Thursday, August 13, 2009

THÓI HÁO DANH VÀ VĨ CUỒNG CỦA TRÍ THỨC - Vương Trí Nhàn

Vương Trí Nhàn

Thói háo danh và căn bệnh vĩ cuồng, từ xưa trong hoàn cảnh nhược tiểu nhiều người đã mắc, tới nay trong hoàn cảnh chớm hội nhập với thế giới, bệnh lại trầm trọng hơn trong một bộ phận trí thức.

Bài viết Tôi chỉ là Ashkenazy! Hay quốc nạn loạn chức danh, học vị gợi tôi nhớ tới một câu chuyện trong sử cũ.

Nhìn người bằng ... chức danh

Nửa cuối thế kỷ thứ XVII, có một trí thức Trung Quốc là Chu Thuấn Thuỷ trên bước đường chống Thanh phục Minh nhiều lần đến Việt Nam. Lần ấy, khoảng 1657, nghe Chúa Nguyễn có hịch chiêu mộ những ai biết chữ để giúp vào việc nước, Chu ra trình diện. Nhưng ông cảm thấy chung quanh không hiểu mình, không thi thố được tài năng, lại bị làm phiền, nên bỏ sang Nhật. Sau ông đóng góp rất nhiều vào viêc phát triển xã hội Nhật.

Chu không phải là loại người đọc sách xa lánh sự đời. Một học giả Nhật đã viết về Chu “Cái học của tiên sinh nhấn mạnh về "kinh bang tế thế". Giả sử nếu cần biến một vùng đất hoang thành phố thị, phải tập hợp sĩ nông công thương, thì một tay tiên sinh có thể cáng đáng để xây dựng nên phố thị. Thay vì “ thi thư lễ nhạc” tiên sinh thích nghiên cứu và tìm hiểu sâu sắc về cách canh tác ruộng nương và cách xây dựng nhà cửa, cách làm rượu làm tương ... Tiên sinh có thể dạy người ta bất cứ việc gì” .(1)

Riêng chuyện bộ máy chính quyền Đàng Trong không thể chấp nhận một người như trên, đủ cho ta hiểu trình độ của bộ máy đó là như thế nào.

Trong tập ký sự của mình, Chu Thuấn Thuỷ kể khi trình diện nhà cầm quyền địa phương, gặp chuyện buồn cười là người Việt Đàng Trong bắt ông ứng khấu ngay một bài thơ rồi viết trên giấy. Tiếp đó câu đầu tiên bị hỏi là “Cống sĩ với cử nhân và tiến sĩ, bên nào hơn ?“.

Khi biết Chu chỉ là cống sĩ, viên quan địa phương có ý xem thường, cho học lực của Chu không thể nào đọ được các vị khoa bảng nhà mình.

Từ câu chuyện về Chu Thuấn Thủy tới câu chuỵên về nghệ sĩ Nga Vladimir Ashkennazy mà Đặng Hữu Phúc vừa kể, như là có sự nối tiếp. Hoặc có thể nói cả hai phối hợp với nhau làm nên một đôi câu đối khá chỉnh. Một bên thì không thể hiểu người nổi tiếng lại không có một chức danh nào, còn bên kia thì không cần biết trước mặt mình là người đã được hoàng đế nhà Minh mời ra giúp nước, chỉ nghe cái bằng cống sĩ đã bĩu môi chê bai - giữa người ngày xưa với người ngày nay, sao mà có sự ăn ý đến thế!

Từ háo danh tới vĩ cuồng

Đặng Hữu Phúc đã nói tới cái khó chịu khi phải nghe đám người “mở miệng là họ nói tới chức tước “ - tức đám người háo danh - trò chuyện với nhau. Ai đã sống trong giới trí thức ở ta hẳn thấy chuyện đó chẳng có gì xa lạ.

Anh A và anh B vốn cùng nghề và cùng cơ quan, họ cùng dự buổi họp nhỏ, chứ không phải đăng đàn diễn thuyết trước bàn dân thiên hạ gì.

Thế mà cứ động phát biểu thì từ miệng anh A, vang lên nào là “như giáo sư B đã nói” (gọi đầy đủ cả tên họ), nào là “tôi hoàn toàn đồng tình với các luận điểm giáo sư B. vừa trình bày“ (Thực ra có luận điểm khoa học gì đâu mà chỉ là mấy nhận xét vụn). Và B cũng đáp lại bằng cách nói tương tự.

Khi phải dự những cuộc hội thảo ở đó cách xưng hô và nói năng giữa các thành viên theo kiểu như thế này, tôi chỉ có cách ráng chịu một lúc rồi lảng. Tôi không sao nhớ nổi họ nói với nhau điều gì. Và tôi đoán họ cũng vậy. Vì mỗi người trong họ có vẻ còn mải để ý xem người phát biểu đã gọi người khác đúng chức danh chưa, hay để sót, chứ đâu có chú ý tới nội dung các phát biểu. Không khí nhang nhác như những buổi họp quan viên trong các làng xóm xưa, mà Ngô Tất Tố hay Nam Cao đã tả.

Tại sao chúng ta khó chịu với lớp người háo danh này? Đơn giản lắm, ta thấy họ ấu trĩ, non dại, thực chất họ thấp hơn cái vị thế mà họ chiếm được, không xứng với chức danh họ nhăm nhăm mang ra khoe.

Ai đã thử quan sát tình trạng tinh thần của đám người mê tín hẳn biết, người càng thiếu lòng tin, thì khi vào cuộc mê tín càng cuồng nhiệt.

Giới trí thức cũng vậy, cái sự thích kêu cho to chẳng qua là một cách để xoá bỏ mặc cảm. Kẻ yếu bóng vía lấy cái mã bên ngoài để làm dáng che đậy cho sự trống rỗng bên trong.

Mấy thói xấu mà Đặng Hữu Phúc nêu lên chỉ đáng để người ta cười giễu, ghét bỏ, thương hại. Song ác một nỗi chính nó lại là dấu hiệu đầu tiên của nhiều chứng nan y khác chẳng hạn căn bệnh mà Cao Xuân Hạo trong một bài viết ở cuốn Tâm lý người Việt nhìn từ nhiều góc độ (2) gọi là bệnh vĩ cuồng ( me’ganomanie).

Cao Xuân Hạo kể một chuyện mà thoạt nghe chắc chẳng ai dám tin. Hàng năm cơ quan lưu trữ nước mình thường phải thanh lý hàng tấn những hồ sơ “sáng kiến phát minh“ gồm toàn đề nghị viển vông do người trong nước ùn ùn gửi tới, ví dụ một người đề nghị ta cần mượn của Liên Xô (hồi đó còn Liên xô ) tên lửa vượt đại châu để bắn vào bắc cực khiến trục trái đất lệch thêm mười độ sao cho VN thay đổi vĩ độ và trở thành một nước ôn đới (vì tác giả “đề án” này tin rằng chỉ có khí hậu ôn đới mới thích hợp với một tốc độ vũ bão, giúp nước ta đuổi kịp và vượt xa các nước tiên tiến trên thế giới).

Cao Xuân Hạo nói thêm điều đáng lo là ở chỗ phần đông chúng ta khi nghe những điều quái gở ở đây đều thấy bình thường, cùng lắm thì là loại sai lầm dễ tha thứ; còn ai tỏ ý kinh hoàng thì bị mọi người coi là bệnh hoạn vô đạo đức vì đã không tin vào khả năng sáng tạo của những người bình thường.

Cần phải gộp cả thói háo danh và bệnh vĩ cuồng nói trên để phân tích vì giữa chúng có một điểm chung là đều xuất phát từ những người và nhóm người sống trong tình trạng cô lập, không có khả năng tự nhận thức, đứng ngoài nhịp phát triển tự nhiên của thế giới.

Tình hình lại cần được xem là tệ hại bởi nó bám rễ vào bộ phận tinh hoa của xã hội.
Trí thức là bộ phận mũi nhọn của một cộng đồng, của những thể nghiệm làm người của cộng đồng đó. Những nhược điểm của trí thức chẳng qua chỉ là phóng to nhược điểm của cộng đồng. Và nếu như những nhược điểm này đã thâm căn cố đế, trở thành một sự tha hoá, thì tình trạng của người trí thức sẽ là một phòng thí nghiệm hợp lý để nghiên cứu về tình trạng tha hoá nói chung. Phải nghiên cứu kỹ lưỡng thì may ra mới có cơ hội chữa chạy hay ít nhiều cũng giảm thiểu tình hình nguy hại.

*****
Ghi chú:

(1) Chu Thuấn Thuỷ Ký sự đến Việt Nam năm 1657 (An Nam cung dịch kỷ sự), Vĩnh Sính dịch và chú thích, Hội khoa học lịch sử Việt Nam 1999, tr.11
(2) Trung tâm nghiên cứu tâm lý dân tộc -- Tâm lý Người Việt nam nhìn từ nhiều góc độ, Nhà xuất bản Thành phố SG, 2000, tr.82-87
Bệnh sùng bái danh hiệu, chức vụ... trong giới trí thức vừa được Đặng Hữu Phúc xem như một quốc nạn. Chỉ có thể chia sẻ với một khái quát như thế nếu người ta nhận ra những gì đứng đằng sau cái căn bệnh có vẻ dễ thương đó là sự liên đới của nhiều “chứng nan y“ cùng là sự tha hoá của giới trí thức cũng như của nhiều lớp người khác.


MỘT CÁI NHÌN KHÁCH QUAN VỀ DVD ‘SỰ THẬTVỀ HỒ CHÍ MINH’ - Sơn Tùng



Sơn Tùng

Trước khi được xem “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”, tôi đã đọc nhiều bài phê bình và chỉ trích, nghe nhiều tiếng khen và lời chê về DVD này.

Tôi đã phải xem lại lần thứ hai để được nhìn tường tận hơn, được nghe chính xác hơn trước khi có vài ý kiến.

Trước hết phải khen về phần kỹ thuật. Hình ảnh trong sáng, âm thanh nghe rõ, trừ vài khuyết điểm về ráp nối. DVD dài gần 2 giờ (1 giờ 50 phút) nhưng xem không thấy dài.

Về nội dung cũng có nhiều điều đáng khen. Nhóm thực hiện đã mất nhiều công sưu tầm những hình ảnh, phim, tài liệu liên quan đến Hồ Chí Minh - từ ngày bỏ nước ra đi “tìm kế sinh nhai” (1911) cho đến lúc chết (1969) và những tài liệu khác về tội ác của cộng sản. Có những hình ảnh, tài liệu đã được nhiều người biết, có những cái ít người biết hay chưa được thấy bao giờ. Ngoài ra còn có cả hình ảnh, tài liệu về người cha của Hồ Chí Minh (Nguyễn Sinh Sắc, hay Huy). Nói chung, hình ảnh rất phong phú.

Những người được mời đóng góp ý kiến về Hồ Chí Minh và cộng sản cũng khá nhiều, cả người Việt và không phải người Việt, người phía “bên này” cũng như người phía “bên kia”: sử gia, học giả, ký giả, nhà văn, nhà tu, cựu đảng viên cộng sản, sinh viên ... Họ đã nói về mọi điều liên quan đến Hồ Chí Minh, từ chuyện gian dối về ngày sinh, ngày chết, đến chuyện có nhiều vợ và giết vợ, chuyện viết sách tự tâng bốc mình, chuyện ám hại những ngưBi quốc gia, vân vân.

Đây là một DVD tài liệu nhằm mục đích tuyên truyền đấu tranh nên phần diễn giải, hay thuyết giảng, rất quan trọng. Cùng một hình ảnh, một khúc phim, người ta có thể diễn giải khác nhau, tùy trình độ, tùy tài năng, tùy mục đích. Dân gian có câu “không sợ chiêm bao mà sợ thầy bàn” là vậy.

Mục đích của DVD này, như đã được Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, người chủ trương thực hiện, nói rõ là để “đánh đổ huyền thoại giả trá Hồ Chí Minh”. Vậy thì để đạt được mục tiêu này, “thầy bàn” phải là người có trình độ cao, có biệt tài về văn chương và sắc bén trong lãnh vực tuyên truyền. Nhưng đây lại là phần bị nhiều chỉ trích nhất. Trong số ấy, xin đan cử một vài ý kiến.

Sau khi trích dẫn lời diễn giải tiếp theo đoạn phim về chính sách “Cải Cách Ruộng Đất” do HCM cho phát động tại miền Bắc từ 1953 đến 1956 (nói rằng “Cuộc cách mạng được gọi là long trời lở đất được chấm dứt vào mùa thu năm 1956, với 170 ngàn người bị đấu tố đến chết, đảng Cộng sản đã chịu nhận sai lầm và tiến hành sai”), Bà Nguyễn Thị Bé Bảy đã dựa vào cuốn biên khảo “Từ Thực Dân Đến Cộng Sản” của Học giả Hoàng Văn Chí để cho rằng số người chết trong cuộc “Cải cách ruộng đất” lớn hơn nhiều so với con số 170 ngàn do cộng sản đưa ra, và “sửa sai không có nghĩa là Cộng sản Việt Nam chịu nhận sai lầm của họ trong Cải Cách Ruộng Đất”.

Nhận xét của Bà Nguyễn Thị Bé Bảy là xác đáng. Theo nhiều người am hiểu về phong trào “Cải Cách Ruộng Đất” ở miền Bắc thì con số 172 ngàn người chết do CSVN nhìn nhận thấp hơn nhiều so với số nạn nhân thực sự. Mặt khác, Cộng sản Hà Nội “sửa sai” chỉ là một trò bịp sau khi đã tiêu diệt hết “đối tượng”, những “kẻ thù giai cấp”. Với mục đích xóa tội và để xoa dịu sự căm phẫn trong dân chúng, họ đưa ra vài con dê tế thần để chịu trách nhiệm và chỉ bị “đánh khẽ lên mu bàn tay” về tội ác tày trời giết chết mấy trăm ngàn người dân lành!

Lời diễn giải trong DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” đã giúp CSVN xác nhận con số nạn nhân của tội ác Cải Cách Ruộng Đất “chỉ có 170 ngàn” (con số CSVN đưa ra là 172,008), và cũng biện hộ giùm cho CSVN rằng chiến dịch “đấu tố” man rợ là một sai lB Am của vài người trong giới lãnh đạo đảng. Và, Hồ Chí Minh vô tội!

“Thầy bàn”, thay vì buộc tội chính phạm Hồ Chí Minh, đã đánh tháo cho ông ta.

Về vụ thảm sát hơn ba ngàn người tại Huế trong cuộc “tổng công kích” Tết Mậu Thân, Bà Nguyễn Thị Bé Bảy cũng dẫn chứng lời diễn giải trong DVD (hỏi rằng “Ai? Bằng cách nào và tại sao đã giết mấy ngàn người ở Huế?), và bà nói rằng ngày nay mọi người đều biết CSVN là chính phạm trong tội ác kinh tởm này và tòng phạm là những kẻ tay sai nằm vùng tại Huế. Tại sao không chỉ đích danh bọn chúng mà lại còn đặt câu hỏi?

Bà Nguyễn Thị Bé Bảy cũng có lý trong nhận xét này. Vụ thảm sát tại Huế đã xảy ra trong lúc cộng sản tạm chiếm giữ thành phố này, và xảy ra trước mắt nhiều nhân chứng, kể cả Linh mục Phan Văn Lợi, người đã kể lại vụ thảm sát trong chính DVD, dù Cha đang còn ở tại Việt Nam. Vậy mà còn hỏi “ai” là thủ phạm thì thật là điều khó hiểu. Thật ra, đây là câu hỏi được nêu lên để sau đó các nhân chứng và các học giả trả lời. Nhưng, chính là vai trò của người viết lời diễn giải lên tiếng sau cùng để buộc tội đích danh HCM.

Theo định nghĩa của Tòa án Hình sự Quốc tế về tội ác chống nhân loại và tội diệt chủng thì chính phạm là kẻ nắm quyền lãnh đạo và kẻ đã ra lệnh để thi hành tội ác. Vụ “tổng công kích” Tết Mậu Thân đã xảy ra lúc Hồ Chí Minh còn tại quyền và do chính ông ta ra lệnh. Do đó ông ta là chính phạm. Người viết lời diễn giải đã bỏ lỡ cơ hội để vạch tội Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, có nhiều người cho rằng DVD thiếu những lời diễn giải sắc bén để làm nổi bật HCM không phải là một nhà ái quốc như đã được CSVN tô vẽ. Với rất nhiều tài liệu chứng minh, đây là điều quan trọng nhất để “đánh đổ huyền thoại giả trá Hồ Chí Minh”.

Vẫn biết trong một phim tài liệu, nên tránh sự phóng đại cũng như những lời lẽ tuyên truyền thấp kém, nhưng những lời bình luận sắc bén, kết tội đanh thép là vũ khí hữu hiệu để đánh gục kẻ thù, là sức mạnh ngôn từ để thuyết phục quần chúng.

Một thiếu sót lớn khiến nhiều người ngạc nhiên là không thấy nói đến những trại tù “cải tạo” dã man ở miền Bắc (như Lý Bá Sơ) và những trại “học tập cải tạo” trên khắp nước sau khi CSBV xé bỏ Hiệp Định Paris 1973, xua quân đánh chiếm miền Nam năm 1975. Những trại tù khổ sai tàn bạo này là rập khuôn của “gulag” tại Liên Sô, và là một tội ác lớn của CSVN, một chi nhánh của cộng sản quốc tế. Cũng không thấy phỏng vấn một nhân chứng nào nhân danh cựu tù nhân chính trị trong khi có những người được nói nhiều lần về nhiều vấn đề khác nhau, và có vài người mà sự xuất hiện trong DVD chỉ gây phản tác dụng.

Tuy nhiên, ngoài những khuyết điểm như trên, DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” là một thành tựu đáng khen, mà nếu được sửa chữa và phổ biến rộng rãi ở Việt Nam sẽ là một đòn nặng đánh vào việc thần thánh hóa và thờ cúng HCM mà CSVN đã và đang ra sức thi hành. Mặt khác, khi nói đến DVD này thì không thể không nói đến “Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Sài Gòn” do Linh mục Nguyễn Hữu Lễ phát động ở hải ngoại từ vài năm nay vì DVD này được cho biết là một dự án của “Phong trào” và sẽ được dùng để vận động dân chúng trong nước tham gia.

Ngay từ lúc “Phong trào” này được ra mắt ở hải ngoại, một số người đã nói rằng việc làm này của Cha Lễ sẽ “không đi đến đâu” vì đã phạm những sai lầm quan trọng. Trước hết là không thể gây nên một “phong trào quốc dân” ở trong nước từ hải ngoại. Thứ hai, việc “đòi trả tên Sài Gòn” là một sai lầm về chiến lược. Trong lúc mục đích của cuộc đấu tranh ở trong và ngoài nước hiện nay là loại bỏ chế độ cộng sản độc tài, kêu gọi đòi trả tên Sài Gòn chẳng khác nào công nhận chế độ ấy với tất cả quyền lực và sự “chính thống” của nó, làm cho lạc hướng công cuộc đấu tranh. Thứ ba, đòi trả tên Sài Gòn từ hải ngoại là một sai lầm về luật pháp quốc tế. Việc đặt tên một thành phố là quyền hành chánh của chính quyền một nước. Những người Việt ở hải ngoại, tuy mang máu huyết Việt Nam, nhưng đang là công dân một nước khác (Mỹ, Canada, Pháp, Úc, vân vân). Họ không có tư cách gì để đòi đổi tên một thành phố tại Việt Nam. Cũng giống như trước đây, người Nga lưu vong không thể đòi trả tên Petersburg tại Liên Sô. Sau khi chế độ cộng sản tại Nga sụp đổ, những Leningrad, Stalingrad ... cũng tự nhiên biến mất theo, không cần ai đòi trả tên.

Tôi không tin rằng Lm Nguyễn Hữu Lễ không biết điều ấy. Nhưng, tại sao Cha vẫn làm? Cha Lễ có thể trả lời. Trên thực tế, có một số người ủng hộ việc làm của Cha Lễ, và cũng có một số người chống đối ông, giống như những việc ông đã làm từ ngày ra hải ngoại. Từ vụ Bùi Đình Thi đến vụ “Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo” và “Ủy Ban Quốc Tế Tự Do Tôn giáo”, kể cả khi Cha ấn hành cuốn hồi ký “Tôi Phải Sống”.

Và nay, người ta cũng đang tranh cãi về DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”. Nhiều người khen, nhưng cũng có lắm kẻ chê, thậm chí chỉ trích gay gắt và đặt câu hỏi về mục đích của nó. Thật ra, điều ấy không lạ với những ai từng dấn thân là m một điều gì đó vì lý tưởng, vì công ích, hay vì cộng đồng. Những phê bình, chỉ trích có khi xây dựng, có khi vì ác ý hay chỉ nhằm mục đích phá hoại. Những tranh cãi chung quanh DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” cũng đã vượt ra ngoài phạm vi xây dựng. Có những bài phê bình đã biến thành lăng mạ cá nhân. Ngược lại, cũng có những ủng hộ đã trở thành phỉ báng.

Trong khi chúng ta đối xử lịch sự, có văn hóa với kẻ thù tại sao không thể đối xử lịch sự, có văn hóa với những người không đồng quan điểm với mình?

Trước khi kết thúc bài này, tôi muốn nói lên chút cảm nghĩ riêng khi xem DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”. Ngay phần mở đầu, tôi đã ngạc nhiên và cảm động khi thấy hình ảnh chính mình đang cầm chiếc xẻng cùng vài yếu nhân Hoa Kỳ và quốc tế vỡ những miếng đất đầu tiên để xây dựng Đài Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản tại Thủ đô Washington, cùng với bức tranh của Kiến trúc sư Bùi Dương Liêm được dùng trong buổi gây quỹ đầu tiên năm 2003. Tôi hãnh diện biết bao khi thấy việc làm của chúng tôi đã “đi vào lịch sử”. Niềm hãnh diện không phải cho cá nhân mình mà cho nhóm thân hữu trong Ủy Ban Yểm Trợ đã gắn bó với nhau suốt 5 năm, và hãnh diện cho cả cBng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đã đóng góp vào việc xây dựng tượng đài này. Việc làm âm thầm ấy nay đã trở thành lịch sử với lễ khánh thành trọng thể và những lời phát biểu của Tổng Thống George W. Bush, hùng hồn nói lên tội ác của cộng sản đối với nhân loại và vinh danh hơn 100 triện nạn nhân của tội ác ấy, trong đó có khoảng một triệu người Việt Nam.

Tôi chỉ hơi tiếc DVD không có khúc phim Đêm Nguyện Cầu tại tượng đài trong ngày khánh thành với giọng trầm hùng của Nhà báo Đào Trường Phúc đọc bản cáo trạng buộc tội Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Đoạn phim ấy sẽ gây ấn tượng mạnh cho người xem và góp phần vào mục đích “đánh đổ huyền thoại giả trá Hồ Chí Minh”.

Đang viết bài này, tôi được đọc bài “Những thước phim trái sự thật, trái đạo lý”, phản ứng đầu tiên từ Hà-nội về DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”, trên báo điện tử của Trung ương Đảng CSVN, với câu mở đầu như sau:

“Bộ phim được tung ra vào đúng dịp cuộc vận động ‘Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh’ đang được sự hưởng ứng nhiệt liệt của đồng bào trong nước vC3 nước ngoài đồng thời cũng là dịp toàn Đảng, toàn dân ta đang kỷ niệm 40 năm thực hiện bản di chúc lịch sử của Người. Mục đích của những người làm phim đã rõ ràng, đó là thông qua việc xuyên tạc, bôi nhọ Hồ Chí Minh, họ hy vọng có thể làm suy yếu, đi đến làm sụp đổ Đảng Cộng Sản Việt Nam, thay đổi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.”

Tiếp theo chỉ là những luận điệu xưa cũ rỗng tuếch vừa bịp bợm vừa đe dọa đã được dùng từ những ngày còn ở hang Pác Bó, chứng tỏ Đảng Cộng Sản VN đã không thay đổi gì cả sau hA 1n nửa thế kỷ gây tội ác, dù mồm nói “đổi mới”. CSVN vẫn tin rằng sẽ ngồi trên đầu trên cổ dân tộc VN muôn năm nhờ dựa trên lừa dối và đàn áp. Đó là một bạo quyền phản dân, hại nước.

Vậy thì, thay vì đòi trả tên Sài-gòn, một việc sẽ “không đi đến đâu” nếu Đảng CSVN vẫn còn thống trị, hãy cùng nhau góp sức đập tan cái hang ổ lừa dối và bạo lực. Cái tên Sài Gòn chỉ là một âm thanh nghe êm đềm trong tâm tưởng một số người và không ai biết chắc nguồn gốc từ đâu, nhưng nguồn gốc của những thống khổ triền miên của dân tộc Việt Nam thì mọi=2 0người đều biết: Hồ Chí Minh, tức Nguyễn Sinh Coong, tức Nguyễn Tất Thành, tức Nguyễn Ái Quốc và hàng chục cái tên giả khác.

Đập tan huyền thoại giả trá về HCM thì đồng ý, nhưng gắn việc ấy vào chuyện đòi trả tên Sài Gòn thì nên xét lại.

Sơn Tùng
(Tháng 8, 2009)

HÃY CHỜ XEM NHỮNG AI TRONG DANH SÁCH 650 NGƯỜI ! - Đinh Lâm Thanh

Đinh Lâm Thanh

Cộng sản Việt Nam sẽ tổ chức đại hội ‘hòa giải hòa hợp’ núp dưới tên ‘Hội nghị người Việt ở nước ngoài’ từ 19 đến ngày 24 tháng 11 năm 2009 tại Hà Nội, quy tụ 1000 người gồm 350 là thành phần đảng viên cán bộ nhà nước tại nội địa và 650 người từ nước ngoài về tham dự. Con số 650 người nước ngoài chia ra như sau: 200 (Mỹ Châu), 300 (Âu và Phi Châu) và 150 (Á và Úc Châu). Riêng tại Pháp con số được xác định rõ ràng là 60 người ! (*). Thành phần nhân sự của các cơ quan ngoại giao, tình báo cộng sản ở ngoại quốc về dự đại hội trong dịp nầy có thể lên quá hàng trăm, như vậy số người Việt hải ngoại còn lại có thể tính trên dưới 500 người. Chúng ta bàn đến chuyện của trên dưới 500 người nầy.

Đây là một đại hội công khai do chính đảng cộng sản mời từng cá nhân một. Như vậy cơ hội nầy, thành phần nằm vùng, cò mồi đón gió, hoà giải hòa hợp và những tay phản bội cộng đồng bấy lâu ẩn mặt trong bóng tối nay sẽ bị xuất đầu lộ diện để về Việt Nam tham dự theo lệnh của chủ. Một khi đảng cộng sản đưa ra con số 650 người nước ngoài về tham dự tức là những người nầy đã được bộ chính trị trung ương chọn lựa dựa theo tiêu chuẩn chính trị, lòng trung thành và khả năng hoạt động, và dĩ nhiên, đã có những trao đổi thuận thảo trước với nhau khi lên danh sách chính thức (mặc dù trong văn bản gởi Ban Lãnh Đạo Hội Người Việt tại Pháp, tòa đại sứ Việt cộng Paris kêu gọi giới thiệu, đề cử). Vậy những kẻ có tên trong danh sách không thể bảo rằng bất ngờ hoặc do tài năng, đức độ cũng như tinh thần yêu nước để được Hà Nội ghé mắt đến, mà họ chỉ là những kẻ ‘ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản’, phá hoại cộng đồng. Qua đại hội, phần tử nầy bắt buộc phải xuất đầu lộ diện theo kế hoạch của đảng cộng sản Việt Nam. Trong số 650 (đúng ra thì trên dưới 500) người cũng có mặt một vài nhân vật được mời thuộc hàng nhân viên cao cấp của chính quyền VNCH cũng như QLVNCH trước kia, nay đã mất gốc, lão hóa, đói rách, đang cần tiền và chút danh hão thì đành phải chạy theo kẻ thù !

Một điều thật hy hữu bất ngờ đối với người Viết hải ngoại, bỗng nhiên vì một cái bánh vẽ của Hà Nội, 650 người chạy theo kẻ thù cộng sản sẽ phải lộ diện. Nhớ đó người Việt Tỵ Nạn cộng sản, người Việt Tự Do nhờ đại hội nầy mới nhận ra được ai là kẻ đã phản bội cộng đồng, ai là kẻ nối giào cho giặc. Rồi đây, chỉ còn hơn hai tháng nữa, những ông chủ tịch cộng đồng, chủ tịch đảng, chủ tịch đoàn thể, giám đốc truyền thông báo chí, giám đốc ngân hàng, thương mãi, tiệm chạp phô…sẽ khăn gói lên đường về Hà Nội để ‘nhất trí’ thì làn ranh quốc cộng ở nước ngoài nhờ đó sẽ được rõ ràng minh bạch ; ai là người hiên ngang đứng dưới cờ Quốc Gia Vàng Ba Sọc Đò, ai là kẻ bấy lâu nay chui rúc trong bóng tối, đội quan thây cộng sản lên đầu để phá hoại cộng đồng.

Qua văn thư post kèm theo ở dưới bài viết, chúng ta thử tìm hiểu mục đích của cộng sản Việt Nam khi chuẩn bị tổ chức rình rang ‘Hội nghị người Việt ở nước ngoài’ tại Hà Nội trong thàng 11 nầy:

Đối với quốc tế: Đây là một dịp chứng tỏ cho thế giới hình thức mở cửa của chế độ, một ‘Hội Nghị Diên Hồng’ thứ hai trong lịch sử để thu góp ý kiến của người Việt trên khắp năm châu nhằm xây dựng một xã hội chủ nghĩa càng ngày càng tốt đẹp do dảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Đối với Mỹ: Ngầm báo cho Mỹ biết rằng, cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Mỹ đã phục tùng Hà Nội, đại diện của 200 đảng phái đoàn thể có mặt trên Mỹ và Canada là một bằng chứng hùng hồn rằng, các cộng đồng Việt Nam tại Mỹ Châu đã chấp nhận hòa giải hòa hợp với cộng sản và nay công khai ra mặt về nguồn ngồi chung với đảng để thảo luận hầu tìm một tương lai chính trị cho đất nước.

Đối với Tàu cộng: Chứng tỏ một thành công rất lớn của nô bộc Việt Nam khi chúng thu tóm được thành phần ngoan cố chống đối mẫu quốc (Tàu cộng) ở nước ngoài. Đây xem như quà biếu quan thầy Tàu cộng để xác nhận tinh thần gắn bó như ‘môi với răng’ giữa hai nước, đồng thời để chứng tỏ khả năng của đảng cộng sản Việt Nam thật xứng đáng để đuợc phép giữ nguyên ngai vàng một tỉnh nhỏ khi đất nước Việt Nam trở thành vùng đất của Trung quốc vĩ đại !!!

Đối với quốc nội: Chứng tỏ cho giới trẻ, các tôn giáo, các phong trào tranh đấu trong nước biết rằng, 650 đại diện đảng phái, các cộng đồng, các tổ chức đoàn thể trên thế giới (gồm 94 nước, theo tuyên truyền của cộng sản) đã về hội họp và nhất trí hợp tác với nhà nước thì giới trẻ, các tín hữu, các lãnh đạo tôn giáo không còn lý do gì hô hào sinh viên, tín hữu, Phật tử xuống đường biểu tình chống đối nhà nước nữa !

Đối với tập thể người Việt hải ngoại: Chúng cười vào lỗ mũi người Việt hải ngoại rằng bấy lâu nay những người chống cộng đã ôm ấp, nâng niu, nuôi dưỡng kẻ thù trong tay áo mà không hay hoặc ra mặt bạch hóa thủ đoạn ‘hòa giải hòa hợp’ của chúng để bước qua những giai đoạn kế tiếp. Khi phổ biến danh sách 650 người lãnh đạo trong cộng đồng người Việt hải ngoại đã phục vụ chế độ cộng sản có nghĩa là chúng cho thành phần nầy công khai ra mặt để đối đầu với trận chiến ý thức hệ giữa tự do và cộng sản đã vào giai đoạn chót.

Đối với thành phần nằm vùng, cò mồi và hòa giải hòa hợp: Đánh giá (kiểm điểm) việc làm và thành quả các công tác kiều vận cũng như địch vận của những người bấy lâu nay hưởng ân huệ của đảng (tiền bạc, hứa hẹn …). Khen thưởng, ban huy chương và phát bằng công dân danh dự cho những người đã tận tụy phục vụ chế độ từ trước đến nay.

Cơ hội nầy 650 người nước ngoài được sẽ được huấn luyện cấp tốc những điểu sau:

- Trở về phải đảo ngược thế cờ tranh đấu của tập thể người chống cộng sản hải ngoại thành khối người Việt yêu chuộng hòa bình, xóa bỏ hận thù và sẳn sàng nối vòng tay lớn hòa giải hòa hợp với cộng sản.
- Xóa vết tích Cờ Vàng Quốc Gia và dựng lại cờ đỏ sao vàng trên những vùng nào có người Việt tỵ nạn.
- Cổ võ người Việt tựư do nước ngoài cũng như ngoại quốc mang tiền của về đầu tư nuôi chế độ dưới chiêu bài xây dựng tổ quốc quê hương.

Bù lại những phần thưởng dành cho thành phần nầy:

- Được xã hội ưu đãi về chủ quyền nhà cửa (không đất), buôn bán thương mãi, di chuyển cũng như về VN không cần giấy phép, chiếu khán … và ăn chơi du hí.
- Được ưu tiên mang hai quốc tịch và trở thành công dân ưu tú của xã hội chủ nghĩa.
- Được tuyển chọn để ứng cử đại biểu quốc hội trong nhiệm kỳ sắp đến. (*)
- Đựợc chấp thuận cho phép tham chánh ào những chức vụ nhỏ với mục đích làm cảnh, ngồi chơi xơi nước và đưa tay ‘Nhất Trí’ để lãnh tiền !

Những tóm tắt trên đây để nhắc nhở cộng đồng người Việt hải ngoại lưu ý và ghi nhận tên tuổi những ‘danh nhân’ về tham dự đại hội hầu chuẩn bị các biện pháp để đối phó.

Trong bài viết trước đây: ‘Bị Đẩy Vào Đường Cùng CSVN Sẽ Tìm Một Lối Thoát’ trong phần cuối tôi có đề cập đến âm mưu mở rộng ‘Hòa Hợp Hòa Giải’ do chính Hà Nội chủ xướng để tìm một lối thoát để cứu vớt chế độ trên đà tuột dốc (Xin xem bài viết đã post trên trang nhà ngày 17.06.2009).

Cuối cùng, khi nhắc đến vấn đề người Việt hải ngoại được cộng sản cho phép về làm Đại Biểu Nhân Dân thì người ta nhớ lại trong khóa bầu cử quốc hội vừa qua, một danh sách gồm trên chục người, đa số ở Mỹ (tại Pháp thì có hai ba người gì đó) đã nạp đơn về Việt Nam ứng cử. Nhưng xui cho những vị nầy, hồ sơ đã được đảng tuyển chọn, ứng cử viên chuẩn bị khăn gói lên đường thì danh sách những người nầy bị đa số ủy viên trong bộ chính trị thân Tàu cộng phản đối và bắt buộc hũy bỏ vào phút chót ! Lần nầy chắc chắn những người nầy thì dĩ nhiên sẽ có mặt không thiếu một ai. Bây giờ thì quá sớm, một khi danh sách được phổ biến, cộng đồng người Việt nước ngoài sẽ ngã ngửa ra ‘họ là ai ?’ !

*****

* Đính kèm dưới đây tài liệu lấy từ TinParis


Wednesday, August 12, 2009

MỘT CHỨNG TÍCH LỊCH SỬ: XIN CỤ THA CHO CON !

Source: http://hoivanhoanguoiviettudo.com/

Ngô Đình Nhu
* HVHNVTD: Tất cả chúng ta đều có bổn phận phải nói lên sự thật, không phải để kết tội những người vì quyền lợi cá nhân đã gây nên tội ác mà để cảnh tỉnh những ai còn bưng bít che giấu, bóp méo lịch sử cho mưu đồ chính trị bất chính sau nầy.

Trong cuốn băng dài 30 tiếng đồng hồ do thư viện Johson Library ở Austin, Texas, công bố ngày 28.02.2003, Tổng Thống Johnson đã gọi các Tướng miền Nam Việt Nam được Hoa Kỳ thuê làm đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm là "một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa" (agoddam bunch of thugs). Họ là ai và đã làm gì mà bị Tổng Thống Johnson miệt thị như vậy?

Nhận diện những kẻ giết người:

Tướng Trần Văn Đôn cho biết các sĩ quan sau đây đã nằm trong nhóm đứng ra tổ chức đảo chánh: Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Trần Văn Đôn, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Nguyễn Khánh, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Thiếu Tướng Trần Văn Minh, Thiếu Tướng Phạm Xuân Chiểu, Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm, Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Đại Tá Đỗ Mậu, Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Tá Nguyễn Văn Quan, Đại Tá Nguyễn Hữu Có, Đại Tá Trần Ngọc
Huyến, Đại Tá Nguyễn Khương và Đại Tá Đỗ Cao Trí.

Trong một cuộc phỏng vấn, Tướng Khánh có nói với chúng tôi rằng ông là người được CIA tiếp xúc trước tiên khi muốn làm đảo chánh. Nhưng theo tài liệu, CIA đã cho hai điệp viên khác nhau đến gặp Tướng Khiêm và Tướng Khánh cùng một lúc. Điệp viên Lucien Emile Conein đến gặp Tướng Khiêm, một nhân viên CIA, lúc đó là Tham Mưu Trưởng Liên Quân, và cho biết quyết định của Hoa Kỳ muốn lật đổ Tống Thống Ngô Đình Diệm. Tướng Khiêm đồng ý nhận thực hiện kế hoạch đó, nhưng gợi ý nên đi gặp Tướng Dương Văn Minh và Tướng Trần Văn Đôn. Trong khi đó, một điệp viên khác là Al Spera, cố vấn chính trị Bộ Tổng Tham Mưu, đi Pleiku gặp Tướng Nguyễn Khánh, một cộng tác viên khác của CIA, để thảo luận về việc này. Khi Al Spera hỏi Tướng Khánh về tướng Khiêm, Tướng Khánh đã nắm chặt hai bàn tay của mình lại và nói: "Chúng tôi như thế này". Sau khi Tướng Khiêm và Lucien Conein phác họa xong kế hoạch hành động, ngày 02.10.1963 khi Tướng Đôn lên phi trường đi Nha Trang thì Lucien Conein đến gặp và hẹn sẽ nói chuyện với nhau ở Nha Trang. Tối hôm đó, tại Nha Trang, Lucien Conein thuyết phục Tướng Đôn làm đảo chánh và Tướng Đôn đã đồng ý. Ngày 05.10.1963, Lucien Conein lại đến bàn chuyện này với Tướng Dương Văn Minh. Tướng Minh cũng đồng ý. Tướng Đôn được giao cho phối trí lực lượng, còn Tướng Minh lãnh đạo Hội Đồng Cách Mạng. Tất cả nằm dưới sự chỉ đạo của Lucien Conein và Tướng Khiêm.

Vai trò của Lucien Emile Conein:

Chúng tôi chưa tìm được tài liệu nào nói về điệp viên Al Spera, nhưng chúng tôi có khá nhiều tài liệu về điệp viên Lucien Emile Conein. Ông sinh năm 1919 tại Paris, mồ côi cha sớm, lúc mới 5 tuổi được mẹ gởi sang Hoa Kỳ sống với bà dì tại Kansas City thuộc tiểu bang Kansas, nhưng vẫn giữ quốc tịch Pháp. Ông đã từng làm điệp viên cho OSS (tiền thân của CIA) từ năm 1943 với cấp bậc Trung Úy, hoạt động chống Đức Quốc Xả trong Đệ Nhị Thế Chiến ở Âu Châu, rồi qua Bắc Việt khi chiến tranh chấm dứt. Từ 1954 đến 1956 ông đến Việt Nam hoạt động trong toán đặc nhiệm dưới quyền của Đại Tá Edward Lansdale, người đã giúp Tổng Thống Ngô Đình Diệm chống lại nhóm Bảy Viễn và Tướng Nguyễn Văn Hinh. Sau đó, ông trở về Mỹ và tham gia Lực Lượng Đặc Biệt (Special Force), nhưng vẫn còn làm việc cho CIA.

Năm 1961 ông đã xin về hưu, nhưng năm 1962 ông được CIA gọi làm việc trở lại và phong cho chức Trung Tá với bí danh là Lulu hay Black Luigi, rồi gởi qua Sài Gòn làm cố vấn cho Bộ Nội Vụ. Nhưng trong thực tế, Lucien Conein có nhiệm vụ móc nối với các tướng Việt Nam mà ông đã có dịp quen biết khi phục vụ dưới quyền của Đại Tá Lansdale, để chuẩn bị tổ chức đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Đại Sứ Henry Cabot Lodge gọi Lucien Conein là "the indispensable man" (con người rất cần thiết). Còn trong cuốn "Vietnam: A History," sử giaStanley Karnow nói rằng Lucien Conein là "một người lập dị, một người náo nhiệt, một nhân viên tình báo rất nhạy cảm và hoàn toàn chuyên nghiệp, thường không thể kiểm soát được". Sau này, Everette E. Howard Hunt cũng đã dự tính dùng Lucien Conein trong vụ Watergate.

Mỗi lần được phỏng vấn, Lucien Conein thường mở đầu câu chuyện bằng câu: "Bây giờ, đây là sự thật hai mặt, là thứ danh dự của hướng đạo sinh, là sự thật hai mặt" hay "Đừng tin bất cứ điều gì tôi nói; tôi là một tên nói dối chuyên nghiệp" Khi cuộc đảo chánh ngày 01.11.1963 xẩy ra, Lucien Conein đến Bộ Tổng Tham Mưu chỉ đạo trực tiếp. Ông ngồi trên ghế của Tướng Lê Văn Tỵ, đặt hai túi bạc dưới ghế, hai chân gác lên bàn, bên cạnh có khẩu 375 Magnum, chỉ huy các tướng Việt Nam thực hiện. Trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng, Tướng Trần Văn Đôn cho biết khi hay tin ông Diệm và ông Nhu đã ra khỏi Dinh Gia Long, Lucien Conein đã hỏi: "Hai ông ấy đi đâu? Phải bắt lại cho kỳ được, vì rất quan trọng". Lucien Conein đã nói với các tướng đảo chánh bằng tiến Pháp: "On ne fait pas d'omelette sans casser les oeufs." (Người ta không thể làm món trứng rán mà không đập bể những cái trứng.) (trang 228) Khi bước xuống thuyền đài ngày 03.06.1998 tại Virginia, Lucien Conei đã ôm theo khá nhiều bí mật của cuộc đảo chánh ngày 01.11.1963.

Trong cuốn "Việt Nam nhân chứng" Tướng Trần Văn Đôn nói rằng trong kế hoạch đảo chánh, ông rất dè dặt với Tướng Khiêm vì tướng này rất được ông Diệm và ông Nhu tin cậy. Vợ ông, bà Đinh Thị Yến, lại có chân trong ban chấp hành Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới Trung Ương của bà Nhu và là dân biểu Quốc Hội, thường đi sát với bà Nhu. Ông nhờ Tướng Minh thăm dò. Qua một người Mỹ "cam kết và tìm hiểu", Tướng Minh cho biết Tướng Khiêm đồng ý tham gia đảo chánh. Khi viết như vậy, Tướng Đôn không biết gì nhiều về sự sắp xếp của CIA trong cuộc đảo chánh này. Ngay cả khi lệnh giết ông Diệm và ông Nhu được CIA truyền xuống, Tướng Đôn cũng không hề được cho biết. Một vài câu chuyện sau đây do một nhân chứng có mặt tại Bộ Tổng Tham Mưu trong suốt thời gian cuộc đảo chánh ngày 01.11.1963 xẩy ra, cũng đủ cho chúng ta thấy vài trò của Tướng Khiêm quan trọng như thế nào:

- Khoảng 1 giờ 25 trưa ngày 01..11.1963, Tướng Khiêm bước ra bước vào nơi ông làm việc. Đúng 1 giờ 30, tin đảo chánh được phổ biến, các tướng lãnh liên miên ra vào văn phòng Tướng Khiêm.

- Sáng 02.11.1963, có người đem bộ complet màu xám sậm đến đứng ở lầu ba chờ. Tuy phái của Tướng Khiêm ra hỏi thì được biết người này đượcgọi đem áo tới cho Tổng Thống Diệm. Khoảng 9 giờ, một đại tá bước vào phòng Tướng Khiêm. Hai phút sau, đại tá này bước ra và bảo người kia đem bộ đồ complet về, vì Tổng Thống đã chết! Trên lầu, nhiều tướng lãnh ra vào phòng Tướng Khiêm rất nhộn dịp. Buổi tối, sau khi xác ông Diệm và ông Nhu được liệm xong, một báo cáo đã được trình lên cho Tướng Khiêm biết.

- Khuya 03.11.1963, khi mọi việc đã xong xuôi, Tướng Khiêm cho gọi Đại Tá Trần Văn Trung, Tham Mưu Phó Nhân Viên, và Đại Tá Đặng Văn Quang, Tham Mưu Phó Tiếp Vận, vào văn phòng ông và ra lệnh: "Hai 'toi' trực ở đây đêm nay, 'moi' về nghỉ.

- Một tuần lễ sau, Tướng Khiêm bước vào ban văn thư và hỏi Đại Úy Phạm Bá Hoa, chánh văn phòng của ông: "Có cho anh em mỗi người lên một cấp chưa? Nếu có gì xảy ra, 'moi' bay đầu thì các anh em cũng không được yên đâu." Đọc thêm cuốn "Đôi dòng ghi nhớ" của Đại Tá Nguyễn Bá Hoa, đọc giả sẽ thấy rõ hơn quyền hành của Tướng Khiêm trong cuộc đảo chánh này.

Lệnh Hành Quyết:

Từ trước đến nay, chúng ta thường tranh luận về ai đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Nay cuốn băng của Tổng Thống Johnson đã chính thức xác nhận rằng chính quyền Kennedy (Kennedy administration) đã ra lệnh giết, nên vấn đề này không cần phải tranh luận nữa. Lệnh hành quyết do Washington truyền cho Đại Sứ Lodge ở Sài Gòn. Ông này truyền cho Trần Thiện Khiêm và Dương Văn Minh qua Lucien Conein.

Tướng Minh giao cho cận vệ của mình là Đại Úy Nguyễn Văn Nhung thi hành dưới sự chỉ đạo của Tướng Mai Hữu Xuân. Các sĩ quan khác, kể cả Tướng Đôn, đều không biết gì hết.

Như đã nói ở trước, ngoài Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu, Đại Sứ Henry Cabot Lodge đã quyết định giết thêm Ngô Đình Cẩn và Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt. Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh cho Nguyễn Văn Nhung đưa Đại Tá Lê Quang Tung ra nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế phía sau Bộ Tổng Tham Mưu đâm chết và vùi thây ở đó. Muốn giết ông Ngô Đình Cẩn, CIA phải lừa ông vào Tòa Lãnh Sự Mỹ ở Huế, nói rằng sẽ cho đi ngoại quốc, sau đó dùng công điện báo cáo láo về Washington nói rằng trong nhà ông Cẩn có hầm chôn người và súng, dân chúng đang biểu tình, rồi giao ông Cẩn cho Tướng Khánh giết. Trong cuốn "Việt Nam Nhân Chứng", Tướng Đôn xác nhận trong nhà ông Cẩn không hề có hầm chôn người hay súng. Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng sở dĩ Tổng Thống Johson đã gọi nhóm tướng lãnh được thuê làm đảo chánh là "một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa" vì hai lý do: Lý do thứ nhất là cách thức giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu. Chưa một nhà lãnh đạo nào trên thế giới đã bị bọn tay chân bộ hạ thân tín, được hưởng nhiều ơn mưa móc, giết một cách thê thảm như thế trong một cuộc đảo chánh. Lý do thứ haisự tham nhũng và bất tài của nhóm này.

Hành Động Giết Người :

Khoảng 10 giờ ngày 02.11.1963, khi chiếc M113 chở xác ông Diệm và ông Nhu về đến Bộ Tổng Tham Mưu, đậu trên sân cỏ phía tay phải. Mở cửa xe phía sau ra, người ta thấy ông Diệm mặc bộ complet màu xám sậm, ông Nhu mặc bộ complet màu hơi nâu tím. Cả hai bị trói thúc ké tay sau lưng, nằm nghiêng trên sàn xe, máu me dầm dề. Một quân cảnh đứng gác tại đó cho biết, Tướng Dương Văn Minh đã xuống và tự tay vạch quần ông Diệm ra xem có "chim" không! Với các dấu vết trên hai xác chết như vậy, nhiều người đã đặt câu hỏi:

Hai ông đã bị giết như thế nào? Cách tường thuật của mỗi người mỗi khác. Trong cuốn "Assassin in our Time" (Kẻ sát nhân trong thời đại chúng ta) xuất bản năm 1976, ở trang 142, Sandy Lesberg đã mô tả như sau: Ông Diệm và ông Nhu ngồi với hai tay trói sau lưng. Trong khi ông Diệm giữ im lặng, bất thình lình viên thiếu tá dùng dao găm (bayonet) đâm ông Nhu 15 hay 20 lần. Sau đó, hắn ta rút súng lục bắn vào sau đầu ông Diệm. Thấy ông Nhu còn quằn quại trên sàn, viên thiếu tá ban cho ông ta một cú ân huệ bằng cách cũng bắn vào đầu ông ta.

Sandy Lesberg không cho biết ông đã lấy tin này từ ai. Thật ra, lúc đó Nguyễn Văn Nhung còn là Đại Úy, sau này mới được thăng Thiếu Tá. Với cuốn "Les Guerres du Vietnam" (Chiến tranh Việt Nam" xuất bản năm 1985, Tướng Trần Văn Đôn không hề mô tả gì đến cách giết ông Diệm và ông Nhu, mà chỉ mô tả về sự tàn ác của sát thủ Nguyễn Văn Nhung mà thôi.

Bà Ellen J. Hammer, tác giả của cuốn "A Death in November" (Cái chết vào tháng mười một), nói rằng khi chiếc xe chở ông Diệm và ông Nhu dừng lại ở cổng xe lửa đường Hồng Thập Tự, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa từ trên miệng cửa xe lia một tràng tiểu liên vào hai ông Diệm và Nhu. Đại Úy Nhung rút súng Colt ra bồi thêm mấy phát vào đầu. Nhưng thấy chưa thỏa lòng, Nhung rút dao găm đâm tới tấp vào ngực hai anh em ông Diệm.

Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa phủ nhận lời tường thuật này, ông nói rằng ông không ngồi trên xe chở ông Diệm và ông Nhu lúc đó. Nếu chính ông đã giết ông Diệm và ông Nhu, người ta cũng đã giết ông như giết Nguyễn Văn Nhung rồi. Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa là một đảng viên đảng Đại Việt, thuộc vào loại căm thù nhà Ngô, sau này đã được Tướng Nguyễn Khánh cho ngồi ghế phụ thẩm quân nhân của Tòa Án Các Mạng, xét xứ và tuyên án tử hình ông Ngô Đình Cẩn theo lệnh của Henry Cabot Lodge, mặc dù không có bằng chứng xác thực. Do đó, nhiều người vẫn tin vào lời tường thuật của bà Sandy Lesberg. Có lẽ Tướng Nguyễn Chánh Thi là người biết rõ Đại Úy Nguyễn Văn Nhung đã giết ông Diệm và ông Nhu như thế nào, vì sau cuộc "chỉnh lý" ngày 30.01.1964, trước khi ra lệnh giết Đại Úy Nhung để phi tang một nhân chứng quan trọng (có lẽ theo lệnh của CIA), ông đã đích thân lấy lời khai của Nhung và còn bắt Nhung ngồi viết lời khai về vụ này. Ông có cho tôi nhìn qua tờ khai này năm 1968 khi đang ở Washington D.C. Nhưng rất tiếc, khi xuất bản cuốn "Việt Nam: Một trời tâm sự", ông đã không cho in nguyên văn tờ khai này, mà tự ý sửa đổi và cắt bớt đi. Tướng Mai Hữu Xuân được đổi thành Tướng Thu, mặc dầu trong Quân Lực VNCH lúc đó không có tướng nào tên là Tướng Thu cả. Theo tờ khai mà Tướng Thi công bố trong cuốn sách nói trên, Đại Úy Nhung đã khai như sau: Khi xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu chạy được chừng 500 thước, Thiếu Tướng Thu (tức Mai Hữu Xuân) chạy xe ngược chiều trở lại và đưa lên một ngón tay trỏ. Đang còn ú ớ chưa biết giết ai, ông Diệm hay ông Nhu, họ định chạy qua để hỏi lại cho rõ thì dân chúng ùa ra xem rất đông, không chạy qua được. Bổng Thiếu Tướng Thu đưa hai ngón tay, họ hiểu rằng ông ra lệnh bắn cả hai người. Thiếu tá Nhung liền rút súng Colt 12 bắn mỗi người 5 phát, và sau đó bắn ông Nhu thêm ba phát vào ngực nữa. Tướng Lê Minh Đảo, lúc đó là Đại Úy tùy viên của Tướng Lê Văn Kim, đã cho biết như sau: Sau khi ông Diệm và ông Nhu bị hạ sát ít lâu, Nguyễn Văn Nhung có kể lại chuyện này cho ông nghe. Nhung nói rằng khi được lệnh giết cả hai ông, Nhung đã bắn ông Nhu trước. Ông Diệm thấy thế đã nhắm mắt lại. Nhung liền bắn ông Diệm 5 phát. Sau đó quay qua bắn ông Nhu thêm 3 phát nữa. Điều này phù hợp với lời khai mà Tướng Nguyễn Chánh Thi đã công bố.

Tuy nhiên, sự thật không phải chỉ có thế. Xác ông Diệm và ông Nhu đã được đưa vào bệnh xá của Bộ Tổng Tham Mưu để khám nghiệm. Bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn (hiện nay ở New York), giám đốc bệnh xá này lúc đó, đã khám nghiệm và chứng nhận rằng cả ông Diệm lẫn ông Nhu đã bị bắn từ sau ót ra trước. Xác ông Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị đánh đập trước khi bắn. Xác ông Nhu bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu. Vậy ông Diệm và ông Nhu đã bị trói, đánh đập và đâm lúc nào? Một nhân chứng rất quan trọng hiện đang ở Melbourne, Úc Châu, cho biết ông là người đi trên chiết M113 chở ông Diệm và ông Nhu từ nhà thờ cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu, nên đã chứng kiến những sự việc xẩy ra. Câu chuyện ông kể lại có vẽ hợp lý hơn cả. Theo nhân chứng này, vào trưa 01.11.1963, chi đoàn thiết giáp của ông được lệnh vào Sài Gòn để tăng cường bảo vệ thủ đô. Khi đến Sài Gòn, chi đội này được chia làm hai toán, một toán hợp lực với quân bạn bao vây Dinh Gia Long, một toán làm vòng đai an ninh cho Bộ Tổng Tham Mưu. Nhân chứng ở trong toán đóng tại Bộ Tổng Tham Mưu.

Sáng 02.11.1963, khoảng 6 giờ 15 phút, toán ông được lệnh di chuyển ra khỏi Bộ Tổng Tham Mưu. Khi vừa ra khỏi cổng chính thì thấy có 3 chiếc xe Jeep đang chờ. Chiếc thứ nhất có Tướng Mai Hữu Xuân và 3 cận vệ. Chiếc thứ hai chở Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Úy Nguyễn Văn Nhung và Đại Úy Dương Hiếu Nghĩa. Chiếc thứ ba chở 4 người, trong đó có Đại Úy Phan Hòa Hiệp. Sau đó là hai chiếc M113. Nhân chứng ngồi ở chiếc thứ nhì. Cuối cùng là 2 chiếc GMC chở đầy lính có vũ trang đầy đủ. Khi đến Chợ Lớn, gần một nhà thờ, xe chạy chậm lại, các binh sĩ trên hai chiếc GMC được lệnh nhảy xuống, một số bố trí xung quanh nhà thờ, số còn lại bố trí ở vòng ngoài. Xe Tướng Xuân chạy một vòng rồi đậu lại bên kia đường.

Sau cái phất tay của Đại Tá Dương Ngọc Lắm, ba đại úy Nhung, Nghĩa và Hiệp nhảy xuống xe. Đại Tá Lắm ngoắc chiếc M113 có nhân chứng ngồi trên đó đi theo. Nhân chứng cũng nhảy xuống xe. Khi cách Đại Tá Lắm khoảng 2 thước, nhân chứng thấy có 4 người từ trong nhà thờ đi ra. Người đi đầu là Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Người đi tiếp theo là ông Ngô Đình Nhu. Sau cùng là hai tùy viên (Đại Úy Đỗ Thọ và ông Nguyễn Đắc Khá).

Đại Tá Lắm đến chào ông Diệm:

- Thừa lệnh Trung Tướng Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, chúng tôi đến đón cụ và ông cố vấn.

Ông Diệm:
- Ông Đôn và ông Minh đâu hè?

Đại Tá Lắm:
- Thưa cụ, hai ông còn đang bận việc ở Tổng Tham Mưu.
- Thôi được. Thế tôi và ông cố vấn đi cùng xe kia với ông.

Đại Tá Lắm quay người lại chỉ vào chiếc M113 và nói:
- Thưa cụ, xin cụ lên xe này cho.

Ông Nhu khẻ nhíu mày lên tiếng:
- Không thể đón Tổng Thống bằng một chiếc xe như vậy. Để tôi liên lạc với ông Đôn, ông Đính coi xem.

Đại Tá Lắm khẽ nhún vai:
- Tôi không biết. Đây là lệnh của Trung Tướng Chủ Tịch.

Đại Úy Nhung liền oang oang:
- Xin mời hai ông lên xe ngay cho đi.

Mặt ông Nhu đỏ bừng, giọng rất quyết liệt:
- Không được. Để tôi hỏi lại ông Minh, ông Đôn. Tôi đi xe nào cũng được, nhưng còn Tổng Thống ....

Đại Úy Nhung:
- Ở đây không còn Tổng Thống nào cả. !

Ngay lập tức, nhung bảo hai quân nhân chạy đến đẩy hai ông lên xe và hạ cửa xe xuống ...


Xe đi hết đường Nguyễn Trải, vào đường Võ Tánh đến trước Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia thì ngừng lại. Tổng Nha này đã bị chiếm từ ngày hôm trước nên không còn một cảnh sát nào lui tới. Chung quanh, các binh sĩ thuộc Sư Đoàn 5 của Đại Tá Ngưyễn Văn Thiệu canh gác rất cẩn mật. Một Đại Tá từ trên xe Jeep nhảy xuống, bảo các binh sĩ trên xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu xuống xe hết. Bảy người trên xe nhảy xuống, nhưng tài xế và anh hạ sĩ xạ thủ được ra lệnh ở lại. Xe được lệnh đi vào Tổng Nha. Khoảng 20 phút sau, chiếc M113 lại từ Tổng Nha chạy ra. Các binh sĩ lúc nảy được lệnh leo lên xe lại. Xe chạy ngược đường Võ Tánh trở lại đường Cộng Hòa. Nhân chứng hỏi hạ sĩ xạ thủ:

- Ông Diệm và ông Nhu đâu ?
- Ở dưới.
- Sao rồi?
- Ông Nhu bị tra tấn khủng khiếp rồi bị xiết cổ chết bằng dây điện. Người ta hỏi ông ta nhiều lần: Vàng, bạc, tiền của cất đâu? Ai giữ? Cơ sở kinh tài gồm những cơ sở nào? Ông Nhu trả lời không biết.
- Còn ông Diệm?
- Ông Diệm bị đè cổ ra trói thúc ké rồi ném vào hầm xe
- Chết hay sống?
- Không biết.

Xe qua khỏi trường Petrus Ký rồi quẹo phải vào đường Hồng Thập Tự thì gặp lại 2 xe Jeep và hai xe chở binh sĩ lúc xuất hành buổi sáng. Xe Đại Tá Dương Ngọc Lắm đi đầu, xe thứ hai có Đại Úy Nhung. Khi đến đường Cao Thắng, bên hông bệnh viện Từ Dũ, xe ngừng lại vì bên kia đang có xe của Tướng Xuân chạy ngược trở lại. Dân chúng ra xem rất đông. Tướng Xuân nhìn Đại Úy Nhung và đưa hai ngón tay trái lên hai lần. Sau đó, ông đưa ngón tay trỏ lên khỏi đầu và co vào duỗi ra đến 4 lần (gióng như bóp cò). Đại Úy Nhung gật đầu rồi đưa tay lên chào.

Khi xe đến gần đường rầy xe lửa thì dừng lại trước cổng xe đã được đóng lại vì đang có đoàn xe lửa đi qua. Đại Úy Nhung từ chiếc xe Jeep nhảy qua chiến M113 có chở ông Diệm và ông Nhu và la lớn: "Xuống! Xuống!" Các binh sĩ trên xe M113 nhảy xuống hết. Nhân chứng vừa nhảy xuống đất thì nghe nhiều tiếng súng nổ. Những lời tiết lộ của nhân chứng này cho chúng ta thêm những yếu tố mới, nhất là đoạn hai ông bị đưa vào Tổng Nha Cảnh Sát để tra tấn và khảo của. Trò khảo của này là một "sở trường" của Tướng Mai Hữu Xuân.

Sự tiết lộ này đã giúp giải thích tại sao hai ông bị trót tay ra phía sau lưng, trên mặt ông Diệm có nhiều vết bầm và trên người ông Nhu có nhiều lát dao đâm. Nguyễn Văn Nhung chỉ leo lên xe M113 trong một thời gian ngắn, không thể gây ra tất cả những thứ đó được. Sau khi thi hành xong lệnh của chủ và lãnh tiền công, "bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa" cấu xé nhau về chức quyền và tiền bạc đưa tới mất mất chủ quyền quốc gia, rồi đến mất nước.

Bây giờ ở nơi các địa tầng "naraca", Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, Đỗ Mậu, Nguyễn Văn Thiệu, Dương Ngọc Lắm, Nguyễn Văn Quan, Nguyễn Văn Nhung ... đang cùng với hai "ông thầy" Henry Cabot Lodge, Lucien Emile Conein nghiền ngẩm về lời nguyền rủa của Tổng Thống Johnson. Nghe nói trong những năm cuối cùng, Mai Hữu Xuân đã phát điên, thỉnh thoảng quỳ quay vào tường, chấp tay van lạy: "Xin cụ tha cho con!".

Nơi chốn luân hồi, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang ... không dám bước ra nhìn ánh sáng, Tôn Thất Đính thất thểu như một bóng ma !