Thursday, June 4, 2009

Trần Thanh Lý Và Tình (6) - Bảo Quốc Kiếm

Bảo quốc Kiếm

Chúng ta tiếp tục tìm hiểu những luận điểm của những người, những nhóm chính trị của họ Hứa và Trần Thanh xem sao. Xin cùng đọc và suy nghĩ đoạn "văn ông Trời" trong bài "Nhận định ..." của Trần Thanh sau đây:

"Ðã chấp nhận đấu tranh thì phải chấp nhận có đổ máu, chấp nhận bị bắt bớ tù đàỵ Và hành động đấu tranh, ý chí đấu tranh phải được thể hiện công khai bên ngoài xã hội để biểu dương khí thế đấu tranh và khí thế này sẽ ảnh hưởng, lan truyền sâu rộng trong toàn dân, tạo thành làn sóng cộng hưởng trên quy mô toàn quốc. Tối thiểu phải được tổ chức công khai và thể hiện một cách khôn ngoan như những cuộc đấu tranh của các giáo dân thuộc giáo sứ Hà Nội và Thái Hà Tự Do phải được đánh đổi bằng máu, chắc chắn không thể bằng quỳ lạy van xin như trong Lời Kêu Gọi của ông Quảng Ðộ ...

Hình thức "biểu tình trùm mền" nằm ở nhà, chỉ là một trò hề, không tạo được một ảnh hưởng nào hết. Công nhân hay nông dân tự động bỏ việc thì sẽ bị mất việc và bị đói. Bọn giặc sẽ lấy cớ đó là những người vô kỷ luật và sa thải họ".

Chỉ 183 chữ, mà Tiến sỹ họ Trần đã làm cho chúng ta choáng váng mặt mày. Ðọc câu đầu thì sao Trần Thanh giống "anh hùng rơm Nguyễn văn Tám" của CSBV. Thế rồi đọc câu cuối lại lòi cái đuôi của "anh hùng rởm Trần thanh Chín" của đảng Hứa vạn Thọ mất tiêu. Chui choa, lý thuyết gia này quả thật tài tình không ai sánh kịp ! Từ nơi đỉnh cao trí tuệ: "Ðã chấp nhận đấu tranh thì phải chấp nhận có đổ máu, chấp nhận bắt bớ tù đày"; nó rơi rụng tại "tụ điểm điếm đàng nhà thổ Hứa vạn Thọ": "Công nhân hay nông dân tự động bỏ việc thì sẽ bị mất việc và bị đói ... và sa thải họ".

Rứa mà cũng noái được chơ hè ? Không biết ông Nguyễn phúc Liên để cái "váy đụp" ở đâu mà không cho nó bay lượn trên thượng đỉnh cao sơn Trần Thanh một chút cho vui nhỉ ? Chỉ Ðói, chỉ Mất việc, chỉ sợ Sa thải ... không thôi, thì đã đạp quần mà trốn, thế mà oang oang cái mỏ "chấp nhận đổ máu, tù đày", là cái con mẹ gì ? Một hạt cơm rơi mất đã "chảy tràn lệ thắm", mà còn nói "chấp nhận đổ máu" được sao ? Toàn là láo khoét. Chưa biết LẬT, BÒ, mà đòi đi NHẢY ÐẦM, mới là lạ nhỉ ? Ðúng là Trần Thanh đã trở thành TRẦN TRUỒNG, VÔ LIÊM SỈ ! Chỉ một việc "bất tuân dân sự, biểu tình tại gia", nghĩa là tạm quên quyền lợi vật chất cá nhân, gia đình của mình để nói lên một cách thầm lặng sự PHẢN ÐỐI NGUỴ QUYỀ N CỘNG SẢN, mà chưa dám làm, thế thì làm sao "xuống đường biểu tình" cho được hả ? Hay nói một cách mỉa mai như Trần Thanh thì "biểu tình trùm mền" còn chưa dám, huống chi nói chuyện tù đày, đổ máu ???

Khi Trần Thanh lý luận rằng; "hành động đấu tranh, ý chí đấu tranh phải được thể hiện công khai bên ngoài xã hội để biểu dương khí thế đấu tranh và khí thế này sẽ ảnh hưởng, lan truyền sâu rộng trong toàn dân, tạo thành làn sóng cộng hưởng trên quy mô toàn quốc", Trần Thanh có nghĩ rằng, nếu toàn dân đình công bãi thị, tức "bất tuân dân sự, biểu tình tại gia" thì cả nước, cả thế giới có biết hay không, nó có công khai hay không, nó có biểu dương khí thế hay không, nó có ảnh hưởng hay không, nó có cộng hưởng hay không, nó có lan truyền hay không, nó có tạo thành làn sóng hay không, nó có can đảm hay không, nó có thành công hay không ?

Với tôi, tất cả câu hỏi ấy sẽ được trả lời bằng một chữ CÓ. Và do lo sợ toàn dân hành động bằng cách "biểu tình trùm mền" này, nên chúng sai sử loài khuyển, mã, thỉ, dương ... bất chấp xấu hổ, bất chấp danh dự, bất chấp thô ác, bất chấp người đời nguyền rủa .... để dùng cái MÕM ÐEN NGÒM mà chửi rủa, nhục mạ, phỉ báng .... Chúng không biết rằng: ẨM HUYẾT PHÚN NHƠN, TIÊN Ô TỰ KHẨU. Tất cả những xấu xa, đê tiện, dơ dáy, thô tục, bỉ ổi ... ấy trước hết phải dính vào cái mõm chúng; nhưng không chắc đến được người khác. Và thực tế đã trả lời rồi, phải không Trần Thanh ? Một "thằng" Tiến sỹ, một đảng chính trị mà cái mõm phải dính cái của đàn bà, đầu chui vô trong màn trinh con đĩ ... thì mặt mũi hắn ra sao hở Trần Thanh ??? E gớm lắm nhỉ ? Trần Thanh thử vác mặt vô soi gương xem sao, chắc nó nhầy nhụa, loang lỗ, lòng thòng, dơ dáy ... lắm phải không, hay đó là cái đẹp thiên đàng của phe nhóm ông ??? OK. Cứ mần tiếp chơi dui, hổng sao mà !

Tôi lại ngẩn ngơ khi Trần Thanh lý luận:

"Tối thiểu phải được tổ chức công khai và thể hiện một cách khôn ngoan như những cuộc đấu tranh của các giáo dân thuộc giáo sứ Hà Nội và Thái Hà".

Thưa Trần Thanh tiến sỹ,

Theo hiểu biết của bản nông dân, Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất không thể bắt chước giáo xứ Thái hà, hay nói chung là hệ thống giáo hội La mã để hành hoạt trên quê hương Việt nam. Tại sao ? Tại vì Phật giáo gắn liền với Dân tộc Việt nam; trong khi giáo dân Việt nam thuộc Giáo hội La mã chỉ gắn liền với The State of Vatican dưới hình thức The Roman Catholic Church. Ðiều đó được một linh mục nhiều uy quyền tại Việt nam hồi 1965 đã tuyên bố: "THÀ MẤT NƯỚC KHÔNG THÀ MẤT CHÚA". Tôi chỉ muốn nhắc lại một sự kiện lịch sử để chứng minh cho ông hiểu rằng: ÐỪNG HÒNG XÚI DẠI. Và khi nhắc lại sự kiện này tôi không có ý chê trách Linh mục Hoàng Quỳnh, ngược lại tôi ca ngợi ngài là một cán bộ Chăn chiên của Giáo hội La mã rất can đảm. Ngài đã thố lộ chỗ sâu kín nhất trong tâm hồn, mà thông thường người khác phải lấy vải Hồng đào che kín lại. Ngài đã nói lên một sự thật, dù cho sự thật đó có người khen kẻ chê !

Như ông thấy, khi vụ TOÀ KHÂM SỨ xảy ra, nó "bùng" đấy chứ, nhưng sau mệnh lệnh của TRUNG TÂM QUYỀN LỰC HOÀN VŨ VATICAN ban ra, thì nó "xẹp" một cách "êm ru bà rù", đến nỗi một số vị có uy tín trong Cộng đồng giáo dân Việt nam đã lên tiếng cho rằng Vatican đã thủ tiêu tinh thần dân chủ, tinh thần đấu tranh của dân tộc Việt nam.

Từ chỗ đó, cho phép tôi nghĩ rằng hai bên không cùng hướng. Có thể giáo dân Thái hà hay giáo dân cả nước sẽ vùng lên quyết liệt để quyết chiến và quyết thắng. Nhưng cái chiến và cái thắng đó không ích lợi gì cho Tổ quốc, Dân tộc và Ðồng bào Việt nam. Họ đấu tranh vì Nhà thờ, vì Giáo hội La mã, chứ đâu vì Tổ quốc Việt nam ? Tôi nói như thế, không có nghĩa là phủ nhận lòng yêu nước của họ; nhưng có điều tôi chắc chắn là YÊU NƯỚC VATICAN NHIỀU HƠN NƯỚC VIỆT. Họ làm như vậy cũng đúng thôi, vì trong niềm tin của họ, thì họ tha thiết với nước Thiên Ðường (?); nhưng khốn nỗi GIÁO HỘI VATICAN CẦM CHÌA KHÓA THIÊN ÐƯỜNG, nên họ phải phục tùng giáo hội, giáo sỹ một cách tuyệt đối thì may ra mới chui vô được.

Trong kinh cầu nguyện ghi rất rõ rằng: "Lạy Chúa, con xin đầu phục thể xác, linh hồn và trí khôn cho Chúa". Thế thì, họ có còn chi mô để dành cho Tổ quốc Việt nam ? Ngược lại, họ có thể chết, có thể làm bất cứ việc gì theo lệnh của Giáo hội và Giáo sỹ để được Chúa yêu thương và Giáo hội La mã tin dùng, mở cửa Thiên đường cho họ sau khi chết. Không nói đến trước năm 1975, mà chỉ từ sau khi CSVN được trao quyền thống trị Việt nam, thì cũng từ đó, đất biển, đảo Việt nam bị CSVN dâng cho Trung cộng, chúng tôi không hề thấy Hội đồng Giám mục Việt nam lên tiếng bao giờ. Tất cả đó là SỰ THẬT, chứ tôi có thêm bớt gì đâu.

Trong một suy nghĩ về những hiện tượng CAN ÐẢM, tôi thấy nó khác nhau nhiều lắm. Thí dụ, một tên du đãng chẳng hạn, khi được Ðại ca gật đầu một cái, thì hắn có thể lao vào giết người một cách rất ngọt. Nó CAN ÐẢM đấy chứ, nhưng là sự can đảm chỉ phục vụ cho Băng đảng nó mà thôi. Nó CÓ KỶ LUẬT đấy chứ, nhưng là thứ kỷ luật chỉ phục vụ cho Băng đảng nó mà thôi. Ở một vấn đề khác, thí dụ như người lính chiến của Việt nam Cộng hoà chẳng hạn, họ can đảm hy sinh trên chiến trường để diệt thù cứu nước; thì sự can đảm của họ, sự có kỷ luật của họ không thể đem so sánh với sự can đảm, tinh thần kỷ luật của du đãng được. Một bên hy sinh vì quốc gia, vì đồng bào; một bên hy sinh cho đảng cướp, cho Ðại ca; thế thì hai sự can đảm và kỷ luật ấy nhằm hai mục đích khác nhau xa. Và do vậy, người lính chiến đấu không thể nào học cái can đảm, kỷ luật của du đãng được. Ở một bình diện khác thì, một bên là người lính chiến CÓ Ý THỨC về bổn phận, trách nhiệm; bên kia là du côn thì chúng chỉ biết CÚI ÐẦU TUÂN LỆNH để được Ðại ca khen ngợi, ban thưởng. Hắn hành động như một cái máy; vì Ðại ca không bao giờ cho phép hỏi lý do. Vì vậy, những tên du đãng chỉ biết TIN VÀ LÀM như thế, không cần động não. Nếu có động chăng là làm sao giết người thật ngọt. Thế thôi. Ngược lại, một người lính được giáo dục tử tế để biết tại sao mình phải chiến đấu, tại sao mình phải hy sinh, hy sinh thì được cái gì, mất cái gì, hy sinh cho ai ... Như vậy, một bên hành động theo ý thức, một bên hành động theo lòng tôn sùng Ðại ca, mà không cần ý thức; cùng hành động mà ý nghĩa và mục đích không giống nhaụ Xin phép tạm trình bày vài ý thô như thế mà thôi.

Cũng trong một hướng như Trần Thanh, Hứa vạn Thọ, sáng nay một vị trên diễn đàn đã chuyển bài của ông Lê công Cầu, Vụ trưởng GÐPT của GHPGVNTN, vị ấy viết hướng dẫn một câu như vầy:

"Chúng tôi không thích viết dông dài. Chúng tôi chỉ có thắc mắc là tại sao ông Quảng Ðộ không tiếp sức với giáo xứ Thái hà để đấu tranh đòi công lý và sự thật, mà phải toan tính riêng lẻ bằng cách kêu gọi biểu tình tại gia.

Ở trong nước không ai hưởng ứng. Ông Quảng Ðộ chỉ muốn những người ở hải ngoại đáp ứng lời kêu gọi trên mà thôi. Mưu tính này đã bất thành"

Tôi đã góp ý vài câu nhẹ nhàng, nhưng sau đó vị này quật lại với ý không mấy trong sáng, nên tôi không nói gì nữa. Tiện đây, tôi xin trình bày chung với độc giả. Qua 81 chữ này, vị ấy đã chứng tỏ một tinh thần đảng Trần Thanh, Hứa vạn Thọ. Lời lẽ ngắn ngủi ấy đã chứng tỏ một sự cao ngạo, xấc xược, vô lý, thiển cận ... Hẳn mọi người đều biết "Ông Quảng Ðộ" là vị lãnh đạo tối cao của GHPGVNTN, ông làm việc cho Giáo hội ông, ông trả ơn cho Tổ quốc ông, ông làm việc ở vị thế ông; chứ ông không phải là một cá nhân đơn thuần; vậy ông lấy lý do gì để "tiếp sức với Giáo xứ Thái hà", một đơn vị nhỏ nhất của hệ thống Nhà thờ La mã, trong lúc HÐGMVN là cơ quan Ðại diện Vatican, là chủ chăn của họ vẫn không "tiếp sức" ? Có một lần Linh mục Nguyễn văn Lý đã đến Thanh minh Thiền viện để yêu cầu "ông Quảng Ðộ" ký chung một văn kiện gì đó, "Ông Quảng Ðộ" đã trả lời rằng: "Thưa Linh mục, nếu có chuyện ký chung, thì tôi chỉ ký giữa cấp Giáo hội và Giáo hội, chứ đây là việc riêng của ngài, tôi xin ngài miễn cho vậy". Và chính từ những lời trân trọng ấy với LM Lý, những ngôn từ hạ đẳng của lớp "chiên" đã bắt đầu "tung ra thị trường heo dê", nhằm phỉ báng ngài Thích quảng Ðộ dưới mọi thứ Nickname, mọi thời gian sau đó !

Ðọc câu: "mà phải toan tính riêng lẻ", tôi khó mà chịu đựng nổi. Ai "toan tính riêng lẻ" ? Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất là một Giáo hội cấp quốc gia. Nhà thờ Thái hà, là Nhà thờ Thái hà, một đơn vị cấp ấp, làng, trong hệ thống Nhà thờ La Mã. Hai cái này làm sao đồng đẳng với nhau ? Mục đích tranh đấu của GHPGVNTN là vì Tổ quốc, Dân tộc và Ðạo pháp. Mục đích của giáo dân Thái hà là đòi lại "nhà thờ cấp ấp" thuộc hệ thống La mã của Nhà nuớc Vatican (State of Vatican). Hai mục đích này làm sao giống nhau ? Nếu như giáo dân Thái hà nghĩ rằng họ là người Việt, thì họ "chung sức" với GHPGVNTN trong mục đích bảo vệ Tổ quốc Việt nam, chứ GHPGVNTN là một tổ chức cấp quốc gia sao lại tiếp sức cho nhà thờ Thái hà trong lúc lãnh đạo linh hồn họ không tiếp sức ? Cái tư tưởng Ðạo dụ số 10, không lẽ giờ này còn trong đầu những con người như thế ? Nhưng, dù cho ai muốn áp đặt đi nữa, thì GHPGVNTN vẫn không thể tự mình xưng "cấp ấp" được. Một thái độ láo xược, ngạo mạn, vô lý mà vẫn nói được sao ? GHPGVNTN làm cái gì mà gọi là "riêng lẻ", trong lúc xóm nhà lá chỉ lo chuyện nhà mình mà gọi là "công lý và sự thật" được sao ? Không lẽ, "chuyện quốc gia thì riêng lẻ", còn chuyện "liên gia mới là đại sự" ? Nói như vậy mà nói được sao ?

Trong lúc mở miệng trách GHPGVNTN sao không "tiếp sức Thái hà", thì họ không bao giờ đặt vấn đề với cơ quan chủ chăn tối cao của họ (HÐGMVN) sao không tiếp sức với GHPGVNTN để giành lại chủ quyền quốc gia Việt nam, để bắt buộc ngụy quyền CS phải "công khai hoá hiệp ước Việt Trung" ? Mấy chục năm qua, HÐGMVN đã làm gì cho Tổ quốc Việt nam, ngay cả khi mất Bản giốc, Nam quan, Hoàng sa, Trường sa, nay đến chuyện Bô xít Tây nguyên ... ? Sao họ không hỏi mấy chục năm qua HÐGMVN đã liên hệ với Giáo hội Phật giáo Thống nhất như thế nào, ngay cả khi đức Ðệ tứ Tăng thống GHPGVNTN viên tịch, họ cũng không có một lời nào như tư cách một người thường trong đạo lý Việt nam. Vậy họ là ai, là gì trong lòng Dân tộc Việt ? Trong một quá trình xa dài đầy khổ nạn của nhị vị lãnh đạo tối cao của GHPGVNTN, thì HÐGMVN, hay có một cá nhân Giám mục nào đã nói dùm tiếng nào không; trong lúc những chuyện Linh mục Nguyễn văn Lý, chuyện Toà Khâm sứ và Thái hà, thì đã có một vị trong GHPGVNTN lên tiếng yểm trợ, đó là HT Thích không Tánh, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Từ thiện xã hội của GHTN. Trong khi đó, HÐGMVN đã tiếp xúc với Hội Quốc doanh Phật giáo để xứng câu: "VÀNG TÌM VÀNG LÀM BẠN, NGỌC LẠI TÌM NGỌC SÁNH DUYÊN. TRAI ANH HÙNG LÀM BẠN VỚI GÁI THUYỀN QUYÊN, KHÁC CHI SẤM DỒI MẶT NỘM XỨNG DUYÊN HỠI CHÀNG".

Một nghịch lý khác đã, đang xảy ra là, một số quý vị giáo dân hoan hô, cổ vũ, thậm chí kêu gọi tôn ngài Linh mục Nguyễn văn Lý lên ngôi Minh chủ của Việt nam; thế nhưng, những việc làm của Linh mục Lý đã bị HÐGMVN lên án là làm chính trị, là việc cá nhân ... HÐGMVN không những không yễm trợ, mà còn nói như thế, thì làm sao GHPGVNTN chen vào ? Hẳn mọi người còn nhớ lời Hồng y Giáo chủ Phạm minh Mẫn khi ngài còn là Giám mục Tổng thư ký HÐGMVN đã tuyên bố như thế nào rồi, tôi không cần nhắc lại. Ðiều oái oăm là, những vị giáo dân này vẫn ủng hộ cả hai bên, trong khi hai bên hoàn toàn nghịch chiều. Vậy thì bên nào đúng, bên nào sai ? Không lẽ, chống CS cũng đúng, mà hùa theo CS cũng đúng ? Phải chăng họ đang thực hiện một "kinh điển": "Wise as serpents, harmless as doves"(MT:10: 16)

Tất cả đó là sự kiện lịch sử, không ai thêm bớt gì cả. Và cũng từ đó cho thấy rằng Hội đồng Giám mục Việt nam đã đứng hẳn về phía Nhà nước Cộng sản, chứ là gì khác ? Nhưng chủ nghĩa Cộng sản là chủ nghĩa DIỆT TÔN GIÁO, thì HÐGMVN cũng là kẻ diệt tôn giáo, chứ là gì khác ? Ðiều khốn nạn là, khi họ chung vai góp sức với Cộng sản, thì những tôn giáo nào "khác họ mới bị diệt", còn họ thì ai diệt nữa mà lo. Chỉ mấy chữ "PHẬT GIÁO VÔ THẦN", "LÝ TƯỞ G CỘNG SẢN KHÔNG SAI" của Giáo chủ Hoàng đế La mã John Paul II đã chứng minh toàn bộ tim óc của họ đối với Phật giáo rồi. Thế mà, người ta dám mạnh miệng bảo sao không "tiếp sức Thái hà", "học hỏi Thái hà" được sao ? Nhắc lại như thế, tôi không có ý thắc mắc như người ta, vì từ lâu xa, tôi đã học được những mệnh lệnh ông Trời rồi:

AI THỜ MỘT THẦN KHÁC TA THÌ PHẢI CHẾT. (Exodus 22:20)

AI KHÔNG VÂNG LỜI LINH MỤC THÌ PHẢI CHẾT. (Deuteronomy: 17:12)

TẤT CẢ MỌI LINH HỒN PHẢI ÐẦU PHỤC ÐẤNG CẦM QUYỀN, VÌ KHÔNG QUYỀN NÀO MÀ KHÔNG DO ÐỨC CHÚA TRỜI MÀ CÓ. CHO NÊN AI CHỐNG LẠI CHÍNH QUYỀN LÀ CHỐNG ÐỐI ÐỨC CHÚA TRỜI VÀ SẼ BỊ TRỪNG TRỊ ÐÍCH ÐÁNG. (Romans:13:1)

Lại nghịch ngợm suy nghĩ câu: "Mưu tính này đã bất thành". Ðáng lẽ câu này phải do ngụy quyền Cộng sản Việt nam nói thì mới phải. Nhưng sao, ông kia, mụ nọ lại "nhân danh" để nói ? Không lẽ, những người hô hào chống Cộng lại vỗ tay hoan hô MƯU SỰ QUỐC GIA THẤT BẠI ? Vậy thì, họ chống Cộng hay chính là Việt cộng, thân Cộng ? Ba yêu sách mà Ðại lão Hoà thượng Thích quảng Ðộ đưa ra, không có cái nào là "mưu riêng của Phật giáo" cả, không có gì là đụng chạm đoàn thể, tôn giáo nào cả. Nếu có chăng, là đối với những tổ chức đã và đang bắt tay với Cộng sản, hay TRÁ HÌNH CỘNG SẢN mà thôi. (chứ không phải "Cộng sản trá hình")

Khi nói đến sự thành bại của một vấn đề, "kẻ hay suy nghĩ" phải biết rằng, giữa một trận TORNADO (gió xoáy) và cơn sóng ngầm là hai thứ khác nhau. Gió xoáy là một hậu quả của một chuỗi nhân duyên cực mạnh tất yếu, trong lúc sóng ngầm là nguyên nhân, là sự bắt đầu của một chuyển động, mà không ai đo lường trước được sức mạnh của nó. Nhưng có một điều cần ghi nhận là NƯỚC CÓ THỂ LÀM NỔI THUYỀN, THÌ NƯỚC CŨNG CÓ THỂ LẬT THUYỀN. Vậy thì, làm cái việc tạo nên sóng ngầm không phải dễ, khó phê bình vì không thể tính trước kết quả. Cho nên, những kẻ vội vã phê bình cũng chỉ là người mù dẫn đường chứ không là chi khác. Việc quan trọng là có bắt đầu hay không, chứ không phải mò mẫm hỏi kết quả thế nào. Nếu đã hình thành, tức tạo ra được cái NHÂN, thì cái QUẢ SẼ LÀ TẤT YẾU, nhưng nó yếu, mạnh, to, nhỏ, ngắn, dài, cao, thấp, xấu, đẹp .... lâ u, mau là còn tùy vào những cái DUYÊN khác.

Thử ví dụ thẳng thừng rằng, một bọn cướp đến đốt nhà, giết người, cướp của chẳng hạn. Khi bọn chúng có quá dư sức mạnh, thì tất nhiên không ai dám đụng đến nó. Nhưng do cái NHÂN ĂN CƯỚP này, nhứt định bọn cướp phải ÐỀN TỘI trước công lý tự nhiên. Có thể, những gia đình kia đã chết không làm gì được chúng, cũng không còn ai trả thù cho họ nữa, vì bọn cướp kia đã chủ trương: "GIẾT HẾT ÐÀN ÔNG, ÐÀN BÀ, TRẺ CON VÀ TRẺ BÚ, GIẾT TẤT CẢ GÁI ÐÃ CÓ BẠN TRAI, GIẾT HẾT VẬT CHI CÓ HƠI THỞ"; nghĩa là "đào tận gốc, trốc tận rễ", kể cả trâu, bò, chó, ngựa, heo, dê của kẻ thù. Thế nhưng, chúng có thể giết hết cả thế gian được hay không, và chúng dừng chân ăn cướp được không ? Nhứt định là không, không bao giờ bỏ nghề ăn cướp; bởi vì chúng nghe dạy rằng:

"Con ơi nhớ lấy nghề cha,
Một năm ăn trộm bằng ba năm làm"

Do đó, truyền đời nọ qua đời kia cái nghề ăn cướp. Dĩ nhiên, trên con đường ấy, bọn chúng sẽ gặp những phản ứng khác, của người khác, xứ khác. Một thí dụ dễ hiểu nhất là, quân đội Mông cố thời Hốt tất Liệt là một đoàn quân bất bại, kể cả "Trung hoa vỹ đại" cũng bị chúng xâm lăng, thống trị. Thế nhưng, khi tiến vào một nước nhỏ bé Việt nam thì "bất bại" đã trở thành "thất bại". Những kẻ ôm "Mộng Tây" cũng thế, khi đến Việt nam họ đã hoàn toàn bị chận lại bởi một lực rất yếu, rất nhỏ, rất mọi rợ với ho. Họ đã thảm bại. Nhưng cướp lại hoàn cướp, và vì thế chắc chắn một ngày nào đó phải rơi rụng mà thôi. Nói như thế để biết rằng, giữa nguyên nhân và hậu quả cách xa bao nhiêu khó mà biết được. Chỉ cần một BÙNG NỔ TÂM THỨC, thì số mạng của Ðảng Cộng sản sẽ chảy tan ra trong phút chốc, không ai biết trước.

Vì lý do này, mà tạo ra một đợt sóng ngầm trong lòng người Việt là một chuyện rất quan trọng, rất cần thiết lúc này. Hậu quả của nó không thể kiểm tra bằng con số, thì việc phê bình thành bại chỉ là trò con nít nói leo. Phật giáo không đứng trên lập thuyết "Răng đền răng, mắt đền mắt", nghĩa là "cắn qua thì cắn lại" ngay tức khắc cho chảy máu, đứt tay, rơi đầu, gãy cẳng ... để đếm tức thời theo lối Tây phương. Ngược lại, Phật giáo nghiêng hẳn về lý: NHÂN-DUYÊN- QUẢ tất yếu của vạn hữu, lâu dài và chắc chắn không sai, mặc dù sŨ biến thiên có muôn hình vạn tướng.

Trên nguyên tắc tự nhiên ấy, Ðại lão Hoà thượng Thích quảng Ðộ phát lời kêu gọi "bất tuân dân sự-biểu tình tại gia", mà tính cao nhất của nó là TƯỚNG NHI VÔ TƯỚNG, TÁC NHI VÔ TÁC, cho nên DIỆU DỤNG của nó khó lường. Kẻ phàm phu chỉ thấy "trùm mền", mà không thể biết được trong phút giây ấy những gì đã xảy ra trong tâm thức của kẻ "dám trùm mền", và nó có ảnh hưởng đến đâụ Chỉ một giây thôi, vũ trụ có thể tan hoang, cũng một giây đó có thể làm nên tất cả, hủy hoại tất cầ "Biểu tình trùm mền" nó không đơn giản chút nào.

Bảo Quốc Kiếm
28-05-09


Người Việt Hải Ngoại Nên Xử Dụng Việt Ngữ Như Thế Nào? - Tịnh Đức Nguyễn Thế Thuận

Tịnh Đức
Nguyễn Thế Thuận

Từ ngày việc bảo vệ Miền Nam Việt Nam bị thất bại, quân dân Việt Nam phải lưu lạc xứ người khiến Chữ Quốc Ngữ rất được mọi người lưu ý bậc nhất.

Nhắc lại những ngày xa xưa, Chữ Quốc Ngữ hình thành do nhu cầu truyền giáo của các Giáo Sĩ Thiên Chúa Giáo đến giảng dậy cho dân chúng, vì từ thượng cổ cho đến bấy giờ, nền văn hóa Việt Nam vẫn bị bỏ ngỏ về văn tự; văn hóa, văn tự Trung Hoa vẫn ngự trị từ miếu đường trở ra, nên văn hóa dân gian chỉ còn một con đường truyền khẩu. Thi, thơ là các thể văn có vần có điệu, có âm, có khúc rất hợp với sự truyền khẩu vì dễ nhớ, dễ thuộc. Nền văn hóa của Việt Nam tuy thiếu Văn Tự vẫn không do vì sự què quặt, nhưng quả là một sự bỏ ngỏ để có được một sự bù đắp về sau. Các Giáo Sĩ đến nước Nam đều là các nhà ngôn ngữ học sâu sắc, nên các Ngài còn gọi đó là món quà đặc biệt chỉ tặng riêng cho dân tộc Việt Nam, chỉ vì theo ý kiến của các Ngài, nếu thứ chữ của các Ngài chế ra và được dùng trên đất nước Việt Nam thì, trước hết, Việt Nam được lợi là tháo gỡ được ảnh hưởng Trung Hoa trên nền Văn Hóa Việt và tháo gỡ được nô lệ văn hóa là tháo gỡ hết mọi xiềng xích khác. Họ là những nhà Văn Hiến. Họ đi đến đâu, họ cũng xin làm con dân của địa phương đó mà không có ai có thể nghi ngờ được.

Làm sao các Ngài có thể quả quyết như thế? Xin thưa, sự thiếu vắng Văn Tự không phải là chuyện hiếm hoi trên thế giới. Ngay từ thế kỷ thứ tư, các nhà truyền giáo của Thiên Chúa Giáo đã thực hiện công trình này rồi. Từ Ulifas đến Đắc Lộ là một con đường phải đi của Giáo Hội này: Họ đi đến đâu thì chỉ là để đóng góp vào các nền văn hóa của mọi dân nước đến toàn hảo. Họ lập lại nền văn hóa của địa phương ấy thêm vững chắc để mọi người có thể phát triển. Mọi tôn giáo khác cũng nhờ vào các môn học như thế để còn có thể tồn tại. Những Thánh ngữ như chữ Phạn (Sancrit hay Pali) dùng cho Ấn Giáo và Phật Giáo cũng phải La Tinh Hóa thì thiên hạ mới đọc nổi. Mật Tông Tây Tạng, Tứ Thư Ngũ Kinh hay Đạo Đức Kinh cũng phải La Tinh Hóa thì mọi người mới có thể đọc và hiểu. Ngay cả Thánh Kinh Do Thái và Hy Lạp hoặc Aram cũng phải La Tinh Hóa để mọi người cùng đọc. Đây chính là phép lạ Ngũ Tuần, cách đây hơn hai ngàn năm. Các nhà Truyền Giáo, kể từ Phêrô, khi rao giảng thì mọi người đều được nghe bằng tiếng nước mình. Không ai có thể thực hiện được điều này. Không Đạo Giáo nào có thể làm được việc này.

Trở lại trường hợp ở nước Nam, mãi đến khi Vị Giáo Sĩ gặp Ông Trương Vĩnh Ký, giấc mơ của các Ngài mới thành tựu. Đến đây, chúng tôi xin được mở một dấu ngoặc để được ca tụng những nhà Văn Hiến Ngoại Quốc này đã làm một điều thật ích quốc lợi dân và công ơn của các vị xứng đáng so sánh với ơn đức Hùng Vương. Đây là một sự so sánh chưa từng được đưa ra ánh sáng của lịch sử, có thể làm vài người có thể không hài lòng lắm, nhưng chính là một thực tế và cũng có thể là một nguyên nhân để khôi phục nước nhà, vì văn hóa và chỉ có văn hóa mới cứu rỗi Việt Nam trong các trường hợp nan giải như hiện nay.

Hai Cột Trụ Văn Hóa Quốc Học Việt Nam

Cũng như Thiên Chúa Giáo có Phêrô và Phaolô là hai cột trụ xây dựng Giáo Hội, thì nền Văn Hóa Việt Nam cũng có Phêrô và Phaolô làm nền tảng cho nền Quốc Học; đó là Petrus Ký và Paulus Của: Phêrô Trương Vĩnh Ký và Phaolô Huỳnh Tịnh Của. Ôi, đó không phải là một phép lạ sao? Đó không phải là hai bông hoa nở thắm trong nền Quốc Học Việt đó sao? Đó không phải là quà tặng của Đức Jesus đó sao, do việc Ngài sai các đệ tử của Ngài đến với dân Việt nghèo khó đó ư? Ngày nay chúng ta có đến ba vị Học Tổ (Tam Vị Nam Giao Học Tổ) đó là các Đức Hùng Vương mở nước với chữ Khải, Sĩ Nhiếp cai trị và truyền đạt văn hóa Trung Nguyên với các phiên âm Việt để dân chúng ta có thể hiểu và vị thứ ba là Các Giáo Sĩ Truyền Đạo Thiên Chúa mà Cố Đắc Lộ là Đại Diện với thứ chữ mà chúng ta gọi là Chữ Quốc Ngữ hiện tại đang được dùng. Chính thứ chữ này, thực dân đã xử dụng đầu tiên để dùng nó như là thứ khí giới cai trị dân ta. Ông Phêrô Trương Vĩnh Ký lại xung phong để hoàn chỉnh thứ chữ này, để dân ta có một thứ khí giới lợi hại. Chúng ta hãy làm một cuộc so sánh nhỏ nhỏ sau đây để chúng ta có thể hiểu được thứ chữ này lợi hại như thế nào? Khi Ông Trương lợi dụng việc mở trường Thông Ngôn để có thể phổ biến thứ chữ này, trong đó có hai người học trò xuất sắc, Tôn Thọ Tường và Huỳnh Tịnh Của. Tư cách của Tôn Thọ Tường như thế nào thì ngày nay chúng ta đều biết hết cả rồi. Ông này vì lương tâm trách cứ đã phân phô tấm lòng trong bài Tôn Phu Nhân Quy Thục; nhưng ông Tôn đã bị Ông Phan Văn Trị lột mặt nạ như thế nào rồi:

Ai về nhắn với Chu Công Cẩn,
Thà mất lòng anh, đặng bụng chồng. (Tôn)
Vs
Anh hỡi Tôn Quyền, anh có biết:
Trai ngay thờ Chúa, Gái thờ chồng. (Phan)

Còn Ông Huỳnh đã được đặt thêm cho Thánh Hiệu Paulus. Phaolô Huỳnh Tịnh Của đã xiết chặt tay với thầy mình là Phêrô Trương Vĩnh Ký cùng nhau xây dựng Quốc Học Việt. Các Ông đã đi vào thiên thu, những công lao vun trồng của các vị anh hùng văn hiến vẫn còn đó với lời dặn các con trước khi qua đời một cách hùng dũng: "Các con không được nhập quốc tịch Tây". Như thế, nhờ công lao xây dựng nền Quốc Học của các Giáo Sĩ và được Petrus Ký với Paulus Của vun trồng, nền học vụ này trở thành Quốc Học không ai có thể cãi chối được nữa, và được mệnh danh là Chữ Quốc Ngữ. Trận Trác Lộc giữa Hiên Viên và Xi Vưu xưa kia đươc ghi trong Dịch Kinh đã được ngã ngũ: Văn Lang, Lạc Việt, Việt Nam là một nước độc lập với Tàu, với Tây. Cơ đồ của Âu Cơ, Lạc Long trở lại nguyên vẹn; cho dù có việïc dâng đất, dâng biển của Việt Cộng cho Trung Cộng, thì đó cũng là việc nội bộ của hai đảng Cộng Sản họ, chứ một nước Việt Nam toàn vẹn không việc gì. Chữ Quốc Ngữ và âm từ Việt của một số dân không kịp di chuyển trong vùng chiếm đóng của Bắc Phương sẽ là những chứng tích rõ rệt nhất để phân định ranh giới Việt-Hoa trong tương lai gần đây, khi Cộng Sản không còn cai trị trên sơn hà Việt Nam nữa.

O tròn như quả trứng gà
Ô thì đội nón, Ơ thì thêm râu.
O, a hai chữ khác nhau
Vì a có cái móc câu bên mình
Chữ U cũng khác chữ Ư
Vì Ư cũng có sợi râu trên cành

Hay các chú bé nhà quê chăn trâu cũng còn nhại lại vài chữ cho vui:

A, b, c dắt dê đi … ngủ
Ơ, ô, o dắt bò đi ... ăn

Đó là Tam Tự Kinh mới của các em.

Sách Quốc Ngữ
Chữ Nước ta
Con cái nhà
Đều phải học.

Học để làm gì? Học để có thứ khí giới Văn Hóa vô địch: Khí giới tinh thần.

Chữ Quốc Ngữ mới đã đi vào văn chương Việt Nam thật êm dịu, thật nên thơ.

Thế mà ngày nay, tại hải ngoại, có nhóm Giao Điểm đã ra một quyển sách cũng khá đồ sộ lại kết tội Ông Trương, Ông Huỳnh theo Tây. Nếu bản Điều Trần của Nhà Ái Quốc Nguyễn Trường Tộ được nối dài, chúng tôi xin liệt kê thêm một số tên trong bọn Giao Điểm này để trình Bề Trên (nay là quốc dân đồng bào) bên dưới 10 tên quan lại nịnh bợ, độc ác, tham tàn, nhũng lạm. Tuy những người Giao Điểm kia cũng chẳng có gì đáng nói, nhưng người quân tử tiến thoái đều mực thước, nên cần phải nói một điều nếu nhóm Giao Điểm có tài thì thì hơn hai mươi thế kỷ qua họ cũng đã thực hiện được kiểu chữ viết nào đó để phục vụ Dân Việt chứ. Ở thời Bắc thuộc, các vị ấy gặp Tàu thì liền ra mặt khúm na khúm núm (Lê Đạo Sinh(?) là đại diện), sang thời Tây thuộc hành vi các vị ấy cũng vẫn như trước; nịnh bợ cho vinh thân phì gia (Tôn Thọ Tường, Nguyễn Thân là đại diện); rồi kịp sang thời Mỹ Ngụy, các vị ấy lại càng thêm bản lãnh Hậu Hắc công phu; OK, Salem để kiếm miếng đỉnh chung (Đỗ Mậu là đại diện). Ở Hải Ngoại này thì chẳng còn ai nữa, vì tự do tuyệt đối, nên các vị ấy không còn chiêu dụ được ai nữa; nếu quý vị còn chút liêm sỉ trong đầu óc, quý vị phải rút lại quyển sách mạ lỵ Ông Trương Vĩnh Ký của quý vị lại. Ồ, quý vị lại dở trò như cuối năm 1963, quý vị lại chia rẽ lương giáo nữa rồi. Bây giờ thì mọi người đều nghe biết đến những Hồng Quang, Trần Quang Thuận, Phạm Kim Thư, Vũ Ngự Chiêu, trong cả các lãnh đạo ký danh (maybe) như là Hồng Xuân Hiến và Nguyễn Duệ Chi. Ở xứ văn minh tuyệt đỉnh này, ở xứ mà mọi người đều được đi học để hiểu rõ các trò “ma nớp”, thì âm mưu của quý vị kể là hỏng. Đối với Cộng Sản cầm quyền hiện nay tại quê nhà, quý vị cũng vẫn không thay đổi tác phong; Cộng Sản không giống như các thực dân Tàu, Tây xưa kia: Cộng Sản không phải là một chủ nghĩa nhân bản như thực dân xưa; Cộng Sản là vô thần, Cộng Sản không để quý vị lợi dụng đâu, mà ngược lại quý vị lại phải làm việc cho Cộng Sản là gây thêm chia rẽ trong hàng ngũ các người quốc gia còn mơ vọng Cố Quốc.

Trong thời kỳ dân tộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp, Cộng Sản và chỉ có Cộng Sản mở các lớp Bình Dân Học Vụ để làm chiêu bài bình phong cho Đảng cho khỏi lòi sừng ra. Nhưng dầu sao cũng là một công lớn về mặt văn học. Trên những con đường vào làng hay ra khỏi làng, đều có một số cán bộ đứng với các tấm bảng viết chữ, có chữ viết trên ấy. Ai mà đọc được thì mới được đi qua. Số người “mù chữ” giảm hẳn. Mẹ tôi nhờ đó mà cũng ê a đọc được các mặt báo. Sau này trong Nam, chính quyền Cụ Diệm cũng có các chương chính “Chống Nạn Mù Chữ” như thế ở khắp nơi. Có công thì được thưởng: Cụ Diệm giữ vững Miền Nam, rồi sau khi họ giết Cụ thì Cộng Sản đã nuốt được cả Sơn Hà nước Nam. Cộng Sản vẫn còn dùng thứ chữ kia, nó cũng là biến hóa của Chữ Quốc Ngữ mà Trương Vĩnh Ký đã cố công nhào nặn xưa kia và hằng năm (?) Cộng Sản vẫn tổ chức Tế vị Tân Nam Giao Học Tổ Đắc Lộ.

Nghĩa chữ của Cộng Sản Miền Bắc đã khác hẳn nghĩa chữ của dân Miền Nam. Ngày xưa, chúng tôi sinh trưởng ở Miền Bắc, cũng vì chữ nghĩa kiểu mới này đầy sắt máu, thù hận, đầy hiếu chiến, đạp đổ, nên chúng tôi phải chạy vào Miền Nam. Ôi, chữ nghĩa Miền Nam hiền lành làm sao. Chúng tôi, gần triệu người Miền Bắc, tỵ nạn vào Nam để cùng với mấy mươi triệu người Miền Nam cùng với Tống Thống họ Ngô để cùng chống giữ và mong có cơ hội Bắc Tiến. Nhưng có vài nhóm người đã thông mưu và lợi dụng lẫn nhau để hạ bệ, rồi giết Tổng Thống họ Ngô, không những đã làm chúng tôi tan hy vọng trở về đất cũ mà còn đưa cả vận mệnh dân tộc vào một cuộc phiêu lưu vong mệnh, vong thân tại một nơi phi xứ. Anh Hùng của Việt Nam mỗi thời mỗi có, nhưng mỗi lúc mỗi có thì không thể có được. Người tài thì Việt Nam có hằng hà sa số, nhưng anh hùng thì phải đếm bằng thế kỷ. Ôi, Chàng thanh niên Petrus Trương Vĩnh Ký ngày xưa được Cụ Phan Thanh Giản chứng minh và Chàng thanh niên họ Ngô được Cụ Phan Bội Châu ân cần giới thiệu. Thế mà cả hai chàng này đều bị một lớp người (nhóm Giao Điểm là thế hệ thứ hai, thứ ba gì đó của lớp người đó) đem công nghiệp của họ ra bôi lọ. Đó có phải là một tai họa của Việt Nam? Đó có phải là điều sỉ nhục cho Việt Nam? Đó có phải là sự thử thách cho Việt Nam? Chúng ta có nhiệm vụ phải làm sáng tỏ các tâm sự đó, thì tương lai mới sáng sủa được vậy.

Sau 30 năm, chúng ta có dịp xem xét lại chữ nghĩa Việt Cộng dùng và mục đích của họ. Mục đích của họ thật dễ hiểu: ru ngủ với nhiều chiêu bài Văn Hóa, dùng Văn Hóa để cai trị, dùng Văn Hóa để kết hợp Dân Tộc, rồi đồng hóa Đảng với Dân Tộc. Họ xử dụng chữ nghĩa với mục tiêu “tình báo chiến lược” mà thôi. Cộng Sản phải làm như vậy là tại vì Chủ thuyết Cộng Sản là một chủ thuyết ngoại lai mà họ áp đặt lên toàn dân tộc Việt từ 50 năm qua: Họ là những kẻ xâm lăng. Họ cũng là người Việt, nên họ lại có thêm tội “cõng rắn cắn gà nhà” nữa. Chủ thuyết này cũng đến hết thời của họ thôi, chứ họ cũng chẳng truyền cho con cái họ được đâu, vì chúng nó có biết gì về Cộng Sản đâu; hơn nữa, chính họ cũng chẳng biết Cộng Sản là gì nốt. Họ tồn tại cũng chỉ vì cái vỏ Văn Hóa mà họ dùng, nếu chúng ta lột cái vỏ Văn Hóa này đi, thì họ sẽ tan biến đi vào hư vô ngay.

Chữ nghĩa của người Cộng Sản dùng thì có chính sách rõ ràng. Chúng ta hãy kiên nhẫn để đi vào vùng chiến tuyến này. Việt Cộng dùng rất nhiều từ ngữ ... rất mới, đối với chúng ta, nhưng lại rất cổ lỗ trong văn học, là những chữ mà chúng ta vì tiến hóa phải bỏ đi không dùng lại nữa; do đó chúng ta nghe rất chói tai. Như chúng tôi đã từng phát biểu Việt Cộng kéo đất nước chúng ta lui lại cả trăm năm, thật không ngoa chút nào. Nhưng kể ra thì họ phải làm như vậy mà thôi không còn cách nào khác nữa. Đó là một trong những mầm mống để họ tự tan rã.

Không phải là mọi người sống trong cái xã hội Cộng Sản không có nhân tài, nhưng các nhân tài bị mai một, không có đất dụng võ, không có môi trường hoạt động, không có nhiều thứ kể cả thứ mà không có thì không có tất cả: không có tự do. Không có tự do thì không thể nào phát triển được, mà chỉ có giết chóc, có nghĩa là suy thoái. Chúng ta sống trong chế độ tự do, chúng ta cũng đã nhìn thấy nhiều nhiều u ám trong sự đối xử giữa đồng loại, huống chi là trong các chính thể độc tài đảng trị. Họ dùng đảng để bao bọc che chở lấy họ. Họ dùng đảng là chỗ để tạo quyền lực, họ dùng đảng để vinh thân phì gia. Họ đả phá gia đình người khác, nhưng lại củng cố gia đình họ. Họ một hai là đòi làm nghĩa vụ quốc tế, có nghĩa là vô tổ quốc; nhưng mục đích của họ lại là tổ quốc của kẻ khác để cướp lấy với các chiêu bài tổ quốc. Họ ngăn cản tôn giáo tín ngưỡng, nhưng họ lại củng cố Cộng Sản đạo của họ, là một thứ đạo giết chóc, bóc lột. Những điều này trở thành những đối tượng chữ nghĩa của Cộng Sản.

Chúng ta nên lược lại chính sách văn hóa hay nên biết qua vài nguyên tắc chỉ đạo trong văn hóa của Việt Cộng. Chúng tôi chỉ xin ghi lại các niên biểu:

1930: Lúc Đảng Cộng Sản Đông Dương còn đang bị Pháp đặt ngoài vòng Pháp Luật, có hai nhóm văn nghệ sĩ đã mở một trận bút chiến. Nhóm Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư chủ trương nghệ thuật vị nghệ thuật và nhóm Hải Triều, Hải Thanh, Trần Huy Liệu có khuynh hướng Mác xít trong tờ Tiến Hóa, Tiến Bộ, Hồn Trẻ.

1943: Nhóm Mác xít trên đã thực thi hướng tiến trong văn học với ba tiêu chuẩn: dân tộc, khoa học và đại chúng.

1946: Tháng 11, trước Đại Hội Văn Hóa Toàn Quốc, Hồ Chí Minh đọc diễn văn khai mạc hướng nền văn học vào chủ đề: “Tự Do, Độc Lập.”

1947: Ông Hồ gửi thư cho các văn nghệ sĩ miền Nam rằng: “Ngòi bút của các bạn cũng là võ khí sắc bén.”

“Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong.”

1948: Tháng 7, Đại Hội Văn Hóa Toàn Quốc lần Hai họp tại Việt Bắc. Ông Trường Chinh đọc bản thuyết trình “Chủ Nghĩa Mác và Văn Hóa Việt Nam” trước Hội Nghị. Đại Hội này đúc kết một văn bản phản ảnh lập trường văn hóa văn học của đảng Cộng Sản Đông Dương như sau:

“Về xã hội lấy giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm gốc.
Về chính trị lấy chủ nghĩa dân chủ mới và chủ nghĩa xã hội làm gốc.
Về tư tưởng lấy thuyết duy vật biện chứng và thuyết duy vật lịch sử làm gốc.
Về sáng tác văn nghệ lấy chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa làm gốc.”

1949: Tháng 9, Hội Văn Nghệ Việt Nam được thành lập, mở đại hội một, nhà thơ Tố Hữu, đứng làm chủ hội, hướng dẫn văn nghệ sĩ xây dựng nền văn nghệ nhân dân, kêu gọi văn nghệ sĩ ra sức cải tạo tư tưởng.


1954: Phong trào di cư vào Nam do Cụ Ngô xướng xuất, gần một triệu đồng bào từ bỏ miền Bắc vào lánh nạn. Đa số các nhà văn đều ở lại miền Bắc.


1956: Đàn áp nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Trường Chinh kết án Nhóm Nhân Văn: Hành động phá hoại về mặt tư tưởng, nghệ thuật và dần dần đi đến phá hoại về mặt chính trị.” Có nhiều nhà văn bị cầm tù sau vụ này.


1957: Đại Hội Văn Nghệ Toàn Quốc họp lần hai, lấy phương châm: Hiện thực xã hội chủ nghĩa làm phương pháp sáng tác. Trung Ương đảng kêu gọi giới văn học nghệ thuật ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập đường lối chính sách của đảng và chính phủ.”


1960: Đại Hội đảng lần ba ra nghị quyết về văn học nghệ thuật: “Phát triển nền văn học với nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có tính đảng và tính nhân dân sâu sắc.”


1962: Đại Hội Văn Nghệ Toàn Quốc họp lần ba, Trường Chinh lại đọc tham luận hướng dẫn đại hội: “Tác phẩm có tính đảng là tác phẩm có đầy đủ tính chiến đấu, thể hiện hồn nhiên thái độ yêu ghét, xây dựng đả phá một cách đúng đắn và rõ ràng. Tác phẩm có tính đảng là tác phẩm có nghệ thuật cao, nó tiêu biểu cho giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất kế thừa toàn bộ truyền thống tốt đẹp trong lịch sử và đứng ở đỉnh cao nhất của trí tuệ loài người mà phát minh khoa học và sáng tạo nghệ thuật.”


1968: Đại Hội Văn Nghệ Toàn Quốc họp lần thứ tư, Trung Ương đảng gửi thư cho Đại Hội: “Văn nghệ ta phải có nội dung xã hội chủ nghĩa trong sáng và đậm đà chất dân tộc. Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội là những đề tài cao đẹp nhất của văn học nghệ thuật nước ta lúc này. Các đồng chí hãy mang tất cả nhiệt tình và quyết tâm của nghệ sĩ cách mạng sống say mê, sống lâu dài ở cơ sở, chan hòa với quần chúng nhân dân đang sản xuất và chiến đấu, coi đó là yêu cầu quan trọng bậc nhất để sáng tác nghệ thuật.”


Chúng tôi chỉ có biết đến đây, quý vị biết hơn hãy điền thêm vào. Như thế chúng ta đã biết qua các lối tuyên truyền cho người không trong hàng ngũ họ và truyền lệnh cho mọi người đang dưới tay họ. Cụ Ngô tại chức được 9 năm đủ để chứng tỏ miền Nam có tự do đầy đủ, đủ tự do để để làm gì tùy ý, đủ tự do để viết lách, đủ tự do để suy nghĩ, đủ tự do để chửi bới, vu khống và nhất là đủ tự do để giết Cụ. Thế mà ngày hôm nay, chính ngày hôm nay nhiều người cầm bút ở hải ngoại - là nơi mà Việt Cộng có đến cũng phải khúm na, khúm núm; nếu họ phạm pháp kiểu tùy tiện như ở nơi họ đang chiếm đóng, thì họ sẽ bị tống cổ ra khỏi biên giới ngay lập tức - lại cong lưng lại trước các bóng ma Việt Cộng. Việt Cộng ở đây, Việt Cộng ở đó làm người ta chạy bên Đông, rồi chạy bên Tây. Chạy đôn chạy đáo, đụng nhau tùm lum, rồi gấu ó nhau um sùm. Thế là Việt Cộng lại bên ngoài vỗ tay cười khoái trá. Việc gì vậy chứ? Chúng ta cần biết rằng chỉ có mỗi một chính thể có đại sứ, đại diện mà không dám đi thăm người đồng hương của mình, là chính quyền Việt Cộng đấy. Họ sợ cũng phải thôi. Nợ máu họ nợ chúng ta vẫn còn nóng hổi sờ sờ ra đó, nếu những thứ ấy mà thò mặt ra ngoài, rồi có người trông thấy, thì chắc chắn là cái mạng của thứ ấy phải “đi đoong” mà thôi. Vậy thì chúng ta phải sợ hãi gì chứ? Các giống ấy, chúng nó sợ chúng ta thì có. Quý vị nghe có được không?

Vậy, những chữ đó, những chữ mà chúng ta nghe chói tai đó là những chữ gì?

Chữ đầu tiên mà chúng ta nên nói đến là chữ “sự cố”. Chữ này thực ra có tác hại rất lớn, nó đâm thẳng vào óc qua lỗ tai của chúng ta. Chúng ta phân biệt các quý vị mới qua sau bằng cách dùng chữ này. Chữ “sự cố” là xếp đảo ngược lại chữ “cố sự”. Chữ “cố sự” nghe êm đềm biết làm sao? Âm vang của chữ “sự cố” như là tiếng đạn AK nổ, đủ làm cho chúng ta cảm nhận Việt Cộng đang ở quanh đây. Chữ này quả thực cũng đồng nghĩa với các chữ, như sự việc, sự kiện, sự vụ, sự thể. Ta có chữ như vậy, tại sao không dùng mà lại dùng chữ của bọn mọi rợ, cướp của giết người như dã thú. Chữ “sự cố” cũng đã được chúng ta xử dụng ít nhất là 50 năm về trước mà dân miền Nam chúng ta đã bỏ vì không hợp với âm vang đặc biệt của thơ. Ví dụ như thế này:

“Những “sự cố” đã ghi trong lịch sử ...

hay là:

“Những “cố sự” đã ghi trong chính sử ...

Câu nào nghe êm ái hơn, câu nào có hồn thơ hơn? Chúng ta có hẳn một lối viết văn “Cố Sự”, nhưng làm gì có văn bản “sự cố”. Có phải vậy không?

Như thế chúng ta có quyền nghĩ rằng Việt Cộng xử dụng những âm từ như thế để tẩy não mọi người, Việt Cộng không nghĩ họ có thể làm điều ấy với chúng ta, người yêu chuộng tự do, nhưng quả đã có nhiều con người, vô tình hay hữu ý, tự tẩy não hay do mua chuộc, mà cũng có thể do bị điều khiển, dật dây (manipulated) bởi bóng ma.

Chữ thứ hai cần được nói đến là chữ “tham quan”. Tham quan là một cụm từ để chỉ vào những nhân vật thừa hành quyền chính mà nhiễu lạm dân chúng, ăn cướp của chung, công quỹ. Thí dụ chúng ta nói “tên tham quan Tô Định”, tên quyền thần tham tàn “Trương Phúc Loan”, những tên tham quan tham tàn đời này là Võ văn Kiệt, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh ... thế nên, họ xử dụng chữ tham quan với ý nghĩa khác, tẩy não mọi người là Nước Việt Nam không có tham quan, chỉ có tham quan lăng Hồ mà thôi. Quý Vị nghĩ sao? Bây giờ chữ “tham quan” đã đang trở lại đúng nghĩa như nó là vì nạn “Tham Nhũng”. Tội “Tham Nhũng” là do các “Tham Quan” thực hiện mới đúng, chứ người ta đi xem cảnh đẹp thiên nhiên, thì lại bị ghép vào tội “tham quan” thì thật là bỉ ổi và trơ trẽn.

Đương nhiên là rất nhiều chữ và nghĩa của Việt Cộng cần được mang mổ xẻ, nên chúng ta cũng chỉ nên dành vài chữ nghĩa kiểu mẫu thôi. Vậy có thêm mấy chữ nữa cho có đủ bằng chứng: “công nghệ”“công nghiệp”. Những chữ này được dùng thì quả tình là hiếp dâm ngôn ngữ. Việt Cộng không thể làm thế này được. Thí dụ đám Việt Cộng ca tụng Cáo Hồ: “Sự nghiệp vĩ đại của Bác ...” hay cũng có thể ca tụng rằng: “Công nghiệp vĩ đại của Bác ...” Công nghệ thì chúng ta dùng trong khóm từ “Tiểu Công Nghệ” chỉ về những công việc có tính cách làm bằng tay chân, còn kỹ nghệ hay Đại Kỹ Nghệ là nhóm chữ dùng để chỉ các công việc được làm với máy móc (cơ khí.) Còn chữ “công nghiệp” mà Việt Cộng dùng không thể tương đương với chữ “kỹ thuật” mà người yêu mến tự do chúng ta đã dùng khi xưa. Chúng tôi cũng nhận ra trong các đài phát thanh về Việt Nam thỉnh thoảng các xướng ngôn viên cũng dùng chữ “kỹ thuật” thay vì chữ "công nghiệp", thì chúng tôi hiểu ra rằng họ bị bắt buộc phải xử dụng những chữ nghĩa ấy mà thôi. Chúng tôi xin đưa ra thêm một câu: “Vì Công Nghiệp của Chúa GiêSu …” Hay “Vì Công Nghiệp của Đức Phật và các Bồ Tát ...” Chẳng lẽ chúng ta lại dịch ra “Vì kỹ thuật của ...” Như vậy chữ “công nghiệp, công nghệ” của Việt Cộng quả tình rất có khác với chữ “kỹ nghệ, kỹ thuật” của Việt Nam Tự Do đã dùng lúc trước, và chúng ta vẫn còn dùng hiện nay tại Hải Ngoại.

Chỉ mấy chữ đó thôi như đã đưa đất nước chúng ta ngược dòng lịch sử cả trăm năm; như vậy thì đất nước chúng ta làm sao mà khá lên được? Dân tộc chúng ta cũng rất thông minh, nhưng ngày nay bị đám đười ươi thành hình người kềm kẹp nên chỉ còn được thành tựu trong sự hưởng thụ một cách tha hóa, nghĩa là sống bằng các viện trợ.

Chúng tôi đã từng nghe trên các đài phát thanh, nhiều xướng ngôn viên xướng ngôn thật là vô trách nhiệm; cũng như trên các báo chí, nhiều cây bút cũng có những cử chỉ vô trách nhiệm như thế. Các người này xướng ngôn hoặc in ấn những chữ mà tôi vừa nêu ra (thật đặc biệt). Họ không biết rằng tất cả mọi người ở Việt Nam mong được nghe lại tất cả những tiếng Miền Nam trước kia và họ sẽ được an ủi, nhưng người ta không làm được như lòng mong muốn của họ: Họ vẫn còn ở trong tù. Chúng ta hãy vận động để các Đài VOA, BBC, RFI, Vatican, SBS hay mọi đài mà chúng tôi không kê ra đây, để họ xử dụng chữ nghĩa cho trung thực và họ sẽ thấy tiếng nói của họ có tác dụng mạnh hơn nữa trong công việc truyền tin tức để cải hóa Việt Nam. Nếu họ còn xử dụng chữ Việt Cộng bao lâu nữa, thì bấy lâu dân chúng Việt Nam vẫn “cầm bằng trong tù”. Hãy cho họ “bát cơm tươi” là giọng nói tươi vui chứ không phải các câu nói sắt thép của các xướng ngôn viên của các đài. Dân chúng Việt Nam, hôm nay, mong nghe những gì khác hơn những gì họ phải nghe hằng ngày.

Nếu người Việt tại Hải Ngoại ngày nào còn thiếu người làm văn hóa và văn hiến thì ngày đó Việt Cộng hãy còn ngự trị trên quê hương. Việt Cộng muốn mọi người không còn chút kỷ niệm nào nữa về Miền Nam Việt Nam. Việt Công có thể ác ý, nhưng chúng ta không thể vô ý. Việt Cộng có thể hữu ý, nhưng chúng ta không thể vô tình. Ta có thêm vào danh sách trên là:

1975: Nhóm Giao Điểm được thành lập tại Hải Ngoại. Đây có thể là hậu thân của nhóm Lửa Việt ở Miền Nam trước kia.

2001: Việt Cộng đưa ra Hải Ngoại 2 người (?) là Hoàng Văn Hiến và Nguyễn Duệ Chi để viết lại trang sử của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại Hải Ngoại. Bị nhiều chống đối khắp thế giới, đặc biệt là Nhà Văn Hóa Nguyễn Hữu Luyện tại Boston. Đám Việt Cộng đang cầu cứu với Đại Học University of Massachussette (Umass) để hóa giải vụ kiện. Bắt đầu, họ chịu bồi thường, nhưng Ông Luyện không chịu và đòi phải hủy bỏ công trình của cuộc nghiên cứu đó.

Trong mấy năm nay, ông Nguyễn hữu Luyện ở vùng Boston bị trầy vi tróc vẩy vì một vụ án văn học, theo chữ nghĩa mà chúng tôi vừa mới kể trên. Có bao nhiêu người theo dõi vụ án này? Vụ án này xảy ra vì ai vậy? Như vậy, chúng ta đang có một người làm văn hóa và văn hiến rồi. Chúng đưa Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Duệ Chi từ trong nước ra qua sự dàn xếp bôi bác bội bạc của “Tiến Sĩ Giấy” Nguyễn Bá Chung với một cơ quan giáo dục Umass, ở Boston. Cũng chỉ là tội của chúng ta không đề phòng đấy thôi. Nếu chúng ta sơ hở chỗ nào thì tự nhiên chúng ùa vào ngay. Bây giờ, chúng ta đang có một chỗ sơ hở rất lớn: đó là Văn Học và Nghệ Thuật. Đồng ý là Văn Nghệ, Báo Chí đôi khi cũng cần có bút chiến để hâm nóng bầu không khí, nhưng với tinh thần hòa hài để có thể đi đến chỗ giải quyết với nhau được. Bút chiến chỉ để mài ngọn bút mà thôi.

Còn nghệ thuật thì trống trải hoàn toàn. Các môn nghệ thuật sân khấu chưa có người ra lãnh trách nhiệm. Các ca sĩ hải ngoại này, nếu có được giọng thiên phú, thì làm tiền dễ dàng, nên bệnh ham danh lợi rất dễ dàng xâm nhập. Hầu hết đều không đi đến trường để học về môn nghệ thuật ca hát này, nên phải lo làm tiền cho nhanh để khỏi bị loại ra, trái với ca sĩ “văn công” là đã ra trường từ trường Quốc Gia Âm Nhạc (họ cho các người là không có tài đó.) Từ đó họ trở nên cục “đất” cho bọn hoạt đầu văn nghệ (bầu Show) bóp nặn. Chỗ hở là các vị “bầu Show” đó. Việt Cộng có thể “tặng” thêm ít “tiền cò” cho đẹp tiếng, thế rồi nay thì Ái Vân, kế tiếp là Bằng Kiều, rồi lại còn Đàm Vĩnh Hưng nữa, cả cải lương cũng có Bạch Tuyết, Út gì gì đó, sau khi đã tiếp đón Elvis Phương Hương Lan về nước để “ban phép” lành “khoan hồng” của “nhà nước” và “nhân dân.” Ngay cả các “phó thủ tướng” của chúng đi thăm viếng xã giao nước Mỹ, mà còn phải chạy bằng cửa hậu, thì bọn văn công ấy sang để làm gì? Bây giờ thì “văn công” sang Mỹ hát với Visa “du lịch”. Du lịch thì du lịch, chứ sao lại đi hát để làm tiền nữa. Thì ra là “Giao liu” của Việt Cộng. Các ca sĩ nhà ta có nghe không? Bà con ở Hải Ngoại đang bảo vệ cho các người đó. Việc này tạo nên kẻ bênh người chống, đến hay. Rồi thì biểu tình, rồi thì phát thanh, và Việt Cộng thì phì cười. Việt Cộng chỉ có biết xâm nhập bằng đường mòn mà thôi (nghề của chàng đó). Xâm nhập bằng cách tóm đầu các hoạt đầu văn nghệ là các bầu Show, các Trung Tâm băng nhạc, ca nhạc, vũ trường. Các anh, các cô, các con, các cháu ca sĩ ơi, các người hãy coi chừng, các người sẽ không còn được ca hát như là một nghề kiếm tiền tay trái nữa đâu, các người sẽ bị sa thải và các người sẽ phải vào các xí nghiệp mà làm ăn, nếu các người còn đứng chung với các “văn công” để ca hát, khi thời gian đầy đủ, các hoạt đầu đó không dùng các người nữa vì họ không cần các người nữa. Chúng tôi đề nghị: nếu phiên hát nào có các “văn công” đó cùng đến hát với các người, thì các người hãy trở về, đừng có hát với họ. Hiện tại các “văn công” ấy núp bóng các người để chờ cơ hội thò mặt ra, chứ nếu không có các người thì … không biết có ai đến xem không, như rất nhiều lần mấy ông “bầu Show” phải ra “xin phép” khán giả “cho phép” em này, em kia hát có được không, cho có vẻ lịch sự mà thôi, chứ họ có “xin phép” các người để cho “mấy văn công” kia đi hát chung với các người không? Như thế là một lũ choai choai có, băng đảng có, quân trốn chúa lộn chồng có, quân bán vợ đợ con cũng có, giới ăn chơi, hầu hết là thành phần bất hảo của xã hội - không cần biết ai ngoài kia giữ gìn an ninh cho họ, cho cộng đồng để cho họ vui chơi thoải mái - vỗ tay đồm độp “Yeah, Yeah”. Thế là các “văn công” ra hát hợp tình, hợp lý, hợp lệ (xin lỗi, đây chỉ nói trong hiện trường Casino làm chuẩn thôi) … Các người (ca sĩ lẫn các bầu Show còn lương tâm) hãy thành lập ngay nghiệp đoàn để tranh đấu vấn đề “sanh tử” cho các người, chúng tôi nghĩ bà con sẽ ủng hộ và tiếp tay với các người. Các người hãy có Luật Sư về vấn đề Entertainment để hiểu rõ ràng về quyền lợi của các người, về quyền của những kẻ “hát trộm”. Chúng tôi đã “báo” cho Phương Hồng Quế và Tú Trâm như thế tại New Orleans.

Chúng ta “bị” đưa sang Mỹ lập nghiệp(!) vì đời sống “bị” quá tốt đẹp, nên chúng ta và con cái chúng ta cũng “bị” thành công một cách vượt bậc (quantum leap.) Một cuộc sống như thế thì Việt Cộng làm sao nó không mơ ước chứ? Cuộc sống Miền Nam chúng ta ngày xưa, cũng đã thu hút được tham vọng của Việt Cộng rồi chứ nói làm gì đến cuộc sống của chúng ta ngày hôm nay tại xứ sở này? Cách đây, gần 30 năm, chúng ta “bị” đưa đi “lưu đầy”, lúc đó ai ai cũng than thở mình là đám Do Thái lưu vong da vàng. “Người con gái Việt Nam da vàng” Trịnh Công Sơn ngu xuẩn đã hát như thế, nhưng không phải vậy, chúng ta “bị áp bức” để “bị” sống trong một xã hội đang “bị” tốt đẹp một cách quá sức tưởng tượng. Chúng ta và con cháu chúng ta “bị” thành công một cách vượt bực, nên làm sao không “bị” Việt Cộng theo dõi để mong có thể thu hồi dân tị nạn do chính sách của ho để moi tiền như họ đã làm cho đám dân chúng đi sản xuất lao động tai mọi nước khác trên thế giới. Họ có thể làm tại Nga, tại Ba Lan, và những nước thuộc Cộng Sản cũ, là những nước vẫn không có tự do đầy đủ. Họ vẫn bóc lột dân chúng ở đấy, bằng cách buôn đồ lậu và thuế (gì gì đó không ai để ý) như đã được báo cáo trên các đài phát thanh trên thế giới. Nhưng khi họ đến tô giới của Hoa Kỳ thôi, thì họ đã bị lột mặt nạ. Vụ án của Ông Đại Hàn Lee nào đó xảy ra để vỡ ra là nạn buôn người trầm trọng với những điều kiện lường gạt trắng trợn từ các cán bộ gộc Cộng Sản làm tiền các người dân yêu chuộng tự do. Những người dân đi làm nô lệ kiểu mới này ở Samoa là bằng chứng. Nhưng chính quyền Hoa Kỳ đã rất nhân đạo và đáp cứu những người này. Thế giới tự do và những người yêu mến tự do không để cho đám Việt Cộng tự tung tự tác.

Nhưng có nên đón tiếp các ca nhạc sĩ hay các sinh viên du học từ trong nước ra hay không? Xin thưa, nếu chúng ta có đường lối thì câu trả lời là có nên. Vậy làm sao để có đường lối? Thưa, đường lối là như thế này, Chế độ Cộng Sản hiện đã lỗi thời và chỉ có tư tưởng Quốc Gia mới tồn tại với thời gian, như Cụ Nguyễn Trãi đã bố cáo trong Bài Bình Ngô Đại Cáo vậy: Nước có lúc cường, lúc nhược, nhưng Anh Hùng đời nào cũng có. Lần này vì nước nhược nên ta phải bôn ba Hải Ngoại. Nên khi ta phải dùng chữ cho đúng là: “Vì việc Nước Nhà mà chúng ta phải bôn ba Hải Ngoại”. Đúng như lời hát của Nhạc Sĩ Phó Quốc Long(?) mà tôi đã nghe 50 năm về trước: “Hôm nay ta bơ vơ vì nghiệp Nước phải giang hồ” hay “Nay ta xa Kinh Đô, vì yêu Nước thương Quê Nhà, dù xa xôi vẫn nhớ ngày hồi hương ta vẫn mong chờ.”

Trong khi ta tìm người Anh Hùng thì ta phải làm việc sau đây: Khuyến khích các Sinh Viên Du Học đừng về nước nữa, vì hai lý do sau đây:

1. Ai cũng biết Mỹ luôn luôn đi nuôi chất xám để sau này làm việc cho họ.

2. Nếu các Sinh Viên Du Học thì Cộng Sản sẽ cạn dần cán bộ thông minh, mà chỉ toàn cán ngố thôi.

3.
Nếu các sinh viên du học, đặc biệt ở Mỹ, về nắm vận mệnh Đất Nước, thì Mỹ sẽ túm đầu các em, y như Nga túm đầu đám cán ở Bắc bộ, còn Mỹ cũng túm đầu đám công bộc ở Miền Nam ngày xưa kia vậy. Ta sợ gì Việt Cộng trên nước Mỹ đâu. 30 năm nay đã chứng tỏ điều ấy.

Vậy thì đối với các em du học sinh kia, chúng ta hãy dùm bọc họ để chỉ đường ngay, nẻo chính cho họ. Tương lai của Dân Tộc là của chung các người trẻ ở cả quốc nội lẫn Hải Ngoại. Như thế những bài học của chúng ta mà tổ tiên chúng ta đã phải đắn đo để dàn xếp một cuộc di tản vĩ đại 30/4/75 mới không có uổng. Còn về ca sĩ, thì có thể dễ hơn, vì họ về nước thì cũng chẳng còn sơ múi gì. Hỏi Ái Vân, Mỹ Linh, Bảo Yến, Bằng Kiều thì rõ. Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Duy và nhiều người khác về nước đã làm được việc gì hay chỉ làm tay sai hay làm những ống loa cho những người cầm quyền ngoan cố, tàn ác, đui mù kia mà thôi?

Còn không có ai lập được đường lối thì phải dừng lại, mà cũng đừng than trách chi cả. Lỗi ai? Lỗi tại ta. Lỗi ở ta mà thôi. Hãy lập ngay một “Bàn Giấy Chiêu Hồi” như chúng ta đã từng có khi trước kia.

Mọi người đều biết đến Thế Lữ, một nhà văn thơ tài tình của xã hội Việt Nam trong thập niên 1930. Thế Lữ và nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã làm mưa làm gió trên Văn Đàn Việt Nam trong sự phát triển của Chữ Quốc Ngữ. Văn mới, thơ mới tưởng chừng như đã đến tuyệt đỉnh của văn chương, văn hóa. Thế Lữ và Văn Đoàn trong khí thế tự do mặc tình thét to, kêu gào rồi kêu gọi làm cách mạng, làm lịch sử, kể cả đập phá, đả kích để kiến tạo một xã hội kiểu mới cho bằng được. Con đường cách mạng của họ tuy có hướng đi, tuy có sườn, có nền nhưng không thấy có mục tiêu, chủ đích, nên cuối cùng chỉ làm tiền hô cho một thực thể khác có thế lực thụ hưởng.

Thế Lữ với những vần thơ tuyệt tác, tưởng chừng đã thấm vào tận lòng người, đã vang dội và khiến đám thanh niên háo hức đi làm cách mạng. Nên Thế Lữ đãõ theo Việt Minh đi làm cách mạng. Riêng chúng tôi nghi rằng Ông Nhất Linh Nguyễn Tường Tam chống lại Cụ Diệm, khiến ông phải tự vẫn trong tù chắc là do sự liên hệ với Thế Lữ xúi xiển, theo lệnh đảng, rồi chăng? Chỉ vài năm sau thôi sau khi phục vụ đảng hết khả năng say mê. Thế Lữ đã công khai “thú tội” trên báo đảng, tự xỉ vả mình và Tự Lực Văn Đoàn:

“Chủ trương của Tự Lực Văn Đoàn không những không tiến bộ mà còn phản tiến bộ. Nó không có công mà còn có tội với nhân dân. Sau cách mạng tư sản, nhân dân càng bị áp bức và mê muội, Tự Lực Văn Đoàn đã tung ra khẩu hiệu “yêu đời,” “vui vẻ,” “trẻ trung” và nêu nhãn hiệu “cải cách” để lôi kéo từng lớp thanh niên vào con đường lãng mạn, buông thả tự do cá nhân, thoát ly đấu tranh, trốn tránh thực tế.

“Thơ, truyên ngắn, tiểu thuyết của tôi là thứ văn chương xa thực tế, đi từ mơ màng, huyền diệu đến chán nản, trụy lạc, từ mạo hiểm “trinh thám” đến những ái tình lãng mạn, ngược đời ... Bản thân tôi vì hư danh một thời, tự mình nhiễm nặng những bệnh tật gở lạ đến đỗi đồi bại mình gieo rắc ra xung quanh, tôi bị tù hãm bao lâu trong những sai lầm tự kiêu, tự mãn và hưởng lạc.”

Các nhà văn thơ khác cũng phải làm như thế để xuôi theo dòng đời. Thế Lữ cũng như các nhà văn đi theo Việt Minh đã cạn ngay nguồn sáng tác. Nếu theo dõi Hoàng Cầm, chúng ta sẽ thấy ngay những gì xảy ra trong giai đoạn này. Trịnh Công Sơn, sau khi lên đài phát thanh Sài Gòn hát lên “Nối vòng tay lớn” thì cũng bặt tiếng hát.

Quần chúng hầu hết thất học rất trông cậy vào nhóm trí thức đi tiên phong dẫn dắt họ hơn là những tên cán ngố, cán bộ Việt Minh, Việt Cộng dốt nát khó có thể thuyết phục đám đông. Nhưng sao lại có hiện tượng trái ngược? Có nhiều nhà khoa bảng, có nhiều tay tư bản lại đi phục vụ cho những tên dốt nát ấy. Đúng như lời Tố Hữu đã xỉ vả vào đám trí thức như vậy: Trí thức là cục phân. Tiến Sĩ Trần Văn Giàu vẫn còn nguyên vẹn là “cục phân” ấy. Tiến Sĩ Lê Đăng Doanh tạm-thời-được-tha-khỏi-là-cục-phân ấy để nói vài điều còn dính mùi phân, sau như thế nào thì chẳng ai biết. Trong nước đã có nhiều nhà khoa bảng đã thoát ra khỏi là cục phân ấy, như Vũ Thư Hiên, Lê Chí Quang, Trần Độ, Phạm Quế Dương, Hoàng Minh Chính, Trần Khuê … và càng lúc càng nhiều. Vậy mà nhiều nhà trí thức khoa bảng ở hải ngoại lại muốn làm “cục phân” của chúng nó. Muốn được kể tên ra không?

Tịnh Đức
Nguyễn Thế Thuận


Tội Ác Dã Man của Việt Gian CSVN Tại Sân Vận Động Quy Nhơn - GS Nguyễn Lý Tưởng

Tội Ác Dã Man của Việt Gian CSVN Tại Sân Vận Động Quy Nhơn:Vụ Ném Lựu Đạn Vào Học Sinh Sinh Hoạt Lửa Trại Năm 1972

GS Nguyễn Lý Tưởng

Giáo sư Đặng Thị Bạch Yến và 14 học sinh bị thảm sát ...

Năm 1972, trong đêm lửa trại của học sinh liên trường tại Quy Nhơn tổ chức tại Sân Vận Động thị xã, Việt Cộng đã ném lựu đạn giết chết 14 học sinh và làm bị thương rất nhiều người, trong đó có Giáo sư Đặng Thị Bạch Yến, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế 1965, dạy Pháp văn bị tử thương và người chồng là GS Tạ Quang Khanh, giáo sư Anh văn, bị thương nặng GS Tạ Quang Khanh đã kéo dài sự sống trong thương tật được 5 năm đến năm 1977 thì qua đời.

Hành động dã man đó của Việt Cộng đã làm cho cả thành phố Quy Nhơn xúc động. Giáo sư Lê Văn Ba, ông Nguyên Dzuy và nhiều nhân chứng hiện đang có mặt tại Nam Cali và khắp nơi trên đất nước Hoa Kỳ hãy còn nhớ. Đám tang của Giáo sư Đặng Thị Bạch Yến và 14 học sinh bị Việt Cộng thảm sát đã gây xúc động cho toàn thể đồng bào thành phố Quy Nhơn.

Thế mà mới đây, trên báo Người Việt xuất bản ngày 11/10/2007, có người ở Việt Nam dám nói rằng "đó là do bọn Fulro" thì thật là không biết xấu hổ. Thời điểm đó ở Quy Nhơn làm gì có Fulro hoạt động!? Điều mà ai cũng biết là sau ngày 30/4/1975, phong trào Fulro hoạt động mạnh và tiếp tục tranh đấu cho đến ngày hôm nay để đòi lại đất đai của họ đã bị Cộng Sản cướp đoạt.

Sau 1975, chúng tôi đã từng ở tù chung với anh em Fulro tại "trại tù cải tạo" Nam Hà (tỉnh Hà Nam Ninh) và tại Lao xá Chí Hòa (Sài Gòn, 1993) chúng tôi biết rõ lập trường của Fulro là chống Cộng Sản độc tài, áp bức người thiểu số ở Tây Nguyên chứ không bao giờ chống lại giáo sư và học sinh Quy Nhơn năm 1972.

Vấn đề ai là thủ phạm, đa số đồng bào Quy Nhơn đã biết rõ: Đó là tên Vũ Hoàng Hà, lúc đó là cán bộ CS nằm vùng và bây giờ là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Định kiêm ủy viên Trung Ương Đảng CSVN. Một nhân chứng còn sống, sau 35 năm, đã lên tiếng trên nhật báo Người Việt, xuất bản ngày Thứ Năm 18/10/2007 nguyên văn như sau:

"Tôi là cựu học sinh Cường Để Quy Nhơn. Câu hỏi "Ai ném lựu đạn vào lửa trại?". Câu trả lời bà con sống ở Quy Nhơn ai cũng biết, chính là Vũ Hoàng Hà, ủy viên trung ương Đảng Cộng Sản VN, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Bình Định. Thầy Tâm Hoàng khi còn sống đã khẳng định, vì sau khi ném lựu đạn ở sân vận động Quy Nhơn, Hà leo qua chùa Long Khánh ẩn rồi được cơ sở Cộng Sản đưa vào mật khu. Việc này được một số anh em cựu học sinh Cường Để ở Quy Nhơn biết. Mong việc này sớm sáng tỏ sau 35 năm tội ác xảy ra." (Trang Nhân)

Hai giáo sư Tạ Quang Khanh và Đặng Thị Bạch Yến là bạn đồng khóa với chúng tôi, đặc biệt GS Đặng Thị Bạch Yến là một ca sĩ thứ thiệt, hát rất hay mà anh chi em sinh viên Huế, Sài Gòn, Đà Lạt ... đều biết. Không có cuộc họp mặt sinh viên nào mà anh em không mời Bạch Yến lên hát.

Mới đây, trong cuộc họp mặt kỷ niệm 50 năm thành lập trường Đại Học Sư Phạm Huế (1957-2007) tổ chứ tại Grand Garden Restaurant, TP Westminster, California, chúng tôi đã tưởng niệm các Thầy và bạn bè đã chết, đã nhắc đến trường hợp vợ chồng Giáo sư Tạ Quang Khanh và Đặng Thi Bạch Yến bị Việt Cộng ném lựu đạn giết chết năm 1972 tại Quy Nhơn.

Theo lời yêu cầu của chúng tôi, Bà Hạnh Đức là chị ruột của GS Tạ Quang Khanh đã kể lại hoàn cảnh gia đình người em của bà là GS Tạ Quang Khanh và Đặng Thị Bạch Yến như sau:

"... Vào một buổi sáng đẹp trời ở miền Nam California, tôi tưới hoa xong rồi mở cổng ra sân trước lấy tờ nhật báo Los Angeles Time vào đọc, bỗng trên trang nhất đập vào mắt tôi với hàng tít lớn như sau: "The Survivor of War from Kuwait." (Kẻ sống sót từ cuộc hiến Kuwait). Tôi đọc ngấu nghiến:" Vào lúc chiến tranh vùng Vịnh (năm 1991) đang sôi động, có một thanh niên Á Châu bước vào phòng tuyển quân tình nguyện đi chiến đấu ở Kuwait.

Chúng tôi hỏi: Anh có nói đùa không nhưng người thanh niên ấy đáp: "NO, sir!" (Thưa ông, không!). Chúng tôi đưa mẫu đơn cho anh ta điền vào như sau: "Tôi tên là Tạ Quang Khiêm, 20 tuổi, sinh viên năm thứ hai tại đại học San Jose, California, sinh quán tại Quy Nhơn, Việt Nam. Cha là Tạ Quang Khanh, nghề nghiệp giáo sư dạy Anh văn tại trường trung học Cường Để, Quy Nhơn. Mẹ là Đặng Thị Bạch Yến, giáo sư Pháp văn kiêm Giám học trường nữ trung học Quy Nhơn. Cha mẹ tôi đã qua đời."

Đọc đến đây, tôi giật bắn người lên, đúng là tên họ của cháu tôi rồi, các cháu đã thất lạc và bặt tin từ ngày cha cháu qua đời tại San Jose năm 1977. Đầu năm 1978 tôi mới qua Mỹ nhưng không tìm được tông tích các cháu, thư từ tôi gửi đến địa chỉ cũ đều bị trả lại mà nước Mỹ rộng mênh mông thế này thì biết tìm các cháu ở đâu? Thế mà ... thế mà bây giờ tên tuổi cháu tôi xuất hiện trên trang báo này mà lại đi lính. Sao cháu không đi học mà lại đi lính? Mà lại tình nguyện sang chiến đấu tận bên Kuwait?. Tôi ngồi thừ người ra suy nghĩ ... tôi nhớ lại năm 1972, trong lúc liên trường Quy Nhơn có tổ chức liên hoan đốt lửa trại tại sân vận động thì thình lình Việt Cộng ném sáu, bẩy trái lựu đạn vào đám đông, giết chết 14 học sinh và Hướng đạo sinh và làm bị thương rất nhiều người. Mẹ cháu Khiêm là em dâu tôi bị miểng lựu đạn ghim vào tim, chết ngay tại chỗ.

Năm ấy Yến vừa tròn 30 tuổi. Em trai tôi là Khanh bị những miểng lựu đạn ghim vào khắp người, lủng bụng lòi ruột ra. Lúc ấy xe cứu thương tới cấp cứu, em tôi ôm lấy mớ ruột trèo lên xe, những học sinh khác cũng chen lấn trèo lên nhưng Khanh nói: "Cho thầy lên xe với, thầy bị nặng lắm!". Ngay sau đó, Khanh được vào bệnh viện Thánh Gia và được các bác sĩ người Tân Tây Lan từ Cam Ranh bay ra chữa trị cho Khanh. Khanh nằm điều trị mất hơn một tháng trời mới tạm bình phục. Thời gian em tôi nằm bệnh viện thì được canh gác cẩn mật vì sợ Việt Cộng vào ám sát vì em tôi nổi tiếng chống Cộng. Bác sĩ phỏng đoán em có thể sống được khoảng 10 năm nữa.

Năm 1975, em tôi đưa 3 cháu di tản sang Mỹ và định cư tại San Jose. Từ đấy lâu lâu em lại kêu đau lưng và được giải phẫu nhưng vết thương cũ làm độc, giải phẫu lần thứ hai thì em qua đời vào đầu năm 1977, như vậy là em chỉ sống được có 5 năm mà thôi.

Đến đây, tôi đọc tiếp lời khai trong hồ sơ đăng lính của cháu Khiêm: "Tôi còn người anh tên Tạ Quang Khôi và em gái là Tạ Ngân Hà. Mỗi lần nghĩ đến cảnh mồ côi và cái chết của cha mẹ tôi thì tôi buồn không tha thiết gì đến việc học hành nữa. Tôi muốn nhập ngũ để quên, quên hết ..."

Bài báo viết tiếp: "Khiêm được huấn luyện quân sự cấp tốc rồi gửi sang chiến trường Kuwait, đêm ấy Khiêm đi tuần với đồng đội tại biên giới Kuwait và Iraq trên xe thiết giáp. Một quân nhân da đen từ trong pháo tháp chui ra nói: "Khiêm, xin anh vui lòng vào ngồi giữ súng thay tôi một lúc để tôi ra ngả lưng chứ ngồi lâu trong này mỏi quá!"

Khiêm vừa chui vào pháo tháp thì từ trên cao, phi cơ do thám của ta rót xuống xe tăng của mình mấy quả đạn lửa vì nghi là xe của địch quân. Khiêm mở được nắp pháo tháp chạy thục mạng ra một quãng xa rồi ngất đi không biết gì nữa. Người quân nhân da đen đã tử thương, Khiêm được đưa sang bệnh viện quân y Mỹ tại Frankfurth, Germany điều trị."

Tôi đọc xong bản tin mà nước mắt giàn giụa ra, vừa thương hoàn cảnh của cháu lại vừa thương người quân nhân kia đã thế mạng cho cháu tôi. Ngay tối hôm ấy tôi xem TV thì thấy cháu tôi nằm trên băng ca được hai quân nhân Mỹ khiêng ra xe đưa về Mỹ vì những vết phỏng đã được băng bó lành. Ngay sáng hôm sau tôi gọi đến tòa báo Los Angeles Time xin được nói chuyện với người nữ phóng viên đã viết bài báo trên, nhưng cô ấy còn đang ở bên Đức nên không liên lạc được cho đến khi cô ấy trở lại Mỹ, bấy giờ tôi mới xin được số phone và địa chỉ của cháu tôi.

Tôi chẳng bao giờ quên được cái tin sét đánh ngang tai vào năm 1972; em trai tôi là Tạ Quang Khanh và vợ là Dặng Thị Bạch Yến bị thương nặng lắm nên tôi đã từ Nha Trang vội vã đến Quy Nhơn thì thấy em dâu tôi được quàn giữa nhà. Em mặc áo đầm trắng dài phủ chân, chiếc áo giống áo cô dâu mặc trong ngày cưới, mắt nhắm nghiền như người ngủ. Chị Hoa, người giúp việc nhà bế cháu bé Ngân Hà ngồi một bên đang khóc ... Chính những cô giáo dạy cùng trường với Yến đã may chiếc áo voan trắng ấy cho Yến và thay phiên nhau canh xác em ngày đêm. Các cháu bé, 4 tuổi, 2 tuổi và 1 tuổi ngơ ngác chẳng hiểu gì. Tôi vào bệnh viện thăm Khanh, em hỏi:

- Yến có sao không chị?

Nhìn em băng bó đầy người, tôi không cầm được nước mắt. Tôi nghẹn ngào nói dối em:

- Yến cũng bị thương đang nằm ở phòng bên kia. Cậu yên tâm tĩnh dưỡng cho những vết thương mau lành rồi về nhà với vợ con.

- Thế nhà em có bị thương nặng không?

- Không nặng bằng cậu.

- Xin chị nói với bà Sơ cho Yến ngồi xe lăn sang thăm em được không?

-Để chị hỏi xem. Thôi cậu nằm nghỉ đừng lo lắng nhiều, chị phải về với các cháu. Ở nhà chỉ có một mình chị Hoa.

Hôm đám tang Yến, tất cả các giáo sư và học sinh liên trường đều tiễn đưa Yến đến nơi an nghỉ cuối cùng. Nhìn 3 cháu bé được ẵm trên tay đi sau quan tài mẹ khiến không ai cầm được nước mắt. Hàng trăm vòng hoa cườm của các thầy cô phúng điếu với hàng chữ viết trên những dải băng tím vắt ngang: "Vô cùng thương tiếc giáo sư Đặng Thị Bạch Yến" được chở trên những chiếc xe xích lô đi một hàng dài phía trước. Và ở trên cao, phi cơ trực thăng chở tân Tỉnh Trưởng (Đại Tá Hoàng Đình Thọ) tiễn đưa người em vợ ra nghĩa trang. (Lúc ấy Đại Tá Thọ vừa đến thay Đại Tá Chức làm Tỉnh trưởng Bình Định). Hai bên đường đông đảo đồng bào Quy Nhơn đứng chờ linh cửu cô giáo trẻ đi qua để chào lần cuối với vẻ mặt bùi ngùi, thương tiếc. Sau đó là những đám tang của 14 học sinh. "Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ". Nhưng lần này, nhiều con ngựa đau. Đau hơn vụ Việt Cộng pháp kích vào trường Tiểu học Cai Lậy (Định Tường) năm 1973, chỉ thiệt mạng 2 học sinh mà thôi, nhưng đã được báo chí Sài Gòn lúc đó loan tin với tít lớn (vì VC đã vi phạm hiệp định Paris) ...

Sau khi Yến đã an nghỉ giấc ngàn thu, bấy giờ Khanh mới từ bệnh viện về nhà, bây giờ Khanh mới hiểu; em nhìn ảnh vợ hiền với bình hoa tươi và 2 cây nến leo lét cháy ở trên bàn thờ linh vị ... Khanh khóc lặng người đi ... Các cháu sà vào lòng bố chẳng hiểu chuyện gì, cũng khóc theo.

Than ôi! Còn cảnh nào đau lòng hơn cảnh này không? Một gia đình đang êm ấm hạnh phúc thế mà bỗng chốc tang tóc ly tan?. Vì đâu nên nỗi? Sao Việt Cộng độc ác thế nhỉ? Sao lại giết học sinh? Sao lại giết người vô tội để gây ra bao tang tóc đau thương?

Thấm thoát đã 35 năm trôi qua; tạ ơn Thượng Đế đã đoái thương các cháu tôi: Tạ Thị Ngân Hà, hiện là Bác sĩ nội khoa tại bệnh viện Oklahoma, Tạ Quang Khôi và Tạ Quang Khiêm đã tốt nghiệp kỹ sư điện (EE), hiện đang làm việc cho chính phủ Hoa Kỳ và các cháu đã có gia đình yên vui, hạnh phúc. Nhân đây, tôi cũng xin cám ơn chị Hoa đã hết lòng thương yêu chăm sóc các cháu tôi cho đến khi khôn lớn." (Tạ Hạnh Đức, S.California, October 2007)

GS Nguyễn Lý Tưởng

Câu hỏi của các cháu học sinh ở các trường học Tỉnh Lỵ Mỹ Tho và Vĩnh Long biểu tình hỏi quý thầy cô: Cộng sản là cái gì mà tàn ác quá vậy? Sa-tăn hay quỷ sứ? quỷ vương hay ma? Thú hay người vượn hóa thành? Vượn người đâu có quá ác như vậy? Tại sao Việt cộng bắn mortier vô Trường học Cai Lậy giết học sinh? Tại sao Việt cộng pháo kích súng cối vào Trường Tiểu học Phú Quới tỉnh Vĩnh long làm cho trẻ em chết? Chúng con đâu có tội gì mà họ giết con nít như chúng con?




20 năm sau thảm kịch Thiên An Môn, nguyên do và bài học - Lữ Giang

Lữ Giang

Nhân đánh dấu 20 năm ngày xảy ra biến cố Thiên An Môn (1989 – 2009), một cuộc hội thảo nhỏ đã diễn ra tại Bắc Kinh hôm 10/05/2009 gồm khoảng 20 giáo sư và trí thức nổi tiếng, để đánh giá lại biến cố này. Những quan điểm được nêu lên trong cuộc hội thảo này có thể sẽ giúp chúng ta rút ra được bài học gì về kinh nghiệm đấu tranh?

Người tù của nhà nước

Trong khi đó, tập hồi ký “Prisoner of the State: The Secret Journal of Premier Zhao Ziyang” (Người Tù của Nhà Nước: Nhật ký Bí Mật của Thủ Tướng Triệu Tử Dương), bản tiếng Anh, cũng được ra mắt tại Hong Kong hôm 19/05/2009 nói nhiều đến vụ Thiên An Môn.

Cuốn sách chỉ dày 306 trang, được biên soạn trong 4 năm dựa theo những lời phát biểu của Triệu Tử Dương được bí mật ghi lại trong những cuốn băng trong thời gian ông bị giam giữ tại gia từ 1989 đến 2005, tức đến khi ông qua đời vào ngày 17/01/2005. Tổng cộng thời gian phát biểu được ghi lại là khoảng 30 tiếng đồng hồ. Để có những cuốn băng này, ông Bào Đồng, bí thư cũ của Triệu Tử Dương đã dùng một máy ghi âm nhỏ và tìm cách đánh lừa cơ quan an ninh Trung Quốc nhiều cách trong nhiều năm mới có thể thu âm được, chẳng hạn như ông chọn những lúc đi dạo cùng với ông Triệu Tử Dương hoặc những khi nhân viên an ninh đi vắng vài chục phút, v.v. Ông Bào Đồng đã bị tù 6 năm, nhưng ông đã chuyển được cho con trai ông các đoạn băng nói trên và tư liệu để con ông chuyển qua Hong Kong và biên soạn thành sách.

Qua những cuốn băng nói trên, ông Triệu Tử Dương đã nói đến ba vấn đề quan trọng:

Vấn đề thứ nhất là các chi tiết liên hệ đến việc các nhà lãnh đạo trong “Cung Đình Trung Nam Hải” đã thảo luận và quyết định như thế nào trong thời điểm dẫn tới vụ thảm sát tại Thiên An Môn ngày 4/06/1989, thường được người Trung Quốc gọi là vụ Lục-Tứ.

Vấn đề thứ hai là ông đánh giá về “Bố Già” Đặng Tiểu Bình. Ông Triệu Tử Dương nói rằng lúc đó ông Đặng Tiểu Bình đã trên 80, không làm gì để điều hành đất nước. Ông ta chỉ ngồi nhà nghe các phe phái đến trình bày những đề nghị cho giải pháp này giải pháp khác, và lo phân xử những vụ xung khắc giữa các phe. Riêng trong vụ Thiên An Môn, theo ông Triệu Tử Dương, ông Đặng Tiểu Bình khi ấy chủ yếu thiên về ý kiến của phe bê-tông do Lý Bằng đứng đầu.

Vấn đề thứ ba là ông xác định quan điểm cải tổ kinh tế và hướng chuyển biến nội tâm của ông về hướng dân chủ sau vụ Thiên An Môn. Ông nói chính ông mới là kiến trúc sư của cải cách kinh tế Trung Quốc chứ không phải Đặng Tiểu Bình.

Trước khi đưa ra những nhận xét về quan điểm của một số giáo sư và trí thức Trung Quốc về biến cố Thiên An Môn, chúng tôi xin nói qua về biến cố này.

Biến cố Thiên An Môn

Chữ Thiên An Môn có nghĩa là “Cổng Vào Nơi An Bình Riêng” chứ không phải là “Cổng Trời Bình An” như được dịch ra tiếng Anh là “The Gate of Heavenly Peace”. Đây là một đài kỷ niệm nổi tiếng ở Bắc Kinh, nó được xây cất đầu tiên vào năm 1420 dưới Triều Đại Nhà Minh. Thiên An Môn được coi như là cổng đi vào Cấm Thành, nằm ở phía bắc Quảng Trường Thiên An Môn

Quảng trường Thiên An Môn là một quảng trường lớn, dài 800m và ngang 500m, có sức chứa khoảng một triệu người.

Thiên An Môn là trung tâm điểm của các sinh hoạt chính trị ở Trung Quốc: Phía bắc là tháp Thiên An với tấm chân dung Mao Trạch Đông. Phía tây là Sảnh Đường Nhân Dân, nơi Quốc Hội nhóm họp. Phía đông là Viện Bảo Tàng Cách Mạng. Ngay giữa quảng trường là đài tưởng niệm liệt sĩ.

Tuy được gọi là “Cổng Vào Nơi An Bình Riêng”, nhưng năm 1989, nơi đây đã trở thành nơi đẫm máu.

1. Nguyên nhân của biến cố

Khởi đầu của biến cố là cái chết của Hồ Diệu Bang. Ông sinh ngày 20/11/1915, vào đảng CSTQ từ đầu và là một nhà cải cách nổi tiếng. Ông đã cùng với Đặng Tiểu Bình thực hiện nhiều cuộc cải cách quan trọng. Ông đã tìm cách khôi phục danh dự cho những người từng bị ngược đãi thời Cách Mạng Văn Hóa. Năm 1980, ông được giữ chức Tổng Bí Thư Đảng CSTQ. Tuy nhiên, sau đó ông bị phe bảo thủ buộc tội đã phạm “những sai lầm trong các vấn đề liên quan tới những nguyên tắc chính trị quan trọng”. Ngày 16/01/1987, ông phải từ chức Tổng Bí Thư Đảng CSTQ. Ông qua đời ngày 15/04/1989.

Nhân dân Trung Quốc coi ông là người của quần chúng. Trong bản điếu văn, đảng CSTQ đã ca ngợi những công lao của ông đối với Đảng và những thành tích cách mạng của ông, nhưng lại cho rằng ông đã sáng suốt khi “nhìn nhận sự sai lầm” của mình, ý nói ông đã từ chức khi biết lỗi. Bài điếu văn này đã gây mối bất bình trong quần chúng, nhất là giới trí thức trẻ.

2. Thiên An Môn nổi sóng

Để bày tỏ sự ủng hộ Hồ Diệu Bang, một nhóm sinh viên trường Đại Học Bắc Kinh đã gửi một vòng hoa đến đài liệt sĩ ở quảng trường Thiên An Môn. Nhưng đêm đó giới lãnh đạo Trung Quốc đã ra lệnh bỏ vòng hoa này đi. Biết được chuyện này, ngày hôm sau khoảng 3.000 sinh viên đã tuần hành vào quảng trường Thiên An Môn với một bản kiến nghị gồm 7 điểm sau đây:

(1) – Đảng CSTQ phải phục hồi danh dự cho Hồ Diệu Bang và nhìn nhận sai lầm đã ép ông từ chức.

(2) – Chấm dứt cuộc tuyên truyền chống lại “thành phần tiểu tư sản” “gột rửa tư tưởng tiểu tư sản”.

(3) – Bảo đảm quyền tự do ngôn luận.

(4) – Tăng ngân sách giáo dục.

(5) – Cho phép tổ chức các cuộc biểu tình ôn hòa.

(6) - Chấm dứt nạn tham nhũng vào bao che bằng cách công bố lương của các lãnh đạo và hồ sơ thuế.

(7) – Chấm dứt sự dính líu của chính quyền vào các doanh vụ bất chính.

Bản kiến nghị này đã bị các nhà lãnh đạo Trung Quốc bác bỏ. Không khí bất mãn dâng lên trong các trường đại học. Ngày 18/04/1989, khoảng 30.000 sinh viên tụ tập tại quảng trường Thiên An Môn bất chấp lệnh giải tán của chính quyền.

Ngày 20/04/1989, một đám đông đến trước trụ sở của đảng CSTQ trao vòng hoa tưởng niệm Hồ Diệu Bang cho ban lãnh đạo Đảng. Đám đông bị cảnh sát chận lại. Sau nhiều lần cảnh cáo, cảnh sát đã đàn áp bằng dùi cui và bắt giữ nhiều người.

Đêm 21/4 có khoảng 200.000 sinh viên đã tụ tập tại quảng trường Thiên An Môn để tưởng niệm Hồ Diệu Bang. Ủy Ban Đoàn Kết Sinh Viên được thành lập do hai hai sinh Vũ Khải (Wuer Kaixi) và Quang Đán (Wang Dan) đại diện lãnh đạo. Một dàn loa phát thanh được đưa tới lắp đặt tại quảng trường. Ban tổ chức tuyên bố rằng cuộc tưởng niệm sẽ được biến thành một cuộc tuần hành cho dân chủ. Họ yêu cầu tất cả các trường đại học gửi đại diện đến.

Sau đó, các sinh viên đã thông qua bản kiến nghị 7 điểm đã được công bố và các phương pháp biểu tình. Các phương pháp này gồm có tuyệt thực, bãi khóa, và biểu tình ngồi. Ban tổ chức nhấn mạnh rằng đây là cuộc biểu tình bất bạo động.

Để đối phó lại, trước hết nhà cầm quyền Trung Quốc cho đăng trên nhật báo Nhân Dân những bài lên án cuộc biểu tình của sinh viên, cho rằng đó là một cuộc nổi loạn, đồng thời đưa cảnh sát ra ngăn chận các sinh viên đổ vào quảng trường. Tiếp theo, cơ quan an ninh đã yêu cầu các trường đại học trình danh sách các giáo sư và sinh viên tham gia biểu tình, nhưng các trường đại học đều từ chối.

Được tin các sinh viên ở Bắc Kinh bắt đầu biểu tình đòi dân chủ, sinh viên tại nhiều tỉnh khác cũng tổ chức biểu tình. Nhiều nơi, các cuộc biểu tình đã trở thành bạo động, một số cơ sở của chính quyền bị đốt phá.

Ngày 27/4, một cuộc tuần hành lớn đã diễn ra: Hơn 200.000 sinh viên từ 42 trường đại học đã đi bộ 40 km trên các ngả đường để tiến về Bắc Kinh. Bằng cách nắm tay nhau, họ đã vượt qua 18 hàng rào cảnh sát. Hàng triệu người đứng hai bên đường xem sinh viên tuần hành. Họ đem thức ăn và nước uống cho những người biểu tình. Các cuộc biểu tình cứ thế kéo dài từ ngày này qua ngày khác.

Ngày 13/5 khoảng 2000 sinh viên đã tham gia một cuộc tuyệt thực tại đài liệt sĩ ở quảng trường Thiên An Môn. Họ mang trên đầu cái băng có hai chữ “tuyệt thực” mà mặc những chiếc áo có viết các chữ: “Không có dân chủ, chúng tôi thà chết”.

Đến ngày thứ ba, số người tuyệt thực đã lên tới 3000, nhưng khoảng 600 người đã phải được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Ngày thứ tư, hàng triệu người dân đã đổ ra trên các đường phố Bắc Kinh để bày tỏ sự ủng hộ.

Thủ tướng Lý Bằng đã đứng ra thương lượng với những sinh viên tuyệt thực, nhưng không đi đến kết quả nào, vì ông ta từ chối không đề cập đến các yêu sách của sinh viên. Ông chỉ yêu cầu sinh viên ngưng biểu tình và tuyệt thực.

Sau đó, với sự chấp thuận của Đặng Tiểu Bình, Thủ Tướng Lý Bằng đã ra lệnh cho bộ đội tiến vào thành phố để “tái lập trật tự”, đồng thời ban hành lệnh giới nghiêm. Bộ Chính Trị đã cho điều hai quân đoàn 27 và 28 ở các tỉnh xa, không hiểu chuyện gì đã thật sự xẩy ra ở Bắc Kinh, tiến vào thủ đô “tiêu diệt bọn phản cách mạng”. Các binh sĩ bị cấm xem báo, nghe đài một tuần trước khi được huy động. Nguồn tin duy nhất họ nhận được là từ Ban Văn Hóa Thông Tin với lời tuyên truyền rằng đây là một cuộc nổi loạn của bọn người xấu.

Trước áp lực nặng nề của chính quyền, lãnh tụ sinh viên Quang Đán từ chức và kêu gọi chấm dứt cuộc biểu tình. Vũ Khải tuyên bố anh ta sẽ tiếp tục tham gia cho đến ngày 20/6, khi Quốc Hội nhóm họp.

Mặc dầu có lệnh giới nghiêm, dân chúng vẫn xuống đường ủng hộ cuộc biểu tình. Các xe quân sự bị dân chúng chận lại.

Ngày 30/05, một bức tượng được gọi là “Nữ Thần Dân Chủ”, cao 10m, đã được dựng lên ở quảng trường Thiên An Môn, đứng đối diện với tấm hình Mao Trạch Đông treo trước cổng Thiên An.

Ngày 31/05, bộ đội bắt đầu tiến vào thành phố. Cảnh sát chìm ngồi trong các xe bus và du lịch đi vào trung tâm. Đến ngày 2/06 đã có khoảng 200.000 bộ đội được đưa vào Bắc Kinh. Khoảng 10.000 bộ đội bị dân chúng chận lại. Biết rằng chính quyền đang điều động quân đội để dẹp biểu tình, các sinh viên vẫn nhất quyết không lùi bước.

3. Thiên An Môn đẫm máu

Ngày 3/06/1989, lệnh hành quân được ban ra. Lệnh của chính quyền:

(1) Bắn bỏ bất cứ ai kháng cự.

(2) Quảng trường phải được dọn dẹp sạch trước khi trời sáng.

(3) Tất cả những người lãnh đạo cuộc biểu tình đều phải bị bắt.

Bộ đội dàn ra trên các đường phố, đánh đập và bắt giữ bất cứ ai kháng cự. Quảng trường Thiên An Môn bị khóa chặt. Cảnh sát ném lựu đạn cay, dùng dùi cui và roi điện đánh đập mọi người. Tiếng súng nổ vang ở ngoại vi thành phố. Lúc 2 giờ sáng xe thiết giáp ủi bằng các chướng ngại vật do sinh viên dựng lên. Bộ đội nã súng vào đoàn biểu tình. Từng đoàn xe tăng tiến vào quảng trường cán nát các thây người.

Charlie Cole, một nhiếp ảnh gia của tạp chí Newsweek, cho biết vào tháng 5 năm 1989, khi các cuộc biểu tình của các sinh viên ngày càng lên cao, ông được phái đến Bắc Kinh. Ông kể lại:

“Buổi chiều tối ngày 3/06, sau một ngày đương đầu căng thẳng giữa phía quân đội và những người biểu tình, quân đội bắt đầu bao vây trung tâm thành phố và cuối cùng, họ cho xe tăng và xe bọc thép vào ngay giữa Quảng Trường Thiên An Môn”.

“Phía trên quảng trường, ở ngay trước Tử Cấm Thành, một chiếc xe bọc thép bị xé lẻ khỏi đội hình. Trong lúc hoảng loạn tìm cách thoát khỏi đám đông, chiếc xe này đã cán lên một số người biểu tình. Ngay lập tức, điều đó đã làm dấy lên tình trạng bạo lực. Đám đông chặn chiếc xe, lôi những người lính ra, giết chết rồi phóng hoả đốt xe. Cảnh tượng diễn ra ngay trước mắt một số tiểu đội lính đứng cách đó khoảng 150 mét …”

“Khi tôi vừa đến gần những tán cây trên phố thì quân đội nổ sung vào đám đông ở phía trên quảng trường. Mọi người hoảng loạn khi bị bắn. Trời rất tối nên tôi không thể chụp ảnh, mà khi đó lại không thể dùng đèn flash được …”

“Vào khoảng 4 – 5 giờ sáng, hàng đoàn xe tăng chạy vào quảng trường nghiền nát xe buýt, xe đạp và người dưới bánh xích”.

“Ngày hôm sau, 5/6, tôi và Stuard lại ra ban công theo dõi tình hình. Khi trời sáng, hàng trăm lính xếp hàng trước lối vào quảng trường. Họ nấp sau những chướng ngại vật, chĩa tiểu liên vào sinh viên và dân cư tò mò đang đứng cách đó khoảng 100 mét”.

“Chúng tôi nhìn thấy hầu như trên mái nhà nào, kể cả toà nhà chúng tôi đang đứng, cũng có cảnh sát mật mang ống nhòm và máy truyền tin đang tìm cách kiểm soát tình hình”.

“Vào khoảng trưa, chúng tôi nghe tiếng xe bọc thép nổ máy và bắt đầu rời quảng trường để giải tán đám đông ở Đại lộ Trường An, một số súng máy đã nhả đạn vào đám đông. Mọi người bỏ chạy vì hoảng loạn”.

“Ngay sau đó, khoảng 25 xe tăng xếp hàng bắt đầu lăn bánh theo cùng hướng dọc theo đại lộ. Đột nhiên, chúng tôi thấy một thanh niên bước ra từ lề đường, một tay cầm chiếc áo khoác, tay kia cầm túi siêu thị bước vào lối đi của những chiếc xe tăng với ý định chặn đoàn xe lại”.

“Thật là chuyện không thể tin được, nhất là sau tất cả những gì đã xảy ra. Không thể tin được điều đó, tôi vừa tiếp tục chụp ảnh, vừa dự đoán về số phận bất hạnh của anh”.

“Và tôi ngạc nhiên khi thấy chiếc xe tăng đi đầu dừng lại rồi tìm cách đi vòng quanh người thanh niên. Thế nhưng anh lại tiếp tục chặn đầu xe. Cuối cùng, cảnh sát mật tóm lấy người thanh niên và và lôi anh đi”.

“Tôi và Stuart nhìn nhau, cùng kinh ngạc về những gì mình vừa mới chứng kiến và ghi lại được bằng hình ảnh”…

“Rất nhiều cơ quan và các tạp chí đã tìm cách xác định danh tính người thanh niên và những gì đã xảy ra với anh sau đó. Một số người nói anh tên là là Vương Vỵ Lâm, nhưng không chắc chắn lắm.”

4. Một vài con số được ghi nhận

Cuộc đàn áp kéo dài vài ngày sau đó. Bộ đội nã súng vào bất cứ ai có thái độ khiêu khích hay cản đường. Các trường đại học bị lục soát, các nhân vật bất đồng chính kiến bị bắt đi. Hơn 1.500 người bị bắt, trong đó có ít nhất 6 lãnh tụ sinh viên trong danh sách 21 người bị truy nã.

Sáng ngày 8/6, một sự im lặng ngột ngạt bao trùm thành phố. Trong số 21 sinh viên nằm trong danh sách truy nã của chính quyền, có khoảng phân nửa đã lần lượt trốn ra nước ngoài.

Chính quyền tuyên bố thắng lợi trước “Cuộc nổi loạn phản cách mạng.” Một số đơn vị bộ đội từ chối không tham gia vào cuộc thảm sát đã bị giải giới sau đó. Tất cả các xác chết đều được dọn sạch trong đêm theo lệnh của chính quyền.

Số người chết và người bị thương không thể biết chính xác được. Theo báo cáo của tổ chức Hồng Thập Tự Quốc Tế, có khoảng 2.600 người dân bị giết và hơn 30.000 người bị thương. Theo báo cáo của chính quyền Trung Quốc, có khoảng 300 lính và người dân chết, 5.000 lính và 2.000 dân bị thương, có 400 lính mất liên lạc. Theo báo cáo của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, có hơn 4.000 người chết, trên 40.000 người bị thương.

Hậu Thiên An Môn

Cả thế giới đã lên án chính quyền Trung Quốc trong việc đàn áp đẫm máu ở Thiên An Môn. Hồng Kông, Đài Loan đã mở cửa biên giới để cho người Trung Quốc vào tị nạn…

Quốc Hội Hoa Kỳ (HK) đã cấp tốc họp và biểu quyết với tỉ lệ 418/0 quyết định trừng phạt chính quyền Trung Quốc bằng các biện pháp sau đây: (1) Ngưng giao thương; (2) cấm bán các trang bị cho cảnh sát, các dụng cụ kỹ thuật cao và vũ khí; (3) ngưng các chương trình thăm viếng quân sự.

Quan hệ Hoa Kỳ – Trung Quốc trở nên căng thẳng. Trung Quốc tố cáo rằng HK can thiệp vào nội bộ Trung Quốc khi Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Bắc Kinh giúp những người bị truy nã thoát ra nước ngoài.

Các nước trong Liên Hiệp Âu Châu, nhất là Pháp và Đức, cũng đã áp dụng các biện phá chế tài đối với Trung Quốc gióng như ở Hoa Kỳ.

Trong khi đó, người dân Hoa Lục bị cấm không được nhắc đến biến cố ngày 4/06. Chính quyền cấm mọi hình thức bàn bạc về vụ Thiên An Môn. Ngay cả nhửng người mẹ mất con trong cuộc thảm sát đó cũng không được công khai khóc thương con họ.

Các sinh viên đã tham gia vào vụ biểu tình tại Thiên An Môn may mắn thoát được đến các nước khác, đã tiếp tục cuộc đấu tranh cho một đất nước Trung Quốc dân chủ và tự do.

Nhưng “để lâu cứt trâu cũng hoá bùn”. Vào tháng 12 năm 2004, tại Hội Nghị cao cấp của 7 nước trong Liên Hiệp Âu Châu (EU), Pháp và Đức đã đứng ra vận động hủy bỏ cấm vận vũ khí cho Trung Quốc, nhưng chưa được toàn thể các hội viên đồng ý. Bắc Kinh cho rằng quyết định cấm vận này là tàn dư thời kỳ chiến tranh lạnh, nay đã đến lúc cần phải khai tử. Tuy nhiên, Hội Nghị cũng đi đến quyết định mở rộng cánh của hợp tác kinh tế với Trung Quốc. Hoa Kỳ cũng đi theo. Nay mọi chuyện coi như đã trở lại bình thường.

Bài học lịch sử

Trong cuộc hội thảo bỏ túi tại Bắc Kinh hôm 10/05/2009, học giả Thôi Vệ Bình cho rằng sự im lặng tập thể (tại Trung Quốc) trong 20 năm qua đã tác động xấu đến đạo đức xã hội. Ông nói: “Ngay cả nếu chúng ta không trực tiếp gây ra tội ác đẫm máu 20 năm trước, việc chúng ta im lặng ngần ấy năm cũng khiến chúng ta thành kẻ đồng lõa.”

Các giáo sư Thôi Vệ Bình, Từ Hữu Ngư, Trương Bác Thụ, v.v., đặt câu hỏi rằng sự im lặng của giới trí thức trong nước trong suốt 20 năm qua “đã làm hại gì cho tinh thần và đạo đức dân tộc?” Họ cho rằng khi “chính phủ đối xử với dân như kẻ thù, nhân dân sẽ đáp lại y như thế”. Họ kết luận rằng thứ tư duy của Đặng Tiểu Bình và các lãnh đạo cộng sản khác “là sự bắt đầu của mọi điều sai trái trong lịch sử”.

Đây chỉ là những nhận định về nguyên nhân của biến cố, những lời sám hối hay lên án suông. Bài học lịch sử Thiên An Môn đắt giá hơn nhiều.

1. Đàn áp để bảo vệ quyền bính

Nếu những sự kiện như trên xẩy ra ở Miến Điện, Bắc Hàn, Nam Hàn, Indonesia, Zimbabwe hay Việt Nam, v.v., các nhà cầm quyền này cũng sẽ hành động như nhà cầm quyền Trung Quốc để bảo vệ quyền bính. Một vài thí dụ cụ thể:

Tháng 5 năm 1980, ông Kim Đại Trọng lãnh đạo một cuộc nổi dậy tại Gwangju, Nam Hàn, để đòi hỏi dân chủ. Tổng Thống Chung Đô Hoan liền đưa quân đội đến dẹp tan. Tài liệu của chính quyền nói có 191 người chết và 852 người bị thương. Nhưng các hãng thông tấn quốc tế ước lượng số người bị giết trên 1000 người. Nếu không có sự can thiệp của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, ông Kim Đại Trọng đã bị xử tử.

Tháng 10 năm 2007, dân chúng Miến Điện cũng biểu tình đòi dân chủ. Lúc đầu chỉ có 30.000 người, dần dần lên tới 50.000 rồi 100.000…, trong số đó có 15.000 tăng ni. Mặc dầu Liên Hiệp Quốc và Liên Hiệp Âu Châu đã kêu gọi tránh dùng bạo lực, nhà cầm quyền quân phiệt Miến cũng đã huy động quân đội đến dẹp biểu tình. Tin của nhà cầm quyền cho biết có khoảng 200 người chết, nhưng các hãng thông tấn ngoại quốc tin rằng đã có hàng ngàn nguời chết, khoảng 6000 người bị bắt, trong đó có 1.400 nhà sư. Cũng tại Miến Điện, trong năm 1988, sinh viên và học sinh cũng đã nổi dậy đòi dân chủ với kết quả là có khoảng 3000 người bị giết.

2. Thiếu tổ chức và lãnh đạo chặt chẽ

Sở dĩ cuộc biểu tình vĩ đại của các sinh viên ở Thiên An Môn bị thất bại vì các lý do chính sau đây:

Vụ Thiên An Môn là một cuộc nổi dậy bột phát do lòng hăng say của tuổi trẻ, được khơi động bởi một biến cố của thời cuộc, vì thế không được tổ chức và lãnh đạo chặt chẽ, không có chiến lược tổng quát và chiến thuật cho từng giai đoạn, hầu hết đều do sáng kiến cá nhân … thất bại là chuyện không tránh được.

Năm 1945, Việt Minh đã thành công trong việc cuớp chính quyền ở Việt Nam, mặc dầu lúc đó số đoàn viên của họ lúc chỉ bằng 1% số đoàn viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng, đó là nhờ Việt Minh được tổ chức và lãnh đạo chặt chẽ, biết bắt kịp thời cơ và biết dùng thủ đoạn để đạt mục tiêu của mình.

Năm 1989, Công Đoàn Đoàn Kết ở Ba Lan đã làm sụp đổ chế độ cộng sản ở Ba Lan và góp phần to lớn vào sự sụp đổ nhanh chóng sau đó các chế độ cộng sản trên khắp Đông Âu là nhờ có tổ chức và lãnh đạo, và biết nắm lấy thời cơ.

Chỉ kích động sự bất mãn của quần chúng để họ tự động đứng lên thì không thể làm thay đổi một chế độ độc tài được. Phải có những tổ chức lãnh đạo đứng đàng sau khai thác và điều khiển sự bất mãn đó mới có thể làm thay đổi thời cuộc.

3. Thủ đoạn của các chính quyền

Trước một cuộc nổi dậy của đám đông không được kiểm soát, không thể nào tránh được bạo động. Chính quyền sẽ vin vào đó để đàn áp. Giả thiết sự bạo động không xẩy ra, chính quyền cũng sẽ tạo ra bạo động để có lý do hành động.

Phương pháp thứ hai mà các chính quyền thường dùng để dẹp các cuộc nổi dậy là điều tra xem tổ chức hay cá nhân nào đã lãnh đạo cuộc nổi dậy. Nắm được nhóm lãnh đạo và xách động thì đám đông như rắn mất đầu.

Trong vụ Thiên An Môn, nhà cầm quyền Trung Quốc đã để cho biến cố kéo dài từ ngày 14 tháng 4 đến ngày 4 tháng 6 năm 1989 mới ra tay. Thời gian 50 ngày quá đủ để cho nhân viên an ninh mở cuộc điều tra. Họ giả làm ký giả, sinh viên biểu tình, dân chúng đi xem … để quay phim và chụp hình những người lãnh đạo và xách động cuộc biểu tình. Họ đã đưa ra danh sách 21 lãnh tụ sinh viên bị truy nã. Nếu tính cả những sinh viên có khả năng xách động, con số này có thể lên đến hàng ngàn người. Do đó, các tổ chức chuyên tạo bạo loạn như các đảng Cộng Sản, không bao giờ để cho những người lãnh đạo bị lộ diện. Họ chỉ dùng các tay chân bộ hạ để hành động.

4. Thái độ của các cường quốc

Khi một phong trào đấu tranh đòi dân chủ nổi lên ở một quốc gia độc tài, các cường quốc Tây phương thường lên tiếng ủng hộ hay bênh vực. Nếu phong trào đó thành công, họ sẽ nhảy vào và biến phong trào thành đồng minh lệ thuộc. Nếu phong trào đó thất bại, họ sẽ lên tiếng bênh vực qua loa rồi để cho đi vào lãng quên, sống chết mặc bây. Do đó, tự lực cánh sinh bao giờ cũng là nền tảng của các cuộc đấu tranh.

5. Chiến thuật diễn biến hoà bình

Kinh nghiệm cho thấy nổ lực tạo nên các cuộc nổi đậy để lật đổ một chế độ độc tài rất khó thành công và thường xẩy ra các biến loạn liên tiếp sau khi những chế độ mới được hình thành. Do đó, ngày nay các cuờng quốc đã quyết định dùng “chiến thuật diễn biến hoà bình” để làm thay đổi những chế độ độc tài còn lại. Nói nôm na là dùng kinh tế và giáo dục để làm thay đổi chế độ chính trị, “dùng thắng con thay thế thằng cha”, v.v. Kế hoạch này có khi kéo dài 15, 20 hay 30 năm.

Trong hồi ký “Người Tù của Nhà Nước…”, ông Triệu Tử Dương đã nói rằng đa số sinh viên cũng chỉ mong cải cách dân chủ kiểu xã hội chủ nghĩa sao cho dễ thở hơn chứ không có ý phản loạn. Ông cho rằng hệ thống cộng sản ở Trung Quốc còn cải tổ được và sinh viên chỉ nêu ra các “tiêu cực”.

Ý của ông Triệu Tử Dương có lẽ cũng phù hợp với đường lối của các cường quốc ngày nay. Dĩ nhiên, những người thích mì ăn liền không chấp nhận đường lối đó, nhưng dù họ có cố gắng đến hơi thở cuối cùng, cũng không thể làm đảo ngược được đường lối mà các “Anh Hai” của họ đang theo đuổi. Vấn đề là phải tìm một hướng đi mới để đấu tranh có kết quả hơn.

Dầu sao, biến cố Thiên An Môn cũng đã đưa tới nhiều thay đổi tại Trung Quốc từ đó cho đến nay và máu của các nhà tranh đấu kiên cường đã không bị đổ ra một cách vô ích.

Lữ Giang