Tuesday, September 29, 2009

TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU MỘT NGƯỜI CAN ĐẢM VÀ YÊU NƯỚC - Đinh Lâm Thanh


Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Đinh Lâm Thanh

Hãy kiên nhẫn thêm một thời gian nữa để chờ xem lịch sử đánh giá, lúc bấy giờ chúng ta mới có thể kết luận một cách chính xác về con người và sự nghiệp của cựu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Trong giai đoạn nầy thì hãy còn quá sớm, vì không thể căn cứ trên những tài liệu thiếu chính xác của một số người bị thất sũng hoặc vì ân oán cá nhân, đã vội vã phê phán về một vị cựu tổng thống vừa nằm xuống không lâu. Nhiều hồi ký do một vài tướng lãnh cũng như những cựu công chức cao cấp viết ra, mà trong đó, ngoài việc chạy tội và tự đánh bóng đề cao cá nhân, người ta thấy khá nhiều mâu thuẩn theo quan niệm riêng tư hoặc mực độ tình cảm cá nhân của họ đối với cựu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ngoài ra còn một số tài liệu của nhóm bồi bút cộng sản gồm toàn luận điệu tráo trở và bóp méo lịch sử cận đại thì không thể căn cứ vào đó để viết về vai trò lãnh đạo của một tổng thống Việt Nam Cộng Hòa.

Bài viết nầy không có tính cách sử liệu. Đây là quan điểm của một công dân, một người lính phải buông súng giữa đường và hôm nay vẫn còn cầm viết tiếp tục tranh đấu, muốn bày tỏ lòng ngưỡng mộ của mình đối với Cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu nhân ngày lễ giỗ thứ 8 của ông.

Theo quan điểm của tôi, cựu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là một người can đảm và yêu nước. Thật vậy, trong cảnh dầu sôi lửa bỏng những ngày cuối cùng của nền Đệ Nhị Cộng Hòa mà từ nội địa ra đến hải ngoại, nếu có một lãnh tụ nào thật sự có thái độ can đảm và thật tâm yêu nước thì đó là một điều quý hiếm và cần phải ghi nhận để nêu gương cho những người khác. Ngoài hai vị tổng thống tiền nhiệm Ngô Đình Diệm và Trần Văn Hương (dù ông Trần Văn Hương chỉ chấp chánh một giai đoạn ngắn) là những vị nặng tình với quốc gia dân tộc thì chỉ còn ông Nguyễn Văn Thiệu là một người xứng đáng để nhắc đến trong những ngày giỗ.

Những ai đã trải qua dưới thời lãnh đạo của cựu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thì không thể quên được những âm mưu phá hoại từ nội bộ do một số tướng lãnh nhận đã ân huệ và tiền bạc từ ngoại bang để thi hành chỉ thị của cộng sản và tôn giáo cũng như để phản bội lại chính nghĩa quốc gia, đồng đội và anh em chiến sĩ thuộc quyền. Chính những vị tướng nầy đã chạy theo ngoại bang và cộng sản, quay lại ám hại chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Hơn nữa, tình hình bất ổn chính trị xảy ra thường nhật từ Sài Gòn đến Huế với những cuộc biểu tình xuống đường chống đối của sinh viên, công nhân, con nít, bà già trầu … do cộng sản phối hợp với CIA chỉ huy nhằm yểm trợ cho cuộc tháo chạy của Mỹ cũng như xâm lăng của miền Bắc. Những hành động quấy rối hậu phương đã lung lạc tinh thần đồng thời bó tay người lính đang ngày đêm chiến đấu chống quân thù bảo vệ từng tất đất quê hương. Mặt khác, Mỹ chuẩn bị rút quân tháo chạy sau khi buộc Việt Nam Cộng Hòa phải chấp nhận Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam như một thực thể đối lập của miền Nam, đồng thời chính phủ Mỹ thông báo chương trình cắt giảm và chấm dứt viện trợ quân sự để ép buộc tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải chấp nhận ký vào thỏa ước Versaille. Thỏa ước nầy là âm mưu để dọn đường cho Mỹ ra đi trong danh dự đồng thời giúp cộng sản dễ dàng treo cờ, chiếm đất, dành dân theo kế hoạch ngưng chiến tại chỗ kiểu da beo.

Thời bấy giờ ít ai hiểu được nỗi khổ tâm của một người lãnh đạo quốc gia mà hời hợt nhận định tình hình chính trị quân sự một cách nông cạn theo chiều hướng cộng sản và thành phần chủ trương hòa giải hòa hợp, từ đó người ta đánh giá thấp về vai trò lãnh đạo cũng như những cố gắng đối đầu của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với người Mỹ. Cần phải nhìn nhận một điều, dù bất cứ ai tài giỏi đến đâu cũng không thể chống đở một lúc với 3 thế lực đang đánh vào vị nguyên thủ quốc gia. Bên trong thì nội thù muôn mặt do cộng sản Hà Nội điều động qua một số tướng lãnh, là những người đã bất tài mà còn tham vọng, các viên chức nội các ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, thành phần trí thức xanh vỏ đỏ ruột, sinh vên học sinh bỏ học a dua làm chính trị, con nít bà già trầu ngốc nghếch xuống đường theo lệnh của cha thầy. Ngoài mặt trận thì quân chính quy cộng sản và Tàu cộng đã có mặt hầu hết trong các hang cùng ngõ hẽm. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải tiết kiệm súng đạn, nguồn tiếp liệu bị cắt giảm và yểm trợ không-hải-lực bị hạn chế. Điều nầy chứng tỏ chính người Mỹ và thành phần phản bội quốc gia đã trói tay tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Đồng thời người Mỹ không quên đem số phận của tổng thống Ngô Đình Diệm ra làm áp lực buộc tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức.

Các tài liệu giải mật đã cho thấy, vì quyền lợi mà người Mỹ đã thông đồng với khối cộng để cạn tàu ráo máng với một đồng minh. Họ đã đạp lên lời hứa danh dự của một cường quốc đứng đầu khối tự do bằng cách đóng cửa rút cầu, mà điều đáng nói nhất là việc chuyển giao trách nhiệm chiến đấu chống cộng sản cho QLVNCH nhưng lại cúp hẳn hoàn toàn các hình thức viện trợ quân sự, ngay cả súng đạn theo nhu cầu chiến trường, chỉ tương đương với một số tiền nhỏ là 300 triệu dollars !

Bị vây đánh phá từ ba phía nhưng ông Nguyễn Văn Thiệu đã can đảm chịu đựng cho đến giờ phút chót để rồi phải bàn giao chức vụ lại cho một người khác. Ngày cuối cùng, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lên tuyền hình tâm tình, cám ơn và tuyên bố từ chức để chia tay đồng bào, ông uất nghẹn nói không nên lời. Những giọt nước mắt của một tổng thống đã nhỏ xuống khi phải ngậm đắng nuốt cay vì không thể phơi bày tất cả sự thật phủ phàng trước mặt quốc dân. Điều nầy biểu lộ lòng yêu nước thiết tha cũng như tư cách con người của một nhà lãnh đạo.

Rồi chuyến đi lưu vong của một vị nguyên thủ quốc gia giữa đường gãy cánh mà gia tài mang theo không gì hơn ngoài nỗi uất hận của một người phải chịu bó tay trước âm mưu của ngoại bang và cộng sản. Cuộc sống kín đáo và thanh đạm của cựu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ London đến Boston đã trả lời một cách rõ ràng những lời vu khống về tài sản quốc gia mà ông đã mang theo. Hơn nữa, sự im lặng trong những ngày còn lại ở quê người cũng chứng minh cho chúng ta thấy cái nhân cách và liêm sỉ của một nhà chính trị lưu vong, vì có thể tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng nhận thấy mình còn những thiếu sót trong vai trò lãnh đạo.

Đinh Lâm Thanh


PHẢI TRẢ LẠI SỰ THẬT LỊCH SỬ CHO VNCHQUA VIỆC 16 TẤN VÀNG Y CỦA NGÂN HÀNG QUỐC GIA ÐÃ BỊ CS HÀ NỘI CƯỚP VÀO NGAY 1-5-1975 - Mường Giang

Mường Giang

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã vĩnh viễn ra đi nhưng ý chí chống cộng quyết liệt của Ông, đã nổi bật trong những năm đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo Quốc Gia (6/1965 -4/1975) và đã chứng minh qua câu nói hùng hồn, bất hủ ‘Ðừng nghe những gì cọng sản nói, hãy nhìn những gì cọng sản làm ‘ Nhưng nhức nhối nhất vẫn là câu nói ‘ Còn đất nước thì còn tất cả’ . Thật vậy từ ngày VNCh bị sụp đổ vào trưa 30-4-1975, người miền Nam VN đã mất hết theo vận mệnh của đất nước từ tài sản, mạng sống kể cả cái quyền ‘ biểu tình chống chính quyền ‘..mà Hiến Pháp VNCH có qui định.

Tổng thống Ngô Ðình Diệm có công giữ vững VNCH trong chín năm và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là người đã tiếp tục lèo lái con thuyền Quốc-Gia, chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn, dầu sôi lửa bỏng trước áp lực bành trướng của cọng sản quốc tế, trong lúc đồng minh Hoa Kỳ lúc đó, không bao giờ có thực tâm yểm trợ hữu hiệu cho QLVNCH. Nhưng với quyết tâm của TT.Thiệu, chính phủ và toàn dân, cũng như sự chiến đấu anh dũng của quân lực Miền Nam. Nhờ vậy VNCH mới tồn tại được cho tới ngày 30-4-1975.

Và bây giờ dù ai có thương ghét, hoan hô hay đả đảo, thì cựu Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu cũng đã trở thành người thiên cổ vào ngày 29-9-2001, tại Boston tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ hưởng thọ 78 tuổi. Ông mất để tự mình chấm dứt những oan khiên, lụy phiền chồng chất. Tất cả đều là hậu quả tất yếu của mười năm làm người lãnh đạo VNCH, chống lại cuộc xâm lăng của cọng sản Bắc Việt và bọn Việt Gian tay sai nằm vùng tại hậu phương.

Ðây là một cuộc chiến bi thảm nhất của dân tộc VN, vì phải đương đầu với toàn khối cọng sản quốc tế, được tiếp tay công khai, bởi một số ít người,luôn được ưu tiên trong xã hội miền Nam lúc đó, suốt cuộc chiến. Chúng là thành phần ngụy hòa của VNCH, gồm đám quan quyền đa số xuất thân từ lính Tây, bị thất sủng, hay vẫn đang tại chức nhưng bất mãn vì túi tham chưa đầy. Bên cạnh đó là một bọn người vong ơn bạc nghĩa, tất cả mang mặt nạ trí thức khoa bảng nhưng trái tim và cõi hồn thì bần tiện ích kỷỳ. Nhưng trên hết vẫn là nỗi buồn nhược tiểu VN, trước thái độ và hành động kiêu căng của đồng minh Hoa Kỳ, luôn ỷ vào đồng đô la viện trợ, bắt buộc VNCH phải phục tùng, rồi cuối cùng vì quyền lợi riêng tư, mà trơ trẽn bán đứng bạn bè cho cộng sản Bắc Việt vào ngày 30-4-1975.

Công hay tội của những người có liên hệ tới vận mệnh Quốc Gia Dân Tộc, hiện nay có ai dám vỗ ngực nói là mình có đủ tư cách để phê phán, khen chê ? tuy rằng ai cũng cho là mình có quyền nói lên sự thật, dù chỉ nghe lóm, nghe kể hay mao tôn cương sự kiện theo báo chí một chiều. Ngày nay, lịch sử hầu như đã được bật mí, nên tất cả những uẩn khúc của nhân loại đã được phơi bầy ra ánh sáng và ai cũng được đọc, biết hay nghe người khác kể. Thôi thì tất cả hãy dành cho lịch sử mai này quyết định, trong đó chắc sẽ không chừa ai, mà có luôn mấy kẻ tư cách chẳng ra gì, thế nhưng lúc nào cũng đạo đức giả. Ngoài ra còn có cả bia đá và bia miệng, cũng là một phần của lịch sử, xưa nay không hề biết thiên vị ai, dù đó là vua chúa, sử gia hay kẻ hèn nghèo trong xã hội.

Vì lịch sử không bao giờ tự bẻ cong ngòi bút và chạy theo đuôi phường mạnh, để phê phán hàm hồ. Bởi vậy mới có những câu chuyện sử về Hồ Quý Ly, Mạc Ðăng Dung.. và gần đây là Hồ Chí Minh, Phạm Văn Ðồng, Lê Khả Phiêu, Lê Ðức Anh, Ðổ Mười, Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng.. cùng với bè nhóm trên dưới của đảng cọng sản, đang chờ ngày đền tội trước sự quật khởi của đồng bào VN trong và ngoài nước. . khi đảng CS VN ngày nay đã công khai bán nước cho Tàu Ðỏ, cướp bốc giết hại đồng bào và chà đạp nhân quyền, tự do tôn giáo của dân tộc mà rùng rợn nhất là sự kiện quyết tâm hủy hoại Phật Giáo VNTN, Cao Ðài, Hòa Hảo và Thiên Chúa Giáo.

Bỗng dưng cảm thấy nghẹn ngào, khi nghĩ tới số phận hẳm hiu của những vị lãnh đạo quốc gia cận đại, từ Cựu Hoàng Bảo Ðại, cố Tổng thống Ngô Ðình Diệm, Trần văn Hương.. nay tới phiên cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Tất cả gần như không được ngủ yên nơi chín suối, chẳng những từ bộ máy tuyên truyền của kẻ thù cọng sản, mà tàn nhẫn hơn là do chính miệng của những người thường mệnh danh là sử gia, thật sư chỉ là những thợ viết không tim óc, thường mượn sự tự do quá trớn để trả thù đời, sau khi đất nước trải qua một cuộc bể dâu tận tuyệt, ông xuống hàng chó và sâu bo côn trùngỳ thành người viết văn viết sử hay lảnh đạo chính trị ba làng, nổi danh nhờ bè nhóm bợ lưng trét phấn hằng ngày trên báo.

Ba mươi bốn năm Việt Nam sống ngoi ngóp trong thiên đàng xã nghĩa, mới thật thấm thía và ý nghĩa biết bao về câu nói của người xưa, nay vẫn còn văng vẳng bên tai, hiển hiện trong mắt.. Tóm lại điều quan trọng của chúng ta hôm nay, nhất là những sử gia hiện đại, có dám bắt chước Tư Mã Thiên hay ít nhất như Phạm Văn Sơn, Tạ Chí Ðại Trường, Nguyễn Ðức Phương, Phạm Phong Dinh, Trần Gia Phụng hay ít nhất như Tú Rua, Duyên Anh năm nào, đã gục chết trước bạo lực, khủng bố , vì dám đối diện với sự thật, để nói lên những điều tai nghe mắt thấy , qua sự hiểu biết của mình, bằng lương tri và trái tim nhân bản VN.

Những tên ngụy văn, ngụy sử, nguỵ quân tử và ngụy sĩ quan công chức VNCH của một thời hỗn mang điên loạn , giờ đã không còn thời cơ lên chức trời, để lấy giấy gói lửa hay dùng tay che mặt trời. Bởi vì hiện nay, gần như tất cả các văn khố trên thế giới, kể cả Nga Sô-Trung Cộng cũng đang lần hồi bạch hóa nhiều tài liệu lịch sử, có liên quan tới chiến cuộc Ðông Ðương, Ðảng và các nhân vật cọng sản quốc tế VN liên hệ, trong đó có chân tướng Hồ Chí Minh mà thơi gian qua nhiều trí thức trong nước, dù đang bị VC kềm kẹp kê súng vào đầu hay bịt miệng. Thế nhưng họ vẫn hiên ngang lột trần sự thật về cái gọi là ‘huyền thoại Hồ Chí Minh ‘qua những câu chuyện thật khiến cho ai cũng ghê tởm và mở mắt.

Ðất nước hiện nay đang ngả nghiêng trong bảo tố vì sự xâm lăng không tiếng súng của kẻ thù truyền kiếp Trung Cộng. Ðảng và các chóp bu cọng sản VN, qua Ðổ Mười, Lê Ðức Anh, Nông Ðức Mạnh, Trần Ðức Lương, Phan Văn Khải, Nguyễn Khoa Ðiềm, Nguyễn Minh Triết, Lê Khả Phiêu, Nguyễn tấn Dũng ... đang theo gót đàn anh thuở trước dâng đất, bán biển, đem tài nguyên của dân tộc cống hiến cho ngoại bang, vinh thân phì gia và tìm một chỗ dựa để kéo dài quyền lực, được xây dựng trên núi xương sông máu VN, suốt bảy mươi lăm năm qua.

Nhưng thời cơ đã thay đổi rồi, vận mệnh của đất nước sớm muộn gì cũng do toàn dân định đoạt mà tiêu biểu là cuộc xuống đường của người dân cả nước liên tục ngày qua ngày đòi ngụy quyền Hà Nội phải trả lại đất đai tài sản và quyền làm người VN đã bị đảng VC cưởng đoạt. Máu và nước mắt đồng bào đã đổ tại Tòa Khâm Sứ và Ấp Thái Hà Hà Nội cũng như qua các cuộc phản kháng chống VC bán nước cho Tàu Ðỏ khắp nơi. Ðó là sự báo hiệu ngày tàn của đảng cướp cho dù chúng có ba hoa trên báo chí quốc doanh hay đưa bộ máy công an ra kềm kệp hù dọa, thì kết cuộc sụp đổ của chế độ ‘ cướp cạn ‘ cũng không thay đổi dù sớm hay muộn.

Nên những câu chuyện ba xạo, mà đài VC hải ngoại BBC tại Luân Ðôn vừa mới phổ biến, có liên quan tới Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiêu trước và sau 1975, cho dù nói là của Văn khố Vương quốc Anh, thì cũng chẳng có ai tin, vì tất cả những gì về Cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1960-1975), do bọn trí thức Tây phương-Hoa Ky dàn dựng ngày nay, đều dựa theo các tài liệu tuyên truyền của VC.

- TỔNG THỐNG THIỆU: VỤ 16 TẤN VÀNG VÀ SỰ TỪ CHỨC RA KHỎI NƯỚC

Sau ngày 30-4-1975, qua phút huy hoàng ngắn ngủi cũng là thời gian mặt nạ những kẻ nằm vùng, đâm sau lưng người lính VNCH được lột, kết thúc vai trò làm hề của trí thức miền Nam. Từ đó, tất cả đều nếm chung niềm tân khổ, nhưng người dân và lính chỉ hận hờn vì đầy đoạ, trái lại người trí thức phản bội năm nào, mới là thành phần bị thiệt thòi nhất., vì vừa bị mất hết những đặc quyền đặc lợi mà chế độ cũ dành cho lớp người khoa bảng, luôn được ngồi trên đầu dân đen miền Nam, lại phải mang thêm sự bóp nát lương tâm vì hối hận và trên hết đã thấu rõ nguyên tắc của xã nghĩa: ’TRÍ THỨC THUA CỤC PHÂN VÌ VÔ DỤNG VÀ PHẢN TRẮC LẬT LỌNG.

Nhưng người trong nước thì an lòng chịu đựng, ngược lại có một số loạn thần nhanh chân chui được vào lòng máy bay Mỹ, chạy ra hải ngoại lúc đó, hay mới đây qua các diện vượt biên, đoàn tụ, tù nhân chính trị ... vẫn tiếp tục to miệng làm hề, dù rằng nay đã biển dâu, ông bà sư cố ... cũng y chang xếp hàng như me Mỹ, Ba Tàu Chợ Lớn và bần dân xóm biển.

Màn chửi rủa, đổ tội, vu khống Miền Nam vì tham nhũng bất tài nên thua VC.. được chấm dứt, khi thành đồng tổ phu Mac Lê, tan hoang, sụp nát vào năm 1990, chẳng những ở Ðông Âu, khắp năm châu , mà còn ngay tại Tổng Ðàn Nga Sô Viết. Cũng từ đó, xã nghĩa thiên đàng thu gọn tại Tàu Cộng, Viêt Cộng, Hàn Cộng và Cu Ba. Rồi các dĩnh cao tại Bắc Bộ Phủ vì cái ăn bản thân cùng sự sống của đảng, đã muối mặt, mở cửa đổi mới, trải thảm đỏ, lạy mời những kẻ thù năm nao như Mỹ, Pháp, Nhật, Nam Hàn, Ðài Loan kể cả Liên Xô, Âu Châu vào, để cùng nhau hợp sức, kết đoàn, làm nhanh sự sụp đổ của một quốc gia mang tên VN, từng liệt oanh lừng lẫy dưới trời Ðông Nam Á.

Cũng nhờ mở cửa, những tin tức bán nước hại dân và đại họa tham nhũng cả nước, từ lớn tới bé của Cộng Ðảng bị quốc dân phanh phui, tràn lan khắp chân trời góc biển và ngay trên mạng truyền thống quốc tế từng giờ, đã khóa kín những cái miệng thúi của bọn trí thức bợ bưng VC, vẫn còn lẫn quẫn trong tập thể người Việt hải ngoại, đợi dịp và cơ hội đâm sau lưng đồng bào, như chúng từng làm khi còn sống tại VNCH, trong cảnh no cơm ấm cật, ai chết mặc bay, vô luân vô tích sự.

Theo tin của Nguyễn Hữu từ Paris được đăng trên tờ Việt Nam Hải Ngoại, số 132 ngày 31-1-1983, thì Nguyễn Văn Hảo, nguyên phó thủ tướng dưới triều hoàng đế Dương văn Minh hai ngày, nhờ bảo vệ được ‘16 Tấn Vàng, tài sản của quốc dân Miền Nam’, để dâng cho tập đoàn Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, Phạm văn Ðồng ngay khi chúng vào được Sài Gòn, buổi trưa ngày 30-4-1975. Theo nguồn tin từ các hàng thần VC, ngay khi vào Sài Gòn, thì 16 tấn vàng trên, cùng tiền vàng ngân phiếu chứng khoáng của VNCH được lệnh kiểm kê ngay và được Duẩn-Thọ, dùng máy bay chở về dấu tại Côn Sơn-Hải Dương. Sau đó đảng nhóm, tự chia chác ăn xài. Cũng nhờ công lao hãn mã trên, nên Hảo Tiến Sĩ, được VC cho xuất ngoại công khai sang Pháp. Tại Ba Lê, Y ngự trong một khách sạn sang đẹp , mà chủ nhân cũng là chủ của Nhà Hàng Ðồng Khánh tại Chợ Lớn năm nào.

Sự việc Nguyễn Văn Hảo xuất ngoại bằng thông hành chính thức và liên hệ thường trực với tòa đại sứ VC tại Pháp, cho thấy Y ra ngoại quốc với sứ mạng bí mật. Hiện nay Hảo được Cao Thị Nguyệt, vợ góa của tướng Hòa Hảo Ba Cụt, bảo lãnh sang Mỹ, trước đó ở Texas.

Tuy VC đã cưỡng chiếm được miền Nam gần 34 năm qua, nhưng duới đống tro tàn của quá khứ, vẫn còn âm ỷ các sự kiện nóng bỏng của cận sử VN, trong đó ác nhất là chuyện ‘Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, tẩu tán 16 tấn vàng y của Ngân Hàng Quốc Gia VN, khi chạy ra ngoại quốc, vào nhưng ngày cuối thàng 4-1975‘. Ðây là một sự kiện lớn của người Việt Quốc Gia, trong và ngoài nước. Và dù nay mọi sự đã được sáng tỏ, số vàng trên được Nguyễn Văn Hảo giữ lại và chiều ngày 30-4-1975, đem dâng cho Lê Duẩn, chở ngay về Bắc.

Theo tài liệu của Nguyễn Tiến Hưng, trong tác phẩm ‘ Bí Mật Dinh Ðộc Lập ‘, cũng là người chủ xướng trong việc, dùng 16 tấn vàng dự trữ tại Ngân Hàng Quốc Gia, theo thời giá lúc đó là 120 triệu Mỹ Kim, để mua vũ khí đạn dược, cung cấp cho QLVNCH tiếp tục chiến đấu, chờ xin viện trợ của nước khác, vì Hoa Kỳ qua đảng Dân Chủ phản chiến, đã chấm dứt giúp đỡ miền Nam theo cuộc họp báo ngày 14-4-1975 tại Hoa Thịnh Ðốn.

Ai cũng biết, từ tháng 4-1975, miền Nam đã mất tinh thần, vì sự tan rã của hai quân đoàn 1 và 2 khi triệt thoái, theo lệnh của TT Nguyễn Văn Thiệu. Thêm vào đó là sự việc Hoa Kỳ cố ý cắt đứt hết viện trợ, trong lúc đồng minh của mình đang dần mòn thoi thóp chiến đấu trong tuyệt vọng, vì cạn kiệt đan súng, nhiên liệu. Do trên, liên tiếp qua nhiều phiên họp tại dinh Ðộc Lập, Nguyễn Tiến Hưng đề nghị dùng số vàng dự trữ, để mua súng đạn. Song song là việc tăng cường canh gác, bảo vệ trụ sở Ngân Hàng trung ương, tại Bến Chương Dương-Sài Gòn, đề phòng Cọng Sản Bắc Việt thừa dịp đánh cướp, vì tin tức các cuộc họp kín, chắc chắn đã bị điệp viên nằm vùng ngay dinh tổng thống, báo về Bắc Bộ Phủ. Và lần này, VC đã xuống tay trước, để chúng không bị hố như hồi tháng 8-1945, để mất toi số vàng bạc châu báu dự trử , tại Viện phát hành giấy bạc Ðông Dương (Institut d’Emission) ở Hà Nội.

Như vậy theo kết quả buổi họp, có đủ các tướng Thiệu, Khiêm, Viên, Quang.. số vàng trên sẽ được gởi ra ngoại quốc. Người nhận chỉ thị thi hành là Lê Quang Uyển, Thống Ðốc Ngân Hàng VNCH. Ông có nhiệm vụ thuê mướn may bay chuyên chở ( hàng không Mỹ TWA,Pan Am) và hãng bảo hiểm quốc tế Lloyd’s tại Luân Ðôn, Anh Quốc. Nhưng kế hoạch bất thành, vì tin mật bị lộ ra ngoài, với sự xuyên tạc đầy ác ý : ‘ Thiệu mang 16 tấn vàng theo ra ngoại quốc, sau khi từ chức’. Tin trên khiến các hãng máy bay cũng như công ty bảo hiểm từ chối chuyên chở, vì sợ bị phạm pháp.

Cuối cùng Chính Phủ VNCH phải nhờ Bộ Ngoại Giao Mỹ, qua Ðại Sứ Martin giúp. Sự việc kéo dài tới khi TT Thiệu từ chức và Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay thế. Ngày 26-4-1975, Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn, mới cho biết, đã tìm được một hãng bảo hiểm số vàng trên nhưng giá trị chỉ còn 60.240.000 Mỹ kim, mất đi nữa nếu tính theo thời giá. Riêng việc chuyên chở, cũng phải hoàn tất trước ngày 27-4-1975 vì phi cơ đang đậu sẵn tại phi trường Clark, Manila, Phi Luật Tân, sẵn sàng tới Sài Gòn chuyển vàng.

Nguyễn Văn Hảo bấy giờ là Phó Thủ Tướng, phụ trách kinh tế, được ủy nhiệm thi hành công tác trên. Nhưng Y đoán biết VNCH sẽ thất thủ trong nay mai. Do trên đã manh tâm phản bội, thừa cơ hội lập công dâng cho VC, để mong vinh thân phì gia. Y vào gặp thẳng TT.Trần Văn Hương, hăm đoạ và áp lực đủ điều. Rốt cục Hương vì sợ trách nhiệm, nên đành giao số 16 tấn vàng trên cho Nguyễn Văn Hảo giữ lại, chờ giao nạp cho VC. Nhờ thế, sau ngày 30-4-1975, tên trí thức trở cờ, ăn cơm quốc gia lật lọng, hàm tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo, được những người chủ Rừng Xanh, trả ơn cho chức ‘ Cố Vấn Kinh Tế’, trong chính phủ Ma Miền Nam. Sau đó không lâu, tiến sĩ giấy cũng theo vận nước, tàn với mặt trận. Rồi cũng như bao kẻ khác, bò tới Mỹ, trốn nhủi tại một vùng nào đó ở TX, ôm hận và xú danh muôn thu ngàn kiếp trong sử Việt.

- 16 Tấn Vàng bị VC cướp đem về Bắc chia nhau xài

Tài Liệu Trích Dẫn

Người “buôn tiền” thành bộ trưởng

Năm 1986, Lữ Minh Châu làm Bộ trưởng Tổng giám đốc Ngân hàng CSVN. Trước đó, ngày 30/4/1975, với tư cách là Trưởng ban Quân quản các ngân hàng Sài Gòn - Gia Ðịnh, đương sự là người tổ chức tiếp quản toàn bộ tiền, vàng của VNCH.Trước đó nữa, Châu cũng là một trong những người chỉ huy , đường dây buôn tiền lậu, để nuôi VC phản loạn tại NVM, qua bí danh Ba Châu.

Theo lời hắn tứa với báo chí, thì “đường dây buôn tiền”, tức là Ban Tài chính đặc biệt của Trung ương Cục là do Phạm Hùng lập ra, có Mười Phi là trưởng, còn Châu là phó.

- Nguyễn Văn Thiệu không và không thể lấy được 16 tấn vàng

Nhân vừa rồi báo chí lật lại vụ Nguyễn Văn Thiệu “cuỗm” 16 tấn vàng khi bỏ chạy ra nước ngoài, chuyện này có liên hệ tới Lữ Minh Châu, vào ngày 30/4/1975, hắn được chỉ định làm Trưởng ban Quân quản các ngân hàng Sài Gòn - Gia Ðịnh.

Chuyện Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu mang theo 16 tấn vàng hồi đó được báo chí loan tin, sau này người nói có người nói không. Gần đây BBC lại đề cập đến thông tin này. Mới đây nhất Báo Tuổi Trẻ có một loạt bài dẫn lời các nhân chứng nói rằng không có chuyện đó. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có thông tin chính thức từ phía Nhà nước về vấn đề này.

Còn Ba Châu thì: “Hoàn toàn không có. 16 tấn vàng vẫn còn nguyên vẹn trong kho của ngân hàng”. “Nguyễn Văn Thiệu không lấy vàng đi, tại sao lâu nay Nhà nước mình không nói lại cho rõ?”. “Mình biết rất rõ là số vàng đó vẫn còn, đã được kiểm kê cẩn thận và đưa vào tài sản quốc gia, nhưng không đính chính vì đó là tin đồn đăng trên báo chí, có ai đặt câu hỏi chính thức với Nhà nước đâu”. “Sự thật là Nguyễn Văn Thiệu có ý định lấy đi 16 tấn vàng đó không?”. “Sau này chúng ta mới biết Nguyễn Văn Thiệu có kế hoạch đưa số vàng đó đi, nhưng không đưa đi được. Lấy số vàng đó đi là không dễ chút nào hết”. “Còn tiền thì sao? Theo hồi ức của ông Huỳnh Bửu Sơn đăng trên Tuổi Trẻ thì tổng giá trị giấy bạc dự trữ trong kho lúc đó được kiểm kê hơn 1.000 tỉ đồng, gấp đôi lượng tiền lưu hành tại miền Nam...”. “Toàn bộ tiền và vàng dự trữ trong ngân hàng chúng ta tiếp quản nguyên vẹn cùng với đầy đủ hồ sơ sổ sách.

Theo thống kê thì khối lượng tiền trong lưu thông thời điểm đó là 615 tỉ, gồm tiền mặt trong lưu thông 440 tỉ, còn lại nằm trong tài khoản tiền gửi. Tôi không thể nhớ chính xác số giấy bạc dự trữ, những số liệu kiểm kê đó vẫn còn trong hồ sơ lưu trữ. Trong kho dự trữ còn có 125 tỉ tiền in theo kiểu mới chưa phát hành, riêng số giấy bạc này được lệnh phải thiêu hủy, vì đó là số giấy bạc mà chính quyền Sài Gòn chuẩn bị để đổi tiền”. “Còn châu báu, nữ trang?”. “Châu báu, nữ trang là đồ người ta gửi tại ngân hàng. Những thứ đó phải trả lại cho người gửi”.

“Khi tiếp quản, liệu tiền, vàng có bị thất thoát không?”. “Theo tôi thì không thể. Ngân hàng của chính quyền cũ quản lý rất chặt, ta cũng chặt”. “Số vàng đó sau này đi về đâu?”. “Nó trở thành tài sản quốc gia, được quản lý theo luật pháp của chính quyền cách mạng, sau đó là của Nhà nước Việt Nam thống nhất”. “Còn tiền?”. “Tiền cũng vậy, được đưa vào lưu thông, đến năm 1976 thì đổi tiền mới”.

Hoàng Hải Vân

Mới đây vào ngày 19-12-2005, cái gọi là Ðài BBC Luân Ðôn, đưa một bản tin giựt gân, nói là dựa theo tài liệu mật, đã được Cục Văn khố Anh cho phổ biến. , trong đó có nói về sự ra đi của Tổng thóng VNCH Nguyễn Văn Thiệu,từ hơn 30 năm trước. Theo nhận xét của tất cả các nhà viết sử hiện nay cũng như những người trước đây, từng liên hệ hiểu biết về hậu trưong chính trị Nam VN trong Dinh Ðộc Lập, thì tin trên hoàn toàn láo khoét, bịa xạo và rõ ràng nhất cho thấy, đây là tài liệu của VC, đã có sẳn từ trước, nhằm bôi bác, làm mất uy tín người Việt Quốc Gia, cũng như chính quyền VNCH thời trước.

Cũng theo nguồn tin VC trên, thì TT.Thiệu đã bỏ trốn khỏi Sài Gòn vào cuối tháng 4-1975, bằng trực thăng Mỹ, chở từ đất liền ra Hạm đội 7 ngoài hải phận. Sau đó mới tới Ðài Loan với vợ con và các phụ tá. Sở dĩ có tình trạng thúi tha này, là vì sau ngày Miền Nam bị sụp đổ, người Tây phương cũng như Việt hải ngoại, khi muốn tìm hiểu về thực trạng của cuộc chiến vừa qua, hay tới tìm tài liệu tham khảo tại các văn khố Pháp, Anh, Mỹ, các thư viện mà gần hết sach báo, tài liệu được sản xuất ở Bắc Bộ Phủ hay của bọn nhà văn, nhà báo thân hoặc theo cọng sản. Do trên nội dung chỉ viềt một chiều, nói tốt tất cả cho đảng và phe mình với chủ đích mạt sát những người Miền Nam VN thua trận.

Trong lúc đó những vị nguyên thủ như Trần Văn Hương, Nguyễn Văn Thiệu.kể cả Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, thì im lặng lại không viết hồi ký. Còn đa số các vị tướng lãnh có lương tâm, tự cảm thấy mình có tội với đồng bào và đất nước sau ngày 30-4-1975, nên cũng không muốn viết gì về những kỷ niệm đau thương cũ, cuối cùng để cho bí mật cận sử, chôn vùi theo thân xác, tạo cớ cho bọn bồi bút, ngụy sử của cả trăm phía, hư cấu, viết xạo, nhục mạ các chiến sĩ Quốc gia, mà Ðài BBC Luân Ðôn đã làm, là một biểu tượng đáng phỉ nhổ.

Theo các nhà biên khảo về chiến tranh VN, thì tin tức có liên quan tới sự ra đi của TT.Thiệu, đầu tiên được xì ra, do Trưởng phòng CIA của Mỹ ở Sài Gòn là Frank Sneepp, viết trong ‘ Decent Interval ‘ , từ trang 434-437., xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1978. Theo đại sứ Martin, thì chính mình, thay vì nhờ cơ quan Dao giúp, lại yêu cầu Giám đốc CIA ở VN, lúc đó là Polgar, giúp đưa TT.Thiệu, Thủ tướng Khiêm đi Ðài Loan bằng chiếc DC-6 của Tòa Ðại sứ Mỹ, từ Thái Lan bay qua Sài Gòn, trong đêm 25-4-1975.. Theo Snepp viết, thì TT Thiệu đã bỏ trốn khỏi VN, vì khi ra đi, chẳng có một giấy tờ của VNCH hay Hoa Kỳ cho phép.hay chứng nhận.

Còn tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, trong sách ‘ khi Ðồng Minh tháo chạy ‘ vừa xuất bản, viết về sự ra đi của TT.Thiệu và Thủ tướng Khiêm nơi trang 391-392, cũng chỉ dựa theo tài liệu từ ‘ Decent Interval ‘ của Frank Snepp nhưng sai chi tiết, khi nói TT.Thiệu ngồi giữa tướng Timmes và một sĩ quan tùy viên VN, trong lúc đó ông ngồi giữa Polgar và Timmes.

Nhưng qua lời kể lại của một nhân chứng, đã cùng đi với TT.Thiệu và đến Mỹ vào tháng 6-1975, hiện còn sống tại Nam California, thì trước khi ra đi, TT Thiệu và người này, có tới văn phòng của TT.Trần Văn Hương, để trình một bức thư, đại ý ‘ Theo lệnh TT.Hương, cựu TT.Thiệu, Thủ tướng Khiêm sẽ hướng dẫn một Phái đoàn, tới các quốc gia Ðông Nam Á, để giải độc .. ’ ’ ’ ’Sau đó đoàn người, gồm TT.Thiệu, Thủ tướng Khiêm và tuỳ tùng, rời nhà trong Bộ TTM, lái xe chạy theo hướng Sài Gòn, Chợ Lớn, đường Nguyễn Văn Thoại, Trường đua Phú Thọ, Lăng Cha Cả.. rồi mới vào cổng Phi Long, ra phi đạo, lúc đó có mặt Ðại sứ Martin, chào tiển biệt. Như vậy, theo nguồn tin này, đã hoàn toàn khác hẳn với lời Frank Snepp, là TT Thiệu đi Ðài Loan, có giấy tờ của Chính phủ VNCH giới thiệu với nhà cầm quyền Ðài Loan, chứ không phải bỏ trốn.

Vẫn từ lời kể trên, thì chính Frank Snepp là tài xế trong chiếc xe chở TT Thiệu, ghế trước còn có Trung Tá tùy viên Tôn Thất Ái Chiêu, xe từ nhà Thủ tướng Khiêm, trong Bộ TTM tới phi trường Tân Sơn Nhất. Băng sau TT Thiệu ngồi giữa tướng Timmes và Ðại tá Chánh tuỳ viên Nguyễn Văn Ðức. Sau khi tới Ðài Loan, TT Thiệu đã xin tới Anh định cư, mà không vào Mỹ.

Sau này khi viết về cuộc chiến VN, thủ tướng sau cùng của VNCH là Nguyễn Bá Cẩn, đã có nhận xét rất xác thực, đã diển tả thái độ hờ hửng của đồng bào Miền Nam qua suốt cuốc chiến. Sỡ dỉ có sự đối xữ trên, không phải vì chính phủ VNCH, chỉ kiểm soát được 30% dân số và phần còn lại chỉ là đám lục bình trôi nổi như nhận xét của một sử gia nào đó. Thật sự Miền Nam hoàn toàn khác biệt với chế độ độc tài khủng bố của Bắc Việt. Ngoài ra hầu hết các nhà lãnh đạo của Miền Nam từ Cưu Hoàng Bảo Ðại tới các vị Tổng thống Diệm, Thiệu, Hương.. quá tự do và nhân đạo. Trong lúc đó, do cơ quan tuyên truyền của Miền Nam yếu kém, phần nửa hầu hết trình độ hiểu biết của đồng bào rất hạn hẹp, nhất là ở nông thôn, miền núi, xóm biển.. nên đã bị giặc Cộng dụ dổ, đầu độc. Ðã vậy dân chúng còn thờ ơ lãnh đạm với thời cuộc, hầu như chỉ muốn giao phó hết cho chính quyền, quân đội, ai chết mặc bây.

Người dân đã vậy, đất nước càng bất hạnh vì đã không có một vị lãnh đạo nào, đủ khả năng đạo đức, tầm vóc để ứng phó kịp thời với hoàn cảnh, nhìn thấu đáo toàn diện chính sách của Hoa Kỳ, để mà phối trí kịp thời lực lượng bảo vệ lãnh thổ, trong lúc khẩn cấp. Thêm vào đó, còn có các chính khách sa lông, nhiều nhà báo thân Cộng nằm vùng, luôn thừa nước đục thả câu, tìm cách phá rối xách động mọi người, chống lại chính quyền, giúp cho giặc có cơ hội cưởng chiếm đất nước. Tới khi Sài Gòn thất thủ, sau ngày 1-5-1975 , những thành phần trí thức xôi thịt trên,cũng bị VC vắt chanh bỏ võ, đào thải không thương tiếc chút công lao đã dâng hiến cho đảng.

Lịch sử VN suốt mấy ngàn năm, trang nào cũng đẵm đầy máu lệ, chứ không phải chỉ có giai đoạn đau thướng mất nuớc, dưới thời các vị TT Thiệu và Hương .Nay cũng đã hơn ba mươi ba năm (1975-2008), mà đồng bào cả nước vẫn phải sống trong hàng rào kẻm gai, trước súng đạn mã tấu dao găm, trong màn lưới vô hình rình rập của công an, bộ đội, cán bộ và ngay chính thân nhân mình.. trong thân phận của kiếp đời nô lệ, phó thường dân, ngay chính quê hưng mình, mới là điều thương tâm thống hận.

Ðiều này cho thấy đất nước tới nay vẫn đâu có kẻ hùng tài minh đức thật sự, để cầm đầu toàn dân nổi dậy, diệt tan cái đám sâu bọ lạc hậu già nua VC, vẫn còn ngồi trên đầu cả nước, chẳng những bán nước cho Tàu và bọn tư bản, mà còn bóc lột, đầy đoạ cả một dân tộc, càng lúc càng lún thúi trong ảo vọng xã họi chủ nghĩa, hiện bị nhân loại vút vào quên lãng.

Ðến nay VN còn chưa có lãnh đạo, trong lúc đất nước rối rấm như tơ vò, lãnh thổ thị bị Tàu đỏ cưởng chiếm, đồng bào cả nước hải sợ vì nạn cướp giựt công khai của đảng VC, các tôn giáo bất lực trước khủng bố tại Hà Nội.. thì những người như Ngô Ðình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương.qua dòng cận sử hai mươi năm tồn tại của VNCH, cho dù có bị ganh tị, bôi bác, ít ra họ cũng xứng đáng đại diện cho Nam VN trong giai đoạn lịch sử thời đó.

Cho nên nói thì ai cũng nói được vì nói là độc quyền của con người đâu có đóng thuế dù ở bẹn Mỹ hay Âu Châu.

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di

Tháng 9-2009
Mường Giang



Sunday, September 27, 2009

Bản tường trình Chuyến Đi Thăm Linh mục dáng kính Tađêô Nguyễn Văn Lý tại Trại tù Ba Sao, tỉnh Hà Nam - Lê Quang Quý

Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý
LM GB Lê Quang Quý

Linh nục Tađêô Nguyễn Văn Lý
HUẾ - Sau lần thăm nuôi linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý trở về, chị ruột ngài, bà Nguyễn Thị Hiểu, đã cho Tòa Tổng Giám Mục Huế biết những thông tin về sức khỏe không được tốt của ngài. Hai Đức Cha và các Cha trong Giáo Phận đã cầu nguyện nhiều cho ngài luôn được mọi sự bình an.

Tòa Tổng Giám Mục Huế đã cử hai linh mục đại diện Giáo Phận, là linh mục Gioan Baotixita Lê Quang Quý, Quản xứ Nhà thờ Trí Bưu, kiêm Hạt Trưởng Hạt Quảng Trị, và linh mục Bênêđictô Lê Quang Viên, Quản Lý Nhà Chung, đi thăm linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý vào ngày 17 tháng 9 năm 2009.

Trước khi gặp linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, hai linh mục đại diện Giáo Phận đã gặp Ban Giám Đốc Trại tù và Bộ Công An, và đã trao đổi những điều như sau:

1. Tòa Tổng Giám Mục yêu cầu Bộ Công An và Ban Giám Đốc Trại tù cho linh mục Nguyễn Văn Lý đi bệnh viện khám và chữa bệnh.

Về đề nghị nầy, Bộ Công An và Ban Giám Đốc Trại tù đồng ý theo yêu cầu của Tòa Tổng Giám Mục Huế, là để linh mục Nguyễn Văn Lý được đi chữa bệnh bên ngoài Trại tù với điều kiện linh mục Nguyễn Văn Lý yêu cầu.

2. Tòa Tổng Giám Mục Huế yêu cầu Bộ Công An và Ban Giám Đốc Trại tù xem xét để linh mục Nguyễn Văn Lý sớm trở về với Giáo Phận Huế.

Về đề nghị nầy, Bộ Công An và Ban Giám Đốc Trại tù chưa có ý kiến.

3. Tòa Tổng Giám Mục Huế đề nghị Trại tù hãy tạo mọi điều kiện để linh mục Nguyễn Văn Lý được làm phận vụ của một linh mục và tạo điều kiện cho gia đình của ngài được phép thường xuyên thăm nuôi.

Về đề nghị nầy, Bộ Công An và Ban Giám Đốc Trại tù chấp thuận.

Sau khi hai linh mục đại diện đã trao đổi với Bộ Công An và Ban Giám Đốc Trại tù xong, linh mục Nguyễn Văn Lý được mời lên để nói chuyện.

Trước mặt đại diện Bộ Công An và Ban Giám Đốc Trại tù, hai linh mục của Toà Tổng Giám Mục Huế nói lại ba điều đã đề nghị trên đây để cho linh mục Nguyễn Văn Lý nghe và xin ngài cho ý kiến.

Linh mục Nguyễn Văn Lý rất vui vẻ khi được hai linh mục đại diện Tòa Tổng Giám Mục Huế ra thăm với tình anh em linh mục. Ngài nhờ hai linh mục đại diện chuyển những lời sau đây đến hai Đức Cha và các Cha:

“Con rất vui sướng khi được Hai Đức Cha và các Cha Giáo phận Huế lo lắng và cầu nguyện cho con rất nhiều, đặc biệt là hình ảnh của Hai Đức Cha đã yêu thương con, hình ảnh mà con thấy rõ như hôm nay, là khi nghe tin con đau chưa biết thật hư thế nào, hai Đức Cha đã thu xếp gởi hai cha đến đây và còn gởi quà cho con nữa. Xin hai Đức Cha và quý Cha trong Giáo phận nhà tiếp tục cầu nguyện cho con. Mỗi ngày, trong khi con dâng lễ, hình ảnh hai Đức Cha và quý Cha cũng như mọi người trên Đất Nước Việt Nam, luôn hiện diện trong tâm trí con. Con xin dâng lên Thiên Chúa tất cả mọi ưu tư của Giáo Phận vì Thiên Chúa là tình yêu”.

Trong cuộc nói chuyện, linh mục Nguyễn Văn Lý còn cho hai linh mục đại diện biết thêm vài suy tư của ngài như sau:

“Con xin cám ơn Tòa Tổng Giám Mục Huế đã đề nghị những ý kiến với Trại và vị đại diện Bộ Công An để con được khám và chữa bệnh ở bên ngoài Trại. Đối với con, con chưa thấy có nhu cầu vì con vẫn chưa đến nỗi gì, trong lúc bên cạnh con, biết bao anh em khác cũng đang đau ốm, nhưng không được săn sóc cách đặc biệt như con. Con được Trại cử một bác sĩ giỏi để khám bệnh và phát thuốc cho con mỗi ngày. Trong thâm tâm, con thấy cũng áy náy vì làm phiền Trại và bác sĩ hơi nhiều. Nên con có đề nghị với Trại rằng từ nay, xin bác sĩ khám bệnh cho con mỗi tuần một lần là đủ rồi, để thì giờ lo cho các anh em khác”.

“Mỗi ngày, con được Trại cấp thuốc tai biến để uống. Thế là từ nay, thứ thuốc này sẽ gắn liền với cuộc đời của con như hình với bóng. Còn loại thuốc bổ não mà Trại cấp cho con uống, thì không hạp lắm vì đôi lúc con cảm thấy khó chịu, nên con đã tâm sự với bác sĩ để xin thay loại thuốc này. Trại đã đồng ý, thế là con xin gia đình mỗi lần thăm, thì đem thuốc ra cho con uống, vì uống nhiều thuốc tây quá, cũng không tốt. Hơn nữa, con cũng muốn cho gia đình con có tinh thần chia sẻ bớt gánh nặng cho Trại vì Trại không chỉ có một mình con, mà còn có nhiều anh em khác nữa. Con biết rằng con chỉ là hạt cát nhỏ của vũ trụ bao la này, một cơn gió thoảng qua, cũng làm nó biến đi, nhưng sao Chúa lại thương con như thế! Biết bao người hiền lành đạo đức, nhưng họ cũng bệnh tật đau yếu rồi chết, nên con xem những ngày trong tù là những ngày tháng con tĩnh tâm để nhận ra tình Chúa vẫn yêu con”.

“Con cũng nói cho hai cha biết sự việc con bị tai biến xảy ra như thế nào”.

“Lần thứ nhất, vào ngày 13/5/2009, con đi lui đi tới trong phòng để lần hạt, thì con thấy máu đen rơi vãi dưới nền nhà, nhưng không biết do đâu, vì mình có bị thương tích gì đâu mà chảy máu. Tìm mãi thì máu bầm đó xuất ra từ dưới bìu. ... Con gọi bác sĩ đến thì bác sĩ đã cho con uống thuốc và xức thuốc để cầm máu, và con thấy mình vẫn không sao. Lần này, con có viết thư gởi về gia đình để nói sự việc như vậy, nhưng không rõ vì sao mà gia đình lại không nhận được tin do con gởi”.

“Lần thứ hai, vào ngày 25/5/2009, con lại bị nặng hơn bởi vì ngày hôm đó, con nhận được tờ báo Nhân Dân, nội dung trong đó có mục nói láo trắng trợn về con như sau: nói con có những hành vi xấu, chống đối Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa khi ra tước Tòa án vì con đã đạp đổ vành móng ngựa, vung tay chống trả lại người thi hành công vụ ..., nhưng lúc đó, sức đâu mà con chống cự, khi con bị người ta giữ chặt và cách con hai mét, làm sao mà con đạp đổ vành móng ngựa được. Bực tức vì những lời nói xuyên tạc trên tờ báo nầy, con đã bị choáng ngợp, rồi bị té ngửa, chảy máu một chút sau đầu do bị rách da. Sau đó, con thấy tay chân mình hơi bị cứng đi, nhưng các bác sĩ cũng đã kịp thời để chữa trị cho con. Ngày 14/7/2009, con viết một lá thư xin gia đình ra thăm con vào dịp đầu tháng 8/2009, mặc dù chữ viết của con lần này không được đẹp lắm vì căn bệnh tai biến. Con nói thế để hai cha biết rõ sự việc”.

“Hai cha biết không, mặc dù ở trong Trại, nhưng con biết cũng khá nhiều tin tức bên ngoài, như chuyện ở giáo xứ Loan Lý, chuyện ở Tam Tòa và nhiều chuyện khác nữa. Con nói vậy để hai cha biết rằng con luôn hiệp thông và cầu nguyện cho Giáo Phận nhà”.

Khi hai linh mục hỏi thăm đời sống của ngài thế nào ở trong Trại tù, thì linh mục Nguyễn Văn Lý nói:

“Con cho hai cha biết sơ qua, là giờ giấc ngủ thì tự do, lúc nào mệt là ngủ thôi, sáng thức dậy, làm xong phận vụ của mình, là coi ti vi và đọc báo, trồng cây cảnh chơi trong vườn, rồi đem chưng trong phòng cho có màu xanh. Chỗ ở thì phòng ốc cũng khá lắm, được lót men và có phòng vệ sinh tắm rửa đàng hoàng. Ăn uống thì đôi lúc cũng không có giờ giấc cho lắm vì vừa ăn, vừa xem ti vi, vừa đọc báo, nên đôi lúc, con cũng làm khổ bác sĩ đôi chút”.

Trước khi kết thúc buổi gặp mặt, linh mục Lê Quang Quý giải tội cho linh mục Nguyễn Văn Lý.

Hai linh mục đại diện Toà Tổng Giám Mục Huế chia tay linh mục Nguyễn Văn Lý, sau một giờ thăm viếng.

Tường trình từ Huế, ngày 20 tháng 9 năm 2009
Linh mục Gioan Baotixita Lê Quang Quý, Quản Xứ Trí Bưu, Hạt Trưởng Hạt Quảng Trị
Linh mục Bênêđictô Lê Quang Viên, Quản Lý Nhà chung

LM GB Lê Quang Quý


Chú “tỏn” Lê Dũng! - Nguyễn Thanh Ty

Ngày 20/8/09, Bộ Ngoại Giao CSVN bổ nhiệm bà Nguyễn Phương Nga làm người phát ngôn mới của cơ quan này, thay thế cho ông Lê Dũng, được chuyển công tác, nhận nhiệm vụ mới, làm Tổng Lãnh sự tại Houston, Texas, Huê Kỳ.

Thời gian tại vị chức phát ngôn viên 6 năm, ông Dũng đã làm tròn bổn phận được hai việc cực kỳ quan trọng mà đảng đã giao phó.

Đó là chối và nói láo. Chối leo lẻo và nói láo không đỏ mặt.

Có lẽ do thành tích xuất sắc này mà ông Lê Dũng được cất nhắc lên chức một cách nhanh chóng như vậy chăng !

Ngày xưa thời đệ nhất, đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa dân gian có câu vè: “Được làm vua, thua làm đại sứ” để chỉ những vị quan to súng ngắn thất sủng bị “lưu đày” xa xứ.

Trái lại ngày nay, chức vị đại sứ của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam là sự gia ơn bổng lộc, địa vị của đảng dành cho công thần có công bảo vệ chế độ mà không cần có tài năng ngoại giao.

Xin đơn cử hai việc gần đây nhất để minh họa nghề “chối” và “nói láo”của ông Lê Dũng đã huy động hết năng suất của cái lưỡi gỗ:

1. Chối:

Giám đốc về Châu Á của HRW (Tổ chức theo dõi nhân quyền), ông Brad Adams, với bản phúc trình dài 32 trang có tựa đề «Vẫn chưa phải thiên đường cho công nhân», tuyên bố với báo giới: «Bằng việc bắt giữ các lãnh đạo nổi bật về lao động, chính phủ Việt Nam tìm cách xóa sổ phong trào công đoàn độc lập như Tổ chức Công Nông Thống nhất và Công đoàn Độc Lập được thành lập cuối năm 2006. Chính phủ tiếp tục nhắm vào sách nhiễu các nhà hoạt động độc lập, những người bị coi là mối đe dọa đối với đảng cộng sản vì họ có khả năng thu hút và tổ chức nhiều người. Trong số 8 người bị kết án từ năm 2006, ba người hiện vẫn còn trong tù, trong khi những người khác bị theo dõi chặt chẽ»

Lập tức, ông Lê Dũng, người phát ngôn Bộ Ngoại giao, được hãng AFP trích dẫn nói: «Tổ chức HRW thường đưa ra thông tin sai lạc, không phản ảnh đúng tình hình tại Việt Nam. Hiến pháp Việt Nam đảm bảo mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền khiếu nại và tố cáo, quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khoẻ … không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo. Nhà nước Việt Nam nỗ lực xây dựng kiện toàn các thiết chế đảm bảo quyền con người trên thực tế. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc đảnm bảo quyền con người và đây là nhân tố quan trọng đưa đến thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam».

Dư luận trong và ngoài nước hơn 60 năm nay, ai ai cũng đều biết rõ rằng đảng và nhà nước Việt Nam đã ngồi xổm, phóng uế trên Hiến pháp và luật pháp từ lâu, có coi trọng nó gờ ram nào đâu, mà ông Dũng cứ đem hai món hàng cá gỗ ế độ đó ra phô diễn đánh trống thổi kèn hoài coi bộ mệt tai quá.

Sau lời tuyên bố của ông Dũng, đài BBC bình luận rất ê càng: «Và như thường lệ thì ‘cái máy nói’ Lê Dũng vẫn phải phát ra ‘bản photocopy’ những tuyên bố bác bỏ những cáo buộc trên của ‘Tổ chức Theo dõi Nhân quyền’. »

2. Nói láo:

Sau khi Trung Quốc tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sáp nhập vào lãnh thổ của mình thành huyện Tam Sa, nhiều ngư dân Việt Nam đánh cá trong phạm vi lãnh hải này đã bị lính hải quân Trung Quốc sát hại, bắt giữ, cướp tàu thuyền và đòi tiền chuộc mạng, thì ông Lê Dũng, trước sau, chỉ tuyên bố lếu láo, qua quít một câu không ăn nhập gì với tình thế dầu sôi lửa bỏng của ngư dân Quảng Đà: «Việt Nam khẳng định có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa».

Trong thời gian con đen Việt Nam «đang treo trên đầu lửa đỏ» của bọn hải quân bá quyền Bắc kinh rất cần đến sự cứu giúp của đảng và nhà nước Việt Nam thì hệ thống tuyên truyền của đảng gồm 700 tờ báo, 67 đài hình, đài nói, hãng thông tấn quốc gia, đài truyền hình kỹ thuật số, 10 báo điện tử, 130 trang tin điện tử bỗng nhiên bị á khẩu, im hơi lặng tiếng một cách rất kỳ bí. Không một tin tức gì về ngư dân Quảng Đà bị lính Trung Quốc bắt, giết được loan tin. Kể cả ba tờ báo Hà Nội Mới, Công An nhân dân, An Ninh thủ đô luôn luôn cầm đèn chạy trước ô tô, kiêm nhiệm luôn nhiệm vụ của công an bắt người và định tội của tòa án, lần này cũng trốn biệt. Những cụm từ đao to búa lớn thường xuyên xuất hiện trên mặt báo trang nhất như: chính quyền xắn tay áo vào cuộc, lực lượng ta đón lỏng tóm trọn ổ, công an ta bắt khẩn cấp tại trận, pháp luật ta trừng trị thích đáng bọn phạm pháp, bọn tội phạm gục đầu nhận tội … cũng biến mất tăm luôn. Và đặc biệt bộ đội anh hùng ta, lực lượng công an anh hùng ta cũng lẫn như chuột vào bóng tối. Chẳng thấy có một chiếc tàu nào, một lính nào dám ra khơi cứu ngư dân đang bị bọn Tàu ô đuổi cướp, giết hại liên tục trên hải phận Hoàng Sa.

Vừa lúc ấy, Trung Quốc lại trưng ra bằng cớ là tờ công hàm của Thủ tướng Phạm văn Đồng đã ký dâng cho Thủ tướng Chu Ân Lai Trung Cộng, cộng nhận chủ quyền 2 quần đảo này thuộc Trung Quốc từ năm 1958 làm cho Lê Dũng cứng họng không trả lời được vì đã nói láo. Và cũng khớp mõm luôn Bộ Ngoại Giao và Bộ 4T không ú ớ được.

Bản photocopy "Việt Nam khẳng định có đầy đủ bằng chứng …" ông Lê Dũng không phải chỉ dùng đôi lần mà là luôn luôn. Cứ mỗi lần bọn Tàu phù chiếm thêm đất liền, lấn thêm biển của tổ quốc Việt Nam, ông Dũng lại lập lại nguyên văn không sai một dấu chấm, dấu phẩy, để rồi sau đó đất liền cứ mất, biển cứ mất, Tây nguyên cứ mất, nhân dân cứ bị bọn Tàu hiếp đáp.

Cũng phải thôi ! Chẳng trách cứ gì ông Lê Dũng được, bởi ông chỉ là cái lưỡi gỗ của Bộ Chính trị đảng CSVN bảo nói sao thì nói vậy, đố dám nói khác đi.

Và nhất là ông Lê Dũng này cũng giống ông Tấn Dũng kia, chẳng ai có tài ba, giỏi giang gì, cứ nhờ phe đảng đôn đẩy lẫn nhau, cứ thế mà lên.

Gặp hên thì lên như diều gặp gió như Ba Dũng tức Tưởng thú Nguyễn tấn Dũng.

Nay ông Lê Dũng sắp trở thành người đứng đầu của Tòa Lãnh sự quán Việt Nam tại Houston, Texas, quyền uy một cõi, rồi đây sẽ tha hồ hò hét, hô phong hoán vũ, người Việt tỵ nạn ở Houston sẽ có cơ xanh máu mặt với ông í chứ chẳng chơi !

Chớ Ông Lê Dũng, cái lưỡi gỗ của đảng là ai vậy? Gốc gác ra sao? Ông đã có thành tích gì ngoài việc xử dụng cái lưỡi gỗ sáu năm nay ở Bộ Ngoại giao một cách máy móc?

Ông Lê Dũng, theo lý lịch trích ngang, thì chẳng có chữ nào gọi là « nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương» cả.

Một trong những con chó sủa của Bộ Ngoại giao csVN tại Houston, Texas Lê Dũng
Lê Dũng sinh năm 1961.
1983 làm việc tại Bộ Ngoại Giao.
1984-1986: Đi nghĩa vụ, làm công tác thông tin.
1986: Về công tác lại tại Vụ Báo chí, Bộ Ngoại giao.
2003 đến nay: Vụ trưởng Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao, Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao.

Nhưng theo nhà báo Lê ngọc Sơn trong bài viết «Lê Dũng – Người phát ngôn may mắn «số 5» {HYPERLINK http://www.svvn.vn/vn/news/nhanvat/1401.svvn} thì, ông Dũng lớn lên nhờ bà mẹ có nghề may «áo nhỏ» (xú chiêng) nuôi nấng, cho ăn học. Lấy được vợ cũng nhờ mẹ sai đi mua chỉ rồi yêu luôn cô bán chỉ. Ông Sơn kết luận: «Thế mới hay áo xú chiêng, màn và chỉ cũng dệt nên mối tình đẹp».

Ngoài ra, ông Lê Dũng chẳng có tài gì đặc biệt ngoài việc đi mua chỉ cho mẹ may xú chiêng. Ông chỉ thích nấu cơm và dọn dẹp nhà cửa giúp bà xã và có lúc nhà báo Sơn đã được ông Dũng mời: ‘lúc nào rỗi mời Sơn đến nhà, anh nấu món rau muống xào và món tái dê để mời cậu’ …

Nhà báo Sơn cho biết, sở dĩ ông Dũng được chọn làm người phát ngôn cho đảng là vì ông nhờ cầm tinh con trâu. Tác giả chứng minh rằng nhiều vị trong cơ quan đảng nhờ sinh nhằm năm con trâu mà hanh thông đường hoạn lộ nhất là trong ngành môi miếng, miệng lưỡi.

Chẳng hạn như ông Vũ Khoan, sinh năm con trâu, tức năm Đinh Sửu, 1937, làm tới chức Thứ trưởng thường trực Bộ này. Rồi bà Hồ thể Lan, người phát ngôn nữ đầu tiên, cũng tuổi đó. Và ông Lê Dũng, 1961, đích thị là tuổi Tân Sửu.

Không biết hai ông Doãn trong Bộ 4T có sinh đúng năm con trâu không, mà blogger Đinh Tấn Lực ngày tối cứ réo tên xách mé hai ông này bằng cái câu « Doãn ơi ta bảo Doãn này » thay cho câu «Trâu ơi ta bảo trâu này» của bài học thuộc lòng trong sách Quốc Văn Giáo khoa thư lớp Đồng Ấu, nghe rất ngứa cái lổ nhĩ, mỗi khi hai ông đăng đàn đe nẹt, hù dọa giới cầm bút và giới blog độc lập phải biết cách «đi lề bên phải» để khỏi phạm húy mà bị tai bay vạ gió, búa rìu của đảng bủa xuống đầu, xuống cổ.

Cũng không biết ông nhà báo Lê ngọc Sơn này có ý xỏ xiên ông Vũ Khoan và ông Lê Dũng không, chứ theo Học Lạc thì con trâu chỉ có «trong bụng lam nham ba lá sách, ngoài cằm lém đém một chòm râu. Nghé ngọ già đời quen nghé ngọ» mà thôi.

Và điều đặc biệt hơn nữa là ông Lê Dũng được « trúng » chức vụ phát ngôn vào thế hệ thứ 5. Nhà báo Sơn nói rằng người Việt mê tín tin rằng số 5 là may mắn. Từ đó, người ta (?) thường gọi ông bằng cái tên thân mật là «Người số 5».

Té ra là do ông may mắn chứ chẳng phải tài cán gì. Hay không bằng hên là vậy.

Cũng theo ông nhà báo Lê ngọc Sơn tiết lộ cho biết, ông Lê Dũng tuy là ở thân phận «quan trên trông xuống, người ta trông vào» nhưng bản tính rất bình dân. Mấy người làm việc ở các Đại sứ quán nói đủ thứ về ông: Từng nhìn thấy ông Lê Dũng nhậu ở vĩa hè! Rồi ‘tớ thấy ông ấy cầm cái đùi gà ở một quán bia và vừa nhâm nhi vừa đọc thơ, vừa dzô với bạn bè’, thôi thì đủ kiểu. (Link dẫn trên)

Riếng đối với ông Sơn, thì lại hoàn toàn ngược lại: Anh bảo: ‘từ ngày làm phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao (2003) anh mất đi vẻ tự nhiên vốn có của mình, ăn nói dè dặt hơn, người phát ngôn là đại diện tiếng nói, hình ảnh của Bộ, tiếng nói một quốc gia, nên từ khi nhận nhiệm vụ này anh phải từ giả thói quen ngồi ăn bún gánh ở vĩa hè,uống một tách trà đá ở quán cóc cạnh ga Hà Nội …

Và Lê Dũng tâm sự: ‘Người ta sểnh nhà ra thất nghiệp, chứ mình sểnh miệng là ra thất nghiệp ngay, nhiều khi ‘vạ’ từ miệng mà ra, do vậy mỗi lời nói cần được ‘cân, đong, đo, đếm’ kỹ càng’.

Và ông Sơn tò mò đến việc Lê Dũng sẽ ứng xử thế nào với các câu hỏi khó của những phóng viên ‘lão làng’ của làng báo thế giới thì được Lê Dũng đưa ra một ‘bảo bối’ của nghề phát ngôn : « Nếu ông hỏi tôi 100 lần câu hỏi đó, tôi cũng sẽ nhắc lại với anh đúng 100 lần câu trả lời tôi vừa nói ».

Hèn chi, sợ sểnh miệng ra ăn mày, ông Lê Dũng cứ ‘sao y bổn chánh’ của BCT cho vào máy nói để sẵn, đúng lúc cứ bấm nút phát ra là chắc ăn như bắp hầm.

Có lẽ do cái sợ ‘vạ miệng’ hay ‘sểnh miệng’ mà từ ngày 24/8/09, bốn ngày sau khi được thăng chức Tổng Lãnh sự tại Houston, Texas, ông Dũng bay ngay sang gặp bà Betty Mc Cutchan nhân viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ở Houston để tìm địa điểm ‘thích hợp’ khánh thành Tòa Tổng Lãnh sự trong tháng 9/09, cho đến nay, 12/9/09, ngày viết bài này, ông vẫn ‘kín miệng, thủ khẩu như bình’, êm ru bà rù, không cho người Việt cư ngụ ở Hoa Kỳ nói chung, ở Houton nói riêng, biết địa điểm và ngày giờ khánh thành, để họ ‘hồ hởi phấn khởi’ hè nhau vài ngàn người chuẩn bị cờ quạt, chiêng trống, dàn chào, nhã nhạc ra sân bay đón rước ông và phái đoàn về tận Tòa Lãnh sự cho long trọng chu đáo.

Thế mới gọi là phải phép chứ. Sao kỳ vậy cà ?

Cứ theo như bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì: «Việc mở cơ quan Tổng Lãnh sự quán ở Houston sẽ tạo thêm cầu nối trực tiếp giữa cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ với trong nước, cũng như tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc giải quyết các vấn đề liên quan đến bảo hộ quyền công dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của các pháp nhân Việt Nam có mặt tại bang Texas. Tổng lãnh sự quán này sẽ góp phần bảo vệ lợi ích của cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ nhất là những người có các mối quan hệ thân tộc, đầu tư, buôn bán với trong nước.»

Đó là việc «thiên kinh địa nghĩa» của đảng ta lo cho «khúc ruột ngàn dặm».

Được đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam ở tận phía bên kia nửa vòng trái đất, ngày đêm quan tâm lo lắng cho sự an nguy, thịnh vượng ‘khúc ruột ngàn dặm’ của mình e bị bọn đế quốc bóc lột xương máu, phải thò cánh tay nối dài qua tận bên này để lập Tòa lãnh sự giúp đỡ, bảo vệ. Người Việt ở Houston nghe thấy, cảm động quá, đã mấy tuần lễ liền, cơm giỏ rượu bầu, trẻ già trai gái chia nhau tản mác, lùng sục khắp nơi trong thành phố Houston để tìm cho ra địa điểm của Tòa tổng lãnh sự mà chào đón, tung hê.

Nhất là nghe thêm tin anh Ba Dũng, người luôn yêu sự thật, đích thân đến cắt băng khai trinh vào giờ khánh thành nữa chứ ! Chao ôi! Vinh dự to lớn nào bằng !.

Nhưng, người Việt ở Houston đã vô cùng thất vọng và thất bại trong sự truy tầm tung tích ông vì ông Tổng lãnh sự đến giờ phút này vẫn bặt tăm, nhàn cá !

Ông Lê Dũng ơi ! Giờ này ông ở đâu ? Bến Hải hay Cà Mau? Làm ơn, làm phước chút coi !

Đáng lý ra giờ này, ông và tùy tùng phải trống rung, cờ mở rềnh rang, bắt loa đi khắp phố phường mà loa lên rằng cái sự «máu là máu Việt Nam, thịt là thịt Việt Nam, khúc ruột ngàn dặm thân yêu ôi ! Chúng tui đây nè ! Chúng tui đến để bắt tay bà con, ruột thịt xa cách 34 năm với trăm nhớ ngàn thương đây nè» ! mới phải điệu chuồn chuồn hay lý con sáo sang sông với chùm khế ngọt chứ !

Chắc là có cái gì không chính danh chăng nên phải bí mật, lén lút như thế ?. Thường thì danh đã không chính thì ngôn không thuận được.

Một dúm người Việt tỵ nạn đang cư ngụ ở Houston thì có gì đáng cho đảng csvn, đại diện là ông Tổng lãnh sự phải e ngại?

Hay phải chăng «vì là một tập đảng điêu ngoa bán nước hại dân chỉ biết đàn áp dân chúng thế cô trong nước nhưng lại quỵ luỵ với Trung cộng nên tin tức địa điểm Tòa Tổng Lãnh sự và ngày giờ khánh thành phải giấu nhẹm không cho người Việt ở Houston biết, sợ họ tổ chức Ngày Biểu Dương Lực lượng» để phản đối như thông báo của Ủy Ban Đặc Nhiệm Chống Tòa Lãnh Sự Cộng sản của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia và Phụ Cận thông báo ngày 03 tháng 9 năm 1009 đã viết?

Hay là ông Lê Dũng đã thuộc nằm lòng câu «kính nhi viễn chi» của các đồng sự đàn anh đi nhậm chức đại sứ ở các nước tự do hay các đoàn đại biểu của đảng và nhà nước mỗi khi « bị gậy » đi xin viện trợ, đã được «khúc ruột ngàn dặm» đón rước tận tình bằng hai món cà chua và trứng thối mà lánh mặt để gọi là «cẩn tắc vô áy náy» chăng?

Đàn anh của ông Lê Dũng đi làm đại sứ ở các nơi đã từng lập được nhiều kỳ tích, kỳ danh (chẳng phải kỳ công) như Đại sứ Mò Sò ở Mỹ, Đại sứ Sờ Mông ở Singapore, Đại sứ Sừng tê giác ở Nam Phi, đại sứ Trốn ngõ sau ở Nhật v.v… không biết lần này ông Tổng sự Dũng sẽ lập nên ‘quái tích’ gì đây ? Hãy chờ xem !

Riêng với người viết bài này, cứ mỗi lần có tin phái đoàn của đảng và nhà nước ta công du sang các nước đế quốc tư bản để ‘kêu gọi đầu tư’ vào Việt Nam (để cùng đảng ta ra sức bóc lột sức lao động của nhân dân Việt Nam đến tận cái lai quần) cứ lén lén, lút lút thậm thụt đi ngõ sau chứ chẳng có bao giờ dám ngang nhiên, đàng hoàng đi cửa trước cho nở mặt, nở mày xứng đáng là một nước độc lập, có chủ quyền, ngang vai bằng vế với các quốc gia khác trên thế giới, như Ngài Tổng bí thư họ Nông mới đây công du ở Úc, thì cứ cảm thấy xấu hổ quá chừng chừng.

Và cứ mỗi lần như thế thì lại nhớ đến câu chuyện tiếu lâm dân gian kể chuyện thằng ‘tỏn’ mà buồn cười.

‘Tỏn’ không phải là cái tên, một danh từ mà là một âm thanh, một tiếng động phát ra từ phía dưới hậu môn. Nói thô tục gọi là đánh địt hay còn gọi là đánh rắm.

Chuyện kể có anh chàng nọ, mỗi sáng sớm đều phải đến nhà hai chị em nhà kia ở làng bên để làm rể. Anh chàng muốn ngắm nghía cô em nên tỏ ra rất e dè và kính nể bà chị lắm lắm. Một hôm, anh đến sớm quá, trời còn tối mịt, nên phải ngồi ở cửa sau chờ trời sáng. Đúng lúc bà chị dậy sớm, ra sau đi giải. Anh chàng phải vội lẫn vào bụi rậm gần đấy để núp. Trong cảnh thanh vắng, cô chị cứ tưởng không ai nên cứ ‘vô tư’ tháo nước tồ tồ. Lại còn «hiệp đồng ba mũi giáp công như đảng ta đánh Mỹ» đánh rắm bộp, bộp … mấy cái, theo kiểu mấy bà nhà quê ví von chuyện đi buôn đương nhiên phải có lãi như chuyện ‘đi đái lại lời cái địt’. Anh chàng nghe, thấy, buồn cười quá, cố nhịn cười mà không làm sao nén được. Hơi trong bụng cứ cuồn cuộn, cuối cùng bất thần phát ra một tiếng ‘tỏn’ rõ to làm bà chị giật mình, vội kéo quần lên, quay lại thấy ông em rể tương lai đang nhấp nhổm trong bụi rậm, ngượng quá bèn đọc luôn câu thơ chữa thẹn:

- Chào chú ‘tỏn’ đến khi nao?
Anh chàng ở rể cũng ngượng không kém nhưng cũng cố gượng gạo trả lời:
- Dạ ! Em đến khi trăng hãy còn cao, nước trong khe nước chảy ào ào, ếch trong giếng ếch kêu oạp oạp.

Hy vọng rằng, ông Tổng lãnh sự tương lai Lê Dũng với một sứ mạng quan trọng đến Houston là để ‘tạo điều kiện liên quan đến việc bảo hộ quyền công dân, bảo vệ lợi ích của cộng đồng người Việt ở Mỹ…’ nên đường đường, chính chính, ưỡn ngực hiên ngang, phất cờ máu xốc tới, ngẫng cao đầu cho người biết mặt, chúa biết tên chứ đừng lén lén, lút lút, giấu tông tích như mèo giấu kít, thậm thò, thậm thụt ở cửa sau như cảnh anh chàng đi ở rể kia để đến khi người Việt ở Houston thình lình bắt gặp vặn hỏi:

- Chào chú ‘tỏn’ Lê Dũng đến khi nào? thì lúc ấy tình cảnh sẽ bẽ bàng biết bao.

Mong lắm thay!

Nguyễn Thanh Ty