về chuyện Daniel Sơn Phạm nên hăng hái đấu tranh đòi công lý. Vô tình làm bung xung tốt cho VC .

Nếu cộng đồng Việt Nam San Jose nhúng tay sâu vào chuyện Phương Hồ. Việt Cộng có những điều lợi sau đây:

- VC Mượn sức của CĐVN để làm giá với chính quyền San Jose , mà qua vụ Little Sàigòn ai cũng thấy ít ra Chuck Reed và Madison Nguyễn là hai người có cảm tình với VC, nên việc trao đổi không khó.

- VC muốn CĐVN nhúng tay vào chuyện Phương Hồ, là cách chuyển hướng “mũi nhọn” người Việt quốc gia đang nhắm tới là đối phó với cái gọi là “Meet VN” trong hai ngày 15 và 16/11 của chúng tại S.F bị chểnh mản, yếu đi.

- Việt Cộng lợi dụng sự nhúng tay nhiệt tình của CĐVN vào vụ Phương Hồ để tuyên truyền trong nước rằng, CĐVN tại San Jose đúng là một bộ phận của VNCS vì rõ ràng sự hăng hái bảo vệ một du học sinh đã chứng tỏ tinh thần: “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”.

3. Giả thuyết 3: Là điều kiện Việt Cộng cần phải có có để đào sâu thêm sự rạn nứt giữa CĐVN với chính quyền. Từ đó, VC và tay sai sẽ rêu rao CĐVN tỵ nạn cộng sản là thành phần gây rối, quá khích. Mục đích này chúng chuẩn bị cho việc bầu cử năm 2010 sắp tới.

Chính vì vậy, sau khi đã lên tiếng và làm những điều cần làm như Ban Đại diện Cộng đồng VN/BCL đã gửi văn thư đến Thị trưởng, Sở Cảnh sát San Biện Lý Cuộc yêu cầu mở cuộc điều tra. Như LĐCTNV/BCL cũng như các đoàn thể tổ chức họp báo trước tiền đình City hall chiều ngày 27/10/2009, thiết nghĩ đã quá đủ. Phần còn lại hãy để cho “cha mẹ đở đầu” của các du học sinh là bọn VC nằm vùng tại S.F và những kẻ thân cộng “thụ lý”. Nếu tiến xa hơn như kêu gọi biểu tình, thì e rằng sẽ trở thành một kịch bản khôi hài của vở tuồng “Anh hùng cứu mỹ nhân” khi đây không phải là việc làm của những người Việt tỵ nạn cộng sản sáng suốt.

Đặng Thiên Sơn