Thursday, October 1, 2009

Sách giáo khoa: Nước VN từ Ải Nam Quan (1885) hay từ Hầm Xe Lửa Trung Cộng (2009) đến Mũi Cà Mau? -

Sông Hồng

Nước Việt Nam ta kéo dài từ Hầm Xe Lửa Trung Cộng đến Mũi Cà Mau là câu viết sẽ được ghi vào sách giáo khoa cho các em học sinh Việt Nam học thuộc lòng trong những ngày sắp đến.

Khi xem lại các bức ảnh của Xinhua chụp và gửi đi trên mạng và do Anh Trương Nhân chuyển đến mà sau này tôi biết phát xuất trên một trang lưới Việt ngữ, tôi cảm thấy như kim châm vào da thịt, như lòng quặn thắt mà cứ suy nghĩ về cái buổi lễ Dâng Đất ngày 23/02/2009 này.

Trong tác phẩm Sur Les Frontiers du Ton Kin 1885-1887 của Bác sĩ Paul Marie Neis khi mô tả lại cửa Ải Nam Quan mà phái đoàn Ngoại Giao Pháp đã chụp được thì Ải Nam Quan nằm trên đường biên giới phía Bắc của nước ta tiếp giáp với nước Trung Hoa, Ải Nam Quan do người Tàu xây dựng, nhưng bức tường thành là đường biên giới lịch sử từ hai ngàn năm xưa mà tổ tiên ta đã bảo vệ chống xâm lăng. Cuộc chiến đấu dũng cảm và kiên quyết vì tổ quốc suốt hai ngàn năm khiến giặc Tàu run sợ mà phải xây tường lũy đển ngăn chận.

Ải Nam Quan trông giống một cái hang người xe chui qua được, theo hình mái vòm cung mà chúng ta thường thấy người Tàu làm cửa xây gạch thẻ màu đỏ cho các khu nhà ở của họ. Khung cảnh chung quanh Ải Nam Quan thật hùng vĩ đến kinh ngạc, con đường nguy hiểm chạy giữa khe núi trông giống vị trí hiểm trở chiến lược mà bất cứ đạo quân nào cũng rất cẩn trọng. Cách phía trước Ải Nam Quan trong phần đất Việt nam chừng 150 mét có một khe suối nơi mà tương truyền Nguyễn Trãi nhận lời dạy cuối cùng của cha Ông là Nguyễn Phi Khanh: “Con theo ta khóc lóc có ích gì, sao không về trả thù cho ta, rửa hận cho nước”. Nguyễn Phi Khanh vĩnh biệt Nguyễn Trãi vì biết rằng trong khoảnh khắc cuối cùng của đời mình, khoảng cách ngắn ngủi còn lại biết đâu địch có thể sẽ bắt luôn Nguyễn Trãi sang Tàu. Giòng suối đó, nơi chia tay vĩnh biệt đó của ba cha con Nguyễn Phi Khanh (vì anh của Nguyễn Trãi đi theo săn sóc cha) đã trở thành đường biên giới mới sau khi Pháp và Trung Hoa ký kết hiệp ước phân giới tại Ải Nam Quan.

Ngày 23 tháng 2 Năm 2009, một buổi Lễ Dâng Đất được tổ chức tại khu đất trũng trước là ruộng lúa phía Nam của đường hầm xe lửa được người Pháp xây dựng trước đây. Đường hầm xe lửa hướng Bắc Tây Bắc – Nam Tây Nam xuyên qua chân của một ngọn đồi hình tam giác có cao độ khoảng 340m, cách Thị trấn Đồng Đăng khoảng 1800 m xuyên qua hai xã Na Hac và Na Hang. Hai cột mốc biên giới 1116 (VN) và 1117(?) Trung Cộng nằm bên phải Quốc Lộ 1 (chạy từ Hà Nội lên biên giới). Giờ đây các vị trí trọng điểm chiến thuật, chiến lược đất nước ta trên trục Quốc lộ 1 sát với Hữu Nghị Quan đã hoàn toàn lọt vào tay Trung Cộng!

Từ cột cây số Km0 nay là cột biên giới 1116 người ta nhìn thấy rất rõ hai cửa hầm xe lữa trông thật quái dị nằm trong đất Trung Cộng, tương tự như một bức ảnh của Bác sĩ Paul Neis về cửa Ải Nam Quan giống một cái cửa hang vào đất Trung Hoa xưa. Xem ảnh:


Giờ đây đất nước ta không còn kéo dài từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau nữa mà phải nói là đất nước Việt Nam ta kéo dài từ Hầm Xe Lữa Trung Cộng kéo dài đến Mũi Cà Mau. Rất tiếc câu nói ấy mĩa mai nhưng là sự thật.

Dân tộc Việt Nam từ nay được coi là một bộ tộc Kinh của dân tộc Trung Hoa vì trong Lễ Dâng Đất 23/02/2009 có hai thiếu nữ mặc áo vàng có thể tượng trưng cho phụ nữ Việt chăng? Hình ảnh ấy gợi lên ý nghĩ chua chát về thân phận của người Việt hiện nay.

Khi gặp những điều khó khăn, người ta tự hỏi “nhưng chúng ta sẽ còn làm gì được?”

Người cộng sản Việt Nam nói nôm na là Việt Cộng (VC) họ đã làm gì và suy nghĩ như thế nào trước hiện tình đất nước hiện nay? Nhục nhã thì quá nhục nhã rồi, nhưng thôi cứ im lặng nhận chỉ thị Đảng để sống qua ngày, Đảng còn thì còn tất cả cho dù nước có mất, nhà có tan, cho dù ngày mai này khi Trung Cộng có chiếm trọn Việt nam, thì họ cũng chẳng phải lo. Những cán binh bộ đội VC không có một chút danh dự để tự mổ bụng, phơi gan mình khi tổ quốc rơi vào tay giặc, thà tự sát chết đi để khỏi phải nhìn thấy cảnh đất mất, nhà tan, rồi thận phận sẽ như nô lệ không còn nơi trú ẩn, bị mọi người khinh miệt. Nhưng đất nước mất, nhà không còn, thì gia sản sự nghiệp cũng không còn nữa, và vợ con họ cũng sẽ bị giặc Tàu đồng hóa. Các sĩ quan cán bộ, các binh lính chiến sĩ khắp nơi hãy mau thức tỉnh quay về với chính nghĩa dân tộc, đừng làm nô lệ, tay sai cho giặc thù truyền kiếp.

Các cấp lãnh đạo VC phè phởn vui chơi, coi thường sinh mạng người dân, cướp đất đai sản nghiệp bao nhiêu năm xây dựng bằng mồ hôi nước mắt người dân xây dựng. VC còn cướp đoạt Nhà Thờ, Chùa Miểu của đồng bào không cho thờ phượng thì Tôn giáo làm sao có thể sống chung với VC được. Chẳng những thế VC còn giả dạng côn đồ, hàng hung, đánh đập dã man người dân hiền lành vô tội và các tu sĩ linh mục thì quả thật VC là loài cầm thú không có lương tri. Đảng cộng sản đã lãnh đạo, dạy cho VC những phương thức ác ôn chống người dân hiền hoà vô tội thì e rằng Đảng mang sắc thái của loài thú rừng hoặc giả nhận theo chỉ thị của các cố vấn Trung Cộng ăn sâu trong gốc rễ đảng chăng? Khi người dân đi đòi công lý mà các cấp VC lại trù dập, ra tay ác ôn đàn áp thì VC không còn có thể sống chung với đồng bào lưƠng thiện được rồi và rồi đây khi ngày tàn của VC sẽ đến thì những tên ác ôn này sẽ trốn chạy đi đâu mà sống những ngày còn lại của chúng? Những ai còn mê hoặc chạy theo VC hãy lập tức thức tỉnh quay về với cội nguồn dân tộc ngay lúc này vì đồng bào đã nhận ra bộ mặt của chúng là ai rồi.

Các đảng viên VC hãy mau chóng thức tỉnh, hãy sớm từ bỏ Đảng và quay về với người dân chân chính, thấp cổ bé miệng lại còn bị đàn áp đánh đập dã man. Một khi đất nước không còn VC nữa, lý lịch và hoạt động đảng viên của các anh chị vẫn còn thì chừng ấy làm sao anh chị có thể sống chung với chính đồng bào mình được.

Thanh niên sinh viên học sinh tuổi trẻ còn ham vui trác táng say vùi trong những cuộc liên hoan nhạc tình lãng mạn nên ý thức về đất nước trước hiểm hoạ giặc dữ đã đứng trước cửa ngỏ nhà. Phải dốc sức chăm lo học, phải biết theo đuổi các mục tiêu đấu tranh cho quyền công dân, phải biết lên tiếng đòi hỏi công lý cho đồng bào bị bách hại cho dù có phải bị VC bắt bỏ tù, đánh đập, hành hạ, bỏ đói, vu khống mạ lỵ, nhưng VC làm sao có đủ nhà tù, làm sao có thể tồn tại khi triệu người như một đứng lên đòi quyền làm con người? Tám mươi triệu người dân trong nước cần phải bất hợp tác, không tuân hành mệnh lệnh, không nghe theo tuyên truyền của VC, không đọc báo VC, không tiêu xài tiền du hí làm lợi cho VC. Các bạn hãy đứng thẳng lên làm người, các bạn đừng bao giờ làm một kẻ nô lệ cho chứ vị mà VC ban bố cho các bạn. Nếu các bạn có bằng cấp hãy sử dụng bằng cấp ấy cho các việc làm công chính.

Các nhà văn nhà báo trong nước hãy sống vững vàng, hãy viết đúng và cho sự thật, đừng trở thành công cụ của VC, vì khi VC không còn tồn tại nữa, ngòi bút của các anh chị giống như một que củi vô ích bị đời đời nguyền rũa. Và như thế làm sao các anh chị có thể sống với người dân mà trước kia anh chị đã viết bằng những lời gian trá.

Các công nhân nhà máy hãy ý thức việc làm, tuy vì miếng cơm manh áo, nhưng khi thấy việc bất bình xin hãy sẳn sàng giúp đỡ người cô thế. Xin các anh chị hãy sống đoàn kết che chỡ, đùm bọc lẫn nhau, đề phòng bọn chủ nhân đàn áp khi các bạn riêng lẽ. Cũng chẳng vì vậy mà sợ hãi, nhưng hãy sống thật đoàn kết tránh bị VC và chủ nhân cấu kết đàn áp, bóc lột. Ngày nay hiểm họa bô xít thật kinh hoàng, các anh chị hãy luôn luôn thức tỉnh nhận ra đâu là các nhà máy nước ngoài, các công nhân nước ngoài, hãy luôn luôn thức tỉnh và cảnh giác trước hiểm họa đang ẩn tàng trong đời sốnh chung quanh các bạn.

Việc nước sống còn hôm nay cũng liên quan đến sự sống còn của con cháu mai sau. Người người Việt nam kể từ nay nên luôn cảnh giác chẳng những cả về sự tranh đấu hôm nay mà cả cho con cháu mai sau nữa.

Ngày mai đây, trong các sách giáo khoa Việt ngữ, con trẻ Việt Nam không còn nhìn thấy, nghe đọc “Nước Việt Nam kéo dài từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau” mà chỉ còn đọc rằng “Nước Việt Nam ta kéo dài từ Hầm Xe Lửa Trung Cộng đến Mũi Cà Mau” hoặc “Nước Việt Nam không còn rừng vàng biển bạc vì rừng vàng biển bạc bị chính nhưng tên VC bán đứng cho ngoại bang để hưởng sự sống còn của loài vong quốc.”

Sông Hồng

Tâm Thư của PTQDVN Xóa Bỏ Huyền Thoại HCM

Kính thưa toàn thể đồng bào Quốc nội và Quốc ngoại,

Trong tinh thần hun đúc của giòng giống Rồng Tiên, Phong Trào Quốc Dân Vitệ Nam Xóa Bỏ Huyền Thoại Hồ Chí Minh (Nô Hồ) đã được thành lập ngày 29/12/1991 tại thành phố San Jose, miền bắc tiểu bang California, Hoa Kỳ. Trong nhiều năm qua Phong trào đã ra tuyên cáo, phát hành Bạch Thư vạch trần tội ác của quốc tặc Hồ Chí Minh và đảng CSVN trước công luận quốc tế.

Kính thưa đồng bào,

ho-chi-minhTừ khi chiếm được miền Bắc VN và cho tới nay Hồ Chí Minh và tập đoàn phản dân, hại nước CSVN đã cắt đất, dâng biển của tổ tiên cho Tàu Cộng để được vinh thân phì gia liên tục như: Năm 1958, Phạm văn Đồng ký văn bản thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa thuộc chủ quyền Tàu Cộng. Năm 1999, Lê khả Phiêu ký văn bản thừa nhận biên giới Tàu Cộng lấn sâu vào lãnh thổ VN vượt qua Ải Nam Quan trên 15 ngàn ký lô mét vuông. Năm 2000, Lê Khả Phiêu một lần nữa ký Hiệp Định Biên Giới và Lãnh Hải thừa nhận chủ quyền của Tàu Cộng lấn thêm mấy chục ngàn hải lý vùng biển Vịnh Bắc Việt. Và đến nay năm 2009, Nguyễn tấn Dũng lại ký văn thư thừa nhận chủ quyền của Tàu Cộng trên hàng chục ngàn kí lô mét vuông vùng đất Tây Nguyễn để khai thác Bauxite phá hủy môi sinh của đất nước.

Phong Trào ý thức được từ lòng nhân hòa của Mẹ Âu Cơ, nên long trọng phát động chiến dịch mang tên Mẹ Dân Tộc gởi tới tất cả đồng bào lời kêu gọi tha thiết nhất để chung tay hoàn thành nhiệm vụ lịch sử trong giai đen tối do tập đoàn lãnh đạo CSVN gây ra gồm những tên như: Nông Đức Mạnh, Lê Hồng Anh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng, Phạm Gia Khiêm, Phùng Quang Thanh, Trương Vĩnh Trọng , Lê Thanh Hải, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Văn Chi, Hồ Đức Việt, Phạm Quang Nghị.

Phong Trào Quốc Dân Xoá Bỏ Huyền Thoại Hồ Chí Minh xin gởi Tâm Thư này tới đồng bào được chia làm hai phần gồm Núi Cao gởi về đồng bào quốc nội và Biển Rộng gởi tới đồng bào hải ngoại như sau:

Núi Cao biểu tượng cho nguồn gốc Mẹ là Tiên, Phong Trào xin gởi đến đồng bào quốc nội những đề nghị sau đây:

- Xin đồng bào không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, giai cấp, tổ chức chính trị hãy đứng lên lấy lại quyền dân bằng hình thức tự mình bỏ phiếu qua ngôn ngữ, hành động để bày tỏ sự Xóa Bỏ Huyền Thoại Hồ Chí Minh cũng như phủ nhận bạo quyền CSVN hiện nay.

- Xin đồng bào tích cực dùng mọi phương tiện có được để biểu lộ ý muốn của toàn dân như: có phấn thì dùng phấn, có than thì dùng than … gạch bỏ mọi hình ảnh vết tích Hồ Chí Minh và viết các khẩu hiệu chống tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết, Nông Đức Mạnh ở khắp nơi trong nước trước viễn ảnh xâm thực của Tàu Cộng phát xuất từ Tây Nguyên.

- Xin đồng bào xé ảnh Hồ Chí Minh, gạch mặt bọn Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết, Nông Đức Mạnh trên sách báo và xé cờ đỏ sao vàng vứt ra đường. Dùng mọi sáng kiến cá nhân, tổ chức để đóng góp vào mục tiêu chung là Xóa Bỏ Chế Độ CSVN. Hô hào, rĩ tai hưởng ứng lời kêu gọi biểu tình tại gia của Hoà Thượng Thích Quảng Độ và đình công, bãi thị.

- Đối với Công an, Bộ đội, Phong Trào Quốc Dân Xóa Bỏ Huyền Thoại Hồ Chí Minh kêu gọi các bạn hãy quay về với Mẹ Việt Nam tức toàn dân để chung tay làm lại lịch sử trước nguy cơ kẻ thù truyền kiếp của dân tộc là Tàu Cộng đang âm mưu thôn tính VN. Các bạn hãy hợp tác với toàn dân trong chiến dịch Âu Cơ bằng cách trực tiếp xóa bỏ các dấu tích Hồ Chí Minh, hay gián tiếp làm lơ để dân chúng thực hiện những khẩu hiệu kêu gọi mọi giới đồng bào vùng lên lật đổ tập đoàn CSVN bán nước cầu vinh. Và ít nhất là cùng đồng nguyen-minh-tri-tbào hãy nhắc tên Phong Trào Quốc Dân Xóa Bỏ Huyền Thoại Hồ Chí Minh tức Nô Hồ, thì tự cái tên này đã mang trọn ý nghĩa chống chế độ Cộng Sản Việt Nam rồi.

- Đối với các cấp lãnh đạo CSVN, Phong Trào kêu gọi cả tập đoàn này phải ý thức về làn gió Dân Chủ là sức mạnh của thời đại nên chấm dứt sự ngoan cố, tham lam, ích kỷ để tự động giải tán. Các cấp lãnh đạo CSVN hãy lựa chọn việc giải tán đảng CSVN như một giải pháp ôn hòa để tránh các khó khăn khủng khiếp cho Dân Tộc Việt Nam, và cho chính cá nhân mình. Các cá nhân lãnh đạo CSVN nên chọn lối thoát an toàn là tìm cách lưu vong ra nước ngoài để trao lại quyền hành cho toàn dân. Các cá nhân lãnh đạo CSVN nên thức tỉnh để hiểu rõ rằng không còn thời giờ để trì hoãn nhằm nắm giữ quyền bính lâu hơn nữa, và càng lầm lẫn khi cấu kết với Tàu Cộng. Quí vị phải ý thức rằng nếu còn cố ở lại sẽ gặp nguy hiểm cho tính mạng cá nhân, như gương đã thấy ở Lỗ Ma Ni năm 1991, Nam Tư 1992, vì tức nước sẽ vở bờ trước làn sóng phẩn nộ của toàn dân trong và ngoài nước.

Biển Rộng biểu tượng cho nguồn gốc của Cha là Rồng, Phong Trào xin gởi đồng bào ở khắp nơi trên thế giới, tức đồng bào Hải ngoại các đề nghị sau đây:

- Xin đồng bào dùng ảnh hưởng cá nhân, tổ chức, đoàn thể của mình để vận động với các quốc gia mình đang sống hổ trợ cho công cuộc Cách Mạng Dân Chủ của Dân Tộc Việt Nam. Hãy tích cực tham gia đông đảo mọi cuộc biểu tình để giương cao lá cờ chính nghĩa màu vàng ba sọc đỏ mỗi khi có phái đoàn VC xuất hiện nơi địa phương mình cư trú. Dặn dò thân nhân vì hoàn cảnh nào đó về VN hãy thông báo cho mọi người biết âm mưu thôn tính VN của Tàu Cộng, chuẩn bị tư tưởng để sẳn sàng tham gia vào cuộc Tổng Nổi Dậy do các lực lượng đấu tranh cho dân chủ trong nước khởi xướng.

- Xin đồng bào tìm kiếm và phát giác các dấu tích của Hồ Chí Minh, của CSVN ở nước ngoài từ tượng đài, các tên đường, bảng tên, sách vở và vận động với mọi chính quyền ở các địa phương đồng bào đang sống nhằm yêu cầu được phép xóa bỏ, ngay cả trong các thư viện và trường học.

- Xin đồng bào giải thích với các bạn bè ngoại quốc biết rõ, rằng Hồ Hồ Chí Minh chỉ là một kẻ xảo trá, gian ác cũng như đảng CSVN là một tập đoàn bạo ngược, ăn cướp đang còn thống trị tại Việt Nam.

Phong Trào tin tưởng rằng các mục tiêu và phương cách hành động đã nêu ra rất cụ thể, giản dị mà đồng bào quốc nội, hải ngoại đều có thể dễ dàng thực hiện được. Sự Thành công sẽ đến chính là kết quả đoàn kết của toàn dân Việt Nam trước nhiệm vụ làm lại lịch sử. Chắc chắn nước Việt Nam thân yêu của chúng ta sẽ được giải phóng khỏi ách thống trị độc tài gian ác của Việt Cộng, để gia nhập vào giòng sống của nhân loại trong thời đại này.

Trân trọng kính chào toàn thể đồng bào.

Làm tại San Jose, ngày 6 tháng 05 năm 2009
Ban Thường Vụ Phong Trào Quốc Dân Xóa Bỏ Huyền Thoại Hồ Chí Minh tức Nô Hồ

Chủ tịch: Đặng thiên Sơn
Phó Chủ tịch Nội vụ: Nguyễn thiếu Nhẫn
Phó Chủ tịch Ngoại vụ: Trần minh Xuân
Tổng Thư Ký: Kiêm Ái


Wednesday, September 30, 2009

Hành Trang và cuộc Lên Đường - Bảo Giang

Bảo Giang

Ngày 08-9-2006, một số người trẻ ở trong nước đã làm cuộc vận hành mang tính lịch sử khi tự minh đứng dậy làm cuộc Thăng Tiến, rồi kêu mời toàn dân và các đoàn thể chính trị phi cộng sản hãy cùng nhau tiến về mục tiêu của đất nước là hoàn tất hành trình tranh đấu cho Tự Do Dân Chủ, Nhân Quyền và Công Lý cho Việt Nam.

Khi đứng dậy, xắp xếp hành trang và nhập cuộc hành trình tranh đấu cho Tư Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Công Lý cho Việt Nam, những người trẻ như Lê thị Công Nhân, Nguyễn Phong, Nguyễn bình Thành và các thành viên Thăng Tiến, nói chung, tuy không có bề dầy kinh nghiệm trong đấu tranh sắt máu chính trị, nhưng bắt nguồn từ Tấm Lòng cho đất nước, do truyèn thống của Tiền Nhân để lại, họ đã khẳng định và công bố một đường lối, một chương trình lâu dài để cùng thực hiện với non sông, không phải là một hoài bão, nhưng là một cuộc cải cách toàn diện nhằm Thăng Tiến Việt Nam và đưa Việt Nam vào trường quốc tế bằng chính những giá trị cao quý Việt Nam là:

“Thăng Tiến Tổ quốc Việt Nam về các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tâm linh để Dân tộc được sống trong một Đất nước hòa bình, độc lập, tự do; Xã hội đạo đức, văn minh; Quốc Dân thịnh vượng, hạnh phúc.

- Bênh vực và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của toàn thể Đồng bào Việt Nam, không phân biệt chủng tộc, văn hóa, tôn giáo, chính kiến, quốc nội, hải ngoại, cụ thể là:

a. Các Nhân quyền và Dân quyền cơ bản (26 quyền, xem tài liệu đính kèm).
b. Các phúc lợi an sinh, xã hội theo tiêu chuẩn quốc tế.
c. Tái lập và thực thi các quyền tư hữu trọn vẹn và chính đáng của toàn Dân.

* Bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Dân tộc và Tổ quốc Việt Nam trước Quốc tế. ( trích cương lĩnh tạm thời).

Ở đây, họ không tạo ra một triết thuyết mới cho hành trình tranh đấu, nhưng cuộc Thăng Tiến Việt Nam do họ chủ trương được khẳng định đặt trên những nền tảng giá trị nhân bản, giá trị tín ngưỡng mà toàn thể nhân loại văn minh ngày nay đang thực hiện hay đang hướng tới là:

1. Các học thuyết nhân bản về xã hội và kinh tế đã được các Nước dân chủ, văn minh áp dụng có hiệu quả và uy tín để xây dựng hòa bình, công lý, nhân quyền, dân quyền, thăng tiến văn hoá, xã hội và phát triển kinh tế ổn định, bền vững.

2. Các Tuyên ngôn và Công ước Quốc Tế về Nhân quyền và Dân quyền của Liên Hiệp Quốc.
3. Các giá trị tín ngưỡng, tôn giáo.
4. Truyền thống văn hoá, đạo đức tốt đẹp và bền vững của Dân tộc Việt Nam.
5. Khát vọng của toàn Dân Việt Nam về Hòa bình, Sự thật, Công bằng, Nhân ái, Tự do, Dân chủ”. (trích CLTT)

Khi đem Tâm Tình để thực hiện một giấc mơ Tự Do Dân Chủ, Nhân Quyền và Công Lý cho đất nước, những người trẻ này không chủ trương dùng dép râu, dao mã tấu để đấu tố, bịt mặt và diệt tình người hay đòi phanh thây uống máu quân thù như Việt cộng. Trái lại, bằng tâm tình khoan dung nhân ái, họ đã công bố phương thức thực hiện hành trình Thăng Tiến Việt Nam bằng lương tri và nhân bản là:

1. Đấu tranh ôn hòa và bất bạo động bằng các phương cách:

a. Sử dụng mọi phương tiện truyền thông đại chúng để phổ biến trung thực và đầy đủ các thông tin nhằm giúp Quốc dân và Quốc tế nhận thức đúng đắn về mọi vấn đề liên quan đến sinh mệnh của Dân tộc Việt Nam.
b. Tập hợp và tổ chức Quốc Dân đòi lại 26 Nhân quyền và Dân quyền cơ bản.
c. Hướng dẫn quần chúng từng bước giành quyền lãnh đạo Đất nước thông qua bầu cử tự do và công bằng”(trích CLTT).

Nhưng tại sao những người trẻ thuộc thế hệ ba mươi, bốn mưoi này đã ngối lại bên nhau, cùng luận bàn và đưa ra một chương trình hành động để tranh đấu cho mục tiêu tối hậu là Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Công Lý cho Việt Nam? Chẳng lẽ, họ không thể tìm ra được bầt cứ một hình ảnh nào khả dĩ khá trong mớ lý thuyết và thực hành hỗn độn của nhà nước Việt cộng từ khi họ mở mắt chào đời cho đến nay chăng?

Hay sau mấy chục năm bị nhồi sọ, bị bịt mắt, nay họ đã nhìn rõ cái bộ mặt cực gian ác của cái gọi là “tư tưởng và đạo đức” Hồ chí Minh là kẻ đẻ ra cái nhà nước Việt cộng này? Hoặc gìa, họ đã nhận chân được cả một guồng máy chính trị, lãnh đạo của nhà nước Việt cộng này chỉ chạy được là do chất nhờn bịp bợm, dối trá, vô đạo của các thế hệ cán cộng nhớn nhỏ gắn kết lại, nên buộc tuổi trẻ phải thay đổi tư duy, đứng dậy và lên đường làm cuộc Thăng Tiến Việt Nam?

Để có thể trả lời những câu hỏi này một cách đứng đắn, tưởng cũng nên nhắc qua một qúa trình của lịch sử cận đại, ngõ hầu, có thể giải thích đụợc nguyên do tạo nên cuộc hành trình Thăng Tiến Việt Nam mà giới trẻ Việt Nam ngày nay đang hướng tới.

Đầu thế kỷ mười chín, Nguyễn Ánh nhờ Giám Mục Bá Da Lộc hỗ trợ mà thắng cuộc chiến với nhà Tây Sơn để lập thành triều đại nhà Nguyễn trên toàn cõi Việt Nam. Nhưng với chính sách bế môn tỏa cảng và đặc biệt là cuộc bách hại tôn giáo đẫm máu dưới thời Minh Mạng, Thiệu Tri, Tự Đức, đã là một cái cớ để cho bọn thực dân Pháp làm cuộc viễn chinh tại Đông Dương và đặt Việt Nam dưới ách đô hộ của chúng.

Cuộc chiến chống ngoại xâm bắt đầu nổ ra từ đó và lên đến cao điểm vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 với những cuộc kháng chiến lừng lẫy của cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyển Thiện Thuật, Đinh Công Tráng ….. và sau này là việc các đảng phái quốc gia ra đời. Một trong những đảng phái Quốc Gia gây ấn tượng trong lòng dân chúng vào thời gian này là Việt Nam Quốc Dân Đảng., Phong Trào Duy Tân ….v.v ..

Vào đầu thập niên 1930, Hồ chí Minh, tên tay sai và làm nô lệ cho cộng sản Quốc Tế đã cùng với một số bộ hạ như Trần Phú, Đặng Xuân Khu, Phạm văn Đồng … đã thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên tại Việt Nam với danh xưng là đảng Cộng Sản Đông Dương. Từ đây chúng phát triển và áp đặt vào xã hội thuần lương của Việt Nam chủ thuyết Tam vô: Vô gia đình, vô tôn giáo và vô tổ quốc của cộng sản. Để có thể thực hiện chủ thuyết này trên phần đất Việt Nam, chúng trìệt để áp dụng sách lược khủng bố chính trị để mưu cướp. chính quyền.

Duới chiêu bài giải phóng dân tộc, chúng đã lừa gạt được rất đông đảo hàng ngũ đồng bào Việt Nam từ công nông thương đến học sinh và giới sỹ phu cùng nổi dậy để đánh đuổi thực dân Pháp. Kết qủa, ngày 02-9-1945 chúng đã cướp công kháng chiến của toàn dân và công bố thành lập nhà nước Việt cộng với cái tên là: Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Sau ngày 02-9-1945, bộ mặt thật của Hồ chí Minh và cộng sản đã lộ nguyên hình là những kẻ nô tài phục vụ cho đế quyền cộng sản quốc tế thay vì nhu cầu giải phóng dân tộc và độc lập cho Việt Nam. Rât nhiều các nhân sỹ và đồng bào Việt Nam đã trực tiếp quay mũi súng chống lại bọn Việt Minh do Hồ lãnh đạo, trong đó có cả đức cố Giám Mục Hồ Ngọc Cẩn và dẫn đến cuộc di cư vĩ đại từ bắc vào Nam năm 1954.

Hiệp định Geneve chia đôi đất nước ngày 20-7-1954 là kết qủa phải đến trong âm mưu thôn tính dần dần toàn cõi Việt Nam của cộng sản thế giới.

Cuộc đấu tố từ 1954-1957 dưới mỹ từ cải cách rộng đất thực chất chỉ là cuộc bạo hành chính trị nhằm tiêu diệt nền luân lý trong xã hội Việt Nam và đặt nền móng cho sự việc tước đoạt quyền tư hữu và tóm gọn tài sản của toàn dân vào tay chi bộ đảng cộng sản đông dương, và đó cũng là cuộc khởi đầu để chúng thi hành chủ nghĩa Tam Vô trên toàn cõi Việt Nam. Bởi lẽ không diêt được niềm tin của con người với con người, không dùng chính sách ngu dân và đấu tố, cộng sản không bao giờ có thể thực hiện nổi sách lược tam vô để đồng hóa con người như một sinh vật chỉ biết lao động cho cái chủ nghĩa duy vật tồi tệ của chúng

Ngày 30-4-1975 cộng sản nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam. Các cấp lãnh đạo của miền nam, người thì tuẫn tiết vì dân, kẻ bỏ ra hải ngoại và phần lớn thì bị cộng sản trả thù bằng những năm tháng trong ngục tù. Từ đó, chúng đã tạo ra làn sóng người vượt biên vượt biển, trốn chạy cộng sản vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.

Dưới sự chỉ đạo của lá cờ đỏ mà Việt cộng cắm từ buị lau, bờ cỏ cho đến đầu đường xó chợ, có thể nói, học sinh Việt Nam không hề được học hỏi về luân lý, đạo đức xã hội, không hề được day dỗ để biết thế nào là Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín. Trái lại, họ chỉ được dạy về cái gọi là “tư tưởng và đạo đưc Hồ chí Minh” “đạo đức cách mạng Việt cộng”, hoặc học về những phương cách “đấu tố tư bản, đấu tố tự do”, “đấu tố những người muốn giữ gìn và bảo vệ công lý và nhân phẩm con người”…

Với cuộc cách mạng đấu tố công lý, tiêu diệt tình người và sự triệt để áp dụng nền văn hóa dép râu nón cối ấy vào xã hội Việt Nam. Hiện tình đất nước Việt Nam hôm nay ra sao và thế hệ Việt Nam hôm nay thấy những gì?

Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài báo, chúng tôi sẽ không đề cập đến phần, nhìn xem Việt Nam ngày nay ra sao. Mà chỉ viết về những ưu tư của thế hệ hôm nay và cuộc hành trình Thăng Tiến Việt Nam của họ mà thôi.

Sau khi thấy máu Việt tộc cứ mãi nhỏ xuống theo ngọn cờ đỏ của Việt cộng, ( nhỏ xuống bằng đủ mọi cách, từ dân oan cho đến triệt hạ tư do và bóp nghẹt công lý và đàn áp các nhà dân chủ) Người tuổi trẻ Việt Nam không thể không nghĩ đến đến những ngôn từ làm nền cho cái khẩu hiệu của nhà nước này là : Độc Lập, Tự Do, Ấm No, Hạnh Phúc mang ý nghĩa gì? Đó là hướng đi hay là một cuộc lừa dối vĩ đại?.

A. Chữ Độc Lập:

Đây là một từ ngữ người ta không thể sờ thấy được, nhưng có thể cảm nghiệm được. Hơn thế, ngươì ta có thể sẽ lấy chính máu xương của mình ra mà bảo vệ lấy sự độc lập của dân tộc. Hãy xem, Việt cộng đã làm gì cho hai chữ Độc Lập này?

1. Trước mắt, họ thấy, Việt cộng và guồng máy lãnh đạo nhà nước này luôn luôn dùng những loại từ đao to, búa lớn về chữ Độc Lập để khoa trương, lừa bịp hơn là thực hành. Bỏi lẽ, chính những kẻ lãnh đạo cái nhà nước này là những kẻ đã ký giấy bán nước cho ngoại bang. Điển hình là Hồ chí Minh và Phạm văn Đồng vì làm thân nô lệ cho tàu nên chúng đã đại diện cho cái nhà nước ấy mà công nhận chủ quyền về lãnh hải của Trung Cộng trên đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào năm 1958. Trong khi đó, vì nền Độc Lập và chủ quyền của đất nước, năm 1974, dân quân miền nam đã liều chết để giữ Hoàng Sa và Trường Sa. Ở đây cũng nên nhắc lại là, trong lúc người miền nam hy sinh để bảo vệ mảnh đất của quê hương thì bọn Việt cộng miền bắc như đã đồng lõa với bọn tàu bằng cách nhân cơ hội này, mở rộng chiến tranh tại miền nam. Kết qủa, Trường Sa Hoàng Sa rơi vào tay Tàu cộng mà Việt cộng không dám có nửa lời phản đối.

2. Việt cộng sẽ giải thích chữ Độc Lập ra sao, sau khi Phạm văn Đồng, Hò chí Minh ký công hàm bán nươc năm 1958, lại đến phiên Nguyễn Mạnh Cầm, Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu ký Nghị Định Thư về biên giới và lãnh hải vào năm 1999 và 2000 để nhường nhiều phần đất và lãnh hãi của Tiền Nhân cho tàu cộng?

3. Việt cộng sẽ trả lời ra sao khi cấm cản các sinh viên học sinh và mọi tầng lớp nhân nhân biểu tình chống bọn bành trướng trung cộng khi chúng cưỡng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam? Chúng sẽ trả lời ra sao khi hàng ngũ công an Việt cộng đàn áp nhân dân thì cực kỷ tài giỏi, nhưng lại là những đầy tớ trung thành và tận tụy lo cho tàu cộng khi đứng làm rào cản an ninh cho hàng ngũ tàu cộng phất cờ tàu trên đất nước Việt? Và chúng sẽ trả lời ra sao về vệc có hàng đoàn hàng lũ di dân tàu cộng sang sinh sống trên đất Việt mà không cần có hộ chiều và nhà nước Việt cộng cũng không thể kiểm soát được những kẻ di dân gỉa dạng du khách này hiện đang cu ngụ ở những nơi nào trên đất nước Việt nam. Chúng có dám kiểm tra giấy tờ những kẻ di dân chiếm đất này không?
Ôi! Độc Lập!
B. Chữ Tự Do:

Trên giấy trắng mực đen, ngay cả trên cái gọi là tờ giấy biên nhận hiến pháp của nhà nước Việt cộng cũng công nhận qiyền tự do hội họp, sinh hoạt cũng như tự do tôn giáo của người dân. Kết qủa, người ta thấy những gì?.

Lãnh đạo Việt cộng có toàn quyền tự do, xưa là đấu tố nhân dân nay là mở quy hoạch vùng này, mai mở quy hoạch vùng khác để cướp đoạt quyền tư hữu về điền thổ của người dân để buôn bán và chia chác cho nhau và cho ngoai nhân để kiếm lời. Trong khi đó ngươì chủ thực sự của mảnh đất qua nhiều đời thì trở thành trắng tay. Điển hình là cuộc cải cách ruộng đất ở ngoài bắc từ 54-1957 chúng đã giết chết khoảng 60 ngàn người và tóm gọn toàn bộ đất đai vào tay nhà nước. Nay thì các hợp tác xã chắc không còn và sổ đỏ, ( giấy chủ quyền đất) hẳn là nằm trong tay các đảng viên nhớn nhỏ? Ngay những tài sản của tôn giáo, chúng cũng tìm cách chiếm đoạt. Bởi lẽ, những vị trí ấy toàn là những vị trí bán được nhiều tiền mà cán bộ nhà nước không cần phải mua. Cứ tự do mà chiếm cứ, buôn bán chia nhau là hợp pháp luật!

Riêng phần tự do hội họp, tự do ngôn luận, báo chí, truyền bá tư tưởng chúng viết trên tờ giấy lộn thì xin … kiếu. Người dân tưởng nhầm là có và đòi hỏi Tự Do thì cánh của nhà tù lúc nào cũng mở rộng. Hãy vào đó mà thực hiện giấc mộng tự do trên giấy!. Bởi vi trong cuốn Pháp Chế Xã Hội Chủ Nghĩa, địch từ tiếng Nga được in ở Hà Nội vào năm 1988, trong đó nhà nước Việt cộng như ngầm công bố câu nói nền tàng của Frederic Engels, là cơ sở xây dựng chế độ này là ...” Nhà nước được lập nên không phải vì Tự Do, Nói cách khác, có nhà nước thì không có Tự Do, mà có tự do thì không có nhà nước xã hội chủ nghĩa”

Hỡi ơi, Tự Do!
C. Chữ Ấm No

Lớp cán cộng được nhà nước Việt cộng định nghĩa là đầy tớ của nhân dân phát xuất từ ngày 02-9-1945 và bùng nổ, phấn khởi hồ hởi phát triển sau mùa đấu tố 54-57 đến nay thì nhà sang cửa rộng Cơ sở thì nơi nào cũng có Riêng người được phong làm chủ đất nước thì biến thành dân oan đi khiếu kiện đòi đất đòi nhà trên bề diện cả nước. Hai giai cấp nòng cốt lãnh đạo và đi làm cách mạng, đẻ ra nhà nước Việt cộng là Nông Dân và Công Nhân thì nay sửa soạn Xuống Hố Cả Nước. Bởi lẽ, nông dân không còn mảnh ruộng để cày bừa. Nếu có thì sống trên ruộng lúa mà lo không có gạo nấu cơm. Phần công nhân thì có lẽ chưa bao giờ sức lao động của họ bị bóc lột thô bạo đến như thế. Ấy là chưa kể đến những móc ngoặc từ nhà nước với giới chủ nhân để trân lộc sức lao động cần cù của người dân. Và cũng chưa nói tới việc nhà nước bán dân đi làm nô lệ lao động, nô lệ tình dục ở nước ngoài và cũng chưa nói tới việc thiều dinh dưỡng trầm trọng đối với các trẻ em ở trong nước..
Ấm No ở đâu ra?

D. Chữ Hạnh Phúc

Từ điển Việt Nam thời Việt cộng cũng có chữ Hạnh Phúc hay sao? Chuyện này cũng lạ và khôi hài như chuyện Hồ chí Minh không có vợ, không có con đấy nhỉ? Hồ nói phét một đời là hy sinh cho dân cho nước, và không có vợ không có con! Nay thì Tăng tuyết Minh và Nông thị Xuân ở đâu? Hồ chí Minh là kẻ độc ác và vô gia đình như thế thì hạnh phúc của người dân kiếm ở đâu ra? Nếu có thì hẳn là do câu chuyên sau: ”Dưới chân dung Hồ chủ tịch, mặc quần xong, đồng chí bố hỏi con gái? Thế lào? Xoàng, thua cả bác và anh nhớn? Ai bảo thế? Mẹ!”
Đấy, hạnh phúc của xã hội chủ nghĩa là thế đấy.

Bởi những lý do ấy, tuổi trẻ Việt Nam hôm nay không thể ngồi yên. Trái lại, họ đã kiểm tra lại hành trang rồi lên đường, làm cuộc Thăng Tiến cho đất nước. Khi đi, họ đã biết trước là chẳng có cuộc tranh đấu nào không có mồ hôi, máu và nước mắt. Và cũng chẳng có vinh quang nào mà không kết tụ bằng nước mắt và máu. Thành qủa của cuộc Thăng Tiến Việt Nam không tự nhiên mà có, nhưng phải vào cuộc và tranh đấu bằng toàn bộ sức mạnh và ý chí của mình. Như thế, hành trình của người trẻ Việt Nam hôm nay có thể sẽ khởi đi từ nhà trường đến nhà tù cộng sản rồi vào xã hội. Tuy nhiên, bước đi thăng trầm ấy không thể ngăn cản được những dòng máu còn nóng, còn nặng tình với quê hương và dân tộc. Trái lại. Họ vẫn đi. Đi trong hiên ngang, đi trong tự tin của dân tộc như Lê thị công Nhân, một trong những ngưòi trẻ kiệt xuất của Việt Nam trong lớp Thăng Tiến ấy đã khẳng định rằng:

Lê Thị Công Nhân
“Gia đình tôi đã chuẩn bị cho trường hợp xấu nhất, đó là tôi sẽ bị khởi tố và có thể bị đi tù. Nhưng tôi xin khẳng định một lần nữa, đó vẫn chưa phải là điều tồi tệ nhất có thể xảy ra …”

“Nhưng tôi xin khẳng định bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm của mình đối với đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam là tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn có một mình tôi để đấu tranh, trước hết là giành lấy Nhân Quyền cho chính mình, và giành lấy Nhân Quyền, Dân Chủ và Tự Do cho người dân Việt Nam. Cộng sản Việt Nam đừng có mong chờ bất kỳ một điều gì gọi là thỏa hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng từ phía tôi.” (LTCN)

Ngày nay, Lê thị Công Nhân và nhiều nhà Dân Chủ khác đã Nhập Ngục Cứu Quốc và cả thế giới loài người đã nghe và súc động vì những lời nhân bản ấy.

Chúc các bạn trẻ vững tiến trên đường Thăng Tiến. Và hoàn tất sứ mạng lịch sử đem lại Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Công Lý cho Việt Nam.

… Em ơi, Tổ Quốc chờ em đấy,
Mau lớn khôn lên giữ cõi bờ…
Bảo Giang



Tuesday, September 29, 2009

Kỷ niệm ngày giỗ lần thứ 8 của Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (29/9/2001 – 29/9/2009) - Đỗ Văn Phúc


Ngày giỗ thứ 8 năm 2009




Nhớ về người Tư Lệnh cũ
Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (29/9/2001 – 29/9/2009)

Trong các đơn vị thuộc vùng 3 Chiến thuật, Sư đoàn 5 Bộ binh là đại đơn vị trấn nhậm một trọng điểm có tầm sinh tử đối với thủ đô Sài Gòn nhất. Do đó, các cuộc binh biến không thể thiếu sự đóng góp của Sư đoàn 5 BB. Đại tá Nguyễn Văn Thiệu nhờ vào chức vụ Tư lệnh SĐ5BB mà đã được mời tham gia vào cuộc đảo chánh lật đổ cố Tổng thống Ngô Đình Diệm vào ngày 1 tháng 11 năm 1963.

Từ các căn cứ ở Bình Dương, chỉ cách Sài Gòn không đầy 30 ki lô mét, các đơn vị mang số 5 đỏ giữa ngôi sao trắng đã được nhanh chóng điều động về thủ đô chiếm cứ các cơ quan trọng yếu của chế độ. Trong tấm ảnh chụp chung của các Tướng lãnh tham gia đảo chính, Đại Tá Thiệu lúc đó còn ngồi một cách khiêm tốn ở hàng sau giữa những ông tướng có vẻ hùng hổ, tự đắc. Khuôn mặt ông Thiệu ngày đó còn gầy guộc, nhưng đã thấy trong đôi mắt nét sắc sảo, hứa hẹn một bước tiến chính trị rộng mở trong tương lai.

Là một sĩ quan cấp úy nhỏ nhoi trong đội quân cả triệu người, thì hiểu biết được bao nhiêu mà dám viết về một Tổng thống, một Tổng Tư Lệnh Quân đội! Nhất là về cố Tổng thống Thiệu, người đã được công chúng và nhiều sử gia nhận xét thiếu công minh cho đến khi các tài liệu dần dần được giải mật và công bố để trả lại cho ông phần nào sự công bằng.

Lần đầu tiên tôi được gần ông nhất là ngày lễ mãn khoá của Khoá 1 Sĩ quan hiện dịch Chiến Tranh Chính Trị vào đầu tháng 5 năm 1969. Sau đại lễ huy hoàng tại vũ đình trường, các tân thiếu úy được đưa vào hội trường mới xây phía sau lưng toà nhà Bộ Chỉ Huy. Nơi đây, chúng tôi sắp hàng một để lần lược bước đến nhận quà do Tổng thống trao tận tay. Đó là một cây bút bi hiệu Parker, trên đó có in huy hiệu của Tổng Thống bằng kim nhũ và một cửa sổ nhỏ để mỗi lần bấm thì hiện ra theo thứ tự các dòng chữ biểu hiện ba mục tiêu mà chính phủ của ông đã đề ra: xây dựng dân chủ, giải quyết chiến tranh, và cải tạo xã hội.

Nhận xét đầu tiên khi đối mặt vị Tổng thống là ông có khuôn mặt nhỏ nhưng rất thông minh, đôi mắt sáng sắc sảo, và nụ cười rất thân tình, cởi mở. Nhờ đó, những tân thiếu úy đã không cảm thấy khoảng cách quá xa đối với người lãnh đạo cao nhất của quốc gia và quân đội. Ông đã dùng cơm với chúng tôi sau khi ban một huấn thị ngắn và đầy ý nghĩa của một người anh đối với các em vừa chuẩn bị bước vào cuộc chiến gian nguy.

Vì đường công danh chính trị của ông phát xuất từ Sư Đoàn 5 Bộ binh, nên mối quan tâm của ông đối với sư đoàn này cũng có phần đặc biệt ưu đãi. Các tư lịnh sư đoàn thường là những vị thân tín của Tổng thống Thiệu và rất có tương lai trong binh nghiệp. Sau khi ra trường tôi may mắn phục vụ sư đoàn này, và đã từng hãnh diện khi nhìn thấy tấm hình của vị cựu Tư lịnh Nguyễn Văn Thiệu treo trong các phòng họp cấp Sư đoàn và Trung đoàn. Ngoài cái biệt danh “Sư Đoàn Nùng” (vì là hậu thân của một đơn vị toàn người Nùng từ miền Thượng Du Bắc Việt chuyển vào sau hiệp định Geneve), người ta còn gọi chúng tôi là “lính ông Thiệu”.

Thuyên chuyển qua Không Quân cuối năm 1971, tôi không được vinh dự tham chiến trận An Lộc vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, nên không được có mặt công kênh Tổng thống khi ông đến chiến trường ủy lạo binh sĩ giữa lúc tiếng súng còn chưa dứt ở các đồn diền cao su quanh thị trấn An Lộc đổ nát. Chúng tôi quý ông ở điểm này. Là một nguyên thủ quốc gia, ông có quyền hưởng những ngày tết an toàn ở thủ đô trong không khí hạnh phúc của gia đình. Nhưng không có Tết nào mà ông không tìm đến với các đơn vị tiền đồn hẻo lánh. Trong bộ ka ki bốn túi bình dị, chiếc nón jockey đen có phù hiệu hai con rồng, Tổng thống Thiệu đã mang lại cho những người lính chiến chúng tôi niềm an ủi sâu xa thể hiện một mối quan tâm mà hiếm khi thấy được ở những vị lãnh đạo khác.

Tính bình dị của ông, lần nữa tôi được thấy khi ông đến thăm Căn Cứ 20 Chiến Thuật Không Quân ở Phan Rang. Hồi đó là gần cuối năm 1972, sau khi chúng tôi hoàn tất việc tiếp nhận căn cứ từ Không Lực Hoa Kỳ. Một đại đơn vị tân lập của Không Quân Việt Nam đang thành hình, đi vào ổn định để tích cực tham gia chiến đấu ở Vùng 2 Chiến thuật.

Tổng thống đã đến với chúng tôi, ăn tối với các sĩ quan tại Câu Lạc Bộ trên ngọn đồi nhìn ra hướng bờ biển Ninh Chữ. Không một chút quan cách, lễ nghi, ông đã tươi cười trò chuyện cùng chúng tôi trong hơn hai tiếng đồng hồ. Ông đã trao cho Căn cứ một món tiền nhỏ và dí dỏm: “Thường là cấp nhỏ hối lộ cấp trên! Bây giờ thì tôi hối lộ các anh”. Số là Tổng thống còn bà mẹ già đang ở trong căn nhà gần bờ biển. Hàng ngày, các phản lực cơ của Không đoàn 92 Chiến Thuật cất cánh thường bay qua phía làng của Tổng Thống. Tiếng gầm rú của động cơ quấy nhiễu không khí yên bình của bà cụ, làm bà sợ hãi. Ông Tổng Tư Lệnh phải hối lộ cho thuộc cấp để yêu cầu bay chệch một chút, né cái làng Ninh Chữ kia ra.

Miền Nam mất.

Người ta đổ lỗi cho nhau. Người chịu nhiều tai tiếng là Tổng thống Thiệu.

Dĩ nhiên, ông không thể tránh phần trách nhiệm nặng nề đã làm mất miền Nam mà hậu quả là Cộng sản đã đưa đẩy mười lăm triệu đồng bào vào hỏa ngục, gần ba trăm ngàn đồng đội vào các trại tù khắc nghiệt mà hậu quả có hàng chục ngàn đã chết cách này hay cách khác, cùng với cả triệu người liều thân vượt biển mà con số bỏ thây làm mồi cho cá lên đến hơn một nửa.

Ông cũng bị tai tiếng về tài sản miền Nam, điển hình là 16 tấn vàng mà thực tế là đã do tên phản bội Nguyễn Văn Hảo trao lại cho bọn Việt Cộng. Lưu vong ra nước ngoài, ông đã sống ẩn dật, không ồn ào phô trương mà âm thầm chịu đựng búa rìu dư luận. Có thể ông có tài sản lên đến bạc triệu đô la. Nhưng nó đáng kể vào đâu nếu so sánh với con số hàng tỷ đô là mà bọn Việt Cộng thủ đắc hiện nay ?

Tôi cầu xin vong linh cố Tổng Thống tha thứ vì chính tôi cũng đã có lần viết thiếu công bằng về ông khi nhìn sự thất bại của miền Nam theo cách nhìn hạn hẹp của mình. Làm lãnh tụ một nước nhỏ, hoàn toàn lệ thuộc về kinh viện và quân viện của ngoại bang, thì việc quyết định không thể nào tự chủ được. Tổng thống Diệm cũng vì yêu nước, kiên cường trước áp lực Mỹ mà bị thảm sát. Tổng thống Thiệu đã vẫy vùng mà không thoát được. Ông cũng đã từng chứng tỏ sự can đảm, cứng rắn đến độ căng thẳng với Mỹ trong thời gian chuẩn bị Hoà Đàm Paris. Ông cũng từng đối đầu với tên cáo già Henry Kissinger và đã bị tên Do Thái này gán cho những từ ngữ không đẹp. Tựu trung, ông đã chứng minh bản lãnh, lòng yêu nước, trí thông minh đáng để chúng ta khâm phục hơn là trách cứ. Sự thành bại của miền Nam hoàn toàn nằm ngoài tầm tay của chúng ta.

Duy chỉ có một điều chúng tôi trách ông. Đó là việc dùng người của ông thiên về cảm tình, sự trung thành hơn là dựa trên khả năng. Tiếc thay cho những anh tài không được trọng dụng, mà thay vào đó là những tướng lãnh thiếu kinh nghiệm chiến đấu, một số thì đầy lòng tham. Hậu quả là nạn tham nhũng đã làm suy giảm tinh thần chiến đấu của quân dân miền Nam. Quân Lực VNCH có hơn trăm vị tướng mà con số vị trong sạch tài đức chỉ đếm trên đầu ngón tay. Mà ngay họ cũng chẳng ngồi lâu hay được trọng dụng đúng với khả năng. Khi thành lập đảng Dân Chủ, Tổng Thống Thiệu đã vì an toàn chính trị của mình mà làm tan vỡ khối đại đoàn kết quốc gia giữa các đảng phái chính trị và tôn giáo. Những năm đấu thập niên 1970, khi tình hình quân sự rất khả quan, phải chi ông chú tâm vào cuộc chiến bài trừ tham nhũng, nâng đỡ đối lập, phát huy thêm tự do để tăng cường sức mạnh quần chúng thì có hy vọng cải thiện phần nào cách nhìn của người Mỹ và cuộc chiến đã không kết thúc theo chiều hướng bi đát như đã xảy ra năm 1975.
Nói gì đi nữa thì công và tôi của một vị Tổng thống phải chờ thêm thời gian để phán đoán. Những cuốn sách do các chính khách, báo giới cả Mỹ lẫn Việt viết ra sau này, những tài liệu được giải mật đã đem lại phần nào sự xét đoán công minh về vị Tổng thống thứ hai của chế độ Cộng Hoà Việt Nam.

Hôm nay, nhân ngày giỗ lần thứ 8 của cố Tổng Thống, tôi mua chai Chivas Regal (loại rượu mà ông thường dùng), rót ra một chung để kính mời người cựu Tư Lệnh Sư Đoàn. Tôi vẫn quý ông về lòng ái quốc và những đức tính hiếm hoi trong vai trò người lãnh đạo quốc gia và nhất là người Tổng Tư Lệnh Tối Cao của Quân Lực VNCH.

Chúng ta sẽ nhớ mãi câu nói của ông:
    ”Sống mà không có Tự do, thì coi như đã chết”
    (To live without freedom is to have already died.)
Austin, tháng 9, 2009
Kỷ niệm ngày giỗ lần thứ 8 của Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (29/9/2001 – 29/9/2009)

Đỗ Văn Phúc
oooOooo

Bài điếu văn của cựu Chuẩn Tướng Phan Hòa Hiệp đọc trước linh cửu Cố Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU ngày 5/10/2001
    Kính thưa Phu Nhân Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU và gia đình,
    Kính thưa các cấp cựu Tướng Lãnh,
    Kính thưa các vị Quan Khách.
Hôm nay tôi được chỉ định đại diện Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến đây để thành kính nghiêng mình trước linh cữu của cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và cũng là vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Trước sự mất mát lớn lao của gia đình, QLVNCH chúng tôi xin trân trọng chia buồn cùng phu nhân và tang quyến.
    Kính thưa Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU,

    Từ đâu đó chúng ta đã từng nghe những lời như sau:

    "Như ngọn gió, ta từ đâu tới ?
    Ai trả lời câu hỏi giùm ta.
    Cõi trần một thoáng vút qua,
    Dẫu trăm năm tuổi ... chỉ là giấc mơ !"
Giấc mơ nào thì cũng vô cùng ngắn ngủi, vì đời người như gió thoảng qua, và nơi kiếp phù sinh có ai sống mãi bao giờ.

Xuất thân từ khóa I Sĩ Quan Võ Bị Huế năm 1948. Tiếp theo chuỗi thời gian dài, Tổng Thống đã phục vụ dưới cờ qua khắp các chiến trường Trung Nam Bắc và qua các chức vụ từ Trung Ðội Trưởng, Ðại Ðội Trưởng, Tiểu Ðoàn Trưởng, Tư Lệnh Sư Ðoàn, Quân Ðoàn đến Tổng Trưởng Bộ Quốc Phòng, và cuối cùng là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia rồi Tổng Thống nền Ðệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa.

Ðã 3 lần phục vụ tại Trường Võ Bị Sĩ Quan Dalat. Vào năm 1951, Tổng Thống là Sĩ Quan Huấn Luyện Viên của Khóa 5 Võ Bị Dalat, một khóa nổi tiếng trong lịch sử của Trường, đã đào tạo ra nhiều vị Tư Lệnh Sư Ðoàn và Quân Ðoàn cho QLVNCH.

Hai lần sau đó Tổng Thống đã đảm nhiệm chức vụ Chỉ Huy Trưởng của Trường nầy vào các năm từ 1957 và 1958 tới 1960.

Trong chức vụ trên, Tổng Thống đã dày công xây dựng nền tảng cho Trường Võ Bị từ ngày đầu tiên của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa - Từ cải tổ chương trình huấn luyện liên quân cho đến các nghi thức, lễ phục, phù hiệu, trong đó có phần lễ Truy Ðiệu Tử Sĩ đã tạo nhiều cảm xúc lưu truyền đến ngày nay. Tổng Thống cũng tổ chức lại phần quan trọng trong chương trình Văn Hóa, kéo dài thời gian huấn luyện 4 năm đào tạo, các sinh viên Võ Bị ra trường có trình độ cấp Ðại Học để đảm nhiệm được những chức vụ chuyên môn ngoài lãnh vực quân sự.

Ngày 19 tháng 6 năm 1965, Tổng Thống đã cùng các Tướng Lãnh trong Hội Ðồng Quân Nhân đứng ra đảm nhiệm trách vụ lịch sử, lãnh đạo Quốc Gia sau một thời gian đất nước bị xáo trộn và khủng hoảng khắp nơi. Ðể lấy lại niềm tin cho Quốc dân và Quân Ðội, Hội Ðồng Quân Nhân dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống đã đưa ra quyết tâm:
    1. Tôn trọng tinh thần dân chủ và
    2. Quân Ðội phải triệt để phục vụ toàn dân.
Từng bước một, Tổng Thống cùng toàn thể Chính Phủ chấn chỉnh an ninh trật tự, nêu cao tinh thần Quân Ðội, thực hiện cuộc bầu cử Quốc Hội với Bản Hiến Pháp mở đầu cho giai đoạn dân chủ căn bản của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa.

Và từ đó ngày 19 tháng 6 cũng trở thành Ngày Quân Lực và ngày này đã gắn liền tên tuổi của Tổng Thống cùng các vị Tướng Lãnh đã can đảm ra nắm quyền lo việc đất nước lúc bấy giờ.

Trong thời gian lãnh đạo, Tổng Thống luôn luôn có mặt tại các chiến trường, đặc biệt trong các trận chiến lớn lao và khốc liệt để thăm viếng, ủy lạo, khuyến khích tinh thần các cấp quân dân chống lại quân thù.

Mặt trận An Lộc, Trị Thiên như dầu sôi lửa bỏng, cả thế giới cùng theo dõi lo ngại, Tổng Thống cũng đã đến tận nơi để chia sẻ nỗi hiểm nguy và khổ cực của quân dân.

Giai Ðoạn từ 1971 đến tháng 4-1975 là giai đoạn hết sức khó khăn cho vị lãnh đạo như Tổng Thống - Mặt trận dồn dập tiếng súng không dứt, ngày đêm Tổng Thống phải theo dõi chiến trường, mặt khác Tổng Thống phải liên tục đấu trí hòa đàm trước những áp lực và dối trá của Ðồng Minh đã không muốn cho chúng ta tham dự trực tiếp vào bàn thảo Hiệp Ðịnh Ba-Lê.

Từng giờ từng phút, lúc nào Tổng Thống cũng tỏ ra điềm tĩnh và can đảm ra sức tranh đấu quyết liệt cho quyền lợi và sự mất còn của quốc gia Việt Nam cho đến giây phút cuối cùng.

Nhưng than ôi!

Làm sao được khi mà tay của Tổng Thống cũng như của các Tướng Lãnh ngoài mặt trận đã bị trói chặt, khi mà vận nước đã đến hồi đen tối và khi mà lòng trời cũng đứng về phía mạnh và hình như Ngài cũng đã quyết định bắt buộc dân tộc Việt Nam phải trải qua một kiếp nạn không thể tránh khỏi thì từ Tổng Thống cho đến 17 triệu dân Miền Nam cũng đành cam số phận mà thôi.

Từ khi ra nước ngoài, Tổng Thống cũng không ngại miệng tiếng thị phi vẫn luôn luôn cố gắng gặp gỡ nhiều cấp và cũng đã có nhiều dịp tâm sự cùng các cựu Sĩ Quan Võ Bị Dalat cũng như các chiến hữu khác, để khuyên nhủ anh em cố gắng giữ vững niềm tin, Quân Lực VNCH cố gắng giải phóng đất nước và mong anh em đừng bao giờ bỏ cuộc.
    Kính thưa Tổng Thống,
25 năm tại đất người, Tổng Thống thường khuyên anh em đừng bỏ cuộc nhưng hôm nay Tổng Thống đã bỏ cuộc ra đi vĩnh viễn về nơi an nghỉ. Lần bỏ cuộc nầy không có ai có thể trách cứ Tổng Thống được cả - Nghĩa Tử - Nghĩa Tận.

Thật vậy, từ ngày mất nước Tổng Thống đã bị nhiều nguồn dư luận lên án gần như đôi lúc quá khắt khe trong 2 việc là: Tổng Thống đã bỏ chạy không ở lại chiến đấu cùng anh em như lời đã hứa và sau đó là không lo gì cho đồng bào tỵ nạn cả.

Hôm nay ở đây nhắc lại, chúng tôi không đủ tư cách luận công hay giải oan vì lịch sử về sau sẽ nhận xét công bằng hơn - lịch sử bao giờ cũng khách quan và công bằng. Nhưng dù gì công việc làm đã qua và tinh thần tranh đấu bất khuất của Tổng Thống đối với Quốc gia, đối với đất nước thì quả những nguồn dư luận kia có phần khắt khe và có phần nào oan uổng cho người có lòng.

Việc Tổng Thống ra đi hay ở lại, đã là một sự trả giá xong xuôi giữa Cộng sản và Ðồng minh của chúng ta rồi. Hơn nữa sự ra đi của Tổng Thống là một áp lực đe dọa lấy cớ nếu Tổng Thống không đi thì Miền Nam không thể nào giải quyết được; Và đó là điều kiện căn bản Cộng sản đòi hỏi nhiều năm trên bàn hội nghị, và đó cũng là màn bịp bợm mua bán của BẠN và THÙ.

Về việc đồng bào tỵ nạn, có thể một vài tờ báo ngoại quốc diễn đạt lệch lạc và sai hẳn ý nghĩ của Tổng Thống. Làn sóng người Việt tỵ nạn lên đến hằng triệu người, cả thế giới phải điên đầu góp tay cứu giúp còn chưa xong, làm sao Tổng Thống có thể làm gì được khi thân phận chính mình cũng đang là một người tỵ nạn không biết về đâu.
    Thưa Tổng Thống,
Trong sự mất mát lớn lao của đất nước qua 25 năm nay, chúng tôi biết Tổng Thống là người chịu đựng đau khổ âm thầm nhất, người chịu đắng cay nhiều nhất, nhưng Tổng Thống luôn luôn cố giữ yên lặng nuốt trôi tất cả buồn giận của thế nhân. Tất cả mọi người không ai bao giờ muốn mình có lỗi cả, chỉ việc đổ lỗi cho vị lãnh đạo là mình được yên tâm rồi ? Ðến ngay cả những kẻ mưu mô bán đứng miền Nam Việt Nam cho Cộng sản cũng đã tạo ra dư luận là QLVNCH là bất lực và tham nhũng để mất miền Nam!

Chúng tôi biết trong nhà Tổng Thống, đặc biệt trong phòng đọc sách bị cấm không một ai được vào để ở đó Tổng Thống đôi lúc giam mình, yên lặng suy nghĩ hằng ngày hằng đêm.

Cũng có những buổi chiều ngồi bên hồ vắng, Tổng Thống đã lặng đi hằng giờ trầm ngâm suy tưởng cho chính mình và cho đất nước rằng biết bao giờ được thanh bình và hơn 70 triệu dân thoát khỏi ách Cộng sản để có được tự do no ấm.
    Kính thưa Tổng Thống,
Thôi, từ xưa tới nay, dễ mấy ai vội đem sự thành bại luận anh hùng?

Tôi xin đọc vài vần thơ dưới đây của một cựu sinh viên Sĩ Quan Khóa 12 Võ Bị Dalat để tiễn đưa anh linh Tổng Thống cùng cánh Hoa Dù...bay về nơi vĩnh cửu - Nơi đó có hằng rừng Quốc và Quân kỳ - Nơi đó có những Hiệu kỳ của 4 Quân Ðoàn cùng toàn thể Hiệu kỳ của các Quân Binh Chủng, Nha Sở thuộc QLVNCH đang chờ chào đón Tổng Thống:
    "Chúng ta, trước như sau, vẫn Ðúng,
    Dưới trời xanh, sừng sững hiên ngang.

    Lời thề xưa ... vẫn rền vang:


    - Không nề gian khổ, chẳng màng lợi danh !
    Ai luận việc không thành, cứ xét.
    Mặc cho đời suy tính thiệt hơn.
    Chúng ta ... không có gì buồn,
    Tiếc chăng,
    Tiếc chăng chẳng được chiến trường phơi thây !"
Hôm nay tụ họp nơi đây, trên 11 vị Tướng Lãnh, hàng trăm Sĩ Quan các cấp từ các nơi đổ về đứng bên cạnh Tổng Thống, nhưng chưa hết, xin Tổng Thống lướt qua hàng trăm vòng hoa chung quanh, gần như đầy đủ tên tuổi các Tướng Lãnh đều về đây tiễn đưa Tổng Thống.

Chúng tôi cũng xin nguyện trước linh cữu của Tổng Thống vẫn luôn ghi tạc nhớ lời khuyên của Tổng Thống là Không bao giờ bỏ cuộc cho đến lúc toàn dân Việt Nam được giải phóng và tự do, no ấm. Nếu không làm được chúng tôi cũng xin bỏ mình theo Tổng Thống nơi đất người.

Một lần nữa, chúng tôi xin cầu nguyện linh hồn của cố Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU ra đi được an bình và được mọi sự che chở trong vòng tay đầy ân sủng của đấng Từ Bi Toàn Năng Cao Cả trên trời.
    Muôn vàn tiếc thương - Nghìn thu vĩnh biệt.
Phan Hòa Hiệp
oooOooo