Sunday, October 4, 2009

Chúng lại xạo nữa rồi Thiên Chúa ơi! - Trịnh Du

    Chúng lại xạo nữa rồi Thiên Chúa ơi!
    (Thương tặng Cha Lý, người linh mục kính yêu)

    Sáng thứ Bảy đọc thư từ bên ấy
    Con tự nhiên thấy lạ lắm Chúa ơi
    Nơi trại tù hẻo lánh trận chân trời
    Ngài đọc báo, trồng hoa thơm cỏ lạ?

    Hởi bè lũ Việt gian chuyên đánh phá
    Bây nở nào bịa chuyện với trần gian
    Ngài bị giam trong phòng nhỏ tồi tàn
    Không bệnh xá khi Ngài bị té ngã

    Tòa Gíam Mục xem Ngài như nước lã
    Gởi hai Cha tra hỏi tội trần gian
    Ngài ngây thơ xưng tội đến chiều tàn
    Nào có biết hai Cha là “mật thám”?

    Ôi Thượng Đế, cho con lòng can đảm
    Trở về quê dù bỏ xác rừng hoang
    Giúp cho con trí dũng được vẹn tòan
    Để con phá ngục tù nơi Ngài ở

    Con sẽ phá ngục tù để trả nợ
    Trả tự do cho Tám Chục Triệu dân
    Từ núi cao cho đến bờ biển ngần
    Người dân Việt được cơm no áo ấm

    Toàn dân Việt được thương yêu đầm ấm
    Thánh đường xưa ta xây lại khang trang
    Ngôi Chùa xưa được tu bổ đàng hoàng
    Và Cha Lý được tự do cầu nguyện …

    Thượng Đế hỡi, cho con một lời nguyện
    Dù chỉ là một lời nguyện đơn sơ
    Xin Chúa thương đừng trách móc thờ ơ
    Khi Cha Lý bị giam cầm trong ngục

    Con vẫn biết: Chết Vinh Hơn Sống Nhục
    Chiên đầu đàn có Nhục cũng có Vinh
    Xin Chúa Thương khi phán xét Thiên Đình
    Hãy loại bỏ Chiên nào đã sống nhục!

    (Trịnh Du, một sáng cuối tuần, tháng 9/2009)

Mũ Đỏ VNCH với Cờ Vàng tham dự diễn hành trên đại lộ Champs-Elysées


Mũ Đỏ VNCH với Cờ Vàng tham dự diễn hành trên đại lộ Champs-Elysées và đặt vòng hoa tại mộ bia chiến sĩ vô danh dưới chân Khải Hoàn Môn tại Paris hôm 03/10/2009 do hội Union Nationale des Parachutistes tổ chức để mừng ngày lễ St-Michel (29/09).


















Chuyện hoang thưởng của loại "Tiến Sĩ Cầu Muối" - Triệu Hoàng Nguyên

CHUYỆN HOANG TƯỞNG CỦA LOẠI ‘TIẾN SĨ CẦU MUỐI’

Triệu Hoàng Nguyên

Lúc này các đài Phát thanh ngoại quốc thường hay phỏng vấn các trí thức xã hội chủ nghĩa tai to mặt lớn ở VN. Các vị này tự nhiên thấy mình thành nhân vật quan trọng, nên phát biểu vung tí mẹt, quên mất câu “nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”. Ngày 9/2/09, đài BBC có làm một cuộc phỏng vấn ông giáo sư Nguyễn Trọng Phúc thuộc Học Viện Chính Trị-Hành Chánh Quốc Gia Hồ Chí Minh, nhà Nghiên cứu, và nguyên Viện Trưởng Viện Lịch Sử Đảng thuộc Học Viện Cao Cấp của nhà nước CSVN.

Nghe thành tích và chức vu dài lòng thòng của vị này là thính gỉa đã táng đởm kinh hồn rồi, thế mà nghe câu trả lời phỏng vấn của ông thì người ta còn bị toát mồ hôi, sôi bọt mép nữa. Ông nói: “Người ta có nhiều con đường để đi đến khẳng định chế độ chính trị nào được toàn dân ủng hộ, chứ không phải chỉ trưng cầu dân ý. Nước Anh, nước Mỹ có trưng cầu dân ý không?”

Ông Phúc chắc chắn là đã phải vất vả “học tập theo gương cáo Hồ vĩ đại” cho nên mới bò lên được tới điạ vi nhà nghiên cứu, viện trưởng và giáo sư các cơ sở giáo dục quan trọng hàng đầu của đảng và nhà nước. Thế thì tại sao ông không trích dẫn gương Liên sô và Trung quốc vĩ đại mà lại đi so bì với các nước tư bản phản động Anh Mỹ là “có ý đồ gì đây”? Ông có nhớ rằng dân chủ xã hội chủ nghiã gấp một triệu lần dân chủ tư bản hay không? Cho nên có vẻ như ông không hiểu “bầu cử” “ trưng cầu dân ý” đều có cùng mục đích tương tự như nhau.

Ông Phúc ơi, xin chỉ giúp ông con đường để khẳng định chế độ chính trị được toàn dân ủng hộ ở VN nhé . Đó là con đường vượt biên giúp mấy triệu người bỏ nước ra đi để lánh nạn CS đấy ! Cái con đường này người dân nói rằng nếu mà cái cột đèn biết đi thì nó cũng đi, chỉ hiềm hơi nguy hiểm, và chỉ vì “đảng và nhà nước ta” ngăn chặn bắn giết ráo riết nên nhiều người không dám đi. Chắc ông dư biết. Nói xa như vậy thì ông cho là chuyện cũ nhắc lại làm gì, nhưng trước mắt ngày nay, tin báo trong nước cũng như những nghiên cứu ngoại quốc cho biết rằng đa số các du sinh (tức là thuộc giới quyền chức và có tiền bạc) cũng chỉ muốn ở lai ngoại quốc khi đã ra được đến ngoài rồi, ông có biết không?

Sau đây là cuộc phỏng vấn của nhà Tiến sĩ Lê Anh Sắc, chuyên viên cao cấp Sở Nội Vụ Hà Nội, thành viên soạn thảo Chiến lược cán bộ, công chức khối chính quyền Thành phố. Chỉ tiêu của Tiến sĩ Sắc đề ra là: “Đến năm 2020, Hà nội phấn đấu có 100% cán bộ diện Thành Ủy quản lý có trình độ Tiến Sĩ. 100% cán bộ diện UBND TP quản lý có trình độ trên đại học, trong đó một nửa cần đạt trình độ Tiến sĩ, 100% cán bộ chủ chốt xã, phường, thi trấn có trình độ đại học, trong đó 50% trên đại học.”

Có lẽ ông Lê Anh Sắc lấy bằng Tiến Sĩ nên ông muốn mọi người đều phải có bằng Tiến sĩ như ông. Cứ nghe chỉ tiêu ông Lê Anh Sắc đề ra thì người ta liên tưởng là tới năm 2020, ở VN, các Tiến Sĩ sẽ bò lổm ngổm, đầy rẫy đầu đường xó chợ, ngõ hẻm hang cùng.

Tuy nhiên, chỉ tiêu của ông đề ra không có tính cách thực dụng. Này nhé, hiện thời 14 cấp lãnh đạo trong Bộ Chính Trị, các Chủ Tịch nhà nước, Thủ Tướng và phó Thủ Tướng chính phủ chưa ai có bằng Tiến sĩ cả. Thời gian đào tạo cho môt tiến sĩ “chính quy”, theo chữ của đảng và nhà nước ta, thì phải mất 5 năm tiểu học, 7 năm trung học, 4 năm cử nhân, 2 đến 4 năm tiến sĩ tuỳ ngành và tuỳ khả năng. Tổng cộng là 20 năm. Nay ông ra chỉ tiêu 10 năm nữa 100% cán bộ Thành Ủy phải có bằng TS thì hơi kẹt cho các đồng chí của ông chỉ có tốt nghiêp trường tù, trường điạ đạo Củ Chi, hoặc chiến khu D. Không lẽ ông khiêng mấy vị này liệng xuống ao cá vồ , cá tra hết để cho mấy ông TS lên thay thế à ? Việc gì bầy đăt nhiêu khê như thế mà tại sao không cứ yên lặng in bằng cấp cho các lãnh đạo như hiên nay đang làm có phải đỡ tạo sầm sì bàn tán hay không?

Ông Sắc có vẻ không nhớ lời "cáo Hồ vĩ đại" dạy “trồng người 100 năm” nên mới tính trồng “thành ủy” tiến sĩ 10 năm! Khi bị hỏi rằng: ”ông có cho rằng mục tiêu đưa ra là quá cao và khó thực hiện không ?.” Ông trả lời: “Việc đưa ra mục tiêu cao sẽ tạo áp lực cho thành phố nghĩ ra được cơ chế để thực hiện. Khó khăn thách thức, mình sẽ gỡ dần.” Câu trả lời này nghe thật đúng sách vở và “có tình có lý” của lãnh đạo đã đề ra từ khi đổi mới. Đó là “sai đâu sưả đấy và sửa đấy sai đâu, sửa đâu sai đấy”.

Về câu hỏi: “ Những vị trí quản lý cần nhiều kinh nghiệm thực tiễn hơn là bằng cấp?” Ông trả lời: “Những người có trình độ học vấn ở mức giới hạn, thì kinh nghiệm dù có nhiều hơn nữa, cũng chỉ có thể giúp giải quyết những vấn đề cá nhân, chứ không thể dùng được cho bộ máy hành chánh, khó mang ra để gíúp dân, giúp nước được.” Chỉ vì say mê cái chiến lược đào tạo tiến sĩ nên lại nói đụng chạm đến các cán bộ đảng viên quyền lực quanh ông đó, ông Sắc ơi. Tính lại đi, kẻo mà mất ghế. Câu này không những làm mất lòng quan chức đảng, mà còn làm động lòng những tiến sĩ xã hội chủ nghĩa không nhiều lắm hiện nay nữa, và những người này không thể nào không phê bình chiến lược của ông. Tại sao ông có biết không? Tại vì nếu mà tiến sĩ nhiều quá thì họ còn đâu mà đươc phỏng vấn hoài hoài như hiên nay nữa?

Triệu Hoàng Nguyên

Chính Trị Hóa Gia Đình, Một Chính Sách Lớn Của Cộng Sản - Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc

Trong bài “Chế độ gia đình trị của cộng sản” tôi đã phân tích một chiến lược cầm quyền và duy trì quyền lực của đảng Cộng sản Việt Nam: Ðó là chiến lược gia đình hoá sinh hoạt chính trị trong phạm vi quốc gia. Lãnh tụ tối cao của đảng và nhà nước là “Cha”, là “Bác” của dân tộc; các lãnh tụ khác, thấp hơn một chút, là “anh” là “chị”. Quan hệ giữa giới lãnh đạo và quần chúng, do đó, là thứ quan hệ gia tộc.

Chiến lược ấy có ưu thế ở chỗ tận dụng được nhiều truyền thống văn hoá của Việt Nam vốn trọng tình gia đình và, một phần do ảnh hưởng của Nho giáo, đề cao chữ hiếu. Nó tỏ ra cực kỳ có hiệu quả trong việc loại trừ ý thức phản kháng và bất phục tùng của cấp dưới. Bất cứ người cấp dưới nào, khi có ý kiến khác với cấp trên, đều ít nhiều mang mặc cảm là mình “hỗn” cho dù về lý, họ hoàn toàn đúng.

Không phải trong lãnh vực chính trị, ngay cả trong lãnh vực xã hội, chiến lược gia đình hoá như vậy cũng có tác dụng triệt tiêu tinh thần dân chủ và ý thức bình đẳng.

Một người bạn của tôi, trong một chuyến về Việt Nam, ghé thăm công ty của một người em trai, nhận ra một thứ quan hệ kỳ lạ trong công ty, một thứ quan hệ mà anh không hề thấy ở Úc.

Người em trai của anh là giám đốc một công ty kỹ thuật lớn ở Sài Gòn. Ðang ngồi nói chuyện với anh một lát, người em sai một nhân viên kỹ thuật đang làm việc gần đó: “Cháu chạy xuống đường mua cho chú hai ly cà phê đi, cháu!”. Cô gái, nghe đâu tốt nghiệp từ ngoại quốc về, vui vẻ chạy đi và lát sau mang về hai ly cà phê. Lát sau, anh giám đốc lại ới một nhân viên kỹ thuật khác: “Em chạy mua cho anh bao thuốc lá nhé!” Và người nhân viên ấy lại chạy đi.

Người bạn của tôi nhận xét: Những chuyện như thể không những không hề có mà cũng không thể tưởng tượng ra được ở Úc. Mà có lẽ ở Úc cũng không có giám đốc nào dám sai nhân viên những chuyện như vậy. Và cũng hiếm có nhân viên, nhất là nhân viên kỹ thuật, nào lại sẵn lòng làm những chuyện như vậy.

Anh và tôi đồng ý với nhau ở điểm này: Nguyên nhân chính của việc sẵn-sàng-sai-bảo và sẵn-sàng-vâng-lời ấy nằm trong cách xưng hô.

Dùng “I” và “you” như trong tiếng Anh hay “Je” và “tu” hay “vous” trong tiếng Pháp, những sự sai bảo kiểu đó rất dễ trở thành một sự xúc phạm. Nhưng khi người ta dùng chữ “chú” / “cháu” hay “anh” / “em” thì vấn đề lại khác. Ðó không còn là sự sai khiến của một người chủ, một cấp chỉ huy mà là sự nhờ vả thân tình của một người anh hay một người chú.

Với tư cách người anh hay chú, vị giám đốc cảm thấy hoàn toàn thanh thản sai khiến em hay cháu. Và với tư cách em hay cháu, các nhân viên cũng thấy bình thường trước những yêu cầu ngoài công việc của anh hay chú của mình.

Một chuyện như thế xảy ra ở một công ty cũng có thể cũng dễ dàng xảy ra ở các công sở thuộc mọi cấp, từ trung ương xuống địa phương.

Trong một không khí sinh hoạt như thế, ý niệm về bình đẳng hay dân chủ khó mà nẩy nở trọn vẹn được.

Có thể đó là điều Hồ Chí Minh và các lãnh tụ khác của cộng sản đã thấy và đã tận dụng để duy trì quyền lực của họ.

Nhưng ngoài chiến lược gia đình hoá chính trị ấy, cộng sản còn có một chiến lược quan trọng khác nữa: chính trị hóa mọi quan hệ gia đình.

Nói cách khác, ở cấp quốc gia, cộng sản biến mọi sinh hoạt chính trị thành thứ quan hệ gia đình; nhưng ở cấp gia đình, cộng sản lại làm mọi cách để chính trị hoá các quan hệ thân tộc, từ quan hệ cha/mẹ-con đến quan hệ vợ – chồng.

Lâu nay, người ta hay dẫn mấy câu thơ của Tố Hữu viết nhân ngày Stalin chết để chế diễu cái họ gọi là thói nịnh bợ của người được gọi là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng tại Việt Nam:
    Stalin!Stalin
    Bữa trước mẹ cho con xem ảnh
    Ông Stalin bên cạnh nhi đồng
    Áo ông trắng giữa mây hồng
    Mắt ông hiền hậu, miệng ông mỉm cười
    Trên đồng xanh mênh mông
    Ông đứng với em nhỏ
    Cổ em quàng khăn đỏ
    Hướng tương lai
    Hai ông cháu cùng nhìn
    Sta-lin! Sta-lin!
    Yêu biết mấy nghe con tập nói
    Tiếng đầu lòng con gọi Sta-lin!
    Mồm con thơm sữa xinh xinh
    Như con chim của hoà bình trăng trong
    Hôm qua loa gọi ngoài đồng
    Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao
    Làng trên xóm dưới xôn xao
    Làm sao, ông đã làm sao, mất rồi!
    Ông Sta-lin ơi! Ông Sta-lin ơi!
    Hỡi ôi Ông mất! Ðất trời có không?
    Thương cha thương mẹ thương chồng
    Thương mình thương một thương Ông thương mười
    Yêu con yêu nước yêu nòi
    Yêu bao nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu
    Ngày xưa khô héo quạnh hiu
    Có người mới có ít nhiều vui tươi
    Ngày xưa đói rách tơi bời
    Có người mới có được nồi cơm no
    Ngày xưa cùm kẹp dày vò
    Có Người mới có tự do tháng ngày
    Ngày mai dân có ruộng cày
    Ngày mai độc lập ơn này nhớ ai
    Ơn này nhớ để hai vai
    Một vai ơn Bác một vai ơn Người
    Con còn bé dại con ơi
    Mai sau con nhé trọn đời nhớ Ông
    Thương Ông mẹ nguyện trong lòng
    Yêu làng yêu nước yêu chồng yêu con
    Ông dù đã khuất không còn
    Chân Ông còn mãi dấu son trên đường
    Trên đường quê sáng tinh sương
    Hôm nay nghi ngút khói hương xóm làng
    Ngàn tay trắng những băng tang
    Nối liền khúc ruột nhớ thương đời đời.
    (Tố Hữu 1953)
Xin lưu ý là năm 1953, lúc Tố Hữu viết bài thơ trên, ông không phải chỉ là một nhà thơ bình thường như vô số các nhà thơ khác. Mà ông, với tư cách uỷ viên dự khuyết Trung ương đảng, đang đảm trách vai trò lãnh đạo toàn bộ sinh hoạt văn học nghệ thuật và tư tưởng của Việt Nam.

Những câu tán tụng công ơn của Stalin như vậy không phải chỉ là những lời nịnh bợ bình thường mà chắc chắn phải xuất phát từ một chính sách tuyên truyền nhất định.

Chính sách ấy là biến Stalin thành một người Ông, nghĩa là một thành viên trong gia đình. Nhưng đó không phải là một thành viên bình thường. Ðó là người đã ban phát ân huệ cho cả nhân loại, trong đó có Việt Nam, do đó, mọi người cần phải biết ơn, hơn nữa, thương yêu; quan trọng hơn nữa, thương yêu hơn cả đối với những ngượi ruột thịt hay với chính bản thân mình: “Thương cha, thương mẹ, thương chồng / Thương mình thương một, thương Ông thương mười”. Nói cách khác, sau khi đưa Stalin vào quan hệ gia đình, Tố Hữu hạ thấp tất cả các quan hệ cố hữu trong gia đình: mọi thứ tình cảm cha con, mẹ con, vợ chồng đều là thứ yếu so với tình cảm dành cho Stalin, và cùng với Stalin là Hồ Chí Minh: “Một vai ơn Bác, một vai ơn Người”.

Không những xem tình cảm đối với Stalin và Hồ Chí Minh cao hơn tình cảm cha – con, mẹ – con và vợ – chồng, Tố Hữu còn phá vỡ cả quan hệ nam – nữ vốn dựa chủ yếu trên tình yêu cá nhân bằng cách chính trị hoá nó.

Trong bài Bài ca mùa xuân 1961, Tố Hữu viết:
    Như buổi đầu hò hẹn, say mê
    Anh nắm tay em, sôi nổi, vụng về
    Mà nói vậy: “Trái tim anh đó
    Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ
    Anh dành riêng cho đảng phần nhiều
    Phần cho thơ và phần để em yêu”.
    Em xấu hổ: “Thế cũng nhiều, anh nhỉ?”
    Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí.
Ðoạn thơ trên bị nhiều người giễu cợt. Tuy nhiên không nên vì giễu cợt mà quên đi hậu ý của Tố Hữu, vị trưởng Ban Tuyên huấn của đảng Cộng sản.

Ðại ý của bài thơ là: Trái tim Tố Hữu chia làm ba ngăn: ngăn lớn nhất dành cho đảng cộng sản, hai ngăn nhỏ còn lại chia đều cho thơ và cho người tình.

Thì cũng được. Thật ra, đó cũng là điều khá bình thường ở những người đang theo đuổi một lý tưởng lớn nào đó. Cái bất bình thường ở đây là: sự khác nhau giữa các ngăn không phải chỉ ở thể tích mà còn ở quan hệ.

Nói một cách tóm tắt, cái ngăn nhỏ trong trái tim ấy chỉ dành cho em với một điều kiện: em cũng phải là người trong đảng. Ðó là ý nghĩa của câu cuối: Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí. Câu thơ chín chữ, thừa bốn chữ: hai người đồng chí. Giả dụ trong thơ tình bình thường, người ta chỉ cần viết: Rồi hai đứa hôn nhau. Ðã quá đủ. Thêm “hai người đồng chí” không có ý nghĩa nào khác ngoài ý đồ làm mờ bớt màu sắc của nụ hôn, đặt ra những giới hạn cho nụ hôn.

Ðó là nụ hôn của tình đồng chí trước khi là của tình yêu trai gái.

Nói cách khác, “anh” chỉ hôn “em” nếu em là “đồng chí” của anh. Còn tình đồng chí ấy thì còn tình yêu. Mất tình đồng chí, tình yêu cũng mất. Nếu có sự mâu thuẫn giữa tình đồng chí và tình yêu, ưu tiên lựa chọn là tình đồng chí chứ không phải là tình yêu.

Xin lưu ý là, với tư cách lãnh đạo tư tưởng của đảng, quan điểm của Tố Hữu cũng đồng thời là quan điểm chính thống của đảng. Bởi vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi tất cả những người cảm bút khác đều răm rắp đi theo ông.

Trong bài Núi đôi, Vũ Cao cũng có cái nhìn tương tự. Bài thơ, được sáng tác năm 1956, kể lại một mối tình trong chiến tranh chống Pháp với một kết thúc bi thảm: người con gái hy sinh. Người con trai còn sống, nghe tin, bàng hoàng, đau đớn cực độ:
    Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng núi
    Núi vẫn đôi mà anh mất em.
Thế nhưng, nỗi đau riêng tư ấy nhanh chóng bị mờ đi trước những thắng lợi rực rỡ của cách mạng:
    Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc
    Làng ta rồi sẽ đẹp bao nhiêu.
Chỉ còn, ở người con trai, một nỗi nhớ:
    Nhớ nhau, anh gọi: em, đồng chí
    Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.
Quan trọng nhất là câu áp chót ở trên. “Nhớ nhau, anh gọi: em, đồng chí”. Em không còn là em. Em chỉ là một người đồng chí. Chỉ là một trong muôn vàn những đồng chí. “Một tấm lòng trong vạn tầm lòng”. Nghe bất nhẫn? Nhưng đó là ý đồ của đảng cộng sản.

Trong bài “Không nói”, Nguyễn Ðình Thi cũng viết:
    Dừng chân trong mưa bay
    Liếp nhà ai ánh lửa
    Yên lặng đứng trước sau
    Em em nhìn đi đâu
    Em sao em không nói
    Mưa rơi ướt mái đầu
    Mỗi đứa một khăn gói
    Ngày nào lần gặp sau
    Ngập ngừng không dám hỏi
    Chuyến này chắc lại lâu
    Chiều mờ gió hút
    Nào đồng chí – bắt tay
    Em
    Bóng nhỏ
    Ðường lầy.
Bài thơ này được Nguyễn Ðình Thi sáng tác năm 1948. Sau này, trong Thơ, tác phẩm chọn lọc, xuất bản năm 1994, ông sửa lại, ngắn hơn:
    Dừng chân trong mưa bay
    Ướt đầm mái tóc
    Em em nhìn đi dâu
    Môi em đôi mắt
    Nhìn em nữa
    Phút giây
    Chiều mờ gió hút
    Em
    Bóng nhỏ
    Ðường lầy
Trong bản mới, chữ “đồng chí” biến mất.

Nhưng ảnh hưởng tai hạn của việc chính trị hoá tình cảm gia đình, trong đó có tình cảm nam nữ và tình cảm vợ chồng có thể dễ dàng biến mất?

Người ta không thể không nhớ đến những cảnh con cái tố bố mẹ hay vợ chồng tố cáo lẫn nhau ở miền Bắc, nhất là thời cải cách ruộng đất vào giữa thập niên 1950.

Tôi nghĩ việc tìm hiểu các di hại của âm mưu chính trị hoá gia đình có thể là một đề tài cực hay cho giới nghiên cứu.

Bạn nghĩ sao?

Nguyễn Hưng Quốc, Australia 2-10-2009