Wednesday, June 3, 2009

Dân Chủ Hóa - Đoạn Đường Không Thể Tránh Của Bắc Kinh và Hà Nội - Lâm Lễ Trinh

Lâm Lễ Trinh

Để Tưởng Niệm Thiên An Môn


Vấn đề then chốt ảnh hưởng đến chính sách Hoa kỳ hiện nay và đang phân tán mạnh công luận Mỹ là hướng tiến chính trị của Trung Hoa và Việt Nam. Quốc hội và giới truyền thông Mỹ chỉ trích Hoa kỳ thiếu viễn kiến và hành động tùy thời. Theo dân chúng nhận xét, Bắc kinh và Hà nội không mấy thay đổi sau nhiều năm tham gia kinh tế thị trường: vẫn áp chế quần chúng không nương tay, dân chủ hóa rùa bò và khủng bố tôn giáo dài dài. Trung cộng và Việt cộng, cả hai, từ chối nhân nhượng về nhân quyền. Hơn nữa, Trung hoa trở nên mối đe dọa lớn vì phổ biến kỹ thuật chế tạo võ khí hạt nhân và ứng dụng những phương thức mậu dịch bất chánh.

Clinton lẫn Bush biện minh rằng không nên cô lập Bắc kinh và cần đối thoại xây dựng, constructive engagement để đạt mục tiêu chiến lược dài. hạn. Lập luận này không trấn an được dư luận

Gs Minxin Pei, thuộc đại học Princeton, cho đăng trong tạp chí Foreign Affairs một bài nghiên cứu súc tích phân tách căn nguyên của cuộc tranh luận sôi nổi nói trên. Theo Gs Pei, Hoa kỳ chỉ chú ý đến những cải cách kinh tế của Đặng Tiểu Bình mà không tìm hiểu những thay đổi chính trị làm rung chuyển tận gốc nước Tàu từ trên hai thập niên. Ngày nay, sau Mao và Đặng, một thế hệ lãnh tụ thứ ba - Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào là thí dụ điển hình - đã lên nắm quyền tại Bắc kinh. Hoa Thịnh Đốn cần thẩm định khả năng thực tế của lục địa Trung hoa.

Ảnh Hưởng Sâu Rộng Của Các Canh Tân Chính Trị Của Đặng Tiểu Bình:

Thông thường, người Mỹ hiểu cải cách chính trị theo nghĩa hẹp và đồng hóa cải cách với dân chủ hóa. Họ đánh giá sự tiến bộ cải cách ở các xứ khác theo tiêu chuẩn duy nhứt: việc tổ chức bầu cử tự do và cởi mở. Tuy nhiên, dân chủ hóa không phãi là yếu tố đơn độc của cải cách ở các quốc gia còn thiếu những định chế cai trị thô sơ. Tại Tây phương và những nước đang mở mang, tiến trình canh tân chính trị gồm có ba phần tối yếu:

1. Đặt ra quy tắc chung chi phối cấp lãnh đạo

2. Tái lập các định chế điều hòa mối liên hệ giữa các ngành của chính phủ (như việc phân quyền Tư pháp, Lập pháp và Hành pháp) và

3. Củng cố phương thức tham chính của dân chúng.

Năm 1978, Đặng Tiểu Bình - nạn nhân của ba cuộc thanh trừng - thừa kế một chế độ hỗn mang thoát thai từ nhiều thập niên độc tài cá nhân sắt máu, với một hệ thống pháp lý, kinh tế và thư lại hoàn toàn bị đảo lộn bởi chủ trương “Bước Tiến Nhãy Vọt“ và “Cách Mạng Văn Hóa“. Duới thời Mao, quần chúng xuống đường và bạo động theo lịnh của lãûnh tụ. Đó là phương thức “dân tham chính“ kiểu Mao ít. Gần hai thập niên, Đặng chấn chỉnh kinh tế nhưng không kèm theo cải cách dân chủ. Về nội trị, tuy chưa có dân chủ thật sự nhưng Đặng đã thành công ổn định bằng các biện pháp thực tiển sau đây:

1. Thể hiện thủ tục chuyển quyền chính trị cởi mở và dựa vào cạnh tranh hơn trước. Trong nhiều năm, đảng CS Trung hoa - đặc biệt thành phần được xem là ưu tú - bị bầm giập vì cách lảnh đạo độc tôn của Mao. Thất bại trong việc tranh quyền luôn luôn đem lại tù đày hay bức tử. Các cấp chỉ huy sống trong sự phập phồng hằng ngày. Tháng 2.1980, Đặng cho phổ biến một văn kiện lịch sử mệnh danh “Vài quy tắc về đuờng lối nội bộ Đảng“ xác định quyền căn bản của đảng viên CSTH. Khó mà biết được các quyền này có được bảo vệ thực tế hay không. Tuy nhiên, với Đặng, nước Tàu có một bộ mặt chính trị văn minh và nhân tính hơn. Hai nhân vật nối tiếp Đặng, - Triệu Tử Dương và Hồ Điệu Bang - về vườn vì thất bại nhưng họ được rời chức một cách tương đối êm thấm. An toàn bản thân không bị đe dọa và đặc quyền vật chất không sứt mẻ. Các người “ngã ngựa“ khác trên chính trường, nhờ thế, bớt khốn khổ. Không còn những loạt thanh trừng, thủ tiêu dã man của thời Mao. Trong nhiều trường hợp, các kẻ thắng vẫn dùng lại phần đông đệ tử của người thua.

2. Đặng còn đặt ra tuổi hưu trí bắt buộc đối với nhân viên chính quyền và đảng viên CS. Bắt đầu từ 1982, các Tổng trưởng, Bí thơ và Thống đốc phải nghỉ việc khi đúng 65, còn các phụ tá, khi tới tuổi 60. Tất cả chức vụ trong Đảng và Chính phủ không được giữ quá hai nhiệm kỳ. Sự phối hợp hai quy định kể trên chấm dứt tệ đoan “bám quyền “, đồng thời thúc đẩy thế hệ mới dấn thân phục vụ. Các “bình vôi“ i tờ từ nay phải nhường chổ cho lớp chuyên viên trung niên. Cho đến 1982, tuổi trung bình của cấp Tổng trưởng và Thứ trưởng trong Hội đồng Quốc gia là 64; 37% có trình độ đại học. Khi việc về hưu trở nên bắt buộc, tuổi trung bình của những chức vụ vừa kể sụt xuồng 58 và tỷû lệ xuất thân đại học tăng lên 52%. Tại Trung ương đảng bộ, sau 15 năm áp dụng luật hưu trí, tuổi trung bình của đảng viên giảm từ 59 xuống 56 và tỷ lệ những người tốt nghiệp đại học vọt từ 55 lên 92% (tài liệu Minxin Pei) .

Địa phương cũng có thay đổi: Năm 1982, ở cấp tỉnh, tuổi trung bình của bí thơ và thống đốc là 62. Năm 1983, tuổi sụt xuống còn 55 và đến nay, vẫn giữ mức củ. Trình độ học vấn củng tăng từ 20% (1982) lên 79% (1996). Tại Nga, Mikhail Gorbatchev cho áp dụng tuổi bắt buộc về hưu (70) lần đầu tiên vào tháng 6.1988. Vì có sự giới hạn nói trên nên ở Trung hoa, chỉ có lối phân nửa đảng viên thiệt thọ được tái đắc cử vào Hội đồng lảnh đạo trung ương trong khi tỷ lệ này đạt đến con số 80- 89 % dưới trào Brezhnev vào thập niên 70 và 80. Sự cải cách của Đặng đem lại hai kết quả: Một mặt, tiết giảm những tranh chấp trong chế độ vì giới trẻ bớt bất mản, có thêm cơ hội tăng tiến và ít bị lôi cuốn vào các âm mưu chống đối hay khuynh đảo chính quyền. Mặt khác, giới chỉ huy trở nên đồng nhứt hơn về văn hóa, tuổi tác và kinh nghiệm xã hội lẩn chính trị. Dưới một khía cạnh nào đó, xung đột thế hệ và bất đồng về ý thức hệ củng bớt gay gắt.

3. Sự chạy đua để dành các chức vụ trong Đảng bị giới hạn. Mục tiêu thật sự là tránh nạn lý thuyết gia hữu khuynh và tã khuynh “trăm hoa đua nở“. Năm 1987, Đặng Tiểu Bình viện lý do dân chủ hóa nội bộ Đảng để cho thông qua quyết nghị ấn định số ứng cử viên vào chức đại biểu trong Đại hội đảng phải 20% nhiều hơn số ghế chính thức. Đồng thời, số ứng viên để trở thành đảng viên CS thiệt thọ và thành viên của Hội đồng Trung ương phải nhiều hơn số chức vụ theo tỷ lệ 5% và 12%. Biện pháp này tìm cách ngăn ngừa các thành phần bảo thủ và cấp tiến quá khích xuất hiện trong hàng ngủ của đảng. Một hậu quả bất ngờ khác là con cái - các “vương tôn“, princelings - của lớp công thần lập quốc CS củng lần hồi bị loại khỏi Đại hội và Trung ương Đảng. Có thể nói họ không còn là mối họa chính trị giữa thập niên 90. Quyền bính nhờ thế đã chuyển ôn hòa từ thế hệ Đặng Tiểu Bình qua ê kíp Giang Trạch Dân. Lớp lảnh tụ thời hậu Đặng có thể thỏa hiệp về chính sách chủ yếu và các vấn đề cá nhân mà không cần tranh dành quyền lực bằng súng đạn.

A. Vấn Đề Gây Cấn Nhứt Là Tái Cấu Trúc Quốc Gia Cách Nào Mà Không Giảm Quyền Bính Của Đảng Cộng Sản?

Trung hoa, thật vậy, cần chuyển gấp qua một thể chế bớt trung ương tập quyền hơn và tiến vào thị trường tự do từ một nền kinh tế chỉ huy. Hai nhu cầu này đòi hỏi phải tái định nghĩa thẩm quyền của các cơ cấu quốc gia. Vì chưa được minh xác trong Hiến pháp, sự tản quyền chính trị không khỏi gây đụng chạm trong guồng máy nhà nước. Và các cải cách theo hướng kinh tế thị trường sẽ bị thể chế chính trị cũû cản trởû. Khác với các quốc gia kỷ nghệ dân chủ Tây phương, nước Tàu vào cuối thập niên 70 không có những định chế cần thiết cho mậu dịch tự do. Khác hơn Tây phương, Trung hoa bị thách đố phải tái thiết cơ sở chính trị và đồng thời, canh tân kinh tế. Đà phát triển mau chóng về kinh tế gây bất hòa hằng ngày giữa trung ương và địa phương, Nhà nước và xã hội. Sau bức bình phong thành công hào nhoáng, ẩn núp biết bao đổ vỡ và đảo lộn về giá trị và xác tín. Trong lúc đề cao vị thế tối thượng của đảng CS, Bắc kinh đã thuận cải tổ các định chế một cách giới hạn. Nếu thực hiện điều này cho đến cùng trong tương lai, hậu quả của sự phân quyền sẽ vô cùng sâu rộng. Hai cải tổ đáng được đặc biệt lưu ý:

A. Củng cố lần hồi Viện Quốc Dân, National People’s Congress hay NPC. Đặng Tiểu Bình đã biến Quốc hội Trung hoa - chuyên đóng trước kia vai trò “nghị gật” - thành một địch thủ của Đảng CS đang nắm độc quyền cai trị và làm luật. Tuy chưa trực diện đối đầu với Đảng về các dự luật chính yếu, thành viên Viện Quốc Dân hiện trình dự án riêng của họ, tích cực tranh luận và tu chính luật lệ được đề nghị, chận giữ hay bỏ phiếu chống các dự luật hệ trọng. Viện có quyền công nhận hay bác bỏ những quyết định bổ nhiệm của Đảng và gần đây, đã gây lúng túng cho Đảng với một loạt biểu quyết chống đối. Trong kỳ họp tháng 3.1995, một phần ba dân biểu từ chối phê chuẩn việc chỉ định một thành viên Chính trị bộ vào chức Phó Thủ tướng. Tại các tỉnh, cơ quan dân cử bất đồng ra mặt với đảng. Năm 1988, đại diện của viện dân biểu địa phương được phép chỉ định ứng viên để tranh với những người được đảng chọn vào chức Thống đốc và Phó thống đốc. Đôi khi viện nhân dân địa phương không chấp nhận quyết định bổ nhiệm của đảng và thay thế bằng các con gà của họ. Tại 20 tỉnh, theo thống kê, có ít nửa 15% ứng viên địa phương được bầu vào địa vị chỉ huy.

Viện Quốc Dân tăng uy tín nhờ tỏ ra càng ngày càng độc lập. Cuối 1994, tạp chí Far Eastern Economic Review thăm dò dư luận thì được biết 22% trong quần chúng xem Viện này như cơ quan tíếp nhận những khiếu nại và yêu sách của họ. Năm 1988, tỷ lệ thấp hơn, 13%. Sự tản quyền trong chế độ là lý do để Viện Quốc Dân đòi hỏi chính đáng một vai trò lập pháp. Việc bổ nhiệm những nhân vât chính trị nặng ký để chủ tọa Ban thường trực của Viện ban cho cơ chế này thêm quyền thương lượng trong giới lãnh đạo. Tại các tỉnh, củng như thế.Trong số 30 viện dân biểu địa phương, năm 1996, có 9 cựu đệ nhứt bí thơ đảng CS, 3 cựu thống đốc và 11 phó bí thơ CS giữ chức chủ tịch.

Màu sắc chính trị trong Viện Quốc Dân củng thay đổi từ 1978. Từ 1978 đến 1993, số dân biểu vô đảng phái tăng chậm. Trong nhiệm kỳ 1993, tuổi trung bình của các dân biểu là 53. 69% có bằng đại học và 50% tổng số là trí thức và công chức. Tỷ lệ dân biểu gốc quân nhân, nông dân và công nhân - thành phần thường ủng hộ Đảng - suy giãm: từ 62% năm 1978 xuống còn 30% năm 1993.

B. Vấn Đề Pháp Trị.

Để tránh tái phạm những sai lầm nguy hại của cuộc “Cách mạng Văn hóa“ và đặt nền tảng pháp lý cho kinh tế thị trường, Viện Quốc dân ban hành 175 đạo luật từ 1978 đến 1994 còn các viện địa phương thì không dưới 3000. Trên giấy tờ, luật lệ nước Tàu dựa khá nhiều vào các học thuyết pháp lý, khái niệm, thủ tục và danh từ chuyên môn Tây phương. Mậc dù việc chấp hành luật còn quá thiếu sót (chỉ có phân nửa tổng số bản án thương mại được thi hành), người dân cũng như giới thương gia - càng ngày cáng đông - tin tưởng nơi pháp luật để bảo vệ tài sản và quyền cá nhân của họ. Kiện cáo trước tụng đình gia tăng mau chóng từ 1986 đến 1996 trong lãnh vực buôn bán (387%), hành chính (12,483%, phần đông khiếu nại chính phủ) và dân sự (212%). Những cuộc thăm dò dư luận giữa thập niên 90 cho thấy 78% quần chúng ý thức về quyền tư hữu mà họ xem như “thiêng liêng và không được vi phạm“. 77% không đồng ý với lời tuyên bố “Khi có tranh chấp giữa cá nhân và đoàn thể, bản án nên thiên về đoàn thể“. 47% chống và chỉ có 28%ø ủng hộ việc “cảnh sát giam giử nhân danh an ninh công cọng dù không thể xác định người bị bắt có tội”

Đảng CS Trung hoa khó thể đảo ngược khuynh hướng đòi pháp trị vì các thành phần hưởng lợi trong những cải cách pháp luật (dù giới hạn) có nhiều thế lực: giới doanh gia tư nhân, công ty đầu tư ngoại quốc và giai cấp trung lưu đang mở rộng. Yếu tố thuận lợi khác là một cộng đồng luật gia đã thành hình. Nhân số luật sư tăng từ 31,000 năm 1988 lên 90,000 năm 1995. Họ tranh đấu quyết liệt cho quyền biện hộ. Hiện nay, uy quyền của Đảng CS Trung hoa bị gián tiếp thách đố trong phạm vi làm luật. Không như việc đòi hỏi thể chế đa nguyên và bầu cử tự do, sự thách đố này chưa đe dọa cấp thời độc quyền lảnh đạo của Đảng. Nhưng khi các định chế pháp lý tiếp tục phát triển, kế hoạch cải cách pháp luật giới hạn của Bắc kinh sẽ phải tiến từ hệ thống luật pháp, system of law, đến chế độ pháp trị, rule of law.

Vì Sao Bắc Kinh Tiếp Tục Chống Đối Dân Chủ Hóa?

Thời Mao, các khám đường Trung hoa không khác loại gulags của Stalin. Trong thời khoảng 1953 - 1975, 39% can phạm mang nhản hiệu “phản cách mạng “. Tỷ lệ này sụt xuống 13% năm 1980 và 0,5% năm 1989. Chính phủ hủy tội danh trên đây năm vừa qua. Thống kê cho biết thượng tuần 1997, có 2,026 can phạm (tức 0, 46% tổng số tù phạm toàn quốc) bị truy tố về “tội ác đe dọa an ninh quốc gia “. Thời Đặng Tiểu Bình, Đảng CS đổi chiến thuật: giảm đàn áp đám đông, mass repression, và duy trì áp lực trên một thiểu số đối kháng chính trị, selective repression. Thí dụ: Ngụy Kinh Sinh, Vương Đán...

Nhóm lãûnh tụ Bắc kinh e dè dân chủ hóa vì lo ngại cho địa vị cá nhân và thấu hiểu sự xuống dốc của Đảng CS củng như cái thế mỏng manh của chế độ. Quyền hạn và vai trò của các bộ phận quốc gia vẫn chưa được minh xác và những định chế chính trị có trách vụ giải quyết tranh chấp còn quá thiếu sót và bất hợp thời. Mở cửa cho quần chúng thí nghiệm dân chủ đương nhiên gây rối loạn. Một dư luận cho rằng Gorbatchev sai lầm vì cải cách chính trị trước khi canh tân kinh tế. Lập luận này bỏ sót một điểm hệ trọng: Gorbatchev thất bại là vì y để cho dân tham gia dân chủ trước khi hoàn tất những thay đổi hiến định dẫn đến việc củng cố các định chế cần thiết cho tiến trình dân chủ hóa. Nhóm lãûnh đạo Trung hoa lo sợ sụp đổ kiểu Nga sô nếu họ cải cách dân chủ trước khi tái phối trí xong các cơ cấu hiến định hiện hữu.

Ngày nay, đảng CS suy yếu trầm trọng về tổ chức, với 58 triệu đảng viên (thống kê 1997) chia thành 3,4 triệu tiểu tổ vẫn còn bị xao động tâm lý bởi biến cố Thiên An Môn 1989. Xã hội Tàu củng thay đổi, ít tùy thuộc Nhà nuớc và Đảng hơn trước, tiếp nhận những giá trị ngoại bang mới và không dễ bị nhồi sọ về ý thức hệ. Ngoài ra, cải cách thị truờng làm cho hệ thống đảng lung lay: Năm 1994, một nhân vật thuộc Trung ương Đảng công nhận rằng trong 35% tổng số hội thảo của các xí nghiệp quốc doanh không tìm ra một bóng đảng viên mạc xít. Đảng cũng không hiện diện cụ thể trong lãnh vực tư nhân đang lên. Theo một thống kê năm 1994 về 3,092 công ty liên doanh với ngoại quốc trong 34 đặc khu kinh tế, đảng chỉ thành công lập tiểu tổ trong 704 xí nghiệp. Nguy cơ lớn nhứt là tình trạng tan rã của tổ chức nông thôn. Sự giải tán các công xá nhân dân, people’s communes, từ 1980 đến 1982 là một vố nặng cho Đảng tại thôn quê. Trên giấy tờø, có 26 triệu đoàn viên CS gài trong 900,000 tổ. Phúc trình chính thức tiết lộ 8% của mạng lưới này “không thể họat động hay sụp đổ “ và 60% “bê bối“ . Công nhân thay đổi vùng để tìm việc làm mới trên thị truờng mở rộng là căn nguyên của bi kịch. Ngân sách quốc gia eo hẹp không cho phép tài trợ tổ chúc đảng tại nông thôn. Lương trảû cho một xã trưởng CS là 1, 000 yuan tức 120 mỹ kim hằng năm. Vì thế không còn mấy ai tha thiết hy sinh phục vụ. Theo thống kê 1995, chỉ có lối 12% tổng số xã trưởng đương nhiệm là dưới 35 tuổi và hơn phân nửûa, thất học hay thuộc bậc tiểu học, thiếu kinh nghiệm chỉ huy. Rất dễ hiểu vì sao nông thôn căng thẳng và dân bớt ủng hộ Đảng.Tham nhủng lan tràn, luật pháp vắng bóng và xung đột bộc phát giữa dân và nhà nước ở nhiều nơi. Tại Guizhou và Sichuan, quần chúng nổi lọạn, giết nhà chức trách địa phương và đốt nhà của họ. Đảng không còn trông cậy vào nông thôn để bảo vệ an ninh. Võ lực vì thế là phương pháp khó tránh để tái lập trật tự.

Trước tình cảnh đó, Bắc kinh sẽ tiếp tục chống chế dân chủ hoá, ưu tiên củng cố đảng và thận trọng cải cách hầu gia tăng khả năng của Nhà nước đối đầu với những thách đố phát xuất từ sự phát triển kinh tế mau chóng của Trung hoa. Đặc biệt, cải cách luật pháp và các định chế đại diện. Gần đây, Giang Trạch Dân tuyên bố nuớc Tàu sẽ “cai trị chiếu theo luật lệ, rule according to law” và tiến trình này sẽ hoàn tất trong hạn...15 năm!. Canh tân thuế vụï đã bắt đầu từ 1994. Tư hữu hóa xí nghiệp quốc doanh, đặt chế độ hưu bổng, sửa đổi chương trình bảo vệ sức khỏe quân chúng, cứu trợ xã hội...v..v..được chính quyền hứa hẹn. Việc cho phép dân tham chính rộng rãi và tự do còn phải đợi cho đến lúc hệ thống chính trị nói trên có hy vọng tồn tại. Trong khi chờ đợi, Đảng áp dụng một vài thí nghiệm vô thưởng vô phạt ở cấp đia phuơng như tổ chức bầu cử khép mở, semi-open elections, tại những tỉnh nhỏ. Điều này chưa thỏa mản giới Mỹ đang đả kích đường lối đối thoại của Clinton. Clinton và các Tổng thống Hoa kỳ về sau sẽ rất vất vả mới thuyết phục nổi dư luận Hoa kỳ rằng chính sách của họ đạt kết quả mong mỏi đối với sự tiến hóa chính trị của Trung hoa.

Còn Việt Nam Thì Sao?

Vì thiếu sáng kiến canh tân và viễn kiến chính trị cho nên từ 1975 đến nay, nhóm cầm quyền tại Hànội không ngớt hướng về Bắc kinh để tìm giải pháp đưa họ ra khỏi thế bí ý thức hệ và kinh tế. Cuộc chiến đẩm máu năm 1979 không xóa được lòng khâm phục của Bắc bộ phủ đối với người đàn anh khổng lồ láng giềng. Lý do khác là hai đảng CS Việt và Tàu đồng chung một căn bịnh. Việt cộng bịnh hoạn ngặt nghèo hơn vì nội tình bê bối thập bội và đất nước thiếu lãûnh đạo khá như Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân và Chu Dung Cơ. Tham nhũûng, bè phái, dốt nát ù lì, kỳ thị địa phương và trí tuệ, nền giáo dục quốc gia buông thả, môi sinh tệ hại, pháp trị ấu trỉ.....đang đưa Việt Nam từ thất bại đến phá sản. Đất nước tiến vào thế kỷ 21 bằng cách thụt lùi. Đó là nổi nhục của dân tộc ! Với mức độ cao hơn Trung Hoa, nông thôn Việt bất ổn và bắt đầu sôi động từ Bắc vào Nam.vì bất mản tột cùng. Tại nhiều nơi, nông dân đã xuống đường và bạo động chống cường hào ác bá, sưu cao thuế nặng, bất công xã hội, thất mùa, đói khát...Không khác thời thực dân Pháp và kháng chiến với chiến dịch “Cải cách Ruộng đất “! Nông thôn không còn là thành đồng che chở xã hội chủ nghĩa và sẽ là mồ chôn của lý thuyết mac xít. Dân thành thị và giới công nhân củng khởi đầu rục rịch với thất nghiệp lan tràn, xì ke ma túy, mãi dâm, nghèo giàu chênh lệch, dinh dưởng số không và sinh viên bị đối xữ bất công như tại Đại học Văn Lang.

Các tôn giáo sẽ không bỏ qua cơ hội để xách động quần chúng vì tự do tín ngưởng nghẹt thở. Dấu hiệu nổi bật nhứt làm thế giới theo dỏi là trong và ngoài đảng, nhiều tiếng nói thành tâm và uy tín đã, đang và sẽ tiếp tục vang lên để báo nguy tình thế, cảnh cáo chế độ và kêu gọi thức tỉnh, mỗi người một cách. Tuy nhiên, áp lực mạnh nhứt - vì thực tại và cấp thời - là nguy cơ sụp đổ về kinh tế tài chính. Tại VN, đầu tư ngoại quốc giãm sút, tiền tệ mất giá ít nữa 10%, xuất cảng ngất ngư, du khách thối lui, 6300 xí nghiệp quốc doanh thua lổ và không giải tán theo lời đốc thúc của Ngân hàng thế giới vá Quỷ tiền tệ quốc tế. Cuộc khủng hoảng Á châu càn quét Đông Á không chừa nước nào, từ Thái lan, Hồng kông, Mã Lai qua Nhựt, Nam Hàn, Singapour...Chế độ độc tài Nam Dương sụp đổ sau trên 30 năm cầm quyền. Rồi sẽ đến những thủ phủ khác. Việt Nam CS nằm trong trung tâm con trốt, với tất cả điều kiện và yếu tố để bị thổi bay. Trước tình thế khẩn trương, CS Việt Nam đã có hai quyết định u tối: chỉ định Nguyễn Tấn Dũng, một trùm công an dốt dặc về kinh tế, đứng ra điều khiển Ngân hàng quốc gia. Dũng nay được Đại hội CS đưa vào thay thế Thủ tường Phan Văn Khải. Mặt khác, buộc dân chúng học tập chủ thuyết Máïc Lê và tư tưởng họ Hồ. Có lẽ vì tuyệt vọng, Lê Khã Phiêu (khi còn giữ chức Tổng Bí thơ) và các đồng chí nghĩ rằng chỉ có Mác và Hồ đội mồ về mới có thể cứu nguy chế độ. Để vuốt đuôi Bắc kinh, Phiêu còn tuyên bố với báo giới, nhái lại Giang Trạch Dân: VN cần 15 năm để dân chủ hóa !

Bắc kinh và Hà nội nên mở to mắt ngó về Nam Dương, rồi Mã Lai và sau đó, Bắc Hàn và Miến Điện. No ấm và phúc lợi của dân quyết định sự sống còn của chế độ chớ không phải mưu toan và tính toán của nhà đương quyền. Súng đạn không trấn áp được khí thế của dân tộc. Tự do vắng bóng là áp chế. Những kỳ công đẹp nhứt và gợi hứng nhứt của nhân loại đều được tạo ra trong tự do. Xã hội chủ nghĩa chỉ mang lại nô lệ câm hờn và bóp nghẹt sáng tạo . Ngọn thủy triều dân chủ đang biến thành trận bão lớn. Khắp mọi nơi ở Á châu, các nhóm đối lập đã tạo được phong trào nhờ thế giới ủng hộ bằng dư luận và áp lực kinh tế. Toàn dân - nông dân, công nhân, sinh viên và tôn giáo - sớm muộn sẽ kết khối với đối lập. Không thể tống giam toàn dân vì đối lập.

Với hệ thống truyền thông thần tốc hiện đại, thế giới ngày nay thu hẹp lại như một ngôi làng nhỏ. Khái niệm liên đới và đoàn kết nối liền các quốc gia. Mọi lãnh vực đều bị toàn cầu hóa, nhiều hay ít. Dưới sức ép từ nhiều phía, bên trong và bên ngoài, nội tâm củng như ngoại lực, chắc chắn Trung hoa và Việt Nam sẽ dân chủ hóa trước thời hạn, muốn hay không muốn. Vì ýÙ Dân là ý Trời. Tự giải thể hay bị tiêu diệt, tạo cơm áo cho dân và trả quyền lại cho dân, Cộng sản cùng đường không có lối thoát thứ hai. Vấn đề hiện tại là rút ngắn thời hạn dân chủ hóa. Bằng mọi cách. Càng sớm càng hay.

Lâm Lễ Trinh


Từ Công Nhận Cờ Vàng Tới Cấm Treo Cờ Đỏ cộng sản Việt Nam - Lý Đại Nguyên


Lý Đại Nguyên

Nhiều thành phố, quận hạt, tiểu bang Hoakỳ công nhận Lá Cờ Vàng của Quốc Gia Việt Nam là biểu tượng tinh thần Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền của Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại Hoakỳ, là một bằng chứng hùng hồn nói lên rằng: Những cơ quan đại diện trực tiếp của Người Dân Hoakỳ đã đồng tình và triệt để hỗ trợ cho những cuộc tranh đấu chống lại chế độ độc tài toàn trị của Việtcộng, để đòi Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền cho toàn dân Việtnam của Người Việt Tỵ Nạn sống trên đất Mỹ và ở toàn thế giới. Lá Cờ Vàng, do đó, vừa là hiệu lệnh thống nhất, và duy nhất để quy tụ lực lượng đối kháng lại những âm mưu thao túng Cộng Đồng của Việtcộng, vừa là thứ vũ khí hữu hiệu trong tay các đoàn biểu tình bất bạo động, để dằn mặt, làm nhụt nhuệ khí, vô hiệu hóa khả năng tuyên truyền của Việtcộng trước dư luận quốc tế cho các chuyến công du của phái đoàn cấp cao Việtcộng chính thức viếng thăm Mỹ, và các nước khác có Cộng Đồng Người Việt hiện diện.

Mở đầu cho phong trào “Công Nhận Cờ Vàng”, khởi đi từ vùng Little Sàigòn, thủ đô của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản, sau 53 ngày đêm người Việt Hải Ngoại kiên trì bất bạo động, chống lại sự xuất hiện của hình Hồ Chí Minh và lá Cờ Đỏ Sao Vàng của Việtcộng tại phố Bolsa. Với 2 Nghị quyết công nhận Cờ Vàng của 2 thành phố Westminster và Garden Grove, do hai nghị viên trẻ là Andy Quách và Trần Thái Văn của 2 thành phố đó là những tác giả của 2 bản Nghị Quyết lịch sử này. Để tới nay, hàng trăm thành phố, quận hạt, và tiểu bang có người Việtnam sinh sống, đều đã công nhận Lá Cờ Vàng tiêu biểu cho Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn. Sau khi Việtcộng công bố Nghị Quyết 36, chúng liền vận động với Bộ Ngoại Giao Mỹ để cho một phái đoàn Quốc Hội của chúng, công khai, ngang nhiên đến ‘tham quan’ khu Little Sàigòn, bằng xe limousine cắm cờ đỏ, được Cảnh Sát Mỹ hộ tống. Ngay lập tức, thành phố Garden Grove ra Nghị Quyết không cho các phái đoàn của Việtcộng chính thức quá cảnh, hoặc thăm viếng thành phố. Nghị quyết này do nghị viên Trẩn Thái Văn đệ nạp và được toàn thể hội đồng thành phố chấp thuận ngày 11/05/2004. Tiếp đến là thành phố Westminster cũng ban hành nghị quyết tương tự. Mục đích của nghị quyết 36 nhằm công khai hóa mọi sinh hoạt của Việtcộng trong Cộng Đồng Việtnam tại Hoakỳ đã bị bẻ gẫy.

Mặc dù vậy, việc treo cờ của các nước ngoài, ở các trường học, có học sinh của nước đó theo học là quyền của mỗi nhà trường. Nhất là các Đại Học có quy chế tự trị rất cao. Chính vì thế mà, vì vô tình, hay cố ý, nhiều trường ở các thành phố, quận hạt, tiểu bang đã công nhận Cờ Vàng vẫn treo Cờ Đỏ của Việtcộng, khiến cho Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tốn rất nhiều công sức. Nên việc 2 tiểu bang Massachusetts, và mới đây là tiểu bang Texas đã ra Nghị Quyết cấm treo Cờ Đỏ của Việtcộng là một thắng lợi lớn đối với Cộng Đồng Tỵ Nạn Cộng Sản. HCR258, là nghị quyết do dân biểu tiểu bang Texas, gốc Việt, Hubert Võ đệ trình trước quốc hội tiểu bang, đã được Thượng Viện và Hạ Viện tiểu bang Texas thông qua hôm 30/05/2009. “HCR258 là Nghị quyết luật pháp khuyến cáo các trường Đại Học Houston (University of Houston) và tất cả các trường đại học tại tiểu bang Texas phải treo Cờ Vàng là biểu tượng của người Việt quốc gia, đại diện cho Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại Texas, chứ không treo Cờ Đỏ của Việtcộng nữa”.

Sở dĩ có một vài trường đại học mượn cớ, là trường của họ có một số du sinh tại Việtnam theo học, nên họ phải treo Cờ Đỏ của chế độ Việtcộng, cũng như họ treo cờ của các nước khác. Nhưng việc này đã là một đả kích lớn đối với các sinh viên Mỹ gốc Việt, vốn là những người tỵ nạn cộng sản, ông bà, cha mẹ, anh chị em và chính bản thân họ đã từng bị chế độ đó đầy đọa, khủng bố, tước đọat quyền sống, cả quyền học hành, thế mà nay tới được bến bờ tự do, lại vẫn phải đến học dưới mái trường có Lá Cờ Đỏ ngạo nghễ tung bay, thì tâm tình, tinh thần đâu chịu đựng nổi. Nhất là trong khi đó, tại thành phố, quận hạt và tiểu bang ấy lại đã chính thức có nghị quyết công nhận Lá Cờ Vàng là tiêu biểu của cộng đồng mình. Còn đối với các du sinh từ Việtnam qua, thì họ đã có tự do để lựa chọn trường lớp và nước đến học. Đó là quyền của họ, không thể vì làm vừa lòng một thiểu số Việtcộng, mà quên đi nguyện vọng của đa số con em người Mỹ gốc Việt được.

Quả thật việc giới trẻ Việtnam tham gia vào chính trường Hoakỳ, nếu họ giữ vững được tâm hồn và ý chí của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản, luôn luôn hướng về quê hương Việtnam, quyết tâm vận động cho một nước Việtnam Tự Do, Dân Chủ, Phú Cường thực sự, thì tiến trình Dân Chủ Hoá Việtnam chắc chắn sẽ rút ngắn lại nhiều. Vì các Nghị Viên thành phố, các Giám Sát Viên quận hạt, là những đơn vị trực tiếp hỗ trợ hữu hiệu cho công cuộc xây dựng thế vững mạnh cho Cộng Đồng Chống Cộng. Các Dân Biểu tiểu bang và Liên Bang đưa các nghị quyết, luật lệ có lợi cho công cuộc Dân Chủ Hoá Việtnam. Dân biểu tiểu bang California, Trần Thái Văn đã vận động thành công để tiểu bang công nhận Cờ Vàng, rồi được chính thống đốc Arnold Schwarzenegger đến tận Little Saigon ký ban hành. Đến nay Dân Biểu tiểu bang Texas, Hubert Võ đã thành công trong việc vận động Quốc Hội tiểu bang không cho treo Cờ Đỏ Việtcộng tại các trường đại học trong toàn tiểu bang

Còn dân biểu liên bang gốc Việt, Cao Quang Ánh đã vận động thành công để Hạ Viện Hoa Kỳ, ngày 28/04/2009, thống nhất thông qua Dự Luật H.Res.342 lấy ngày 02 tháng 05 hàng năm làm Ngày Của Người Tị Nạn Việt Nam, để vinh danh chuyến đi tới tự do của người Mỹ gốc Việt. Về Tự Do Tôn Giáo, dân biểu Cao Quang Ánh và dân biểu Ed Royce bảo trợ cho điều luật bổ sung của Dự Luật H.R.2410, khuyến cáo chính phủ Mỹ đưa Việtnam trở lại danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo – CPC, đã được Hạ Viện Mỹ thông qua, và chờ Thượng Viện Mỹ biểu quyết. Bộ ngoại giao Hoakỳ đã đưa nhà nước Việtcộng vào danh sách này từ năm 2004 đến 2006. Trong thời gian ấy, Hànội đã nới lỏng tự do tôn giáo tại Việtnam đôi chút. Nhưng sau khi Mỹ lấy tên Việtnam ra khỏi danh sách đó, thì Việtcộng lại xiết chặt các tôn giáo dân lập tại Việtnam thêm nữa. Đồng thời dùng thứ "Pháp Lệnh Tín Ngưỡng Tôn Giáo" ma quái "xin cho" đặt các tôn giáo đang được sinh hoạt công khai tại Việtnam dưới sự chi phối, kiểm soát của Mặt Trận Tổ Quốc công cụ của Cộng đảng, ngày càng gắt gao. Đứng ở thế quốc tế, Hoakỳ vẫn là một thế lực mạnh trong việc áp lực Việtcộng phải sớm Dân Chủ Hóa. Chính vì thế, mà người Mỹ gốc Việt chân chính càng đạt tới điạ vị cao trong mức thang Dân Cử Hoa Kỳ, thì càng thiết thực giúp ích cho đất nước khốn khổ Việtnam sớm thoát khỏi bàn tay cai trị của bọn đầy tớ Bắckinh mau hơn.

Lý Đại Nguyên

http://danviet.de/baiMitMenu.php?bai=1192&LinkIndex=index.php?&vung=&muc=0&AnfPos=0&Ausw%20ahl=&Eingabe=&Gr=0&Eb1=0&Eb2=0&Eb3=0&TypEb=&ReiterA=0&ReiterB=0

Hứa Vạng Thọ (Tin Paris) Chuyện công và chuyện tư - Nguyễn văn Hoàng

Nguyễn văn Hoàng

Kính thưa bà con,

Điều đầu tiên đệ muốn chia sẻ trong thư này là một cái nhìn.

CHUYỆN CÔNG

Tin Paris viết:

Biến chống Cộng thành "trò hề" tức là tiếp tay cho CS, và đó cũng là "chiến thuật" thâm độc của CSVN , như Mặt Trận Hoàng Cơ Minh , các chính phủ Đào Minh Quân, Nguyễn hữu Chánh, Lý tòng Bá (Việt Nam Cộng Hòa Foundation), Phan văn Song Chủ tịch Đại Việt QDĐ, tiến sĩ giả, v.v.. mà mọi người đều biết rõ nhưng không dám nói. Chuyện "Chống Cộng" là quan trọng, ai cho các anh đại diện Cộng Đồng ở Hải Ngoại có quyền "phong chức" bừa bãi y như trong các gánh hát "bầu tèo"? Đó là hành vi của những kẻ "lưu manh", lường gạt và tiếm danh.

Đệ nghĩ rằng VC luôn luôn tìm cách gài nằm vùng vào các tổ chức chống chúng. Nếu không phá sập các tổ chức, VC hướng nó trở thành một tổ chức chống Cộng cuội. Người nào nguy hiểm cho chúng thì chúng sẽ tìm cách thanh toán, hay vô hiệu hóa bằng cách này hay cách khác. VT hay các tổ chức chính trị lớn của hải ngoại khó lòng thoát khỏi nanh vuốt này. Dạo thường liên lạc với nhân vật cao cấp của VT, đệ vẫn hỏi là làm sao VT tránh được nằm vùng của VC, nhưng không có câu trả lời.

VC có muốn các tổ chức cuội thực sự mạnh hay không? Chắc chắn là không. Ngay cả con đẻ của CS Hà Nội là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam mà nó còn đì sát ván, không có lý do gì VC muốn tổ chức chính trị hải ngoại, dù là cuội, mạnh. VC chỉ muốn đảng chống Cộng cuội đủ hấp lực để thu hút người chống chúng, đặc biệt là người trong nước, gom về một mối, rồi tỉa từ từ. Mặt khác, VC cũng phải đánh cho các đảng này mềm mềm để nói không đủ mạnh để lấn chúng. Do đó quý vị sẽ thấy một mặt thì báo Công An chửi VT, chửi chính phủ Nguyễn Hữu Chánh, làm người chống Cộng trong nước tin tưởng rằng các đảng này là địch thủ nguy hiểm của VC. Mặt kia thì cũng có những websites ở hải ngoại được VC phân công đặc trách chửi các đảng này tối ngày sáng đêm để đánh cho đảng này mềm ở hải ngoại. Do đó, không phải website nào đánh VT, CP Nguyễn Hữu Chánh cũng là websites của người chống Cộng chân chính. Tin Paris nằm trong "diện" này. Ở đây tiểu đệ không nói đến các cá nhân chỉ trích các đảng cuội, đệ chỉ xin quý vị lưu ý đến những websites, mở ra không thấy xây dựng, mà chỉ thấy đánh phá. Đệ cũng không nói Tin Paris là VC, điều đệ muốn tâm tình là không phải thấy Tin Paris đánh tùm lum thì ta cho website này là chống Cộng tích cực.

Chống Cộng tích cực là đánh VC tích cực, là xây dựng thế lực của tự do dân chủ chớ không phải đánh người và tổ chức hải ngoại ì xèo như Tin Paris. Đánh người và tổ chức ở hải ngoại như Tin Paris là điều CSVN muốn làm.

Quý vị thường đọc bài sẽ thấy có những bài chống chủ trương của các đảng chính trị một cách đàng hoàng, nhiều bài chửi rủa, hề hóa các đảng phái này. "Biến chống Cộng thành " trò hề " tức là tiếp tay cho CS, và đó cũng là "chiến thuật" thâm độc của CSVN". Câu này do Tin Paris viết, cũng là điều Tin Paris làm.

CHUYỆN TƯ

Kính thưa quý vị,
Trong mươi ngày qua, từ khi Take2tango phê bình Tin Paris, nhiều người cũng đã lên tiếng bất mãn về việc đánh phá tứ tung của website này, đặc biệt là sự tấn công lỗ mãng của họ đối với HT Thích Quảng Độ. Liên quan đến sự kiện này, một số bài viết được Tin Paris bắn trả. Tuy nhiên, một lần nữa, Tin Paris xác định điều người ta lên án website này là đúng: Tin Paris tiếp tục giở ngón bêu xấu người khác.

Cách đây vài ba hôm, một người bạn forward cho tiểu đệ một bài viết của Tin Paris, bổn cũ soạn lại, tấn công tiểu đệ. Tin Paris, ông Hứa Vạng Thọ, dựa vào tài liệu của một nick tên là Hue Tran. Đồng thời ông cho biết cậu của tiểu đệ là ông Trần Quang Long ở Mỹ xác định thư của Hue Tran là chính xác. Vì thư của Huệ Trân viết có nhiều chi tiết, có việc đúng, có việc hoàn toàn sai, tiểu đệ cũng không biết cậu Trần Quang Long xác nhận đoạn nào đúng, nên thật khó trần tình.

Trước đây, khi bị Tin Paris tấn công, tiểu đệ có lên tiếng bào chữa thì một vài bằng hữu khuyên rằng không cần đôi co với Hứa Vạng Thọ làm chi. Tiểu đệ vốn dĩ không xem những điều người ta bôi lọ mình là quan trọng, nhưng trong thư của Hue Tran mà Tin Paris dùng để tấn công đệ, có nhiều đoạn có thể gây ra ngộ nhận cho thân phụ của tiểu đệ. Bản thân có thể bỏ qua, nhưng việc bênh vực người ngay, dù là người lạ hay là thân thích, là bổn phận của người có nhân tính. Thông thường tiểu đệ không nói về bản thân và người nhà, vì hiểu rằng cái tôi là cái đáng ghét, song hôm nay xin được phá lệ.

Tin Paris viết:

Chúng tôi có hỏi thăm Nhạc sĩ Trần Quan Long để xác nhận những tài liệu mà chúng tôi có được của HueTran, và xin phép được đua tên ông ra làm nhân chứng. Ns Trần quan Long là cậu bảy của Nguyên văn Hoàng, cho biết là những tài liệu của HUETRAN là đúng, và nếu cần chúng tôi nên hỏi thêm Khúc Vượng & Trần Thị Lan Australia 011 61 7 37 14 99 77 Ông Khúc Vượng là dượng tám của BS NVH ( bà Khúc Vượng, tức Trần Thị Lan, là dì ruột (thứ tám) của Bs NVH). Một người bạn khác cũng cho chúng tôi tin về người chị Hai của Ông Nguyễn văn Trích là Bà Hai Én, có chồng Bs Ánh, trước đây làm việc cho Labo dược phẩm KIM của Dược sĩ Nguyễn Kim Loan, đường Cao Thắng Saigon. Sau 1975, bà hai Én rất giàu vì làm "áp phe" với các chóp bu CSVN.

Những kẻ làm tình báo cho CSVN làm sao mà biết rõ được họ ? Trừ khi nào họ bị bắt như Huỳnh văn Trọng hay Vũ Ngọc Nhạ, hoặc sau 1975 khi "ván bài đã lật ngửa" như Trần văn Chiêu, Tướng Nguyễn hữu Hạnh, Phạm Xuân Ẩn thì chúng ta mới biết được. Trường hợp ông Nguyễn văn Trích, một công chức cao cấp của Miền Nam VNCH, sau 1975 vẫn còn ở nhà của mình, con cái đi học đàng hoàng, không bị "kỳ thị" lý lịch không đi "cải tạo" , xin để quý đọc giả suy luận. Sau 1975, ông Khúc Vượng đã năn nỉ các người bạn của mình "tha Ông Nguyễn văn Trích" sau khi công tác "phá hoại Nhà đèn" của CSVN tại Saigon do nhóm của ông Khúc Vượng chủ trương đã thất bại. Ai muốn tìm hiểu thêm thì cứ liên lạc thẳng với những người "trong gia đình" như Ns Trần Quan Long hay Ông Khúc Vượng thì biết rõ sự thật. Đây không phải là trọng tâm của TinParis.net ngày hôm nay.

Kính thưa bà con,

Thân phụ của tiểu đệ, ông Nguyễn văn Trích, vốn học cùng khóa Quốc Gia Hành Chánh với bác Nguyễn Bá Cẩn. Ông là một công chức gương mẫu, không theo phe cánh. Chức vụ cuối cùng của ông trong chính quyền VNCH là Tổng Thơ Ký bộ Kế Hoạch và Phát Triển Quốc Gia. Năm 1973, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, tác giả của quyển Khi Đồng Minh Tháo Chạy, về làm tổng trưởng bộ Kế Hoạch và thân phụ của tiểu đệ đã thuyên chuyển qua làm ở công ty Đường VN đầu năm 1974. Đây là một công ty hợp doanh, thân phụ của tiểu đệ giữ chức Tổng Kiểm Soát, kim phụ tá hành chánh tài chánh. Từ đó ông không còn làm trong chính phủ VNCH.

Năm 1975, khi VC vô thì ông Tổng Giám Đốc của công ty đường di tản, thân phụ của đệ trở thành nhân vật cao cấp nhất của công ty Đường. Khi VC kêu đi học tập thì ông đã chuẩn bị khăn gói, nhưng Ba Hội, người tiếp quản công ty ra lệnh ông chỉ đi học tập ở trụ sở Hạ Viện vì nhiều lý do. Thứ nhất, Ba Hội bảo thân phụ của tiểu đệ đã không làm trong chính phủ VNCH, không phải là "ngụy quyền" đương quyền. Thứ nhì, nếu ông cũng rời công ty thì không còn viên chức cao cấp nào biết được việc điều hành của công ty, mà VC thì rất dốt. Thứ ba, lúc ấy VC quan niệm "bí thư" mới là lớn, còn "tổng thơ ký" thì bất quá chỉ làm sếp của thơ ký mà thôi.

Nhờ vậy mà thân phụ của tiểu đệ không phải ở tù dài hạn.

Cậu Trần Quang Long đi từ năm 1975, từ ấy chưa gặp mặt, thậm chí chưa liên lạc với thân phụ của tiểu đệ lần nào, cho nên nếu có làm chứng điều gì thì cũng chỉ có giá trị với việc xảy ra trước năm 1975 mà thôi. Cả câu chuyện dựng đứng là cô Hai Én của tiểu đệ làm áp phe với VC, chắc cậu Trần Quang Long cũng không làm chứng cho Tin Paris. Thật tội cho cô Hai, sau khi VC vô, nhiều cô chú đi di tản, VC vào chiếm nhà, sau cùng từ một biệt thự cô phải về sống trong một căn gác hẹp. Thân phụ của tiểu đệ một đời đóng góp cho miền Nam, liêm khiết đến mức độ không mua được một căn nhà riêng. Thật bất nhẫn khi người ta vì ghét con của ông mà bêu xấu một công chức tận tụy.

Bây giờ đệ xin kể đến đoạn sau mà Tin Paris đề cập, tức là đoạn có liên quan đến ông Khúc Vượng.

Thưa bà con, hình như năm ấy là 1979, trong một đêm mưa gió tầm tã, khoảng 11.30 khuya, có người dộng cửa nhà của tiểu đệ. Lúc ấy giới nghiêm lúc 12 giờ, 11.30 mà có người dộng cửa thì lành ít dữ nhiều. Ra mở cửa thì thấy ông Khúc Vượng. Ông đẩy xe honda vào nhà, thì thầm với thân phụ của tiểu đệ chừng 10 phút. Ông trao cho ba của đệ một cái phù hiệu bằng vải bố và bảo rằng sáng hôm sau sẽ có cuộc tổng nổi dậy ở Hồ Con Rùa của một nhóm phục quốc. Ông Khúc Vượng kêu ba của tiểu đệ ra Hồ Con Rùa tiếp ứng.

Trời mưa suốt đêm. Đến sáng, thân phụ của tiểu đệ đạp xe đạp ra Hồ Con Rùa đường Duy Tân thì thấy mọi sinh hoạt như bình thường. Sau này mới được ông Khúc Vượng cho biết là các nhóm nổi dậy đã bị bắt ở bến xe và những điểm tập họp khác. Bây giờ thì có người bịa đặt việc phá hoại nhà đèn, định bôi lọ thân phụ của tiểu đệ, thật ác tâm.

Sở dĩ họ dựng đứng những câu chuyện về thân phụ của tiểu đệ chỉ vì họ muốn tấn công tiểu đệ. Tin Paris viết:

Trở lại vấn đề "Diễn Đàn Mail Phố Nắng" của Ông Nguyễn văn Hoàng TinParis đã nêu lên 2 điểm chánh:

1. Ông Nguyễn văn Hoàng trước đây là người của Mặt Trận HCM tức Băng Đảng Việt Tân sau nầy.
2. Ông NVH viết những điều có lợi cho CSVN trong "Xóm vắng" với các Nickname như Võ Thủy Tiên, QLD,v.v...CSVN sẽ mừng lắm khi gặp một người chống cộng kiểu ông NVH !

Thực là khôi hài vì tất cả những người ở Brisbane, hiểu tiểu đệ, sinh hoạt chung với tiểu đệ, kể cả đảng viên của Việt Tân, đều biết tiểu đệ không hề là người của Mặt Trận. Trơ trẽn như Tin Paris thì phải gọi là thượng thừa. Còn nếu tiểu đệ sợ người ta nghĩ mình từng dùng bút danh Thủy Tiên thì đã không tự nhận mình là Thủy Tiên. Lý do mà tiểu đệ tự nhận như sau.

Ngày trước, nhà tiểu đệ ở sát vách với ông Hoàng Cơ Định. Gia đình ông thường qua lại. Người chú út của đệ thứ 16, bà nội tiểu đệ mến ông Định nên gọi ông là "thằng 17", xem như con. Trong thời gian tiểu đệ viết dưới bút danh là Thủy Tiên thì có liên lạc với "uncle 17" Hoàng Cơ Định, và đảng VT biết Thủy Tiên là tiểu đệ. Sau khi nhận thấy đảng VT có chủ trương giúp đào mương hốt giếng, ngược lại với lập trường của đệ thì tiểu đệ lên tiếng phản đối. Đệ từng ủng hộ Little Saigon ở San Jose, viết nhiều bài phê bình đảng Việt Tân. Khi đệ quyết định mở diễn đàn Phố Nắng, biết sẽ bị tấn công, nhất là khi người ta nắm cái tẩy Thủy Tiên của tiểu đệ, đệ đã công khai bút danh này.

Cũng trong thời điểm này thì nick Hue Tran nhào ra bôi nhọ đệ và gia đình. Tiếp theo là Tin Paris khai thác sự tấn công này mặc dù đệ và Tin Paris chưa hề có qua lại trước đó.

"Những kẻ làm tình báo cho CSVN làm sao mà biết rỏ được họ ? Trừ khi nào họ bị bắt như Huỳnh văn Trọng hay Vũ Ngọc Nhạ, hoặc sau 1975 khi " ván bài đã lật ngửa" như Trần văn Chiêu , Tướng Nguyễn hữu Hạnh, Phạm Xuân Ẩn thì chúng ta mới biết được." Câu này Tin Paris viết, xin kính hoàn lại cho Hứa Vạng Thọ.


Trân trọng,
Nguyễn văn Hoàng
(hoang4eb@gmail.com )

---------- Forwarded message ----------
From: Hien Phan >
Date: 2009/6/2
Subject: [PhoNang] Hua Vang Tho Tin paris
To: PhoNang@yahoogroups.com

Ông Hứa Vạng Thọ bị khai trừ khỏi LMDCVN từ năm 1990.
Hắn ta đánh phá LMDCVN sau khi hắn đề nghị LMDCVN mở website đăng tin giựt gân để câu đọc giả nhung LMDCVN kho^ng dong y'. kho^ng ngac nhien khi Tin Paris lau lau dang tin vi.t, thuong xuyen chui vc, lau lau quay qua chui nguoi chong cong.
________________________________________
http://www.take2tango.com/?display=7111


Liên Minh Dân Chủ Việt Nam
Dân Bản – Tự Do – Độc Lập – Hoà Bình – Trung Lập

ỦY BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

THÔNG CÁO




Kính thưa Quý Vị

Gần đây, nhiều độc giả của điện báo Take2Tango và một số diễn đàn khác có đề cập đến Hứa Vạng Thọ và liên hệ của Ông này với Liên Minh Dân Chủ Việt Nam và với cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy.

Nhằm mục đích làm sáng tỏ vấn đề, kính xin Quý Vị vui lòng phổ biến rộng rãi Thông Cáo này:

1. Từ ngày cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời, có rất nhiều người đã “nhân danh” Ông, thậm chí còn “trích dẫn lời của GS Nguyễn Ngọc Huy”…, để che đậy những hành vi sai trái của mình hay của phe nhóm mình.

2. Đoàn thể chánh trị do cố GS Nguyễn Ngọc Huy sáng lập, Liên Minh Dân Chủ Việt Nam có một lập trường rất rõ ràng và đơn giản:

- LIÊN MINH hàm ý Đoàn Thể của chúng tôi không chủ trương tranh đấu đơn độc, mà Liên lập với tất cả những đoàn thể quốc gia bạn.

- DÂN CHỦ VIỆT NAM là mục tiêu chiến lược tối hậu của Đoàn Thể chúng tôi.

Tập đoàn lãnh đạo cộng sản Hà Nội, qua chủ trương và đường lối phản quốc, phản dân chủ, đã đưa đất nước Việt Nam xuống vực thẵm; cho nên họ là kẻ thù duy nhứt mà chúng tôi phải ưu tiên triệt hạ.

3. Chính vì thế mà LMDCVN chủ trương TUYỆT ĐỐI KHÔNG CHỐNG PHÁ BẠN.

- Công tác nào chúng tôi nhận thấy có lợi cho mục tiêu chiến lược nêu trên, LMDCVN sẽ chủ xướng hoặc cộng tác một cách chân thành, sao cho công tác được thành công hữu hiệu.

- Việc gì chúng tôi không đồng ý hay nhận thấy không thể cộng tác chung thì chúng tôi chủ trương “việc ai nấy làm”. LMDCVN TUYỆT ĐỐI KHÔNG ĐẢ KÍCH, CHỐNG PHÁ.

Vì thế cho nên, những việc làm của Ông Hứa Vạng Thọ hoàn toàn trái ngược với lập trường và chủ trương của LMDCVN. Và chúng tôi xin tái xác nhận: ông Hứa Vạng Thọ đã không còn liên hệ gì đến LMDCVN chúng tôi từ đầu thập niên 1990.

Ngày 26 tháng 05 năm 2009

Chủ Tịch Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương
Nguyễn Quốc Nam


Tuesday, June 2, 2009

Tự do báo chí hay tự do bóp ghẹt báo chí (!?) - Trần Việt Trình

Trần Việt Trình

Tuần rồi, liên tiếp trong 3 ngày, nhật báo The Age của Melbourne Úc Châu đã chạy trang nhất phanh phui hợp đồng làm ăn đáng ngờ giữa công ty Securency của Úc mà Ngân Hàng Trung Ương Úc (Australia's Reserve Bank) có một nửa cổ phần với một công ty Việt Nam có liên hệ với con trai của cựu Thống Đốc Ngân Hàng CSVN. Hai nhà báo Nick McKenzie và Richard Baker của báo The Age đã mở loạt bài điều tra cho hay công ty Securency đã trả hàng triệu đôla tiền hoa hồng cho công ty CFTN (Company For Technology and Development) của VN có công ty con Banktech thuộc quyền quản lý của Lê Đức Minh, con trai của cựu Thống Đốc Ngân Hàng CSVN Lê Đức Thuý. Đọc báo người mà nghĩ đến báo ta. À không, đọc báo người mà nghĩ đến báo VC, mà ngán ngẩm. Nếu như ở VN, hai nhà báo này đã bị bắt giữ, bị thâu thẻ hành nghề, bị buộc tội lạm dụng quyền hạn và "thông tin sai lạc".

Năm 2005, báo chí trong nước bắt đầu phanh phui một vụ tham nhũng trong đơn vị hạ tầng cơ sở có tên là PMU18 của Bộ Giao Thông Vận Tải, cáo buộc các viên chức hữu trách đã biển thủ ngân quỹ và dùng những món tiền này để cá độ bóng đá. Vụ tai tiếng tham nhũng này đã khiến Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải phải từ chức. Tháng 8 năm rồi, chính phủ VN cho hay 4 nhà báo bị tịch thu thẻ hành nghề vì đã viết và duyệt đăng những tin tức "thất thiệt" về một vụ chống tham nhũng và vì đã bênh vực cho các đồng nghiệp bị bắt giữ vì các bài tường thuật của họ trong vụ này. Ba tháng trước đó, hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải, đã bị bị cơ quan an ninh điều tra, khởi tố và bắt giam vì tội "lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm đến lợi ích của Nhà Nước". Nhật báo Thanh Niên đòi trả tự do cho các nhà báo lương thiện. Nhật báo Tuổi Trẻ cũng lên tiếng cho rằng nhà báo của họ đã phải trả một cái giá quá đắt cho việc đưa tin. Hai ngày sau, các báo này đã phải ngưng ngay những lời phản kháng sau khi nhận được một lời cảnh cáo của chính phủ. Đúng là “TỰ DO BÁO CHÍ” ở một nước "TỰ DO"!!!

Ấy thế mà Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, người đứng đầu nhà nước, trả lời phỏng vấn nhân chuyến thăm Anh quốc tháng 3 năm rồi tuyên bố “Việt Nam có tự do báo chí rất tốt, rất cởi mở, rất thông thoáng”. Nỗi uất ức của công luận chưa kịp nguôi ngoai trước sự kiện 2 nhà báo của Thanh Niên và Tuổi Trẻ bị bắt giam cùng với 7 nhà báo khác đồng loạt bị tước thẻ hành nghề vì những bài viết phanh phui vụ tham nhũng PMU18, thì đầu tháng 8 năm 2008, Ban Bí Thư Trung Ương Đảng ban hành Chỉ Thị số 25 khẳng định Việt Nam sẽ tiếp tục “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng” đối với báo chí.

Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948 điều 19 đã ghi: “Ai cũng có quyền tự do bày tỏ quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia”.

Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị được biểu quyết năm 1966, mà CSVN đã xin được tham gia năm 1982, điều 19 cũng đã ghi:

1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào.

2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ”.

Hiến pháp Nước Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992, điều 69 có ghi “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.

Nhà cầm quyền CSVN đã sử dụng cụm từ “theo qui định của pháp luật” để xảo trá phủ nhận tất cả các quyền về Tự do, Thông tin và Ngôn luận được Hiến pháp qui định. Do đó, trên thực tế, CSVN hoàn toàn độc quyền định hướng và khống chế thông tin, độc quyền sở hữu các phương tiện thông tin. Tất cả đều nhằm mục đích bảo vệ đảng và chế độ. Vì thế truyền thông và thông tin trong chế độ CSVN luôn mang tính một chiều, bưng bít, và dối trá.

Trái với những gì CSVN xảo trá rêu rao, quyền thông tin ngôn luận như được xác định trên đây vẫn luôn bị bóp nghẹt trầm trọng như từ bao nhiêu năm qua, bản chất tuyệt nhiên không thay đổi. Không cấm mở các đài truyền thanh từ nước ngoài được và không bịt được tai của dân thì đảng lại tìm mọi cách khóa con mắt của dân. Nhà cầm quyền VN kiểm soát gắt gao Internet, không nhằm mục đích bảo vệ thuần phong mỹ tục mà hòng ngăn chận mọi thông tin trái với lập trường và quan điểm của đảng CS. Nghe lén điện thoại, đọc lén email, phá hủy bưu thư, kiểm soát điện thư, ngăn chặn văn bản, ấn phẩm là những thủ thuật thường dùng của CS. Ngoài ra, CSVN còn dựng lên vô số bức tường lửa để ngăn chận các trang web có nội dung vạch trần sự thật, tố cáo bất công, đòi hỏi tự do chính trị hay tự do tôn giáo ở trong nước cũng như ngoài nước của người Việt lẫn ngoại quốc; khủng bố và bắt bớ những công dân sử dụng diễn đàn thông tin điện tử "trái phép". Cụ thể nhất là việc phạt tù các nhà đấu tranh Nguyễn Vũ Bình và Phạm Hồng Sơn vì họ đã sử dụng Internet để bày tỏ chính kiến; là việc phá huỷ trang Web mới thành lập của Phong trào Dân chủ Việt Nam, và việc phạt tiền Nhà đấu tranh Đỗ Nam Hải.

Tháng 11 năm ngoái, tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới RSF (Reporters Sans Frontières) phổ biến bảng xếp hạng các nước trên thế giới về việc tôn trọng tự do báo chí. Theo bảng xếp hạng này, VN đứng gần chót, chung nhóm với các nước độc tài, quân phiệt và cuồng tín. Trong số 173 quốc gia mà RSF khảo sát và đánh giá, VN được xếp hạng thứ 168, còn thua cả Trung Quốc. Trung Quốc đứng hàng thứ 167. Bảng xếp hạng căn cứ vào các tài liệu, khảo sát và đánh giá trên 49 tiêu chuẩn liên quan tới tự do báo chí cho thời điểm từ 1/9/2007 đến 1/9/2008 tại từng quốc gia. RSF chỉ thuần tuý căn cứ vào căn cứ những vi phạm hay mức độ tôn trọng quyền tự do diễn đạt, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí của người dân tại mỗi nước. Một số các tiêu chuẩn được RSF xét đến chẳng hạn như: giết người bịt miệng, bỏ tù, hành hung, đe dọa các tổ chức và cá nhân người cầm bút. RSF xét đến cả những hành động sử dụng những tổ chức bí mật, những thế lực đen để đàn áp giới cầm bút. Ðối với các tổ chức thông tin thì đó là việc khủng bố, kiểm duyệt, tịch thu hoặc cấm xuất bản.

Tưởng cũng cần nhắc lại, trong những bảng xếp hạng trước đây, VN thường xuyên nằm trong nhóm cuối bảng. Năm 2002, RSF gọi tổng bí thư đảng CSVN Nông Ðức Mạnh là “con dã thú sát hại báo chí” (“a predator of press freedom”). Trên trang web của RSF (http://www.rsf.org/article.php3?id_article=1087) có đăng hình 40 "con dã thú” trên khắp thế giới. Những con dã thú này có quyền lực kiểm duyệt, bắt bớ, bắt cóc, tra tấn và tệ hại hơn nữa là có thể cả thủ tiêu nhà báo (“these predators of press freedom have the power to censor, imprison, kidnap, torture and, in the worst cases, murder journalists”). Trong 40 tay sát thủ của các nhà báo đó Nông Đức Mạnh đứng đầu, được đặc biệt chiếu cố và được đăng to nhất. Nông Ðức Mạnh đã quyết liệt dùng mọi cách để làm tắt tiếng những tiếng nói dân chủ tại VN (“Nong Duc Manh has decided to use every means possible to silence the human rights and pro-democracy activists who got together to form Bloc 8406 and who have defied the government by launching two underground magazines that are distributed abroad and clandestinely within Vietnam”). Cả Nông Ðức Mạnh lẫn Nguyễn Tấn Dũng, bất chấp hiến pháp Việt Nam, đã nhiều lần tuyên bố thẳng thừng là VN không chấp nhận báo chí tư nhân.

Đầu năm nay, một tổ chức khác gọi là Ủy ban Bảo vệ Ký giả CPJ (Committee to protect Jounalists) trụ sở tại New York, Hoa Kỳ, cũng công bố một bản phúc trình lên án nhà cầm quyền VN trong năm qua đã đàn áp nhiều ký giả, nhiều người viết blogs, cùng các nhà dân chủ, khiến họ bị tù tội và trù dập. Theo CPJ thì VN là một trong những nước kiểm soát Internet nghiêm ngặt nhất tại Á Châu và Hà Nội tổ chức ngăn chận mọi web sites cùng những tài liệu trên internet mà họ xem là đe dọa đến chính thể của họ. Bản phúc trình của CPJ nhắc đến trường hợp nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải, nổi tiếng dưới cái tên quen thuộc là blogger Điếu Cày, bị Hà Nội kết án 30 tháng tù với tội trốn thuế, một hành động mà CPJ cho là trả thù của Hà Nội, sau khi blogger Điếu Cày tường thuật về những vụ biểu tình chống TQ xâm chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đã vậy, CSVN không chỉ giới hạn việc kiểm soát giới truyền thông trong nước mà thôi. Bản phúc trình cũng nêu lên hành động đàn áp một nhà báo ngọai quốc vào tháng 9 năm ngoái khi công an VN hành hung và giam giữ phóng viên Ben Stocking của hãng thông tấn AP, khi ông đến tận nơi để tường thuật vụ biểu tình của giáo dân ở Thái Hà. CPJ trích dẫn nguồn tin của hãng thông tấn AP mô tả công an VN đấm, đá ký giả Stocking khi ông yêu cầu trả lại máy ảnh. Theo các quy định chính thức tại VN, số ký giả ngoại quốc (vốn chẳng bao nhiêu người) phải làm việc trong phạm vi Hà Nội, đồng thời phải xin phép nếu muốn đi ra ngoài khu vực ấn định để tường thuật. Cần lưu ý là đôi khi phép này vẫn bị nhà cầm quyền từ khước. Hầu hết các ký giả Tây Phương làm việc tại VN đều ngầm hiểu rằng mọi cuộc điện đàm qua điện thoại và mọi trao đổi qua Email cùng các hoạt động của họ đều bị chính phủ Việt Nam theo dõi.

Hiện nay, CSVN đang bị thế giới chỉ trích và lên án nặng nề về vi phạm nhân quyền, đặc biệt về quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí nên họ tìm cách tạo ra một thứ tự do ngôn luận và tự do báo chí giả tạo để đánh lừa dư luận trong nước và quốc tế. Trong hoàn cảnh tự do lập lờ và giả tạo này, các nhà báo được quyền nói gần như bất cứ điều gì miễn là không gây nguy hiểm cho chế độ là được. Hiện nay một số báo chí rất ít ỏi đang khôn khéo tìm cách xé rào chút ít nhưng chưa đáng kể. Báo chí ngày càng được đăng tải những loại bài giật gân, những bài về "người xấu việc xấu" như trộm cấp, cướp giựt, hãm hiếp và tội ác kiểu báo lá cải để lôi kéo độc giả. Họ có quyền chống tham nhũng “trong giới hạn”, ví dụ như chỉ trích hoặc đưa tin về sự tham nhũng hay ăn cướp của những cán bộ cấp thấp, được phép chỉ trích chính sách của nhà nước về kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế ở “mức độ cho phép”. Dựa theo đó chính phủ VN khôn ngoan chộp lấy những bài tường thuật của báo chí trong nước về những vụ tham nhũng ở các cơ quan của nhà nước làm bằng cớ để rêu rao rằng VN có tự do báo chí.

“Tự do báo chí” của VN không được tự do ở chỗ các nhà báo không được phép phê bình chỉ trích đảng và nhà nước về chính trị, nhất là không được phê bình tính độc tài, độc đảng; tuyệt đối không được nói nguyên nhân của những tệ nạn xã hội là do cơ chế độc tài độc đảng của chế độ. Chính phủ VN vẫn thường xuyên lập luận rằng "báo chí Việt Nam có quyền đề cập tất cả các vấn đề mà pháp luật không cấm. Pháp luật chỉ cấm báo chí tuyên truyền kích động bạo lực, kích dục, tuyên truyền cho chiến tranh, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc". Việc chống tham nhũng của đảng và nhà nước cũng chỉ là chống giả tạo hầu làm thuyên giảm sự bất mãn của dân chúng, đồng thời để tỏ thiện chí đối với dư luận trong và ngoài nước. Nhà báo nào dám tố cáo những cán bộ CS cao cấp tham nhũng, cướp đất đai tài sản của dân hay tham ô của công thì đều bị đều bị xem là có tội, là “vi phạm pháp luật”, là đụng chạm đến an ninh của nhà nước. Mọi hành vi tham nhũng, ăn cướp của các cán bộ cao cấp đều được CSVN xem là “bí mật nhà nước”. Tham nhũng hay ăn cướp càng lớn thì càng được xem là “tối mật”. Tiết lộ “bí mật nhà nước” là “vi phạm pháp luật”.

Việt Nam hiện có một hãng thông tấn quốc gia, hàng trăm cơ quan báo chí, ấn phẩm báo chí, gần cả trăm đài phát thanh truyền hình, hàng chục báo điện tử, hàng trăm trang thông tin điện tử, và hàng vạn nhà báo; tất cả đều do đảng và nhà nước cấp thẻ hoạt động thì làm gì có tự do được. Tự do dân chủ không bao giờ xin mà được, phải đấu tranh mới có. Nhìn những gì CSVN đã làm, dùng luật pháp và toà án để trừng trị những nhà báo đã dám "bứng cây động rừng" cho thấy cường quyền, bạo lực tuy có ảnh hưởng nhất thời nhưng về lâu về dài chẳng những không diệt được tự do báo chí, mà còn tạo môi trường cho mầm tự do nảy sinh, tạo ra sức bật mới cho những nhà báo có lý tưởng, lương tâm, trách nhiệm và có đức nghiệp.

Hai ba thập niên trước không ai có thể tưởng tượng ra được mầm tự do, dân chủ và nhân quyền có thể sinh sôi nẩy nở ở VN như bây giờ. Thực sự mầm mống ấy đã nảy sinh dù môi trường CS vô cùng khắc nghiệt. Cũng thể như trong hệ thống chính trị độc tài toàn diện mà CS Hà Nội kềm kẹp nhân dân chặt chẻ như gọng kềm, vẫn có những người bất chấp ngục tù CS, vì đạo pháp và dân tộc dấn thân đấu tranh cho tôn giáo, cho tự do, dân chủ, và nhân quyền VN. Chúng ta đã có những nhà dân chủ như Lm Nguyễn Văn Lý, Ls Nguyễn Văn Đài, và Ls Lê Thị Công Nhân dám hành động mà không sợ tù tội. Chúng ta cũng sẽ có những Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Đài, và Lê Thị Công Nhân trong lãnh vực báo chí, dám hành động và cũng không sợ tù tội, đem lại sinh khí cho phong trào tự do, dân chủ, và nhân quyền cho Việt Nam.

Trần Việt Trình
2 tháng 6, 2009
***

Nguồn: http://www.rsf.org/article.php3?id_article=1087

Vietnam: Nong Duc Manh

Secretary-general of the ruling Communist Party

He is one of the architects of the relentless crackdown on opposition groups and dissident publications in Vietnam. Two journalists and around 15 cyber-dissidents have been sentenced to long prison sentences since January 2007. They include Catholic priest Nguyen Van Ly, who was given an eight-year term on a charge of “propaganda against the Socialist Republic of Vietnam” for launching an underground magazine called Tu do Ngôn luan (Free Expression) in the central city of Hue. When one of those who helped him, Nguyen Phong, was given a six-year sentence, he told the judge: “I will continue to fight for the values of freedom and democracy.”
Nong Duc Manh has decided to use every means possible to silence the human rights and pro-democracy activists who got together to form Bloc 8406 and who have defied the government by launching two underground magazines that are distributed abroad and clandestinely within Vietnam. Regarded as an economic reformer, he also distrusts the Internet and had several people arrested in 2007 for demanding more democracy on online forums.