Saturday, August 8, 2009

Những giọt nước mắt cho MJ của thanh niên trong nước - Vũ Quốc Nam

Vũ Quốc Nam

Michael Jackson (MJ) hôm nay đã thành người thiên cổ. Người ca sĩ Mỹ da đen này nổi tiếng khắp hoàn cầu, nhưng lại đầy mặc cảm về gốc gác của mình. Cũng chính vì mặc cảm về mầu da nên MJ đã phải trải qua nhiều lần giải phẫu để biến đổi mầu da từ đen thành trắng,từ mũi to điển hình người da đen thành mũi nhỏ người da trắng. Vì thế, đã phải dùng thuốc giảm đau liên tục và có lẽ cũng vì thế mà dần dần đến mất ngủ và sau cùng thì lìa đời vì những hệ quả của thuốc, mà điều tra đang cố tìm cho ra. MJ nổi tiếng vì giọng hát, vì lời ca, hay vì giáng bộ nhẩy dẻo và cử chỉ dâm dật khi trình diễn, tay luôn luôn ôm bộ phận sinh dục của mình? Hay là vì cái quyết tâm vùng lên thành người da trắng cho kỳ được? Phải hỏi những người say mê ái mộ MJ thì mới rõ.

Dầu sao thì điều tạo suy nghĩ đối với người Việt nam là hình những thanh niên nam nữ khóc sướt mướt trước những bàn thờ tưởng niệm MJ dựng tạm ngoài đường ở trong nước. Có những kẻ để tang mặc áo thun đen. Có kẻ ôm ảnh MJ như ôm ảnh bố. Có kẻ nước mắt dàn dụa. Có kẻ sì sụp lễ lạy.

Những xúc động trước sự chấm dứt đột ngột của một cuộc đời ồn ào rực rỡ dưới ánh đèn sân khấu, trước một cái chết không chờ đợi, chẳng có gì lạ ở một xã hội vội vã không có nhiều cơ hội để mà rung động. Bởi vì trong hoàn cảnh đó con người thường dễ dàng xót xa trước những chuyện thương tâm dù nhỏ nhặt. Thí dụ như khóc một con chó nhỏ bị xe cán hay một con chim bị gẫy chân. Điều đáng nói là trên đất nước Việt Nam và trước mắt, hàng ngày, có vô số những thảm nạn và oan khiên như vậy hay hơn mà không thấy có ai để tâm. Đến độ có những bài viết trong nước phải dùng mấy chữ “vô tình vô cảm” để diễn tả cái thái độ này của những con người đang hụp lặn trong cái xã hội độc tài bị kìm kẹp nhưng tự do ghê gớm vì làm gì cũng được, trừ lãnh vực chính trị.

Có ai động tâm trước tình trạng những người mẹ lặng lẽ bán thân để lấy tiền nuôi con? Hay trước cảnh người chồng dẫn khách cho vợ bán dâm ngay tại nhà?

Người bố lặng lẽ cho con gái vị thành niên ăn mặc hở hang đón khách đầu ngõ? Ai là người nhỏ nước mắt khóc cho bà mẹ già bị con là kỹ sư làm giáo sư đại học, là thạc sĩ làm luật sư đấm đánh túi bụi mình đầy thương tích? Những tin loại này đầy rẫy trên các báo đảng và nhà nước kiểm soát. Thế nhưng lại có những hạng choai choai khóc một MJ ở một xứ sở xa xăm. Tại sao có hiện tượng này? Phải chăng đó là kết quả chính sách giáo dục thi hành khẩu hiệu “trồng người trăm năm” mà cáo Hồ của những người CS ra công thúc giục? Phải chăng đó là kết quả nhắc nhở thường trực cũng của Hồ chí Minh là phải xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa?

Công bình mà nói, con người mới xã hội chủ nghĩa thời toàn trị không nhảy múa kiểu MJ mà là nhẩy hoà bình liên hoan dưới điệu nhạc Tầu, sau khi đã tố khổ giết chết những người mà các đội cải cách ruộng đất cho là kẻ thù của giai cấp công nông. Những con người hôm nay khóc MJ được lên báo đảng và nhà nước là những con người xã hội chủ nghĩa sau khi đổi mới sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói cho rõ thì nó là kinh tế tiêu thụ và hưởng lạc nhanh, ồn ào, dồn dập để bão hoà cảm giác, theo văn hoá Hollywood.

Sự cẩu hợp của hai loại văn hoá tư bản Cộng sản này do đảng và nhà nước CSVN biến thái bảo trợ đã tạo nên một hạng người sống như những khán giả trước màn ảnh cuộc đời. Chỉ kích thích bởi những gì hấp dẫn, ồn ào, rực rỡ, mà nhắm mắt trước những khổ nạn xung quanh mà chính đương sự thường ngày hụp lặn trong đó nên trở thành quen: Như trường hợp những người dân oan ngày này qua tháng khác khiếu kiện lề đường, những ngư phủ bị lính Tầu bắn giết bắt bớ trên biển, hay ngay cả những đồng bào bị công nhân Tầu ngang nhiên đánh đập trên đường phố mà nhà nước lặng im.

Vũ Quốc Nam

Người Xưa Đâu - Võ Thị Vui

Mũ Ðỏ Võ Thị Vui
(Những ngày đầu xa tổ quốc)

(Bài viết dưới đây của Chiến Hữu Võ Thị Vui được ghi chép thời chị Vui còn mạnh khỏe, thời mà đôi mắt chị còn tinh anh, nay thì chị đã ra người thiên cổ; mời bạn đọc theo dõi bài viết với tấm lòng của chị với nghiệp lính và nghề văn đã một thời dấn thân cho quê hương đất nước và dân tộc).

Mũ Đỏ Võ Thị Vui
Sau hơn hai mươi mấy năm tại xứ người lưu lạc, người quân nhân của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa xưa. Những người lính một thời mang quân phục, cầm súng giữ quê hương, ngày nay đã ra thân lữ thứ. Thỉnh thoảng có gặp lại nhau, tay bắt mặt mừng, nhưng khi chia tay nụ cười sao thấy ngậm ngùi. Từ kẻ ra đi năm 1975 cho đến người mới sang sau hàng chục năm bị tù đày, tâm trạng dễ giống nhau và vẫn thấy lạc lõng, thấy bơ vơ. Có chăng khi mặc lại bộ quân phục xưa trong các dịp lễ hoặc hội họp của Quân Ðội. Ta mới thấy nụ cười thực sự nở trên môi các người lính cũ đã từng tung hoành ngang dọc trên mọi chiến trường của bốn Vùng Chiến Thuật. Với nhiệm vụ người dân trong thời chiến, giữ vững an bình trên mọi nẻo đường đất nước.

Trong một buổi họp mặt của binh chủng bạn, tôi đã gặp lại một cấp chỉ huy xưa. Ông là một danh tướng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sang đây, thỉnh thoảng gặp lại, ông luôn luôn niềm nở thân mật, hỏi han như lúc xưa. Lúc ông còn là Tư Lệnh Sư Ðoàn TQLC của QLVNCH. Một Sư Ðoàn thiện chiến mà lũ Việt Cộng nghe đến đã co cẳng chạy lẹ. Ông gặp tôi cười và nói:

- Bà đã viết nhiều về đời lính của bạn bè, đồng ngũ thuộc các quân binh chủng, bà cũng đã viết về các Nữ Quân Nhân. Vậy tại sao bà không viết về các Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ. Tôi biết Nữ Quân Nhân thuộc QLVNCH không ít, nhưng với binh chủng Nhảy Dù chắc chỉ đếm trên đầu ngón tay, tại sao không viết?
- Trình Trung Tướng, các chị có Bằng Dù trong Sư Ðoàn Dù, thật ra cũng không nhiều. Ða số chuyện xảy ra trong đời người Nữ Quân Nhân Nhảy Dù toàn là chuyện cá nhân. Cho nên không có gì để viết.
- Thì cứ xem như chuyện kỷ niệm của các cô gái… một thời in gót trên “không gian vương dấu giày” (thơ HHC).
- Thưa, tôi sẽ cố gắng…

Vừa chào vị chỉ huy xưa, tôi cũng gặp thêm một số chiến hữu khác, ai cũng khuyến khích tôi ghi lại những kỷ niệm xưa thời trong quân ngũ. Bạn bè còn nói thêm: “Bây giờ không viết, mai mốt chống gậy sức đâu mà viết”.

Viết gì đây? Tôi trả lời, thôi viết về lúc xưa các ông lén bà xã đi du dương với các em gái hậu phương được không.

Bạn bè la hoảng:
- Nè! Bộ muốn đốt nhà … bạn hữu sao?
- Ai biểu lúc đó các ông cứ ca “Anh tiền tuyến, em hậu phương” chi?
- Nhứt bà rồi đó. Thôi thì ghi lại chuyện tình của các Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ. Giữ kín quá, lâu lâu bật mí cho anh em, để bắt chước và để mừng… cho bà.

Thế là trong lúc cao hứng, lỡ hứa với người Chủ Nhiệm KBC. Cho nên đêm nay, trong căn nhà nhỏ quạnh hiu nơi góc núi, tôi để hồn trở về dĩ vãng …

Năm 1955. Lúc đó tôi đã đầu quân vào Quân Ðội. Trong một dịp khao quân, tôi đã gặp Ðại Tá Ðỗ Cao Trí, trong đêm tiệc khao quân chiến thắng Bình Xuyên, ông đã gợi ý cho chúng tôi gia nhập Binh Chủng Nhảy Dù và chính ông cổ võ chúng tôi làm đơn xin được học Nhảy Dù. Lúc ấy tuổi trẻ hăng say, 30 cô gái đã tình nguyện học Nhảy Dù, cũng là khóa I Nhảy Dù của Quân Ðội do chính các quân nhân Việt-Nam thực thụ huấn luyện.

Sau đợt tuyển chọn, chỉ có 9 cô thực sự được theo học Nhảy Dù, khóa II cũng chỉ có 6 cô được theo học. Nhưng trong lúc huấn luyện nhảy thi lấy bằng, một nữ phụ tá xuống dù bị gãy xương mông nên không có bằng. Thế Là QLVNCH từ năm 1955 đến năm 1966 chỉ có 14 cô thực sự có bằng. Nhưng đến năm 1960 thì hai trong 14 cô đã được theo học Nhảy Dù điều khiển, có bằng Huấn Luyện Viên Dù. Sau năm 1967 đến năm 1975, có khoảng 10 cô nữa có bằng Nhảy Dù. Lúc trước năm 1965, muốn có Bằng Dù bất luận nam nữ đều phải nhảy năm lần ban ngày và hai lần ban đêm. Sau năm 1967 thì chỉ cần bốn lần nhảy là được cấp Bằng Dù. Bởi vì nhu cầu chiến trường nên thời gian nhảy huấn luyện rút ngắn lại. Ða số quân nhân Dù mới đều thở dài nhẹ… nhỏm, và mỗi năm người quân nhân Dù phải có bốn Saut nhảy bồi dưỡng để có thể ăn lương Bằng Dù. Ðó là kể những quân nhân Dù. Còn các huấn Luyện Viên dĩ nhiên gấp 10 lần hơn, vì huấn luyện khóa nào cũng phải nhảy theo. Và trong đời lính Nhảy Dù của phái nữ có nhiều vui buồn lẫn lộn, dĩ nhiên là chuyện… đàn bà. Tôi ghi lại đây một số chị em có với tôi nhiều kinh nghiệm, nhiều kỷ niệm của người con gái mang danh là Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ.

1. Dương Thị Kim Thanh:

Chị là một cán sự y-tế ngoài đời, được phục vụ ngành Quân Y. Người miền sông Hương núi Ngự, nhưng giọng nói đã lai … Sài Gòn 50%. Chị tốt nghiệp khóa I Nhảy Dù với tôi. Cũng là một trong 9 cô Nữ Quân Nhân Nhảy Dù đầu tiên của QLVNCH. Lúc đó chị 25 tuổi, là người lớn tuổi nhất trong 9 cô. Chúng tôi xem chị như người chị cả. Hiền lành nhỏ nhẹ. Phục vụ rất tận tâm trong ngành Quân Y, tuy quân số thuộc Sư Ðoàn Nhảy Dù (lúc đó là Lữ Ðoàn Nhảy Dù). Nhưng làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Lúc ấy, 9 cô khóa I đều là độc thân (bắt buộc) nên chị là hoa khôi của Tổng Y Viện Cộng-Hòa nhờ vào chiếc Mũ Ðỏ và Bằng Dù chị mang trước ngực. (Thời đó Nữ Phụ Tá mỗi ngành đồng phục, đội mũ calos trên đầu. Chỉ có các cô gái có Bằng Dù, được Bộ TTM cho phép đội Mũ Ðỏ dù phục vụ ở đâu). Chị đã cùng chúng tôi đi nhảy biểu diễn khắp các nơi và trong một Saut đặc biệt, tình yêu đã nở trên không. Ðại Úy Trương Quang Ân, người đứng thủ khoa của Võ Bị Ðà Lạt (khóa 7, năm 1952) đã cùng chị thực hiện lời ước mơ. Ðám cưới kết thúc mối tình không gian. Chị đã có ba con. Sau này chị là phu nhân Tướng Trương Quang Ân, Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh. Ông Bà đã tử nạn trong một tai nạn phi cơ trực thăng lúc đi thăm viếng tiền đồn. Ðể lại vành khăn tang trên đầu ba đứa bé, cùng một lúc mất cha lẫn mẹ. Ðêm nay ngồi đây viết đến dòng chữ này tôi đã không ngăn nổi hai dòng lệ chảy xuống thương cho ba cháu. Không biết bây giờ ra sao?

2. Nguyễn Thị Sang:

Chị cũng cùng khóa với tôi. Nhưng phục vụ ở Ðại đội Kỹ Thuật (Trung đội gấp dù). Chị người miền Nam cao lớn hiền lành vui tánh. Tuy lúc đó 19 tuổi mà chị như con nít, giận ai thì khóc lớn, phải dỗ và năn nỉ gần chết mới chịu. Khi nghe hứa đền cho cái bánh thì cười ngay. Có một lần đi nhảy biểu diễn ở Ban Mê Thuột, nhân dịp hội chợ. Có Tổng Thống Ngô Ðình Diệm chủ tọa. Sau khi nhảy xong, chúng tôi trở về, đề nghị Trung Úy hướng dẫn đi xem thác Drakling. Khi về chị xin ngừng xe một chút. Ông Trung Úy trưởng toán không chịu ngừng. Chị kêu lên nếu Trung Úy không ngừng xe thì … tui chết ông phải chịu … Có lẽ sợ trách nhiệm nên Trung Úy cho ngừng xe. Chị nhảy xuống chạy tuốt vào bìa rừng … Năm phút sau, chị hớn hở chạy ra, tươi tỉnh không cần nhìn đến nét mặt cau có của Trung Úy trưởng toán. Lên xe xong, chị nói tỉnh bơ … “Ai cũng vậy, vua chúa cũng làm dzậy mà. Có dzô thì phải … có ra chứ”. Lúc đó mọi người mới biết là chị đi thi hành cái khoái thứ … tư.

Sau này, chị xin giải ngũ lý do “Má kêu về lấy… chồng”. Cho dù ông Trung Úy Trung đội trưởng gấp dù là người nổi danh khó tánh, cũng phải hi câu chấp thuận, mới chuyển đơn lên Ðại đội trưởng Kỹ thuật (Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam sau nầy). Nghe đâu vì sanh khó, nên chị đã từ trần. Nữ Thiên Thần thứ hai đã ra đi, để bạn bè đồng đội ngậm ngùi cho thân phận đàn bà.

3. Nguyễn Thị Thọ:

Chị cũng phục vụ trong TÐGÐ, người Hà Nội. Vào Nam cha mẹ mất chỉ có hai chị em. Chị rất vui tánh, thực thà, một mình thay cha mẹ nuôi em nên người. Chị có nhiều Saut Dù vì tình nguyện cùng chúng tôi đi nhảy biểu diễn khắp nơi. Lúc nào chị cũng thực thà nói với tôi là chị rất yêu thích miền Nam vì tính tình cởi mở, không khách sáo và trù phú dễ làm ăn, không khó khăn như ngoài Bắc quê chị nghèo nàn.

Sau này chị kết duyên với một Huấn Luyện Viên Dù Cao Ðăng Huynh, một trong những huấn luyện viên nhiều Saut Dù nhất. Vì đông con nên chị đã giải ngũ. Thế là khóa I không còn lại mấy người. Hiện gia đình chị bình yên ở Việt-Nam. Các cháu đều lớn cả.

4. Nguyễn Thị Liên:

Chúng tôi cùng chung một khóa học Dù, tuy là hai ngành khác nhau. Nhưng chúng tôi kết bạn xem như “Tình Bắc Duyên Nam”. Chị cũng là con gái Hà Nội, xinh xắn hiền lành, có hai răng thỏ rất có duyên. Sau này chị kết hôn với một sĩ quan Dù, nên giải ngũ ở nhà lo làm vợ hiền. Nhưng sau, Trung Tá Nguyễn Văn Thạnh bị Việt Cộng phục kích chết tại Vùng IV Chiến Thuật. Chị thay chồng nuôi đàn con dại. Không biết hiện giờ chị ở đâu? Tiểu bang nào?

Còn nữa. Trong 9 cô Nhảy Dù được mệnh danh là Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ còn có Khánh, Hương, Hoa (một chị nữa tôi quên tên) đã có Bằng Dù nhưng giải ngũ rất sớm. Hiện tại không biết lưu lạc phương nào. Các chị có ra đi hay còn ở lại?

Và từ khóa II thì có:

5. Ngô Bích Lộc:

Người con gái sinh trưởng tại Thủ đô Hà-Nội. Chính gốc tiểu thư Bắc Hà, dáng gầy cao, nhìn bề ngoài giống con trai nhiều hơn gái. Nó rất tinh nghịch, nhưng mỗi lần đứng trước của phi cơ chờ nhảy chỉ cần nghe tiếng của Huấn Luyện Viên nói “Go!” là phóng ra. Nó còn nhìn lại tôi nháy mắt, hẹn sau Saut Dù phóng ra Hóc Môn ăn bì bún, cái món miền Nam nó mê nhất. Tuy là đầm Tây nhưng lại Việt-Nam hơn cả các bạn Việt-Nam. Xếp của chúng tôi lúc bấy giờ là Trung Úy Nguyễn Ngọc Hạnh (Trung Tá Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh) thường hay bắt chúng tôi ra làm “người mẫu” cho ông chụp. Lúc nào nó cũng nói thầm với tôi rằng: “Khiếp thật! Tao mà ế chồng cũng vì làm người mẫu cho Lão này, mày ạ …”. Tuy thế, nó vẫn có nhiều người xin bàn tay. Nó lại dân Tây cho nên rất tự nhiên trong sự giao thiệp. Cái điều kỵ nhất của các bà xếp chỉ huy, lúc bấy giờ các bà lúc nào cũng muốn nhân viên của mình e ấp … tiểu thư. Bích Lộc chúa ghét lối giả tạo, tôi bắt chước theo. Cho nên hai chúng tôi được các bà chỉ huy liệt vào hạng “ba gai”.

Sau này nó bực mình không chịu ở Quân Ðội, xin giải ngũ, ra làm phóng viên cho hãng Reuter, tiếng Anh như gió, nó sang Mỹ làm việc sớm lắm. Sau 1975, nó mở một nhà hàng trên D.C. Khách hàng của nó từ ông Tổng Thống đến các Bộ Trưởng, nhân viên ngoại giao, Thượng nghị sĩ, Dân Biểu đều đến nhà hàng của nó. Nhà hàng nổi tiếng ngon, khung cảnh đẹp. Lúc tôi sang D.C. tham dự 50 năm kỷ niệm Nhảy Dù của Quân Ðội Mỹ. Nhìn nó tiếp đãi quan khách ở nhà hàng, tôi thấy nó quyết định giải ngũ sớm là đúng.

Thỉnh thoảng hai đứa gặp nhau qua phone cho dù đôi bạn lúc xưa, bây giờ có hai thứ tóc, đều làm chức … Bà cả rồi … Mà vẫn mày mày, tao tao như 40 năm về trước, gặp nhau đều khen nhau đẹp … lão.

6. Trần Xuân Lan:

Sinh trưởng ở miền Hậu Giang, tánh thực thà. Người nhỏ con nên khi mặc bộ đồ Dù, đứng trong hàng chờ điểm danh lên phi cơ chúng tôi đều cho nó lên hàng đầu, vì sợ Huấn Luyện Viên Dù bỏ sót nó. Xuống dù luôn luôn nó xuống sau, dù là nhảy trước. Nó đủ điểm nặng chứ không dư ký thịt da nào. Chúng tôi hay chế nhạo nó đi nhảy phải đeo thêm đá. Nó giận lên mét cấp trên. Làm chúng tôi bị rầy. Tuy thế mà người chỉ huy khi nghe nó khiếu nại cũng phải nở nụ cười kín đáo.

Sau lần dang dở tình yêu với một sĩ quan Mũ Ðỏ nó thề không lấy chồng nữa. Nghe đâu hiện nay nó về quê ở Sa Ðéc làm nghề y tá … vườn rất khá. Không biết có lúc nào nó nhớ lại lúc còn áo hoa Mũ Ðỏ hay không?

7. Bùi Ngọc Thúy:

Cũng sinh đẻ tại Bắc Việt. Nhưng quê nó ở Nam Ðịnh (?) được tính thật thà. Bị bạn bè hay chế nó là “Hăng Rô”. Nó không biết, hỏi tôi rằng: “Tại sao chúng nó gọi tao tên … Tây vậy hở?”. Tôi cười đáp ngay là miền Nam hay nói lái. Hăng Rô … tức là “Thưa cô rằng. Ngược là … Răng cô … thừa …”. Vỡ lẽ ra, nó kêu tên tam đại tụi bạn ra chửi. Ðược thể tụi bạn còn chọc thêm. Tuy xin tình nguyện đi Nhảy Dù nhưng nó sợ lắm. Bao nhiêu lần định bỏ dở, nhờ tôi khuyến khích. Có lần được lệnh đi nhảy ở Bình Ðịnh, tôi dặn nó: “Năm giờ có lệnh tập họp. Mày nên để đồng hồ reo chứ không thì ngủ quên”. Nó hứa chắc.

Saut dù biểu diễn đó, nó không có mặt lúc lên phi cơ. Hôm sau nó trình diện người chỉ huy, với khuôn mặt bầm một bên má, cánh tay thì băng bó, có giấy bác sĩ cho nghỉ ba ngày. Tôi hỏi nó tại sao?. Nó mắng tôi: “Ðồ ranh con. Ông nghe lời mày nên ông không đi nhảy biểu diễn được”. Tôi ngạc nhiên nhìn nó dò hỏi nguyên nhân. Nó bảo: “Tại mày dặn để đồng hồ reo. Khi nó reo tao đang nằm mơ. Tưởng tiếng chuông phi cơ cho lệnh GO nên tao nhảy ra. Từ trên giường hai tầng nhảy xuống mang theo cả màn mền, bị bầm mặt. May mà không gãy… răng là phúc ba đời rồi. Còn hỏi gì nữa? Ông không chửi mày là may cho mày lắm rồi. Còn làm bộ tử tế hỏi móc ông hả?”. Tôi thầm nghĩ: “Ðúng là đồ Bắc Kỳ chanh chua … Làm ơn mắc oán”. Nghĩ thế nhưng tôi không trả lời, hoặc nói ra ý nghĩ đó. Vì sợ nói tạc dzăn nổi giận thì tôi cũng được bác sĩ cho ba ngày … dưỡng thương.

Bây giờ, nó và gia đình định cư, an lạc tại xứ … Úc. Lâu lâu, nó gọi phone sang kêu: “Mày, mày chịu khó sang tao chơi. Tao đãi mày … Mít Ðặc”. Già rồi vẫn còn con nít và mái Tây Hiên của nó vẫn còn … chưa rụng.

8. Nguyễn Thị Thân:

Chị này lớn tuổi nhất của chúng tôi lúc bấy giờ. Chị cũng sinh trưởng ở Bắc Việt, người quê Phát Diệm. Chị góa chồng lúc còn ở Hà Nội, rất xinh đẹp, mắt bồ câu, da trứng gà. Người cao lớn như đầm. Nhưng chỉ giống đầm về nhan sắc và vóc dáng. Khi chị nói thì sặc thổ âm quê của chị. Ví dụ, chị hay lộn chữ D thành chữ R và ngược lại. Khi nhảy dù xuống bãi, thì lệnh bắt buộc cuốn dù lại cho vào bao và vừa chạy về địa điểm tập họp trình diện Sĩ quan Bãi nhảy. Vừa chạy vừa kêu to là “Nhảy Dù cố gắng”. Bất luận nam hay nữ đều phải theo lệnh này. Cho nên chị cũng không ngoại lệ … cứ vừa chạy … vừa la to “Nhảy.. Rzù… cố gắng. Nhảy… Rzù … cố gắng”. Tôi và Bích Lộc chạy theo sau cũng gào to “Nhảy .. Rzù … cố gắng. Nhảy … Rzù… cố gắng”. Chị quay lại mắng ngay “Nằm ký rì mà to mồm vậy …? Ðồ khỉ gió …”“khỉ gió” cứ ngoác mồm la “Nhảy … Rzù … cắn gố…” (cố gắng).

Chị là người cẩn thận, lúc đi nhảy chị băng độn hai đầu gối bằng băng cứu thương thật dầy. Chị nói rằng khỏi sợ bị trầy đầu gối khi xuống dù, mặc jupe không đẹp. Nhưng chị không nhớ là đầu gối không quan trọng bằng đầu, chân và mông khi xuống dù.

Sau này chị tái giá với một sĩ quan Dù, có thêm năm con. Hiện chị ở trên Washington State từ 1975.

9. Mai Thị Minh:

Nếu chị Thân là hoa khôi của Dù từ năm 1956 đến 1960, thì Mai Thị Minh là hoa khôi Dù từ năm 1962 đến 1975. Nó đúng là con gái Hà Nội chính cống. Nhà giàu, chính Trung Tướng Thiệu, Ðại Tướng Viên lúc còn trẻ ra Bắc cũng thuê nhà của nó mà ở. Sau di cư vào Nam, gia đình bẩn chật, nên nó vào Nữ Phụ Tá. Ðúng gái Hà Nội, đẹp và tiếng nói dịu dàng mọi người đều công nhận. Phục vụ tại bệnh viện Ðỗ Vinh của SÐND. Có một vài “bà bác sĩ” (có nghĩa là vợ của bác sĩ) thấy nó bèn ôm ghè tương, nếu hôm đó ông chồng trực tại bệnh viện. Thật tội cho nó vì nó không bao giờ trực đêm cả. Vì nó độc thân nên có nhiều anh hùng để mắt. Có lẽ vì tưng tiu, nó vẫn còn hình bóng của người anh hùng TQLC năm nào ngã gục trên chiến trường ở tận địa đầu giới tuyến, để lại vết thương lòng cho Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ tài sắc.

Hiện nay nó ngày ngày một gánh bún riêu dạo khắp xóm bán nuôi thân. Có ai ngờ người đàn bà lam lũ kia đã có một thời nổi tiếng Hoa Khôi Mũ Ðỏ giầy Saut, nón đỏ áo hoa đã làm một anh hùng nghiêng ngửa …

Còn nhiều nữa. Nào Nguyễn Thị Nguyên Hoành, Lữ Thị Tám. Nguyễn Thị Thịnh, Nguyễn Thị Hợi, Phan Cẩm Phi, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Ðào Thị Phùng, Võ Thị Vui. Những Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ của Quân Lực VNCH lúc xưa. Nay người ra thân lữ thứ, người còn lại quê hương với bao nỗi xót xa. Có lúc nào nhớ lại lúc xưa “không gian vương dấu giày” (HHC). Lúc còn đội chiếc Mũ Ðỏ, tung mình ra không trung mang lại hãnh diện cho con cháu Triệu Trưng. Nếu nhớ lại vô tình dòng lệ tiếc thương lặng lẽ chảy xuống khóc cho mình hay người Nữ Quân Nhân Dù khóc cho quê hương?

Mũ Ðỏ Võ Thị Vui

Đánh kẻ chạy lại? - Nam Hải

I. Cùng một tựa đề này, cách đây hơn mười năm, tôi đã đề cập đến câu chuyện rất ồn áo lúc bấy giờ là ”Có hay không có văn nghệ phản kháng ở trong nước”. Lúc ấy, tôi đã đưa ra một số bằng chứng về những bài viết của Trần mạnh Hảo, Dương Thu Hương …. Và cho rằng, chẳng làm gì có cái chuyện văn nghệ phản kháng với những cái tên tuổi như thế. Đây chẳng qua chỉ là một vụ dàn dựng thành câu chuyện của tập đoàn Việt cộng để nhằm hai mục đích:

*. Làm phân hoá hàng ngũ văn nghệ sỹ cũng như khối người quốc gia tại Hải ngoại.

*. Vờ cởi trói văn nghệ để mở ra một vụ trăm hoa khác ở trong nưóc theo kiểu trăm hoa đua nở ở miền bắc vào năm 1958.

Bạn đọc còn nhó chứ, vào thời gian ấy, trước từ đổi mới của Gobachev, đám đoàn đảng Việt cộng rơi vào hoang mang, bấn loạn, chẳng biết phận mình sẽ ra sao. Muốn đổi mới theo Nga thì sợ Trung cộng bóp cổ (vì chúng ở xát bên cạnh). Muốn bon chen theo chân tây phương để được mở mắt ra nhìn xem đế quốc Mỹ nó to nhớn như thế nảo thì sợ đeo mo vì đồng bào Việt tại hải ngoại đã chiếm mất vị thế chính nghĩa ở ngoài nước. Đã thế, sẽ … chết với người dân ở trong nước vì cái chiêu bài “đánh Mỹ cứu nước” hôm nào còn rất nóng. Tệ hơn thế, cũng vì cái chiêu bài ấy mà không biết bao nhiêu là người dân Việt trên cả hai miền đã chết một cách oan khiên. Nay xin thần phục Mỹ thì …. trả lời làm sao? Nhưng nếu không tìm được cái lỗ thoát thì cái đoàn đảng của chúng còn chết nhanh hơn. Cuối cùng vì túng kế, Nguyễn văn Linh liều há mồm cho từ đổi mới chui ra rồi muốn đến đâu thì đến.

Tuy thế, cái từ đổi mới ấy không được nhiều người đón nhận. Bởi lẽ, ai cũng biết nó không tự nhiên, thật lòng, nhưng được tính toán, và riêng đám văn nghệ văn gừng viết mướn theo lệnh đảng thì được học tập rất kỷ lưỡng về cởi trói rồi trói lại. Kế đến, kinh nghiệm của bài học “Trăm Hoa” năm nào mà những Văn Cao, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn hữu Đang, Phùng Cung vì lý tưởng nhân bản đã bị biến thành những nạn nhân của trò chơi trăm hoa rồi thành thân tàn ma dại. Cho đến khi nhắm mắt lìa đời, họ chẵng bao giờ nhìn thấy hoa nở. Trái lại, chỉ có cửa địa ngục mở ra mà thôi. Nên ngoài một số tên làm cò mồi như Hảo, Hương … chạy cờ cho kế hoạch này, chẳng có ai bị rơi vào cái bẫy cởi trói của Việt cộng ở trong nước. Theo đó cuộc “phản kháng” rất mau tàn. Riêng kẻ chạy cờ thì được chút bổng lộc!

Trong khi đò, vì dễ tin, (cái bệnh của con người nhân bản là vậy), người Việt Hải ngoại (nói đúng ra thì chỉ có những ông bà văn nghệ văn gừng hay chính trị chính em), là trúng kế phản kháng của Việt cộng thôi, chứ đại đa số người dân thì đi cày kiếm cơm áo đã dài người ra, thêm cái vụ “giải phóng” phải chạy vắt dò lên cổ hôm nào, nên cứ trông thấy Vẹm là như nom thấy thần chết và cho đến chết cũng sẽ không bao giờ rơi vào kế của chúng, chứ nói chi đến việc mất thời giờ để bàn về cái chuyện “phản kháng văn nghệ” như ruồi bu ấy.

Đã thế, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu vẫn còn để lại một di chúc quý giá cho mọi người: "Đừng có nghe những gì thằng cộng sản nói, nhưng hãy nhìn kỹ những gì chúng làm". Khi nói toạc ra như thế sẽ có người giận, nhưng sự thật của tập thể đồng bào là thế, không nói ra thì sẽ có lỗi vời những ngưòi đi sau. Rồi ông này bảo có, bà kia bảo không, hai bên bênh, chống, choảng nhau đến vỡ đầu xé tai ra vì cái đòn “phản kháng” gỉa của Việt cộng. Kết qủa, bọn gian ác ở Hà Nội từ Nguyễn văn Linh, Phạm Hùng đến râu rìa của chúng, cũng như chính những cái tên mà báo chí ở hải ngoại ra rả vẽ vời thêm chân là những nhà phản kháng kia phải một phen cười đến vỡ bụng. Trong lúc ta lại thành nhiều phe, giận dỗi nhau! Rõ chán!

Nay thì chuyện “văn nghệ phản kháng” đã rõ trắng đen rồi. Chắc không còn ai muốn nhắc đến cái chuyện phản kháng của công an văn hóa Trần Mạnh Hảo và cán bộ địch vận Dương thu Hương như là những “văn nghệ sỹ phản kháng“ nữa? Chắc không còn ai ca tụng bọn ăn cháo đá bát, đã lợi dụng tình thương, lòng thương xót của đồng bào, rồi trả ơn bằng “đỉnh cao chói lọi” hay hậu “ly thân” nữa nhỉ? Nhưng có lẽ tích cực hơn, người Việt Nam ta đã nhận ra những bộ mặt trong hàng ngũ cán cộng chuyên nghề đi lừa gạt lòng lương thiện của đồng bào ta rồi? Và hơn thế, họ còn biết rằng, nhờ đồng bào mà chúng bán được mớ sách, kiếm đựợc tý danh hoặc kiếm được một chỗ sống tốt hơn, là chúng trở lại nguyên hình của loài mà Kark Mark, ông tổ của loài bất nhân cộng sản này đã định nghĩa trước về chúng rằng: “chỉ có những loài thú mới ngoảnh mặt trước những nỗi bất hạnh của đồng loại”.

Khi viết ra chuyện này, tôi biết có nhiều người không muốn nghe lại, nhưng sự thật của đa số thầm lặng nghĩ như thế. Họ buồn lắm, họ có khi nào đi vỗ tay hoan hô những Tín, Hương, Hảo mà không hảo, để ngày nay họ “được” trả ơn bằng cái tát từ “đỉnh cao chói lọi” đâu? Họ bị “trả ơn” như thế vừa bất công mà cũng là một sự trả ơn bất nhân bất nghĩa nữa!

Tôi gọi đây là sự “trả ơn” bất nhân bất nghĩa của tác gỉa đối với đồng bào tỵ nạn cộng sản nói riêng, và đồng bào nói chung, là vì, có ai nhờ đồng bào để được chạy ra ngoại quốc sinh sống rồi quay ra trả ơn bằng cách ca tụng tội ác của kẻ, là nguyên nhân đẩy đồng bào phải xa quê hương của mình không? Có ai nhận ơn và trả ơn bằng cách quay lại sỉ nhục tập thể đã làm ơn cho mình không? Tôi tin là không có ai. Nhưng thực tế lại có. Thề thì cái có ấy phải thuộc thành phần bất nhân bất nghĩa mời làm đưọc. Trước kia thì Hồ đã làm thế với cụ Phan bội Châu và bây giờ đến lượt Dương thu Hương đối với đồng bào mình.

Hay y thị cho răng y thị không mắc nợ người tỵ nạn? Nếu y thị không nhờ đến đồng bào tỵ nạn, thì ai làm cho cái phản kháng cuội kia thành lớn và cái tên của y thị nổi lềnh bềnh lên trên mặt ao tù? Và nhờ đâu mà Việt cộng lợi dụng y thị thành con cờ “tự do” phản kháng để đẩy y thị đi đây đi đó để làm cuộc tuyên truyền, rồi giúp vốn cho y thị đi tỵ nạn? Y thị tự có cái tài lớn như thế hay sao? Há thị không biết rằng sách của y thị đã bao gồm được hầu như trọn vẹn những từ ngữ dâm ô, tục tĩu, dơ bẩn, không phẩm hạnh, làm cho người đọc có nhân bản phải lợm giọng hay sao? Rồi nếu y thị bảo mình không là con cờ, không là cán bộ văn hóa địch vận của cộng thì hãy nhìn cung cách phản kháng và nhìn cách đối xử của Việt cộng với những người tài trí, tâm đức hơn y thị cả ngàn bậc như Lê thị Cộng Nhân, Nguyễn văn Đài và mới đây là Lê Công Định thì sẽ có câu trả lời chính xác về vai trò của “phản kháng” của y thị.

Đó là nhìn từ phía ta, tuy nhiên, y thị chắc cũng có đủ ngôn từ để biện luận cho một công tác khổ nhục kế, để lừa dối lòng lương thiện của con người nhân bản chú? Dĩ nhiên rối, công ấy là công đầu cứu đảng mà. Bởi lẽ, xưa nay, Việt cộng đã tối mày tốì mặt vì những sách báo vạch ra những tội ác đáng ghê tởm của Hồ chí Minh và đồng bọn. Chúng muốn kiếm một vài tay lót đường, nhưng kiếm không ra. Nay “tự nhiên” có được một mụ từng đóng vai “phản kháng” bị đi tù, rồi “ phải “tỵ nạn ra ngoại quốc, mà lại viết sách dày cả mấy trăm trang để ca tụng công đức của tội ác thì không phát huy chương sao được? Bời vì, nhờ cuốn sách ấy, lại gây ra hoang mang cho người ở hải ngoại. Biết đâu họ lo “choảng” nhau về cái “đỉnh chói loị” mà quên đi những tội ác chúng đang làm ở trong nước như vụ Hòang Sa, Trường Sa và Bauxite tây nguyên thì đảng và nhà nước không muốn mừng cũng phải mừng. Cái công cứu đảng ấy y thị muốn có mấy cái “mề đay” mà chẳng được? DTH viết:

“Trong hội nghị ấy, tuyệt đại đa số uỷ viên đứng về phía Ba Danh và Sáu, họ muốn có một vinh quang phương trượng hơn vinh quang của cuộc kháng chiến chống Pháp. Họ muốn có cuộc chiến tranh này. Đó là một đam mê, một đam mê bất khả kìm chế. Một cuộc tình định mệnh quyến rũ cả một dân tộc trong cơn cuồng si. Nỗi đam mê trở thành anh hùng còn hung dữ hơn nỗi đam mê nhục dục. Trong ngọn lửa thiêu đốt của dục vọng, không lý lẽ nào tồn tại”

Khá lắm! DTH đáng được huy chương sao vàng vì đã tự ý hay có chỉ đạo, đổ tội cho cái gọi là bộ chính trị VC làm mọi thứ chuyện để cứu Hồ, một cái phao duy nhất cho chúng bám vúi vào để bảo vệ quyền lợi của phe nhóm? Nhưng y thị có biết răng, viết như thế thì lại làm cho cái “đỉnh cao chói lọi” của DTH quá hèn và trở thành một hình nộm, bảo gì làm nấy! Việc này, theo anh bạn tôi bảo, viết thế là không công bằng, viết như thế là không rõ. Lý do, nếu Hồ chí Minh là một cái hình nộm thì chắc phải có văn nô, thi nô tầm cỡ hay ai kia làm nghề “cầm cần” cho Hồ chủ tịch “chơi” Nông Thị Xuân chứ? Hồ có tự làm chủ được mình đâu? Ở ngoài chả có ai hay biết chuyện này, hy vọng khi tái bản, tác gỉa ghi lại cụ thể vụ việc … nâng … đỡ cụ hồ thế nào để cho cuốn sách tăng thêm phần thuyết phục!

"Cô Xuân đã yêu anh Cả cũng vào thời gian ấy ... Mối tình oan nghiệt này bắt đầu vào mùa chiến dịch năm I953 ... năm 53( vào thời gian này Nông thị Xuân còn ở tuổi vị thành niên) ; chắc chắn là như vậy. Người ta bảo đấy là năm con Rắn, Quý Tỵ, con rắn xanh. ... " (trang 63)…

Khá đấy! Dụ dỗ, ăn ở với trẻ vị thành niên thì bị tội gì và kẻ dắt mối phạm tội gì? Không biết trong cái xã hội Việt cộng có vấn đề luân lý cấm “ăn ở” với trẻ vị thành niên hay không? Nếu có thì kẻ “ăn ở” với trẻ vị thành niên có bị đưa ra trưóc toà án hay không? Nếu đã có kẻ bị đưa ra toà án về tội này, thì Hồ chí Minh có được miễn thứ hay không? Hay có điều khoản nào cho hưởng ngoại lệ?

Sau đây tôi trích lại một phần bản tin về phiên xử của toà án ND Hà Nội. đăng ngày 26/06/2009, vnexpress/phápluật về loại tội tương tự như Hồ chí Minh:

“Dù ông Sinh (Cung? 72 tuổi) một mực không thừa nhận đã hiếp dâm, nhưng VKS khẳng định quá trình tố tụng của vụ án đã làm đúng quy định, không có chuyện bức cung ... Xét bị cáo là cán bộ có cống hiến, nhân thân tốt, là thương binh 3/4, lại có vấn đề về thần kinh đang phải điều trị tại bệnh viện, nên VKS đề nghị tòa tuyên mức án dưới khung hình phạt, chỉ là 7-9 năm tù. Cuối cùng, TAND Hà Nội tuyên phạt ông Sinh 9 năm tù về tội hiếp dâm trẻ em (nguồn VNexpress/pháp luật/26-6/2009)”

Có lẽ cái toà này đã nhầm khi đem ra xử vụ này chăng? Bỏi lẽ, trong “đỉnh cao chói lọi” DTH gọi loại quan hệ này là tình yêu. Kế đến, việc làm của ông Sinh, là cựu thương binh, là người đã đi theo Việt cộng, nên trong vụ án này, xét cho cùng, ông Sinh cũng chỉ là học tập và làm theo gương của “ bác hồ vĩ đại “ mà thôi. Đã thế, ông ta cũng chỉ làm lén mấy lần và không giết nạn nhân! Tại sao ông ta bị lôi ra trước tòa án Việt cộng vì học tập và làm theo bác, trong khi đó người làm gương là Hồ lại trở thành cha gìa của Việt cộng?. Lạ thật!

“Tôi biết cậu giận tôi lắm. Cậu chưa đến mức căm thù hay manh động đã là may. Bởi ai cũng biết cậu là người gắn bó nhất với ông cụ trong đời sống tình cảm. Rằng hồi ở chiến khu chính cậu đã sang bên thành đoàn để gặp gỡ cô Thanh Tú. Cũng chính cậu can thiệp để cô Minh Thu thôi vác chăn vác chiếu đến ngôi nhà sàn. Rồi cũng chính cậu dẫn cô Xuân đến nơi ấy. Rằng cậu là người duy nhất mà cô Xuân tin cậy và phó thác tổ chức cuộc đời. Rằng cậu cũng là người duy nhất mà ông cụ có thể nói mọi chuyện một cách không kiêng dè, không ý tứ (262)”

Tội nghiệp chưa? Người ta cứ tưởng Vũ đi làm cách mạng, và làm được nhiều chuyện kha khá, ai ngờ, Vũ (tức Vũ Kỳ), cha của Vũ thư Hiên dưới ngòi bút của DTH trở thành một tay dắt mối chuyên nghiệp!

Chỉ cần xét qua vài đoạn văn ngắn này, dù dưới bất cứ một lý luận nào, y thị không thể chối cải được việc làm tay sai, giết mướn nền văn hóa nhân bản của dân tộc Việt thay cho Việt cộng bằng một thứ ngôn ngữ không luân thường đạo lý. Về điểm này, Y thị xứng đáng là đồ đề ruột thịt của Tố Hữu trong vai “ thổi kèn” Hồ chí Minh. Khi Hồ hiếp dâm một em bé tuổi vị thành niên nhiều lần, hiếp đến mang bầu đẻ con, rồi giết chết em để bịt miệng, mà y thị lại ca tụng đó là một “đỉnh cao chói lọi” và là “cha gìa của Việt cộng”!, (tôi xác định, có thể y là cha già của Việt cộng thôi, chứ đối với nhân dân Việt Nam thì sẽ không bao giờ) thì người Việt Nam chúng tôi tưởng tượng không ra, hiểu không thấu cái triết lý và hoàn cảnh của Việt cộng được. Thế mới biết, tính cách của một “nhà văn nhớn” của Việt cộng chuyên nghề thổi kèn là thế đấy. Họ thiếu hẳn chữ lương thiện, nếu như không muốn nói là, họ không còn biết đến nhân luân, đạo lý, lễ nghĩa của loài người là gì nữa! Thật đáng ghê sợ.

Sợ vì, nếu khi còn là một đảng viên, sau này vì khổ nhục kế mà chấp nhận bị khai trừ, DTH không biết đến điều luân lý cơ bản của xã hội loài ngưởi cũng là lẽ thường. Nhưng khi sang Pháp sinh sống, y thị chắc đã mở mắt và phải biết rằng, trong xã hội nhân bản, có luật pháp người ta tôn trọng nhân phẩm con người ra sao, và cách riêng những người cầm bút trong tinh thần tự do sẽ có thái độ như thế nào? Chắc chắn không một ai bênh vực những tên cường đồ đạo tặc hiếp dâm trẻ vị thành niên. Nhưng DTH là khác người, y thị không làm theo khuôn mẫu Nhân Lễ, luân lý, đạo nghĩa của con người, mà lại đi ca tụng chuyện hãm hiếp trẻ vị thành niên của Hồ. Thế mới biết rằng, “trẻ ăn trộm gà, già ăn trộm trâu!” kẻ đã có đảng tính trong máu thì máu ấy khó đổi vì nhân tính không còn!

Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến vụ Trần Trường cũng như B40 của Paris by Night dạo nào. Tôi không cho những phản ứng cũa đồng bào là quá đáng, hay có ý bịt miệng, ngăn cấm những ngưòi ấy không được hành sử quyền tự do tư tưởng và ngôn luận của mình. Nhưng chỉ có ý bảo cho họ biết là họ làm không đúng chỗ, không đúng nơi mà thôi. Trường hợp họ không đến những nơi có đồng bào Việt Nam tỵ nạn cộng sản, hay đến những nơi không có người ghê tởm tội ác của Hồ chí Minh thì tha hồ họ muốn làm gì thì họ làm. Hoặc gỉa, họ cứ ở trong nước mà “yêu bác” bằng tay, bằng mồm ai cấm! DTH cũng vậy!

II. Ai cũng biết, người mình giàu nhân tính, sống vì cảm tính và dễ tin nguòi quá. Điều ấy thì có lợi cho tình cảm nhưng vào cuộc tranh đấu thì chúng ta đã bị lừa, đang bị lừa và sẽ còn bị lừa cho đến chết. Lạ thật, biết là kế lừa mà vẫn bị mắc lừa.

Những lúc gần đây, thỉnh thoảng có đôi ba bài báo chợ bảo rằng, vào lúc gần cuối đời ấy, Hồ đã không còn chỉ huy được ai, những chuyện gian ác kia là do đám Duẫn, Thọ đạo diễn cả. Mục đích của bài báo là gì nhỉ? Thả bong bóng, tìm cách chạy tội cho Hồ chí Minh chăng? Thế khi ra lệnh cho Phạm văn Đồng ký Công Hàm bán nước cho Tàu năm 1958, Hồ cũng bị bọn đàn em chỉ đạo hay sao? Rồi vụ đấu tố từ 1953-1958, cũng do người khác lãnh đạo cả, Hồ chẳng có trách nhiệm gì hết. Vụ sơi tái Nông thị Xuân rồi giết NTXuân cũng không do Hồ chí Minh chủ động à? Chẳng lẽ Hồ chí Minh là một tên mù sống trong thiên đường mù hay sao? Tin thế là nhẹ dạ qúa!

Cũng chưa hết, khi Võ văn Kiệt ngỏm theo Hồ, lại có người cho rằng y cũng vì dân vì nước mà đổi mới đấy. Y đổi mới chuyện gì vậy? Nếu Y có lòng với dân với nước thì tại sao Y không làm “đổi mới” khi có quyền hành trong tay, lại chờ đến khi sắp xuống lỗ, không còn tý quyền hành nào rồi mới vẽ vời ra cái chuyện hòa giải, hòa hợp. Mà nói cho ngay cái luận điệu, bỏ dĩ vãng, hòa giải của Y thì chỉ có về đầu hàng Việt cộng thôi, chứ làm gì có thảo luận về dân chủ, về đa nguyên. Hay y làm đổi mới vì từ một tên việt cộng trốn chui trốn nhủi ở trong rừng, cơm không đủ no., áo không đủ ấm, nhưng chỉ mấy năm làm “giải phóng”, y đã vơ vét của cải của nhân dân để cái trương mục của y dấu trong ngân hàng ở ngoại đã lên đến hơn một tỷ đô la Mỹ (theo báo chí có đang tải).

Nếu chỉ vin vào vài ba câu nói ngớ ngẩn của những tên Việt cộng đã hết thời mà bảo rằng chúng cũng vì dân vì nước, vì dân chủ, vì độc lập, vì tự do thì qúy vị cứ chờ đấy, sẽ còn nhiều dịp để mà viết thêm nhưng bài ca kế tiếp. Bởi lẽ, tất cả những tên Việt cộng hết thời, không còn quyền thế cũng sẽ ỡm ờ để đẩy chúng ta vào rọ cuối cùng trong kế sách lừa của chúng. Không có ngoại lệ. Bởi vì, bao lâu còn cộng sản, thì bấy lâu còn lừa dối. Tin chúng thì cứ đổ thóc giống ra mà ăn. Khốn nỗi vốn cũng không còn, lấy gì mà tin?

Nay lại đến chuyện của Nguyễn Hộ. Ai ở Sài Gòn vào sau ngày 30-04-1975 mà không nghe biết Nguyễn Hộ như một tên hung thần trong cái ủy “ban quanh quẩn thành phố” và đặc biệt trong ”tôn giáo vụ, mặt trận tổ quốc”. Hãy nghe tiếng nói tâm huyết tận đáy lòng Nguyễn Hộ đây thì quý vị sẽ hiểu được Nguyễn Hộ: “Đôi với bọn ngụy quân, ngụy quyền, nhà của chúng ta ở, vợ của chúng ta xài, con của chúng ta bắt làm nô lệ, còn bọn chúng nó ta giam cho đến chết”. Thử hỏi xem, có người miền nam nào thoát ra ngoài vòng kìm tỏa của “lý tưởng” cướp của giết người của lời phát biẻu ấy hay không? Theo đó, chỉ cần một câu nói mang tính vô đạo bât lương này, thì có hàng tấn sách sau khi bị thất sủng hắn viết ra để lên án cộng sản, mà không có hành động tích cực sửa sai, hối lỗi, xin lỗi thì cái con người ấy cũng là kẻ cần phải bỏ đi, chúng ta không nên nhắc đến làm gì nữa.

Tại sao tôi viết như thế. Xin thưa, Những sách vở ấy nếu có chống đảng cộng sản thì chỉ chống vi quyền lợi cá nhân, đã bị thất sủng, không còn được hưỏng những đặc quyền, đặc lợi như những kẻ khác mà thôi. Nó không hề mang ý nghĩa chống cộng nhằm hủy bỏ chế độ để trả lại Tự Do Dân Chủ, Nhân Quyền và Công Lý lại cho người dân. Nó chẳng qua chỉ là những sảo ngôn hòng lừa dối người khác. Nó không hề mang theo tính hành động. Điều này thì đã chứng minh rõ ràng trong đời sống của ông ta cho đến khi chết. Ấy là chưa kể đến trường hợp hai mặt nạ, kế chạy tội khi cộng sản bị tan?

Kế đến, làm gì có loài cán cộng chân chính ở trên thế gian này như Nguyễn Hộ ảo tưởng. Chẳng lẽ đến bây giờ ông ta cũng không biết được là: Đã sinh ra và trở thành đảng viên cộng sản thì phải đạt hai tiêu chuẩn trong đảng tính là: Ngôn từ thì lừa dối, hành động thì vô đạo, bất nhân hay sao? Không có hai yếu tố cơ bản này không bao giờ trở thành đảng viên Việt cộng được. Điều này thì chính Nguyễn Khải, Trần Quốc Thuận cũng đã công khai nhìn nhận: “Ngày nay người ta phải lừa dối nhau mà sống … Nói dối lem lẻm, nói dối ở mọi nơi mọi chốn …. Và đó là đạo đức của cách mạng Việt cộng”.

Như thế làm gì có người chân chính đi theo cộng sản và đào ở đâu ra người cộng sản chân chính? (chân chính như Hồ chăng?) Sự chân chính ở đây chỉ cần mang ý nghĩa rất hạn hẹp là họ không sảo trá, lừa dối là được, chứ chưa cần phải nói đến phần tích cực của chân chính là có đạo đức làm ngùơi. Chẳng lẽ Nguyễn Hộ lại tự cho mình là cái hình mẫu của người cộng sản chân chính, yêu nước thương dân? Hay chân chính như lòi tuyên bố của Nguyễn Hộ khi có quyền hành, và rụt cổ khi bị thất sủng? Theo đó người ta sẽ tự hỏi rằng, may cho miền nam hay thêm bất hạnh cho miền nam khi Nguyễn Hộ nắm quyền. Chín phần mười là thêm bất hạnh, vì khi chưa lên ông ta đã tuyên bố “điều kiện ứng cử” như thế, khi tranh được quyền hành, con người ấy còn bất nhân biết mấy! Điều này là có cơ sở . Bởi vì, lòi cổ nhân xưa đã bảo: “Con người sắp chết nói câu nói thật” Nguyễn Hộ có biết nói lên một lời xin lỗi miền nam vì câu tuyên bố thập phần vô đạo, bất nhân kia không?

Theo đó, cộng sản đứng trong cái thế khác, nghĩ cách khác để nhìn cách khác và lừa gạt chúng ta. Niềm vui của cán cộng là tạo ra được những cuộc lừa dối lớn và cho đến chết, chúng cũng không từ bỏ cái thú tính này.

Tóm lại, tôi cứ thắc mắc mãi là: Tại sao chúng ta không tin đưọc nhau mà lại đi bám víu, tin vào những cái phao chìm, phao thối của Việt cộng đã loại bỏ đi. Những kẻ bị bỏ đi này lại có khả năng lãnh đạo dân ta và đất nước ta trong tương lai hay sao?

Tại sao chúng ta không nhìn đến những nhân vật trẻ như Lê thị Công Nhân, Nguyễn văn Đài, Lê Công Định … Dương Nguyệt Ánh, Lương xuân Việt, để quanh đó, chúng ta xây dựng một tương lai mới cho Việt Nam mà chỉ hoài phí sức, tốn công vào những việc như chính chúng đã cần phải bỏ đi?

Dĩ nhiên, việc xây dựng là phải tốn công, tốn của, mất thời gian. Thời gian không phải là vài ba tháng một đôi năm, nhưng có thể phải tính bằng con số 5 con số 10. Nhưng chúng ta vẫn có một chỗ đứng để đứng. Chúng ta có một hướng đi để đi, có một chương trình để hành động, có một tòa nhà để xây dựng, có một ước mơ để thành công, còn hơn là ngồi chờ sung rụng. Hoặc tệ hơn thế, nhặt sung rụng. Sung rụng ư? Hầu hết sung rụng là sung đã thối!

Nam Hải


ĐCS VN đang đồng lõa trước sự xâm lăng của Trung Cộng - Nguyễn Hiệp

Nguyễn Hiệp

Âm mưu thôn tính đất nước VN cũng như muốn đồng hoá dân tộc VN của Trung Hoa đã có từ bao ngàn năm trước. Cha ông của chúng ta đã bị người Trung Hoa đô hộ hơn một ngàn năm mà chúng ta hay gọị là một ngàn năm Bắc thuộc. Cũng may cho dân tộc chúng ta, thế hệ cha ông của chúng ta đã không chỉ đấu tranh bằng những tấm lòng nhiệt tình yêu nước mà thêm vào đó là ể chí sắt thép và lòng quật cường, dũng cảm mà dân tộc VN nam đã may mắn thoát ra khỏi sự đô hộ tàn ác và hà khắc của Trung Hoa. Biết bao tấm gương hy sinh dũng liệt, kiên cường yêu nước thà chết không bao giờ chịu khuất phục làm tôi mọi cho kẻ thù Bắc phương, biết bao cuộc khởi nghĩa long trờì lở đất làm cho đoàn quân xâm lược Trung Hoa phải kinh hoàng bỏ chạy thoát thân.

Tiếc thay cho dân tộc VN chúng ta ngày hôm nay, đất nước đang bị cai trị bởi một chính quyền độc tài, tham nhũng, hèn nhát và khiếp nhược trước kẻ xâm lăng là Trung Cộng. Một chính quyền chỉ lo đi đàn áp những người thế cô, những tấm lòng nhiệt tình yêu nước. Chính vì lẽ đó mà CSVN hiện nay không huy động được sức mạnh của toàn dân, người dân VN đã nhìn thấy rõ bộ mặt giả nhân giả nghĩa của người CSVN, họ chỉ yêu ĐCS chứ họ không yêu nước, họ chỉ vì quyền lợị của cá nhân đảng phái chứ không phải vì quyền lợi của dân tộc. Đây chính là điểm yếu của ĐCS VN và Trung Cộng họ thừa biết điều đó cho nên hiện nay đang là thời điểm tốt nhất để Trung Cộng đưa VN từ từ lọt hẳn vào vòng quỹ đạo của bàn tay Trung Cộng, và bằng cách này hay cách khác từ từ thôn tính hoàn toàn đất nước VN. Họ muốn biến VN trở thành một hay nhiều tỉnh của Trung Quốc, tương tự như những vùng đất Tân Cương hay Tây Tạng mà họ đã chiếm lĩnh.

Ngược dòng lịch sử chúng ta thấy được rằng cha ông chúng ta đã nhiều lần phải chịu sự đô hộ của người Trung Hoa qua nhiều thời kỳ khác nhau.
  • Thời kỳ thứ nhất: Từ năm 207 đến năm 111 trước tây lịch: Đây là thời kỳ nước Âu Lạc bị thôn tính bởi Triệu Đà.

  • Thời kỳ thứ hai: Từ năm 111 trước tây lịch đến năm 40 sau tây lịch : Đây là những năm nhà Tây Hán đặt nền đô hộ lên đất nước Giao Chỉ.

  • Thời kỳ thứ ba: Từ năm 43 đấn năm 544, hơn 500 năm nước ta bị lệ thuộc vào các vương triều Trung Quốc từ Đông Hán đến Nam Bắc Triều.

  • Thời kỳ thứ 4: Từ năm 603 đến năm 939, nước ta bị lệ thuộc và nhà Tùy và nhà Đường.

  • Thời kỳ thứ 5: Từ năm 1407 đến năm 1428, đây là thời kỳ nhà Minh chiếm cứ nước ta.
Như vậy bất cứ khi nào đế quốc Trung Hoa được ổn định là nghĩ ngay đến chuyện xâm lăng và thống trị đất nước Việt Nam, vì Việt Nam nhỏ bé , có một vị trí thuận tiện, lại nằm ngay sát nách người bá quyền phương Bắc. Và rõ ràng lịch sử của VN là lịch sử của những năm tháng triền miên chịu sự xâm lăng, dòm ngó hoặc đô hộ của người Trung Hoa.

Khi nhìn vào lịch sử cận đại, chúng ta hãy cùng nhìn qua những diễn biến qua lại giữa ĐCS VN và ĐCS TQ thì sẽ thấy ngay sự tiếp tay của ĐCS VN trong việc bán rẻ đất nước VN cho ngoại bang:

1. Vào ngày 15/06/1956: Ngoại trưởng của CH XHCN VN là ông Ung văn Khiêm đã tuyên bố: "Hà Nội nhìn nhận chủ quyền Trung Cộng tại Hoàng Sa và Trường Sa mà TC gọi là Tây Sa và Nam Sa".

2. Ngày 14/09/1958 công hàm bán nước của thủ tướng Phạm văn Đồng vâng lệnh chủ tịch nước là Hồ chí Minh đã xác nhận chủ quyền hải phận của TC tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

3. Ngày 26/04/1968 sau khi TC tiến chiếm Trường Sa, báo Nhân Dân, tiếng nói chính thức của ĐCS VN đã viết: ‘Trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, thì VN phải tranh thủ sự gắn bó của TC, và ngăn chặn Hoa Kỳ sử dụng hai quần đảo nói trên.’

4. Vào tháng 5/1976 báo Sài Gòn Giải Phóng đã viết: ‘Trung Cộng vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là đồng chí, mà còn là người thầy tín cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc VN hay TC cũng vậy thôi.’

Qua những sự việc nêu trên chúng ta đã thấy rõ sự tiếp tay của ĐCS VN trong việc cống nạp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho ĐCS Trung Quốc.

Để hợp thức hóa việc lấn chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN, vào tháng 11/2007 Quốc Vụ Viện TC ban hành văn kiện thành lập Huyện Tam Sa để quản lể các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Một mặt chúng ăn cướp trắng trợn các hải đảo của VN, một mặt chúng ra văn kiện để hợp thức hoá những vùng đất ăn cướp này, thế nhưng ĐCS VN chỉ phản đối chiếu lệ, không có bất kỳ một phản ứng quyết liệt nào trước biến cố vô cùng trọng đại này.

Để áp đảo Việt Nam cũng như đe dọa ngư dân VN, Trung Cộng đã dã tâm bắn thẳng vào những tàu thuyền đánh cá của ngư dân VN, viện cớ là xâm phạm hải phận Trung Cộng. Liên tiếp trong nhiều năm qua, Trung Quốc cho tàu thuyền với tải trọng lớn hơn đâm thẳng vào các tàu thuyền đánh cá VN gây lên một làn sóng sợ hãi của các ngư dân khi phải ra khơi. Mới đây chính đài truyền hình TC cho trình chiếu cảnh Ngư Chính TC bắt tàu đánh cá VN, và hình ảnh những ngư dân VN vái lạy nhân viên Ngư Chính Trung Cộng vì sợ bị đánh đập. Cũng trong đoạn phim này người ta được nhìn thấy một xác ngư dân VN được để nằm trong một chiếc thúng bằng tre, và chung quanh đổ đầy đá lạnh, những thúng đá lạnh này thay vì dùng để ướp cá sau khi đánh bắt thì nay là để ướp xác ngư dân. Khi nhìn thấy cảnh này, ai là người Việt mà không thấy đau đớn, uất hận và tủi nhục.

Trên phương diên hành chánh thì Trung Cộng cũng đã chèn ép Việt Nam. Vào ngày 30/12/1999 hiệp ước biên giới Việt Trung đã được kể kết giữa VN và TC, qua đó VN đã nhường cho TC 720 cây số vuông, và khoảng một năm sau đó thì Hiệp ước vịnh Bắc Bộ lại được kể kết giữa VN và Trung Cộng vào ngày 25/12/2000. Qua hiệp ước này, VN lại để mất vào tay Trung Cộng. hàng chục ngàn cây số vuông lãnh hải với biết bao tài nguyên tôm cá và khoáng sản. Việc mất đất và mất biển vào tay TC đã được những nhà nghiên cứ chuyên môn ước tính sau khi so sánh với các bản đồ của hiệp ước Thiên Tân kể năm 1885 với TC và hiệp ước vịnh Bắc Bộ kể năm 1887. Nhưng CSVN thì lập lờ và dấu nhẹm người dân về cả hai hiệp ước này. Tuy nhiên mới đây, một quan chức của CSVN đã tiết lộ và thú nhận những tội lỗi của ĐCS VN trong hai hiệp ước này. Vào ngày 02/07/2009 qua một cuộc phỏng vấn của phóng viên Mặc Lâm đài RFA, thì ông Dương Danh Di một cựu tổng lãnh sự của CH XH CNVN tại Quảng Châu Trung Cộng đã trả lời về việc mất đất mất biển như sau: ‘Tôi nói thật, tôi đã từng đi điều tra biên giới trên bộ nhiều lần, và tôi thấy có những cái đúng là sự ngây ngô khờ dại, thế là mình mất toi mấy chục hecta, làm thế nào được. Đấy, lúc đó là trong hoàn cảnh thời chiến. Người ta giúp mình, mình chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện đó, có thể là không nghĩ ra, có thể là dốt, vân vân. Bây giờ thì muốn trách cứ thế nào thì cũng phải chịu thôi.’

Ông Dương Danh Di cũng thừa nhận rằng giới lãnh đạo CSVN sẵn sàng bán rẻ Tổ Quốc để đánh đổi sự ủng hộ của đàn anh CS TQ.

Theo tiến sĩ Mai Thanh Truyết, việc xâm chiếm VN của Trung Cộng có thể được nối kết bằng bảy sự kiện đang được triển khai ở VN và các nước lân cận đó là:

1. Công trình xây dựng xa lộ Trường Sơn.

2. Mở rộng đưòng số 9 nối liền biên giới Thái-Lào ra biển Đông qua thị xã Đồng Hới.

3. Xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất.

4. Dự án quốc tế giữa Trung Cộng, Lào và Thái Lan trong việc khai thông lòng sông Cửu Long để tàu vận tải nặng có thể lưu thông trên thủy lộ này.

5. Thiết lập xa lộ nối liền thành phố Nam Ninh và Hà Nội.

6. Miễn hộ chiếu cho người Trung Hoa vào tận mũi Cà Mau.

7. Dự án khai thác Bauxit ở Tây Nguyên.

Vì thờì gian có hạn, chúng ta chỉ nhắc đến một dự án đang gây nhiễu phẫn nộ trong dân chúng đó là dự án Bauxit ở Tây Nguyên. Mặc cho có sự phản đối mãnh liệt của nhiều tầng lớp của người dân khắp mọi miền, ĐCS VN vẫn để cho Công Ty Chinaco của Trung Cộng tiến hành khai thác Bauxit mà hậu qủa không ai có thể lường trước được. Trước mắt thì người Trung Quốc từ những đoàn quân lao động không chính thức đã theo đoàn quân lao động chính thức, hoà theo dòng người chảy ồ ạt vào VN và tản ra các nơi ở khắp mọi miền đất nước. Nơi các nhà máy thì những khu định cư được tới tấp mọc lên và chung quanh đấy là các tiện nghi như nhà hàng, khu giải trí với những hàng chữ Việt-Trung đã bắt đầu được dựng lên. Nói tóm lại Bauxit Tây Nguyên là một dự án được coi là dự án trọng điểm của ĐCS VN trong kế hoạch phát triển đất nước thì tự nó đã là một dự án trọng điểm để tàn phá môi sinh, gây tai họa cho con ngư ời và tàn phá đất nước. Khi nhìn theo con mắt của những nhà quân sự thì dự án này có khác chi ĐCS VN đã rước voi về dày nát mồ mả tổ tiên ngay trên lưng của đất Mẹ Việt Nam.

Như vậy rõ ràng là ĐCS VN vì tham quyền cố vị, đã đang tâm bán rẻ Đất Nước VN cho ngoại bang. Việc này đã xảy ra ngay từ khi HCM và CSVN vâng lệnh đệ tam quốc tế CS, can tâm làm đội quân tiên phong cho Staline va Mao Trạch Đông, quên đi nguồn gốc dòng giống Lạc Hồng, lúc nào cũng giương cao cờ máu, lúc nào cũng xem TC là quan thầy, là môi với răng, là sông với núi, là anh em đồng chí vì tổ quốc XHCN sống chết bên nhau. Qùy lụy Trung Công như một chư hầu trong mọi hành động, luôn luôn khiếp nhược, hèn kém và gian manh khi che dấu người dân VN để can tâm cắt đất và nhượng biển cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc VN. Trong nước đối với người dân thì ĐCS VN đang quyết tâm dập tắt những tiếng nói yêu nước, đàn áp, bắt bớ và bỏ tù những ngườì dám mạnh dạn đứng lên nói lên tiếng nói đòi lại chủ quyền của dân tộc, khẳng định chủ quyền trước những vùng đất vùng biển mà cha ông chúng ta đã bỏ ra biết bao máu xương để vun bồi và gìn giữ cho con cháu.

Đất nước VN là của mọi người dân Việt Nam, từ trong nước ra đến hải ngoại, Đất Nước là trường cửu là vĩnh viễn, ĐCS VN chỉ là tạm thời, chỉ là giai đoạn, thể chế nào rồi cũng phải qua đi để Đất Nước tiến lên. ĐCS VN ngày hôm nay đang là những kẻ phản dân hại nước, cõng rắn cắn gà nhà, gây điêu đứng cho người dân VN qua những kế hoạch, chính sách của họ khi phải qùy lụy, phục tùng Trung Cộng. Chắc chắn sử sách ngày sau sẽ ghi dấu tội ác tày trời này của ĐCS VN đối với Dân Tộc Việt Nam.

Nguyễn Hiệp
01.08.2009