Thursday, August 20, 2009

Nói về một bài viết trên tinparis.net - Đinh Lâm Thanh

Đinh Lâm Thanh

Có nhiều chiến hữu, bạn làng văn cũng như độc giả đã hỏi nhiều lần về sự liên hệ cá nhân tôi với Tinparis.net cũng như nhóm Lý Trần Lê Nguyễn Paris. Tôi xin phép trả lời như sau: Đối với nhóm lytranlenguyen.paris thì tôi không rõ cho lắm nên không có ý kiến. Nhưng với tinparis.net, vì trong danh sách kèm theo ở cuối bài có tên tôi, vậy xin phép nói rõ mối liên hệ giữa tôi với ông Hứa Vạng Thọ, webmaster trang báo điện tử Tinparis.net. Đồng thời xin trình bày nguồn gốc bản danh sách do ông Võ Văn Ái đưa ra trên trang web Quê Mẹ đã gây ồn ào trên các diễn đàn mấy ngày qua.

Cá nhân tôi và ông Hứa Vạng Thọ là bạn với nhau từ trước và cho đến giờ nầy. Tình bạn với nhau không có gì thay đổi nhưng chủ trương làm báo (điện tử) và đường lối tranh đấu chống đảng cộng sản việt gian cũng như thành phần tay sai của chúng tại hải ngoại thì mỗi người có một phương cách riêng. Do đó đã gần một năm nay không còn bất cứ bài viết nào của tôi đăng trên trang web tinparis nữa. Tôi tôn trọng tinh thần dứt khoát chống cộng và lề lối tranh đấu của từng mỗi cá nhân, miễn là mục đích cuối cùng là đảng cộng sản việt gian phải bị giải thể …..

Nhưng khi tinparis.net đưa ra một danh sách copie nguyên văn từ trang web Quê Mẹ - trong đó có tôi - và cho đó là "Danh Sách Dự Đoán" sẽ được cộng sản mời về Việt Nam họp trong tháng 11 nầy thì đây là một lối chơi chữ rất nguy hiểm và cần phải lên tiếng. Tôi quen thân và xác nhận tinh thần chống cộng triệt để của nhiều vị trong các cộng đồng, hội đoàn cũng như cá nhân trên danh sách của ông Võ Văn Ái. Vì vậy khi dùng danh sách nầy để đưa vào một bài tham luận chính trị hay một bản tin tức với những "nghi vấn" "giả dụ" thì chẳng khác nào bài báo đã làm lợi cho cộng sản và góp tay vào việc gây rối cộng đồng. Xin ông Hứa Vạng Thọ hãy bình tĩnh xem lại việc làm của mình có đúng không ? Tôi không xác định trong danh sách của ông Võ Văn Ái hoàn toàn 100% là người quốc gia chân chính và chắc chắn có một vài người sẽ lộ mặt ra sau tháng 11 nầy. Tuy nhiên không vì thế mà đưa cả một tập thể chống cộng trên thế giới vào một hỏa mù, tạo hoài nghi cho tập thể người Việt Tự Do.

Nguồn gốc bản danh sách của ông Võ Văn Ái : Ngày Thứ Bảy, 11 tháng 4 năm 2009, do lời mời của Văn Phòng Liên Lạc Các Hội Đoàn tại Paris, khoảng gần 50 người đã đến tham dự để theo dõi báo cáo tình hình chính trị trong ngoài nước cũng như kiểm điểm những hoạt động đã qua và nghe thông báo chương trình sinh hoạt của văn phòng liên lạc trong những ngày sắp đến. Trong dịp nầy có ông bà Võ Văn Ái tham dự và ông Võ Văn Ái đã lên diễn đàn kêu gọi tất cả những người quốc gia ủng hộ một cách tổng quát chương trình biều tình bất bạo động của Hòa Thượng Thích Quảng Độ. Dịp nầy, Văn Phòng Liên Lạc kêu gọi, thông báo và lập danh sách để mướn xe cho những ai muốn tham dự ngày biểu tình 08.5.2009 tại Genève là ngày LHQ đòi cộng sản Việt Nam phải trả lời vấn đề nhân quyền trước thế giới. Với một tinh thần chống cộng nhiệt thành, gần như những người tham dự ngày đó, nghe đến giáo hội Phật Giáo Việt Nam đã nhúng tay vào công cuộc tranh đấu chung của toàn dân thì ai cũng vui mừng và nôn nóng nhập cuộc. Tối ngày 11.04.2009, một danh sách được Văn Phòng Liên Lạc thành lập và gởi đến cơ sở Quê Mẹ của ông Võ Văn Ái. Việc ủng hộ một hành động nào đó có tính cách chống cộng như thư gởi LHQ, tuyên ngôn chống CSVN …vân…vân… thì các đảng phái, hội đoàn cũng như cá nhân người Việt hải ngoại đã làm từ trên ba chục năm nay. Như vậy việc ủng hộ chương trình chống cộng của Hòa Thượng cũng xảy ra theo chuyện bình thường. Tôi mong rằng những ai vạch lông tìm vết trong chương trình của Hòa Thượng để rồi cho rằng những người ủng hộ Hòa Thượng Thích Quảng Độ là ủng hộ Đại Hội Việt Kiều Hoà Giải Hòa Hợp của cộng sản. Hơn nữa khi đăng lại bài viết, bóp méo sự việc bằng hình thức chơi chữ thì đúng là hành động của những nhóm đánh phá cộng đồng.

Theo tinh thần buổi họp ngày 11.04.2009, xem như ông Võ Văn Ái đứng đầu tàu ngày biểu tình tại Genève 08.05.2009. Nhưng kể từ ngày 11.04.2009 đến hai tuần sau đó, ông Võ Văn Ái không một văn thư, không trao đổi cũng như thông báo một tin tức chính thức gì với Văn Phòng Liên Lạc về ngày biểu tình. Các đoàn thể người Việt tại Paris không thể chờ đợi hành động "đem con bỏ chợ" của ông Võ Văn Ái nên đã có một buổi họp tại nhà Bác sĩ Lê Quang Thuận tối 28.4.2009 tại Paris 13. Trong lần họp nầy cả ông bà Võ Văn Ái đều vắng mặt, các đoàn thể tại Paris phải bầu ra một ủy ban gồm 4 người nằm trong các đảng phái và hội đoàn lớn để tự tổ chức : từ di chuyển, y tế, ăn uống và an ninh nội bộ cho buổi chào cờ tại Genève.

Tối Thứ Năm 05.05.2009, một buổi họp tại nhà ông Bà Võ Văn Ái (ngoại ô Paris), ngoài sự hiện diện của ông bà chủ nhà, cá nhân tôi và 4 vị trong ban tổ chức biểu tình tại công trường Place des Nations ở Genève ngày 08.05.2009. Dịp nầy ông Võ Văn Án cho biết ông có 33 hội đoàn ủng hộ lời kêu gọi của ông về chương trình của Hoà Thượng Thích Quảng Độ. Nhưng một vị trong 4 người của ban tổ chức không đồng ý, vì vị nầy không có xác nhận gì với ông Võ Văn Ái mà hôm nay có tên trong danh sách thì ông Võ Văn Ái cho biết, ông chỉ trò chuyện với vị đó cũng như những người trong hội đoàn khác qua điện thoại mà thôi ! Tôi thấy danh sách các đảng phái hội đoàn nầy hơi mập mờ, vì chỉ nói chuyện thăm hỏi qua điện thoại chứ không phải một hình thức xác định như những văn bản có tính cách pháp lý được ký nhận qua internet. Như vậy xử dụng danh sách do ông Võ Văn Ái đưa ra để đánh phá cộng đồng là một điều thiếu yếu tố căn bản và có thể vướng vào lãnh vực pháp lý.

Thật ra những người có tên trong sách của ông Võ Văn Ái chẳng một ai bận tâm về bài viết của ông Tuấn Phan. Nhưng khi ông Hứa Vạng Thọ đưa lên trang báo điện tử qua mục tin tức hay dưới dạng một bài bình luận thì câu chuyện trở lại chuyển qua một vấn đề khác. Vậy xin thưa với ông Hứa Vạng Thọ, tôi tin ông là một người chống cộng đến độ cực đoan, nhưng tại sao ông lại đưa bài nầy phổ biến trên cơ quan truyền thông ?

Theo tôi biết, việc ủng hộ một hành động nào đó có tính cách chống cộng…như thư gởi LHQ, tuyên ngôn chống CSVN bán nước … vân vân thì các đảng phái, hội đoàn cũng như cá nhân người Việt hải ngoại đã làm từ hàng chục chục năm nay. Như vậy ủng hộ chương trình chống cộng của Hòa Thượng cũng xảy ra như một chuyện bình thường. Tôi mong rằng những ai vạch lông tìm vết trong chương trình biểu tình bất bạo động để rồi cho rằng những người ủng hộ Hòa Thượng Thích Quảng Độ là ủng hộ Đại Hội Việt Kiều về Hoà Giải Hòa Hợp là tay sai của cộng sản và sẽ được cộng sản mời về tham dự hội nghị do Hà Nội tổ chức. Hơn nữa bóp méo sư việc bằng hình thức chơi chữ thì đây đúng là hành động của nhóm người đánh phá cộng đồng hay đây là một hành động "hướng dẫn" và "dọn đường" để cho cộng sản chơi trò ma giáo sau nầy bằng danh sách giả mà trong đó những người chống cộng kiên trì nhất thì lại đứng đầu trong danh sách 650 người ????

Tôi viết bài nầy không ngoài mục đích báo trước cho tập thể người Việt tự do hải ngoại rằng chuyện có thể xảy ra là ông Tuấn Phan sẽ cắt xén chắp vá để tung ra những danh sách giả, trong đó sẽ có rất nhiều khuôn mặt chống cộng tích cực hiện nay. Xin đừng ngạc nhiên.

Danh sách dưới đây đã được Tinparis.net lấy theo tài liệu của Quê Mẹ và bài viết cúa ông Tuấn Phan. Bà Tôn Nữ Hoàng Hoa, Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Hành CĐVNHK – VACUSA phổ biến lại trên internet ngày 20.08.2009):

- Cộng đồng Người Việt Quốc gia Tacoma, Hoa Kỳ
- Cộng đồng Việt Nam Nam California, Hoa Kỳ
- Cộng đồng Việt Nam Hoa Kỳ
- Cộng đồng Người Việt Quốc gia Dallas, Hoa Kỳ
- Cộng đồng Người Việt Quốc gia Fort-Worth, Hoa Kỳ
- Cộng đồng Việt Nam Thống hợp Georgia, Hoa Kỳ
- Cộng đồng Người Việt Quốc gia Michigan, Hoa Kỳ
- Cộng đồng Người Việt Quốc gia Houston, Hoa Kỳ
- Cộng đồng Người Việt Quốc gia Austin, Hoa Kỳ
- Cộng đồng Việt Nam New Hampshire, Hoa Kỳ
- Cộng đồng Việt Nam Bắc California, Hoa Kỳ
- Cộng đồng Người Việt Pomona, Hoa Kỳ
- Cộng đồng Người Việt Quốc Gia San Antonio, Texas, Hoa Kỳ
- Cộng đồng Người Việt Tự do Úc châu, với 9 chữ ký của các vị Chủ tịch Chủ tịch Ban chấp hành (BCH) Liên bang: Ô. Nguyễn Thế Phong; Chủ tịch BCH/New South Wales: Luật sư Võ Trí Dũng ; Phó Chủ tịch BCH/ Victoria: Ô. Nguyễn Văn Bon; Chủ tịch BCH/ Queensland: Bác sĩ Bùi Trọng Cường; Chủ tịch BCH/South Australia: Ô. Ðoàn Công Chánh Phú Lộc; Chủ tịch BCH/Australien Capital Territory: Ô. Lê Công; Chủ tịch BCH/Western Australia: Ô. Phạm Lê Hoàng Nam; Chủ tịch BCH/Northern Territory: Ô. Lê Tấn Thiện; Chủ tịch BCH/Wollongong: Bà Trần Hương Thủy.
- Cộng đồng Việt Nam Tị nạn Cộng sản tại Hòa Lan.

Các Đảng phái, Tổ chức, Hội đoàn, Nhân sĩ, ghi theo thứ tự thời gian ký tên, gồm có: Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tổng Bí Thư Trung Ương, Lê Thành Nhân; Khối Lập Trường Chung, Ðại diện: Hoàng Ðạo Thế Kiệt; Đại Việt Quốc Dân Đảng, Chủ Tịch Ban Chấp Hành Trung Ương: Trần Trọng Đạt; Đoàn Thanh Sinh Phó Đức Chính, Đại diện: Ngãi Vinh; Đoàn Thanh Niên Hùng Việt, Đại diện: Nguyên Thanh; Phong Trào Tự Do Việt Nam, Chủ Tịch: Nguyễn Phục Việt; Đoàn Thanh Niên Dân Tộc Việt, Đại diện: Nguyễn Tuấn Việt; Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Nam California: TM Khu Hội Phạm Văn Thanh; Lực Lượng Chống Cộng và Tay Sai: TM ông Ngô Doãn Tiên; Ủy Ban Đoàn Kết Chống Cộng Nam California: Chủ Tịch ông Phạm Ngọc Hợp ; Đài Phát Thanh Diễn Đàn Chống Cộng Nam CA: Ông Thái Hiến; Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Tacoma, Washington State, chủ tịch Bác Sĩ Nguyễn Xuân Dũng; Hội Cứu Trợ Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hoà tiểu bang Washington State, chủ tịch Nguyễn Văn Thảo; Cộng Đồng Việt Nam Nam California, Hoa Kỳ, Chủ Tịch Bác Sĩ Nguyễn Xuân Vinh; Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam, Los Angeles Hoa Kỳ, Chủ Tịch Nguyễn Văn Quý ; Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam, Hawaii Hoa Kỳ, Chủ Tịch Ngô Xuân Tâm; Trần Hưng Đạo Foundation Seatle Washington State, Đại Diện ông Bùi Đức Ly; Mục Sư Ngô Đắc Lũy-Quản Nhiệm Hội Thánh Tin Lành của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại Cambodia- Cố Vấn Chi Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt nam tại Cambodia ; Nguyễn Phùng Phong - Cựu Tù Trại A20 Xuân Phước Đồng Xuân, Phú Khánh-Chi Hội Trưởng Chi Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam Tại Cambodia; Đỗ Hữu Nam Chi Hội Phó Chi Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam tại Cambodia - Chủ Tịch Trà Đàm Dân Chủ Việt nam; Đại Đức Thích Giác Luân - Thư Ký Chi Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam Tại Cambodia ; Cộng Đồng Việt Nam Hoa Kỳ, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu Trung Ương/CĐVNHK: Nguyễn Văn Tần - Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Hành Trung Ương/CĐVNHK: Nguyễn Bác Ái - Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát /CĐVNHK: Bs Trương Ngọc Tích; Bình Bảo Giang - Tổng Thư Ký Chi Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Trại A20 Xuân Phước - Đồng Xuân Phú Khánh-Hiện Thường Trú tại Denmark; Cộng Đồng Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản Hoà Lan, chủ tịch Nguyễn Liên Hiệp; Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Dallas - Thái Hóa Tố, Chủ Tịch; Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Fort Worth, Texas - Nguyễn Xuân Hùng, Chủ Tịch; Cộng Đồng Việt Nam Thống Hợp Georgia - Ngô Thanh Lâm, Chủ Tịch; Đoàn Thanh Niên Hồn Việt - Nguyễn Đình Nhu, Đoàn Trưởng; Nhóm Liên Hướng - Lê Minh Lương, Nhóm Trưởng; Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Michigan, Hoa Kỳ, Chủ Tịch Phạm Văn Thanh; Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa/Hải Ngoại Trung Tâm Điều Hợp vùng Đông Nam Hoa Kỳ, Nguyễn Hũu Cang, Trung Tâm Trưởng; Phong Trào Hải Ngoại Yễm Trợ Quốc Nội Vùng Dậy (Anh Quốc), Đại Diện Ngô ngọc Hiếu ; Nhóm Tranh Đấu Dân Chủ Âu Châu, Đại Diện Nguyễn Phước Thành; Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Vùng Houston, Texas, Chủ Tịch Hoàng Duy Hùng; Hội Phụ Nữ Người Việt Quốc Gia, Chủ Tịch Bà Nguyễn Ngọc Hoa; Ủy Ban Xây Dựng tượng Đài Việt Mỹ, Westminster California, Hoa Kỳ, Luật Sư Nguyễn Văn Giỏi - Bà Judy Huệ Phạm-Lê - Ông Hồ Ngọc Minh Đức; Đoàn Phật Tử An Lạc Phụng Sự, Đại Diện Hoàng Văn Phong; Thanh Niên Cờ Vàng, California, Đại Diện Phục Nguyễn; Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam New Jersey, Chủ Tịch Nguyễn Tường Thược; Việt History Project, Đại Diện Thạc Sĩ Micheal Đỗ; Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia San Antonio, Texas, Quyền Chủ Tịch Tiến Sĩ Phan Văn Trọng - Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn: Cựu Đại Tá Đỗ Ngọc Nhận; Hội Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hoà, Austin Texas, Chủ Tịch Thạc Sĩ Đỗ Văn Phúc; Nguyệt San Tiếng Việt, Chủ Bút Tiến Sĩ Phan Văn Trọng; Nguyệt San US Viet Times, Chủ Bút Hưng Quốc; Tạp Chí Dân Văn, Đức Quốc Chủ Nhiệm Lý Trung Tín ; Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Tại Austin, Texas - Chủ Tịch Phan Vũ Thụy; Đoàn Thanh Niên Yêu Tự Do, Đại Diện: Hà Nội: Nguyễn Tiến Dũng, Phạm Quốc Hiền - Sài gòn: Hoàng Huy Cường, Phạm Tuấn; Phong Trào Đấu Tranh Đòi Tự Do Tôn Giáo và Nhân Quyền cho Viêt Nam, Lê Tự Hà Tổng Thư Ký; Hội Đồng Dân Quân Cứu Quốc, Đại Diện Nguyễn Văn Ba; Đại Diện Nhóm Anh Em Sinh Viên, Thanh Thiếu Niên cùng Nhóm Cựu Thiếu Sinh Quân vùng Đông Bắc Hoa Kỳ (Reading, Allentown, Easton, Quakertown, và những vùng lân cận thuộc tiểu bang Pennsylvania): Nguyễn Văn Phong - Đỗ Hoàng - Trần Hoài Vũ - Nguyễn Văn Ái - Nguyễn Quốc Minh ; Cộng Đồng Việt Nam New Hampshire, Hoa Kỳ, Chủ Tịch Cao Xuân Khải; Cộng Đồng Việt Nam Bắc California, Nguyễn Ngọc Tiên, Chủ Tịch; Cộng Đồng Người Việt Pomona Valley, Califirnia, BS Võ Đình Hữu, Chủ Tịch;

Cá Nhân: Nhân sĩ Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh: Ông Nguyễn Nu; Đức Mai, Lan Phạm, Nguyễn Thanh, Phạm Sơn, Tommy Mai: 2219 E. Santa Clara Ave #E, Santa Ana CA 92705; Bà Nguyễn thị Bảy, bút hiệu Việt Dương Nhân - Paris Pháp Quốc ; Bà Mélanie Horowitz, Paris Pháp Quốc; Cô Nguyên Dung, thành viên Mạng Lưới Nhân Quyền, California Hoa kỳ; Trần Tiên, tại Việt Nam; Đặng Tiến Dũng, thành phố Bergen Na Uy; Nguyễn Văn Bảo, thành phố Frankfurt Đức; Nguyễn Hùng Lân, Offenbach Germany; Nguyễn Cẩm Thúy, Offenbach Germany; Nguyễn Phúc Khang,Offenbach Germany; Nguyễn Tư Mỹ, Offenbach Germany; Hoàng Tôn Long, Frankfurt Germany; Lê Quang Kế, Westerkwartier 34, 5235 JL Den Bosch, Nederland; Lê Hoàng Long, Austin Texas Hoa Kỳ; Lê Linda, Tiểu bang Connecticut Hoa Kỳ ; Cô Trần Kim Anh, Los Angeles California; Tiến sĩ Lê H. Hải, Austin Texas Hoa Kỳ. Ô. Nguyễn Quốc Nam, Chủ tịch Ủy Ban Chấp Hành Liên Minh Dân Chủ Việt Nam; Ô. Nguyễn Bắc Ninh, Đại Việt Cách Mạng Đảng; Bà Nguyễn Thị Kim Nhung, Đại Việt Quốc Dân Đảng; Ô. Trần Kỉnh Thành, Việt Nam Canh Tân Cách mạng Đảng; Ô. Trần Minh Ran, Tổ chức Phục Hưng; Ô. Võ Văn Ái, Chủ tịch Quê Mẹ: Hành Động cho Dân Chủ Việt Nam & Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam; Bác-sĩ Phan Khắc Tường, Chủ tich Cộng Đồng người Việt Quốc Gia Tự do tại Pháp; Nhà văn Đinh Lâm Thanh, Chủ tịch Hội Văn Hoá Người Việt Tự Do; Ô. Nguyễn Trắc Việt, Hội Thanh Thiếu Niên Viêt Nam taị Paris; Ô. Đặng Vũ Lợi, Hội Hải Quân và Hàng Hải / VNCH tại Pháp; Ô. Châu Văn Lộc, Văn Phòng Liên Lạc Quân Nhân Âu Châu; Ô. Trần Nghĩa Hiệp, Câu Lạc Bộ Văn Hoá Người Việt Tự do; Ô. Trần Văn Thu, Cựu Công Chức VNCH và Pháp; Ô. Nguyễn Như Giác, Hội Dịch Học; Cô. Dương Thùy Trang, Tổ chức Phục Hưng; Cô Dương Thuý Phượng, Văn Phòng Liên Đới Xã Hội ; Luật sư Trần Thanh Hiệp, Trung Tâm Việt Nam về Nhân Quyền ; Ô. Nguyễn Phúc Tửng, Văn Phòng Liên lạc các Hội đoàn và Người Việt Tự do tại Pháp ; Trung Tướng Trần Văn Trung, Ô. Đoàn Trần Đức, Ô. Nguyễn Văn Châu, Ô. Nguyễn Văn Thuận, Cô Hà Lan Phương, Bà Đặng Thi Phương Lan.

Đồng Hương Ban Mê Thuột/Darlac Hải Ngoại: Nguyễn Đình Vinh, cựu Đại Tá Tỉnh Trưởng BMT; Nguyễn Xuân Kế, Hội Trưởng Hội Đồng Hương BMT; Nguyễn Xuân Chiểu, cựu Hội Trưởng HAHTH BMT; Nguyễn Văn Thắng, LS, Chủ Tịch CLB Luật KhoaVN; Nguyễn Văn Thuyết, Hội Trưởng Hội CSQG Florida; Nguyễn Xuân Thiệp, cựu SQ, cựu Trung Học BMT; Đỗ Đại, cựu SQ, Hội Đồng Hương Ban Mê Thuột; Lê Xuân Roãn, cựu Hội Trưởng Hội AH cựu THBMT; Chinh Nguyên, Tổng Thư Ký Văn Thơ Lạc Việt; Đồng Hương Đalạt/Lâm Đồng Hải Ngoại: Luật sư Nguyễn Thành, cựu Chủ Tịch HĐTX Đalạt; Luật sư Nguyễn Ngọc Diệp, HT Hội Thân Hữu Đalạt; Luật sư Hoàng Cơ Long, TTK Hội Luật Gia VN California; Phạm Bích Thủy, Hội Trưởng Hội Phụ nữ Việt Nam Tự Do, Đức; Nguyễn Ngọc Trâm, Đoàn PN Lâm Viên [Võ Bị ĐL]; Trần Ngọc Phong, Chủ Tịch Hội SV Đại Học Đalạt; Phan Nghè, Phó Chủ Tịch Hội cựu Sinh viên Võ Bị Đalat/BCA; Phạm Đức Long, cựu SQ, cựu HS Quang Trung ĐL; Trần Ngọc Khanh, Hội Trưởng Liên Trường THĐL.

Đinh Lâm Thanh
Nguồn: http://www.hoivanhoanguoiviettudo.com


Wednesday, August 19, 2009

Giải Phóng Hay Xâm Lăng? Cách Mạng Hay Cướp Nước? - Minh Võ

Minh Võ

Khi Cộng quân Bắc Việt tràn vào Saigon ngày 30 tháng tư năm 1975 và Hà Nội tuyên bố Miền Nam đã được “giải phóng”, thì giới bình dân đã đáp lại bằng cái giọng nói lái quen thuộc: “Giải phóng à? “Phỏng Giái”. Giới có học thì chau mày: giải phóng cái gì, xâm lăng thì có.

Nhưng trước đó 30 năm, cả nước chưa có ai dám gọi “trung đội vũ trang tuyên truyền giải phóng quân” của Võ Nguyên Giáp (thành lập ngày 19-12-1944) là quân xâm lăng; hay Ủy ban dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh làm chủ tịch (được bầu trong cái gọi là Quốc Dân Đại Hội ở Tân Trào ngày 08-07-1945) là Ủy Ban Xâm Lăng. Cũng như ngày “cách mạng tháng tám thành công” chưa ai dám gọi là ngày CS xâm lăng Việt Nam.

Vì lúc ấy chưa mấy người hiểu CS là gì và mưu mô của nó thâm độc ra sao.

Ngô Đình Nhu trước khi bị thảm sát chẳng bao lâu đã tiên đoán: “Nếu như Cộng sản Miền Bắc thôn tính được miền Nam, thì việc Trung Hoa thôn tính Việt Nam chỉ còn là vấn đề thời gian” (1)

Nói thế là vì đến lúc ấy (đầu thập niên 60) ông ta và nhiều người khác đã hiểu bản chất CS ra sao, và mối liên hệ môi với răng giữa CS Trung Hoa và CS Việt Nam như thế nào. Ông ấy cũng đã biết chiến thắng Điện Biên và các trận đánh ở Việt Bắc, như Đông Khê, Thất Khê được Trung Cộng tiếp viện dồi dào đã để lại trên lưng CS Bắc Việt những món nợ kếch sù mà chỉ có lấy non sông ra mới trả nổi.

Gần đây sau các vụ cắm mốc biên giới Việt Hoa rồi thành lập huyện Tam Sa đến các vụ ngư dân Việt Nam bị các toán hải tuần Trung cộng bắt giữ gần các quần đảo Hòang Sa và Trường Sa, và đặc biệt là dự án Bô-xít tại Trung Nguyên (*) nhiều người đã kêu toáng lên rằng, nước mất đến nơi rồi. Có lẽ trong số những người ấy cũng chẳng mấy ai đã đọc cuốn Chính Đề Việt Nam của Ngô Đình Nhu. Nhưng xem ra ai cũng tỏ dấu lo sợ (?) cho số phận Tổ Quốc lâm nguy.

Tuy nhiên ngay từ đầu năm 2002, khi thứ trưởng ngoại giao VC Lê Công Phụng (nay là đại sứ Việt Cộng ở Hoa Thịnh Đốn) tuyên bố đã ký với Trung Cộng hiệp ước quy định lằn ranh biên giới giữa hai nước (2), chúng tôi đã viết bài Mất Đất và Mất Nước, trong đó chúng tôi quả quyết nước đã mất từ 30 tháng 4 – 1975, để lưu ý mọi người đừng để vụ mất chưa đầy một ngàn cây số vuông đất vùng biên giới mà sao nhãng quyết tâm lấy lại toàn bộ Đất Nước đã mất vào tay Cộng Sản. (3)

Đúng vậy. Nước đã mất từ ngày đó, ngày mà bọn Mafia (chữ của luật sư Nguyễn Mạnh Tường tác giả cuốn hồi ký Kẻ Bị Vạ tuyệt Thông: Un Excommunié) con đẻ của chủ nghĩa Mác-xít, một quái thai của lịch sử đã chiếm trọn Tổ Quốc Việt Nam thì chúng đã biến Tổ Quốc thiêng liêng đó thành cái tổ cuốc trong đó đã có những quả trứng cò sắp nở thành cò con. Và có thể còn có cả trứng quạ nữa.

Chúng tôi không có ý dùng ẩn dụ để thậm xưng, hay cường điệu.

Nhiều người đã phản đối lại rằng nước đâu có mất, chỉ mất một nền đệ nhị Cộng Hòa của miền Nam. Những người đó không biết rằng nước không phải chỉ có đất đai, sông ngòi, núi non . Mà nước chủ yếu là những dân tộc sinh sống trên đó. Họ là chủ của những đất đai sông ngòi, núi non đó.

Hãy nghe một nhà thơ nổi danh khắp thế giới bày tỏ cảm tưởng của mình trước cảnh một nửa Việt Nam bị mất vào tay Cộng Sản từ 1954:
    Ôi mảnh đất nửa trên hình chữ S
    Ước lìa ngươi, ta ước lìa ngươi
    Ta trót yêu ngươi từ thuở lên mười
    Ngươi lừa phản nên đời ta mắc kẹt
    Tình yêu đã trở thành thù ghét

    Nếu rời ngươi, dù cụt mất một chân
    Chặt nốt một tay, ta cũng không cần
    Mà coi đó là điều may mắn nhất
    Vì sống gần ngươi là ta mất tất
    Vì sống gần ngươi ta thành súc vật. (4)
Thi nhân thốt lên những lời ai oán đó vào năm 1967, khi nước mới mất một nửa. Thì khi Cộng Sản vào chiếm nốt miền Nam, nghĩa là từ khi tòan bộ lãnh thổ hình chữ S lọt vào tay bọn xâm lăng, cái cảm tưởng của nhà thơ đã được bày tỏ một cách ồ ạt, tập thể bởi trên một triệu người tự chặt tay, chặt chân là mọi liên hệ vật chất tinh thần, mồ mả cha ông, nhà cửa ruộng vườn và những mối tình ruột thịt thân thưong, người yêu , bạn bè v.v... để liều chết ra đi, rời bỏ hẳn cái mảnh đất hình chữ S đã mất ấy.

Cũng vì nước đã mất nên có những tù nhân khi được phóng thích để trở về nhà đã không chịu ra khỏi tù khiến cai tù phải lôi ra như anh Thi trong hồi ký của Kiều Duy Vĩnh hay treo cổ tự tử như Ngụy Như Cần trong Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, vì thấy sống ở đất nước đã bị CS xâm lăng chẳng khác gì sống trong tù lớn, còn khổ hơn trong tù nhỏ.

Năm 1961, khi tôi ngồi viết cuốn biên khảo đầu tay, tôi đã đặt tên cuốn sách của tôi là SÁCH LƯỢC XÂM LĂNG CỦA CỘNG SẢN. (5) Dùng hai chữ xâm lăng là tôi đã quả quyết Cộng Sản chỉ có tấn công để chiếm đất, chiếm quyền cho đảng CS, cho Quốc Tế Cộng Sản, mà kẻ chỉ huy tối cao là các lãnh tụ Cộng Sản Liên Xô. Chứ không phải “giải phóng” như chúng rêu rao. Chính cái gọi là Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam mà nhiều nhà báo và học giả ngọai quốc lúc ấy đều cho là kết quả của chính sách mất lòng dân của Đệ Nhất Cộng Hòa, đã bị chúng tôi vạch rõ trong tác phẩm đó, rằng nó chính là con đẻ của Cộng Sản Miền Bắc dùng làm một thứ vũ khí xâm lăng miền nam, giống hệt như các mặt trận Thống Nhất, Mặt trận Dân Chủ, Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, mặt trận Tổ Quốc, nằm trong sách lược mặt trận nói chung của các đảng CS. Chúng tôi đã phân tích và giải thích cặn kẽ bằng những chứng liệu của CS do những cán bộ cao cấp biên soạn, không thể chối cãi. (6)

Sau 30 tháng Tư Đen, khi bọn Mafia vào chiếm miền Nam, hàng triệu người chạy trốn ra biển, liều chết để khói phải sống với bọn đầy tớ ngoại bang. Và rồi hàng trăm ngàn người nếu không phải là gần một triệu người bị bắt bỏ tù không biết ngày về, không có án lệnh.

Dân số Việt Nam hiện giờ là 84 triệu. Số đảng viên Mafia là 4 triệu. Đảng này phát sinh từ Quốc Tế Cộng sản, bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác Lê “bách chiến bách thắng”, một thứ quái thai. Về cái quái thai này chúng tôi sẽ trở lại với chi tiết hơn. Thế mà ngay từ khi chiếm trọn cả nước, cái đảng đó đã chẳng cho trên 80 triệu dân được có một quyền gì. Bốn quyền chính trị, lập pháp, hành pháp, tư pháp và báo chí, tất cả đều nằm gọn trọng tay đảng.

Về lập pháp, bọn Mafia chỉ có không đầy 5% dân số lại chiếm trên 90 phần trăm số ghế trong cái gọi là quốc hội. Để cho danh chính ngôn thuận phải gọi là “đảng hội “mới đúng. Chữ nghĩa của đảng Mafia chẳng ăn nhằm gì. Số 10 phần trăm nói là thuộc về 80 triệu dân, thực ra những thường dân nào muốn ứng cử vào cái gọi là quốc hội đó đều phải do Mặt trận Tổ Quốc của đảng giới thiệu và đựợc trung ương đảng chấp thuận. Như vậy có thể nói không ngoa “quốc hội“, một cơ quan quyền lực tối cao của một nước, một trăm phần trăm nằm trong tay đảng Cộng Sản.

Về hành pháp, các chức vụ trong chính phủ từ thủ tướng trở suống đều do các đảng viên nắm giữ.

Về tư pháp, các quan tòa đều do người của đảng.

Về báo chí, trong nước hiện có trên 600 tờ báo, tất cả đều do người của đảng điều hành. Tư nhân chỉ có một vài tờ báo chui.

Ngoài việc nắm toàn bộ và chặt chẽ 4 quyền trụ cột của một quốc gia dân tộc ra, Cộng đảng còn chi phối mọi hoạt động và tổ chức xã hội dân sự. Từ cái gọi là mặt trận tổ quốc cho đến các tổ chức đoàn thể nhất là đoàn thanh niên CS HCM cho đến những hội đoàn nhỏ trong xóm phường, cũng đều bị điều khiển bởi những đảng viên cốt cán.

Như vậy có phải mọi quyền dân đều mất, tức cả nước đã mất vào tay bọn Mafia, con đẻ của chủ nghĩa Mác, quái thai của lịch sử không?

Tại sao lại gọi là quái thai của lịch sử?

Vì Thuyết Mác Xít thai nghén và ra đời vào lúc dân nghèo, gọi là giai cấp vô sản trên thế giới đang bị bóc lột gây nên những bất công và vết thương xã hội ở giữa thế kỷ 19. Nó có vẻ hay, đẹp và đầy hứa hẹn như một thần dược cho căn bệnh của nhân lọai. Nhưng chẳng dè, với thời gian, đụng chạm vào thực tế, nó lại chính là độc dược chết người. Những con bệnh nào nếm vào đều sống dở chết dở. Và cuối cùng tất cả các chế độ CS ở Đông Âu và Liên Xô đều tắt thở.

Nhiều người gọi nó là một đại ngụy biện hay thuyết đại bịp. Thế mà khi mới ra đời nó được phần đông nhân lọai, kể cả những đại trí thức hoan nghênh, ca ngợi. Vì nó hứa một thiên đường ngay ở trần gian, trong đó nhân loại sẽ sống sung sướng. Thế giới sẽ là thế giới đại đồng. Xã hội sẽ không còn bất công. Không còn cần chính phủ. Không còn biên giới quốc gia. Mọi người sẽ làm việc tùy sức và hưởng thụ theo nhu cầu.

Hóa ra đó chỉ là một ảo tưởng. Cũng giống như cái ảo ảnh của một con sông, cái hồ, con suối trên sa mạc nóng cháy mà người lữ hành sắp chết khát nhìn thấy từ xa nhưng đi mãi chẳng bao giờ đến nơi.

Hơn một thế kỷ sau, khi nhìn thấy thực tế của thuyết Mác Xít, người đời đã đánh giá nó là một học thuyết không tưởng. Tiên dược lại thành độc dược. Mộng đẹp lại biến thành ảo mộng và ác mộng.

Một lý do nữa khiến cái tà thuyết đó được chúng tôi gọi là quái thai của lịch sử vì chủ trương chuyên chính vô sản của nó. Việt Cộng và Trung Cộng dịch mấy từ Mác-xít “dictature du Prolétariat” hay “dictatorship of the Proletariat” là chuyên chính vô sản, chứ không dịch là độc tài của vô sản như người quốc gia. Nghe thì hay lắm. Nhưng thực chất chỉ là một nền độc tài của giai cấp vô sản.

Theo Duy vật sử quan của Mác thì sau khi tòan thắng, đánh bại tòan bộ giai cấp bóc lột, giai cấp vô sản sẽ lập một chế độ đại đồng trong đó chỉ còn giai cấp vô sản nắm quyền chuyên chính.

Nhưng trong thực tế, liền ngay sau khi nắm được chính quyền, (chứ không đợi cho tới khi toàn thắng trên khắp thế giới như thuyết Mác-xit dậy) tất cả các nước Cộng Sản đều thiết lập chế độ độc tài (chuyên chính vô sản).

Gọi là chuyên chính vô sản, nghĩa là nền độc tài của giai cấp vô sản. Nhưng trong thực tế, nền độc tài của các chế độ Cộng Sản lại là nền độc tài của đảng Cộng Sản, tự nhận là đại diện cho giai cấp vô sản. Chứ giai cấp vô sản không nắm thực quyền nào trong cái chê độ đó cả. Những kẻ nắm quyền đều là một thứ giai cấp tư bản đỏ, giầu sụ và chuyên bóc lột, đàn áp giói nghèo, tức giai cấp “vô sản”.

Chính những cái phi lý, ngụy biện, mâu thuẫn trắng trợn giữa lý thuyết và thực tế của các chế độ CS khiến ta có thể gọi học thuyết Mác là quái thai của lịch sử.

Khi thuyết Mác xít mới ra đời, chưa được thử thách bằng thực tế, người ta thấy nó tốt đẹp bao nhiêu thì sau khi áp dụng vào thực tế nó đã trở thành xấu xa, quái dị bấy nhiêu.

Ai chịu trách nhiệm về việc đem cái tà thuyết phi lý, quái dị độc hại đó vào nước ta để ta mất nước vào tay nó?

Gần đây, nhân vụ “bô xít” đầy “ác xít”, vì nhuốm màu “mác-xít” quái dị kia, từ trong nước cũng như ở hải ngọai phát ra những tiếng kêu inh ỏi: nước mất đến nơi rồi! Tổ quốc (hay tổ cò?) đang lâm nguy! Lần này thì chính một số kẻ trách nhiệm về việc đưa chất ác xít cực độc của thuyết Mác- xít vào cũng làm bộ đạo đức giả lên tiếng gọi là “phản biện”. Tiếc rằng tiếng nói của họ còn được hàng vạn người gọi là trí thức hoan nghênh, hy vọng họ sẽ là chỗ tựa an toàn cho lớp trẻ đứng dậy liều chết chống lại mối nguy từ phưong Bắc (!??).

Thay vì lên tiếng yếu ớt một cách lố lăng, đáng lẽ họ phải viết những cuốn hồi ký lấy tên là Hồi Ký Của Một Thằng Ngu để thú nhận mình đã ngu, thậm ngu, chí ngu khi đem áp dụng một chế độ quái dị, độc hại nó đã làm cho dân ta suy yếu cùng cực gần một thế kỷ nay, cho nên ngày nay đã trở thành cái mồi ngon cho kẻ thù phương Bắc. Đáng lẽ những kẻ tự phong là “khai quốc công thần” đó phải thú nhận chính mình đã theo lệnh QTCS và bọn đồng đảng Phương Bắc như những Mao Trạch Đông, La Qúy Ba, Trần Canh, Vi Quốc Thanh v.v... tiến hành cuộc chiến tranh khốc liệt nhắm vào đồng bào khiến hàng triệu người chết.

Và sau khi chiếm được cả nước, bọn cướp nước đã dìm toàn dân vào vòng u tối, nô lê, hèn nhát, sợ sệt, ngu muội, tham lam. Và như vậy đảng cầm quyền ở Việt Nam ngày nay đã bị bọn Tầu phù cấy sinh tử phù, khiến cho chẳng những bị bọn chúng nắm trọn sinh mạng trong tay, mà còn làm cho dân ta, nước ta cũng nhiễm một thứ virus cực độc thuộc loại liệt kháng như bệnh “Ếch”. Chính vì thế mà trong nhân dân không có ai hay tổ chức nào có đựoc hành động cụ thể có thế cứu được một Lê thị Công Nhân non dại, yếu ớt khỏi bị tù tội, hành hạ đến sống dở chết dở, chứ đừng nói đấu tranh về chính trị và pháp lý để đòi lại những vùng đất vùng biển đã bị Tầu Cộng chiếm đọat, nói chi đến việc quật khởi để hất bọn cướp nước xuống. Những vận động tố cáo, lên án những vụ hà hiếp đàn áp dân oan cũng chẳng đem lại kết qua gì khả quan. Tại sao vậy? Đã đến lúc Việt Nam thân yêu lại làm mồi cho một cuộc Bắc Thuộc ngàn năm chăng?

Trở lại vấn đề nhận tội và sám hối của các lãnh tụ CS. Nói là nói vậy thôi. Chứ ở cái tuổi gần đất xa trời này, mấy người đó đâu còn đủ sinh khí để làm nên trò trống gì nữa. Đáng lẽ ra hồi giữa thập niên 80 thế kỷ trước mà Võ Nguyên Giáp dám theo gương Gorbachev hay Yeltsin thì đã phúc cho dân tộc ta. Hoặc giả khi còn sống ông Hồ đã có đủ can đảm viết một cuốn hồi ký lấy tên là Hồi Ký của một Tên Đại Bịp, cảnh báo cho quốc dân đồng bào và những tay trí thức gà mờ đã lỡ nghe theo ông ta mà ủng hộ, tung hô một kẻ chí ư tài giỏi về nghệ thuật đánh lừa nhân dân.

Nhưng thôi mọi thứ nay đã quá muộn. Cái thây ma nằm ở trong lăng Ba Đình, dù cho có phù phép của thần thánh cũng không ngồi dậy để viết bản tự khai, tự thú, tự kiểm được đâu.

Ngoài ra cũng còn phải quan tâm đến thực tế chính trị hiện đại. vì một trớ trêu cửa lịch sử. Kẻ cướp đã chiếm địa vị chính thức là chủ mât rồi. Lá cờ đỏ rực màu máu lại nghiễm nhiên tung bay tại trụ sở Liên Hiệp Quốc và tại hầu hết các thủ đô khắp thế giới.

Và trớ trêu hơn nữa là sở dĩ có sự kiện đó là vì hình ảnh già Hồ vẫn còn được trưng bày và đánh bóng không những chỉ tại Việt Nam mà còn được lưu trữ tại những thu viện lớn trên khắp các lục địa.

Đây là thực tế chúng ta phải can đảm nhìn vào mà tự vấn tại sao đến nông nỗi này?

Tại sao cái ngày Cộng Sản chính thức công khai xâm lăng Việt Nam là ngày 19 tháng 8 này lại được ghi vào trong lịch sử là ngày cách mạng thành công? Rõ ràng hai chữ “Cách Mạng” phải hiểu là cách mạng vô sản theo thuyết Mác Xít. Nhưng tại sao dân ta, đại đa số vẫn coi đó là cách mạng dân tộc thành công?

Nhân sắp đến ngày kỷ niệm đau thương này, chúng tôi xin long trọng cải tên nó là ngày CS xâm lăng. Nguyên do sự mất nước vào ngày 30 tháng tư.

Một cơ may duy nhất cho chúng ta để sau này con cháu chúng ta học được bài học quý giá của lịch sử hầu đứng lên cứu nước, đó là đồng bào ở hai phía, thuộc cả hai miền hãy nhìn lại lịch sử nhìn nhận chính vì chúng ta dại dột, không biết gì về cái quái thai Cộng Sản, không biết gì về mưu mô thâm độc của nó, nên đã lầm mà theo nó từ những ngày đầu, ủng hộ nó nên cái gọi là cuộc “cách mạng 19 tháng 8” của nó mới thành công. Và nước đã bị xâm lăng kể từ ngày đó.

Ngày nay nhiều người đặt dấu hỏi: Tại sao bỗng dưng thủ tướng Trần Trọng Kim từ chức khi thấy Việt Minh chuẩn bị “Cách Mạng”, nghĩa là sắp sửa xâm lăng? Vì yếu bóng vía, hay vì lầm tưởng Việt Minh mới có chính nghĩa? Tại sao vua Bảo Đại lại thoái vị, trao ấn kiếm cho Trần Huy Liệu đem về cho Hồ Chí Minh? Vì thích làm dân của một nước độ lập, hay vì chẳng biết rõ CS là gì, chẳng biết Hồ Chí Minh là ai? Tại sao các tổ chức yêu nước ở Hoa Nam che chở cho Hồ Chí Minh? Phải chăng vì tưởng CS mà yêu nước thì cũng cùng một phe? Nghĩa là chẳng biết gì về CS, vẫn nghĩ CS vẫn có thể yêu nước. Tại sao các vị như Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần nhập bọn với Hồ Chí Minh lập nên chính phủ Liên Hiệp để cho nhân dân cả nước lầm tưởng Việt Minh giải phóng chứ không xâm lăng?

Nếu lúc ấy bộ mặt thật của CS đã hiện rõ, thì tình hình đã khác hẳn.

Cũng như một số nhân vật và chính khách miền Nam đã vì lý do này hay lý do khác tiếp tay với một số nhà báo và chính khách Mỹ lật đổ Đệ Nhất Cộng Hòa, để mở đầu cho hỗn loạn và băng hoại, biến miền Nam thành con mồi cho Cộng Sản chiếm nốt cả nước.

Chỉ có nhận khuyết điểm, tìm ra nguyên nhân đích thực của sự mất nước, mới có thể cứu nước. Vì cái thể chế “chuyên chính vô sản” hiện nay không có gì giống bất cứ một nền độc tài nào trên thế gian, kể các chế độ quân chủ chuyên chế thời cổ đại. Nó là con quái vật, do một quái thai thành hình. Cho nên đừng hy vọng lấy dân chủ để đánh đuổi quân xâm lăng, vì chính chúng đã thú nhận; Bỏ điều 4 hiến pháp là tự tử.

Chúng tôi biết việc nhận khuyết điểm và sám hối là việc vô cùng khó khăn. Vì hiện còn rất nhiều người muốn bào chữa cho cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và chính quyền đệ nhị Cộng Hòa, trong đó có rất nhiều cán bộ Đại Việt nắm giữ những chức vụ quan trọng. Những người này thường nói Mỹ xấu chơi, bỏ rơi đồng minh nên VNCH mới thua. Chứ không chịu nhận rằng Mỹ cũng bị đánh bại về quân sự, cần phải bằng mọi giá rút chân ra khỏi vũng lầy chiến tranh bằng quân sự này để tự cứu mình và mở mặt trận khác rộng lớn hơn hòng đánh thắng CS thế giới.

Chúng tôi thiết nghĩ, khi trách đồng minh bỏ rơi hay phản bội, chúng ta cũng nên tự hỏi, mình đã cố gắng đủ chưa. Và nhất là khi chính phủ Phan Huy Quát, tự ý để cho Mỹ đem quân ồ ạt vào từ tháng 3 năm 1965, các vị đó có bắt Mỹ ký giấy tờ gì bảo đảm rằng không được tự ý rút lui bỏ lại đàn em không? Để cho người Mỹ tự do vào rồi lại trách họ tự do rút, thì có hợp tình hợp lý và công bình không? Và như vậy là khôn hay dại?

Hơn nữa nhiều người còn bảo Mỹ bỏ rơi con tốt vì đã bắt được con xe. Họ cho rằng vì Nixon đã nắm được Trung Quốc rồi nên bỏ rơi Việt Nam. Họ đã lấy nguyên nhân làm hậu quả. Ngay từ 1968, sau vụ Mậu Thân, chiến bại về quân sự của VC, với trên 5 vạn thương vong, đã trở thành chiến thắng về tâm lý và chính trị, khiến cho những Robert McNamara, Lyndon B. Johnson nắm chắc phần thua nên một người đã từ chức và một người không dám ra ứng cử nữa. Và từ đó Mỹ đã muốn thưong thuyết với địch để có thể rút quân về. Chứ Nixon đâu có phải là người đầu tiên có ý “bỏ rơi” VN? Vả lại ngay khi tranh cử Nixon đã hứa rút quân về. Cho nên việc bỏ Việt Nam không phải là hậu quả của Thông Cáo Chung Thượng Hải, mãi đến năm 1972 mới ký. Mà trái lại để có thể rút quân trong danh dự, mà phải thương thuyết với Trung Cộng.

Ông Diệm từng chủ trương khi nào thật cần thì có thể ký với Mỹ một hiệp ước song phương cho quân Mỹ đóng ở biên giới gần sông Bến Hải. Đó là một lập trường khôn ngoan. Nhưng những người không có tinh thần tự lập, chỉ muốn ỷ vào ngoại nhân đã gián tiếp giết ông để cho Mỹ tự do đem quân vào rồi tự do rút quân đi. Thì nay chuyện đã rồi, không còn cách nào cứu vãn được.

Vì thế, nhân nhớ lại ngày dân ta mắc hỡm mà hoan hô “cách mạng mùa thu”, cũng là ngày mở màn những đợt XÂM LĂNG đầu tiên của CS đưa tới sự mất nước, chúng tôi mong rằng cả hai phía (tội nhận và nạn nhân ở cả hai chiến tuyến) đều nên xét mình và sám hối để mở mắt cho hậu sinh. Đó là điều kiện cần để con cháu chúng ta sẽ sáng suốt hơn cha ông có thể tìm ra những phương cách hữu hiệu, dành lại được đất nước và bảo vệ Tổ Quốc khỏi sự thôn tính của kẻ thù Phưong Bắc.

Minh Võ
15-08-2009

Chú thích

(1) Năm 1964, một năm sau đảo chính 01-11-1963, tại Saigon người ta thấy xuất hiện một cuốn sách nhan đề CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM nói là bản dịch một tác phẩm bằng Pháp văn của ông Ngô đình Nhu, bào đệ và là cố vấn chính trị của Tổng thống Ngô đình Diệm. Theo một số người thì tác giả thấy tác phẩm chưa hoàn chỉnh nên chỉ mới cho phổ biến hạn chế trong số những nhân vật thân tín trong chính quyền thời ấy. Rồi một vị cựu bộ trưởng thời Đệ Nhất cộng Hòa (Ông Lê Văn Đồng) đã dịch ra Việt Ngữ và đề là của Tùng Phong. Không ai rõ bút hiệu này là của tác giả hay dịch giả. Gần đây bản dịch đã được tái bản và thấy phổ biến tại Nam Cali. Trong tác phẩm 360 trang này, Tùng Phong đã phân tích nhu cầu phát triển và tham vọng bành trướng cố hữu của Trung Quốc. Đồng thời cũng nêu lên những liên hệ khắng khít giữa các người Cộng Sản của hai nước lân bang. Rồi đưa ra lời tiên đóan nói trên. (SĐD trang 212.)

(*) Ngày nay nhiều người mới thấy vùng Cao Nguyên có tầm quan trọng chiến lược như thế nào. Nên khi Trung Cộng đưa hàng vạn công nhân và kỹ thuật viên vào để khai thác mỏ Bô xít, họ đã nhìn ra mối nguy mất nứoc. Nhưng trước đây hơn nửa thế kỷ Ông Ngô đình Diệm đã nhìn thấy điều đó và chủ trương đưa người lên đó lập một “bức tường người” (human wall) ngăn chặn làn sóng xâm lăng trong tương lai. Chuyện này, trong bài Mạn Đàm Với Ông Cao Xuân Vỹ, (đăng trên DCV Online cách nay một năm, chúng tôi đã trưng dẫn lời ông Cao Xuân Vỹ kể rằng ông được Tổng Thống Diệm cử lên Cao Nguyên công tác, bất chấp lời thỉnh cầu của đương sự muốn ở lại giúp ông Ngô đình Nhu về công tác đảng. Mới đây cựu thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình, nguyên Tổng Giám Đốc Cảnh Sát kiêm Giám Đốc Trung ương Tình Báo thời đệ nhị Công Hòa cũng cho biết ông cũng từng được Tổng Thống Diệm cử lên cao nguyên phụ trách việc đưa dân di cư (là những nạn nhân CS và có tinh thần chống cộng cao) lên đó lập nghiệp. Rồi chính Tổng Thống Diệm cũng chết hụt trong vụ Hà Minh Trí mưu sát ông, khi ông chủ tọa lễ khánh thành khu dinh điền trên Cao Nguyên.

(2) Hiệp ước này được ký lén lút ngày 30-12-1999. Sau đó cái gọi là Quốc hội (gật) của CS cũng lặng lẽ “thông qua” ngày 09-06-2001. Nói lén lút và lặng lẽ, vì dân chúng không hề được thông báo. Cuối cùng ngày 27-12-2001 Việt Cộng và Trung Cộng đã tổ chức lễ khánh thành cột mốc trên bộ phân định biên giói giữa hai nước. Thứ trưởng NG Trung Cộng Vương Nghị (Wang Yi) và thứ trưởng ngọai giao VC Lê Công Phụng đã có mặt để long trọng đánh dấu việc đặt mốc tượng trưng số 1369. Rồi mãi đến đầu năm 2002 Lê Công Phụng mới công khai loan báo các sự việc trên. Nghĩa là việc ký kế một hiệp ước liên quan đến biên giới quốc gia, chỉ được thông báo cho quốc dân biết sau khi mọi sự đã thành chuyện đã rồi.

(3) Xin xem Cầu Nguyện Và Nước Trời của Minh Võ, Nam Cali, 2007, từ trang 147.

(4) Xem Hoa Địa Ngục làm năm 1967, nxb Cành Nam, 2006, trang 150.

(5) Cuốn sách này đã được tái bản lần thứ hai tại Hoa Kỳ tháng 10- năm 2007 (dầy 230 trang khổ nhỏ, giá bán 15 MK)

(6) SLXLCCS của Minh Võ, ấn bản 2007 tại Hoa Kỳ từ trang 153 đến trang 163.

Tài liệu tham khảo nhân ngày Đại Hội Luật Gia vào Chủ Nhật ngày 23/8/2009 tại California - Ls Nguyễn Hữu Thống

Ls Nguyễn Hữu Thống

Nhân ngày Đại Hội Luật Gia tại California vào Chủ Nhật tới đây, LS Nguyễn Hữu Thống xin gửi quý bạn để tham khảo 2 tài liệu song ngữ có tính lịch sử như sau:

1. Bản Thông Điệp Ngày Quốc Hận 1980 đòi nhà cầm quyền Hà Nội phóng thích các tù cải tạo.
2. Bài Luật Pháp và Trật Tự tại Biển Đông Nam Á kêu gọi các quốc gia Đông Nam Á đề xướng và thực thi Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

LUẬT SƯ NGUYỄN HỮU THỐNG GỞI LUẬT SƯ NGUYỄN HỮU THỌ THÔNG ĐIỆP NGÀY QUỐC HẬN 1980

Ls. Nguyễn Hữu Thống
Nhân ngày Quốc Hận 30-04-1980, tại tiền đình Tòa Đô Chánh San Francisco, nhân danh Hội Luật Gia Việt Nam tại California, Luật Sư Nguyễn Hữu Thống đã gởi bản Thông Điệp Ngày Quốc Hận cho Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ, đương kim Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Trong chuyến công du và thăm viếng đồng bào tại Thái Lan, để trả lời câu chất vấn của báo chí về việc Đảng Cộng Sản bắt giam trái phép tại các trại cải tạo hàng trăm ngàn trí thức văn nghệ sĩ, quân nhân, công chức và cán bộ Việt Nam Cộng Hòa trong thời gian vừa qua, Luật Sư Thọ đại diện Nhà Nước đã ngụy biện rằng: những phần tử ngụy quân ngụy quyền này đáng lẽ đã bị thanh toán đồng loạt. Tuy nhiên do chính sách khoan hồng của Đảng và Chính Phủ, chúng tôi chỉ tập trung họ trong các trại cải tạo để giáo dục họ về đường lối chính sách của Đảng thay vì phải thẳng tay trừng trị.

Để trả lời luận điệu ngoan cố này, Luật Sư Thống đã gởi Luật Sư Thọ bản Thông Điệp Ngày Quốc Hận, nguyên văn như sau:

Nhân ngày Quốc Hận 30 tháng 4 năm 1980, thay mặt Hội Luật Gia Việt Nam tại California, trụ sở tại Vùng Vịnh Cựu Kim Sơn, Luật Sư Nguyễn Hữu Thống tuyên đọc bản Thông Điệp Ngày Quốc Hận gởi Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam để cảnh giác Luật Sư Thọ và Chính Phủ Hà Nội về một số nguyên tắc pháp lý cơ sở được coi là nền tảng tổ chức và sinh hoạt tại các quốc gia văn minh trên thế giới.

1. QUYỀN ĐƯỢC SUY ĐOÁN LÀ VÔ TỘI

Theo Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, mọi người đều được hưởng quyền suy đoán vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai tại tòa án với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ.

Hơn nữa không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hay lưu đày độc đoán về một tội hình sự do những điều đã làm, nếu những điều này không cấu thành tội hình sự chiếu luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế, luật pháp quốc tế là những nguyên tắc luật pháp tổng quát được thừa nhận bởi cộng đồng các quốc gia văn minh (như Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 hay Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị do Liên Hiệp Quốc biểu quyết thông qua năm 1966 và đã có hiệu lực chấp hành từ 1976).

Đã từng hành nghề, Luật Sư Thọ chưa thể quên nguyên tắc suy đoán vô tội của người dân. Quyền này phải được áp dụng cho hàng trăm ngàn quân cán chánh và trí thức văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Những người này không phạm tội hình sự nào nên không thể bị bắt giam, và làm lao động khổ sai để đọa đày thân xác. Trong chiến tranh vừa qua, họ chỉ thi hành nghĩa vụ công dân là bảo vệ đất nước và chế độ cộng hòa dân chủ chống chiến tranh xâm lược do Quốc Tế Cộng Sản phát động qua Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Nếu vì địa vị hay không tưởng mà lãng quên nguyên tắc này thì Luật Sư Thọ ngày nay là kẻ lầm đường lạc lối và đã phản bội lời tuyên thệ khi gia nhập Luật Sư Đoàn Sàigòn cam kết sẽ thượng tôn Luật Pháp, bảo vệ Công Lý và những nguyên tắc hành nghề căn bản của người luật sư như Chính Trực, Vô Tư và Ôn Hòa.

2. QUYỀN TỰ DO NHÂN THÂN

Cũng theo Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mọi người sinh ra tự do và bình đẳng và phải đối xử với nhau trong tình bác ái. Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do thân thể và an ninh thân thể. Không ai có thể bị tra tấn hành hạ và bắt giam độc đoán. Không ai có thể bị câu thúc lưu đày hay hành quyết nếu không có bản án chung thẩm kết tội do một tòa án độc lập tôn trọng quyền biện hộ của bị cáo. Những quyền này phải được áp dụng cho các tù nhân chính trị mệnh danh là tù cải tạo.

Khi cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ kết thúc, những người thắng trận Miền Bắc cũng không hành hạ, bắt giam, nhục mạ hay tước đoạt tự do và tài sản của các đồng bào thất trận Miền Nam.

2. QUYỀN TỰ DO ĐI LẠI VÀ XUẤT NGOẠI

Đây là một trong những quyền bất khả xâm phạm của con người được quy định trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền:

Ai cũng có quyền tự do đi lại và cư trú trong lãnh thổ quốc gia. Ai cũng có quyền xuất ngoại và hồi hương.

Hiện nay Chính Phủ Hà Nội đã trắng trợn vi phạm những quyền tự do căn bản này bằng cách tước đoạt quyền sống, quyền tự do xuất ngoại của hàng trăm ngàn đồng bào đã phủ nhận cái sống để cầm cái chết vượt biển ra đi.

Hơn nữa hàng chục ngàn đồng bào khác có thân nhân tại hải ngoại, đã hoàn tất thủ tục đoàn tụ gia đình nhưng hồ sơ của họ vẫn bị Nhà Nước ếm nhẹm hay bác bỏ vô duyên cớ.

VÌ NHỮNG LÝ DO NÓI TRÊN

Chúng tôi, Hội Luật Gia Việt Nam tại California gồm 106 hội viên, bằng Thông Điệp này, long trọng cảnh giác Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về các nguyên tắc pháp lý, tinh thần và đạo lý nêu trên. Đồng thời khuyến cáo Luật Sư Nguyễn HữuThọ hãy dùng thẩm quyền nếu có của mình để:

1. Tôn trọng Quyền Sống, Quyền Tự Do Thân Thể và An Ninh Thân Thể bằng cách trả tự do cho các lương dân vô tội còn bị câu thúc, giam giữ và lưu đày tại các trại tập trung và lao động cưỡng bách mệnh danh là trại cải tạo.
2. Tôn trọng Quyền Tự Do Đi Lại và Tự Do Xuất Ngoại của đồng bào có thân nhân muốn đoàn tụ gia đình tại quốc ngoại.

Cựu Kim Sơn, ngày 27 tháng 4, 1980
T.M. Hội Luật Gia Việt Nam tại California
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống


TESTIMONIAL FOR PRISONERS OF CONSCIENCE
NGUYEN HUU THONG, ESQ.
MESSAGE FROM ATTORNEY NGUYEN HUU THONG TO ATTORNEY NGUYEN HUU THO ON THE NATIONAL DAY OF SHAME 1980

On April 27, 1980, in commemoration of the National Day of Shame, Attorney Nguyen Huu Thong sent a message from the vestibule of San Franciscos City Hall to Attorney Nguyen Huu Tho, current President of the Socialist Republic of Vietnam, on behalf of the California Vietnamese Lawyers Association, Inc.

During Attorney Nguyen Huu Thos official visit to Thailand, the press corps asked him about the fact that the Vietnamese Communist Party had recently illegally imprisoned hundreds of thousands of intellectuals, writers, artists, military personnel, public servants, and cadres of the Republic of Vietnam in reeducation camps. Attorney Tho, as spokesman for the Government, used specious reasoning to declare that: In fact, these rebellious elements should have been eliminated en masse. However, thanks to the extraordinary leniency of the Government, we have only gathered them in reeducation camps to educate them in the ways of our Government policy instead of punishing them harshly.

In response to this outrageous argument, on April 27, 1980 on behalf of the California Vietnamese Lawyers Association, which is headquartered in San Jose, California Attorney Nguyen Huu Thong openly read the 1980 National Day of Shame Message that he had sent to Attorney Nguyen Huu Tho, President of the Socialist Republic of Vietnam. He did so to raise the awareness of Attorney Tho and of the Hanoi Government regarding several basic legal principles that are considered to be the foundation for the organization and activities of civilized countries around the world.

THE RIGHT TO THE PRESUMPTION OF INNOCENCE

According to the Universal Declaration of Human Rights of the United Nations, all individuals have the right to be presumed innocent until all the evidence of guilt is presented in a public trial to a court, with all the necessary guarantees for the rights of the defense.

In addition, no individual can be arrested, detained, or exiled arbitrarily for alleged criminal acts unless those acts constitute a crime according to national or international codes of law, where international laws are general principles recognized by the international community of nations. These principles include those that are stipulated in the Universal Declaration of Human Rights of 1948 and the International Covenant on Civil and Political Rights which the United Nations passed in 1966 and ratified in 1976.

Having practiced as a lawyer at the Saigon Court of Appeals, Attorney Tho cannot possibly have forgotten the principle of presumption of innocence. This right must be applied to hundreds of thousands of soldiers, cadres, intellectuals, writers, and artists from the Republic of Vietnam. These people have committed no crimes and, therefore, should not be imprisoned or forced to do physically destructive hard labor in reeducation camps. In the recent war, they only carried out their civic duty to protect their country and the regime of the democratic republic against an aggressive invasion by the International Communists acting through the Vietnamese Communists.

Today, because of his position or for utilitarian reasons that have led him to forget this principle, Attorney Tho has lost his way. He has betrayed the pledge he made when he joined the Bar Association of Saigon to uphold the Law, protect Justice, and honor the spiritual principles such as Truthfulness, Impartiality, and Conciliation which guide members of the legal profession.

THE RIGHT TO PERSONAL LIBERTY

The Universal Declaration of Human Rights also stipulates that all individuals are born free and equal and must treat one another in the spirit of fraternity. Everyone has the right to life, the right to liberty, and security of person. No one should be tortured or detained arbitrarily. No one should be detained, exiled, or executed without indictment of the highest instance by an independent court which respects the accused 's right to defend himself. These rights must be applied to all political prisoners in so called reeducation camps.
In the middle of the 19th Century, when the American Civil War ended, the victors from the North did not mistreat, imprison, humiliate, or seize the freedom and properties of the vanquished soldiers from the South.

THE FREEDOM OF RESIDENCE AND MOVEMENT, AND THE FREEDOM TO TRAVEL ABROAD

These freedoms constitute inalienable rights of individuals and were unequivocally stipulated in the Universal Declaration of Human Rights.

Everyone has the right to freedom of residence and movement within the national territory. Everyone is free to travel abroad and to repatriate.

Currently, the Hanoi Government has flagrantly violated these basic rights to freedom by usurping the right to life and the freedom to travel abroad by hundreds of thousands of people who have rejected this government and risked their lives when escaping by boat.

Moreover, tens of thousands of others with relatives abroad have completed the procedures to reunite with their families, but their applications are delayed unnecessarily or rejected without proper justification.

FOR THE REASONS MENTIONED ABOVE

We, the California Vietnamese Lawyers Association, with a total membership of 106 attorneys, by this message solemnly remind Attorney Nguyen Huu Tho, President of the Socialist Republic of Vietnam, about the legal, spiritual, and moral principles listed above. At the same time, we recommend that Attorney Nguyen Huu Tho use his authority, if he has any, to:

Respect the Right to Life and the Right to Liberty and Security of Person by releasing the innocent, law-abiding citizens still detained, imprisoned, and arbitrarily exiled to concentration camps and forced labor camps euphemistically called reeducation camps.

Respect the Right to Freedom of Movement and the Right to Travel Abroad of people who have relatives overseas and want to reunite with their families.

Read from San Francisco, California on April 27, 1980
ON BEHALF OF THE CALIFORNIA VIETNAMESE LAWYERS ASSOCIATION
Attorney Nguyen Huu Thong

---- o0o ----

LUẬT SƯ NGUYỄN HỮU THỐNG GỬI VĂN THƯ CHO TỔNG THỐNG FIDEL RAMOS VỀ VẤN ĐỀ LUẬT PHÁP VÀ TRẬT TỰ TẠI BIỂN ĐÔNG NAM Á

Ngày 14-07-1995, nhân kỳ Đại Hội ASEAN tại Brunei, Luật Sư Nguyễn Hữu Thống, Chủ Tịch Hội Luật Gia Việt Nam tại California đã gửi văn thư cho 7 vị nguyên thủ quốc gia trong Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á là Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương, Brunei, Tân Gia Ba, Thái Lan và Việt Nam để trình bày về vấn đề giải quyết các vụ tranh chấp tại Biển Đông Nam Á theo những quy luật dự liệu trong Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982.

Theo các quan sát viên quốc tế, văn thư này đưa ra giải đáp ưu tiên hàng đầu cho vấn đề tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bằng cách dùng phương thức tranh nghị để đi đến hòa bình. (The Discussion Proceeds for Peace).

Dưới đây là văn thư của Luật Sư Nguyễn Hữu Thống gửi Tổng Thống Phi Luật Tân Fidel Ramos:

Thưa Tổng Thống,

Nhân danh Hội Luật Gia Việt Nam tại California, chúng tôi xin trình bày cùng Tổng Thống vấn đề tranh chấp tại quần đảo Trường Sa.

7 năm trước đây, có trận hải chiến giữa Việt Nam và Trung Quốc tại vùng biển Trường Sa. Trong dịp này Trung Quốc đòi chủ quyền lãnh thổ tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và đã chiếm cứ một số hải đảo gây nên mâu thuẫn và tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam và Phi Luật Tân.

Mới đây Trung Quốc còn lấn chiếm một số cồn, đá, bãi toạ lạc tại thềm lục địa Phi Luật Tân như Mischief Reef, Half Moon Shoal, Sabina Shoal và Jackson Bank. Hành động này đe dọa an ninh toàn vùng Đông Nam Á và cản trở sự tự do giao thương tại Biển Nam Hải.

Từ 3 năm trước, Trung Quốc cũng xâm chiếm một vùng biển tại Bãi Tứ Chính (Vanguard Bank) mà họ gọi là Bãi Vạn An (Wanan Bei) để tự tiện nhượng quyền khai thác dầu khí cho Hãng Crestone. Vùng bãi này nằm trong Thềm Lục Địa Việt Nam cách bờ biển 190 hải lý về phía đông nam.

Phía đông Bãi Tứ Chính nơi Hãng Crestone đang khai thác dầu khí là quần đảo Trường Sa, đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc, Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, Brunei, Nam Dương và Đài Loan.

Lưỡi Rồng Trung Quốc hình chữ U, mà Bắc Kinh gọi là “Đặc Khu Hành Chánh Hải Nam”, chiếm 80% Biển Nam Hải, phía đông giáp Phi Luật Tân, phía tây giáp Việt Nam và phía nam giáp Mã Lai, Brunei và Nam Dương, điểm xa nhất cách Hoa Lục 1,100 hải lý (hay 2000km). Hành động như vậy Trung Quốc coi Biển Nam Hải là nội hải của họ (internal waters), cũng như Đế Quốc La Mã ngày xưa gọi Địa Trung Hải là “Biển Của Chúng Tôi” (Mare Nostrum).

Chiếu Điều 57 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, các quốc gia duyên hải có đặc quyền đánh cá tại Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý (Exclusive Economic Zone).

Chiếu Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, các quốc gia duyên hải có đặc quyền thăm dò và khai thác dầu khí tại thềm lục địa (continental shelf) kéo dài từ 200 hải lý đến 350 hải lý, nếu về mặt địa hình, thềm lục địa là sự tiếp nối tự nhiên của nền lục địa (continental margin) từ đất liền ra ngoài biển. Về mặt pháp lý các quốc gia duyên hải đã ký kết hay tham gia Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển đương nhiên được hưởng quy chế thềm lục địa pháp lý 200 hải lý. Đó là trường hợp của các quốc gia Đông Nam Á như Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương, Brunei, Tân Gia Ba, Thái Lan và Việt Nam (Việt Nam đã đăng ký thềm lục địa pháp lý 200 hải lý từ năm 1982).

Chiếu Điều 77 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển các quốc gia duyên hải có chủ quyền tuyệt đối tại thềm lục địa để thăm dò và khai thác những tài nguyên thiên nhiên. Đây là đặc quyền chuyên hữu theo đó không ai có quyền thăm dò và khai thác dầu khí nếu không có sự ưng thuận minh thị của quốc gia duyên hải. Những quyền này không tùy thuộc vào điều kiện phải có sự chiếm cứ hay công bố minh thị.

Điều 81 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển một lần nữa xác nhận chủ quyền tuyệt đối và đặc quyền chuyên hữu của quốc gia duyên hải trong việc tự mình đứng ra thăm dò và khai thác dầu khí, hay ký hiệp ước cộng tác với các quốc gia đệ tam về những dịch vụ này.

Chiếu nguyên tắc “các hiệp ước quốc tế phải được tôn trọng”, Điều 26 Công Ước Vienna về Luật Hiệp Ước (1969) quy định như sau: “Các hiệp ước có hiệu lực chấp hành buộc các quốc gia kết ước phải ngay tình thi hành hiệp ước”. Ủy Ban Liên Hiệp Quốc về Luật Quốc Tế coi đó là “một nguyên tắc căn bản về luật hiệp ước, có lẽ là nguyên tắc quan trọng nhất trong công pháp quốc tế”.

Chiếu nguyên tắc về giá trị thượng tôn của Luật Quốc Tế đối với Luật Quốc Nội, các quốc gia kết ước phải thực sự thi hành những quyến hạn và nghĩa vụ ghi trong các hiệp ước hay công ước quốc tế . Họ không thể viện dẫn luật quốc nội để khước từ thi hành nghĩa vụ của họ ghi trong các hiệp ước và công ước quốc tế mà họ đã ký kết hay tham gia.

Đó chính là trường hợp của Trung Quốc. Sau khi ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982, 10 năm sau, năm 1992, Bắc Kinh ban hành Luật Quốc Gia về Biển (Domestic Law of the Sea) xâm phạm chủ quyền lãnh thổ tại các Thềm Lục Địa Việt Nam và Phi Luật Tân, cũng như tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Những vi phạm luật biển phải được đệ trình Tòa Án Quốc Tế (The Hague) hay các Tòa Án Luật Biển thiết lập do Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

Muốn giải quyết những mâu thuẫn và tranh chấp về thềm lục địa, về hải phận hay về hải đảo, các quốc gia đương tụng phải, trước hết, tuân hành những phương thức ôn hòa như điều đình, hòa giải, thương nghị hay trọng tài.

Ngoài ra Tòa Án Quốc Tế cũng có thẩm quyền giải thích và áp dụng những điều khoản của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển có hiệu lực chấp hành từ năm 1994.

Sự giải quyết tranh chấp bằng những phương pháp ôn hòa như hòa giải, thương nghị, trọng tài hay tố tụng sẽ giúp cho Đông Nam Á khỏi biến thành vùng tranh chấp thường xuyên như Trung Đông. Với việc sử dụng luật pháp (pháp trị) thay thế việc sử dụng võ lực (phi pháp), Đông Nam Á sẽ có cơ may được hưởng một kỷ nguyên hòa bình, ổn định, hợp tác và phồn thịnh.

Nhân dịp này chúng tôi cũng thỉnh cầu các quốc gia hội viên trong Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á ra quyết định đổi danh xưng Biển Nam Hải thành Biển Đông Nam Á. Danh từ Nam Hải chỉ áp dụng cho Trung Quốc. Đối với Việt Nam nó có tên là Biển Đông. Đối với Tân Gia Ba, Nam Dương, Mã Lai và Brunei nó là Bắc Hải. Đối với Phi Luật Tân nó là Biển Tây.

Hơn nữa danh xưng Nam Hải có thể bị ngộ nhận và giải thích sai lạc là Biển của Trung Hoa về phía Nam.

Hãy trả Caesar những gì của Caesar.
Và hãy trả Biển Đông Nam Á cho các Quốc Gia Đông Nam Á.

Chúng tôi xin cám ơn sự chú tâm của Tổng Thống về vấn đề này.

Kính thư,

Thay mặt Hội Luật Gia Việt Nam tại California
Chủ Tịch,
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống.


Nguyen Huu Thong
[ Home ] [ Up ] [ Covington&Burling ] [ Nguyen Huu Thong ]
In the Matter of Law & Order in Southeast Asian Sea
(Attorney at Law Nguyen Huu Thong)

Editorial Note: Attorney at Law Nguyen Huu Thong, President of the Vietnamese Lawyers Association, Inc. in San Jose, recently sent to leaders of South East Asian governments a letter to urge them to submit the matter South East Asian Sea conflict to an international tribunal. Following is his letter to President Fidel Ramos of the Philippines.

CALIFORNIA VIETNAMESE LAWYERS ASSOCIATION, INC.
San Jose, July 14, 1995

President FIDEL RAMOS
c/o Philippine Consulate General
447 Sutter Street, Sixth Floor San Francisco, CA 94108
RE: Law and Order in Southeast Asian Sea.

Dear Mr. President:

On behalf of the California Vietnamese Lawyers Association, I would like to submit for your consideration on the Spratly conflict.
Seven years ago there was a naval battle between China and Vietnam in the Spratly Islands. China’s declaration of sovereignty over the Paracels and the Spratlys and their occupation by Chinese navy have sparkled conflict with Vietnam and the Philippines.
Recently, the incidents at Mischief Reef, Half Moon Shoal, Sabina Shoal and Jackson Bank on the Philippine continental shelf have threatened the security of the area and the freedom of navigation in the South China Sea.
At Vanguard Bank called Tu Chinh or Wanan Bei, China and Vietnam are claiming a potentially oil rich tract that China awarded to Crestone Corporation three years ago. That tract lies on Vietnam’s continental shelf about 190 nautical miles southeast of Ho chi Minh City.

The Spratly Islands, east of the disputed Crestone contract area, are contested by a number of countries including China, Vietnam, the Philippines, Malaysia, Brunei and Taiwan.
The "U Shaped" area of Nan Hai (South Sea) known as the "Dragon Tongue" claimed by China as "Hainan Special Administration District" encompasses 80% of the South China Sea, eastward to the Philippines, westward to Vietnam and southward to Malaysia, Brunei and Indonesia, the farthest spot having a distance of 1,100 nautical miles (2000 Km) from mainland China. By doing so, China has considered the South China Sea as its "internal waters", the same way as the Roman Empire called the Mediterranean Sea "Mare Nostrum" (our sea).
By international law, pursuant to Article 57 of the United Nations Convention on the Law of the Sea (1982) (LOS Convention), all coastal states, have been granted exclusive fishing rights in the Exclusive Economic Zone extending 200 nautical miles from shore.
Article 76 of the LOS Convention gives coastal states exclusive rights to drill for oil and gas in the continent shelf up to 350 nautical miles from their coasts. The continental shelf comprises the sea bed and subsoil of the submarine areas that extend throughout the natural prolongation of its land territory to the outer edge of the continental margin, or to a distance of 200 nautical miles from the baselines. For those coastal states who have not-declared a continental shelf of up to 200 nautical miles from the baselines, they are entitled to it ab initio, ipso facto and ipso jure under customary international law, and the 1982 Law of the Sea Convention to which they are signatories (See the Libya/ Malta Continental Shelf Case, ICJ Report 1985, 13). These are the cases of the Philippines, Indonesia, Singapore, Malaysia, Brunei and China (Vietnam has declared its continental shelf of 200 nautical miles from the baselines in 1982).
That 200-nautical miles continental shelf is called the Legal Continental Shelf.
Article 77 of the LOS Convention gives sovereign and exclusive rights to the coastal states over the continental shelf:
1. The, coastal State exercises sovereign rights over the continental shelf for the purpose of exploring it and exploiting its natural resources.
2. These rights are exclusive in the sense that if the coastal State does not explore the continental shelf or exploit its natural resources, no one may undertake these activities without the express consent of the coastal State.
3. The rights of the coastal State over the continental shelf do not depend on occupation, or on any express proclamation.
Concerning the drilling on the continental shelf, Article 81 of the LOS Convention provides that "the coastal State shall have the exclusive right to authorize and regulate drilling on the continental shelf for all purposes".

The Rule Pacta sunt servanda applies for the observance of treaties.
Article 26 of the Vienna Convention on the Law of Treaties (1969) declares that "every treaty in force is binding upon the parties to it and must be performed by them in good faith".
The United Nations International Law Commission in its commentaries to this rule, characterized it as a "fundamental principle of the law of treaties, perhaps the most important principle of international law". (See 1966 Report on the I.L.C. reproduced in 61 Am. Int’l L. 248 at 334)(1967).
According to the rule of supremacy of international law, the rights and obligations-which a state has, by international law are, on the international plane, superior to any rights or duties it may have under its domestic law. Article 27 of the Vienna Convention provides that "a party may not invoke the provisions of its internal law as justification for its failure to: perform a treaty". That failure to perform would constitute a breach of international law requesting remedies with provisional measures in case the urgency of the situation required it.
Therefore, China should not invoke its domestic Law of the Sea promulgated in 1992 to encroach upon the Vietnamese and Philippine Continental Shelves and the whole Spratly and Paracel archipelagoes. These violations of the law of the sea should be submitted to the International Court of justice or the International Tribunal For the Law of the Sea for the resolution of disputes in case the parties do not reach an agreement by negotiation and conciliation. The International Court Tribunal has jurisdiction over the matters relating to the interpretation or application of the LOS Convention. Until December 1982, the Convention was signed by 119 states. It has come into force on November 16, 1994 after its ratification by 60 states.

On July 29, 1994, the United States signed the Agreement Relating to the Implementation of Part XI of the LOS Convention. Last October, President Bill Clinton transmitted a letter to the U.S. Senate asking its consent to accession to the LOS Convention.

The settlement of these disputes by peaceful means such as negotiation. conciliation and judicial proceed 9 would keep Southeast Asia from becoming another Middle East. With the rule of law taking the place of the use of force, Southeast Asia may soon experience a period of peace, stability, cooperation and prosperity.

I would like to seize this opportunity to propose that you change the name "South China Sea" to "Southeast Asian Sea'. The appellation of South Sea (Nan Hai) is good only for China; the East Sea (Bien Dong) applies only to Vietnam. As for Singapore, Indonesia, Malaysia and Brunei, it should called North Sea; and for the Philippines, the correct name be West Sea.
Furthermore,, the name South China Sea could be interpreted erroneously as the Sea of China in the South.

Let us give to Caesar what belongs to Caesar, and give Southeast Asian Sea to the Southeast Asian countries.

Thank you for your attention to this matter,

Yours sincerely,
For the California Vietnamese Lawyers Association
The President,
NGUYEN HUU THONG
Attorney at Law.



Tuesday, August 18, 2009

Thử Tìm Hiểu Lý Do Tại Sao Sau 34 Năm Cộng Sản Vẫn Còn Tồn Tại - Đinh Lâm Thanh

Đinh Lâm Thanh

Theo Tướng Do Thái Moshe Dayan, ‘Miền Nam muốn thắng cộng sản thì phải trở thành cộng sản trước đã’. Một câu nói có lý vì trước năm 1975, người Miền Nam không hiểu biết gì nhiều về thủ đoạn cai trị cũng như chưa chứng kiến tận mắt hành động cộng sản làm. Nhưng sau khi chính thể Việt Nam Cộng Hòa rơi hẳn vào tay kẻ thù, dù chỉ một thời gian rất ngắn nhưng Miền Nam đã thật sự sáng hẳn mắt ra. Từ ngày đó đến nay, 34 năm, tôi vẫn chờ cảnh tức nước vỡ bờ xảy ra trên quê hương Việt Nam, nhưng buồn thay, đất nước chúng ta vẫn quằn quại dưới gông cùm của chế độ cộng sản.

Trở lại câu nói của tướng Dayan để tìm hiểu lý do tại sao ‘Miền Nam muốn thoát khỏi chế độ cộng sản thì phải trở thành cộng sản’ trước. Phải chăng câu nói của vị tướng nầy muốn ám chỉ rằng người Miền Nam ‘chưa thấy quan tài chưa đổ lệ’. Một đất nước mà chính quyền bị tôn giáo và thành phần phản chiến trá hình bó tay: Ngoài mặt trận người lính chiến đấu ngày đêm chống quân thù cộng sản thì hậu phương dân chúng lại biểu tình chống chiến tranh, đòi trung lập và hòa giải với kẻ thù. Sau năm 1975 người Miền Nam dưới chế độ cộng sản đã ‘thấy quan tài’ ‘đã đổ lệ’, nhưng tại sao trên ba mươi bốn năm qua kẻ thù vẫn còn ngự trị trên đất nước chúng ta ? Đây là ba điểm chính tôi xin trình bày hôm nay.

1. Những lý do đưa đến việc mất nước một cách nhanh chóng

Nhiều người cho rằng chính người Mỹ phản bội chúng ta, giữa đường đóng cửa rút cầu và gấp rút tháo chạy. Đúng, tôi đồng ý những ý kiến nầy nhưng xin phép đi sâu vào vài chi tiết chung quanh tình hình quân sự cũng như chính trị thời đó để tìm ra những lý do khác đưa đến sự sụp đổ nhanh chóng của chính thể Miền Nam Việt Nam.

Tình trạng Miền Nam trước năm 1975:

Trên địa bàn chiến lược, Mỹ đang đối đầu với sự bành trướng của khối cộng sản. Liên Bang Sô Viết lúc bấy giờ đang thống trị các nước Đông Âu cũng như âm mưu hướng về phía Đông-Nam-Á, thì vì quyền lợi, Mỹ phải âm thầm bắt tay với Trung cộng để chia đôi thế lực khối cộng ra làm hai. Chính điểm nầy, Việt Nam là con bài phải xử dụng để dứt điểm một cuộc chiến tranh vừa xa xôi tốn kém vừa phí phạm nhân lực trước sự chống đối mãnh lực của dân chúng cũng như quốc hội Mỹ. Trong lúc đó các phong trào phản chiến tại Mỹ, Châu-Âu cũng như giới truyền thông thế giới gây áp lực chính phủ Mỹ đối với Việt Nam càng ngay càng lan rộng và Washington thì cần phiếu của cử tri cho các cuộc bấu cử sắp đến, do đó Mỹ phải quyết định ra đi vội vàng trong danh dự bằng cách vừa bán cái chiến trường cho chính phủ Việt Nam và vừa cột tay QLVNCH giữa lúc tình hình quân sự đang đến hồi quyết liệt trên các trận địa. Nhưng giải pháp tồi tệ và vô trách nhiệm của Mỹ là cắt viện trợ và buộc Việt Nam Cộng Hòa ngồi ngang hàng với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đồng thời còn áp lực chính phủ Nguyễn Văn Thiệu phải nhận ký vào hòa thỏa ước ngưng bắn mà lợi thế nghiêng hẳn về phía Hà Nội cũng như đám bù nhìn tại Miền Nam của chúng. Ngoài ra theo tôi, còn một lý do thầm kín nữa mà người Mỹ vì bảo vệ danh dự họ mà không nói thẳng ra, đó là chính một số người Miền Nam đã công khai xuống đường đuổi người Mỹ và Đồng Minh ra khỏi Việt Nam đồng thời mở đường để đón cộng sản vào.

Về mặt quân sự, ngoài mặt trận, bộ đội chính quy cộng sản Bắc Việt đã có mặt trên các vùng chiến thuật qua các trận đánh quy mô cấp số quân đoàn. Tại thôn quê, du kích cộng quân xuất hiện trong các vùng thiếu an ninh hoặc len lỏi vào nơi đông người, pháo kích đặt mìn khủng bố gây ra tình trạng bất ổn từ thôn quê đến thành thị. Gốc của thành phần du kích nầy đa số người trong Nam, là dân tại các vùng quê bị cộng sản lừa bịp và áp bức đưa ra Bắc. Hà Nội huấn luyện họ trở thành những con thiêu thân, cưới vợ gã chồng với người địa phương rồi vào đưa trở lại Miền Nam với mục đích bám vào máu mủ tình thân ruột thịt cũng như liên hệ gia đình để hoạt động trong các vùng xôi đậu. Ngoài mặt trận người lính không an tâm đánh giặc, tại hậu phương cảnh sát, công an, dân vệ và các lực lượng chuyên ngành khác bị cầm chân vì thành phần du kích và các thành phần cộng sản nằm vùng. Quân chính quy có mặt tại chiến trường Miền Nam hay du kích quấy phá tại hậu phương thật ra chưa phải là vấn đề then chốt để đưa đất nước rơi vào tay cộng sản một cách nhanh chóng. Điều quan trọng nhất là chính một số dân Miền Nam gây rối, ăn phải bã cộng sản hoặc nhận ân huệ, tiền bạc của ngoại bang để phá hoại chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Đây chính là hậu phương đã dùng hàng ngàn hàng vạn ngọn giáo đâm ngay vào lưng những người đang ngày đêm bảo bệ tổ quốc và an dân cho đồng bào.

Những lát dao chính trị do cộng sản và ngoại bang điều khiển thể hiện dưới nhiều hình thức như sau:

- Một số sĩ quan theo cộng sản đồng thời ngữa tay nhận tiền của ngoại bang để đảo chánh, giết hại các vị lãnh tụ, thông đồng với địch trả tự do cho những tên gián điệp cũng như bọn nằm vùng bị bắt. Cuối cùng chính số sĩ quan nầy âm mưu giao nền Cộng Hòa Việt Nam vào tay quân thù cộng sản.

- Tại quốc hội thì một số dân biểu theo cộng sản, đối lập hung hăng, phá thối chính nghĩa, đòi các lãnh tụ Miền Nam từ chức và giao chính quyền cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để mở đầu chương trình bắt tay với cộng sản Hà Nội. Ngoài ra phải kể đến một số trí thức đỏ ruột và thành phần bất mãn vì thất sũng đã chạy vào bưng theo mặt trận giải phóng, phong trào cứu quốc của Hà Nội.

- Thành phần nằm vùng đầy dẫy trong giới trí thức và điệp viên cộng sản được gài sẳn ngay trong chính quyền miền Nam. Hai nhóm nầy, mặt ngoài khuấy động chính trị, mặt trong cung cấp các tin tức tình báo cho địch mà chính CIA là chiếc dù che giấu đở đầu cho thành phần nầy vừa đánh phá các chính phủ vừa áp lực đòi hỏi yêu sách của Hoa Thịnh Đốn.

- Tôn giáo đóng vai chính nổi bật và hữu hiệu nhất mà cộng sản dựng lên để lùa con chiên, tín đồ, Phật tử xuống đường nhằm mưu đồ lật đổ các chính phủ Miền Nam. Người ta còn nhớ thời bấy giờ cha-thầy lợi dụng con chiên Phật tử để xua bà già trầu và con nít còn mặc quần giây thung xuống đường cản chân cảnh sát, công an và các chiến sĩ áo đen đang truy lùng các cán bô cộng sản, bọn nằm vùng và khủng bố đang lợi dụng sự tự do của chế độ Miền Nam để gây rối hậu phương.

- Thành phần trí thức chạy theo chiêu bài trung lập hoặc chủ trương theo đường lối cộng sản, ủng hộ những tổ chức trá hình như phong trào cứu quốc, phong trào đòi dân chủ, phong trào đời trung lập, phong trào bảo vệ đạo pháp, phong trào chống tham nhũng cũng như tổ chức bù nhìn của Hà Nội là chính phủ lâm thời Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

- Một số chủ báo, ký giả hô hào lật đổ chính phủ, ‘bị gậy’ xuống đường ăn mày theo các cuộc biểu tình của sinh viên và tôn giáo do cộng sản chủ mưu.

- Các sinh viên theo cộng sản cầm đầu xuống đường thường xuyên từ Sàigòn ra Huế để đòi hỏi từ yêu sách nầy đến điều kiện khác. Nhưng chung quy những việc biễu tình của thành phần trẻ nầy cũng loanh quanh trong vấn đề phá hoại chính thể Việt Nam Cộng Hòa, nối giáo cho giặc, làm nản lòng những người cầm súng ngoài mặt trận và đồng minh đang chiến đấu bảo vệ tự do bên cạnh chúng ta.

Như vậy từ một số ít sĩ quan trong QLVNCH, dân biểu đại diện dân, cha thầy các tôn giáo, trí thức khoa bảng, truyền thông báo chí đến sinh viên học sinh đều ăn phải bã cộng sản, ngày đêm xuống đường phá rối công cuộc chống cộng của toàn dân thì dù Mỹ có tận tình giúp đở Việt Nam chống cộng cũng phải nản lòng và kiếm cách rút lui trong danh dự. Vậy trước tiên chúng ta hãy bình tĩnh và tự trách mình, phải biết kiểm điểm những gì đã xảy ra trước năm 1975 để rút ra một bài học cho cộng cuộc tranh đấu của chúng ta ngày hôm nay.

Những lời nói của tôi trên đây không có mục đích bênh vực hay chạy tội cho chính quyền Mỹ, nhưng khi đứng trước bức tường ghi danh trên 50 ngàn lính Mỹ đã hy sinh cho đất nước Việt Nam, tôi nghĩ rằng người Mỹ họ rút khỏi Việt Nam cũng có cái lý của họ. Hàng tỷ mỹ kim bỏ ra, hàng trăm ngàn binh sĩ vừa chết vừa bị thương nhưng người Mỹ đã được lợi gì khi Việt Nam, nơi hằng ngày xảy ra những cuộc biểu tình phá thối, ủng hộ cộng sản mà họ là đồng minh quan trọng nhất hy sinh từ tiền của đến tánh mạng để bảo vệ đất nước chúng ta. Ngoài ra những cuộc xuống đường đuổi quân đội Mỹ ra khỏi nước để bắt tay với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và cộng sản Bắc Việt chính là một cái tát vào mặt người Mỹ. Điều nầy làm cho cả thế giới và ngay trong nội bộ người Mỹ đều lên tiếng phản đối mạnh mẽ về sự can thiệp của chính phủ của họ vào Việt Nam. Vậy thành phần phá hoại Miền Nam trước năm 1975 mục đích làm gì và làm cho ai, Việt Nam Cộng Hòa, nước Mỹ hay là cho cộng sản Hà Nội ?

Vậy có thể kết luận rằng, chính chúng ta đã làm mất nước chứ đừng đổ lỗi cho bất cứ một lý do nào khác.

2. Mặc dù dân Việt Nam đã sáng mắt nhưng lý do nào đã giúp cho đảng cộng sản vẫn còn tồn tại ?

Ngay những ngày đầu khi quân cộng sản tràn vào Miền Nam, chúng đã lộ mặt ra chính là một đảng cướp không hơn không kém. Hà Nội dùng các phương tiện chuyển vận để đưa về Bắc tài sản tiền của quốc gia như một bọn cướp biển tìm được kho tàng, ngày đêm chở về Bắc từ tất cả vàng bạc của ngân khố quốc gia cho đến các thứ nhỏ nhặt trong các bảo tàng viện cũng không bỏ sót. Thậm chí những tác phẩm nghệ thuật văn hóa cố định như các tượng đồng công viên thành phố ở đường Duy Tân (Sàigòn), lư đồng, súng thần công trong Đại Nội (Huế) chúng cũng bứng đem về Bắc. Binh lính cán bộ nhà nước thì tự nhiên xem tài sản của dân Miền Nam là chiến lợi phẩm, hí hững vào nhà dân ngang nhiên vừa mang vừa vác đưa về làm của riêng. Những hình ảnh ‘cướp ngày’ nầy cho phép dân Miền Nam sáng mắt ra và thấy rằng đó là mục đích ‘giải phóng dân tộc’ và chủ trương ‘thống nhất đất nước’của cộng sản !

Rồi dùi cui súng đạn và kẽm gai được dựng lên để bóc lột, trả thù, đồng thời hăm dọa buộc dân Miền Nam phải thuần phục chế độ cộng sản. Thanh lọc thành phần dân chúng là việc chúng áp dụng đầu tiên để cai trị ; hàng trăm ngàn người phải vào tù và hàng triệu người phải giao nhà cửa đất đai ruộng vườn cho chúng để đi vùng kinh tế. Tiếp đến là thủ đoạn dùng bao tử để cai trị bằng hình thức đổi tiền hạn chế theo đầu người và hộ khẩu, chúng chỉ bán thực phầm cho những ai biết vâng lời và phục tùng chế độ …Do đó hàng triệu người đã đánh đổi mạng sống và nhào ra biển đi tìm tự do…

Đến lúc nầy thì không còn người Miền Nam nào, dù là những tay ‘ba mươi’, những tên trước đây vào bưng ủng hộ … cũng tìm đường chạy trốn cộng sản. Một câu nói của dân chúng phản ảnh rõ ràng tình trạng xã hội thời đó ‘nếu trụ đèn biết đi, chúng cũng kiếm đường vượt biên’.

Để trấn áp dân, cộng sản đã dùng những thủ đoạn dã man để trấn áp dân Miền Nam. Ngoài việc dùng bao tử làm phương tiện chỉ huy con người, cộng sản còn lập ra hàng loạt trại tù, trại cải tạo để nhốt vào đó những người chống đối cũng như bất cứ ai mà chúng cho rằng không có lợi hay thích hợp cho chế độ. Từ đó hình ảnh đói khát, kẽm gai, trại cải tạo, súng đạn, tra tấn, tù tội là nỗi sợ hải ngày đêm ám ảnh thành phần dân chúng bị trị.

2.1. Đối với người dân tại Quốc nội:

- Sợ hãi và thụ động:

Như đã trình bày ở trên, dưới chế độ cộng sản, người dân luôn sống trong cảnh lo âu sợ sệt vì những hình thức khủng bố từ vật chất đến tinh thần. Tay chân phải hoạt động kiếm ăn từng bữa, đầu óc căng thẳng không biết giờ nào công an hỏi thăm sức khỏe và ngày đêm lo lắng không biết khi nào vào tù hay đi cải tạo. Đòn hỏa mù chính trị do cộng sản tung ra chi phối sự xét đoán của những người yêu nước, hàng chục tổ chức, hàng trăm người tranh đấu xuất hiện nhưng không biết ai thật ai giả. Đời sống tinh thần phải tự mình kiểm soát từng giây phút, hành động phải canh chừng từ lời ăn tiếng nói, vì không biết chung quanh vợ con, bạn bè, hàng xóm ai là công an chìm, ai là nhân viên chỉ điểm. Nếu sơ hở thì xem như cuộc đời sẽ kết túc giữa các hàng rào kẽm gai ! Chính cộng sản tạo ra những nỗi sợ hải của người dân bằng mọi hình thức, sự sợ hải nầy sẽ đưa đến việc thụ động đúng theo chủ trương của cộng sản. Do đó người ta không ngạc nhiên chủ trương văn hoá của cộng sản chỉ có mục đích nhằm tạo cho mọi người chỉ biết thụ động ăn uống và hưởng thụ. Một khi con người trở thành súc vật thì không còn trí óc để phán đoán và hèn nhác trong tư tưởng. Từ đó người dân trong nước đã ngủ một giấc khá dài trong lo âu, trong sợ hải và trong an phận.

Nhưng may mắn thay cho vận nước, từ những năm vừa qua nhiều nhà tranh đấu đã can đảm vượt ra khỏi bóng tối sợ hải, đứng lên tranh đấu đòi dân chủ, nhân quyền cho người dân. Dù bị giam cầm nhưng họ vẫn một mực kiên tâm chấp nhận tù đày để nêu sáng ngọn cờ chính nghĩa. Hành động anh dũng nầy đã vực dậy cơn say ngủ của người dân đồng thời đảo lộn sự sợ hải ngược lại cho cộng sản ! Cũng vì sợ hải nên đầu óc của tập đoàn đảng cộng sản trở nên u muội khi chúng bán đất nhượng biển cũng như trải thảm mời Tàu cộng vào xâm chiếm Việt Nam. Đây là tử lộ của cộng sản vì chúng khơi động sự bất mãn giới trẻ, đồng thời làm sống lại tinh thần dân tộc và lòng yêu nước mà chính chúng đã đầu độc cả dân tộc Việt Nam bằng những liều thuốc ngủ từ lâu.

- Các tôn giáo chưa đồng loạt đứng lên:

Đối với Việt Nam, ngoại trừ đảng viên cộng sản, còn lại đến gần 95% dân chúng đều theo một tôn giáo nào đó. Đa số thờ Phật, Thượng Đế hoặc Tổ Tiên Ông Bà. Để giải quyết trở ngại vấnn đề tín ngưỡng mà cộng sản cho là mối đe dọa chế độ, chúng đã tạo ra nhiều giáo hội quốc doanh khác nhằm mục đích xé các tôn giáo ra làm hai và dùng các tổ chức quốc doanh nầy để trấn áp những giáo hội chân chính. Trong công cuộc tranh đấu chung cho đất nước dân tộc, chúng ta không cần nhắc đến thành phần lãnh đạo tôn giáo thuộc tổ chức quốc doanh được cộng sản tuyển chọn và đào tạo theo khuôn mẫu ‘công an-mật vụ-tuyên-truyền’ với những ân huệ dành cho người phàm tục, vì thành phần nầy chỉ có bổn phận duy nhất là bảo vệ chế độ. Điều mà tôi tha thiết kêu gọi là những vị lãnh đạo các tôn giáo chân chính hãy cùng nhau đứng lên hiệp lực và tiếp tay với tín đồ, phật tử, sinh viên học sinh…để cùng nhau tranh đấu giải thể bạo quyền cộng sản. Các vị là những nhà lãnh đạo có uy quyền, có khả năng thì không thể núp trong bóng tối, phú mặc cho con chiên-tín đồ-Phật-tử của mình xuống đường mà tự chính mình phải dấn thân, chia sẻ đau khổ thể xác và ước vọng tinh thần với những tín hữu trung thành đồng thời sẵn sàng hy sinh vì đại nghĩa.

Đưa ra vấn đề trên không phải tôi phủ nhận những gương sáng tù đày của các nhà tranh đấu, của các cha các thầy hiện nay, mà phải thưa rằng những hy sinh nầy chưa đủ yếu tố để trấn an sự sợ hải của người dân cũng như chưa đủ dung lượng để vực dậy tinh thần yêu nước của giới trẻ. Điều cần thiết là phải cần sự hiện diện của các lực lượng tôn giáo lớn và các chính đảng chống cộng thì mồ hôi, xương máu của các nhà tranh đấu sẽ không phí phạm và bị mai một. Tôi nghĩ rằng người trong nước đang tranh đấu trong đơn độc, trong sợ hải trước bạo quyền cộng sản thì các vị lãnh đạo đảng phái, lãnh đạo tinh thần, các tổ chức tranh đấu ‘thật’ không nên khoanh tay ngồi trong bóng tối chờ thời mà hãy cam đảm đứng dậy ngay từ bây giờ, xông vào thế trận làm đầu tàu để đẩy mạnh cuộc tranh đấu của toàn dân chóng đến ngày thành công.

2.2. Đối với người tỵ nạn hải ngoại:

Không chấp nhận chế độ cộng sản nên người Việt phải chấp nhân bỏ nước ra đi. Tôi nói chấp nhận ra đi vì thực sự không một ai dám liều lẫn lấy mạng sống để thách đố với rủi ro, không có ai muốn từ bỏ quê cha đất tổ, mồ mả ông bà và bạn bè đồng đội để hy vọng làm lại cuộc đời ở một một vùng trời xa lạ nào đó. Nhưng một khi bình yên ra đến xứ ngoài, tất cả mọi người đều tâm nguyện rằng họ phải làm một cái gì cho đất nước để giành lại giang sơn gấm vóc trong tay kẻ thù và mai kia còn có ngày quay về với mảnh đất thân yêu. Do đó những người tỵ nạn cộng sản đã đóng góp công sức và âm thầm trở về phục quốc ngay sau thời hậu mất nước. Máu của anh hùng Trần Văn Bá và những người trở về phục quốc cùng thời đã đổ xuống sau một phiên tòa man rợ của cộng sản chính là ngọn lửa tạo khí thế tranh đấu mãnh liệt ở hải ngoại. Nhưng rồi những thực tế đau buồn đã làm cho người Việt nước ngoài vì những lý do sau:

- Vì mất niềm tin:

Đơn cử thí dụ, một phong trào kháng chiến rầm rộ trở về giải phóng đất nước thời đó đã đáp ứng sự nôn nóng mong đợi của toàn dân trong cũng như ngoài nước. Người Việt hải ngoại đã góp công góp của để nuôi dưỡng phong rào nhưng khi khám phá ra tổ chức nầy thực lực không có mà lợi dụng hình thức phao tin và thổi phồng những chuyện giả tưởng để thu hút tiền bạc…thì từ đó người Việt hải ngoại mất hẳn niềm tin khi nghe đề cập đến vấn đề phục quốc. Bây giờ nếu có tổ chức nào lên tiếng cổ võ yểm trợ, đóng tiền giúp các tổ chức tranh đấu từ hải ngoại đến quốc nội đề gặp phải sự thờ ơ của những người đã mất niềm tin. Đây chính là một hình thức chính mình đã tự giết mình.

- Vì phản bội của một số người trong cộng đồng:

Ngoài việc gài thành phần cán bộ và cò mồi ‘xanh vỏ đỏ lòng’ trà trộn giữa các cộng đồng người Việt hải ngoại, Cộng sản còn dựng lên một nhóm người hai mặt vừa ‘quốc’ vừa ‘cộng’, hôm đánh phá, hôm ủng hộ, lúc ngã bên nầy lúc nghiêng bên kia, tạo ra một thế hỏa mù lẫn lộn giữa trắng đen, giữa thiện ác…làm cho những người có tâm huyết mất hết niềm tin đồng thời tạo nghi ngờ lẫn nhau, nhất là đối với những người tranh đấu nhiệt tình.

- Vì quên hẳn nguồn gốc:

Phải nói rằng một số đông người tỵ nạn cộng sản đã quên hẳn nguồn gốc của mình. Xin chứng minh bằng một ví dụ nhỏ: Người Việt hải ngoại đi về Việt Nam thường bị cộng sản đưa vào con đường tự nguyện thực hiện nghị quyết 36, hòa giải hòa hợp một cách nhẹ nhàng, thật hiệu nghiệm nhưng tiếc rằng họ không hay biết ! Cộng sản tạo điều kiện thoải mái và cho phép người Việt nước ngoài về Việt Nam vui chơi trong thời gian du lịch với một điều kiện rất dễ dàng : Đừng hoạt động chính trị ! Nghĩa là cộng sản đã biến những người Việt về du lịch trở thành những người quên quá khứ đau buồn ngày trước và chỉ biết hưởng thụ tối đa. Không có hành động chống đối chế độ nhưng những người nầy lại tự động trở thành cái loa tuyên truyền không công cho cộng sản. Khi du lịch trở về họ thường tuyên bố rằng, bây giờ cộng sản mở cửa thật thoải mái, muốn ăn muốn chơi gì cũng được miễn là đừng có âm mưu hoặc hành động nào vi phạm an ninh trật tự của chính quyền ! Đúng, điều đó họ nói thật ! Nhưng suy nghĩ cho kỹ thì đây là những cái loa tuyên truyền không công cho cộng sản đồng thời nồng nhiệt cổ võ cho những người khác đi về Việt Nam. Ngoài ra phải nói thêm, những người về Việt Nam buôn bán, du hí, thăm vợ hờ, kiếm bồ nhí thì thường có mặc cảm với lương tâm, gia đình bạn bè cũng như những chung quanh. Từ những trường hợp mặc cảm nầy cộng đồng mất dần từ người nầy đến người khác trong các sinh hoạt tranh đấu.

- Vì tranh dành danh lợi:

Một tệ trạng nhỏ, thật nhỏ trong cộng đồng nói ra thì buồn lòng tất cả nhưng phải công nhận rằng nó cũng phân hóa cộng đồng và làm sứt mẻ tình đoàn kết. Vì chút hư danh mà một số nhỏ người lập ra nhiều hội đoàn mang tên thật kêu, thật bề thế nhưng thực chất chẳng ra gì rồi kèm cựa, ganh tỵ, bôi bác và chụp mũ nhau, tạo tình trạng chia rẽ thì đúng cộng đồng chúng ta đã đi vào quỹ đạo của cộng sản. Người dấn thân tranh đấu phải biết đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên cá nhân gia đình đảng phái của mình. Nhưng nhóm người nầy vô tình đã hạ thấp danh dự cộng đồng người Việt xuống khi tranh chỗ ngồi, dành chức vụ và tự tố cáo lẫn nhau trước mắt người địa phương cũng như giới quan sát quốc tế.

Điều tốt nhất, các đoàn thể chính trị cần thu góp chung lại thành một khối, dẹp bỏ những tổ chức trùng tên và cùng chung hướng hoạt động trong một thành phố, một vùng hay một tiểu bang. Mang danh đảng phái hội đoàn làm gì khi thực lực không có, nhân sự chỉ một hai người rồi đi lừa người nầy dối đoàn thể khác. Cái kim dù giấu kỹ trong túi nhưng có ngày cũng lòi ra thì xin hãy tự trọng giữ lấy nhân cách con người.

Đến bao giờ con người biết nghĩ đến quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên cá nhân gia đình đảng phái của mình, bao giờ con người biết đặt danh dự của người Việt Nam lên trên tất cả thì thời gian đánh đổ cộng sản tự nhiên sẽ rút ngắn trở lại.

- Vì thái độ thầm lặng, chờ thời và ỷ lại:

Tôi đọc nhiều bài viết của một nhóm người gọi là ‘khối thầm lặng’ và phải nói rằng những vị nầy cũng có tinh thần yêu nước qua những tác phẩm mà họ thường tỏ ra xót xa cho thân phận quê hương cũng như những người còn sống dưới chế độ cộng sản. Nhưng tại sao chỉ đứng ngoài nhìn xem, và tôi xin hỏi, nhìn xem đến bao giờ ? Người xưa có câu, một khi giặc đến nhà thì đàn bà cũng phải đánh huống gì là thành phần tỵ nạn đã tức tưởi bỏ nước ra đi và mong cơ hội để góp phần xây dựng lại cơ đồ ! Có thể thành phần nầy cho rằng cộng đồng là những tập hợp ồn ào, thiếu tổ chức và chưa làm được gì trọng đại. Nhưng lúc nầy thời điểm đã chín mùi, mong những vị thường cho mình tài đức đừng chần chờ gì nữa mà hãy xuất hiện đóng góp công sức với những người đang ngày đêm tranh đấu tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.

Phải thành thực nói rằng thái độ thầm lặng, chờ thời và ỷ lại thì cũng là một hình thức mất niềm tin. Tại hải ngoại, nhiều vị có khả năng nhưng còn ẩn mình và giữ thái độ thầm lặng hoặc tệ hơn nữa là ngồi trong bóng tối phê phán, bới lông tìm vết những người dấn thân thì những hành động của họ có khác gì thành phần đón gió đầu cơ chính trị ! Ngoài ra còn một số người chỉ trông đợi vào ngoại bang, họ thành lập hội đoàn và kiên nhẫn chờ Nhà Trắng trao nhiệm vụ hoặc bật đèn xanh cho phép trước khi giục trống thúc quân ! Thái độ ỷ lại vào ngoại bang làm suy giảm uy tín về tinh thần đoàn kết và khả năng tranh đấu hiện nay của người Việt nước ngoài. Hành động dựa vào ngoại bang là tự mình tình nguyện lệ thuộc ngoại quốc thêm một lần nữa và tự đặt tương lai đất nước dưới một hình thức ràng buộc mới.

3. Những điểm nào có thể khắc phục để góp phần giải thể chế độ cộng sản:

Trong phạm vi buổi nói chuyện hôm nay, xin phép đề cập đến hai điểm và hy vọng những thiển ý nhỏ bé của tôi sẽ đóng góp với những người bạn trên đường tranh đấu, như một giọt nước, như một ngọn nến nhỏ, để vượt qua những khó khăn đang cản trở con đường tranh đấu.

- Bị chia rẽ và tự chia rẽ:

Cộng sản sợ chúng ta hai điểm : Sự đoàn kết của toàn dân và quyết tâm của người Việt nước ngoài trong việc cắt đứt nguồn tiếp tế, hà hơi giúp sức cho chế độ cộng sản. Lo ngại trước sức mạnh của cộng đồng, cộng sản Việt Nam đã vội vàng đưa ra nghị quyết 36 và nâng chương trình kiều vận lên thành một bộ trong ngụy quyền của chúng để giải quyết hai vấn đề trên. Một mặt đánh phá chia rẽ cộng đồng và mặt khác thì kêu gọi khúc ruột ngàn dặm hòa giải hòa hợp, đem công sức về phục vụ quê hương. Tinh thần đoàn kết của người Việt hải ngoại thật cao nhưng hành động đoàn kết của cộng đồng đang ở thế ‘bị chia rẽ’ bởi âm mưu của kẻ thù và ‘tự chia rẽ’ do chính chúng ta gây ra.

Cộng đồng người Việt hải ngoại bị cộng sản chia rẽ và hậu quả như thế nào thì nhiều người đã đề cập đến và chúng ta đều hiểu rành mạch. Đây là một đòn độc rất lợi hại để chia cộng đồng chúng ta ra nhiều tổ chức, nhiều nhóm, nhiều khuynh hướng để phiá cộng sản dễ dàng giật dây. Đồng thời chính chúng ta xem trọng ‘cái tôi’ cũng như ‘quyền lợi cá nhân’ và nhất định không chịu ngồi chung lại với nhau. Nếu tất cả không nhìn thấy hậu quả của sự phân hóa nầy thì chúng ta sẽ hiễu rằng dù có tranh đấu đến đâu cũng không bao giờ đạt được kết quả.

Vấn đề ‘tự chia rẽ’ của chúng ta có thể xem là một chuyện nhỏ, ví như viên sỏi xuất hiện trong guồng máy cộng đồng. Nhưng dù bé nhỏ thế nào đi nữa, một khi viên sỏi rơi vào ngay giữa các bánh xe dây chuyền thì việc xây dựng đoàn kết cũng bị trở ngại vì chính do bàn tay chúng ta đã tạo ra.

- Sai lầm binh pháp:

Một vấn đề lớn đã đề cập từ nhiều năm nay là chúng ta đã chiến đấu sai lầm binh pháp:

1. Chúng ta đã quên câu ‘Biết mình biết ta, trăm trận trăm thắng’: Trước tiên ta ít biết hoặc không muốn biết về ta, thường chủ quan và khinh thường địch. Địch ở đây không chỉ là tập đoàn cộng sản gồm gần ba triệu đảng viên đang cai trị dân Việt Nam từ trung ương xuống đến địa phương, đang nắm quyền kinh tế từng từ nhỏ đến lớn trong nước và ngày đêm rình rập người dân từ trong gia đình ra đến thôn xóm. Địch chúng ta cần phải biết và phải đánh là những người đang ở chung quanh, lẫn lộn giữa chúng ta trong các cộng đồng tại hải ngoại. Chính thành phần nầy mới nguy hiểm cho công việc tranh đấu của chúng ta hơn là những tên cộng sản trong quốc nội. Chúng đánh ta ngày đêm bằng tuyên truyền, địch vận, văn hóa vận với những âm mưu chia rẽ, gây xáo trộn cộng đồng, chụp mũ thành phần chống cộng để phân hóa tập thể cộng đồng người Việt hải ngoại ra nhều phe nhóm theo nghị quyết 36 của Hà Nội. Có can đảm làm sạch cộng đồng, loại hẳn thành phần nằm vùng, cò mồi đón gió, hòa giải hòa hợp chủ trương van xin kẻ thù thì cuộc chiến sẽ thông suốt và công cuộc tranh đấu của chúng ta có cơ may rút ngắn thời gian.

2. Từ lâu người Việt hải ngoại bỏ ngoài tai một lời kêu quan trọng. Vậy từ nay phải can đảm chấm dứt một sai lầm lớn là chúng ta ‘Vừa đánh vừa tiếp tế cho định’ : Binh pháp dạy rằng một khi đã ‘công đồn’, thì phải ‘cắt lương thực’. Đây là một điều khẳng định, nếu áp dụng đúng thì sớm muộn gì địch cũng phải bỏ thế thủ để đầu hàng. Nhưng thực tế chúng ta công đồn cộng sản từ mấy chục năm nay nhưng mỗi năm vẫn vui vẻ gởi về hàng tỷ mỹ kim để nuôi dưỡng kẻ thù ! Bởi vậy con đỉa cộng sản hằng ngày càng mập ra và đừng ngạc nhiên khi tài sản của những tên trong tập đoàn cộng sản có hàng trăm tỷ ngoại tệ trong các ngân hàng nước ngoài. Thử nhớ lại, trong những ngày hấp hối, Miền Nam chúng ta cần 3 trăm triệu mỹ kim để tiếp tế đạn dược cho tiền tuyến nhưng người bạn đồng minh đã thẳng tay từ chối. Bây giờ đáp lời đường mật của kẻ thù, người Việt nước ngoài hàng năm vui vẽ gởi về năm bảy tỷ mỹ kim. Thế mới biết rằng tại sao chúng ta chống kẻ thù từ 34 năm qua nhưng cộng sản vẫn còn đó !

Tuy nhiên những điều tôi vừa đề cập không phải là mộ bi quan trầm trọng vì cộng sản là những con đỉa càng ngày càng mập ra, một khi bụng đã căng đầy máu thì tự động chúng sẽ ngã lăn ra và rơi xuống. Nói vậy để xác định một điều rằng, những sự kiện gì một khi đã tiến lên đến tột đỉnh thì chính nó tự động tuột xuống theo định luật tự nhiên. Như vậy những điểm yếu mà tôi vừa đưa ra ở phần trên chỉ là những vần đề nhỏ có thể khắc phục trong một thời gian rất ngắn nếu chúng ta có ý chí và quyết tâm thực hành.

Vậy, chúng ta đã làm mất nước thì chính chúng ta có thể cứu lại đất nước vì lịch sử đã chứng minh rằng trước đây tiền nhân của chúng ta đã ngàn lần đánh thắng đại quân Hán phương Bắc là nhờ ý chí và sức mạnh của toàn dân. Ngày nay ‘Thiên thời’ đã giúp cho nhân loại nhận ra bộ mặt thật tội ác của cộng sản cũng như thế giới đã ủng hộ chúng ta tranh đấu để dành lại quê hương dưới bàn tay của loài quỷ dữ. ‘Địa lợi’ đã đến bằng các hành động do chính tay cộng sản đào hố tự chôn mình như ; bán đất nhượng biển cho giặc phương Bắc, mở rộng cửa cho kẻ thù truyền kiếp vào khai thác bauxite và đồng lõa biến nước Việt Nam trở thành một tỉnh lỵ của Tàu cộng ! Chỉ còn một điểm là ‘Nhân hòa’ là chúng ta có đủ yếu tố cần thiết xô chúng xuống vực thẳm để giải thể tập đoàn cộng sản khát máu. Muốn thực hiện điều kiện ‘Nhân hòa’ thì thật ra không có gì khó khăn : Đó chính là sự đoàn kết của mọi người, mọi giới từ trong nước ra đến hải ngoại và cộng đồng người Việt nước ngoài phải có thái độ dứt khoát với thành phần nằm vùng và chủ trương hòa giải hòa hợp với cộng sản đồng thời chấm dứt ngay vấn đề gởi tiền về nuôi chế độ. Như vậy không còn lý do gì để bi quan mà hãy đặt niềm tin vào tương lai dân tộc cũng như vận mệnh Đất Nước.

Để chấm dứt buổi nói chuyện hôm nay, tôi xin lặp lại lời nói của một nhà chính trị Việt Nam: Nếu chính phủ nầy bị lật đổ, chỉ cần một chu kỳ thì cộng sản sẽ thôn tính miền Nam. Và sau đó, phải đến ba chu kỳ nữa thì nhân dân Việt Nam mới thoát được ách cộng sản. Vậy, chúng ta hãy hy vọng và chờ đợi.

Xin Ơn Trên và Hồn Thiêng Sông Núi phù hộ cho dân tộc Việt Nam.

Đinh Lâm Thanh
Cuối tháng 7 năm 2009

(*) Lời tuyên bố của ông Ngô Đình Nhu vào năm 1963, năm ông bị Dương Văn Minh giết với người anh là Tổng Thống Ngô Đình Diệm. (Một chu kỳ là 12 năm và VNCH đã rơi vào tay cộng sản năm 1975. Ba chu kỳ nữa có thể tính từ năm 2010 trở đi)