Wednesday, August 12, 2009

HOA NỞ GIỮA LÒNG ĐỊCH - Phùng Ngọc Sa

Phùng Ngọc Sa

Cách đây trên 2350 năm, thiên tài quân sự Tôn Vũ Tử (sinh năm 400 Trước Công Nguyên - Mất năm 330 trước CN) đã để lại cho hậu thế quyển Tôn Tử Binh Pháp (còn gọi là Tôn Ngô Binh Pháp), một tác phẩm bất hũ được xem là một quyển binh thư toàn hảo nhằm mục đích giáo dục các cấp lãnh đạo biết việc ứng dụng nghệ thuật quân sự vào các kế hoạch điều binh; hiện còn được các viện Nghiên Cứu Chiến Lược nổi tiếng trên thế giới dùng, và các chiến lược gia một phần dựa vào đó để soạn thảo kế hoạch tác chiến cho các lực lượng vũ trang quốc gia.

Theo chỉ đạo của chiến lược gia họ Tôn, nếu muốn quân đội chiến đấu hữu hiệu, thâu gặt được nhiều thắng lợi, buộc các cấp lãnh đạo phải biết ứng dụng kỷ thuật tình báo vào các công tác hành binh. Vì thế, Tôn Vũ Tử đã dành trọn cả thiên thứ XIII của bộ Tôn Ngô Binh Pháp để viết, phân tách, giảng dạy và hướng dẫn các nhà quân sự về tình báo với một lời minh xác rõ rệt: «Tri kỷ, tri bỉ, bách chiến bách thắng»; có nghĩa là: «biết mình, biết người trăm trận trăm thắng; trái lại biết mình mà không biết người thì chỉ có thảm bại và trăm trận đều thua». Nói chung, không nắm vững tin tức chính xác và giá trị thì sẽ không bao giờ đoạt kết quả.

Để đạt được hiệu năng nói trên, họ Tôn đã nói cho lãnh đạo các cấp biết, muốn chủ động trên các mặt trận, từ kinh tế, chính trị đến quân sự, thì tiên quyết nhà lãnh đạo phải nắm vững các yếu tố Thiên Thời, Địa Lợi và Nhân Hòa. Tựu trung, muốn có kết quả tốt phải nắm vững các nguồn tin và muốn được vậy thì cần phải có được một hệ thống cán bộ giỏi, can đảm và thông thạo kỷ thuật thâu lượm tin, một là qua các đường lối «thẩm thấu», tức xâm nhập vào hàng ngũ địch (infiltration), hoặc là áp dụng phương pháp cài người (service de noyeautage) mà cán bộ điệp báo (gián điệp+tình báo) văn vẻ gọi là «Hoa Nở Giữa Lòng Địch». Theo ý họ Tôn, dù áp dụng hình thức nào, đòi hỏi người thi hành nhiệm vụ phải có một lý tưởng chiến đấu vững chắc, đặc biệt với những ai được sử dụng vào các điệp vụ cài người; do phải đơn thương độc mã hoạt động giữa lòng địch, phải đối diện với mọi tình huống khó khăn và nguy hiểm, người cán bộ ngoài đức tính bình tĩnh và can đảm, họ buộc phải tiến hành công tác với một niềm tin mãnh liệt giống như các tín đồ của một tôn giáo mới đáp ứng được yêu cầu của vai trò điệp báo.

Xin mời quý độc giả xét vai trò gián điệp trong cuộc chiến Quốc-Cộng vừa qua.

* Vai Trò Điệp Báo Trong Cuộc Chiến Tranh Quốc-Cộng:

Như đọc giả biết, mặc dầu bị Pháp đô hộ hơn 80 năm, toàn dân Việt Nam vẫn bất chấp gian nguy, vẫn kiên trì và không ngừng chiến đấu chống lại bọn đế quốc xâm lược. Hết phong trào Cần Vương rồi đến Văn Thân; hết các chiến công oanh liệt của bộ đội ông Thủ Khoa Huân, quân của tướng Nguyễn Trung Trực ở trong Nam, đến chiến khu kháng chiến của người hùng Yên Thế là ông Đề Thám ở ngoài Bắc, nhân dân ta đâu đã chịu ngồi yên để cho thực dân Pháp an tâm hưởng lợi. Với khí thế toàn dân, toàn diện chiến đấu, cộng với sự hỗ trợ của hệ thống tình báo nhân dân, quân ta nhiều phen giáng trả cho thực dân và thế lực phong kiến nhiều đòn chí mạng, lắm lúc cơ hồ như sự nghiệp đánh đuổi ngoại xâm có hy vọng như ánh sáng cuối đường hầm.

Rủi thay, đến thập niên 1930, khi đảng CSVN ra đời; chúng nhờ được phong trào cộng sản quốc tế tích cực yểm trợ nên khá mạnh, nhưng bọn họ lại có mưu đồ đánh phá phía quốc gia. Do đó lực lượng của ta bị kẹt giữa hai lằn đạn. Ta không những bị thực dân truy lùng tận diệt, mà còn bị cộng sản tìm cách đánh lén, chỉ điểm, cung cấp tin tức về hoạt động của ta cho Pháp. Cụ thể là trước ngày khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Thái Học đã nhiều phen bị khó khăn vì phát giác được chính bọn CSVN chỉ điểm cho Tây biết trước các hoạt động của Việt Nam Quốc Dân Đảng (*). Càng về sau, bọn cán bộ CSVN càng ra mặt phản quốc làm chó săn cho Pháp để đánh phá phía quốc gia; điển hình là Võ Nguyên Giáp, một cán bộ cộng sản cao cấp đã từng xin làm con nuôi cho trùm mật thám Pháp Louis Marty. Về sau, 1945-1946, đàn em của Giáp lại công khai tình nguyện bán tin và chỉ điểm hoạt động quân sự của Mặt Trận Quốc Dân Đảng (gồm Việt NamQDĐ+ĐạiViệt QDĐ) cho Cousseau, một tên đầu sỏ tình báo Pháp để bọn chúng phối hợp lùng diệt ta.

* Tương quan lực lượng tình báo của hai phía Quốc-Cộng:

Cả hai phía Quốc-Cộng đều đặt nặng công tác tình báo hòng thâu lượm được nhiều thắng lợi. Tuy nhiên, cán cân lực lượng nghiêng hẵn về phía cộng sản hơn Quốc Gia vì các lý do sau đây:

a. Phần quốc gia:

Cán bộ không được huấn luyện đủ, riêng về phía các chính đảng thì chỉ dựa vào lòng ái quốc và kỷ luật đảng, và nhờ được trang bị lý tưởng chiến đấu nên sẵn sàng hy sinh tính mạng cho chính nghĩa quốc gia. Tiếc thay, vì không được yểm trợ tài chánh, thiếu phương tiện, nên nếu có đạt được phần nào kết quả chẳng qua là nhờ may mắn, hoặc kinh nghiệm và tài năng cá nhân chứ không phải nhờ đường lối chỉ đạo chung mà có.

Về phía quân đội quốc gia khi được thành lập và trưởng thành thì nói chung, về khả năng và kỹ thuật thâu lượm tin tức cũng như danh tài điệp báo thì chúng ta đâu có thiếu người giỏi. Tiếc thay, phải hoạt động theo một đường lối thư lại; cấp lãnh đạo lại không đủ khả năng vận dụng lòng yêu nước và lý tưởng quốc gia mà chỉ dùng bã danh lợi làm động cơ thúc đẩy. Vì thế, người thi hành nhiệm vụ tình báo không phát huy hết khả năng cũng như tinh hoa của nghiệp vụ... Hơn nữa, từ tài chánh cho đến phương tiện hoàn toàn trực thuộc nguồn viện trợ: Ai chi tiền, người đó chỉ huy.

Trước năm 1954, mọi việc đều dựa vào quân đội Pháp và chỉ có người Pháp mới chủ động công tác tình báo; về sau thì do ta trực tiếp sưu tầm, nhưng lại phải trông nhờ vào phương tiện của Mỹ. Tình hình chung, họ có mở rộng hầu bao, và cung cấp đủ phương tiện thì ta nhờ, bằng không thì phải tự xoay xở lấy; với phương thức hoạt động như thế thì đâu có kết quả tốt. Ví dụ cụ thể, Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, khi người viết phải tạm giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Tiền Phương Sư đoàn 5 Bộ binh tại Bình Long-An Lộc trong một thời gian ngắn; trong sinh hoạt tham mưu hằng ngày, chúng tôi cố mưu tìm Tin A2, tức là tin tức tối mật từ viên cố Vấn Mỹ đặc trách tình báo để biết và theo dõi hoạt động của các đơn vị CS thường quấy phá Sư Đoàn 5 như các Công trường 5,7,9. Rất tiếc, vì một lý do đặc biệt nào đó liên quan đến việc đi đêm giữa Mỹ-VC tại hòa đàm Paris nên viên cố vấn nầy thường úp mở tìm cách thoái thác không cho biết, hoặc có, thì y nói là đơn vị CS còn cách xa Sư Đoàn trên mấy trăm km. Bất ngờ vào những ngày cuối tháng 3-1972, khi các công trường của địch đã bám sát ta, chỉ còn cách bản doanh độ 30km, nghĩa là vừa tầm đại pháo 130 ly, lúc nầy Mỹ mới tiết lộ. May mà Sư Đoàn đã có chuẩn bị trước, bằng không sẽ vô phương cứu chữa và thất trận ngay lúc đó.

2. Phía CSVN:

Trước hết phải xác nhận, cộng sản là một loại «Tôn Giáo Thế Tục», cán bộ của chúng ắt là những «tín đồ» ngoan đạo; do đó bất cứ hành động nào thấy lợi, cần hy sinh để phục vụ đảng và sự nghiệp của quốc tế vô sản thì bọn chúng sẵn sàng dấn thân. Ngoài việc học tập các giáo điều và được trang bị lý tưởng chiến đấu, CSVN còn được quốc tế cộng sản hỗ trợ tài chánh và kỹ thuật tối đa, lại nữa chúng thu lượm được nhiều kinh nghiệm điệp báo từ Hiến Binh Nhựt, OSS Mỹ, KGB Nga, đến Phòng Nhì Pháp nên có nhiều hiểu biết hơn quốc gia; nhờ đó cộng sản đã mưu đồ thực hiện nhiều điệp vụ hơn ta. Ví dụ: khi Hiệp Định Genève ra đời để tạm chia đôi đất nước; phía CSVN đã có sẵn kế hoạch và đã gài người ở lại miền Nam. Chúng ra lệnh chôn giấu vũ khí để chờ cơ hội tái hoạt động. Trong khi đó về phía quốc gia theo các cấp lãnh đạo cao cấp tình báo từ Sở Nghiên Cứu Chính Trị Phủ Tổng Thống, cho tới Nha Kỹ Thuật về sau tiết lộ: do không có cơ sở quần chúng tại địa phương, đặc biệt ở miền Bắc lại không có chính quyền quốc gia; hơn nữa thiếu tiên liệu và phương tiện, vì thế chỉ gài được một số hoạt động nhỏ và sau một thời gian ngắn, phần lớn đã bị «bể» phải rút vào bóng tối. Về phía người Mỹ, tuy họ có chủ động bằng cách thuê mướn một số người sắc tộc thiểu số địa phương hoạt động quấy phá tại hậu phương địch, nhưng vì không có chính nghĩa và thiếu kiên nhẫn nên sớm tàn lụi.

Nhận xét chung: Do bản chất cũng như vì nặng đầu óc tiểu tư sản, người quốc gia cứ tự cho mình là «chính nhân quân tử» nên quan niệm rằng, việc tìm tòi, bươi móc dí mũi xía vào chuyện của người khác để tìm kiếm tin tức không phải là một hành động chân chính, mà đó là việc làm của kẻ tiểu nhân; trong khi đó phía CS phần lớn là bọn lưu manh, chúng bất chấp thủ đoạn để «moi tin» vì thế khả năng săn lùng theo dõi và thu lượm tin của ta không bằng phía cộng sản.

* Những Điệp Vụ Cài Người Điển Hình Của CSVN Vào Chiến Tuyến Của Ta:

Có nhiều sách báo, hoặc xuất hiện trên các mạng lưới internet tỉ như «Thép Đen», thỉnh thoảng đã phổ biến một số tài liều về hoạt động tình báo mà CSVN đã gài để phá hoại hàng ngũ quốc gia. Trong khuôn khổ bài viết hạn hẹp, chúng tôi chỉ xin trình bày đến quý bạn đọc vài câu chuyện điển hình xảy ra từ trước dưới đây:

1. Việt Minh cộng sản gài nữ sĩ Thụy-An giết chết ông Đỗ Đình Đạo:

Năm 1953, Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí đề cử ông Đỗ Đình Đạo làm Tổng Giám đốc Đoàn Quân Thứ Lưu Động để bình định các tỉnh phía Bắc. Được biết, ông Đạo là một cấp lãnh đạo của một chính đảng quốc gia; với tài sản to lớn và hùng khí sẵn có, ông đã yểm trợ tối đa cho Đệ Tam Khu Chiến của VNQDĐ trong kế hoạch tiêu diệt cộng sản địa phương. Vốn mang hai dòng máu, nhờ đó ông có được một ngoại hình bảnh trai; ông lại giàu nghệ sĩ tính, sử dụng chiếc clarinette một cách tuyệt vời điệu nghệ, vì thế ông đã lôi cuốn khá nhiều nữ giới. Với tài năng, uy tín và nhiều ưu điểm khác của ông, dưới mắt bọn cộng sản đánh giá cho là nguy hiểm; theo chúng ước tính, nếu người hùng Đỗ Đình Đạo tận dụng hết khả năng điều khiển Đoàn Quân Thứ Lưu Động bình định địa phương thì chắc sẽ chóng thành công, trong tình huống đó thì bọn du kích CS Việt Minh địa phương không còn đất chôn thân. Võ Nguyên Giáp được báo cáo, y thấy nguy hiểm nên ra lệnh phải thủ tiêu ông Đạo. Phản gián CS đã vận động một số nữ giới trong đó có nữ sĩ Thụy An tham gia tổ chức ám sát ông Đạo. Nữ sĩ Thụy An, một nữ lưu tuy không đẹp và xuất sắc bằng phu nhân của ông Đạo, nhưng y thị lại được huấn luyện tình báo nên sở trường về nghệ thuật nữ sắc. Mặt khác, theo đánh giá thì nữ sĩ Thụy An dễ tiếp cận với «đối tượng» hơn các ứng viên khác vì dù sao cũng được tiếng là một nữ văn sĩ; lại nữa, bà ta vốn đã từng «già nhân ngãi non với vợ chồng» với ông Đạo từ trước, nên y thị dễ bám sát con mồi. Quanh ông Đạo chẳng ai chú ý đến chuyện liên hệ nam nữ giữa hai người; họ chỉ để ý đến việc đôi nhân tình quấn quýt nhau, và chỉ phát giác được vụ việc khi thấy thi thể của ông Tổng Giám Đốc bị bầm tím và Thụy-An đã cao bay xa chạy. Về sau khám phá và biết được: Thụy An đã lợi dụng việc phòng the, thừa cơ hội «đối tượng» bị thấm mệt sau cuộc truy hoan liền tự tay chích một mũi độc dược cyanure để giết chết người vừa chăn gối.

Kết quả: Chỉ vài năm sau khi nữ sĩ Thụy An ám sát ông Đỗ Đình Đạo chết, do y thị vô ý nói: «Theo lệnh của anh Văn, (tức Võ Nguyên Giáp), tôi đã chích thuốc giết chết tên Đạo.» Cộng sản cho đó là tiết lộ bí mật công tác, hơn nữa bọn chúng muốn bịt đầu mối nên hạ lệnh «trả công» cho Thụy An bằng cách vô cớ ghép bà vào vụ án Nhân Văn Giai Phẩm và bỏ tù bà 15 năm. Năm 1982, một vài chiến hữu VNCH bị tù đày ở trại giam CS Hà Tây, trong dịp đi lao động đã gặp lại bà với thân hình tiền tụy, bị chột mắt trái, đang ngồi trên một sạp lá gần trại Hà Tây, bán thuốc lào với vài ấm trà nụ vối để độ nhật. Bà cho biết, khi bọn công an tới còng tay, bà kịp lấy ngòi viết đâm vào mắt trái và nói:» Tao chỉ muốn nhìn bọn cộng sản chúng bây bằng một con mắt»

2. Vụ gián điệp Phạm Xuân Ẩn:

Trong dịp ông Phạm Xuân Ẩn, cựu tình báo viên cộng sản qua đời vào sáng 20-09-2006 tại Quân Y Viện 175 Sài Gòn ở tuổi 79, báo chí trong nước và ngoại quốc đã viết rất nhiều về nhân vật nầy.

Nhật báo Nhân dân của CSVN xuất bản vào ngày 21-9-06 đã «đánh bóng» một cách quá lố rằng: »Sau hai mươi năm chiến tranh, Phạm Xuân Ẩn đã làm được những việc ít có nhà tình báo cổ kim đông tây nào làm nổi». Riêng các đài ngoại quốc, đặc biệt đài Á Châu Tự Do phát thanh vào ngày 26-09-2006 đã có bài viết về «cái chết của một siêu điệp viên» (Death of a super spy) của Dan Southerland, Phó Tổng Giám Đốc đài nầy nói: «đối với cộng sản Bắc Việt, siêu điệp viên Phạm Xuân Ẩn là một người yêu nước và một người anh hùng. Đối với nhiều người miền Nam, ông ta là một kẻ phản bội.» Dan Southerland còn trích dẫn lời ký giả của tờ báo The Independent ở London là Bruce Palling đề cao Ẩn, y nói: «Ẩn được coi là một trong điệp viên lớn nhất của thế kỷ 20» (An should rightly be viewed as one of the greatest spies of the 20th century). Theo người viết cũng như một số chiến hữu từng biết và có liên hệ với ông Ẩn đều nhận xét: chỉ có bọn CSVN lẫn cả những kẻ từng chủ trương «bôi đen» hoặc «bi thảm hoá» tình hình Việt Nam Cộng Hòa lúc đó cho xấu đi để vừa ý bọn phản chiến ngụy hòa Mỹ, chúng có cớ tháo chạy bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa; chỉ bọn đó mới lớn tiếng đề cao Phạm Xuân Ẩn. Thực tế ông Ẩn chẳng có gì đáng gọi «super hay siêu» mà chỉ là một gián điệp nhị trùng và là một nhà báo từng đại diện cho các hãng tin ngoại quốc nhu Reuter, đặc biệt là phóng viên chính thức của Tạp Chí Time tới 10 năm; nhưng bọn phản gián đã huyền thoại hóa, hư cấu rồi lợi dụng tên tuổi của Ẩn để phóng đại chiến công của CSVN. Sự đời kẻ thắng thì phét lác mấy mà chả được.

Người viết còn nhớ, vào đầu năm 1954, nhờ được sự giới thiệu của Đại Úy Đinh v T, một bậc đàn anh cùng quê làm chánh văn phòng của Trung tướng Nguyễn V Hinh, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia VN lúc đó tiếng Pháp gọi tắt là EMG, tức État Major Général, tọa lạc tại đại lộ Trần Hưng Đạo (Boulevard Galilénie), chúng tôi mới biết được Thượng Sĩ Phạm Xuân Ẩn, một người thông thạo tiếng Pháp lẫn tiếng Anh đang tùng sự dưới quyền Thiếu Tá Vũ Văn Giai, Trưởng Phòng 5/BTTM. Về sau ông là thông dịch viên tiếng Anh chính thức cho cơ quan TRIM, một bộ phận hổn hợp Mỹ-Pháp có nhiệm vụ soạn thảo tài liệu huấn luyện cho quân đội quốc gia VN. Ông Phạm Xuân Ẩn giải ngũ với cấp bực Chuẩn Úy. Theo lượng giá của Phòng Báo Chí Sở Nghiên Cứu Chính Trị thì có lẽ Ẩn đã cọng tác với CIA và đã trở thành một gián điệp nhị trùng kể từ khi tùng sự tại đó.

Về sau nhờ có liên hệ công tác, chúng tôi lại được tái ngộ với ông Ẩn khi ông nầy phục vụ tại Sở Nghiên Cứu với ông LVT và được biết, Phạm Xuân Ẩn còn có tên khác, sinh năm 1927 tại xã Bình Trước, tỉnh Biên Hòa. Được biết, có một thời gian ngắn đương sự đã theo kháng chiến.

Với một số tài liệu trên, chúng tôi cảm biết; Bác sĩ Trần KimTuyến, Giám đốc Sở Nghiên Cứu đã nắm rõ lý lịch của đương sự, và vì thế mới tài trợ cho Phạm Xuân Ẩn đi tu nghiệp báo chí tại Nam California, Hoa Kỳ. Chắc quý độc giả còn nhớ, thời bấy giờ đi du học hay du hành quan sát tại Hoa Kỳ là một việc rất khó khăn; ngay sĩ quan các cấp, không đủ tiêu chuẩn an ninh, có nghĩa từ tứ thân phụ mẫu đến bà con quyến thuộc có liên hệ với CSVN đều bị loại. Sở Nghiên Cứu Chính Trị đã bảo trợ cho ông Phạm Xuân Ẩn đi tu nghiệp thì việc ông ta trở lại phục tại cơ quan chẳng có gì thắc mắc. Điều đặc biệt, khi Bác sĩ Giám đốc Sở bị thất sủng và do áp lực Hoa kỳ, Sở bị giải tán thì ông Ẩn được bố trí làm cho các cơ quan thông tín ngoại quốc cũng là điều hợp lý.
Câu hỏi đặt ra:

1. Nguyên nhân nào mà ông Phạm Xuân Ẩn cố tìm cách cứu BS Trần Kim Tuyến và một số người khác ra khỏi tay CSVN vào phút chót? (Thoát khỏi Sài Gòn ngày 29-4-75) Một số người biết điều đó vội khen ông Ẩn thuộc hạng «trung nghĩa lưỡng toàn». Thật ra, trong điệp vụ chẳng có gì là tình nghĩa, mà đó chỉ là một hành động «bịt đầu mối». Vì nếu để BS Tuyến bị rơi vào tay cộng sản, bị tra khảo chịu không nổi phải tiết lộ bí mật thì số phận của Ẩn mà trước đây từng cộng tác với BS Tuyến sẽ ra sao; do đó ông Ẩn phải bằng mọi giá đưa BS Tuyến thoát khỏi tay CS.

2. Tại sao Ẩn đã đưa gia đình vợ con đi Mỹ, cứu được BS Tuyến vào phút chót mà ông Ẩn chấp nhận ở lại đối diện với CSVN?

Thật ra câu hỏi cũng như đáp số cho đến khi ông qua đời chưa một ai rõ, kể cả những người thân tín nhứt, ông chỉ nói: «Tôi là một đảng viên, mọi việc do đảng quyết định». Phải chăng đó là một lời trung thực của một «tín đồ» ngu dại quá tin vào đảng.

Biết rằng, liền sau khi CSVN chiếm Sài Gòn ông Phạm Xuân Ẩn đã phải:

1. Lập tức nhờ bạn bè sắp xếp để đưa gia đình vợ con trở lại VN, lộ trình từ New York, Mỹ qua Paris, Pháp xuống phi trường Nội Bài và cả gia đình ông Ẩn phải lưu lại tại Hà Nội trong 3 tháng để khai báo và làm kiểm điểm.

2. Bản thân ông Ẩn phải ra Bắc một thời gian để bị tẩy nảo.

3. Cá nhân ông Ẩn bị «quản chế» tại gia; không được xuất ngoại, bị cấm tiếp xúc với bên ngoài, đặc biệt với giới báo chí ngoại quốc. Hình phạt nầy kéo dài cho đến năm 1986 khi Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh ra lệnh mở cửa và «cởi trói», dịp nầy Phạm Xuân Ẩn mới được tiếp xúc đầu tiên với ký giả Dan Southerland. Và sau đó vì nhu cầu giao thiệp với truyền thông nước ngoài, ông Ẩn mới được phép nới rộng liên lạc hòng có lợi cho đảng. Tuy nhiên, ông vẫn dè dặt, không giống như Bùi Tín đã nói trong khi trả lời phỏng vấn một số báo.

Qua phần trình bày sơ lượt trên, chúng tôi ắt quý độc giả đã nghĩ thế nào về mặt trận tình báo giữa ta và CSVN trong cuộc chiến vừa qua, và chắc chắn đã tìm hiểu được một phần nào nguyên nhân thất bại của chúng ta trước kẻ thù cộng sản để rồi rút được bài học kinh nghiệm cho thế hệ tương lai. Quan trọng nhứt là thấy được cái gương nhãn tiền mà bọn Việt Cộng đã đối xử tàn nhẫn với những ai đã vì «lý tưởng cộng sản» mà hy sinh cho chúng. Xin lưu ý, theo nguyên tắc tình báo, đã là nhị trùng thì không thể hoàn toàn tin tưởng được, vì đầu óc bọn lãnh đạo luôn đặt nghi vấn: "không phản bội, không bán đứng đồng chí, không có chuyện trao đổi thì làm sao thâu lượm tin tức tốt?" vì thế, dù có lập công bao nhiêu thì cũng chỉ tin được một phần. Cứ xem gương, từ nữ sĩ Thụy An bị đày đọa, đến Phạm Xuân Ẩn tuy được đề cao, được tuyên dương «anh hùng lực lượng vũ trang», nhưng phải sống trong nổi phập phồng lo sợ, đặc biệt là phải đối diện với một cuộc sống nghèo nàn thiếu thốn đến độ phải nuôi chó bán chim để độ nhật. Thậm tệ nhứt là bọn CSVN đối xử rất dã man và vô nhân đạo với Vũ Ngọc Nhạ; khi bọn CS biết Nhạ đã lộ chân tướng, bị phản giánVNCH lợi dụng thì bọn họ trở mặt đối xử rất tồi tệ với Nhạ. Tuy, được phong quân hàm cấp tướng, nhưng không được trợ cấp, bị túng thiếu đến độ cháu ruột của Nhạ là anh Vũ Ngọc Thưởng sống ở Pháp từng tâm sự với chúng tôi: «Chú tôi túng đến độ nuôi hai đứa con trai không nổi phải nhờ bạn bè gửi chúng nó vào trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, nhưng chẳng may tới đây thì hai đứa nhỏ bị bỏ đói, bà thím cảm thấy lo sợ nên lại xin cho chúng trở lại nhà. Rủi thay vận động chưa xong thì cả hai thằng con trai của Vũ Ngọc Nhạ bị «trúng gió» chết ngay tại trường.» (Phải chăng bọn CS trả thù vì cho Nhạ phản bội nên giết luôn mấy đứa nhỏ).

Trong Tôn Tử Binh Pháp, Tôn Vũ Tử từng viết: « làm chính trị mà không biết tình báo là đui; hành binh mà thiếu tình báo là què». Câu nói của bậc thầy nầy khiến chúng ta cần phải nghiên cứu và suy nghĩ kỹ lại cho đúng hoàn cảnh.

Hiện trạng sinh hoạt chính trị của Người Việt Quốc Gia ở hải ngoại rất nhiễu nhương và phức tạp, không biết đâu là thực đâu là giả; nói chung không khác gì một đám người mù sờ voi: không kế hoạch, thiếu huấn luyện, mạnh ai người đó làm, thậm chí khi hành động không biết mình đã vô tình đi làm tay sai cho bọn CSVN nên đã làm hỏng sự nghiệp chống cộng sản để cứu nước.

Kính mong các đảng phải chính trị, tổ chức hội đoàn đấu tranh hãy mạnh dạn thanh lọc hàng ngũ, đề cao cảnh giác để phòng ngừa sự xâm nhập của bọn gián điệp CS xâm nhập phá hoại hàng ngũ chúng ta.

Phùng Ngọc Sa

* Sách Việt Nam Quốc Dân Đảng của Hoàng Văn Đào

Thư Gởi Ban Trẻ Việt Nam Trong Nước - Chu tất Tiến

Chu tất Tiến

Như các bạn đã biết, tuần lễ cuối tháng 7 năm 2009 có lẽ là thời gian sôi động nhất trong các cuộc xuống đường của dân chúng chống lại sự đàn áp hung tàn của Cộng Sản Việt Nam vừa trắng trợn cướp đoạt tài sản của nhân dân, vửa xử dụng bạo lực trấn áp. Theo ước tính của các linh mục sở tại, có khoảng 250,000 người thuộc giáo xứ Vinh cùng một lúc vừa cầu nguyện trong các nhà thờ vừa cầu nguyện chung quanh nền đất nhà thờ Tam Tòa, vốn thuộc quyền sở hữu của giáo dân từ nhiều thập niên qua. Những người dân chân yếu tay mềm này chỉ đòi hỏi nhà cầm quyền trả lại tài sản của họ để họ tự túc thực hiện các sinh hoạt tôn giáo theo tín ngưỡng của họ. Họ không kêu gọi thực hiện một cuộc Cách Mạng nào, không hề xử dụng chân tay, không cầm đến một cái que nhỏ, vậy mà nhà cầm quyền đã gửi hàng ngàn Công An và bè lũ tới đánh đập họ đến đổ máu, rồi quẳng họ lên xe thùng như những con vật. Linh mục tới hòa giải ư? Đánh cho gục xuống luôn! Đại diện tòa Giám Mục đến khiếu nại ư? Đạp cho vỡ miệng! Đứng ngoài đường mà hát nhạc đạo ư? Quật cho vài hèo rồi tống vào ngục tối! Quan sát viên ngoại quốc đến theo dõi ư? Giật máy ảnh đi, rồi đuổi chúng cút xéo!

Chắc các bạn đã học lịch sử Việt Nam và biết rằng từ cuối thế kỷ 19 sang giữa thế kỷ 20, bọn Tây Thực Dân đô hộ nước mình một cách khắc nghiệt. Chúng xử dụng những tên tay sai Chánh Tổng, Hương Hào, Lý Trưởng, Hương Quản, Trương Tuần để đàn áp dân ta tàn bạo. Nhưng, nói một cách khách quan, những tên cường hào ác bá đó còn thua xa những tay Công An Cộng Sản Việt Nam vào thế kỷ 21. Vì thời đó, các tên cường hào ác bá đó chỉ lợi dụng sự thiếu thông tin, thiếu kiến thức của dân chúng mà đàn áp lẻ tẻ từng cá nhân, từng nhóm nhỏ, và bóc lột trong phạm vi cai trị của mình. Chúng rất sợ báo chí. Một khi bị báo chí nhòm ngó vào, lập tức chúng thay đổi ngay. Còn hiện nay, khi lượng thông tin đã tràn ngập thế giới với hàng tỷ Megabites, khi bất cứ chuyện gì xẩy ra ở bất cứ vùng nào ở Việt Nam, đều có thể được truyền đi từ Đông sang Tây trong nháy mắt, và khi mà dân trí đã lên rất cao, bọn Công An Cộng Sản vẫn coi mạng người như rác. Chúng bất chấp cả Quốc Tế, coi thường mọi kháng thư, mọi phản đối của các chính khách trên thế giới và vẫn ngang nhiên cướp đoạt tài sản nhân dân để xây sân Golf cho ngoại quốc, xây biệt thự cho các quan Tư Bản Đỏ, xây khách sạn 5 và Siêu Sao để phục vụ lợi ích của những trùm tư bản quốc tế, hoặc để làm di sản cho con cháu bọn chúng. (Nếu các bạn đọc báo Người Việt, ngày 30 tháng 7, 2009, mục “Từ mũi Sa Vĩ nhìn về Móng Cái: Trung Quốc làm chủ, Việt Nam làm thuê”, các bạn sẽ thấy Cộng Sản Việt Nam đã lấy đất Tổ gần biên giới để xây sân Golf vĩ đại cho các Cố Vấn Vĩ Đại Trung Quốc.) Để hưởng thụ các tài sản này một cách hoàn hảo, chúng đã lập một hệ thống Công An Trị, khát máu hơn KGB của Liên Xô, ác liệt hơn Công An Trung Quốc, tại khắp hang cùng ngõ hẻm. Bất cứ mầm mống nào chống đối mới mọc lên, chúng đều dập tắt một cách cực kỳ hung bạo. Từ Thái Hà, Tòa Khâm sứ, nay đến Tam Tòa, đâu đâu cũng dầy đặc Công An và bọn côn đồ không mặc trang phục Công An, ứng chiến 24/24 không mệt mỏi. Điều đau đớn và nhục nhã hơn là cũng bọn Công An này đã tận tâm, tận lực bắt, đánh, tra hỏi, nhốt giam, lên án tù những người dân yêu nước, chỉ muốn cất tiếng lên đòi hỏi bảo vệ giang sơn, Tổ Quốc chống lại sự xâm lăng của Trung Cộng.

Chắc các bạn còn nhớ vụ sinh viên biểu tình chống Trung Cộng tại Hà Nội, Sài gòn và các nơi khác? Chắc các bạn còn nhớ một “blogger” bị tù vài năm, chỉ vì anh ta yêu nước? “Blogger” Điếu Cầy, chỉ vì đưa lên mạng những lời yêu nước được truyền lại từ Hai Bà Trưng, đến Lê Lợi, Quang Trung.. mà bị tù giam khốn khổ. Theo lời chị Hải, mới đây, bọn Công An giam tù đã cấm không cho chị thăm nuôi, vì anh phạm tội “không chịu nhận tội”!

Nghịch lý thay! Đau lòng thay! Nhục nhã cho luật pháp Việt Nam! Nhục nhã cho nhóm chữ “Cộng Sản Việt Nam”!

Các bạn thân mến,

Thực tế, nếu các bạn ngừng lại ở nhóm chữ “Cộng Sản Việt Nam” này lâu hơn một chút, các bạn sẽ thấy một nghịch lý còn vĩ đại hơn thế nhiều: Nghịch lý của hai chữ “Cộng Sản” (Communism).
“Cộng Sản” mang ý nghĩa là tập trung tài sản của toàn thể nhân dân vào một đầu mối quản lý: Nhà Nước Cộng Sản! Theo Webster Dictionary, chữ “Communism” có nghĩa là “một giai đoạn lý tưởng của Chủ Nghĩa Xã Hội, sáng tạo từ Karl Max, Engels, Lenin và một số người khác, có đặc tính là không phân chia giai cấp, không ranh giới quốc gia, và sự phân phối hàng hóa đồng đều.” Theo các bài giảng tại miền Nam trong năm 1975, một khi mà Cộng Sản Chủ Nghĩa đã toàn thịnh, thì mọi người sẽ “làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu”. Nghĩa là, anh có khả năng gì, thì làm theo khả năng ấy, nhưng khi thụ hưởng thì anh muốn hưởng bao nhiêu cũng được cung cấp đủ theo nhu cầu của anh, từ quần áo, đến thức ăn, đến chỗ ở, và dĩ nhiên, ái tình nữa! Anh có thể làm thợ vét cống, nhưng anh có nhu cầu ở nhà to, xe láng, Nhà Nước Cộng Sản sẽ cung cấp cho anh đủ những nhu cầu ấy! Điều này dẫn đến sự hiểu ngầm là nếu anh có khả năng sinh lý cao, anh có thể có rất nhiều người cung cấp tình dục cho anh. (*)

Các bạn có tưởng tượng một ngày nào đó, trên thế giới này, có một cái gọi là Chủ nghĩa Cộng Sản được thực hiện một cách an bình không? Có một ngày nào mà chúng ta, 6 tỷ người, sáng sáng thức dậy, đổ xô ra đường, đến các nhà máy, làm việc, ăn cơm chung, rồi về nhà tập thể, nay ngủ với cô vợ này, mai ngủ với cô kia, muốn đến thăm con, thì vào nhà mồ côi, nhìn một lũ con nít giống nhau y hệt???

Thực tế, để thành lập cái xã hội đó, Staline đã giết gần 10 triệu người mà vẫn chưa thành lập được. Mao Trạch Đông cũng giết sơ sơ 30 triệu người, rồi bây giờ bỏ xó chương trình này, sau khi máu người, nếu tích tụ lại, đã thành một cái biển máu trùm cả nửa phần thế giới.

Để giải thích tại sao lại chưa có xã hội Cộng Sản, các nhà lý luận Cộng Sản cho rằng trong giai đoạn chờ để tiến lên Cộng Sản Chủ Nghĩa, thì một xã hội tạm thời làm trung gian giữa Tư Bản Chủ Nghĩa và Cộng Sản Chủ Nghĩa được thành lập: Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa! Cũng theo tự điển Webster, Chủ Nghĩa Xã Hội (Socialism), theo Marx, là một trạng thái của xã hội trung gian giữa Chủ Nghĩa Tư Bản và Chủ Nghĩa Cộng Sản, trong đó, chủ nghĩa “sở hữu cá nhân của các phương tiện sản xuất và sự phân phối được tiêu hủy.”

Thực tế, nhóm chữ “chủ nghĩa Xã Hội” là một tấm màn xiếc do những kẻ muốn thâu tóm thiên hạ vào trong tay đã giăng ra để lừa gạt nhân loại. Bọn xử dụng nhóm chữ này là bọn “treo đầu dê, bán thịt chó”. Chúng làm mờ mắt nhân dân bằng hai chữ “Xã Hội”. Từ chữ “Social”“tiếp vĩ ngữ “al” có nghĩa là “thuộc về xã hội”, chúng sáng tác ra chủ nghĩa “Socialism” rồi tung ra hàng loạt các cuộc tuyên truyền tràn ngập, để cho những kẻ kế thừa cứ thế mà tung hô như vẹt. Nhưng, nếu hỏi chúng, “chủ nghĩa xã hội là gì?”, nhất định chúng sẽ tắc khẩu, vì không thể giải thích, so sánh, và chứng minh được dựa vào thực tiễn xã hội ngày nay.

Thực tế, hiện nay, sở hữu cá nhân của toàn dân trên các phương tiện sản xuất đã được tiêu hủy, nhưng lại tập trung vào trong tay một thiểu số có quan hệ với nhà cầm quyền, với Đảng qua hối lộ, tham nhũng, và qua quan hệ họ hàng, thân thích với Đảng. Toàn bộ các Đảng viên Cộng Sản hiện nay vào Đảng là để được tung hoành thâu tóm phương tiện sản xuất của nhân dân vào tay mình. Các Đảng viên dựa vào Đảng để tùy nghi phân phối các phương tiện sản xuất cho những người nào thân thích, hoặc chia chác, hối lộ. Không còn một người nào vào Đảng để bảo vệ Tự Do và Hạnh Phúc của nhân dân nữa. Tất cả những Đàng viên còn chút nhiệt tâm với đồng bào, đồng hương, đều đã xé thẻ Đảng, ra khỏi Đảng, hoặc bị nhốt trong những nhà tù khổ sai, không thấy ánh sáng mặt trời.

Hãy đi vào các cơ sở kỹ nghệ khổng lồ, các cơ sở lọc dầu, bán dầu, các sân golf siêu quốc gia, các nhà hàng, khách sạn siêu sao (trên 5 sao), các trung tâm du lịch hạng nhất Á Châu, các chủ ngân hàng, các chủ nhân sở hữu phi cơ, xe Roll Royce hàng triệu mỹ kim, hàng chục xe Lamborgini, các nhân vật nắm toàn bộ các “stock” mạnh thì sẽ thấy rằng tất cả các ông, bà “chủ lớn” có gia tài hàng trăm triệu đến hàng tỳ mỹ kim ấy đều là Đảng Viên Cộng Sản, hoặc con cháu, bà con của Ban Chấp Hành Trung Ương, Thành Ủy, Bí Thư, Quân Ủy, Bộ Chính Trị. Hãy hỏi các cháu du học sinh nước ngoài, những cháu có mức tiêu xài trên 100,000 đô la một năm, thì sẽ biết tất cả các cháu đều gọi các lãnh tụ bằng “chú Tư, dì Năm, bác Sáu …”. Hãy hỏi các người vẫn luôn du lịch Hoa Kỳ, hay ngồi uống cà phê ở Bôn-Sa, rồi đi Thụy Sĩ, Thụy Điển, Pháp.. như đi chợ, thì sẽ nghe những người này nói toàn giọng con cháu Bác Hồ cả.

Như thế, thì có cái gọi là “Chủ Nghĩa Xã Hội” hoặc có cái gọi là “Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa” hay không? Thưa: KHÔNG! Tất cả những cái danh từ ấy, như đã viết ở trên, đều là tấm màn xiếc của những kẻ “treo đầu dê, bán thịt chó”, những lãnh tụ Đảng Cộng Sản, một cái đảng được thành lập bằng “bạo lực cách mạng”, dựa trên “bạo lực của đảng Cộng Sản Quốc Tế”, để thâu tóm mọi phương tiện sản xuất của nhân dân vào trong tay mình, rồi cống nộp đất đai Tổ Quốc để trả nợ cho những kẻ đã yểm trợ mình thành công trong việc chiếm đoạt này. Nhưng vì mục tiêu này đi ngược lại nguyện vọng của quần chúng, nên có nhiều cuộc chống đối xẩy ra. Để bảo vệ cho mục tiêu được thi hành trọn vẹn, cái gọi là Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa đã xử dụng bạo lực cách mạng để trấn áp, và nhốt tù mọi tư tưởng không thích hợp với cái nhà nước này. Chúng đã xử dụng một cái màn xiếc thứ hai để trù dập mọi tư tưởng không thích hợp, tấm màn xiếc mang tên “Tội Danh: Phổ biến những quan điểm chống lại Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa.”

Nhưng, như đã lý luận ở trên, chúng ta sẽ tìm thấy một phương trình:
Cộng Sản Chủ Nghĩa = 0. Vậy, Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa = 0.
Vì Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa=0, nên những tội danh “chống lại Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa =0.

Trên phương diện luật pháp, không có ai có thể bị buộc tội vì đã chống lại một con ma, không có thực. Nếu có ai cố tình vu vạ cho một người để bắt giữ người ấy, kẻ vu vạ ấy phải chịu trừng phạt trước pháp luật của Lương tâm Nhân Loại.

Nếu cái gọi là Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa ấy cố tình xử dụng bạo lực cách mạng để đàn áp nhân dân, nhất định sẽ có ngày nhân dân vùng lên, và kết quả thì tùy nơi, hoặc bị xử bắn như ở Hungary, hoặc bị xử tù như ở các nơi khác.
Vài hàng thô thiển, mong các bạn suy nghĩ và tìm thấy sinh lộ của chính mình và cho nhân dân Việt Nam yêu quý.

Chu Tất Tiến

*****

(*) Vào năm 1977, khi năm anh em tù cải tạo chúng tôi đang ngồi lợp tranh trên nóc nhà của một anh Chính Ủy Trung Đoàn tại Cà Tum, anh Trung Đoàn Trưởng, không nhìn thấy chúng tôi, chạy xộc vào nhà và hỏi anh Chính Ủy:
    - Cái nồi của tao đâu rồi?
    Anh Chính Ủy chậm rãi nói:
    - Thì.. đâu đó! Chắc anh em mượn!
    - Mượn cái gì? Muốn mượn thì phải hỏi tao chứ?
    - Chắc anh em vội quá, nên quên!
    - Quên cái con mẹ gì! Muốn chiếm hả?
    Anh Chính Ủy nhỏ nhẹ:
    - Làm cái gì nóng thế, đồng chí? Xã Hội Chủ Nghĩa mà!
    Anh Trung Đoàn Trưởng vặc lên:
    - Xã Hội Chủ Nghĩa cái con c…! Mày có đưa vợ mày cho tao không mà nói Xã Hội Chủ Nghĩa!
    Cả năm anh em chúng tôi, ngồi trên nóc nhà, cười muốn té xuống đất!
    Anh Trung Đoàn Trưởng nhìn lên, thấy hố, vội vã bỏ đi.
    Bảo đảm chuyện thật 100%.

HỌ LÀ AI (?) - Sơn Tùng

Sơn Tùng

Họ là những người đã ra khỏi Việt Nam, bằng cách này hay bằng cách khác, trước hay sau ngày 30.04.1975. Họ đang sống ở hải ngoại, hầu hết với danh nghĩa tỵ nạn cộng sản. Hầu hết, nếu không tất cả, là những người đã có đời sống tự do trên mảnh đất miền Nam trước khi Miền Bắc thắng cuộc phân tranh quốc cộng khiến họ phải bỏ lại tất cả để ra đi.

Tại sao phải ra đi ? Câu trả lời rất đơn giản. Họ đã tự trả lời khi bước chân xuống tàu ra khơi, chấp nhận mọi gian nguy, và sau khi sống sót đặt chân lên bờ đất tự do, nơi các trại tị nạn: họ không thể sống dưới chế độ cộng sản.

Với lý do ấy, họ được một quốc gia trong thế giới không cộng sản, hay “Thế giới Tự do”, nhận cho tái định cư, làm lại cuộc đời. Họ trở thành một phần tử trong cộng đồng người Việt tị nạn ở hải ngoại, dù họ đã nhập quốc tịch Mỹ, Pháp, Canada, hay một nước nào khác, trừ khi họ tự hội nhập hoàn toàn vào quê hương mới và cắt đứt mọi liên hệ với quê hương cũ.

Thế rồi bỗng dưng, vào một lúc nào đó, kẻ trước người sau, họ lên tiếng chỉ trích, khích bác cộng đồng, tách ra khỏi cộng đồng, đả kích những người còn giữ lập trường chống cộng, họ kết thân với những người đang phục vụ chế độ cộng sản ở trong nước.

Hiển nhiên, đây là một hành động nghịch lý mà những bộ óc lành mạnh không thể hiểu. Nhưng, dù sao họ cũng đang sống trong một xã hội tự do, họ có quyền chọn lựa, dù sự chọn lựa có nghịch lý đến đâu. Và sẽ không ai nói đến họ, vì họ chỉ là một số rất nhỏ bé trong các cộng đồng người Việt ở hải ngoại, nếu họ không tự nhận là những người sáng suốt, thức thời, tiến bộ, thậm chí còn nhân danh “đa số thầm lặng”, nhân danh chân lý để làm một đầu cầu cho cán bộ cộng sản xâm nhập, phá hoại cộng đồng.

Vì vậy, họ đã gặp phản ứng chính đáng từ những người không thay đổi lập trường chống cộng trong các cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Và họ đã lên tiếng kêu ca bị “mất tự do”! Nhưng, kêu ca với ai? Kêu ca với cán bộ cộng sản từ trong nước ra!

Có lẽ đây là chuyện khôi hài làm cho người nghiêm nghị nhất cũng khó nín cười, hay người trầm lặng nhất cũng không thể không lên tiếng.

Vì vậy, vừa mới đây, ông Công Tử Hà Đông (bút hiệu viết phiếm của Nhà văn Hoàng Hải Thủy), đã phải lên tiếng để nói về những người này.

Những người này đã thường “giao lưu một chiều” với cán bộ cộng sản ở trong nước nhưng không ai quan tâm vì đó là chuyện riêng của họ, nếu những lời nói quái gở của họ không được cán bộ cộng sản dùng để xuyên tạc sinh hoạt trong các cộng đồng người Việt hải ngoại – như bài viết của ông Tô Nhuận Vỹ phổ biến trên Net sau một chuyến Mỹ du được Công Tử Hà Đông trích đoạn như sau:

“Với nhiều văn nghệ sĩ hải ngoại thì cái mũ ‘cộng sản’ của cộng đồng luôn luôn chực chờ để chụp xuống đầu họ. Báo chí không ít lần đã phải kêu lên về cái thực trạng ‘mũ cối ở đây nhiều hơn ở cả Hà Nội’. Cho nên, các nhà văn luôn phải ‘biểu diễn lập trường’ (chữ của Nguyễn Mộng Giác). Trong nhiều dịp chuyện trò tâm sự, không ít anh em đồng nghiệp ở Mỹ trong khi cho rằng trong nước hoàn toàn chưa có tự do sáng tác với khá nhiều ví dụ thì đồng thời cũng khẳng định lúc này, tại đây, (Hoa Kỳ), cũng chưa có tự do sáng tác như mình ao ước, nên có lúc phải sống hai mặt. Hoàng Khởi Phong viết: Ở ngoại quốc này chúng ta làm chính trị dễ, yêu nước cũng dễ, làm văn chương cũng dễ, lấy nhau cũng dễ, bỏ nhau cũng dễ, làm thương mại cũng dễ, khai phá sản cũng dễ. Nói tóm lại, ở đây cái gì cũng dễ, chỉ trừ có một tấm lòng chân thật là hơi khó chút xíu.”

Và dưới đây là đoạn ông Tô Nhuận Vỹ thuật lại những cuộc tiếp xúc với các ông Nguyễn Bá Chung, Trương Vũ, Nguyễn Gia Kiểng, Lê Xuân Khoa:

Về Nguyễn Bá Chung: - “Chỉ vì mời hai học giả từ Hà Nội là Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi qua tham gia nghiên cứu về văn học và văn hóa cộng đồng người Việt sau chiến tranh và do khởi phát từ một chi tiết trong phần đặt vấn đề của chương trình nghiên cứu của Nguyễn Bá Chung, trong đó có kể chuyện một cháu nhỏ khoe với ông nội lá cờ Việt Nam cháu tìm thấy trong sách nhà trường – cờ đỏ sao vàng thay vì cờ vàng ba sọc đỏ, chỉ bắt đầu từ như thế (một đoạn văn không do Nguyễn Bá Chung viết), mà một cuộc chống lại ồ ạt, ghê gớm bằng từ hàng trăm bài viết không thiếu lời lẽ nhục mạ, đe dọa, các cuộc mít tinh hội họp phản đối, các kiến nghị gay gắt, kiện cả ra tòa án mà khi tòa án bác bỏ thì vu luôn cho thẩm phán, luật sư thiên vị..., mà đánh tới tấp suốt hơn năm năm trời, với phạm vi trên toàn cõi có người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài rằng Trung tâm William Joiner, Kevin Bowen là tiếp tay cho cộng sản, rằng Nguyễn Bá Chung là cộng sản nằm vùng và phải trừng trị anh này. Ở một đất nước tự do mà hành sử như vậy thì hãi quá.”

Về Trương Vũ: - “Nhưng, trong không khí chống cộng cực đoan như thế, không phải không có những người dù không tán thành thể chế trong nước vẫn có cái nhìn trầm tĩnh như Trương Vũ, anh nói: ‘Vào lúc này mà nói chuyện chống cộng với ngôn ngữ, phương thức của ba mươi năm cũ chẳng khác gì chống những hồn ma trong một không gian hồi tưởng. Chẳng khác gì đi đi lại lại trên một lối mòn của tâm thức. Chống những hồn ma không được thì chống nhau. Ai không giống mình thì người đó là cộng sản, phản bội.’”

Về Nguyễn Gia Kiểng: - “Nguyễn Gia Kiểng cho rằng loại thái độ đó chỉ là để biểu lộ và trút bớt sự căm thù đang sôi sục trong lòng chứ không phải để giành thắng lợi. Cuộc đấu tranh vì vậy không khác gì một cuộc lên đồng, những người được ủng hộ nhất là những người tỏ ra táo bạo nhất, lên đồng hay nhất, gây được ấn tượng mạnh nhất.”

Về Lê Xuân Khoa: - “Ông cũng cho biết mình sắp có chuyến về Việt Nam trong những ngày tới. Ông nói: ‘Số cực đoan trong cộng đồng lẫn số bảo thủ quyết liệt trong nước chỉ là số ít mà thôi. Đa số, cho dù tạm thời thầm lặng, vẫn là những con người mong muốn thực sự hòa hợp, hòa giải để xây dựng đất nước dân chủ và giàu mạnh, dù đề xuất giải pháp còn khác nhau.’”

Công Tử Hà Đông đã trả lời những người này với một bài khá dài, và ông nói rằng những người này chưa được làm cộng sản, mà chỉ là một thứ tay sai của cộng sản.

Lê-nin, người thầy vĩ đại của dư đảng Cộng sản tại Việt Nam, có một định nghĩa thực tế về những người này: “Những tên ngốc hữu dụng.”

Ký giả Tú Rua Lê Triết gọi loại người này là những người “hơi hơi chống cộng” để so sánh với chuyện không hề có trong thế gian: “đàn bà hơi hơi mang bầu”.

Vậy thì thực sự, họ là ai?

Có lẽ nhiều người coi họ, và họ cũng tự cho, là những người trí thức, vì họ có bằng cấp đại học, có viết sách, viết báo, để không những nói lên quan điểm của mình, tự đề cao mình, mà còn lên giọng miệt thị người khác.

Nhưng, dường như từ lâu đã có sự lạm dụng danh nghĩa “trí thức” trong xã hội Việt Nam. Có bằng cấp cao chưa đủ để là người trí thức. Có sự hiểu biết chuyên môn về một ngành nghề nào đó không phải là trí thức. Có một số sinh hoạt liên quan đến trí óc cũng chưa phải là trí thức. Trí thức là người, ngoài sự Minh triết, cần có thêm Tâm, Trí, và Dũng.

Khi các chế độ cộng sản tại Liên bang Sô-viết và các nước Đông Âu đứng trước sự chống đối ngày một gia tăng từ bên trong, cũng đã có một số người tự nhận là tiến bộ, là thức thời, là ôn hòa, là thay mặt cho đa số thầm lặng, cho rằng các chế độ độc tài tàn bạo ấy có thể sửa đổi để mang một bộ mặt nhân bản và tồn tại, mà không cần xóa bỏ và cũng không thể xóa bỏ. Nhà văn Alexandr Solzhenitsyn đã dõng dạc nói: “Chủ nghĩa cộng sản không thể cải thiện, chỉ có chết.”

Những gì xảy ra sau đó tại Đông Âu và Liên Sô đã chứng minh nhận định của Solzhenitsyn. Nhà văn Nga ấy là một trí thức chính danh.

Dưới chế độ cộng sản tại Việt Nam ngày nay cũng đang có những trí thức chính danh như Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Đan Quế, Đỗ Nam Hải, Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy, và nhiều người khác nữa.

Những người trí thức ấy có Tâm, có Trí, có Dũng và sẽ đẩy bánh xe lịch sử tiến tới, tới nơi mà các dân tộc Đông Âu đã tới từ hai mươi năm trước.

Những người cộng sản đang nắm quyền tại Việt Nam ngày nay cũng không khác những người cộng sản đã nắm quyền ba, bốn mươi năm trước, là những kẻ phản động trước trào lưu dân chủ trên thế giới. Những kẻ ấy, dù ngoan cố tới đâu, cũng không thể cứu được cái chế độ cổ quái đã đi đến chỗ tận cùng của mục nát.

Một nhóm nhỏ người Việt ở hải ngoại giao du với một người tên Tô Nhuận Vỹ nào đó để được nói đến tên và được khen là thức thời, là tiến bộ, là ôn hòa ... là loại người mà thời nhiễu nhương nào cũng có.

Đó chỉ là vài con rối lăng xăng trên cái sân khấu không có vai trò nào dành cho họ.
    Họ không là gì cả.
Sơn Tùng


Ban Biên Tập Vietland Trả Lời Thư Bà Triều Giang Nancy Bùi về việc nhà văn Đỗ Văn Phúc - Đặng Quỳnh Như

Source: http://www.vietland.net/main/showthread.php?s=5771029717d8bbf5c456e96dc80bd0d1&t=8202
    Kính thưa bà Triều Giang Nancy Bùi
Chúng tôi nhận được lá thư của bà gửi cho báo chí ngày 12 tháng 8 năm 2009 nêu lên về phiên tòa mà bà cho rằng những điều mà nhà văn Đỗ Văn Phúc viết về bà là không đúng sự thật.

Trong lá thư bà có nêu lên một câu mà theo chúng tôi bà đã nói láo một cách trắng trợn như sau:

"Chúng tôi tha thiết mong mỏi quý vị hãy tìm hiểu cặn kẽ vấn đề trước khi đi đến kết luận. Vì nếu không, quý vị vô tình tiếp tay với ông Phúc trong việc đánh phá người quốc gia một cách vô tội vạ, khi cần lãnh trách nhiệm lại tìm cách kéo cộng đồng vào để lãnh trách nhiệm thay thế cho ông. Chúng tôi tin tưởng vào sự sáng suốt và công minh của các vị trưởng thượng, quý đồng hương, quý cơ quan truyền thông người Việt Hải ngoại và sự cộng bằng của luật pháp Hoa Kỳ".

Bà tự cho bà là người quốc gia trong lá thư và nhiều lần bà cho rằng bà không liên hệ hay buôn bán gì với các doanh thương "nhà nước CSVN".

Chúng tôi có bằng chứng bà là người buôn bán trực tiếp với doanh thương CSVN để chuyển Càfê từ Việt Nam qua Mỹ.

(1) Bà Nancy Bùi là CEO của Doanh Thương Triumph Coffee Inc ở Austin Texas, vào năm 2003 trong lúc đảng CSVN đang tìm cách đưa thương hiệu, sản phẩm của họ ra nước ngoài, bà là người giúp đưa Càfê từ doanh thương VC ra nước ngoài. Bà Nacy Bùi liên hệ với công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn A&B của CSVN tại Gò Vấp để trực tiếp đem loại Càfê của công ty nầy qua đường giây của doanh thương của bà là Triumph Coffee Inc.

(2) Năm 2004 Bà Nacy Bùi tiếp tục làm công việc chuyển hàng cho doanh thương VC ra nước ngoài qua một công ty khác là công ty Bamboo O, công ty cà phê rang xay đóng hộp tại Saigon.

(3) Gia đình bà trước năm 1975 có những vườn trồng càfê rộng lớn tại Miền Trung Việt Nam, vào khoảng tháng 10 năm 1990 gia đình bà đã được CSVN trả lại một số vườn Càfê tại Trung Phần với một kế ước là cho gia đình bà thuê 99 năm trên những mảnh đất đó.

Kính thưa bà Nacy Bùi, bà tự cho bà là người Quốc Gia và còn cho rằng nhà văn Đỗ Văn Phúc là đánh phá "người quốc gia". Nếu bà cho bà là người Quốc Gia thì xin bà hãy trả lời những việc làm của bà mà chúng tôi đã nêu lên trên đây.

Chúng tôi dám chắc với bà lần nữa là chúng tôi có bằng chứng về những điều chúng tôi nêu trên về những hoạt động của bà trước đây. Lá thư nầy BBT Vietland sẽ phổ biến rộng rãi trên báo chí truyền thông.

Chúng tôi sẽ gửi những bằng chứng đã nêu trên tới tòa khi thấy cần thiết.

Kính thư

Đặng Quỳnh Như
Vietland Editor
*****

Source: http://vietland.net/main/showthread.php?t=8183

  • Thư Kêu Gọi Ủng Hộ Quỹ Pháp Lý Đỗ Văn Phúc
    • Kính thưa quý đồng hương Người Việt Tỵ Nạn,
      Kính thưa quý Chiến Hữu QLVNCH, quý Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam ,
      Kính thưa quý đồng nghiệp truyền thông tại hải ngoại.

      Về Việc: Thư Kêu Gọi Ủng Hộ Quỹ Pháp Lý Đỗ Văn Phúc.
    Ông Đỗ Văn Phúc, một cựu tù nhân chính trị, một nhà văn, nhà báo dấn thân, một người hoạt động chống cộng tích cực tại Austin, Texas, mà tên tuổi đã quen thuộc trong giới truyền thông và đấu tranh ở hải ngoại trong hai mươi năm nay.

    Đỗ Văn Phúc
    Đỗ Văn Phúc hiện đang trở thành mục tiêu của một cố gắng nhằm bịt miệng những người muốn nói lên sự thật để lột mặt nạ những kẻ vừa nhân danh “lãnh tụ” người Việt tỵ nạn cộng sản nhưng lại vừa có những liên hệ với cộng sản tại Việt Nam.

    Hai năm trước, ông Đỗ Văn Phúc đã viết bài nêu nghi vấn về việc bà Nancy Bui, vừa là hội trưởng Hội Bảo tồn Văn hóa Người Mỹ gốc Việt (VAHF), lại vừa đi về Việt Nam đầu tư, có công ty chế biến thực phẩm tại Gò Vấp. Người hội phó, Luật sư Trần Mộng Vinh, hội phó - cánh tay mặt của bà hội trưởng - cũng là một người từng công khai mạ lị quân lực VNCH và tôn vinh chiến binh CSVN.

    Tháng 5 vừa qua, bà Nancy Bùi đã đệ đơn kiện ông Đỗ Văn Phúc tại Tòa án hạt Travis, Texas, cho rằng ông Phúc đã vu khống bà ta là cộng sản, gây thiệt hại cho công việc làm ăn của bà ta. Vì không nhận được giấy tờ gì của tòa án nên ông Phúc đã vắng mặt trong phiên xử và đã bị tuyên án khiếm diện và phải bồi thường bà Nancy Bui một triệu mỹ-kim.

    Đây là một bản án không công bằng với ông Đỗ Văn Phúc, và mặt khác sẽ là một đe dọa với quyền tự do báo chí tại Hoa Kỳ, và giới truyền thông của cộng đồng người Việt nói riêng. Vì vậy ông Đỗ Vă n Phúc đã thuê luật sư để yêu cầu tòa án xử lại theo thủ tục đối tịch, có mặt cả hai bên nguyên cáo và bị cáo để công lý được sáng tỏ.

    Vì ông Đỗ Văn Phúc là một cựu tù cải tạo đến Mỹ trong chương trình Tái Định Cư Cựu Tù Nhân Chính Trị (thường gọi là HO), vừa tái ổn định cuộc sống, không có khả năng tài chánh để tự trả tiền luật sư, chúng tôi, một nhóm thân hữu trong giới truyền thông vùng Hoa Thịnh Đốn quyết định lập một Quỹ Pháp Lý để giúp ông Phúc tự vệ trước một đối phương giàu tiền nhiều bạc.

    Vụ án này không chỉ liên quan đến ông Đỗ Văn Phúc mà sẽ có ảnh hưởng lớn đến quyền tự do báo chí và đến công cuộc bảo vệ chính nghĩa quốc gia trong các cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ.

    Chúng tôi thiết tha mong đợi sự đáp ứng quảng đại của quý đồng hương. Tiền trong Quỹ Pháp Lý chỉ để trả tiền luật sư và các chi phí liên quan đến vụ kiện. Sau khi vụ kiện kết thúc, tiền còn lại, nếu có, sẽ được sử dụng vào việc công ích và công bố trên báo chí.

    Chi phiếu xin đề:
      Quy Phap Ly Đo Van Phuc (hay viết tắt Quy phap ly)
      Gửi về địa chỉ:
      PO BOX 150682
      Alexandria, VA 22315
    Chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý vị và tin tưởng rằng chính nghĩa sẽ thắng lợi.

    Đại diện nhóm thành lập
    Quỹ Pháp Lý Đỗ Văn Phúc

    Bùi Dương Liêm

    *****

    Thư Của Triều Giang Nancy Bùi:
    Triều Giang Nancy Bùi

      Austin, ngày 12 tháng 8 năm 2009

      Kính thưa Các Bậc Trưởng Thượng trong Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại,

      Kính thưa Quý Đồng Hương Người Việt Tị Nạn,

      Kính Thưa Quý Vị trong ngành Truyền Thông Hải Ngoại.

      Thưa Quý vị,
    Tôi là Nancy Bùi bút hiệu Triều Giang và còn là Hội trưởng Hội Bảo Tồn Lịch Sử và Văn Hoá Người Mỹ Gốc Việt. Hơn hai năm qua, tôi đã là nạn nhân của vụ vu khống mạ lỵ, phỉ báng và chụp mũ là Cộng Sản của ông Đỗ Văn Phúc còn được gọi là Phúc Đỗ và Michael Do. Bằng điện thư, internet, website, báo chí và in thành sách, ông Phúc đã tố cáo tôi với rất nhiều tội danh. Tôi xin xác nhận tất cả những điều tố cáo này là không đúng sự thật.

    Ngày 18 tháng 5 năm 2009, tôi đã nhờ luật sư mời ông Phúc ra toà án quận Travis, Texas, để trả lời về những lời tố cáo này và yêu cầu ông đưa bằng chứng để chứng minh những lời tố cáo của ông là đúng sự thật, nhưng ông đã không ra toà để nhận trách nhiệm của ông.

    Ngày 7 tháng 7 vừa qua, trong phiên xử khiếm diện, toà đã phạt ông Phúc 1 triệu đô la. Ngày 6 tháng 8 vừa qua, ông Phúc đưa đơn kháng án và xin một phiên tòa khác (motion for new trial) với lý do “không hiểu luật pháp Hoa Kỳ”. Tòa án quận Travis đã nhận đơn của ông và cho ông được trình bày trước tòa vào ngày 1 tháng 9 sắp tới, trước khi quyết định cho ông một phiên tòa mới hay không.

    Trong mấy ngày vừa qua, ông Phúc và một số người nghe theo lời của ông đã đưa ra những bức thư gửi tới đồng hương trên toàn thế giới bằng điện thư, website, internet, kêu gọi đồng hương góp tiền vào “Quỹ Pháp Lý Đỗ Văn Phúc” để giúp tài chánh cho ông theo đuổi vụ kiện. Những bức thư này nêu lý do ông Phúc không ra tòa vì “không hề nhận được trát tòa” và tiếp tục dùng những luận điệu vu khống, chụp mũ và đặc biệt là nhân danh “bảo vệ quyền tự do báo chí”, bảo vệ chính nghĩa quốc gia để tiếp tục đánh lừa dư luận.

    Chúng tôi tha thiết mong mỏi quý vị hãy tìm hiểu cặn kẽ vấn đề trước khi đi đến kết luận. Vì nếu không, quý vị vô tình tiếp tay với ông Phúc trong việc đánh phá người quốc gia một cách vô tội vạ, khi cần lãnh trách nhiệm lại tìm cách kéo cộng đồng vào để lãnh trách nhiệm thay thế cho ông. Chúng tôi tin tưởng vào sự sáng suốt và công minh của các vị trưởng thượng, quý đồng hương, quý cơ quan truyền thông người Việt Hải ngoại và sự cộng bằng của luật pháp Hoa Kỳ.

    Một trong những lý do của việc rời bỏ quê hương, nơi chôn nhau, cắt rốn của chúng ta là vì chúng ta không chấp nhận một nền luật pháp nhân trị (rule-of-man) để đến sống tại Hoa Kỳ với nền luật pháp pháp trị (rule-of-law); một nền luật pháp không có ai có thể đứng ngoài luật pháp, kể cả Tổng Thống. Những ngày tháng vừa qua là những ngày dài và thật khó khăn cho cá nhân và gia đình tôi. Phán quyết của tòa nêu trên là một phán quyết công minh đối với chúng tôi. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các bậc trưởng thượng, thân hữu xa gần đã hỗ trợ chúng tôi bằng cách này hay cách khác. Chính những hỗ trợ quý báu này đã giúp chúng tôi có đủ sức để vượt những khó khăn. Riêng đối với ông Phúc, toà cũng đã xử công bằng, bằng cách cho ông một cơ hội nữa vào ngày 1 tháng 9 sắp tới. Chúng tôi rất mong mỏi được gặp ông Phúc ở toà để được hiểu vì sao một người đã từng làm việc với tôi và chịu ơn của tôi, lại có những việc làm không thể hiểu được như ông đã và đang làm trong hai năm qua.

    Một trong những nhân quyền căn bản được tôn trọng trong xã hội Hoa Kỳ là quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Nhưng tự do báo chí của Hoa Kỳ luôn phải đi kèm với trách nhiệm của người cầm bút. Riêng quyền tự do ngôn luận chưa bao giờ và không bao giờ được định nghĩa là quyền tự do nói láo, vu khống, mạ lỵ, phỉ báng làm tổn hại danh dự của người khác chỉ vì không ưa thích họ hoặc bất đồng ý kiến với họ. Một điều chắc chắn rằng luật pháp Hoa Kỳ bảo vệ tất cả mọi người chúng ta kể cả ông Đỗ Văn Phúc. Thử hỏi nếu có ai đó vu khống, mạ lỵ, phỉ báng ông Đỗ Văn Phúc là người gian dối, thiếu lương thiện và chụp cho ông cái mũ là CS, tay sai CS, CS trá hình, thì ông Phúc sẽ suy nghĩ và phản ứng ra sao? Chuyện xảy ra cho tôi hôm nay, có thể xảy ra cho bất kỳ ai trong cộng đồng chúng ta ngày mai, và nếu không có luật pháp Hoa Kỳ bảo vệ, thì việc chạy trốn Cộng sản, để phải rời xa quê cha, đất tổ sống tha hưong tại xứ người của chúng ta, liệu có còn ý nghĩa gì hay không?

    Chân thành cảm ơn quý vị đã dành thì giờ quý báu và quan tâm trong việc tìm hiểu sự thật của vấn đề. Mọi thắc mắc xin liên lạc bằng điên thư qua địa chỉ:

    NancyNguyenBui@yahoo.com

    Kính thư,
    Triều Giang Nancy Bùi