Wednesday, June 3, 2009

China security tight in Tiananmen

Reuters June 4, 2009, 4:16 pm

BEIJING (Reuters) - Chinese police were out in force on Thursday to prevent commemoration of the crackdown on pro-democracy protesters around Tiananmen Square 20 years ago, a day after Washington demanded Beijing account for those killed.

Tanks rolled into the square before dawn on June 4, 1989, to crush weeks of student and worker protests. The ruling Communist Party has never released a death toll and fears any public marking of the crackdown could undermine its hold on power.

China has changed dramatically in the past two decades. Market reforms have lifted hundreds of millions out of poverty and transformed China into the world's third-largest economy, making similar protests on the same scale highly unlikely today.

The 1989 killings strained ties between Washington and Beijing and the reverberations were evident on the eve of the anniversary.

U.S. Secretary of State Hillary Clinton called on China to release all those still imprisoned in connection with the protests, to stop harassing those who took part and to begin a dialogue with the victims' families.

"A China that has made enormous progress economically and is emerging to take its rightful place in global leadership should examine openly the darker events of its past and provide a public accounting of those killed, detained or missing, both to learn and to heal," Clinton said in a statement.

The demands reflect views Washington has long held but represent a tougher stance on China's human rights record than Clinton has taken in her first four months in the job.

Clinton's call was echoed by Australian Prime Minister Kevin Rudd, a Mandarin-speaking former diplomat once posted in Beijing.

"All people around the world were affected by those events and they still have resonance today," Rudd told the Australian Parliament.

In a sign of Beijing's mix of confidence and caution, Tiananmen Square was open to visitors on Thursday, with hundreds of police and guards present. On the 10th anniversary of the crackdown in 1999, it was closed to the public.

Chinese crowded the square to watch the dawn flag-raising ceremony that is now a fixture of official patriotic ritual. Many were visitors from outside Beijing and appeared oblivious to the sensitive date. There were no gestures of protest.

But some people came quietly to the square to mourn.

"Today is June 4, so we came here to commemorate it," said a man surnamed Wang.

Authorities blocked access to the social messaging site Twitter (www.twitter.com), online photo sharing service Flickr (www.flickr.com), as well as briefly to email provider Hotmail. Foreign newscasts about the anniversary have been cut.

"The leaders would rather just avoid this topic," said Zhang Boshu, a philosopher in Beijing who has urged a public reckoning with the killings. "They know that the 1989 crackdown, shooting their own citizens, was a terrible blow to their legitimacy."

Foreign reporters were barred from the Beijing courtyard home of late reformist leader Zhao Ziyang, in a quiet back alley crawling with plainclothes police and security volunteers who sat on stools sipping tea.

Security officials also tightly controlled access to Beijing universities, checking ID cards and refusing permission to enter for most non-students.

HONG KONG, TAIWAN COMMEMORATIONS

Dissidents have been detained or harassed, including Zeng Jinyan, wife of detained AIDS activist Hu Jia, prompting anger from rights groups. Mothers of some of the dead from 1989 were prevented from leaving their homes to commemorate their children.

"We express our strongest outrage and vehement resistance to the Chinese government's barbaric conduct in brazenly violating international human rights covenants and stripping grieving kin of their rights," the Tiananmen Mothers, who want a full accounting of June 4, said in a statement.

Some Chinese activists and intellectuals recently urged the government to repent for the killings and start on a course of political liberalisation. But China's leaders have shown no appetite for such steps, often saying that top-down political control is needed to guard economic growth.

Thousands of people in Hong Kong are expected to attend a candlelight vigil to commemorate the victims, as they do every year, and in Taiwan activists also marked the anniversary.

The president of Taiwan, a self-ruled island claimed by China, told Beijing to face up to the truth.

"This painful period of history must be faced with courage and cannot be intentionally ducked," President Ma Ying-jeou said in a statement.

While mention of the crackdown is taboo in Chinese media, dissidents have again been trying to get the government to reassess its official verdict on the incident, which is that it was a counter-revolutionary plot.

This year's anniversary comes as the economy is slowing on the back of the global financial crisis, eliminating jobs especially in export-dependent coastal regions and making it harder for new graduates to find work.

The government has reacted quickly to the crisis, unveiling a 4 trillion yuan

Nguồn: http://au.news.yahoo.com/a/-/world/5628176/china-security-tight-tiananmen/

Hai mươi năm bức màn im lặng trên Thiên An Môn - Bảo Thạch, Trọng Nghĩa

Một thanh niên tay không chận đoàn xe tăng đến đàn áp sinh viên ở Thiên An Môn.
Một hình ảnh đã đi vào lịch sử.

Hai mươi năm sau thảm sát Thiên An Môn ngày 4/6/1989, vết thương vẫn không lành cho dù Bắc Kinh tìm đủ mọi cách kiểm duyệt ký ức. Phương Tây cũng nhanh chóng trở lại ve vãn những người mà họ từng lên án là '' những tên đồ tể Bắc Kinh "

Ngày 35 tháng 5

Trên khắp các lục địa, từ Sydney đến Luân Đôn, từ Paris sang Washington hay Hồng Kông, các buổi lễ tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn được tổ chức nhân ngày giỗ này. Nhưng tại Trung Quốc, chính quyền buộc mọi người phải mắc bệnh mất trí: mọi tin tức liên quan đến ngày "mồng bốn tháng sáu" bị thanh lọc và tẩy xóa trên mạng, đến mức hôm nay, những người sử dụng Internet tại Trung Quốc phải luồn lách, gọi "ngày 4 tháng 6" là "ngày 35 tháng 5".

Điều chắc chắc là mạng Internet phải giữ im lặng tuyệt đối. Chính quyền Trung Quốc không muốn xảy ra một sự trao đổi nào về ngày "35 tháng 5". Bức tường lữa thuộc hệ thống kiểm duyệt trên mạng đã biến thành "Vạn Lý Trường Thành" hay "Bức tường ô nhục", theo bình luận của một số người trên Internet.

Bởi vậy mà ngày hôm nay, tại Trung Quốc, rất ít khả năng diễn ra một cuộc tập hợp nào để tưởng nhớ Thiên an Môn: các nhà ly khai bị đặt dưới vòng kiểm soát gắt gao của công an. Có thể ai đó ngày mai sẽ can đảm mặc áo trắng, màu tang chế, để thầm nói lên sự phản đối, theo lời kêu gọi của đối lập lưu vong.

Theo nhà phân tích Jean-Philippe Béja (Pháp): "Trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, người ta rất lo ngại sẽ phải trả lời về việc đã thừa kế quyền lực từ những "tay đồ tể Thiên An Môn".

Bị cấm kỵ nhắc nhở đến, điều mà chính quyền quy chụp với bản án "phiến loạn chống cách mạng" vẫn còn chờ đợi một ngày kia sẽ được xét lại. Con số nạn nhân cũng không rõ ràng. Một bản tổng kết đầy đủ của Tòa Đô chính Bắc Kinh đưa ra con số 241 nạn nhân thiệt mạng, trong khi các nhà bảo vệ nhân quyền cho rằng đã có ít nhất hàng ngàn trường hợp tử vong.

Trong lớp trẻ hiện nay, ít ai biết rằng, cách đây 20 năm, từ trung tuần tháng 4 đến ngày 4 tháng 6, những thanh niên, sinh viên như họ, mang lý tưởng Dân chủ, đã được sự ủng hộ của đông đảo công nhân, giáo viên, công chức và dân cư Bắc Kinh, để khởi xướng phong trào biểu tình sẽ nhanh chóng lan sang nhiều thành phố và khiến cho Đảng Cộng sản cầm quyền gần như bị tê liệt.

Vào thời điểm đó, tất cả các ông kính truyền hình truyền thông trên thế giới đều nhắm về hướng Thiên An Môn, đặc biệt nhân cơ hội Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Gorbachov đến viếng thăm Bắc Kinh vào giữa tháng 5 năm 1989.

Theo nhiều nhà báo, phong trào mệnh danh là Mùa Xuân Bắc Kinh vào đỉnh điểm đã tập hợp được cả triệu người để yêu cầu dân chủ hóa. Các lãnh đạo sinh viên, vành khăn đỏ quấn đầu, tuyệt thực đòi đối thoại với chính quyền. Ngày 30 tháng 5, trước bức chân dung khổng lồ của Mao Trạch Đông, họ đã xây một bức tượng Nữ thần Tự do cũng vĩ đại không kém.

Lãnh đạo Đảng Cộng sản bị chia rẽ. Triệu Tử Dương muốn bênh vực cho thanh niên biểu tình, nhưng Đặng Tiểu Bình quyết định sử dụng bạo lực. Ngày 3 tháng 6, chính quyền ra lệnh cho sinh viên rời quảng trường Thiên An Môn. Trong chốc lát, các xe thiết giáp đổ về đây. Đêm hôm đó, chẳng còn nghi vấn gì nữa, quân đội được gọi là quân đội nhân dân, đã xả súng bắn vào đám đông. Một số lãnh đạo sinh viên như Vương Đan, Ngô Nhĩ Khai Hy, Sài Linh, buộc phải lui vào vòng bí mật, rồi ra đi sống lưu vong, trong khi Trung Quốc bước vào thời kỳ bị cô lập.

Phương Tây cũng nhanh chóng xí xoá vụ Thiên An Môn

Tuy nhiên, 20 năm sau vụ Thiên An Môn, từ kẻ ''tội đồ'' của thế giới, Trung Quốc đã vươn lên thành nhân vật tối cần trên chính trường quốc tế.

Thật vậy, vào thời điểm hiện nay, từ Hoa Kỳ cho đến châu Âu, tất cả những ai từng hứa hẹn trừng phạt những kẻ bị họ mệnh danh là ''những tên đồ tể tại Bắc Kinh'', đều cố ve vãn chính quyền Trung Quốc, để giành được thị phần tại một nước có sức hấp dẫn đáng kể về mặt kinh tế.

Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu đang làm các nước Phương Tây điêu đứng lại càng gia tăng uy thế của một quốc gia được cho là có khả năng cứu vãn đà tăng trưởng của thế giới, đồng thời là chủ nợ hàng đầu của siêu cường Hoa Kỳ. Sự kiện Diễn Đàn Kinh tế Thế Giới Davos trải thảm đỏ đón thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo vào tháng giêng 2009 là dấu hiệu rõ nhất về thực tế này.

Hai mươi năm sau vụ Thiên An Môn, Liên Hiệp Châu Âu đã trở thành bạn hàng số một của Trung Quốc, thậm chí còn ký kết với nước này một thỏa thuận đối tác chiến lược. Pháp và Đức, hai đầu tầu của Châu Âu, trong những năm gần đây, đã không ngừng vận động để Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận vũ khí đối với Bắc Kinh, được ban hành ngay sau vụ Thiên An Môn, viện lẽ biện pháp trừng phạt này đã ''lỗi thời''.

Thái độ của Hoa Kỳ cũng không khác. Cựu tổng thống Bill Clinton, người đã lên án những ''tên đồ tể tại Bắc Kinh'' trong cuộc vận động tranh cử năm 1992, đã chính thức đi thăm quảng trường Thiên An Môn 6 năm sau đó. Phu nhân cựu tổng thống, hiện là Ngoại trưởng Hoa Kỳ, cũng mau mắn công du Trung Quốc ngay sau khi nhậm chức. Tại Bắc Kinh, bà Hillary Clinton đã cho biết rõ là nước Mỹ sẽ không để cho hồ sơ nhân quyền chi phối tiến trình hợp tác với Trung Quốc trên các hồ sơ thiết yếu như kinh tế hay khí hậu.

Thậm chí bà chủ tịch Hạ viện Mỹ, Nancy Pelosi, người vào năm 1991 đã từng trương biểu ngữ ngay trên quảng trường Thiên An Môn để tưởng niệm ''những người chết vì dân chủ tại Trung Quốc'', cũng đã đến Bắc Kinh cuối tháng 05/2009 và tiếp xúc với giới lãnh đạo Trung Quốc, chủ yếu bàn về vấn đề khí hậu.

Theo chuyên gia John Delury, thuộc Trung Tâm Quan hệ Mỹ Trung tại hội Asia Society, tầm quan trọng của Trung Quốc đối với kinh tế toàn cầu đã đẩy tất cả các vấn đề khác xuống hàng thứ yếu. Ông T. Kumar, thuộc tổ chức Amnesty International, chi nhánh tại Hoa Kỳ cũng ghi nhận: ''Hoa Kỳ có thể cứng rắn với Miến Điện trên hồ sơ nhân quyền, nhưng khi đụng đến Trung Quốc thì do các nguyên nhân chiến lược, vấn đề lại khác".

Bảo Thạch, Trọng Nghĩa
Nguồn: http://www.rfi.fr/actuvi/articles/114/article_3724.asp
---------------------------------------

Bắc Kinh kiểm duyệt nhiều trang Web và đàn áp ly khai trước ngày kỷ niệm Thiên An Môn

Bảo Thạch, Trọng Thành

Lực lượng an ninh được tăng cường ở quảng trường Thiên An Môn
trước ngày kỷ niệm 20 vụ thảm sát. Reuters

Hôm nay, tại Trung Quốc, những người sử dụng Internet đã không thể truy cập được vào một số địa chỉ như Twitter, Hotmail hay Bing. Twitter là mạng xã hội để làm quen. Hotmail là dịch vụ thư tín. Bing là phần mềm tìm thông tin. Nhiều dịch vụ của Microsoft cũng bị gián đoạn.

Trước ngày 4 tháng 6, đánh dấu 20 năm vụ thảm sát Thiên An Môn, quảng trường này cũng bị đặt trong tình trạng canh phòng cẩn mật. Trong khi đó, nhiều nhà ly khai bị công an sách nhiễu, thậm chí bị áp tải ra ngoài thủ đô Bắc Kinh. Ông Kỳ Chí Dũng, ông Vạn Ngạn Hải đều bị đưa ra ngoài Bắc Kinh, trong khi ông Giang Kỳ Sinh, bà Tăng Kim Yến, vợ ông Hồ Giai, bị cấm không được ra khỏi tư gia. Xin nhắc lại, ông Bào Đồng, nguyên là cánh tay phải của ông Triệu Tử Dương, đã bị đưa lên vùng cao nguyên vào tuần trước. Từ Bắc Kinh, thông tín viên Marc Lebeaupin tường thuật.

"Đó là điều chúng ta đã có thể đoán trước. Bắc Kinh đã chuẩn bị một bộ máy công an, đồng thời kiểm soát báo chí và Internet. Trên nguyên tắc, chức năng của bộ máy này là cấm chỉ mọi hình thức phản kháng trong hoạt động tưởng niệm các sinh viên bị sát hại trong đêm ngày mùng 3 rạng sáng ngày 4 tháng 6 năm 1989.

Quảng trường Thiên An Môn đã trở thành một nơi rất khó vào. Hàng trăm công an, trong đó có cả công an mặc thường phục, theo dõi chặt lối vào quảng trường. Khách tham quan bị lục soát, xét hỏi giấy tờ, các phóng viên bị đẩy ra. Một số người đã bị câu lưu vì thử làm phỏng vấn về Thiên An Môn. Hiệp hội các nhà báo nước ngoài đã chính thức lên án «những biện pháp xiết chặt một cách thô bạo đối với các phóng viên và đi ngược lại luật pháp Trung Quốc».

Từ cách đây vài tiếng đồng hồ, nhà cầm quyền cũng đã hạn chế đáng kể việc truy cập Internet. Hàng chục địa chỉ nổi tiếng nhất đã không thể vào được nữa. «Nhà cầm quyền Trung Quốc không từ bất cứ hành động nào để áp đặt một bầu không khí im lặng lên sự kiện Thiên An Môn». Đây là nhận định của hiệp hội Phóng viên không biên giới sáng hôm nay (3/6).

Các phương tiện thông tin đại chúng Trung Quốc hoàn toàn không nói gì đến dịp kỷ niệm 20 năm Mùa xuân Bắc Kinh, không có bất cứ một nhắc gợi nào, kể cả trên các kênh truyền hình chính thức. Các bình luận duy nhất nghe thấy được ở Bắc Kinh đến từ câu trả lời các ký giả ngoại quốc của phát ngôn viên Bộ ngoại giao Trung Quốc. Theo phát ngôn viên này, vụ thảm sát Thiên An Môn chỉ là «một sự cố chính trị nhỏ, mà về chuyện này mọi thứ đều đã được nói cả rồi !». Trong chuyện này, không cần phải xin lỗi về bất cứ điều gì, phát ngôn viên nói rõ. Ngay cả những phát biểu của người đại diện Bộ ngoại giao Trung Quốc thậm chí cũng đã không được đưa vào thông báo chính thức.

Và cuối cùng, một số các nhà ly khai và cha mẹ các nạn nhân cũng bị buộc phải im lặng hoặc phải rời khỏi Bắc Kinh từ mấy ngày trước dịp kỷ niệm này. Đó là trường hợp ông Bào Đồng, một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của thời đó và là một trong những người ủng hộ mục tiêu dân chủ hóa chê độ. "

Trong khi đó, tại nhiều quốc gia trên thế giới, từ Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Thụy Điển đến Hồng Kông, các buổi lễ tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn sẽ được tổ chức trọng thể. Các hiệp hội bảo vệ nhân quyền kêu gọi tập hợp trước nhiều tòa đại sứ Trung Quốc, để đòi chính quyền Bắc Kinh mở một cuộc điều tra độc lập về sự kiện ngày 4 tháng 6 năm 1989 tại Thiên An Môn.

Bảo Thạch, Trọng Thành

Nguồn: http://www.rfi.fr/actuvi/articles/114/article_3725.asp

HỒ SƠ THIÊN AN MÔN - Từ Nguyên Nguyễn Văn Thuận



Cuộc tuần hành của 100,000 sinh viên Trung Hoa trên đường phố Bắc Kinh
(mùng 2 tháng 6 năm 1989)

Sự can đảm của một sinh viên vô danh

Từ Nguyên Nguyễn Văn Thuận


Biến có Thiên an môn xẩy ra đã gần 12 năm. Tình tiết về vụ thảm sát những người sinh viên đấu tranh cho tự do, dân chủ tại Trung hoa lục địa vào ngày 4 tháng 6 năm 1989 đã được sách báo nói đến nhiều. Thế giới ngày nay không còn những ốc đảo che kín bởi những bức màn sắt, những bức màn tre như hồi mấy chục năm về trước, nên những sự thật, hay ít nhất là một phần của sự thật đã được phơi bày trung thực, mặc cho những âm mưu che đậy của nhà cầm quyền. Thiên an môn là một vết nhơ, cọng thêm vào trăm ngàn tội ác diệt chủng của những con người nhân danh ý thức hệ cộng sản để áp đặt bá quyền chuyên chính lên nhân loại.

Nhưng với những chiến sĩ tự do, Thiên an môn mãi mãi là thiên anh hùng ca. Ngày nay, những vũng máu trên cái quảng trường rộng lớn nhất thế giới đó đã được rửa sạch, những

bức tường thành đã được sơn quét lại cho đẹp hơn nhân ngày kỷ niệm 50 năm thành lập cộng hòa nhân dân Trung quốc. Nhưng du khách ghé thăm nơi đó vẫn như còn thấy đâu đây hình ảnh người sinh viên lấy thân xác nhỏ nhoi ngăn chận đoàn xe thiết giáp của bè lũ cướng quyền, vẫn còn thấy hàng ngàn xác người gục ngã trước làn đạn của quân đội giải phóng nhân dân, vẫn còn thấy những oan hồn vất vưỡng, vẫn còn thấy ý chí bất khả tiêu diệt của những con người vùng lên đấu tranh cho quyền sống của con người.

Bởi thế, cũng không lạ khi gần đây, vào thượng tuần tháng giêng năm nay, Thiên an môn lại được làm sống lại trong dư luận thế giới qua một tài liệu vừa được ấn hành và phát hành rộng rãi, cuốn “Những tài liệu về Thiên an môn”, The Tiananmen Papers, hợp soạn bởi Zhang Liang, Andrew J. Nathan và Perry Link, qua nhà xuất bản Public Affairs tại Nữu ước.

“Những tài liệu về Thiên an môn” là một tập hợp gần như toàn bộ những tài liệu mật xuất xứ từ cơ quan đầu não trung ương của chế độ: ủy ban thường vụ chính trị bộ, được sắp xếp theo thứ thự ngày tháng, trong khoảng thời gian bắt đầu tứ cái chết của Hồ diệu Bang ngày 15 tháng 4, 1989 cho đến ngày cuối của phiên họp lần thứ tư ủy ban trung ương đảng vào ngày 24 tháng 6 năm đó. Tài liệu gồm tin tức, phúc trình, báo cáo từ các dảng bộ địa phương , từ bộ công an, cơ quan tình báo trung ương, từ Tân hoa xã với các văn phòng khắp trên thế giới. Tài liệu cũng bao gồm biên bản các phiên họp hội đồng nhà nước, chính trị bộ, những cuộc nói chuyện riêng của cac cấp quyền cao nhất, hay những chỉ thị bên lề nhưng mang tính quyết định.

Hàng ngày, những khối lượng lớn tin tức, báo cáo, phúc trình có tính tối mật được gởi về Trung Nam Hải, tổng hành dinh trung ương đảng. Các tài liệu này chỉ được phân phối đến khoảng 40 đảng viên cao cấp đang nắm giữ những chức vụ trọng yếu nhất trong đảng, và chính quyền. Trong nhiều trường hợp, sự hạn chế còn gắt gao hơn, hồ sơ mật chỉ được trình lên năm ủy viện trong ủy ban thường vụ chính trị bộ, và 8 đảng viên kỳ cựu trong hội đồng chỉ đạo. Và do vậy, mọi vấn đề quan trọng liên quan đến sự sống còn của đất nước, của trăm, ngàn triệu dân đều được giải quyết bởi một nhúm lãnh đạo, nhiều khi chỉ bởi một, hai người được xem là đầu não ( core ) của chế độ.Hồ sơ mật, sau đó, bị tiêu hũy hay được cất giữ trong văn khố. Người ngoài cuộc, dẫu nắm giữ những chức vụ trọng yếu nhất về sau nhiều khi cũng không nắm vững được vấn đề, vì càng biết nhiều, càng dễ chết. Hồ sơ mật thiên an môn cũng nằm trong trường hợp đó. Do vậy, khi đọc “ Những tài liệu về Thiên an môn “, một số câu hỏi phải được đặt ra: ai đã tiết lộ hồ sơ, bằng cách nào, mức độ khả tín , và dụng ý của người tiết lộ.

Vấn đề thứ nhất: người nào đã tiết lộ hồ sơ mật Thiên an môn?

Cuốn sách ( the Tiananmen papers ) in lại những tài liệu mật về vụ Thiên an môn, dày trên 500 trang, đến tay người đọc qua nhiều lần lọc lựa. Tài liệu được chọn in tiết lộ những quyết định quan trọng dẫn đến cuộc tắm máu quảng trường. Hơn thế, tài liệu chỉ được trích dẫn, mà không được in lại toàn bộ. Tập tài liệu, sau khi được lọc lựa, dày 516 trang, khoảng 570 ngàn chữ hoa ngữ. Ấn bản tiếng Anh mà chúng ta đang có chỉ gồm 1/3 tài liệu. Toàn bộ hồ sơ sẽ được xuất bản bằng hoa ngữ trong vài tháng tới.

Ai có thể chuyển lậu ra ngoài hàng ngàn tài liệu mật? Công việc đó không thể là công việc của một người, mà phải là công việc của nhiều người, của một tập thể, của một phe nhóm trong chính quyền hiện hữu của Trung cộng. Người chuyển tài liệu đã xác nhận điều đó. Và để có thể thủ đắc được những tài liệu này, cá nhân và nhóm tiết lộ phải ở những vị thế tối quan trọng vào thời điểm vụ Thiên an môn xẩy ra, và vẫn còn đang trong guồng máy lãnh đạo.

Mấy năm trước, Andrew Nathan, một giáo sư chính trị học tại đại học Columbia, chuyên trách về Trung hoa, được một người tên là Zhang Liang – lẽ dĩ nhiên là tên giả – tiếp xúc, và yêu cầu giúp đở để phơi bày sự thật về vụ thảm sát Thiên an môn. Trong quá khứ, Andrew Nathan cũng là người đã tham dự vào việc xuất bản cuốn The Private Life of Chairman MAO của bác sĩ Lý Phục Huy, ấn bản tiếng Việt Bí mật cuộc đời Mao Trạch Đông, và những bức thư viết từ trong tù của Ngụy kinh Sinh. Ban đầu, Andrew Nathan ngần ngại không muốn can dự vào những vấn đề chính trị của Trung quốc, nhưng càng đọc, ông càng bị cuốn hút vào những tình tiết phức tạp, bi thương của sự việc, nên sau rốt, ông đã cùng Perry Link, giáo sư Hoa ngữ thuộc đại học Princeton, hoàn tất công trình lọc lựa và phiên dịch tài liệu này để xuất bản.

Cuốn sách không nói gì về người thu tập tài liệu, Zhang Liang, vì lý do an ninh cho ông và gia đình ông. Cũng không nói gì về cách chuyển lậu tài liệu ra ngoài.

Vấn đề thứ hai: động cơ tiết lộ hồ sơ mật Thiên an môn

Trong bài “ Những suy nghĩ về ngày 4 tháng 6”, đề tựa cho cuốn sách, Zhang Liang cho thấy dụng ý của ông, và nhóm của ông về việc cho tiết lộ hồ sơ mật Thiên an môn. Bài viết rất hay, nên xin lược dịch:

“Mười hai năm chỉ là một khoảnh khắc trong lịch sử, nhưng lại khá dài trong đời sống con người. Với người đã kinh qua, biến cố 4 tháng 6 năm 1989 vẫn mãi đè nặng trong tâm khảm. Lịch sử như đóng băng lại ở đó. Viết về 4 tháng 6 là gợi lại máu của hàng ngàn người trẻ đã đổ trên đường phố quanh đại lộ Tràng an ở Bắc kinh. Thời gian có thể đã rửa sạch vết máu, nhưng không thể làm mờ ký ức. Lịch sử và nhân loại cuối cùng rồi cũng sẽ phán định ngày đó như một trong những giai đoạn quan trọng và bi hùng nhất của công cuộc đấu tranh cho dân chủ trên thế giới trong thế kỳ 20. Còn với Trung quốc, thì chắc chắn đó là sự cố lớn lao nhất trong nỗ lực dân chủ hóa đất nước.

“Vì 4 tháng 6 không chỉ đơn thuần là một sự phản kháng của sinh viên hay phong trào dân chủ ái quốc. Đó là cái kết quả cuối cùng của những cuộc biểu dương lực lượng hổ trợ dân chủ lớn rộng, kéo dài và ảnh hưởng nhất của thế kỷ, để rồi chấm dứt trong bi thảm, trong máu, và trong chiến thắng về phía cường quyền.

“Thất bại của phong trào 4 tháng sáu là tất nhiên, Nhưng phong trào cũng đạt được những tác động đáng kể. Phong trào đã đi sâu vào quần chúng từ thành thị đến thôn quê, đến các trường học, hầm mỏ, xí nghiệp, công sở, với gần cả trăm triệu người tham gia dưới hình thức này hay hình thức khác. Phong trào tự phát, và có phần hỗn loạn, nỗ bùng ra vì sự bất mãn và giận dữ của quần chúng đối với chính quyền. Nhưng phong trào đã thất bại vì sự yếu kém của nhóm cải cách trong giai tầng lãnh đạo cao cấp của đảng, vì sự chia rẽ trong nhóm biểu dương, vì thiếu một chương trình hành động chặt chẽ, vì sự ngăn cách giữa trí thức, công nhân và nông dân. Điều đó cho thấy những cáo buộc của chính quyền gán cho phong trào là một cuộc bạo loạn phản cách mạng có tổ chức là không đúng.

“Trung quốc đã thay đổi nhiều trong những năm sau đó. Bình tĩnh nhìn lại biến cố ngày đó, tôi rút tĩa được 4 bài học:

Thứ nhất, con đưởng dẫn tới dân chủ tại Trung quốc tùy thuộc ở nhân dân Trung hoa.. Dẫu chế độ cộng sản trong nước đã hủ hóa ( tham nhũng ) từ trên xuống dưới, thì chính quyền đó cũng đã tạo được những tăng trưởng kinh tế đáng kể, và nâng cao đời sống của người dân, đồng thời thiết lập được một hệ thống xâm nhập vào mọi góc cạnh của đời sống. Không một lực lượng chính trị nào có thể đối kháng được chế độ đó. Người dân không chấp nhận đảng không còn lối đi nào khác ngoài chính họ. Sự cáo chung của chế độ cộng sản tại Trung quốc là điều đương nhiên, nhưng sự sụp đổ của đảng cộng sản Trung hoa sẽ được thực hiện bởi chính những đảng viên, chứ không bởi một lực lượng nào khác ngoài đảng.

Thứ hai, phán quyết về biến cố 4 tháng 6 phải được xét lại. Đó là một tất yếu của lịch sử, và cũng là ý nguyện của toàn dân Trung hoa. Nhóm lãnh đạo đảng đã bị chia rẽ từ ngày đó. Những cá nhân trách nhiệm trong vụ đàn áp, như Đặng tiều Bình, cũng đã chết rồi. Đòi hỏi xét lại vụ án ngày càng mạnh, từ trong cũng như ngoài đảng, và chắc chắn lực lượng tự do trong đảng sẽ nắm lấy cơ hội lịch sử để đảo ngược phán quyết, rồi từ đó giải thể chế dộ.

Thứ ba, nhóm hổ trợ dân chủ trong đảng là lực lượng nòng cốt đẩy mạnh đổi thay chính trị tại Trung quốc. Đảng cộng sản Trung hoa, đã từ lâu không còn là một đảng thuần nhất. Đảng nay là một hổn hợp của nhiều phe nhóm, nhiều khuynh hướng, nhiều hệ tư tưởng. Sự khác biệt giữa nhóm cực đoan và nhóm bảo thủ trong đảng ngày nay còn sâu xa hơn cái đối nghịch giữa đảng cộng sản và đảng quốc dân ngày trước. Tình trạng bây giờ giống như tình trạng cộng đảng Nga năm 1989, và cái bề ngoài vững chắc đó có thể bị vỡ vụn ra từng mãnh bất kỳ lúc nào, để rồi một lực lượng mới sẽ trồi lên từ những cái sai lầm, rữa nát đó để xây dựng một hệ thống lãnh đạo dân chủ và lành mạnh hơn.

Thứ tư, vấn đề xây dựng một chế độ dân chủ tại Trung quốc là việc làm của những lực lượng ngay ở trong nước. Những vấn đề căn bản phải được giải quyết ngay từ trong nước. Nhân dân Trung hoa phải noi gương Triệu Tử Dương, lao mình vào lửa, chấp nhận hiểm nguy, chấp nhận hy sinh để cứu nước. Người Trung hoa hải ngoại, thương nước thương nòi thì hãy trở về, sẵn sàng dâng đời mình cho đất mẹ.

Từ những bài học đó, là phải trả lại cho lịch sử, cho nhân dân Trung hoa cái sự thật của lịch sử. Trong mục đích đó, tập tài liệu này được tiết lộ và phổ biến.

Thiên An Môn 1989

Vấn đề thứ ba: mức độ xác tín của tài liệu.

Không ai có thể trả lời câu hỏi này. Người đọc, tùy theo khả năng tri thức, có thể đưa ra những nhận định khác nhau. Và chỉ có cách đối chiếu những dữ kiện trong tài liệu với kiến thức tích lũy mới có thể có được một ý niệm về mức độ xác tín của tài liệu.

Trong cuốn sách này có bài viết của Orville Schell, khoa trưởng khoa báo chí đại học Berkely, về vấn đề thẩm định giá trị tài liệu (Reflections on Authentication).

Guồng máy cực quyền cộng đảng Trung quốc vẫn còn khép kín, đó là một loại thâm cung bí sử, không những chỉ đối với người dân, mà còn ngay cả đối với những người trong cuộc. Thông thường, khi một tin được tung ra ngoài đều có một hậu ý chính trị. Riêng trong trường hợp này, nhóm tiết lộ tài liệu đã nói rõ: họ hy vọng phục hồi nhóm ôn hòa trong đảng và làm sống lại công cuộc cải cách chính trị tại Trung quốc. Điều này có thể tin được.

Thiên an môn, trong thực tế, đã từ lâu không còn là một bí mật. Vai trò của Đặng tiểu Bình và Lý Bằng trong vụ thảm sát đã được nói đến nhiều. Đặng tiểu Bình không hẵn chỉ vì nghe theo những báo cáo bị bóp méo của Lý Bằng, chủ tịch Quốc vụ viện – thủ tướng -, để ra lệnh dẹp sạch Thiên an môn. Cho đến cuối đời, ông vẫn nghĩ ông không có cách nào khác hơn là phãi sử dụng quân đội và cảnh sát để dẹp bạo động. Bảy người còn lại trong tổ tám người “ lão nhân gia” ( the elders), thật sự không có tiếng nói mạnh. Những người này, nay cũng hoặc đã nghỉ hưu, hoặc đã chết. Nhóm 5 người trong ủy ban thường vụ chính trị bộ, thì 3 người theo phe Triệu Tử Dương, tổng bí thư cộng đảng, chủ trương hòa hoãn và đối thoại với sinh viên để tìm giải pháp. Nhóm 3 người này đã bị thanh trừng từ ngày đó. Triệu tử Dương nay sống âm thầm trong một ngỏ ngách nào đó, và vẫn còn bị quản chế. Nhưng số phận Lý Bằng cũng không mấy sáng sủa: vì là người dính đến vụ Thiên an môn, về sau này, ông bị bứng ra khỏi chức vụ thủ tướng, và dầu nay vẫn còn là chủ tịch quốc hội, con đường chính trị của ông cũng được xem như sắp hết.

Máu đổ trên quảng trường Thiên An Môn

Vậy sự tiết lộ hồ sơ Thiên an môn không nhằm mục dích tranh chấp hoặc trả thù cá nhân, nhưng nặng hơn, là một tranh chấp phe nhóm khác biệt nhau về hệ tư tưởng. Ngày Mao trạch Đông còn sống cũng đã có những thanh trừng đẩm máu nội bộ vì quyền lợi. Sau Mao trạch Đông, vấn đề tranh chấp tư tưởng càng rõ ràng hơn, và dẫu Đặng tiểu Bình vẫn là đầu não của thế hệ lãnh đạo thứ hai, hai trong ba tổng bí thư trung ương đảng, Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương, đã chủ trương một chính sách hòa dịu, đổi mới phải là cải tổ chính trị song hành với cải tổ kinh tế. Như vậy, cho thấy rõ điều Zhang Liang nói là đúng.

Giang trạch Dân, hiện tại là lãnh tụ đầu não hệ thứ ba của chế độ cộng sản Trung quốc, nắm giũ cả ba chức vị chủ tịch nước, tổng bí thư đảng, và chủ tịch quân ủy. Ông không dính gì đến vụ Thiên an môn, nhưng ông đã cai trị dưới cái bóng của Đặng tiểu Bình. Đặng chết mấy năm rồi. Hùm thiêng khi chết thì bộ lông cũng rữa, nên ảnh hưởng của Đặng cũng lần hồi phai mờ. Lại nữa, nhiệm kỳ của Giang cũng sẽ chấm dứt vào tháng 10 năm2002. Ông không đủ uy thế như Đặng để kéo dài quyền lực. Cho nên, bây giờ là lúc sửa soạn cho cuộc đấu giữa các phe nhóm. Và dẫu trong một chế độ chuyên chính cực quyền, ngày nay theo với đà toàn cầu hóa, tiếng nói và ý nguyện của người dân bắt đầu có giá hơn, nên vấn đề tranh thủ nhân tâm có thể đã lần hồi trở nên yếu tố quyết định.

Nếu hiểu như vậy, là hiểu được ý đồ của vụ tiết lộ hồ sơ mật Thiên an môn.

Không có gì phải đặt nghi vấn về mức độ xác tính của tập tài liệu này. Tin một phần, tin nhiều phần, cũng tìm được ở đó nhiều điều hữu ích. Có thể có những thêm bớt, có thể có một phần ngụy tạo. Nhưng phần chính của sự thật được phơi bày trung thực. Một ngày sau khi tập tài liệu được tung ra, chính quyền Trung cộng đã phủ nhận và cho rằng đây chỉ là một tập tài liệu giả. Phát ngôn viên bộ ngoại giao Trung cộng tuyên bố: “ Mọi ý đồ quan trọng hóa sự việc nhằm gây rối cho Trung quốc bằng những phương cách ti tiện, mạo hóa tài liệu hay bóp méo sự việc đều vô hiệu.” Và “Dẹp bạo loạn là điều cần thiết cho sự ổn cố và phát triển của Trung quốc.”

Bài viết này không nhằm phân tích và trình bày những bí ẩn được tiết lộ qua tập tài liệu về Thiên an môn. Vì thật ra người đọc cũng không có được những ngạc nhiên về những điều được tiết lộ. Bài này chỉ nhằm nói về một cuộc chơi chính trị trong nội bộ đảng cộng sản Trung quốc ở cấp đầu não, với một hy vọng những người chủ trương cởi trói chính trị, dân chủ hóa Trung quốc sẽ giành được phần thắng trong cuộc tranh chấp quyền lực.

Ở quê ta, chính quyền chuyên chính cộng sản vẫn dùng con ngáo ộp “ diễn biến hòa bình” để hù dọa người dân, và làm lý cớ đàn áp mọi phong trào tranh đấu cho tự do, dân chủ. Họ vẫn nói như một lũ vẹt “ biên giới của nước Mỹ kéo dài đến tận ải Nam quan”, mà không bao giờ ý thức được rằng người dân từ mấy ngàn năm đã lo sợ vì “ biên giới của nước Tàu kéo dài xuống đến tận mũi Cà mâu”. Nước ta bị cái bất hạnh là nằm ngay dưới chân một Trung quốc khổng lồ. Ngày nào chế độ cộng sản Trung hoa chưa cáo chung, ngày đó chế độ cộng sản Việt nam vẫn tồn tại.

Cho nên, nói chuyện nước người là để tìm ở đó chút niềm hy vọng cho nước mình vậy.

Từ Nguyên Nguyễn văn Thuận

Sách đọc thêm:

“The Tiananmenmen Papers, the Chinese Leadership’s Decision to Use Force Against Their Own People – in Their Own Words”. Compiled by Zhang Liang. Edited by Andrew J. Nathan and Perry Link. Public Affairs, New York. $30.00.

Dân Chủ Hóa - Đoạn Đường Không Thể Tránh Của Bắc Kinh và Hà Nội - Lâm Lễ Trinh

Lâm Lễ Trinh

Để Tưởng Niệm Thiên An Môn


Vấn đề then chốt ảnh hưởng đến chính sách Hoa kỳ hiện nay và đang phân tán mạnh công luận Mỹ là hướng tiến chính trị của Trung Hoa và Việt Nam. Quốc hội và giới truyền thông Mỹ chỉ trích Hoa kỳ thiếu viễn kiến và hành động tùy thời. Theo dân chúng nhận xét, Bắc kinh và Hà nội không mấy thay đổi sau nhiều năm tham gia kinh tế thị trường: vẫn áp chế quần chúng không nương tay, dân chủ hóa rùa bò và khủng bố tôn giáo dài dài. Trung cộng và Việt cộng, cả hai, từ chối nhân nhượng về nhân quyền. Hơn nữa, Trung hoa trở nên mối đe dọa lớn vì phổ biến kỹ thuật chế tạo võ khí hạt nhân và ứng dụng những phương thức mậu dịch bất chánh.

Clinton lẫn Bush biện minh rằng không nên cô lập Bắc kinh và cần đối thoại xây dựng, constructive engagement để đạt mục tiêu chiến lược dài. hạn. Lập luận này không trấn an được dư luận

Gs Minxin Pei, thuộc đại học Princeton, cho đăng trong tạp chí Foreign Affairs một bài nghiên cứu súc tích phân tách căn nguyên của cuộc tranh luận sôi nổi nói trên. Theo Gs Pei, Hoa kỳ chỉ chú ý đến những cải cách kinh tế của Đặng Tiểu Bình mà không tìm hiểu những thay đổi chính trị làm rung chuyển tận gốc nước Tàu từ trên hai thập niên. Ngày nay, sau Mao và Đặng, một thế hệ lãnh tụ thứ ba - Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào là thí dụ điển hình - đã lên nắm quyền tại Bắc kinh. Hoa Thịnh Đốn cần thẩm định khả năng thực tế của lục địa Trung hoa.

Ảnh Hưởng Sâu Rộng Của Các Canh Tân Chính Trị Của Đặng Tiểu Bình:

Thông thường, người Mỹ hiểu cải cách chính trị theo nghĩa hẹp và đồng hóa cải cách với dân chủ hóa. Họ đánh giá sự tiến bộ cải cách ở các xứ khác theo tiêu chuẩn duy nhứt: việc tổ chức bầu cử tự do và cởi mở. Tuy nhiên, dân chủ hóa không phãi là yếu tố đơn độc của cải cách ở các quốc gia còn thiếu những định chế cai trị thô sơ. Tại Tây phương và những nước đang mở mang, tiến trình canh tân chính trị gồm có ba phần tối yếu:

1. Đặt ra quy tắc chung chi phối cấp lãnh đạo

2. Tái lập các định chế điều hòa mối liên hệ giữa các ngành của chính phủ (như việc phân quyền Tư pháp, Lập pháp và Hành pháp) và

3. Củng cố phương thức tham chính của dân chúng.

Năm 1978, Đặng Tiểu Bình - nạn nhân của ba cuộc thanh trừng - thừa kế một chế độ hỗn mang thoát thai từ nhiều thập niên độc tài cá nhân sắt máu, với một hệ thống pháp lý, kinh tế và thư lại hoàn toàn bị đảo lộn bởi chủ trương “Bước Tiến Nhãy Vọt“ và “Cách Mạng Văn Hóa“. Duới thời Mao, quần chúng xuống đường và bạo động theo lịnh của lãûnh tụ. Đó là phương thức “dân tham chính“ kiểu Mao ít. Gần hai thập niên, Đặng chấn chỉnh kinh tế nhưng không kèm theo cải cách dân chủ. Về nội trị, tuy chưa có dân chủ thật sự nhưng Đặng đã thành công ổn định bằng các biện pháp thực tiển sau đây:

1. Thể hiện thủ tục chuyển quyền chính trị cởi mở và dựa vào cạnh tranh hơn trước. Trong nhiều năm, đảng CS Trung hoa - đặc biệt thành phần được xem là ưu tú - bị bầm giập vì cách lảnh đạo độc tôn của Mao. Thất bại trong việc tranh quyền luôn luôn đem lại tù đày hay bức tử. Các cấp chỉ huy sống trong sự phập phồng hằng ngày. Tháng 2.1980, Đặng cho phổ biến một văn kiện lịch sử mệnh danh “Vài quy tắc về đuờng lối nội bộ Đảng“ xác định quyền căn bản của đảng viên CSTH. Khó mà biết được các quyền này có được bảo vệ thực tế hay không. Tuy nhiên, với Đặng, nước Tàu có một bộ mặt chính trị văn minh và nhân tính hơn. Hai nhân vật nối tiếp Đặng, - Triệu Tử Dương và Hồ Điệu Bang - về vườn vì thất bại nhưng họ được rời chức một cách tương đối êm thấm. An toàn bản thân không bị đe dọa và đặc quyền vật chất không sứt mẻ. Các người “ngã ngựa“ khác trên chính trường, nhờ thế, bớt khốn khổ. Không còn những loạt thanh trừng, thủ tiêu dã man của thời Mao. Trong nhiều trường hợp, các kẻ thắng vẫn dùng lại phần đông đệ tử của người thua.

2. Đặng còn đặt ra tuổi hưu trí bắt buộc đối với nhân viên chính quyền và đảng viên CS. Bắt đầu từ 1982, các Tổng trưởng, Bí thơ và Thống đốc phải nghỉ việc khi đúng 65, còn các phụ tá, khi tới tuổi 60. Tất cả chức vụ trong Đảng và Chính phủ không được giữ quá hai nhiệm kỳ. Sự phối hợp hai quy định kể trên chấm dứt tệ đoan “bám quyền “, đồng thời thúc đẩy thế hệ mới dấn thân phục vụ. Các “bình vôi“ i tờ từ nay phải nhường chổ cho lớp chuyên viên trung niên. Cho đến 1982, tuổi trung bình của cấp Tổng trưởng và Thứ trưởng trong Hội đồng Quốc gia là 64; 37% có trình độ đại học. Khi việc về hưu trở nên bắt buộc, tuổi trung bình của những chức vụ vừa kể sụt xuồng 58 và tỷû lệ xuất thân đại học tăng lên 52%. Tại Trung ương đảng bộ, sau 15 năm áp dụng luật hưu trí, tuổi trung bình của đảng viên giảm từ 59 xuống 56 và tỷ lệ những người tốt nghiệp đại học vọt từ 55 lên 92% (tài liệu Minxin Pei) .

Địa phương cũng có thay đổi: Năm 1982, ở cấp tỉnh, tuổi trung bình của bí thơ và thống đốc là 62. Năm 1983, tuổi sụt xuống còn 55 và đến nay, vẫn giữ mức củ. Trình độ học vấn củng tăng từ 20% (1982) lên 79% (1996). Tại Nga, Mikhail Gorbatchev cho áp dụng tuổi bắt buộc về hưu (70) lần đầu tiên vào tháng 6.1988. Vì có sự giới hạn nói trên nên ở Trung hoa, chỉ có lối phân nửa đảng viên thiệt thọ được tái đắc cử vào Hội đồng lảnh đạo trung ương trong khi tỷ lệ này đạt đến con số 80- 89 % dưới trào Brezhnev vào thập niên 70 và 80. Sự cải cách của Đặng đem lại hai kết quả: Một mặt, tiết giảm những tranh chấp trong chế độ vì giới trẻ bớt bất mản, có thêm cơ hội tăng tiến và ít bị lôi cuốn vào các âm mưu chống đối hay khuynh đảo chính quyền. Mặt khác, giới chỉ huy trở nên đồng nhứt hơn về văn hóa, tuổi tác và kinh nghiệm xã hội lẩn chính trị. Dưới một khía cạnh nào đó, xung đột thế hệ và bất đồng về ý thức hệ củng bớt gay gắt.

3. Sự chạy đua để dành các chức vụ trong Đảng bị giới hạn. Mục tiêu thật sự là tránh nạn lý thuyết gia hữu khuynh và tã khuynh “trăm hoa đua nở“. Năm 1987, Đặng Tiểu Bình viện lý do dân chủ hóa nội bộ Đảng để cho thông qua quyết nghị ấn định số ứng cử viên vào chức đại biểu trong Đại hội đảng phải 20% nhiều hơn số ghế chính thức. Đồng thời, số ứng viên để trở thành đảng viên CS thiệt thọ và thành viên của Hội đồng Trung ương phải nhiều hơn số chức vụ theo tỷ lệ 5% và 12%. Biện pháp này tìm cách ngăn ngừa các thành phần bảo thủ và cấp tiến quá khích xuất hiện trong hàng ngủ của đảng. Một hậu quả bất ngờ khác là con cái - các “vương tôn“, princelings - của lớp công thần lập quốc CS củng lần hồi bị loại khỏi Đại hội và Trung ương Đảng. Có thể nói họ không còn là mối họa chính trị giữa thập niên 90. Quyền bính nhờ thế đã chuyển ôn hòa từ thế hệ Đặng Tiểu Bình qua ê kíp Giang Trạch Dân. Lớp lảnh tụ thời hậu Đặng có thể thỏa hiệp về chính sách chủ yếu và các vấn đề cá nhân mà không cần tranh dành quyền lực bằng súng đạn.

A. Vấn Đề Gây Cấn Nhứt Là Tái Cấu Trúc Quốc Gia Cách Nào Mà Không Giảm Quyền Bính Của Đảng Cộng Sản?

Trung hoa, thật vậy, cần chuyển gấp qua một thể chế bớt trung ương tập quyền hơn và tiến vào thị trường tự do từ một nền kinh tế chỉ huy. Hai nhu cầu này đòi hỏi phải tái định nghĩa thẩm quyền của các cơ cấu quốc gia. Vì chưa được minh xác trong Hiến pháp, sự tản quyền chính trị không khỏi gây đụng chạm trong guồng máy nhà nước. Và các cải cách theo hướng kinh tế thị trường sẽ bị thể chế chính trị cũû cản trởû. Khác với các quốc gia kỷ nghệ dân chủ Tây phương, nước Tàu vào cuối thập niên 70 không có những định chế cần thiết cho mậu dịch tự do. Khác hơn Tây phương, Trung hoa bị thách đố phải tái thiết cơ sở chính trị và đồng thời, canh tân kinh tế. Đà phát triển mau chóng về kinh tế gây bất hòa hằng ngày giữa trung ương và địa phương, Nhà nước và xã hội. Sau bức bình phong thành công hào nhoáng, ẩn núp biết bao đổ vỡ và đảo lộn về giá trị và xác tín. Trong lúc đề cao vị thế tối thượng của đảng CS, Bắc kinh đã thuận cải tổ các định chế một cách giới hạn. Nếu thực hiện điều này cho đến cùng trong tương lai, hậu quả của sự phân quyền sẽ vô cùng sâu rộng. Hai cải tổ đáng được đặc biệt lưu ý:

A. Củng cố lần hồi Viện Quốc Dân, National People’s Congress hay NPC. Đặng Tiểu Bình đã biến Quốc hội Trung hoa - chuyên đóng trước kia vai trò “nghị gật” - thành một địch thủ của Đảng CS đang nắm độc quyền cai trị và làm luật. Tuy chưa trực diện đối đầu với Đảng về các dự luật chính yếu, thành viên Viện Quốc Dân hiện trình dự án riêng của họ, tích cực tranh luận và tu chính luật lệ được đề nghị, chận giữ hay bỏ phiếu chống các dự luật hệ trọng. Viện có quyền công nhận hay bác bỏ những quyết định bổ nhiệm của Đảng và gần đây, đã gây lúng túng cho Đảng với một loạt biểu quyết chống đối. Trong kỳ họp tháng 3.1995, một phần ba dân biểu từ chối phê chuẩn việc chỉ định một thành viên Chính trị bộ vào chức Phó Thủ tướng. Tại các tỉnh, cơ quan dân cử bất đồng ra mặt với đảng. Năm 1988, đại diện của viện dân biểu địa phương được phép chỉ định ứng viên để tranh với những người được đảng chọn vào chức Thống đốc và Phó thống đốc. Đôi khi viện nhân dân địa phương không chấp nhận quyết định bổ nhiệm của đảng và thay thế bằng các con gà của họ. Tại 20 tỉnh, theo thống kê, có ít nửa 15% ứng viên địa phương được bầu vào địa vị chỉ huy.

Viện Quốc Dân tăng uy tín nhờ tỏ ra càng ngày càng độc lập. Cuối 1994, tạp chí Far Eastern Economic Review thăm dò dư luận thì được biết 22% trong quần chúng xem Viện này như cơ quan tíếp nhận những khiếu nại và yêu sách của họ. Năm 1988, tỷ lệ thấp hơn, 13%. Sự tản quyền trong chế độ là lý do để Viện Quốc Dân đòi hỏi chính đáng một vai trò lập pháp. Việc bổ nhiệm những nhân vât chính trị nặng ký để chủ tọa Ban thường trực của Viện ban cho cơ chế này thêm quyền thương lượng trong giới lãnh đạo. Tại các tỉnh, củng như thế.Trong số 30 viện dân biểu địa phương, năm 1996, có 9 cựu đệ nhứt bí thơ đảng CS, 3 cựu thống đốc và 11 phó bí thơ CS giữ chức chủ tịch.

Màu sắc chính trị trong Viện Quốc Dân củng thay đổi từ 1978. Từ 1978 đến 1993, số dân biểu vô đảng phái tăng chậm. Trong nhiệm kỳ 1993, tuổi trung bình của các dân biểu là 53. 69% có bằng đại học và 50% tổng số là trí thức và công chức. Tỷ lệ dân biểu gốc quân nhân, nông dân và công nhân - thành phần thường ủng hộ Đảng - suy giãm: từ 62% năm 1978 xuống còn 30% năm 1993.

B. Vấn Đề Pháp Trị.

Để tránh tái phạm những sai lầm nguy hại của cuộc “Cách mạng Văn hóa“ và đặt nền tảng pháp lý cho kinh tế thị trường, Viện Quốc dân ban hành 175 đạo luật từ 1978 đến 1994 còn các viện địa phương thì không dưới 3000. Trên giấy tờ, luật lệ nước Tàu dựa khá nhiều vào các học thuyết pháp lý, khái niệm, thủ tục và danh từ chuyên môn Tây phương. Mậc dù việc chấp hành luật còn quá thiếu sót (chỉ có phân nửa tổng số bản án thương mại được thi hành), người dân cũng như giới thương gia - càng ngày cáng đông - tin tưởng nơi pháp luật để bảo vệ tài sản và quyền cá nhân của họ. Kiện cáo trước tụng đình gia tăng mau chóng từ 1986 đến 1996 trong lãnh vực buôn bán (387%), hành chính (12,483%, phần đông khiếu nại chính phủ) và dân sự (212%). Những cuộc thăm dò dư luận giữa thập niên 90 cho thấy 78% quần chúng ý thức về quyền tư hữu mà họ xem như “thiêng liêng và không được vi phạm“. 77% không đồng ý với lời tuyên bố “Khi có tranh chấp giữa cá nhân và đoàn thể, bản án nên thiên về đoàn thể“. 47% chống và chỉ có 28%ø ủng hộ việc “cảnh sát giam giử nhân danh an ninh công cọng dù không thể xác định người bị bắt có tội”

Đảng CS Trung hoa khó thể đảo ngược khuynh hướng đòi pháp trị vì các thành phần hưởng lợi trong những cải cách pháp luật (dù giới hạn) có nhiều thế lực: giới doanh gia tư nhân, công ty đầu tư ngoại quốc và giai cấp trung lưu đang mở rộng. Yếu tố thuận lợi khác là một cộng đồng luật gia đã thành hình. Nhân số luật sư tăng từ 31,000 năm 1988 lên 90,000 năm 1995. Họ tranh đấu quyết liệt cho quyền biện hộ. Hiện nay, uy quyền của Đảng CS Trung hoa bị gián tiếp thách đố trong phạm vi làm luật. Không như việc đòi hỏi thể chế đa nguyên và bầu cử tự do, sự thách đố này chưa đe dọa cấp thời độc quyền lảnh đạo của Đảng. Nhưng khi các định chế pháp lý tiếp tục phát triển, kế hoạch cải cách pháp luật giới hạn của Bắc kinh sẽ phải tiến từ hệ thống luật pháp, system of law, đến chế độ pháp trị, rule of law.

Vì Sao Bắc Kinh Tiếp Tục Chống Đối Dân Chủ Hóa?

Thời Mao, các khám đường Trung hoa không khác loại gulags của Stalin. Trong thời khoảng 1953 - 1975, 39% can phạm mang nhản hiệu “phản cách mạng “. Tỷ lệ này sụt xuống 13% năm 1980 và 0,5% năm 1989. Chính phủ hủy tội danh trên đây năm vừa qua. Thống kê cho biết thượng tuần 1997, có 2,026 can phạm (tức 0, 46% tổng số tù phạm toàn quốc) bị truy tố về “tội ác đe dọa an ninh quốc gia “. Thời Đặng Tiểu Bình, Đảng CS đổi chiến thuật: giảm đàn áp đám đông, mass repression, và duy trì áp lực trên một thiểu số đối kháng chính trị, selective repression. Thí dụ: Ngụy Kinh Sinh, Vương Đán...

Nhóm lãûnh tụ Bắc kinh e dè dân chủ hóa vì lo ngại cho địa vị cá nhân và thấu hiểu sự xuống dốc của Đảng CS củng như cái thế mỏng manh của chế độ. Quyền hạn và vai trò của các bộ phận quốc gia vẫn chưa được minh xác và những định chế chính trị có trách vụ giải quyết tranh chấp còn quá thiếu sót và bất hợp thời. Mở cửa cho quần chúng thí nghiệm dân chủ đương nhiên gây rối loạn. Một dư luận cho rằng Gorbatchev sai lầm vì cải cách chính trị trước khi canh tân kinh tế. Lập luận này bỏ sót một điểm hệ trọng: Gorbatchev thất bại là vì y để cho dân tham gia dân chủ trước khi hoàn tất những thay đổi hiến định dẫn đến việc củng cố các định chế cần thiết cho tiến trình dân chủ hóa. Nhóm lãûnh đạo Trung hoa lo sợ sụp đổ kiểu Nga sô nếu họ cải cách dân chủ trước khi tái phối trí xong các cơ cấu hiến định hiện hữu.

Ngày nay, đảng CS suy yếu trầm trọng về tổ chức, với 58 triệu đảng viên (thống kê 1997) chia thành 3,4 triệu tiểu tổ vẫn còn bị xao động tâm lý bởi biến cố Thiên An Môn 1989. Xã hội Tàu củng thay đổi, ít tùy thuộc Nhà nuớc và Đảng hơn trước, tiếp nhận những giá trị ngoại bang mới và không dễ bị nhồi sọ về ý thức hệ. Ngoài ra, cải cách thị truờng làm cho hệ thống đảng lung lay: Năm 1994, một nhân vật thuộc Trung ương Đảng công nhận rằng trong 35% tổng số hội thảo của các xí nghiệp quốc doanh không tìm ra một bóng đảng viên mạc xít. Đảng cũng không hiện diện cụ thể trong lãnh vực tư nhân đang lên. Theo một thống kê năm 1994 về 3,092 công ty liên doanh với ngoại quốc trong 34 đặc khu kinh tế, đảng chỉ thành công lập tiểu tổ trong 704 xí nghiệp. Nguy cơ lớn nhứt là tình trạng tan rã của tổ chức nông thôn. Sự giải tán các công xá nhân dân, people’s communes, từ 1980 đến 1982 là một vố nặng cho Đảng tại thôn quê. Trên giấy tờø, có 26 triệu đoàn viên CS gài trong 900,000 tổ. Phúc trình chính thức tiết lộ 8% của mạng lưới này “không thể họat động hay sụp đổ “ và 60% “bê bối“ . Công nhân thay đổi vùng để tìm việc làm mới trên thị truờng mở rộng là căn nguyên của bi kịch. Ngân sách quốc gia eo hẹp không cho phép tài trợ tổ chúc đảng tại nông thôn. Lương trảû cho một xã trưởng CS là 1, 000 yuan tức 120 mỹ kim hằng năm. Vì thế không còn mấy ai tha thiết hy sinh phục vụ. Theo thống kê 1995, chỉ có lối 12% tổng số xã trưởng đương nhiệm là dưới 35 tuổi và hơn phân nửûa, thất học hay thuộc bậc tiểu học, thiếu kinh nghiệm chỉ huy. Rất dễ hiểu vì sao nông thôn căng thẳng và dân bớt ủng hộ Đảng.Tham nhủng lan tràn, luật pháp vắng bóng và xung đột bộc phát giữa dân và nhà nước ở nhiều nơi. Tại Guizhou và Sichuan, quần chúng nổi lọạn, giết nhà chức trách địa phương và đốt nhà của họ. Đảng không còn trông cậy vào nông thôn để bảo vệ an ninh. Võ lực vì thế là phương pháp khó tránh để tái lập trật tự.

Trước tình cảnh đó, Bắc kinh sẽ tiếp tục chống chế dân chủ hoá, ưu tiên củng cố đảng và thận trọng cải cách hầu gia tăng khả năng của Nhà nước đối đầu với những thách đố phát xuất từ sự phát triển kinh tế mau chóng của Trung hoa. Đặc biệt, cải cách luật pháp và các định chế đại diện. Gần đây, Giang Trạch Dân tuyên bố nuớc Tàu sẽ “cai trị chiếu theo luật lệ, rule according to law” và tiến trình này sẽ hoàn tất trong hạn...15 năm!. Canh tân thuế vụï đã bắt đầu từ 1994. Tư hữu hóa xí nghiệp quốc doanh, đặt chế độ hưu bổng, sửa đổi chương trình bảo vệ sức khỏe quân chúng, cứu trợ xã hội...v..v..được chính quyền hứa hẹn. Việc cho phép dân tham chính rộng rãi và tự do còn phải đợi cho đến lúc hệ thống chính trị nói trên có hy vọng tồn tại. Trong khi chờ đợi, Đảng áp dụng một vài thí nghiệm vô thưởng vô phạt ở cấp đia phuơng như tổ chức bầu cử khép mở, semi-open elections, tại những tỉnh nhỏ. Điều này chưa thỏa mản giới Mỹ đang đả kích đường lối đối thoại của Clinton. Clinton và các Tổng thống Hoa kỳ về sau sẽ rất vất vả mới thuyết phục nổi dư luận Hoa kỳ rằng chính sách của họ đạt kết quả mong mỏi đối với sự tiến hóa chính trị của Trung hoa.

Còn Việt Nam Thì Sao?

Vì thiếu sáng kiến canh tân và viễn kiến chính trị cho nên từ 1975 đến nay, nhóm cầm quyền tại Hànội không ngớt hướng về Bắc kinh để tìm giải pháp đưa họ ra khỏi thế bí ý thức hệ và kinh tế. Cuộc chiến đẩm máu năm 1979 không xóa được lòng khâm phục của Bắc bộ phủ đối với người đàn anh khổng lồ láng giềng. Lý do khác là hai đảng CS Việt và Tàu đồng chung một căn bịnh. Việt cộng bịnh hoạn ngặt nghèo hơn vì nội tình bê bối thập bội và đất nước thiếu lãûnh đạo khá như Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân và Chu Dung Cơ. Tham nhũûng, bè phái, dốt nát ù lì, kỳ thị địa phương và trí tuệ, nền giáo dục quốc gia buông thả, môi sinh tệ hại, pháp trị ấu trỉ.....đang đưa Việt Nam từ thất bại đến phá sản. Đất nước tiến vào thế kỷ 21 bằng cách thụt lùi. Đó là nổi nhục của dân tộc ! Với mức độ cao hơn Trung Hoa, nông thôn Việt bất ổn và bắt đầu sôi động từ Bắc vào Nam.vì bất mản tột cùng. Tại nhiều nơi, nông dân đã xuống đường và bạo động chống cường hào ác bá, sưu cao thuế nặng, bất công xã hội, thất mùa, đói khát...Không khác thời thực dân Pháp và kháng chiến với chiến dịch “Cải cách Ruộng đất “! Nông thôn không còn là thành đồng che chở xã hội chủ nghĩa và sẽ là mồ chôn của lý thuyết mac xít. Dân thành thị và giới công nhân củng khởi đầu rục rịch với thất nghiệp lan tràn, xì ke ma túy, mãi dâm, nghèo giàu chênh lệch, dinh dưởng số không và sinh viên bị đối xữ bất công như tại Đại học Văn Lang.

Các tôn giáo sẽ không bỏ qua cơ hội để xách động quần chúng vì tự do tín ngưởng nghẹt thở. Dấu hiệu nổi bật nhứt làm thế giới theo dỏi là trong và ngoài đảng, nhiều tiếng nói thành tâm và uy tín đã, đang và sẽ tiếp tục vang lên để báo nguy tình thế, cảnh cáo chế độ và kêu gọi thức tỉnh, mỗi người một cách. Tuy nhiên, áp lực mạnh nhứt - vì thực tại và cấp thời - là nguy cơ sụp đổ về kinh tế tài chính. Tại VN, đầu tư ngoại quốc giãm sút, tiền tệ mất giá ít nữa 10%, xuất cảng ngất ngư, du khách thối lui, 6300 xí nghiệp quốc doanh thua lổ và không giải tán theo lời đốc thúc của Ngân hàng thế giới vá Quỷ tiền tệ quốc tế. Cuộc khủng hoảng Á châu càn quét Đông Á không chừa nước nào, từ Thái lan, Hồng kông, Mã Lai qua Nhựt, Nam Hàn, Singapour...Chế độ độc tài Nam Dương sụp đổ sau trên 30 năm cầm quyền. Rồi sẽ đến những thủ phủ khác. Việt Nam CS nằm trong trung tâm con trốt, với tất cả điều kiện và yếu tố để bị thổi bay. Trước tình thế khẩn trương, CS Việt Nam đã có hai quyết định u tối: chỉ định Nguyễn Tấn Dũng, một trùm công an dốt dặc về kinh tế, đứng ra điều khiển Ngân hàng quốc gia. Dũng nay được Đại hội CS đưa vào thay thế Thủ tường Phan Văn Khải. Mặt khác, buộc dân chúng học tập chủ thuyết Máïc Lê và tư tưởng họ Hồ. Có lẽ vì tuyệt vọng, Lê Khã Phiêu (khi còn giữ chức Tổng Bí thơ) và các đồng chí nghĩ rằng chỉ có Mác và Hồ đội mồ về mới có thể cứu nguy chế độ. Để vuốt đuôi Bắc kinh, Phiêu còn tuyên bố với báo giới, nhái lại Giang Trạch Dân: VN cần 15 năm để dân chủ hóa !

Bắc kinh và Hà nội nên mở to mắt ngó về Nam Dương, rồi Mã Lai và sau đó, Bắc Hàn và Miến Điện. No ấm và phúc lợi của dân quyết định sự sống còn của chế độ chớ không phải mưu toan và tính toán của nhà đương quyền. Súng đạn không trấn áp được khí thế của dân tộc. Tự do vắng bóng là áp chế. Những kỳ công đẹp nhứt và gợi hứng nhứt của nhân loại đều được tạo ra trong tự do. Xã hội chủ nghĩa chỉ mang lại nô lệ câm hờn và bóp nghẹt sáng tạo . Ngọn thủy triều dân chủ đang biến thành trận bão lớn. Khắp mọi nơi ở Á châu, các nhóm đối lập đã tạo được phong trào nhờ thế giới ủng hộ bằng dư luận và áp lực kinh tế. Toàn dân - nông dân, công nhân, sinh viên và tôn giáo - sớm muộn sẽ kết khối với đối lập. Không thể tống giam toàn dân vì đối lập.

Với hệ thống truyền thông thần tốc hiện đại, thế giới ngày nay thu hẹp lại như một ngôi làng nhỏ. Khái niệm liên đới và đoàn kết nối liền các quốc gia. Mọi lãnh vực đều bị toàn cầu hóa, nhiều hay ít. Dưới sức ép từ nhiều phía, bên trong và bên ngoài, nội tâm củng như ngoại lực, chắc chắn Trung hoa và Việt Nam sẽ dân chủ hóa trước thời hạn, muốn hay không muốn. Vì ýÙ Dân là ý Trời. Tự giải thể hay bị tiêu diệt, tạo cơm áo cho dân và trả quyền lại cho dân, Cộng sản cùng đường không có lối thoát thứ hai. Vấn đề hiện tại là rút ngắn thời hạn dân chủ hóa. Bằng mọi cách. Càng sớm càng hay.

Lâm Lễ Trinh