Sunday, July 12, 2009

Buổi Tiếp Tân Ra Mắt Lần Đầu Tiên Phim "Sự Thật Hồ Chí Minh" - Ngọc Băng

Ngọc Băng

Linh mục Nguyễn Hữu Lễ
Little Saigon, Nam California, Hoa Kỳ, 11 tháng Bẩy, 2009:

"Sau 18 tháng làm việc trong âm thầm và kiên trì vượt qua bao trở ngại, hôm nay tôi xin hân hoan thông báo, phim tài liệu “SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH” đã được hoàn tất." Đó là lời tuyên bố của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ với tiếng vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt của đông đảo đồng hương trong buổi tiếp tân ra mắt lần đầu tiên cuốn phim “SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH”(ST/HCM).

Buổi sinh hoạt đặc biệt này khai diễn vào lúc 11 giờ sáng Thứ Bẩy, 11 tháng 7, 2009, tại nhà hàng Paracel, ở trung tâm Little Saigon, Nam Cali, Hoa Kỳ. Vì nhà hàng chỉ có sức chứa 450 người, đông đảo đồng hương đến trễ, con số tương đương với số lượng bên trong, phải đứng ngoài, tạo nên cảnh tượng tấp nập chưa từng thấy. Để bảo đảm trật tự và giữ đúng luật lệ, Ban Giám Đốc nhà hàng đã quyết định đóng cửa và huy động nhân viên an ninh mặc sắc phục túc trực tại chỗ. Mặc dầu dưới ánh nắng mùa Hè, nhưng đồng hương bên ngoài vẫn kiên nhẫn chờ đợi để nhận DVD phim ST/HCM. Trước tình trạng này, Ban Tổ Chức đã quyết định khai mạc sớm hơn chương trình dự định để rút ngắn thời gian bà con phải đứng chờ.

Sau phần nghi thức chào cờ và mặc niệm do ban Tù Ca Xuân Điềm phụ trách, ông Nguyễn Như Tấn, trưởng Ban Tổ Chức, ngỏ lời chào mừng quan khách và nói lên tính cách đặc biệt và quan trọng của buổi tiếp tân ra mắt, vì cuốn phim ST/HCM "là một tác phẩm vô cùng độc đáo của người Việt tự do, bởi vì, về mặt văn tự thì đã có rất nhiều quyển sách viết về con người thật của Hồ Chí Minh, nhưng về phim ảnh thì đây là lần đầu tiên mới có một cuốn phim trình bày, phân tích bộ mặt thật của tay trùm CS này."

Mở đầu bài nói chuyện về ý nghĩa và tầm quan trọng của cuốn phim "SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH", Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, đại diện PHONG TRÀO QUỐC DÂN ĐÒI TRẢ TÊN SÀI GÒN đã nhấn mạnh:

“Trong chiếc hộp DVD khiêm tốn này chứa đựng một nỗ lực phi thường của PHONG TRÀO QUỐC DÂN ĐÒI TRẢ TÊN SÀI GÒN và nhóm thực hiện để hoàn tất cuốn phim … Nhưng điều quan trọng hơn hết là trong chiếc hôp DVD khiêm tốn này chứa đựng một nguyện vọng thiết tha và cấp bách của đổng bào Việt nam Phải phá vỡ huyền thoại giả trá Hồ Chí Minh, là tảng đá cuối cùng để chế độ CSVN bám vào đó mà tồn tại.”

Linh mục cũng nhắn gửi "...chốc nữa đây khi tôi đại diện cho PTQD/ĐTTSG trao vào tay từng người DVD này, không những đó là một món quà trân quý của PT mà còn là trao đi một sứ mệnh: Sứ mệnh đó là: Hãy tiếp tay đẩy mạnh chiến dịch Tẩy Trừ Huyền Thoại Giả Trá Hồ Chí Minh."

Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ đã đề nghị phương thức đẩy mạnh bằng "Chiến dịch Vết Dầu Loang; đó là sau khi nhận và xem phim ST/HCM, xin mỗi người hãy copy ra 10 DVD nữa để tặng cho 10 người khác; khi tặng cho ai nhớ kèm theo lời dặn hãy copy ra 10 DVD nữa để tặng cho 10 người khác ... và cứ thế … cứ thế lan rộng dần như một “vết dầu loang”.

Tiếp đó, đồng hương đã chăm chú theo dõi đoạn phim dài 12 phút giới thiệu cuốn phim ST/HCM nói qua về các chủ điểm nội dung của cuốn phim, các đoạn trích dẫn một số nhân vật được phỏng vấn, các tài liệu và hình ảnh đặc biệt lấy từ cuốn phim chính dài 1 giờ 50 phút.

Trong phần nói chuyện sau đó, Ông Trần Quốc Bảo, trưởng Ban Điều Hành của PhongTrào, trong vai trò giám đốc sản xuất cuốn phim, đã tóm lược qua về tiến trình thực hiện, qua các giai đoạn hình thành Ban Cố Vấn, ấn định nội dung, thu thập tài liệu, phỏng vấn, ráp nối,... Ông cũng khẳng định, người xem có thể sẽ nhìn thấy một số khuyết điểm trong cuốn phim này "vì nhóm thực hiện không phải là những nhà chuyên môn; tuy nhiên sự thật chung cuộc, và cũng chính là thông điệp của cuốn phim, thì người xem không thể hiểu sai: Hồ Chí Minh là một tai hoạ cho đất nước; nhưng Đảng CSVN đã thần tượng hóa y để làm tấm mộc bảo vệ chế độ, cho nên phải phá vỡ thần tượng Hồ Chí Minh để khai thông sinh lộ cho dân tộc, đất nước Việt Nam."

Về việc quảng bá cuốn phim, Ông Bảo cho biết PT đã có kế hoạch đặc biệt để phổ biến phim đến đồng bào trong nước là đối tượng chính mà PT nhắm đến. Đối với người ngoại quốc và con em không thông thạo tiếng Việt, PT đang xúc tiến thực hiện bản tiếng Anh và tiếng Pháp. Đối với người Việt hải ngoại, Ông thông báo lịch trình các buổi ra mắt trong năm 2009 gồm 38 địa điểm và nói rõ cách thức tiếp nhận DVD qua đường bưu điện.

Trong phần chia sẻ tâm tình, Ông Chu Lynh, phụ trách biên tập và ráp nối cuốn phim, đã trình bày một số khó khăn mà nhóm kỹ thuật phải đương đầu. Theo Ông, "tôn trọng sự thật" là tôn chỉ hàng đầu mà những anh em phụ trách luôn đề cao. Ông cũng kể lại một số kinh nghiệm buồn vui của cá nhân và những người cộng tác trong dự án thực hiện bộ phim này và kết luận, mặc dù đương đầu với nhiều khó khăn, trở ngại, nhưng vì những trăn trở đối với quê hương, đặc biệt là trong giai đoạn "dầu sôi lửa bỏng" của đất nước, trước hiểm hoạ của giặc phương Bắc, ông đã nỗ lực đóng góp để hoàn thành cuốn phim.

Được mời phát biểu cảm tưởng, GS Nguyễn Thanh Liêm, một nhân sĩ quen thuộc trong sinh hoạt Cộng đồng tại Nam Cali, đã nhiệt liệt tán thưởng nỗ lực của PTSG trong việc hoàn thành cuốn phim ST/HCM. Theo GS Liêm, cuốn phim quan trọng cả về mặt văn hoá lẫn mặt chính trị. Về văn hoá, đây là cơ hội để làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam trong giai đoạn cận đại. Về mặt chính trị, cuốn phim sẽ là một vũ khí quan trọng để đánh vào gốc rễ của chế độ CS, giúp mau chóng đem lại tự do và dân chủ cho Việt Nam.

Tiếp đó là phần trao tặng DVD phim ST/HCM. Đồng hương lũ lượt xếp hàng đi ngang qua chiếc bàn kê gần cửa vào nhà hàng để nhận DVD do chính Cha Nguyễn Hữu Lễ ký tặng và trao tay cho từng người. Chuỗi người xếp hàng dài ra mãi đến bãi đậu xe đối diện nhà hàng.

Trong khi đó, gần sân khấu nhà hàng, đáp ứng lời kêu gọi của MC Đinh Quang Anh Thái, đông đảo đồng hương cũng xếp hàng để lần lượt ký tên vào Sổ Vàng giúp Phong Trào trang trải chi phí thực hiện và quảng bá DVD phim tài liệu ST/HCM. Được biết chi phí này lên đến hơn 200,000 Mỹ kim. Đặc biệt, thi sĩ Nguyễn Chí Thiện là người mở đầu danh sách ký sổ vàng.

Không khí buổi tiếp tân càng thêm sôi động, hào hứng với phần đồng ca các nhạc phẩm đấu tranh do các nghệ sĩ Ban Tù Ca Xuân Điềm, và anh chị Tuấn Minh, Tuyết Mai thuộc Phong Trào Hưng Ca trình diễn. Đồng hương cũng thưởng thức các món ăn trưa thịnh soạn do Phong Trào khoản đãi.

Buổi tiếp tân ra mắt phim tài liệu ST/HCM kết thúc vào lúc 2 giờ 30 chiều trong niềm hân hoan và phấn khởi của các đồng hương tham dự. Được biết buổi sinh hoạt đặc biệt này được trực tiếp truyền thanh trên hệ thống PalTalk để các đồng hương ở xa, kể cả tại quốc nội, có thể theo dõi.

Theo Ban Điều Hành PT, đồng hương ở xa liên lạc địa chỉ:
    PHONG TRAO SAI GON
    P.O. Box 1194 Stafford, TX 77497
    USA
Để tiếp nhận DVD, với cước phí chuyển gửi (shipping & handling) là 7.95 MK trong Bắc Mỹ, 12.95 MK ngoài Bắc Mỹ. Lịch trình các buổi ra mắt khắp nơi và tin tức về phim ST/HCM được liệt kê đày đủ trong website của PT: http://www.saigonforsaigon.org/

Ngọc Băng

Hình ảnh buổi tiếp tân ra mắt:

Quang cảnh Hội trường

Quang cảnh bên ngoài

MC Đinh Quang Anh Thái

Ông NGUYỄN NHƯ TẤN

Linh Mục NGUYỄN HỮU LỄ

Ông TRẦN QUỐC BẢO

Ông CHU LYNH

GS NGUYỄN THANH LIÊM

Linh Mục NGUYỄN HỮU LỄ ký tăng DVD phim ST/HCM

HỒ CHÍ MINH: CON NGƯỜI TRĂM MẶT - Mường Giang

Mường Giang

Trong bốn người liên quan tới việc xuất dương, chỉ có Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh ra đi năm 1911, là tự nhận mình tìm đường cứu nước. Trước đó, qua bộ máy tuyên truyền của đảng và chính Hồ viết sách để ca tụng và huyền thoại cuộc đời mình, làm cho nhiều người nhẹ dạ không muốn tin cũng phải gật đầu chấp nhận, vì biết đâu mà mò. Nhưng vào tháng 2-1983, hai sử gia VN, tiến sĩ Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu, đã công bố khắp thế giới, một tài liệu vô cùng quan trọng, tìm thấy tại văn khố Pháp duy nhất nói tới giai đoạn 1911 của Nguyễn Tất Thành.

Ðó là hai lá thư xin nhập học Trường Thuộc Ðịa (Ecole Coloniale) viết ngày 15-9-1911 và một lá viết tại New York ngày 15-12-1912 gởi Khâm sứ Trung Kỳ. Ðiều này chứng tỏ rằng Nguyễn Tất Thành, bỏ nước ra đi chỉ với mục đích tìm đường làm quan để giải quyết chuyện cơm ăn áo mặc của riêng mình, chứ không hề có ý định cứu nước giúp dân như Trần Dân Tiên từng viết sách ca tụng.


Ngoài ra những bí mật đã được bật mí, theo đó mới biết được gần suốt cuộc đời của Hồ, hầu như sống bằng nghề tình báo KGB, phục vụ cho quyền lợi của đệ tam quốc tế mà thôi. Nên người ngoài cũng không lấy làm lạ trước những sự kiện của đảng Cọng Sản Ðông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, địa vị của Hồ Chí Minh từ năm 1930 cho tới cuối năm 1944 trong đảng rất mù mịt, không chiếm được một ưu thế nào, vì Hồ thật sự đâu có làm gì. Cũng theo sử liệu, lãnh đạo đảng lúc đó là những tên tuổi Ðặng Xuân Khu, Nguyễn văn Cừ, Lê Ðức Thọ, Văn Tiến Dũng cho nên mãi tới hội nghị đảng lần thứ VIII, họ Hồ vẫn chưa có một danh vị đảng. Theo Lê Quảng Ba viết trong Hồi ký Ðầu Nguồn, tiếng nói của nhóm cán bộ lưu vong tại hang Pắc Pó trong thời gian 1941-1944, Hồ Chí Minh từ Nậm Quang chính thức dời về đóng trụ ở biên giới Hoa-Việt, để dạy lớp cán bộ. Lớp học kết thúc ngày 26-1-1941 nhưng đã bế tắc vì Hồ không đủ uy tín để tổ chức được một chiến khu nào tại miền xuôi. Bởi vậy mới thấy tới ngày 22-12-1944, Võ Nguyên Giáp mới lập được Ðội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân, tại rừng Trần Hưng Ðạo, Huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, chỉ được 34 người, hầu hết la dânợ Nùng, Thổ bản địa.

Nhưng Hồ là người may mắn, từ thuở nhỏ đã được các quí nhân tại Phan Thiết như Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang làm vang danh tại trường Dục Thanh. Sau đó qua Pháp, được Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền góp chữ và uy tín, đưa Bồi Ba, tức Nguyễn Tất Thành bước vào con đường chính trị, báo chí thế giới qua danh xưng của nhóm là Nguyễn Ái Quốc mà Hồ nhận riêng là của mình.

Rồi từ hang Pắc Pó trở lại Tàu, may mắn bị quân Trung Hoa Quốc Gia bắt. Từ đó qua bảo đãm của Nguyễn Hải Thần cùng Vũ Hồng Khanh trong Việt Nam Quốc Dân Ðảng, với chủ tướng Trương Phát Khuê, họ Hồ chính thức sắm thêm vai gián điệp tình báo cho quân đội Ðồng Minh tại Ðệ Tứ Chiến Khu Hoa Nam, sau khi được trả tự do ngày 16-3-1945, theo như tài liệu của Michael Maclear viết trong ‘The Ten Thousand Day War Việt Nam (1945-1975), xuất bản tại New York năm 1981.

Cũng từ đó, qua vai trò điệp viên tình báo quốc tế thuộc các cơ quan KGB, Trung Cộng, Trung Hoa Dân Quốc, rồi do Charles Fenn giới thiệu, lại trở thành điệp viên chính thức của OSS tức là Office of Strategic Services, tiền thân của cơ quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ ( CIA), làm việc dưới quyền Thiếu Tá Mỹ Archimedes Patti, đặc trách chiến trường Ðông Dương. Nhờ đó, Hồ bước qua hết các xác chết cản đường trong đảng, để mùa thu tháng chín 1945, nghênh ngang võng lọng về Hà Nội nhận chức và đọc diễn văn. Ðó là tất cả quá trình xuất dương cứu nước của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành, một huyền thoại (?)mà bao chục năm qua, thiên hạ vẫn không ngớt viết, nói về cuộc đời của một tên quốc tặc ‘ trước sau, nhỏ lớn ‘ đã và đang cùng với đồng bọn ‘ rước voi Nga-Tàu ‘ về dầy xéo cướp chiếm công khai non nước Việt, mà hiện nay cả thế giới, ai cũng đều thấy rõ.

Từ câu chuyện nhục nhã trên, nhiều người đã thở dài khi nghĩ rằng, phải chi Nguyễn Tất Thành lúc đó, được thực dân Pháp nhận vào trường Thuộc Ðịa, thì với bản chất bất lương như vậy, cùng lắm Hồ chỉ là một tham quan Việt gian làm tay sai cho Pháp mà thôi. Nhờ đó đất nước và dân tộc Việt Nam ngày nay có thể đã thoát được nổi trường hận cùng khốn tận tuyệt dưới bàn tay tàn độc cũa một Hồ Chí Minh làm tay sai cho các thế lực quốc tế, từ Liên Xô, Trung Cộng, Pháp, Tàu Trắng và Hoa Kỳ. Năm 1932 danh xưng Nguyễn Ái Quốc được khai tử trong nhà tù Hồng Kông, để thay thế vào cái tên Hồ Chí Minh (với công luận : đó là một người Tàu được nhập vai HCN thật đã chết) . Chuyện thật giả, đúng sai cho tới giờ này chỉ có trời mới biết, chứ mặt thật thì ai cũng chỉ dựa vào sách báo để ghi lại mà thôi.

1. NGUYỄN TẤT THÀNH, CON NGƯỜI TRĂM MẶT

Nhiều năm sau ngày ‘bác’ lên ngai Chủ Tịch nhà nước, người ta mới biết được cái tên Hồ Chí Minh, chỉ là một trong hằng trăm tên của Nguyễn Sinh Cung hay anh thanh niên thầy giáo Nguyễn Tất Thành, đã có một thời gian dạy học tại trường Dục Thanh, Phan Thiết, trước khi rời Bến Nhà Rồng ở Sài Gòn, qua Pháp tìm đường cứu nước. Theo các sử gia cũng như các nhà biên khảo nghiên cứu trong và ngoài nước, thì cho tới nay vẫn chưa ai biết hết tất cả các bí danh của Nguyễn Tất Thành. Trước đó, căn cứ vào tài liệu của Liên Xô, thì ‘bác’ có chừng 19 tên. Năm 1982, nhà biên khảo Huỳnh kim Khánh nói ‘người’ có 32 bí danh. Một tác giả Việt Nam khác kiểm kê được 76 tên của Hồ. Nói chung, không riêng gì tên họ, mà cả ngày sinh và tên cúng cơm cũng vô cùng bí mật, không biết đâu mà mò. Quả thật đây là một con người có nhiều tên nhất trên trái đất, từ cổ tới kim, đông sang tây. Do không biết chính xác tên khai sinh khi lọt lòng mẹ là Côn, Cuông hay Cung, vì vậy ta thấy sách vở đã chọn cái tên Nguyễn Tất Thành như là một điểm tựa, nhất là sau năm 1983, ba cái đơn của ‘bác’ bị phát giác.

Trong số 100 tên, có lẽ cái tên ‘Nguyễn Ái Quốc’ xuất hiện lần đầu tiên tại Paris là sôi động và đã gây ra không biết bao nhiêu tranh cãi, từ ấy cho đến bây giờ, vẫn chưa chấm dứt. Ai cũng biết, nói láo và bịa chuyện là bệnh nan y của người cọng sản, nhất là trong rừng sử sách của đảng, nhằm thần thánh hóa lãnh tụ ‘Hồ Chí Minh’. Gạt bỏ những huyền thoại của đảng viết về Bồi Ba, theo các nhà viết sử cho biết tới nay, họ vẫn còn rất mù mờ về giai đoạn của Nguyễn Tất Thành từ năm 1911-1919, ngoài ba chi tiết công khai: đó là Thành làm công trên tàu Latouche-Tréville của hãng Ðầu Ngựa, sống tại nước Anh thời đệ nhất thế chiến (1914-1918) và có mặt tại Pháp qua cái tên Nguyễn Ái Quốc trên . Người đã vậy, tên cũng vậy, do đó các nhà viết sử cận đại, cũng đành vậy, nghĩa là cứ cho rằng ngày 19-5 là ngày sinh của Nguyễn Tất Thành. Có như vậy, hằng năm thiên hạ mới có dịp ‘ đào mồ cuốc mã tên đại phản quốc ‘ để rửa hận cho quốc dân VN, nhất là trong giai đoạn ‘ quốc phá gia vong ‘ hiện tại, ngụy quyền cộng sản Hà Nội qua Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng .. đã công khai bán dân tộc và đất nước Việt cho Tàu đỏ.

+ Nguyễn Ái Quốc và nhóm Trinh-Trường-Truyền:

Trước khi Nguyễn Tất Thành xuất dương, thì Phan Chu Trinh và con là Phan Chu Dật mới 8 tuổi, đã tới Pháp ngày 1-4-1911 với trợ cấp của Chính Phủ Ðông Dương. Từ năm 1912, Phan Chu Trinh kết thân với Phan văn Trường đang theo học Tiến Sĩ Luật tại Paris, nên dọn về ngôi biệt thự của Trường tại số 6 đường Villa des Gobellins. Từ năm 1912, Hồ đã bắt được liên lạc với Phan Chu Trinh tại Pháp qua thư từ, vì hai người đã quen biết nhau từ ngày còn ở Việt Nam, nên Thành vẫn gọi Trinh là ‘Hy Mã Nghị Bá Ðại Nhân’.

Trong lúc đó tại Việt Nam từ năm 1911-1919, có nhiều biến cố thật quan trọng đã xảy ra. Trước hết là Ðề Thám, lãnh tụ cuối cùng trong phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi xướng xuất năm 1885, đã bị Lương Tam Kỳ giết chết ngày 10-2-1913. Cũng năm này, vào ngày 17-1 tại Huế, tên Khâm Sứ Trung Kỳ là Georger Mahé đã khai quật lăng vua Tự Ðức để cướp vàng bạc châu báu. Sự việc được báo chí như tờ Le Courrier d’ Haiphong và dư luận cả nước chống đối và nguyền rủa dữ dội bọn thực dân và đám quan lại Việt Nam bất lương vô liêm sĩ. Ngày 12-4, tại Thái Bình, các đảng viên Việt Nam Quang Phục Hội của Phan Bội Châu và Cường Ðể, đã ám sát tên Tuần Phủ chó săn Nguyễn Duy Hàn.

Những biến cố bi thảm trên, đã khiến cho Phan Chu Trinh bên Pháp cũng lên tiếng chỉ trích thực dân, kể luôn Toàn Quyền Ðông Dương là Sarraut , người đang cưu mang giúp đở cha con ông. Tại Trung Hoa, vì nhận tiền của Pháp nên Tổng Ðốc Lưỡng Quảng là Long Tế Quang đã bắt giam Phan Bội Châu và Mai Lão Bạng từ năm 1914 tới năm 1917 mới thả. Vì những biến cố đã xảy ra, ngay khi Ðức tuyên chiến với Pháp ngày 3-8-1914, nhà cầm quyền Ba Lê vin vào đó để bắt giữ và phân tán những yếu nhân trong Hội Ái Quốc Ðông Dương, do Trinh và Trường thành lập. Ngày 15-9-1914, Pháp bắt giam Phan Chu Trinh và Phan văn Trường tại ngục Santé mãi tới tháng 2-1916 mới phóng thích. Từ đó người Pháp cũng cắt đứt trợ cấp cho cha con ông, khiến lâm vào cảnh nghèo đói, nên cả hai mắc phải bệnh lao phổi nặng. Tháng 3-1921, Dật chết tại Bắc Kỳ.

Từ đầu năm 1919, đại chiến lần thứ 1 đã kết thúc trong sự bại trận của phe trục Ðức, Áo, Hung, Thổ và Bảo Gia Lợi. Kinh đô Paris của Pháp trở thành nơi tụ hội của các thế lực quốc tế. Tổng Thống Hoa Kỳ là Woodrow Wilson đưa ra chủ thuyết ‘Tự Tri’ và đề xuất việc thành lập Hội Quốc Liên, rất được các nước nhược tiểu ủng hộ.

Tại Nga, do Nga Hoàng Nicholas II (1894-1917), đứng về phe Ðồng Minh chống Ðức, nên nước này đã tích cực yểm trợ Nikolai V.I. Lenin (1870-1924) lật đổ vương triều. Ngày 7-11-1917, Lenin và Leon Trotsky đứng chung thành lập chế độ Bolshevik, hay còn gọi là cuộc Cách Mạng tháng mười, mở màn cho cảnh núi sông xương máu trong dòng lịch sử nhân loại, có cả Việt Nam, từ đó cho tới nay vẫn chưa chấm dứt. Tháng 3-1919 Lenin lập Ðệ Tam Quốc Tế Cọng Sản để xuất cảng chủ nghĩa vô thần, vô sản khắp năm châu.

Ðây là miếng mồi béo bở mà Lenin, trùm đỏ vừa mới nổi lên, dẫn dụ các dân tộc bị trị khắp Á Châu từ Trung Ðông, Ấn Ðộ, Trung Á, tới Trung Hoa và Ðông Dương, lũ lượt kéo về thánh địa Viện Thợ Thuyền Ðông Dương tại Mạc Tư Khoa, để học tập con đường cách mạng vô sản chuyên chính, đánh gục tư bản, tiến nhanh, tiến mạnh lên thiên đàng xã hội chủ nghĩa. Trong nước, nhiều cuộc bạo động chống Pháp kháp nước, quan trọng nhất là vụ khởi nghĩa của vua Duy Tân cùng các chí sĩ Thái Phiên, Trần Cao Vân tại Huế ngày 3/5/1916. Sau đó là cuộc biểu tình của Phan Xích Long tại Sài Gòn tháng 11-1916 và đặc biệt nhất là sự chiếm đóng tỉnh Thái Nguyên của Ðội Cấn, Lương Ngọc Quyến, Trần Trung Lập vào năm 1917 dù thất bại, nhưng vẫn mang nhiều khích lệ tới tuyệt đại dân chúng Việt Nam đang sống lầm than khổ ải dưới ách nô lệ của giặc Pháp.

Trong giai đoạn trăm hoa đua nở, Nguyễn Tất Thành bỗng nổi lên như cồn trong giới cách mạng vô sản Pháp, qua bản ‘thỉnh nguyện thư đòi nhân quyền’ năm 1919, ký tên Nguyễn Ái Quốc, mà công án tới nay đã quy cho Hồ là cướp công của ba nhân vật đã sáng tạo: Phan Chu Trinh, Phan văn Trường và Nguyễn Thế Truyền. Nội dung bản thỉnh nguyện gồm 8 điểm, do một nhóm người An Nam yêu nước chung viết, được tờ báo L’Humanité của đảng Xã Hội Pháp, đăng ngày 18-6-1919 với dụng ý chính trị, dù thực chất chẳng có gì đặc biệt, nếu đem so sánh với sự đòi hỏi người Pháp phải trao trả độc lập hay ít nhất để Việt Nam tự trị của Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể sống lưu vong và Vua Duy Tân đang bị cầm giam ngoài hải đảo.

Dù gì chăng nữa thì đây cũng là một cơ hội vàng ròng với Hồ, vì ít nhiều tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc, đại diện cho nhóm người An Nam yêu nước trên đất Pháp, cũng được nhóm người Việt qua Tây đánh Ðức, hồi hương mang về phổ biến trong dư luận lúc đó. Mặt khác, qua chiến thắng của đảng Bolchevik Nga, khiến đảng xã hội Pháp hầu như nghiêng về Ðệ Tam Quốc Tế, vô tình giúp anh thanh niên Nguyễn Tất Thành lúc đó, đang thất nghiệp phải sống nhờ vào sự giúp đỡ của Phan Chu Trinh, bỗng được các chính khách tả phái Pháp chú ý vì tính chất vô sản chuyên chính, nên đã giúp Hồ thoát cảnh chết đói, bằng cách cử ‘bác’ tới học ở Viện Thợ Thuyền Ðông Phương năm 1923. Từ đó Hồ qua bí danh Nguyễn Ái Quốc chính thức là một đảng viên của đệ tam quốc tế cộng sản.

+ Vụ Án Nguyễn Ái Quốc:

Về vụ án lịch sử Nguyễn Tất Thành biếm xưng tên gọi của nhóm Nguyễn Ái Quốc, khi Hồ sống tại Pháp từ 1911-1923, cũng đã được tranh cãi sôi nổi giữa cơ quan tuyên truyền của đảng và nguồn dư luận trong cũng như ngoài nưóc. Ðọc ‘Chủ tịch Hồ Chí Minh-tiểu sử và sự nghiệp’ do đảng ấn hành, tuyên bố là tất cả những bài viết và tranh vẽ trên báo Le Paria số 1, đều của Nguyễn Ái Quốc sáng tạo.

Ta biết tờ Le Paria hay ‘Người Cùng Khổ’ do Hội Liên Hiệp Thuộc Ðịa chủ trương, từ số 1 đến số 12 đều do J.B Meyrat làm quản lý. Các số khác từ số 13 về sau do G.Sarotte và Léopol Mesnard chịu trách nhiệm, đặc biệt số 1 ra ngày 1-4-1922 không có một bài nào của Nguyễn Ái Quốc. Vậy mà Ban Nghiên Cứu Lịch Sử của Trung Ương Ðảng VC, dám tuyên bố ‘bác’, tức là đồng chí Nguyễn Ái Quốc làm quản lý tờ báo này. Ngoài ra cũng trên tờ Le Paria, có nhiều bài viết hay tranh vẽ ký tên Nguyễn Le Patriote, là biệt danh của Nguyễn Thế Truyền và các sinh viên trong Hội Ái Quốc An Nam, thế nhưng Ðảng vẫn tỉnh bơ nhận bừa đó là sản phẩm của Nguyễn Ái Quốc.

Riềng bài viết ‘Lên Án Chủ Nghĩa Thực Dân’ được đánh giá là một tài liệu tranh đấu trác tuyệt về nội dung cũng như hình thức. Theo nhận xét, thì lúc đó các nhân vật đấu tranh sống ở Paris, chỉ có Luật Sư Tiến Sĩ Phan văn Trường và Kỹ Sư Nguyễn Thế Truyền mới có đủ khả năng Pháp ngữ cũng như tư tưởng nhận thức để viết được một bài văn tranh đấu nẩy lửa hùng biện như vậy. Còn Nguyễn Tất Thành mặc dù có sống giang hồ khắp nơi từ 1911-1922 nhưng dù sao trình độ học vấn cũng giới hạn, chỉ viết ba lá đơn xin nhập học mà còn phạm nhiều lỗi chánh tả và văn phạm, thì không thể nào là tác giả của kiệt tác trên. Phương chi, phóng đại vốn là nghề của đảng, tâng bốc để bác vang danh với đời lại càng thêm thần thông quảng đại hơn.

Bởi vậy ngày nay, trước những khám phá về việc hoàn toàn bịa đặt một Nguyễn Tất Thành, đại thiên tài, từ một anh thanh niên giáo viên quèn tại một trường làng mang tên Dục Thanh tói nổi nhiều người sinh đẽ tại chỗ cũng không biết đó là cái quỹ quái gì, một bồi Ba trên tàu viễn dương, đùng một cái nhảy phóc lên làm ông quản lý một tờ báo nổi tiếng, phát hành 5000 số một kỳ, lại còn kiêm thêm họa sĩ và nhà văn... cho tới khi ‘bác’ sang Nga và Tàu từ năm 1923, vậy mà vẫn cứ làm quản lý và viết bài cho báo này tại Pháp cho tới khi báo đình bản.

Tất cả đều do Trần Dân Tiên dựng đứng câu chuyện về Nguyễn Ái Quốc, để thần thánh hóa Hồ Chí Minh, mà cả ba tên đều là Nguyễn Tất Thành. Sự thật ngày nay cho biết, Nguyễn Ái Quốc là tên gọi chung của nhóm người viết trên tờ Người Cùng Khổ (Le Paria), gồm có Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và trong suốt 38 số báo ấn hành, không có một bài nào hay tranh vẽ của Nguyễn Tất Thành nhưng chàng đã láu cá nhận vơ cái tên chung của nhóm là Nguyễn Ái Quốc. Sau đó được cơ quan tuyên truyền của đảng CS hợp thức hoá ‘sáng lập và linh hồn hay quản lý báo’.

Chưa hết, căn cứ theo sử liệu ta biết từ năm 1923-1946, Hồ đã rời Paris đi Mạc Tư Khoa, Tàu. TRong thời gian đó, vào tháng 1/1926 tại Paris đã xuất hiện tờ Việt Nam Hồn bằng chữ quốc ngữ, thỉnh thoảng có các bài bằng Hán và Pháp Ngữ. Từ tháng 9-1929 lại đổi tên là Phục Quốc, do cơ quan ngôn luận của dảng Việt Nam Ðộc Lập tại Pháp ấn hành. Trong một vài số báo, có bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc. Sự kiện lịch sử minh bạch như vậy mà đảng vẫn thản nhiên viết là năm 1923, ‘bác’ tại Pháp trong khi thành lập tờ ‘Người Cùng khổ’ đã kiêm nhiệm thêm tờ ‘Việt Nam Hồn’. Những sự thật thì không ai có thể thêm bớt, bóp méo hay xuyên tạc được. Cho nên những lố lăng về huyền thoại Hồ Chí Minh, ngày nay rốt cục đã trở thành những trận cười trong dân gian, dù nó tồn tại hay bị sóng đời vùi dập.

+ Nguyễn Ái Quốc, điệp viên ngoại hạng của cộng sản quốc tế:

Ngày 15-10-1923, Nguyễn Ái Quốc đại diện cho đảng CS Pháp, tham dự Ðại Hội Nông Dân Quốc Tế, tổ chức tại Mạc Tư Khoa. Cũng kể từ đó, Hồ thoát xác thành một con người cọng sản quốc tế, chỉ biết phục vụ cho nền vô sản chuyên chính mà thôi. Ðể thưởng công, ngoài sự cho báo đảng đánh bóng tên tuổi, chính phủ Liên Xô còn cho Quốc ở lại phục vụ trong thánh địa Ðông Phương, một tổ chức mặt nổi là của Quốc tế Cọng Sản nhưng bên trong được Cơ Quan Tình Báo Nga (Intercenter Mainburo) bảo trợ. Theo tổ chức, Ban Phương Ðông lúc đó gồm ba khu vực: Miền Tây Trung Hoa, trụ sở tại Chita thuộc Mông Cổ. Miền Viễn Ðông có trụ sở tại Hải Sâm Uy, phụ trách các nước Mãn Châu, Cao Ly, Nhật Bản và Khu Ðông Nam trụ sở tại Thượng Hải, gồm miền Hoa Nam và các nước Ðông Nam Á đang là thuộc địa. Ngày 22-1-1924, Lénin chết, Nguyễn Ái Quốc đã làm thơ đăng trên tờ Pravda, khóc thương nức nở và thề trước linh cửu cha già quốc tế, là sẽ biến đau thương thành hành động. Hãy đọc bài thơ của Tố Hửu khóc cha non Staline, để biết được nổi bi thương cùng tận của ‘ bác ‘ lúc đó đối với cha già LêNin :

‘Stalin ! Stalin,
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng, con gọi Stalin
ông Stalin ôi. ông Stalin ôi,
Hỡi ôi ông mất, đất trời có không?
thương cha, thương mẹ, thương chồng
thương mình thương một, thương ông thương mười.’

(Ðời đời nhớ ông ,Tố Hữu).

Mặc dù tài liệu Ðảng dấu chuyện Hồ xuất thân từ trường Stalin nhưng mới đây thư khố Nga giải mật, bật mí cho ta biết là gần hết cán bộ cao cấp của đảng VC , trong đó có Nguyễn Ái Quốc, đều xuất phát từ lò ‘Viện Thợ Thuyền Ðông Phương’. Trường này được Lenin thành lập ngày 21-4-1921, để huấn luyện các cán bộ cọng sản vùng Châu Á, nên gọi là Viện Phương Ðông. Sau khi tốt nghiệp, những học viên sẽ trở thành cán bộ cách mạng vô sản chuyên chính về mặt lý thuyét cũng như hoạt động móc nối, tuyên truyền và thu thập tin tức từ quần chúng. Tháng 8-1924 Hồ được Ðệ Tam Cọng Sản Quốc Tế, phong chức ‘Uỷ Viên Ban Phương Ðông’, phụ trách Cục Phương Nam coi toàn vùng Ðông Nam Á. Ðể che mắt mật thám Tây Phương, Hồ trở thành ‘Lou’, đặc phái viên của hãng Thông Tấn Nga Rosta, kiêm thư ký, thông ngôn cho phái đoàn Borodin của Liên Xô, tại Quảng Châu, qua bí danh Lý Thụy.

Trước khi Hồ tới, Borodin đã móc nối được cả hai phe Trung Hoa Quốc Dân Ðảng của Tôn Văn, Tưởng Giới Thạch và Ðảng CS. Trung Hoa ngồi lại với nhau, dưới ảnh hưởng của Liên Xô. Do trên, có một số cán bộ cao cấp của Ðảng CS. Trung Hoa như Mao Trạch Ðông đã được bầu vào Ban Chấp Hành Trung Ương Quốc Dân Ðảng. Trường Võ Bị Hòang Phố, do Nga bảo trợ khai giảng ngày 15-6-1924 do Tưởng Giới Thạch làm Giám Ðốc, còn Chu Ân Lai phụ trách chính tri. Nhưng một biến cố cực kỳ quan trọng đã xảy ra tại Quảng Châu, trong buổi lể kỷ niệm lần thứ 13 cách mạng Tân Hợi (10-10-1911), làm nhiều người cả hai phe thương vong, đồng thời đã khiến Tôn Dật Tiên tỉnh mộng, nên ông bỏ lên Bắc Kinh để hợp bàn chuyện thống nhất đất nước và kêu gọi tình hữu nghị Hoa-Nhật, khiến Liên Xô thất vọng vì kế hoạch bị đổ vỡ nửa chừng.

Khi Lý Thụy, một tên mới của Nguyễn Tất Thành tới Quảng Châu, thì ở đây đã có nhiều người Việt sinh sống, phần lớn làm viêc trong Sa Ðiện tô giới Pháp, hai khu vực được ngăn cách bằng con sông Châu Giang. Nhờ các quan địa phương như Hồ Hán Dân rất có cảm tình với người Việt, nên đã giúp đỡ những chính khách lưu vong bị Pháp săn đuổi phải chạy sang Tàu trốn lánh như Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Thiện Thuật cho tới Phan Bội Châu. Theo Niên Biểu, thì Sào Nam và Cường Ðể đã lập Việt Nam Quang Phục Hội tại đây, trong đó có nhóm Tâm Tâm Xã của một số thanh niên Việt Nam yêu nước. Tâm Tâm Xã gồm 9 đảng viên, đa số là người Nghệ An, có học thức, chủ trương bạo động gồm Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Sơn. Mùa thu 1924, Phan Bội Châu và Nguyễn Hải Thần đã yêu cầu Tưởng Giới Thạch, lúc đó là Giám Ðốc trường Võ bị Hoàng Phố, thu nhận các sinh viên Việt Nam vào thụ huấn và được ông chấp thuận.

Do cảm tình và cũng nhận thấy giữa hai đảng cách mạng Việt Nam và Trung Hoa Dân Quốc lúc đó, đều có chung mục đích, đánh đuổi giặc xâm lăng ra khỏi đất nước mình, nên Phan Bội Châu đã đổi danh xưng Việt Nam Quang Phục Hội, thành Việt Nam Quốc Dân Ðảng và uỷ cho Hồ Tùng Mậu phổ biến trong nước. Ðây cũng là giai đoạn mà các sử gia dày công tìm kiếm về mối liên hệ giữa cụ Phan Bội Châu và Lý Thụy, dẫn tới nghi án Hồ Chí Minh cùng Lâm Ðức Thụ bán đứng Phan Bội Châu cho Pháp bắt tại tô giới Thương Hải năm 1925, mà sử liệu đã nhắc tới.

Theo niên biểu Phan Bội Châu, cho thấy Sào Nam có gặp Nguyễn Ái Quốc đôi ba lần và trùm cọng sản Lý Thụy đã nhắc cụ thay đổi đảng cương Việt Nam Quốc Dân Ðảng, thời gian khi Hồ ở Tàu cuối năm 1924. Cũng năm này, Phạm Hồng Thái, một đảng viên của Việt Nam Quang Phục Hội, nhân Toàn Quyền Ðông Dương là Martial Merlin (1923-1925), ghé Sa Diện, sau khi từ Nhật Bổn về Hà Nội. Phạm Hồng Thái đã giả làm một phóng viên nhà báo, mang bom vào tận phòng ăn cũa tên giặc Pháp, quyết giết kẻ xâm lăng nhưng bom nổ chỉ làm Merlin bị thương nhẹ, trong lúc có 4 tuỳ tùng chết và 4 người khác bị thương. Xong nhiệm vụ, người chiến sĩ thoát thân nhưng vì con sông Châu Giang trước mặt. Cuối cùng ông cũng đền xong nợ nước và sau đó được chính người Trung Hoa, trân trọng cho ông được nghìn thu bên cạnh 72 liệt sĩ trong cuộc cách mạng Tân Hợi 1911, trên Hoàng Thạch Cương, khói hương miên viễn. Tên thực dân thoát chết nhưng cũng vỡ mật lại càng căm hận người Việt Nam yêu nước, còn thế giới thì chấn động và kính phục cháu con Hồng Lạc, bất khuất anh hùng.

2. HUYỀN THOẠI NGUYỄN ÁI QUỐC CHẾT TRONG NHÀ TÙ HỒNG KÔNG (1932):

Cũng trong chuyện dài về Nguyễn Tất Thành-Hồ Chí Minh, huyền thoại đáng kể nhất là vụ Nguyễn Ái Quốc chết trong nhà tù Hồng Kông vào cuối năm 1932, vì nghiện thuốc phiện và bị bệnh lao. Vụ này trước sau, từ Hồ Chí Minh, Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp cho tới cơ quan tuyên truyền của VC, đều nói là do Pháp phao tin để làm hạ uy tín Hồ. Riêng vợ luật sư Frank Loseby, người được Cọng Sản Quốc Tế mướn để biện hộ cho Hồ, sau năm 1969 khi ‘bác’ chết, đã nói tin đó là có thật, và do chính chồng bà ta tung ra, để đánh lạc hướng mật thám Pháp.

Cuối cùng, theo các sử gia, việc Nguyễn Ái Quốc ‘giả chết’ đều theo ý Liên Xô, nhằm phục vụ nhu cầu chính trị. Với Nga, Nguyễn Ái Quốc chết mới có cơ hội đưa các cán bộ khác lên thay thế và gầy dựng lại đảng VC đã bị tan tác. Với Tây Phương, khai tử con người cọng sản quốc tế chuyên nghiệp, để một bí danh mới của Nguyễn Tất Thành là HỒ CHÍ MINH , đóng vai điệp viên tam trùng, đang cần thiết tại mặt trận Viễn Ðông sắp tới. Tất cả đều nằm trong vòng bí mật và có lẽ chẳng bao giờ tình báo Nga, chịu mở hồ sơ vụ trên, dù Hồ đã chết thật từ lâu rồi.

Nhưng mới đây báo chí Trung Cộng lại tung tin ‘ Việc Hồ Chí Minh ‘ chết trong nhà tù Hồng Kông là thật. Vì kể từ đó TC mới đem một người Tàu chánh hiệu vào ‘ thế vai ‘ của HCM, đồng thời còn cài thêm vài trăm người cùng bọn vào đảng , qua tên VN.. mà hậu quả ngày nay từ Trung Ương Ðảng xuống tới các Tỉnh Ủy, hầu hết đều là Tàu .. nên đâu có gì lạ trước việc CSVN đã chính thức bán nước cho giặc, hiện đã trở thành ‘ một tỉnh hay khu tự trị ‘ thuộc lảnh thổ Trung Hoa như Mãn Châu, Nội Mông, Tây Tạng và Tân Cương.

Nay qua dòng thế sự, góp nhặt những chuyện đời, để rồi tọc mạch kể lại cho thế gian vui. Nguyễn Du đã ôm bộ ngực gầy xương giữa trời lộng gió, trên đỉnh Hồng Lĩnh nhưng muôn đời sau, người ta vẫn tìm đến với thi nhân, để cùng cảm thông chung manh áo lạnh. Ðường vào lịch sử Hồng Lạc cũng vậy vì sự hưng thịnh, tồn vong, thảo khấu hay là chính thống, đều không qua khỏi những dòng chữ đá trên bia sử.

Cho nên ngày nay, ta đọc câu chuyện sử về người trăm mặt Nguyễn Tất Thành, cũng chẳng qua chỉ đọc lại những câu chuyện kể về vận nước, mệnh ngươi, khen chê, xưng tụng. Xuôi nam hay ngược bắc, trong gió ngàn bay, nhìn ra biển lộng, đâu đâu cũng thấy chiến thuyền của chúa Nguyễn căng buồm lướt sóng hay vó ngựa chân voi dồn dập của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ danh trấn non sông. Nhưng rồi ngao ngán biết bao, khi lạc đường vào lịch sử, để phải đọc những huyền thoại gian dối của ‘bác’, làm cho hồn vừa giận vừa cười.

Quả thật, trong dòng lịch sử VN, lôi hết những tên đại gian hùng giết vua phế chúa như Trần Thủ Ðộ, Hồ Quý Ly, Mạc Ðăng Dung, Trịnh Kiểm, Trương Phúc Loan, Phan Khắc Hoè.. đem so sánh, thì chỉ bằng một cọng râu lơ thơ của Hồ mà thôi. Cũng nhờ những câu chuyện về Nguyễn Ái Quốc giả chết hay sự bặt tin của Lý Thụy, mãi cho tới khi sắp mở màn thế chiến thứ hai, Nguyễn Tất Thành mới được tái sinh qua cái tên Hồ Chí Minh từ năm 1939 cho tới bây giờ, chung cuộc chỉ là một màn kịch, diễn về một con người tầm thường nhưng được nổi nhờ cơ duyên và sự phô trương vô tiền khoáng hậu.

Hiện nay các sử gia đều đặt nghi vấn, về câu hỏi là tại sao đồng loạt các cán bộ cao cấp của Ðông Dương Cong sản đảng từ Mạc Tu Khoa về, trong đó có Lê Hồng Phong tự dưng bị lộ, và kẻ chỉ điểm theo mật thám Pháp là một liên lạc người Hoa? Một điều khác cũng rất quan trọng, đó là tài chính dùng nuôi quân, nhưng Hồ đã ôm trọn khiến cho Hoàng văn Hoan, Vũ Anh và nhiều kẻ khác, đói đến độ phải nhờ vào người Quốc Gia mà sống.

Ðây cũng chỉ là một phần nhỏ, tóm lược về cuộc đời của Nguyễn Tất Thành, qua huyền thoại ‘xuất dương’ tìm đường cứu nước, một con người trăm tên, trăm mặt, thay đổi hình dạng và thủ đoạn chính trị, đâu có khác gì loài tắc kè xanh xanh đỏ đỏ. Ðó mới chính là ‘sự thật về cuộc đời Hồ Chí Minh‘, một chuyện dài không bao giờ kết thúc dù chế độ CSVN có bị giật xập..

Viết từ Xóm Cồn Hạ uy Di
Tháng 7-2009

Mường Giang

Hòa Hợp Hào Giải Với Cộng Sản - Mường Giang

    Hòa Hợp Hào Giải Với Cộng Sản,
    Lần Nào Người Việt Quốc Gia Cũng Thảm Bại
Mường Giang

Ngày 6 tháng 3 năm 1946. chiến hạm của Leclerc từ vịnh Hạ Long tiến vào bến Hải Phòng và một Hiệp Ðịnh Sơ Bộ đã được ký kết cùng ngày giữa Hồ Chí Minh và Sainteney, đã gây nên phản ứng dữ dội và lòng căm phẩn trong lòng dân chúng, vì thái độ đầu hàng thực dân Pháp của đảng Hồ. Ðồng lúc tại Nam Kỳ vào ngày 12-3-1946, tên thực dân Cédile lại tuyên bố ‘ Nam Kỳ’ không dính dáng gì tới VN qua Hiệp định trên. Tiếp theo lại đưa Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh lên làm Thủ tướng ‘ Nam Kỳ Quốc ‘ và ‘ Chính phủ tự trị ‘ vào ngày 1-6-1946. Sự kiện lịch sử trên đã làm cho cả nước phẩn uất, bừng phát phong trào kháng chiến mãnh liệt chống ‘ giặc Tây và Việt gian bán nước ‘ ngay tại Sài Gòn và khắp Nam phần.

Ðể chấm dứt các cuộc xung đột đang diễn ra khắp nơi, Pháp và Chính phủ Liên Hiệp VN đã mở các Hội nghị Ðà Lạt (16/4 - 11/5/46) và Fontainebleau (6/7 ố 12/8/46) nhưng đã thất bại. Vì thế hai phía phải ký một ‘ Tạm ước ‘ vào đêm 14-9-1946 gọi là thay thế kết quả hai Hiệp ước trên nhưng tình trạng chiến tranh vẫn tiếp diễn vì thực dân Pháp không bao giờ thực tâm muốn trao trả hòa bình và độc lập cho VN.

Cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1946 - 1954) bắt đầu ngày 19-12-1946 qua tiếng súng khai hỏa tại Hà Nội, giữa quân viễn chinh Pháp và toàn dân cả nước không phân biệt đảng phái, chiến đấu chung trong Mặt trận Việt Minh, sau khi chiến hạm Suffren đã nả đại pháo vào thành phố Hải Phòng đêm 23-11-46 làm cho hơn 6000 thường dân vô tội bị thương vong.

Ngày 5/6/48 qua thỏa hiệp Vịnh Hạ Long được ký kết giữa Bollaert - Bảo Dại, công nhận Quốc Gia VN do Cựu hoàng làm Quốc trưởng và Tướng Nguyễn Văn Xuân là Thủ tướng . LÁ CỜ VANG BA SỌC ÐỎ của QUỐC DÂN VN KHẮP BA KỲ, đã chính thức ra đời trong thời kỳ này và đồng hành với thân phận người Việt qua cuộc bể dâu vinh nhục, tới nay vẫn không hề thay đổi. Tháng Giêng 1950, Mao Trạch Ðông đã công nhận Hồ Chí Minh là chủ tịch nước VN Dân chủ Cộng hòa và bắt đầu viện trợ nhân vật lực cho Cộng sản Bắc Việt, qua bình phong Việt Minh. Cuộc nội chiến của người Việt hai phía QG và CS đã bắt đầu từ đó, qua sự dàn dựng giựt dây của Pháp và Trung Cộng.

Chiến tranh bùng nổ ác liệt khắp nước. Ngày 7-5-1954 căn cứ quân sự lớn nhất của Pháp tại lòng chảo Ðiện Biên Phủ, thuộc tỉnh Lai Châu giáp với biên giới Lào bị tan vỡ và tràn ngập, quân Pháp đầu hàng Việt Minh. Do đó một hội nghị về Ðông Dương được khai diễn tại Genève (Thụy Sĩ) vào ngày 8/5/1954 giữa các phe phái có liên hệ tới cuộc chiến VN.

Lúc 3 giờ 15 sáng ngày 21-7-1954 tại Ðiện Vạn Quốc ở Genève (trong lúc đồng hồ ở đây được vặn trở lại đúng 12 giờ khuya ngày 20-7-1954), các văn kiện của Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Ðông Dương được ký kết giữa Pháp-VN Dân chủ Cộng hòa (Hồ Chí Minh), Anh, Liên Xô và Trung Cộng. Hai phái đoàn Quốc Gia VN (Bảo Ðại) và Hoa Kỳ có tham dự nhưng không ký tên vào bất cứ một văn kiện nào của Hiệp định trên. Cuộc ngưng bắn chính thức bắt đầu lúc 8 giờ sáng ngày 27-7-1954 tại Bắc Việt, sau thời gian 7 năm 7 tháng 8 ngày. Theo điều (1) của Hiệp định thì một Khu phi quân sự tạm thời sẽ được thiết lập giữa hai giới tuyến Nam-Bắc. Ðó là con sông Bến Hải nằm ngay trên vỹ tuyến 17, có cây cầu Hiền Lương bắc ngang qua thuộc tỉnh Quảng Trị.

Ngay trong ngày Hội nghị 21/7/1954 tại Genève, Phái đoàn của Quốc Gia VN do bác sĩ Trần Văn Ðổ cầm đầu, đã gửi một bản Tuyên Cáo, trong đó đưa ra đề nghị nhằm thực hiện một cuộc đình chiến mà không cần phải phân chia nước Việt, dù đó chỉ là sự chia cắt tạm thời. Ðề nghị đó nhắm vào việc giải giới các lực lượng chiến đấu của hai bên, sau khi rút về khu vực đóng quân càng hẹp càng hay của mỗi bên ; và bằng sự thiết lập việc kiểm soát tạm thời của Liên Hiệp Quốc trên toàn lãnh thổ VN, trong thời gian chờ đợi tổng tuyển cử tự do về số phận của chính mình.

Nhưng Hội nghị đã bác bỏ mà không cứu xét đề nghị của VNCH, được các sử gia sau này đánh giá là độc nhất tôn trọng nguyện vọng và bảo toàn nguyên vẹn lảnh thổ của dân tộc VN. Hơn nữa trong cuộc chiến trên, ngoài lực lượng Pháp và Cộng Sản, còn có Quân Ðội VN và sự tham gia của toàn dân cả nước trong lực lượng kháng chiến Việt Minh, nên tất cả đều có quyền lợi như nhau trong khi tìm giải pháp quyết định số phận của đất nước và dân tộc mình.

Tóm lại Hội nghị Genève 1954 đều do bọn thực dân chủ chốt, nên chúng đã hấp tấp quyết định nhiều điều khoản gây tổn hại cho cho tương lai chính trị của dân tộc Việt. Ngoài ra Quốc Gia VN cũng cực lực phản đối Pháp trong việc tự ý quyết định ‘ Ngày tuyển cử tại VN ‘ một sự kiện không nằm trong quyền hạn của của một nước bị bại trận. Sau cùng phái đoàn VN đã long trọng phản đối Hiệp định Genève 1954 cũng như tuyên bố sẽ hoàn toàn tự do hành động, để bảo vệ quyền thiêng liêng của Dân tộc Việt trong công cuộc thực hiện ‘ Thống nhất, Ðộc lập và Tự do cho xứ sở ‘.

Riêng Phái đoàn Hoa Kỳ do Bedell Smith thống lãnh, trong ngày 21/7/1954 cũng đưa ra một Tuyên cáo đơn phương về lập trường như không dùng vũ lực để hăm dọa hay bắt buộc Hội nghị phải sửa đổi hoặc bãi bỏ các điều khoản đã ký kết. Nhưng Hoa Kỳ mong muốn các nước Việt, Mên, Lào được độc lập hoàn toàn với đầy đủ chủ quyền đối với thế giới, cũng như có quyền tự định đoạt tương lai của đất nước mình.

Nhưng đó cũng chỉ là lý thuyết, vì thực tế người Mỹ không bao giờ muốn cho Ðông Dương được hòa bình no ấm như các thuộc địa khác tại Á Châu vừa dành được độc lập, kể cả bán đảo Triều Tiên vừa trải qua một thế chiến kinh hoàng thảm khốc, từ ngày 25-6-50 tới 27-7-53 mới ký kết đình chiến. Vì VN đã nằm trong quỷ đạo chiến lược của Hoa Kỳ lúc đó, được coi như là một tiền đồn ngăn chận làn sóng đỏ từ Trung Cộng tràn xuống các đồng minh của Mỹ ở Ðông Nam Á. Do đó ngay khi Hiệp định Genève chưa ký kết, thì Hoa Kỳ đã đề cử Ðại tá Edward G.Landdale thuộc CIA cùng thuộc cấp tới Sài Gòn vào tháng 6-1954 để sửa soạn một cuộc chiến mới trong vùng mà Mỹ đã chuẩn bị trước qua việc thành lập Tổ chức Hiệp ước Liên phòng Ðông Nam Á (SEATO) vào ngày 8-9-1945.

Có thể nói niên lịch 8-7-1959 là thời gian đánh dấu sự mở đầu của cuộc chiến Ðông Dương lần thứ III (1960-1975) khi hai cố vấn Mỹ đầu tiên bị tử thương tại Nam VN. Tiếp theo là ‘ Biến cố vịnh Bắc Việt ‘ ngày 5-8-1964 khi hai khu trục hạm Mỹ là Maddox và Turner bị tàu tuần duyên Hà Nội tấn công. Do trên TT Hoa Kỳ lúc đó là Lyndon Johnson tức khắc ra lệnh trả đủa Hà Nội, đồng thời xin phép Quốc Hội đổ quân vào Nam VN để bảo vệ nền độc lập tự do cho VNCH. Ngày 8-2-1965 hai đại đội Thủy Quân Lục Chiến, là lực lượng chiến đấu đầu tiên của Hoa Kỳ đổ bộ lên hải cảng Ðà Nẳng. Từ đó cho tới ngày ký kết ngưng bắn lần thứ ba tại Ðông Dương (28-1-1973), qua các tài liệu được phổ biến có tới 56.227 quân nhân Mỹ bị tử thương tại chiến trường.

Rồi để kết thúc một cuộc chiến mà các sử gia đương thời gọi là ‘ vừa đánh vừa trói tay ‘ người Mỹ lại bí mật đi đêm với Bắc Việt suốt 5 năm, từ 21-3-1968 tới ngày ký kết ngưng bắn với CS Hà Nội, qua cái gọi là ‘ Hiệp định Paris 1973 ‘ thực chât là Hoa Kỳ bán đứng đồng minh của mình là VNCH cho khối Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế, để đổi lấy Sự hòa hoản và liên kết với Tàu đỏ vào năm 1972, chống lại đế quốc Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Kissinger qua vai trò ngoại trưởng và cố vấn an ninh quốc gia thời TT Richard Nixon, mới đây có viết ‘ The Kissinger Transcrips ‘ đã bật mí nhiều sự kiện lịch sử về mặt trận ngoại giao của Hoa Kỳ đối với Liên Xô và Trung Cộng, trong đó có cuộc đi đêm với Mao Trạch Ðông và Chu Ân Lai, mở đường cho chuyến viếng thăm Tàu của TT Richard Nixon năm 1972.

Tóm lại Hội nghị Genève tháng 7-1954 chia hai đất nước, làm hơn một triệu đồng bào bên kia vĩ tuyến 17 phải lìa bỏ quê hương trân quý và mồ mã tiên tổ ông bà, di cư vào Nam tìm tự do. Từ đó, Bắc Việt do Hồ Chí Minh lãnh đạo, công khai theo chế độ cọng sản và là chư hầu của Nga-Tàu. Miền Nam chọn chính thể Cọng Hòa. Tại miền Bắc, Hồ Chí Minh và đảng VC theo chân Mao Trạch Ðông, phóng tay phát động phong trào cải cách ruộng đất năm 1956, làm cho hằng vạn người dân vô tội tại miền bắc, bị đấu tố chết thảm thương, trong số này hầu hết đều có công với nước hay với đảng trong chín năm kháng chiến chống Pháp.

Trong phiên họp lần thứ 15 của Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng, khai diễn ở Hà Nội vào tháng 1-1959, Hồ Chí Minh công khai xé bỏ hiệp định Genève 1954, quyết định xâm lăng cường chiếm VNCH bằng vũ lực. Do ý đồ trên, nên đảng thành lập Lực Lượng Vũ Trang tại Miền Nam. Kế tiếp ngày 5-10-1960, đảng lại họp Ðại Hội 3 cũng tại Hà Nội, để thành lập Ðảng Bộ cọng sản Miền Nam, qua danh xưng “ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam “, làm cánh tay nối dài, vừa là bình phong, vừa tạo công cụ xâm lăng cho Bắc Việt. Từ đó Nguyễn Hữu Thọ được phong hàm chủ tịch Mặt Trận, mở đầu cuộc chiến nồi da xáo thịt, tàn sát đồng bào mình. Hàng chục ngàn cán binh bộ đội từ Bắc hồi kết về Nam. Con đường mòn giao liên cũ mở năm 1947, cũng được Võ Bẳm nối lại và trùng tu vào năm 1959. Ðó là thực chất của cái được gọi là ‘ Hiệp định đình chiến Genève 1954 ‘, vì độc lập và hòa bình, yêu nước VN là yêu nước xã hội chủ nghĩa cộng sản đệ tam quốc tế, mà tới nay đảng qua nghị quyết TƯ 7 KHÓA X nhóm họp ngày 17-7-2008 kiên trì theo đuổi.

Mười tám năm sau đó, vào giữa trưa ngày 30-3-1972, nhằm mùa lễ Phục sinh. Lợi dụng mọi người đang xem lễ, cầu nguyện trong những giờ phút thiêng liêng, như dịp Tết Mậu Thân 1968. Cọng sản Hà Nội, công khai vượt vùng phi quân sự, mở một cuộc tấn công ác liệt nhất , trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2 (1955-1975), vào khắp lãnh thổ VNCH. Chỉ riêng mặt trận giới tuyến, Hà Nội đã xử dụng một lực lượng quân sự vô cùng hùng hậu trên 40.000 người, gồm các sư đoàn chủ lực 304,308, năm trung đoàn biệt lập của B-5 là 126,31,246,270, đặc công, hai trung đoàn chiến xa mang số 203,204 gần 400 chiếc và năm trung đoàn pháo binh nặng. Tất cả đồng loạt vượt sông Bến Hải, tràn qua khu phi quân sự, pháo tập và tấn công biển người vào lãnh thổ VNCH tại tỉnh Quảng Trị.

Cả hai hiệp định chia cắt lảnh thổ Cao Ly và Việt Nam, đều do Liên Hiệp Quốc chủ xướng, được ký tại Postdam (7-1945) và Genève ( 20-7-1954). Tất cả những thảm họa chiến tranh, từ mấy chục năm qua trên bán đảo Ðông Dương và Triều Tiên, cũng đều do hai nước cọng sản Bắc Hàn và Bắc Việt gây nên, qua sự chỉ đạo của Nga-Tàu cùng khối xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên cũng có sự khác biệt, đó là ngay khi Bắc Hàn hùng hổ , lộng hành tràn qua vỹ tuyến 38, thì lập tức bị Mỹ và LHQ đánh đuổi trở lại bên kia giới tuyến. Nhưng đối với hành động ngang ngược của Bắc Việt thì lại khác, chẳng những không bị các nước đồng chủ tịch , tại hội nghi Genève 1954 phản đối , mà ngay cả tổ chức Liên Hiệp Quốc cũng im lặng. Còn Mỹ thì có gì để noí, khi Nixon và Kissiger đã quyết định bỏ chạy khỏi VN. Bởi vậy, Hà Nội càng hung hăng tàn bạo, táng tận lương tâm, pháo tập, trực xa, chém giết thẳng tay hàng vạn đồng bào vô tội, bị kẹt trong vùng lửa khói giao tranh, trên khắp các nẽo đường đất nước, mà kinh khiếp và tàn nhẫn nhất, chắc chắn không đâu có thể sánh nổi với đoạn đường chín cây số, từ quận Hải Lăng về Mỹ Chánh, thuộc tỉnh Quảng Trị.

Ngày 24-1-1973 toàn bộ các văn kiện được Mỹ và Bắc Việt (VNCH và MTGPMN chầu rìa) được ký kết và công bố vào ngày 27-1-1973 tại Hội nghị Paris với mục đích để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình VN. Theo đó, điều (2) của chương II về mục ‘ chấm dứt chiến sự , rút quân ‘ có ghi rõ ‘ một cuộc ngưng bắn sẽ được thực hiện trên khắp miền Nam VN kể từ 24 giờ (giờ GMT) ngày 27-1-1973 , tức 8 giờ sáng ngày 28-1-1973 giờ Sài Gòn.

Trong Hiệp định ngưng bắn kỳ này (1973) có một điểm bất thường là ‘ trong khi Hoa Kỳ cam kết từ ngày giờ nói trên, là sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự tại lãnh thổ Bắc Việt . Quân đội Hoa Kỳ và Ðồng Minh rút quân về nước NHƯNG bộ đội Bắc Việt đang xâm lăng Miền Nam, thì được Mỹ chấp thuận ở nguyên vị trí tại lảnh thổ VNCH mà Hiệp định Genève 1954 đã công nhận.

Và rồi ngay lúc Kissinger cùng Lê Ðức Thọ còn đang cụng ly tại Ba Lê, thì khắp lãnh thổ VNCH, bộ đội của CSBV nhờ Mỹ hợp thức hóa cho công khai hiện diện qua Hiệp định Ba Lê tháng 1-1973, đồng loạt tấn công dành dân chiếm đất tại Hồng Ngự (Kiến Phong), Bình Thuận, Cửa Việt (Quảng Trị), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi)..

Cũng từ ngày ngưng bắn có hiệu lực (27-1-1973), chỉ riêng trong tháng 4-1973 đã có 75.000 cán binh bộ đội CS Hà Nội xâm nhập Miền Nam với 500 chiến xa đủ loại, 13 trung đoàn pháo và một tiểu đoàn hỏa tiển Ðịa Không. Chiến tranh lại tái diễn vô cùng ác liệt hơn trước và VNCH đơn độc tiếp tục cuộc chiến chống xâm lược cho tới trưa ngày 30-4-1975 vì tuân hành theo kỷ luật quân dội qua lệnh đầu hàng của TT Dương Văn Minh, nên CSBV mới chiếm được Miền Nam một cách dễ dàng.

Tất cả đều là một vở kịch, mà khởi đầu vào ngày 8-11-1960 Kennedy đảng Dân Chủ đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ, mở đầu chính sách can dự vào chiến tranh VN. Tháng 11-1969 TT Richard Nixon loan báo chương trình ‘ VN hóa chiến tranh ‘.Ngày 17-6-1972 Nixon tuyên bố rút quân, chấm dứt tham chiến tại VN. Từ trưa 29-4-1975 tới sáng 30-4-1975, tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn bỏ chạy trên nóc nhà bằng trực thăng, chấm dứt sự hiện diện của Mỹ tại Ðông Dương từ thập niện 40.

Nhưng Mỹ đi rồi Mỹ lại về. Từ 23-25/6/2008 qua chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của thủ tướng VC Nguyễn Tấn Dũng. Hai phía Mỹ-CSVN đã ký một thông cáo chung tại Hoa Thịnh Ðốn. Và dù Mỹ đã tuyên bố rằng ‘ Hoa Kỳ sẽ ủng hộ chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của VN ‘.Sau đó được GS Frederick Brown của Viện Ðại học Johns Hopkins phụ họa ‘ Ðây là lời khẳng định của chính sách Hoa Kỳ tại Á Châu Thái Bình Dương, được TT Mỹ diễn đạt, chứ không phải vô duyên vô cớ mà phát ngôn ‘.Nhưng tất cả chỉ là lời nói suông như trước đó TT Nixon cũng đã từng hứa hẹn với VNCH. Và hứa rồi cũng chỉ là nước bọt mà thôi.

Do đó sẽ không lạ qua lời tuyên bố của Scot Marciel , phụ tá ngoại trưởng Hoa Kỳ hiện là đại sứ Mỹ tại khối ASEAN, được thông tấn xã AFP phổ biến ‘ Ba năm sau khi mở lại quan hệ quân sự toàn diện với Indonesia.. Hoa Kỳ đã khởi sự phát triển những quan hệ tương tự với VN, Lào và Kampuchia ‘.Rồi để tỏ cho thế giới biết về sự quyết tâm và trách nhiệm của Hoa Kỳ về vấn đề an ninh trong vùng, nên chính Ðô đốc Timthy J. Keating tư lệnh biển Thái Bình và Ấn Ðộ Dương trên tờ Financial Times , đã báo động về sự tranh giành các tài nguyên năng lượng trong vùng biển Ðông ‘ ..

Ðể trả lời, ngày chủ nhật 20-7-2008 Trung Cộng một lần nữa công khai đòi công ty Exxon-Mobil của Hoa Kỳ phải hủy bỏ giao kèo hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí, trong chủ quyền lảnh hải và thềm lục địa của VN tại Ðông Hải. Tin này được đài BBC loan tải. Năm ngoái vào tháng 6-2007 Tàu đỏ cũng bá quyền áp lực với công ty BP của Anh, phải hủy bỏ giao kèo hợp tác với VN. Ngoài ra theo GS Carl Thayer của Học Viện Quốc Phòng Úc, thì hiện Tàu Ðỏ đã mở chiến dịch đánh phá VN khắp thế giới, qua các tòa đại sự TC, gần như cấm các nước không được hợp tác khai thác dầu mỏ tại Biển Ðông với Hà Nội.

Tới nay đâu có ai quên được sự bội bạc của người Mỹ đối với ba nước Ðông Dương (VNCH, Lào và Kampuchia). Người Mỹ tới đây để gây nên một cuộc chiến đầy đau khổ cho dân bản địa. Sau đó bỏ chạy vào những ngày cuối tháng 4-1975 để lại một kết cục cay đắng ‘ nhà tan mát nước ‘ cho các dân tộc phải chịu nô lệ trong ngục tù chủ nghĩa cộng sản.

Nay trước sự kiện Trung Cộng gần như công khai tiến về phương Nam, chiếm hết tài nguyên trên biển Ðông và khống chế toàn diện thủy lộ Thái Bình Dương. Hoa Kỳ lại tuyên bố hợp tác với các nước Ðông Dương, để bảo vệ sự vẹn toàn lảnh thổ cho họ. Nếu đây là một sư thật thì các nước trên đã được cứu, chỉ sợ người Mỹ lại lợi dụng đảng CSVN như từng làm với VNCH, trong sứ mạng ‘ Tiền đồn ngăn Tàu đỏ ‘ trong giai đoạn. Rồi bỏ chạy mặc cho Dân Tộc VN đơn độc chống Tàu như Liên Xô đã làm với CS Bắc Việt năm 1979 qua cuộc chiến Việt-Trung tại biên giới.

Cuộc chiến Ðông Dương lần thứ ba 1955-1975 kết thúc là thế đó, hơn 60.000 quân nhân Mỹ và Ðồng Minh bỏ mạng, nhiều người khác bị thương, một trăm năm mươi tỷ mỹ kim tiền thuế của dân chúng Mỹ , đổi lấy sự sụp đổ của VNCH bằng một hiệp định chẳng danh dự, do chính Kissinger đạt được. Trưa 30-4-1975 tên phản tặc nằm vùng VC Trịnh Công Sơn lên đài phát thanh Sài Gòn ngạo nghễ đòi ‘ Nối Vòng Tay Lớn :

‘ .. Rừng núi dang tay nối lại biển xa
ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà
từ bắc vô nam nối liền nắm tay.. ’ ’ ’

Từ khi đảng VC ra đời tới nay gần 80 năm, đã có không biết bao nhiêu lần Người Việt Quốc Gia chịu hòa hợp hòa giải với địch nhưng lần nào cũng vậy, người Việt QG cũng đều chuốc lấy thảm bại vì tâm tư của họ quá nhân từ, quân tử và lúc nào cũng thật tâm yêu nước, yêu dân .. nên đâu ai muốn gây cảnh nồi da xáo thịt, một điều chỉ có Việt Gian Cộng Sản mới dám làm, mà ai cũng đã thấy suốt thời gian qua.

Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 7-2009

Mường Giang

Trông người Uyghur nghĩ đến mình - Ngô Nhân Dụng

Ngô Nhân Dụng

Ðọc những bản tin về xung đột chủng tộc ở Urumqi, thủ phủ khu tự trị Tân Cương trong mấy ngày qua, người Việt Nam, nhất là người dân Hà Nội phải tưởng nhớ và biết ơn tổ tiên mình. Phải tới Ðền Ngọc Sơn thắp hương tạ ơn Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn, nhân đó cũng tạ ơn những Trưng Nữ Vương, Triệu Thị Trinh, cho tới Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Dương Diên Nghệ, Ngô Quyền. Nếu không có những vị anh hùng liệt nữ đó, chắc số phận dân Việt mình cũng không khác gì người Uyghur đang sống trong quê hương của họ.

Người Uyghur, báo chí tiếng Anh cũng viết là Uighur, người Trung Hoa phiên âm mà người Việt đọc là “Duy Ngô Nhĩ,” thuộc giống dân Thổ (Turk) đã sống chung với nhiều sắc dân Trung Á trong vùng này. Cùng thời gian đó người Việt sống ở châu thổ sông Hồng, sông Mã. Khi quân Hán sang chiếm nước Nam Việt ở Quảng Ðông hơn một trăm năm trước Công Nguyên và chiếm cả đất nước của Hùng Vương ta thì một cánh quân Hán khác cũng đánh bại đế quốc Hung Nô và tiến chiếm vùng đất sống của người Uyghur. Nhà Hán lập An Thành Ðô Hộ Phủ cai trị vùng này, còn người Việt thì được nhập vào đế quốc nhà Hán, đặt thành châu, quận, suýt nữa đã bị Hán hóa.

Vào đời Ðường, từ đầu thế kỷ thứ bảy, vùng Tân Cương, Thanh Hải được đổi tên là An Tây Ðô Hộ Phủ cũng giống như An Nam Ðô Hộ Phủ cai trị người Việt lúc đó. Vào giữa thế kỷ thứ tám, khi người Tây Tạng tấn công đến tận kinh đô Tràng An năm 763 thì “nhân lúc bên Tầu có loạn” người Uyghur cũng nổi lên lập quyền tự trị. Tiếp theo đó nhiều thế kỷ các đại hãn gốc Uyghur, Mông Cổ rồi Khiết Ðan (từ Mãn Châu) thay phiên nhau cai trị. Trong cùng thời gian đó ở nước ta, mỗi lần “nhân lúc bên Tầu có loạn” dân Việt Nam lại cùng các thủ lãnh địa phương, và đôi khi cùng quan cai trị người gốc Hán, cũng nổi lên tự lập. Những vị anh hùng từ Phùng Hưng đến Dương Diên Nghệ đã “tiếp lửa” giữ nóng tinh thần độc lập của dân tộc, nhờ thế những thế hệ sau Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, cùng toàn dân bảo vệ được giang sơn.

Khi Trần Thái Tông, Nhân Tông, và Trần Quốc Tuấn lãnh đạo dân Việt chống cự cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ (1284-1288) thì người Uyghur bắt đầu bị đế quốc Mông Cổ cai trị từ năm 1218. Sau khi nhà Nguyên đổ, vùng này đặt dưới quyền những đại hãn thuộc các nhóm người Trung Á theo Hồi Giáo, cho tới thế kỷ 18 bị nhà Thanh chiếm, dần dần họ chính thức sáp nhập thành tỉnh Tân Cương (Cương giới mới, theo quan điểm người Hán). Giữa thế kỷ 19 khi nhà Thanh bị các nước Tây phương bắt nạt thì người Uyghur và người Hồi trong tỉnh Tân Cương đã nổi lên giành độc lập nhưng không được lâu. Năm 1933 dân Uyghur lại nổi lên thành lập Cộng Hòa Ðông Thổ “East Turkestan” hoặc “Uyghuristan.” Quốc gia này chết đi sống lại, cho đến năm 1949 thì bị Hồng quân Trung Hoa chiếm lãnh hoàn toàn.

Người Việt may mắn hơn dân Uyghur, đã giữ được độc lập suốt từ thế kỷ 13, nhờ toàn dân theo những vị anh hùng như Lê Lợi, Nguyễn Huệ cùng kháng cự tham vọng bành trướng của người Hán. Nếu không, thì bây giờ dân Việt có thể chỉ là một sắc dân thiểu số ngay trên đất nước mình, có thể đã biến thành một tỉnh thuộc nước Trung Hoa!

Tại Tây Tạng và Tân Cương, hai “khu tự trị” lớn rộng bằng một phần tư Trung Quốc, các sắc dân cố thổ ở đó giờ đây đã trở thành những sắc tộc nhỏ trong một nước hơn một tỷ người. Ở Tây Tạng, kể từ khi Cộng Sản cai trị họ đã đem người Hán di dân tới từ năm 1950, sau hơn nửa thế kỷ bây giờ số dân Tây Tạng ít hơn người Hán. Tại Tân Cương, người Uyghur còn chiếm đa số, 45% trong số 20 triệu dân trong tỉnh, và người Hán di dân chỉ chiếm dưới 40% (năm 1949 chỉ có 6% dân là người Hán). Nhưng dân Uyghur đã bị áp lực đồng hóa và đối xử phân biệt từ nửa thế kỷ nay. Tuy gọi là các “khu tự trị” nhưng các vùng của người thiểu số này bị chính quyền trung ương ở Bắc Kinh cai trị trực tiếp một cách khắt khe hơn những tỉnh khác trong nước Trung Hoa. Những cuộc biểu tình của nông dân Trung Hoa tại các tỉnh khác không bị đàn áp đẫm máu như tại Tây Tạng hoặc Tân Cương. Vị “tỉnh trưởng” Tân Cương là người Uyghur nhưng người mạnh nhất đảng Cộng Sản ở đây là Vương Lạc Tuyền (Wang Lequan), cũng là một thành viên Bộ Chính Trị, và Bí Thư Lật Trí (Li Zhi) đều là người Hán và họ mới nắm quyền hành tối hậu.

Cuộc nổi dậy và bạo loạn tại thủ phủ Urumqi trong mấy ngày vừa qua là biểu hiện những uất ức của người Uyghur chồng chất từ khi bị Cộng Sản Trung Quốc chiếm đóng. Có một hố sâu phân cách giữa mức sống của người Hán di dân và người Uyghur cũng như các sắc tộc bản thổ khác. Từ hai chục năm qua, tức là sau khi Cộng Sản Trung Quốc bắt đầu đổi mới kinh tế, thì họ cũng bắt đầu mở những đợt di dân ào ạt vào Tân Cương, hiện nay người Hán chiếm hơn 75% dân số trong thủ phủ Urumqi. Người Hán giữ guồng máy hành chánh, chỉ huy quân đội, họ làm chủ các cơ sở thương mại, làm công nhân những công trường xây cất và hầm mỏ, trong khi người Uyghur vẫn theo các nghề nghiệp cổ truyền.

Chính sách đồng hóa của chính quyền Trung Cộng được đội lốt dưới ý thức hệ Cộng Sản. Họ ép người dân Uyghur bỏ các phong tục Hồi Giáo cổ truyền để theo “nếp sống văn minh” của chủ nghĩa Cộng Sản, đặc biệt là Cộng Sản Trung Hoa. Có lúc các phụ nữ người Uyghur bị cấm không được che tóc và mặt theo tín ngưỡng Hồi Giáo. Trẻ em không được học tiếng Uyghur mà phải học tiếng Phổ thông của người Hán. Cộng Sản Trung Quốc đã phổ biến những bài ca như Ðông Phương Hồng, những điệu nhảy “nông tác vũ,” bên ngoài là ca ngợi chế độ Cộng Sản, bên trong là âm mưu đồng hóa một sắc dân. Có nhà thờ Hồi Giáo bị biến thành trụ sở công cộng, cũng giống như các chùa và nhà thờ ở Việt Nam đã bị sung công trong thời Cộng Sản Việt Nam tập thể hóa nông nghiệp theo mẫu của Mao Trạch Ðông. Ở Tân Cương, đây là một thứ “diễn biến hòa bình” triệt để, dùng chủ nghĩa Cộng Sản để tiêu diệt bản sắc của các giống dân thiểu số chung quanh nước Trung Hoa.

Cuộc nổi dậy vừa qua bắt đầu với một cuộc biểu tình ôn hòa của người Uyghur trong thủ phủ Urumqi. Họ chỉ yêu cầu chính quyền địa phương, mà người đứng đầu Nur Bekri (Bạch Khắc Lực theo chữ Hán) là một người Uyghur, phải ra giải thích cho dân hiểu về vụ hai công nhân người Uyghur đã bị đánh chết trong một cuộc đụng độ với người Hán ở Quảng Ðông, vào ngày 25 Tháng Sáu trước. Họ chỉ yêu cầu mở cuộc điều tra chứ không đòi hỏi gì hơn. Có thể nói, cuộc biểu tình này tự nó cũng chỉ có mấy trăm người, rất ôn hòa, cũng giống như những đoàn “dân oan” người Việt đã kéo lên Hà Nội. Tại các tỉnh khác ở Trung Quốc đã có những cuộc biểu tình hàng chục ngàn nông dân chống chính quyền. Tại Urumqi, người Uyghur là thiểu số, họ sống trong những khu nghèo nhất phía Nam thành phố, trước đây các vụ nổi dậy thường xảy ra ở những thành phố khác. Nhưng lần này chính quyền Cộng Sản đã không đáp ứng. Hiện chưa ai biết tại sao cuộc biểu tình đó đã biến thành bạo động, nhưng có nhiều phần vì cảnh sát, công an đã đàn áp tàn bạo quá khiến người dân phẫn uất. Họ đi đập phá các cửa hàng của người Hán và đánh người Hán. Theo tin của chính phủ Bắc Kinh có 156 người chết trong ngày Chủ Nhật vừa qua, nhưng họ không biết bao nhiều người là người Hán, bao nhiêu là người Uyghur. Có thể phần lớn là người Uyghur bị công an bắn chết.

Hai ngày sau, đến lượt người Hán trong thành phố biểu tình bạo động trả đũa người Uyghur, và đám cảnh sát, công an của chế độ chờ rất lâu mới can thiệp. Không biết có bao nhiêu người chết. Hồ Cẩm Ðào đang ở Ý để dự Hội nghị kinh tế G-20 phải bỏ về nước. Ðiều này cho thấy tình hình rất trầm trọng, vì xưa nay các lãnh tụ Trung Cộng không bao giờ để mất thể diện dễ dàng và công khai như vậy. Hồ Cẩm Ðào là người đã đứng đầu khu Tự Trị Tây Tạng và ra lệnh đàn áp cuộc nổi dậy năm 1989.

Chính quyền Bắc Kinh đã trút hết tội lên một người Uyghur lưu vong là bà Rebiya Kadeer. Bà vốn là một doanh gia người Uyghur có ảnh hưởng lớn ở Tân Cương, cho tới khi bà bị bắt bỏ tù 5 năm vì có tư tưởng chống chính sách bành trướng và đồng hóa của người Hán. Vì cả thế giới can thiệp nên Bắc Kinh trả tự do cho bà, sau đó bà di cư sang Mỹ năm 2005. Bà đã từng được Tổng Thống George W. Bush tiếp kiến, để bà giải thích những cuộc nổi dậy của người Uyghur không liên quan gì tới phong trào khủng bố al Qaeda như chính quyền Bắc Kinh gán ghép. Có 22 người Uyghur bị bắt ở Afghanistan và bị giam ở trại Guantanamo. Một số người được phóng thích bị chính phủ Bắc Kinh đòi trục xuất về Trung Quốc, nhưng chính phủ Mỹ đã đưa họ tới những nước khác chịu tiếp nhận họ.

Ngày hôm qua Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đã ra lệnh tái lập trật tự ở Tân Cương bằng mọi giá. Tân Cương là một vùng có giá trị chiến lược, nằm sát biên thùy những nước Nga, Iran, Afghanistan, nhất là các nước Trung Á cùng theo Hồi Giáo và ngôn ngữ và chủng tộc liên hệ với người Uyghur. Ðây là một điểm chính trên con Ðường Tơ Lụa nối Trung Quốc sang vùng Trung Ðông và Ðịa Trung Hải. Tỉnh này cũng có nhiều mỏ dầu, khí, và sẽ là con đường vận chuyển chính của những ống dẫn dầu, khí từ các nước Trung Á sang Trung Quốc, và có thể kéo dài qua Nhật Bản. Cho nên chính quyền Cộng Sản Trung Quốc phải dẹp yên những vụ rối loạn.

Ðiều tội nghiệp cho người dân Uyghur là họ chỉ đòi hỏi những điều rất giản dị trong cuộc biểu tình vừa qua: Xin điều tra vụ 2 đồng bào của họ bị giết ở Quảng Ðông. Bây giờ có hàng trăm người đã chết, hàng ngàn người bị bắt. Và mối hận thù giữa người Hán và người Uyghur sẽ còn kéo dài, không biết đến bao giờ. Những thường dân vô tội đó, thuộc cả hai bên, đều là những nạn nhân của một chế độ độc tài quen thói đàn áp, bắt nạt dân. Nếu người dân Trung Quốc, cả người Hán lẫn người Uyghur, được chính quyền tôn trọng hơn, thì sẽ khác. Trong các xã hội tự do dân chủ có rất nhiều con đường để giải quyết những xung đột quyền lợi và giải tỏa những khác biệt về văn hóa. Nếu báo chí được tự do thì những xung khắc đều có thể được phơi bầy, thảo luận, giải thích. Nếu dân được tự do bỏ phiếu thì họ sẽ chọn người cầm quyền có uy tín để hóa giải các xung khắc. Trong một chế độ độc tài thì những xung đột nhỏ cũng có thể biến thành bạo động lớn.

Cuối cùng, lại phải nói người Việt mình may mắn. Nếu không giữ được quyền tự chủ từ hai ngàn năm qua thì bây giờ nước mình cũng chỉ là một “khu tự trị” của nước Ðại Hán. Và không biết trong khu tự trị đó thì người gốc Việt sẽ bị đối xử ra sao! Hiện nay cũng có một phong trào di dân của các công nhân Trung Quốc sang Việt Nam; họ cũng tập họp thành những làng riêng biệt, họ làm công nhân ở các hầm mỏ và các công trường xây dựng giống như ở Tân Cương. Trong nửa thế kỷ, số dân Hán ở Tân Cương đã tăng từ 6% lên 40%, chưa kể các quân nhân đồn trú và gia đình họ. Năm chục năm nữa thì ở Việt Nam sẽ có bao nhiêu người Trung Quốc? Trung Quốc hiện nay có trên 20 triệu thanh niên không thể kiếm được vợ vì thiếu phụ nữ. Bao nhiêu người trong số được đang tình nguyện sang làm việc ở Việt Nam?

Trong người lại nghĩ đến ta, sau 2000 năm kinh nghiệm người Việt vẫn cứ phải “cẩn trọng!”

Ngô Nhân Dụng

Khu tự trị Tân Cương chìm trong bạo lực

Những người nổi loạn tại khu tự trị Tân Cương, tây bắc Trung Quốc, đã đập phá cửa hiệu, đốt phá xe cộ và đụng độ với lực lượng an ninh, khiến 140 người chết và hơn 800 người bị thương.



Tới sáng nay, trật tự đã được vãn hồi một phần tại thành phố Urumqi,
thủ phủ khu tự trị Tân Cương nhưng căng thẳng trên đường phố vẫn còn. Ảnh: BBC.


Cảnh sát được triển khai trên đường phố sáng nay. Ảnh: BBC.


Những người biểu tình đã lật và đốt xe. Họ còn mang theo gạch đá,
dao và gậy gộc để chống lại lực lượng an ninh. Ảnh: BBC.


Lực lượng cảnh sát thắt chặt an ninh trên các đường phố của Urumqi. Ảnh: BBC.


Một cửa hiệu ở Urumqi bị đập phá trong cơn bạo động. Ảnh: AP.


Hai phụ nữ bị thương trong cuộc nổi loạn ở Urumqi đêm qua và sáng nay. Ảnh: AFP.


Nhân viên cứu hỏa đang dập chiếc xe buýt bị đốt cháy. Ảnh: Xinhua.


Một cửa hiệu bị những kẻ bạo loạn phá hoại. Ảnh: Xinhua.


Các nhân viên y tế đưa một người bị thương đi cấp cứu. Ảnh: Xinhua.


Người biểu tình lật nhào một chiếc xe trên phố. Ảnh: Reuters.