Friday, August 28, 2009

Những chi tiết đằng sau vụ Radio SBS Úc châu cho phát thanh quảng cáo Đại nhạc hội "Tứ Đại Thiên Vương"

On Fri, 28/8/09, Viet Tran wrote:
From: Viet Tran
Subject: (xin nhờ phổ biến) NHỮNG CHI TIẾT ĐÀNG SAU VỤ SBS RADIO QUẢNG CÁO ĐNH "TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG"
To: "phonang"
Received: Friday, 28 August, 2009, 2:28 PM

Kính thưa quý vị,

Chúng tôi vừa mới tiếp xúc với ông Nguyễn thế Phong, Chủ Tịch CĐNVTD Liên Bang Úc Châu về sự việc chương trình Việt ngữ đài SBS quảng cáo cho ĐNH "Tứ Đại Thiên Vương".

Ông Nguyễn thế Phong đã cho chúng tôi biết những chi tiết như sau:
    1. - Ban Chấp hành CĐNVTD Liên Bang Úc Châu và tiểu bang Victoria, đã liên tuc. phản kháng với các cấp quản trị của Đài Phát Thanh SBS trong mấy ngày qua;

    2. - Các anh chị em trong Ban Việt ngữ SBS Radio cũng đã lên tiếng phản đối về sự việc này với Ban Quản trị,

    3. - BCH CĐNVTD nhận được sự hậu thuẩn từ quý vị thuộc Ban quản trị trung cấp SBS Radio;

    4. - Nhưng khi lên đến cấp TỐI CAO, ông ACTING MANAGING DIRECTOR của cả hệ thống SBS (TiVi lẫn phàt thanh), ông Richard Finlayson, thì ông này đã phủ quyết và CHO PHÁT THANH CÁC QUẢNG CÁO NÀY.

    (Ghi chú: Ông Managing Director, Shaun Brown, "người quen cũ" của cộng đồng người Việt tỵ nạn chúng ta thời VTV4, hiện không có mặt ở nước Úc )

    5. - Người được ông Richard Finlayson "tham vấn" là một nhân viên phụ trách về quảng cáo người Úc gốc Việt, ông Thắng Ngô, từng là một cựu Nghị viên thành phố Fairfield ở Sydney. Số điện thoại của ông Thắng Ngô ở SBS (Sydney) là 02-9430-2805

    6. - Vấn đề này hiện đang là một đề tài "nóng bỏng" trong cộng đồng người Việt chúng ta ở Melbourne. Đồng hương đang rất phẩn uất.

    7. - Ngoài việc goại điện thoại vào Đài SBS (03) 9949 2121 (Vietnamese), ông Nguyễn thế Phong còn đề nghị quý vị có thể gởi email phản đối trực tiếp đến địa chỉ của ông Richard Finlayson và ông Thắng Ngô.
Chỉ cần ngắn gọn đại khái như:

"I object to SBS Radio advertising for Tu Dai Thien Vuong concert in Melbourne on Friday 26/08 and Sunday 30/08/2009) " (về địa chỉ richard.finlayson@ sbs.com.au)

"Tôi phản đối việc đài phát thanh SBS quảng cáo cho chương trình Đại Nhạc Hội Tứ Đại Thiên Vương ở Melbourne vào thứ Sáu 28/8 và Chủ Nhựt 30/8/2009) (về địa chỉ thang.ngo@sbs.com.au).

Hưng Việt


"Us Is Back ..." Việt Nam "back" Không ? - Nguyễn Duy Thành


• Nguyễn Duy Thành


Để kiềm chế và cân bằng thế chiến lược trong chính sách đối ngoại sau 8 năm lơ là ở khu vực Đông Nam Á. Nay chính quyền Obama đã chính thức lên tiếng: "US is back to Asian". Vậy, Việt Nam có nên "Back" cùng Hoa Kỳ để tìm vận hội mới cho quốc gia và dân tộc, hay cố hữu duy trì sự lệ thuộc Trung Cộng.? Đây cũng là nội dung của bài phân tích và nhận định về những sự kiện chính trị nổi bật xảy ra gần đây, nhất là có sự liên quan đến mối quan hệ theo thế Tam giác của 3 quốc gia Việt Nam- Trung Quốc và Hoa Kỳ. Xin cảm ơn bạn đọc đang theo dõi và kính chào quý vị.

Cũng như cựu Ngoại trưởng Condolezza Rice. Bà Hillary Clinton hình như không có thời gian để ăn cơm nhà, bởi lịch trình công du dày đặc từ ngày nhậm chức Ngoại trưởng đến nay. Tất cả các cuộc công du của Bà đã toát lên một dấu hiệu "tống cựu nghing tân", nhằm đổi thay chiến lược từ đối đầu sang đối thoại, hay nói cách khác là chiến thuật cứng ngắc của cựu Tổng Thống Bush chẳng có một chút gì phù hợp với một người đàn bà đầy năng động, mềm dẻo và thông minh đang làm việc cho vị Tổng Thống da màu khá trẻ, sung sức và đầy nhiệt huyết dưới khẩu hiện muốn đổi thay nước Mỹ và cục diện chính trị của thế giới, cũng nên nhắc lại họ đã từng là đối thủ của nhau trong trận tranh giành cái "Long Sàng" , nhưng nay lại cùng "Song Kiếm Hợp Bích" để chống lại con Sư tử Trung Cộng đang nhe nanh muốn làm chủ loài người . Khả dĩ, phải ví von một chút sinh động như thế thì cũng đúng thôi, Bởi, hàng loạt quốc gia Châu Phi nồng nhiệt vổ tay để nghênh đón bà Ngoại trưởng Hoa Kỳ đến thăm. Người ta vui mừng là phải, bởi đã quá lâu dân tình của các xứ sở này đã chán ngán sự làm ăn bê bối, cẩu thả của các nhà đầu tư Trung Cộng, thậm chí người bản xứ Châu Phi còn bị đánh đập hành hung bởi công nhân của quốc gia khổng lồ này.

Điểm đáng chú ý hơn là cuộc viếng thăm của Bà Halliry Clinton đến Ấn Độ, ngoài việc ký kết các hợp đồng thương mãi và hạt nhân, có một Hiệp định kỹ thuật vũ khí của Hoa Kỳ bán cho Ấn độ sẽ không bị tiết lộ. Đây là một điều đã làm cho Trung Cộng không vui một chút nào, vì từ lâu hai quốc gia có số dân đông nhất thế giới, có cùng biên giới, có hục hặc với nhau về sự lưu vong của Đức Đạt La Đạt Ma mà văn phòng chính là ở Ấn Độ, và cả hai quốc gia này đang thi sức chạy đua quân sự trong lãnh vực Hải Quân.

Quan trọng hơn, ngày 22 tháng 7 năm 2009. Ngoại trưởng Hoa Kỳ đến dự Hội Nghị và ký kết Hiệp Ước Bất Tương Xâm với khối Đông Nam Á và chính thức tuyên bố "Tôi muốn gởi một thông điệp rằng Hoa Kỳ đã trở lại Đông Nam Á". Nhưng, chi tiết đáng chú ý hơn trong hội Nghị này, là Bà Halliry Clinton đã gặp riêng nguyên thủ của 4 quốc gia thuộc hạ lưu Sông Cửu Long như: Việt Nam, Thái Lan, Campuchia và Lào, thái độ gặp riêng các nước này nói lên điều gì? Một câu hỏi mà giới phân tích chính trị khu vực Đông Nam Á cần nghĩ tới , nhất là Việt Nam. Bởi, cơ chế phát triển Sông Mê Kông, bao gồm 4 nước nói trên thì có cả Miến Điện và tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, nhưng từ lâu Hoa Kỳ biết rõ Trung Cộng đã bất chấp và cố sức khai thác ở phần Thượng nguồn chỉ vì quyền lợi riêng, bỏ mặc sự sống chết của các quốc gia thuộc khu vực Hạ lưu. Nay Ngoại trưởng Hoa Kỳ gặp riêng như một dấu chỉ thầm thì với 4 quốc gia được để ý này, rằng- "Các anh hãy liên minh lại, chuyện gì xảy ra thì có tôi đây", đặc biệt trong 4 nước này thì có Việt Nam sẽ là Chủ tịch khối Đông Nam Á vào năm 2010. Cho nên, muốn thu phục các quốc gia trong vùng thì tốt gì hơn là Hoa Kỳ cần phải quan hệ chặt chẽ với Việt Nam!

Như thế, tổng kết một cách khái quát chung về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong nhiệm ký đầu của Tổng Thống Obama, một điểm sáng hiện lên để cho người ta dễ dàng nhận ra, là những chuyến bay quanh của Bà Ngoại trưởng nước Mỹ đã tạo nên một vòng vây nhằm thắt chặt lại, để khống chế sự vùng dậy rồi nhảy vọt của con Sư tử Trung Cộng, mà Việt Nam lại một lần nữa rơi vào tầm ngắm của Hoa Kỳ chọn làm điểm bờ kè để ngăn làn sóng kinh tế của Trung Cộng đang ào ạt đổ vào Đông Nam Á, hay nhấn mạnh một cách thật đậm để người Việt Nam dễ nhớ rằng: Trong thời chiến, Mỹ dùng Việt Nam làm nút chặn làn sóng Đỏ Cộng Sản. Nay trong thời bình, Hoa Kỳ dùng Việt Nam làm con Đê để cản làn sóng Xanh của Trung Cộng. Vậy, một câu hỏi thật lớn sẽ được đặt ra là:

Vốn quốc gia và dân tộc có nghiệp dĩ như thế, thì Lãnh đạo Việt Nam sẽ làm gì ???

Câu trả lời thuộc về giới cầm quyền Hà Nội. Nhưng tình hình chính trị Việt Nam đang có những biến động lớn, đã cho phép người ta đi đến một kết luận dễ dàng trong khả quan. Đó là đảng Cộng Sản Việt Nam không còn một con đường nào khác hơn, ngoại trừ một sinh lộ "độc nhất vô nhị" là phải bước qua cánh cửa của Hoa Kỳ đang mở ra. Tại sao? Vì :

- Còn phụ thuộc vào Trung Cộng thì đảng viên có khuynh hướng cầu tiến, cầu danh không thể vươn lên vì những thành phần cố hữu do Bắc Kinh đào tạo, từ đây sinh ra hàng loạt tư tưởng tiêu cực ngầm tạo thành vây cánh, phe phái, và trở thành khuynh hướng "Tự chuyển hóa" hay "Tự diễn biến" mà hiện nay Hà Nội cố sức phục hồi uy tín của đảng trở lại. Nhưng đã muộn, vì điểm hở của đảng không thể tự hàn đóng lại được, đó là sự kiện Hoàng Sa - Trường Sa và vụ Bauxite Tây Nguyên mà gần như Trung Cộng đang nắm chủ quyền. Đây chính là điểm chết của đảng mà thời gian chưa tiên đoán được lúc nào, là nhân dân sẽ động thổ hạ quan tài xuống huyệt, và chôn vùi đảng vĩnh viễn. Vì:

- Các Tôn giáo đã, đang, vàsẽ đấu tranh dưới hình thức cầu nguyện để đòi lại công lý và quyền lợi tự nhiên của giáo hội, hay phong trào dân oan đòi lại quyền tư hữu ..vv.. Tất cả mọi khó khăn này, giới cầm quyền Hà Nội có thể sử dụng biện pháp mạnh, hay phương cách khéo léo kể cả "ngoại giao" chìm hay nổi , nhằm hạn chế và chấm dứt mọi tình trạng xấu để kéo dài sự tồn tại của chế độ. Nhưng nhất định một điều Đảng CSVN không thể khống chế sự nảy sinh tranh đấu từ thành phần Ngư dân bị thất nghiệp trong tương lai, khi tàu thuyền của họ không thể xa bờ vì lệnh cấm của Trung Cộng, từ đây vì sự sống mà thành phần này sẽ đứng lên và kéo theo thành phần công nhân bị thất nghiệp, bất mãn vì công nhân Trung Cộng ngày một dồn sang, đồng thời tệ nạn xã hội như say sưa rượu chè, tranh giành trai gái, không tôn trọng người bản địa của công nhân Trung Quốc. Tất cả các điểm này nghĩ là nhỏ nhưng tác động đến tính tự tôn dân tộc của lớp trẻ Việt Nam. Đồng thời các tôn giáo, đảng phái, trí thức và mọi thành phần xã hội đều chuyển hướng tập trung vào một mục đích duy nhất là: Bài Trung Giải Cộng bằng những cuộc đấu tranh ôn hòa, khi đó Đảng CSVN chỉ có cách là ... tắt thở .. .. Liệu Đảng còn lấy cớ gì để đàn áp khi nhân dân quyết định hành động để: Giữ Nước? Không cần thiết để suy đoán hay cân lường về hậu quả gì sẽ xảy ra với các vị lãnh đạo. Vì 15 vị trong chính trị bộ cũng đã và đang tiên liệu được điều này. Cũng không cần đặt giả sử vì nó sẽ xảy ra trong tương lai gần .. .. và điểm này sẽ đụng chạm mạnh rồi làm tan vở mối quan hệ Trung- Việt. Như thế, sự lo ngại về sức kháng cự của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam sẽ như thế nào, nếu có một cuộc chiến không may xảy ra, dù là trên biển hay trên bộ? Vì:

- Duy nhất chỉ có quốc gia Hoa Kỳ là có thể cung cấp và tân trang vũ khí, phương tiện kể cả chiến thuật của chiến tranh hiện đại cho Việt Nam để đối đầu với sức mạnh của Trung Cộng hiện nay, điểm này giới quân sự Hà Nội biết rõ như ban ngày, vì mọi yếu điểm của vũ khí và chiến lược hiện có đều đã bị Trung Cộng biết rõ như lòng bàn tay. Xa hơn, trên đường lối ngoại giao để né tránh được viễn ảnh của một cuộc chiến tranh, cũng như thoát ra được quỷ đạo kiềm chế của Trung Cộng, thì duy nhất là cũng chỉ có Hoa Kỳ mới làm được điều này.

Qua phân tích và đưa ra 3 yếu tố căn bản để tạm thời kết luận rằng. Giới cầm quyền Hà Nội đang thật sự "Bí lối- Bế tắc", hay nói theo cách của người đang học môn phái Thiền thì não bộ của 15 vị trong bộ chính trị đang bị chứng: Tán Loạn Tâm, và đang tự hỏi nhau là làm sao trở về dạng: Nhất Tâm. Chà! Bài toán này xem ra rất khó giải, còn khó hơn là đang chơi bài "Tiến Lên" và phải ngồi "tay cuối", mà trong tay cầm 3 con 2, nhưng các tay trên đều chuẩn bị "tới" bài bằng cách đánh "Xảnh". Ố .. là la .. May quá .. khỏi .."thúi hẻo", đang lo "văng tim" ra ngoài thì có cú điện thoại báo là: Thượng Nghị Sĩ Jim Webb đến thăm. Chao ôi! Ngon chi lạ, còn hơn "Mèo mù gặp Cá rán".

Trên truyền thông đã có quá nhiều bình luận và phân tích về chuyến đi của vị Thượng Nghị Sĩ đẹp trai thích ăn nước mắm và đàn bà Việt Nam này, đã hé mở ra một câu hỏi nữa là:

- Liệu tiến trình quan hệ Việt- Mỹ xúc tiến nhanh không, để tránh được hiểm họa có thể là chiến tranh vũ lực ..vv.. xảy ra từ phía Trung Cộng chủ động?

Tạm thời có thể lý giải rằng, không quá nhanh như một số người Việt Nam phi cộng sản mong muốn. Bởi, lãnh đạo cả hai quốc gia Mỹ-Việt đều muốn thực hiện kế hoạch "từ từ lượm hoa rơi". Vì:

Phía Việt Nam: Bộ 3 tam đầu chế "Mạnh-Triết-Dũng" có thể đều đã bị "sập bẫy" của Trung Cộng. Cho nên, mọi xúc tiến trong ngoại giao với Hoa Kỳ không chỉ trong quá khứ, đặc biệt là hiện tại phải hết sức cẩn thận, khéo léo, kéo dài cho hết thới gian đương nhiệm, sau đó "phủi tay", giao cho người kế nhiệm. Khi đó xem như "huề cả làng", hay nói sát nghĩa hơn là chính họ cũng đang chờ tháng 1 năm 2011 tới mau để đại hội Đảng.

Phía Hoa Kỳ: Chuyện Biển Đông và Hoàng Sa- Trường Sa là tham vọng của họ, hay nói đúng hơn, Hoa Kỳ phải chen chân cho bằng được để vào Việt Nam, trước khi bước trên lộ trình Đông Nam Á mà họ đã vạch ra. Tuy nhiên, bài học chiến tranh Việt Nam trước đây đã dạy cho họ một sự khôn ngoan trong từng bước đi, nhất là đối với giới cầm quyền Hà Nội, điểm then chốt và căn bản để mở toang con đường ở đây, là hệ thống Tình báo của CIA chưa bám sâu, mọc rể thành Chân Rết trong giới quân sự Việt Nam, vì thế "dục tốc bất đạt". Bởi, xin bạn đọc cũng nên nhớ cho là từ năm 2000 trở lại đây, số lần gặp gở chính thức hay bán công khai của giới quân sự thuộc 2 quốc gia nhiều hơn, so các cuộc thăm viếng của nguyên thủ hay quốc hội hành pháp.

Ôi! Mọi sự còn dài và hấp dẫn, hồi sau sẽ rõ!

Để kết thúc bài báo này. Xin làm vui lòng bạn đọc bằng một câu chuyện dưới đây về cuộc hội kiến giữa TNS Jim Webb và các lãnh đạo Việt Nam như sau:

Tại Phủ Thủ Tướng, cả 3 ông Nguyễn Tấn Dũng- Nguyễn Minh Triết và Jim Webb đang trò chuyện thân mật. Bổng nhiên, ông Triết lấy cái rờ -mụt -cần -trâu bấm Tivi lên, đúng vào lúc hãng Truyền hình VTV1 đang phát đoạn phim 4 Nhà đấu tranh dân chủ đang nhận tội. Thấy vậy:

Jim Webb: Thủ tục pháp lý của các anh bây giờ nhanh thật, nhưng sao hôm nay các anh này lại có mặt trên Tivi?

Ông Triết: Quý Quốc phải hiểu ý chúng tôi là gì chứ! Nghĩa là chúng tôi sẵn sàng làm bạn thân với quý quốc, nhưng đừng bao giờ đi sâu vào chuyện nhà của chúng tôi.

Jim Webb: Không bao giờ! Đó là chuyện của quý quốc, chỉ cần chúng ta là bạn.

Ông Dũng: Vậy thì hay quá! Mời anh Jim uống trà Móc Câu .. à quên .. trà Móc .. Họng.

Jim Webb: Ngon thật! Lúc nào hai anh qua Mỹ, tôi sẽ mời các anh uống Bẹp .. Xì..

Ông Triết: Không phải! It is Pepsi . No .. No Bẹp .. xì. Anh nói tiếng Anh sai rồi.

Jim Webb: Oh! Your English is very .. Quẹo ..

Ông Dũng: Xin anh Jim nhớ cho. Tôi và anh Triết rất thích ăn Cà Rốt của Hoa Kỳ.

Ông Triết: Vâng, anh Jim cũng nhớ cho là cả hai chúng tôi không thích Cái Gậy.

Jim Webb: Tôi hiểu. Tôi sẽ chuyển lời của các Ngài đến Đại Ca: ÔLALA của tôi.

Vâng! Câu chuyện trên chỉ là "Phịa" thôi. Nhưng tiên đoán về đường hướng của 2 quốc gia Mỹ-Việt sẽ là như thế! Vậy, Hoa Kỳ sẽ giúp ích gì cho Việt Nam trong tương lai? Tầm quan trọng như thế nào? Và sự có mặt của Hoa Kỳ sẽ lợi hay hại cho công cuộc đấu tranh dân chủ hóa Việt Nam. Tất cả phần nhận định này sẽ được lên khuôn trong số Báo kỳ tới. Cũng cùng một Tác giả dưới tựa đề: "MỸ LÀ KẺ PHẢN BỘI. NHƯNG HÀ NỘI PHẢI CẦN TÊN PHẢN BỘI NÀY".

Trân trọng mời đọc giả tiếp tục theo dõi, và thân ái kính chào quý vị.

Nguyễn Duy Thành

Linh mục Nguyễn Văn Lý bất ổn sức khỏe trong lao tù Cộng Sản


Nhóm Phóng viên FNA Khối 8406
(Bản tin ngày 28-08-2009)


Ngày 24-08-2009 vừa qua, chị ruột của linh mục Nguyễn Văn Lý là bà Nguyễn Thị Hiểu và một cháu trai gọi linh mục bằng cậu ruột đã đến trại giam Ba Sao, Nam Hà thăm cha. Đây là cuộc thăm viếng sớm hơn thường lệ, vì lẽ ra phải là đầu tháng lẻ.

Linh mục Lý xuất hiện, chân đi hơi cà nhắc nhưng sắc mặt vẫn bình thường, trong bộ đồ tù sọc dưa mà ngài luôn cảm thấy khó chịu. Sau khi hỏi thăm gia đình bè bạn, cha nói ngay về tình hình sức khỏe bản thân, vốn đang bị cao huyết áp (xin xem lại bản tin ngày 13-07-2009). Vị tù nhân lương tâm cho bà chị biết nhiều điều mà trong chuyến thăm ngày 09-07, cha chưa nói:

“Hôm 13-05, đang đi lui đi tới trong căn phòng biệt giam chật hẹp, em tự nhiên thấy máu chảy đầy sàn nhà. Nhìn kỹ thì thấy máu xuất ra từ phần hạ thể, từ bàng quang. Toàn là máu bầm. Em kêu y tá bác sĩ. Họ liền tới xức thuốc và cho uống thuốc cầm máu. Vết thương nay đã lành. Ngày 25-05, em lại bị té trong phòng, lủng một lỗ nhỏ phía sau đầu. Trại cũng lại cho uống thuốc. Hôm 12-07, ba ngày sau chuyến thăm của gia đình, tự nhiên em cảm thấy tay phải và chân phải bị cứng đờ, không cử động được. Trại cũng cho uống thuốc chứ không chích. Thấy chuyện bất thường, ngày 14-07, em đã viết một lá thư, yêu cầu gia đình thăm đầu tháng 08. Vì tay không cử động bình thường, thành ra chữ viết rất nguệch ngoạc. Thấy chẳng có hồi âm, nên ngày 03-08 em viết thêm một lá thư nữa để gia đình biết. Lần này thì chữ viết đẹp hơn, vì phải cố gắng nhiều. Nay thì sức khỏe tạm ổn”. (xin xem hình chụp bức thư).

Bà Hiểu trả lời: “Lá thư ngày 14-07 của cậu, gia đình không nhận được. Còn lá thư viết ngày 03-08 thì mới nhận hôm 22-08. Trước đó, ngày 15-08, cháu Quyên (gọi cha Lý bằng chú, đi tu dòng Đức Bà Đi Viếng tại Huế) khi gặp cha Nguyễn Hữu Giải tại La Vang thì đã được cha cho biết sức khỏe của cậu không ổn và cha đã nhận được tin cấp báo này từ Hà Nội”

Linh mục Lý đáp: “Em mong từ nay được thăm nuôi hàng tháng để kịp thời thông báo về sức khỏe. Chị không đủ sức thì nhờ mấy đứa cháu. Rồi còn Tòa Tổng giám mục Huế nữa, vốn có trách nhiệm chính về em”. Đoạn cha Lý quay sang nói về chuyện khác: “Thời gian gần đây, em có yêu cầu trại để cho em có quyền chia sẻ đồ ăn thuốc uống cho các tù nhân nghèo khổ. Ban đầu trại không cho. Sau đó em tranh đấu: Nếu không cho phép tôi san sẻ thì những món quà gia đình gởi, tôi sẽ không nhận nữa, gởi trả lui hết. Là linh mục, tôi không có thể hưởng một mình được. Lương tâm của tôi không cho phép. Rất nhiều anh em tù nhân túng thiếu thức ăn thuốc uống trong trại này, tôi phải chia sẻ cho họ. Nay thì trại đã bằng lòng! Vậy xin gia đình ráng gởi ra đều đặn, để em có thể giúp cho những bạn tù không ai thăm nuôi giúp đỡ. Họ rất tội nghiệp. Nhà tù CS ra sao thì Chị biết rồi!”

Quay sang viên trung tá công an tên Nam, người đặc trách “quản lý” mình từ bao năm nay, cha Lý nói một cách thẳng thừng: “Các ông giết Đức cha Nguyễn Kim Điền là sai rồi, lộn rồi! Phải giết Nguyễn Văn Lý này mới đúng! Tôi nay như người bị bệnh Sida (Aids), hết thuốc chữa rồi. Các ông bắt tôi kiểm điểm 3 tháng một lần để mong tôi thay đổi tư tưởng! Có gì mà kiểm điểm, mà thay đổi chứ! Tôi kiểm điểm các ông, kiểm điểm nhà nước này thì có. Bao nhiêu điều sai lầm và tội ác, các ông đang phạm ở Tây Nguyên, ở Thái Hà, ở Tam Tòa ... Ngày nào ra khỏi đây, tôi sẽ tới những chỗ đó để hỗ trợ đồng bào, để tố cáo và phản đối tội ác của nhà cầm quyền Cộng sản …”

Kết thúc cuộc nói chuyện dài hai giờ (ở đây chúng tôi chỉ tóm tắt), bà Hiểu đã để lại cho ông trung tá Nam ba số điện thoại: một của Tòa TGM Huế, một của gia đình ở Quảng Biên, một của cô em họ tại Thừa Thiên, với lời dặn: “Em tôi có chuyện gì thì xin ông báo tin ngay để gia đình và Tòa Giám mục ra gấp. Cha Lý mà chết trong tù thì mấy ông chịu trách nhiệm đó!” Cha Lý cũng xin cho mình 3 số điện thoại ấy, phòng khi ra tù thì có thể liên lạc ngay được.

Trở về Huế, bà Hiểu và người cháu sáng ngày 27-08 lại đến Tòa TGM Huế, nơi bà đã ghé qua chiều ngày 23-08 để lấy bộ sách kinh cho cha Lý nơi linh mục Quản lý Nhà Chung. Bà mong gặp Đức TGM Nguyễn Như Thể để thông báo tình hình. Linh mục Quản lý cho biết Đức TGM đi vắng nên bà hãy đến gặp Đức Giám mục Phụ tá Lê Văn Hồng. Gặp ĐGM Phụ tá, bà Hiểu thẳng thắn nêu ra hai điểm:
    1. Xin Tòa TGM Huế yêu cầu nhà cầm quyền CS không được biệt giam cha Lý nữa. Việc biệt giam là một hình phạt kỷ luật trong nhà tù. Với tình trạng sức khỏe hiện tại, nếu tiếp tục bị biệt giam, cha Lý có thể lâm cơn nguy tử mà không ai biết, không ai cứu kịp.

    2.
    Tòa TGM có trách nhiệm chính đối với cha Lý, con cái của Giáo phận Huế. Gia đình đi thăm là chỉ vì lý do máu mủ thôi!. Với lại gia đình ở quá xa, không thể mỗi tháng đi thăm nuôi một lần. Đức Cha biết rồi đó, Ủy hội Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ, trong chuyến thăm cha Lý ngày 13-05-2009, đã chê rằng gia đình đi thăm nuôi cha Lý 2 tháng một lần là quá ít. Trong khi đó Tòa TGM mỗi năm chỉ thăm cha Lý một lần duy nhất”
    !?!
Đức Giám mục Phụ tá lắng nghe, ghi nhận ý kiến. Ta hãy chờ xem!

Bà Hiểu cũng cho biết là khi trở về nhà, bà sẽ làm đơn yêu cầu trại giam không được biệt giam linh mục Nguyễn Văn Lý nữa. Ta cũng hãy chờ xem!

Xin Đồng bào và Thân hữu quốc tế tiếp tục quan tâm theo dõi, thông báo và cầu nguyện cho sức khỏe của vị tù nhân lương tâm, biểu tượng đấu tranh bất khuất cho Dân chủ Nhân quyền và Tự do tôn giáo tại VN.

Nhóm Phóng viên FNA Khối 8406 tường trình theo lời kể của bà Nguyễn Thị Hiểu.

Huế ngày 28-08-2009, lúc 15g30

Thursday, August 27, 2009

Tự hào dân tộc! - Đặng thiên Sơn

Đặng thiên Sơn

Người Việt thường tự hào mình là một dân tộc có trên “Bốn Ngàn Năm Văn Hiến”. Nhưng, hỏi văn hiến là gì? Thì hầu như nhiều người, đặc biệt là thế hệ trẻ không tránh khỏi sự lúng túng khi giải thích về hai chữ này. Vì vậy, ý niệm về văn hiến chỉ là sáo ngữ và trở thành một thứ thông điệp là “nói để mà nói”. Người ta lúng túng có hai lý do. Thứ nhứt, vì không chịu tìm hiểu. Thứ hai, vì ý nghĩa của nó quá bao la, bát ngát. Vậy văn hiến (文 獻)là gì, nội dung ra sao?

Nếu văn hóa và văn minh có nguồn gốc từ phương Tây. Thì tại phương Đông khái niệm về văn hiến được nhắc nhở đến tại Trung Hoa và Việt Nam . Riêng ở Việt Nam , hai chữ văn hiến thường được nói đến từ khi xuất hiện trong bài “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi vào năm 1428 qua hai câu:

Như nước Ðại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.

Theo Chu Hy đời Tống, Trung Hoa giải thích thì văn là “điển tịch dã”. Còn hiến là “hiền dã”. Tức văn chỉ về “khuôn phép, trước tác, sách vở”. Còn hiến chỉ về những “nhân vật hiền tài”. Như vậy, văn hiến là văn hoá, sáng tạo và số lượng hiền tài của đất nước.

Nội dung của văn hiến biểu hiện trong đời sống con người qua các phương diện Văn hóa, Xã hội, Chính trị, Kinh tế. Những biểu hiện này thay đổi liên tục hết thế hệ này tới thế hệ kia theo từng thời kỳ mạnh, yếu của đất nước đã tạo nên lịch sử.

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
(Bình Ngô Đạo Cáo của Nguyễn Trãi)

Một cá nhân không hiểu lịch sử dân tộc mình sẽ ngại ngùng, bỡ ngỡ trước các dân tộc khác khi được hỏi tới. Điều này, có thể đưa đến sự chối bỏ nguồn gốc và dẫn tới một quyết định mù quáng.

Tại hải ngoại có nhiều người ra đường không dám nhận mình là người VN. Ngược lại, đã không hổ thẹn tự nhận mình là người Tàu, người Nhật, người Đại hàn. Trong khi lịch sử dựng nước, giữ nước của các dân tộc vừa kể không có gì hay ho đáng để tự hào hơn Việt Nam.

Trống Đồng Ngọc Lũ
Muốn tự hào về dân tộc, người ta phải hiểu được những thứ đáng để tự hào. Phải trang bị cho mình sự hiểu biết về lịch sử. Muốn được như vậy, thì phải hiểu kiến thức mỗi cá nhân không ai cho, không ai biếu, không ai tặng mà người ta phải tự mình tìm đến nó.

Là người Việt Nam khi hiểu được ý nghĩa các hoa văn khắc hình chim, gà, hươu và con người trên mặt

Trống Đồng Ngọc Lũ sau thế kỷ thứ 4 trước Tây lịch tiêu biểu cho sinh hoạt 4 mùa của muôn loài, là một quyển Âm Lịch kỳ diệu thì chúng ta mới hảnh diện được về văn hóa dân tộc.

Nếu biết thành Cổ Loa xây vào thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch đời vua An Vương Dương có 9 vòng xoáy trôn ốc từ trong ra ngoài với các hào, lũy kiên cố về mặt quân sự là tuyến phòng thủ chống ngoại xâm, về mặt xã hội là nơi cư trú của người dân và về mặt văn hóa là trình độ sáng tạo của con người. Thì thành Cổ Loa xứng đáng là một kiến trúc độc đáo của nhân loại. Bởi vì, đem so sánh với Kim Tự Tháp của Ai Cập xây vào năm 2770 trước Tây lịch tuy có nền kiến trúc văn minh cổ đại, nhưng chỉ là mồ chôn của các vua chúa. Hay Vạn Lý Trường Thành đời nhà Thương do Tần Thủy Hoàng xây vào thế kỷ thứ 2 trước Tây lịch là một công trình, nhưng chỉ là con đường dài ngoằn ngoèo băng qua các đỉnh đồi.

Cổ Loa thành xây vào thế kỷ thứ 3 trước
Tây lịch đời vua An Vương Dương
Phải thấy lý tưởng chiến đấu của Hai Bà Trưng, mới tự hào dân tộc VN đã có người phụ nữ lãnh đạo đất nước đầu tiên trên thế giới vào năm 40 sau Tây lịch.

Đem so với nữ hoàng Ai cập Cleopastra nối ngôi vua cha vào năm 51 trước Tây lịch hay đời nhà Đường năm 690 có Võ Tắc Thiên, đời Mãn Thanh năm 1835 có Từ Hy Thái Hậu. Và đối với lịch sử cận đại Anh quốc có nữ hoàng Elizabeth Alexandra Mary, có thủ tướng Margaret Hilda Thatcher; Phi luật Tân có tổng thống Maria Cojuangco Aquino, TT. Macapagal Arroyo và Đức quốc có bà thủ tướng Angela Merkel. Thì những người đàn bà vừa kể, không ai thể hiện được tinh thần quốc gia dân tộc với bốn chữ “ Nợ nước, tình nhà”.

Khi nhận ra được trận thủy chiến của Ngô Quyền vào năm 938 và Trần Hưng Đạo vào năm 1288 trên sông Bạch Đằng với quân Nam Hán, quân Nguyên bằng tầm vong, cọc sắt là sự phối hợp và vận dụng thủy triều một cách khoa học có một không hai của nhân loại, và vào năm 1786 chỉ trong vòng bảy ngày vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã đánh đuổi quân Mãn Thanh đông gấp mấy chục lần ra khỏi bờ cõi, mới tự hào mình là dân Việt Nam.

Những chiến công và tinh thần chiến đấu bảo vệ tổ quốc của tiền nhân vừa kể. So với những trận đánh với vủ khí cận đại khi người Anh ca tụng tướng Bernard Montgomery, người Mỹ ca tụng tướng George Smith Patton, người Pháp ca tụng tướng Charles De Gaule thời đệ nhị thế chiến về “Trận chiến huyền thoại Normandy 1944”,thì những người này vẫn không sánh bằng.

Nhìn lại dân tộc VN , với hơn 1.000 năm bị Tàu đô hộ và 100 năm bị thực dân Pháp cai trị, nhưng bản sắc dân tộc vẫn còn. Chúng ta không mất gốc, không bị đồng hóa và còn xuất sắc hơn nữa là đã có được một tiếng nói riêng độc đáo. Đặc thù này so với các dân tộc Nam Mỹ như: Mễ, Ba Tây, Á Căn Đình v.v… họ chỉ bị Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đô hộ chưa đầy 100 năm đã mất gốc, tiếng nói không còn. Vậy thì tại sao chúng ta không tự hào về dân tộc của mình?

Hai Bà Trưng
Người Việt tỵ nạn cộng sản nếu không hiểu rõ lịch sử lá cờ vàng ba sọc đỏ, là sự chuyển hóa nối tiếp của lá cờ dân tộc với “quẻ càn” có nền vàng từ năm 1802 đời nhà Nguyễn, chớ không phải là quốc kỳ của thời đệ nhứt, đệ nhị VNCH.

Thì làm sao đủ thuyết phục người nghe, khi muốn triệt hạ lá cờ nền đỏ sao vàng của đảng CSVN bán nước xuất hiện năm 1930, đang áp đặt lên dân tộc Việt Nam.

Người Mỹ không chấp nhận lá cờ “Con Voi Trắng” của đảng Cộng hoà hay “Con lừa ” của đảng Dân chủ là quốc kỳ của mình. Họ chỉ công nhận lá cờ hiện nay có tiểu sử từ 13 ngôi sao (thirteen colonies) đến 50 ngôi sao tượng trưng cho 50 tiểu bang kể từ ngày lập quốc vào năm 1776. Thì phải hiểu người Việt Nam tỵ nạn CS tại hải ngoại không chấp nhận lá cờ máu của đảng CSVN là điều đương nhiên.
Thủy chiến
Việt Cộng gian ác đang ngụy tạo lịch sử dân tộc. Chúng cho rằng vua Hùng có công dựng nước, nhưng người có công giữ nước là Hồ Chí Minh. Đây là một sự man trá trắng trợn không thể tha thứ được. Do đó, kiến tạo niềm tự hào để trả sự thật cho lịch sử là điều cần thiết đối với mọi thế hệ. Đặc biệt là thế hệ trẻ, những người đang trên đường thay thế cha, thay thế anh trong sự nghiệp xây dựng cộng đồng VN hải ngoại và chuẩn bị kiến tạo một nước Việt Nam độc lập, tự do không cộng sản tại quê nhà.

Với quá trình dựng nước và giữ nước qua bao thăng trầm, dân tộc Việt Nam vẫn trường tồn. Điều này, phải chăng đã cho thấy chúng ta nhờ có truyền thống “mấy ngàn năm văn hiến” ? Nếu thừa nhận và coi đó là tài sản quí báu của cha, ông để lại thì đây không phải là điều chúng ta ngẫng mặt tự hào hay sao?

Đặng thiên Sơn (26/08/09)

Tài liệu tham khảo:

- Việt Nam Văn Minh Sử của Lê Văn Siêu
- Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim
- Bách Khoa Toàn Thư (Wikipedia)