Sunday, May 17, 2009

TRẦN THANH TIẾN SỸ: CHÓ, NGU, THÚI” ! - Bảo Quốc Kiếm

TRẦN THANH TIẾN SỸ: CHÓ, NGU, THÚI” !

Bảo quốc Kiếm
(phiếm)

Kính thưa Tiến sỹ Trần Thanh,

Trước hết, tiểu điệt xin ngài đừng vì cái tiểu đề mà vội giận. Tiểu điệt sẽ hạ hồi phân giải với ngài, xin đừng chấp lũ lóc nhóc như bản nông dân này nhé. Như ngài biết, trên phương diện học thuật, ngài là bậc quá cao đối với tiểu điệt. Căn cứ vào khía cạnh này, lớp Năm phải gọi Tiến sỹ là Tứ đại Tổ sư; vì làm thầy nhau qua bậc thang: Tiểu học- Trung học ĐNC-Tú tài- Cử nhân-Tiến sỹ. Tuy vậy, lần này xin mạn phép thượng đại tôn nhân hầu chuyện một lần, và có lẽ hơi dài dòng mới nói hết được cái chỗ kính quý với Tứ đại Tổ sư.

Thưa ngài,

Vì không có thì giờ lên NET, nên bài của ngài đăng đã lâu mà tiểu điệt không biết. Hôm qua tình cờ, một vị nào đó đã nhắn sang bảo tiểu điệt vào trong TINPARIS.NET mà thưởng lãm danh tài vô thượng Trần Thanh. Mừng quýnh, tiểu điệt vội chui dzô Copy hai bài lưu làm “gia phả trần gian cho dòng họ Trần”. Một bài ngài nói về Hoà thượng Thích quảng Độ, một bài nói chuyện ông Nguyễn phúc Liên, Đỗ thái Nhiên. Tuyệt hảo.

Là nông dân, tiểu điệt dốt, lại ít đọc sách báo, mạng nhện, vì bận đi kiếm cơm, chứ đâu rảnh rỗi đi săn lùng trên NET. May nhờ ơn mưa móc, hôm qua tiểu điệt có một bữa thật ngon. Cười suốt cả đêm không ngủ được. Chỉ có gãi và gãi thôi. Cái sướng ở chỗ là đọc được cái văn phong Tiến sỹ”, điều chưa từng thấy bao giờ. XIN CÁM ƠN NGƯỜI.

Thưa ngài,

Dù nghèo, nhưng bẩm tính tiểu điệt vốn “chịu chơi”, nên không ích kỷ. Tiểu điệt mang cái này ra đọc cho mọi người nghe chung. Khổ một nỗi người chung quanh tiểu điệt chỉ là nhà quê cả. Sau khi nghe đi, nghe lại, một bà Cụ vội la lên, thì ra TRẦN THANH LÀ TIẾN SỸ CHÓ, NGU, THÚI đó à ? Nghe xúc phạm đến Tứ đại Tổ sư, tiểu điệt nổi khùng la bà Cụ mấy câu. Bà cũng giận lên và chửi đổng: Mẹ kiếp đọc mà không biết đếch chi cả. Có thứ Tiến sỹ gì viết lách mà dùng trong bài TÁM CHỮ CHÓ, SÁU CHỮ NGU, MẤY CHỮ THÚI VÀ…Thì ra bà Cụ cũng rành thiệt, tiểu điệt không hề để ý chuyện này. Vốn làm nghề Bán cá tại chợ Đông ba ở Huế, bà tức giận la lên rằng:’M Ẹ KIẾP THẰNG NÀY GẶP BÀ CHO CHO CÁI Đ…lên đầu. Tiểu điệt phải Stop bà lại đó Tứ đại Tổ sư à. Do chỗ ấy, mà tiểu điệt lấy làm cái đề cho “vui nhộn tuần hoàn khi nổi sóng” để thượng tấu tôn nhan Trần Thanh Tiến sỹ.

Hôm nay đi làm về, tiểu điệt mới “phạch” ra coi lại, thì ra, bà Cụ nói không sai chút nào. Tiểu điệt tiếc nuối vô cùng trời đất. Thì ra, Tiến sỹ Tứ đại Tổ sư đâu khác “con vện Vĩnh long” chút nào. Ngài cũng không bằng bà bán cá chợ Đông ba của tiểu điệt nữa. Răng rứa hè ? Nhưng dù sao, khi thưa thỉnh với ngài Tiến sỹ, tiểu điệt cũng rất cẩn trọng, nói rõ từng chút một để ngài thương tình xem xét sự khác biệt giữa “ngôn ngữ người và cầm thú”.

Thưa ngài Tiến sỹ,

Tiểu điệt không học hành mấy chữ, nhưng từ bé, mẹ tiểu điệt dạy như thế này: “Gặp ông gìa, bà lão phải thưa ông, thưa bà, thưa cụ. Gặp người ngang tuổi cha mẹ phải thưa bác, thưa chú, thưa cô, thưa dì. Gặp người lớn tuổi hơn phải thưa anh, thưa chị. Gặp bạn phải chào bằng bạn hoặc tên. Gặp em nhỏ phải chào bằng em….Còn thân thuộc thì tùy vào quan hệ…..”. Tiểu điệt “thi hành nghiêm chỉnh” những lời Mẹ dặn như thế. Một hôm, khi có người già đến nhà, tiểu điệt cúi đầu chào bác, thì con chó nó chỉ sủa và sủa mà thôi. Ngoài tiếng VÂU VÂU, nó không biết chào gì cả. Nổi nóng lên, tiểu điệt đè đầu nó xuống, đánh cho mấy cái, hỏi: Tại răng mi ngu rứa, không biết tôn trọng người lớn tuổi ? Bất ngờ, Mẹ từ đâu lại, kéo đầu dậy bảo tiểu điệt rằng: CON BẢO CHÓ NGU MÀ CON NGU HƠN CHÓ. Nó là chó, đâu phải là người mà biết lễ nghĩa hả con ? Hôm nay, cảm niệm này sở dĩ chạy về trong ký ức, vì tiểu điệt đọc mấy lời Tiến sỹ viết:

“- Yêu sách một: Rất ngu và rất thối !”
“- Yêu sách hai: cũng rất thối và rất ngu !”


Thì ra văn chương Tiến sỹ Trần Thanh chỉ có vậy. Chưa dám dâng lời phân tích, ở đây chỉ tạm nói chuyện tào lao chơi thôi. Tự nghĩ, không biết Trần Thanh có cha mẹ sinh ra như tiểu điệt không
, hay là từ cục đất sét sinh ra ? Giả như có cha sinh mẹ dưỡng, thì cha mẹ ngài có dạy như mẹ tiểu điệt hay không ? Hẳn là không. Bởi vì có dạy mà không làm thì là thứ mất dạy, chứ là gì, phải không chú bác bà con nội ngoại ? Người xưa dạy:

“Lời nói không mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.

Hay chứ Tiến sỹ ?

Nhưng, khi một kẻ chưa biết “lựa lời”, thì nó cũng chỉ như con chó chỉ biết VÂU VÂU NHƯ VỆN VĨNH LONG thôi. Lại nữa, một lời chưa nói được, nghĩa là chưa thành người, thì nói chuyện tranh đấu, chính trị, gia đình, quốc gia, xã hội… cái mẹ gì (chữ này của Trần Thanh). Có chăng những thứ ngôn ngữ ấy là trong giới “bàng sanh khổ thú” mà thôi ! Thậm nan ! Lẽ nào, Tiến sỹ cho rằng Mẹ tiểu điệt từng dạy ĐỪNG TRÁCH CHÓ, vì nó hkông phải là NGƯỜI, nên ngài bất chấp ?

Một cái vui khác là, khi tay tiên Tiến sỹ vẫy: “RẤT THÚI”, thì tự nhiên người ta hỏi: Sao con biết thúi”, thì Tiến sỹ trả lời sao cho đúng ? Bắt buộc tiến sỹ phải nói:”VÌ TUI NGỬI”. Người ta hỏi tiếp: Sao không ngửi mùi hoa mà ngửi phân để thúi cái mũi, thì Tiến sỹ trả lời sao ? Không lẽ nói :Trần Thanh thích phân ? Dzui nhỉ?

Đọc lại tiếp nghe tiến sỹ:

“Nó bay mùi Hoà hợp hoà giải … như tờ giấy chùi đít”.

Đến đây thì không ai lầm nữa chứ ? Bản năng tự nhiên của Tiến sỹ Trần Thanh đã ngang nhiên tự phát. Sự “mê mệt” với “tờ giấy chùi đít” minh thị đẳng cấp rồi đó, phải không ? Bây giờ, để mọi người có một nhận định đúng, xin phép trích lại những chữ CHÓ trong bài như sau:

    - Ngu xuẩn vì tình nguyện đi làm CHÓ săn
    - Bọn CHÓ săn
    - Việt tân CHÓ săn
    - Cam tâm đi làm CHÓ săn
    - Kháng chiến tại gia là cái CHÓ gì
    - Phường cẩu trệ (chó heo)
    - Là cái CHÓ gì
    - Những con CHÓ SĂN ở hải ngoại

Tạm trích ra chừng đó thôi để hiểu rõ sự liên hệ mật thiết nhất của Tiến sỹ Trần Thanh và đồng chủng: CHÓ của Tiến sỹ. Có quý vị nào có thể có cách giải thích khác đi để tách rời CẨU CHỦNG KHỎI TÂM HỒN CỦA TRẦN THANH được chăng ?

Thưa Tiến sỹ,

Có phải là vạn thú đều hành hoạt theo bản năng, nhưng con người có cao hơn một chút, đó là nhờ vào TÂM THỨC ? Trong dòng chảy của Tâm thức con người thì những quá khứ hiện tại và tương lai đều có mặt. Do vậy, quá khứ là kinh nghiệm, tương lai là dự phóng để tạo nên sự sống cho hiện tại, và tương lai. Trong quá khứ ấy tích tụ những sai đúng, thành bại, được mất, suy thịnh…làm căn bản cho những luận lý, suy tư, giải mã, định đoạt… trong hiện tại. Chính nhờ vậy mà con người thăng tiến, xã hội phồn vinh hơn các loài khác. Có những con người còn đi xa hơn thế để quyết định một tương lai hoàn hảo trong khi phải chấp nhận một thực tại khốn cùng. Nhưng viêc đó thuộc một tầng mức cao hơn, khó hơn, nên không cần nhắc tới.

Ngược lại, những động vật khác không có cái này, nên chúng không phân biệt được quá khứ, hiện tai và vị lai. Chúng phải chịu những bản năng tự nhiên thôi thúc, và cũng chính nhờ vậy, chúng ta nhận ra nó là “bàng sanh khổ thú”. Trường hợp nhỏ của một con người cũng thế. Khi nó không nhận ra ai là người già, ai trẻ, ai bằng ta, ai nhỏ hơn ta, ai là cha, ai là mẹ …. thì tự nhiên kẻ đó đã tự rơi vào thế giới “thuần thú” rồi. Phải vậy không ?

Chuyện thứ hai là chuyện bản năng. Khi nói đến bản năng, tiểu điệt không hiểu khoa học chứng nghiệm bằng cách nào, bởi vì nông dân không học, nên không biết. Nhưng theo sự quan trắc bản thân, tiểu điệt có thể nói đó là sự cấu tạo. Nhưng sự cấu tạo liên hệ đến quá khứ. Đó chính là nhân. Trong nhân lại chia ra hai thứ, đó là vật và thức. Do vì thức bị giảm, nên vật lấn át làm cho nó mờ mịt quá khứ đi. Chính vì vậy mà có “bàng sanh khổ thú”. Trong cái gọi là vật, nó di truyền và tồn đọng trong thực tế; vì vậy những cảm niệm thường mơ hồ liên kết với nhau.

Tạm nói bâng quơ như thế để đi đến một kết luận tạm thời là, nếu không có sự DI TRUYỀN của vật và thức, thì không có sự “thoát ra” hay “tỏ ra” bản năng của vạn thú. Vì vậy, khi một kẻ liên tu bất tận nhắc đến VÀNG CHẲNG HẠN, THÌ CHÚNG TA BIẾT NGAY NÓ ĐÃ TỪNG CÓ SỰ LIÊN HỆ NÀY TRONG QUÁ KHỨ. CŨNG THẾ, MỘT KẺ LUÔN NHẮC ĐẾN CHÓ, PHÂN… CHẲNG HẠN, THÌ NÓ CŨNG CÓ MỘT LIÊN HỆ TƯƠNG ĐƯƠNG. Phải vậy không Tiến sỹ ?

Tạm ngưng chuyện CHÓ ngang đó, bây giờ xin thượng tấu chuyện lai rai mà Tứ đại Tổ sư đã ra công tu luyện. Trong bài viết về ông Tiến sỹ Nguyễn phúc Liên, Đỗ thái Nhiên, tiểu điệt thấy ngài đã mang cả TAM TỨ ĐẠI TRẦN GIA BẢO của ngài ra xài hết cả. Siêu, siêu tuyệt !

Mời Tiến sỹ đọc lại câu này:

“Cam tâm đi đổ bô”.

Ở đây không hay chưa nói chuyện nghĩa lý, mà chỉ nó đến chuyện “liên loại ngữ ngôn”. Tiểu điệt cười như điên Tứ đại Tổ sư ơi. Chơ răng tự nguyện làm TÁM CHÓ, một tờ GIẤY CHÙI ĐÍT, nay lại “kết hợp” với BÔ một cách nhuần nhuyễn dzư rứa, nếu không phải là BẢN NĂNG CẨU LOẠI. Thế thì, từ LÀM TÁM CHÓ, từ NGỬI nên biết THÚI, đến LIẾM GIẤY CHÙI ĐÍT, nay hết chơn hết chọi lại LIẾM BÔ !!! Thế là không còn gì nữa mà trông đợi. Chỉ đợi ông chủ thọc tiết canh TIẾN THƯỢNG là xong.

Từ bản chất cầm thú này chạy theo bản chất cầm thú khác một cách thật liên lũy, đáng thương. Hãy đọc lại và suy gẫm thật nhiều, Tiến sỹ ha:

“Dám đứng tuột quần”

Đây là thứ ngôn ngữ gì nhỉ ? NGÔN NGỮ CẦM THÚ CỦA TRẦN THANH. Xin lỗi không thể để dành cho ai khác, vì đây là “công trình tim óc nhà họ Trần Thanh”, nên ngài phải được độc quyền sở hữu. Đó chính là “đường lối đấu tranh trâu chó”, chứ là gì khác ? Nhưng không tiện nói thêm để bài sau so sánh hẳn hay, Tiến sỹ nhé. Viết ngang đây, ông già ngồi bên cười lúc lắc nói:

LOẠI CHÓ NÀY KHÁ GHÊ, ĐÃ HẾT PHÂN, CHỈ CÒN CÁI BÔ ĐỂ LIẾM MÀ CÒN NGHĨ ĐẾN ĐUỢC CHUYỆN NÀY THÌ CÓ AI HƠN. Dzui nhỉ ?

Từ cảm niệm lâng lâng ấy, Tiến sỹ Trần Thanh chơi luôn:

“- Tự sướng ở trong quần”.

Thiệt hết chỗ chê tài cao Bắc đẩu của dòng họ ngài, Tiến sỹ nhỉ ? Không biết trong vạn loại còn có cái bằng gì có thể ban tặng được nữa. Hết !

Và cuối cùng, Tiến sỹ Trần Thanh ơi, trước khi chết, Tiến sỹ đã mãn nguyện:

“ĐỊT MẸ, bọn tớ ở nhà”.

Không biết các thượng đại tôn nhân học cao hiểu rộng biết nhiều, thì thấy làm sao. Còn bản nông dân cầm cày, cầm cuốc, nên chỉ nghe một chuyện về con ngựa mà thôi. Nghe đâu, người ta đã chứng nghiệm thật sự được rằng, LOÀI NGỰA KHÔNG LÀM TÌNH VỚI MẸ NÓ. Thế nhưng, ngày nay nghe một ông Tiến sỹ lại ĐỊT MẸ CHÍNH NÓ, thì nó đâu phải con NGỰA, huống chi con NGƯỜI !

Tóm lại, qua vài suy nghĩ của bần dân, Tiến sỹ Trần Thanh và Chủ Diễn đàn TINPARIS. NET chỉ đều giống cái tiêu đề không sai một ly. Thật là MỘT LŨ TRẦN TRUỒNG VÔ LIÊM SỈ (Chữ này trong Cựu ước (Naked and shameless)

Thưa Tiến sỹ và ông Chủ Diễn đàn TINPARIS.NET, do bản chất nông dân, “thấy sao nói vậy”. Tiểu điệt không hề thêm bớt chuyện chi. Tất cả còn đó mà. Ngày mai, ngày mốt, nếu được, tiểu điệt thử nói với người khác, (chứ không thể nói với Trần Thanh) chuyện “lý luận cù nhăng” xem sao. Nếu có điều chi “PHI THÚ LOẠI”, xin vui lòng cho.

Hẹn tái ngộ. Hì hì ….

Bảo Quốc Kiếm 14-5-09


Quả BOM thả trong trận Long Khánh - Trần Lý


Trần Lý

Trong Trận Long Khánh (Tháng 4 năm 1975), Không Quân Việt Nam Cộng Hòa có thả một quả bom đặc biệt, tiêu diệt cả Sư đoàn (?) quân CSBV, chặn đứng được cuộc tiến quân của chúng. Cho đến nay hảy còn nhiều câu hỏi quanh quả bom này và nhiều câu trả lời chưa được chính xác.

- Đại tá Hùa Yến Lến (Tham mưu trưởng Hành quân SĐ 18 BB) gọi nó là CBU 82 (Daisy Cutter), cho rằng do Tướng Lê Minh Đảo (Tư lệnh SĐ 18 BB) đề nghị, và được Bộ TTM QLVNCH chấp thuận qua trung gian của Tướng Nguyển văn Toàn (Tư lệnh Quân Đoàn 3) để được sử dụng.

- Tướng Trần Quang Khôi (Tư lệnh Lực lượng Xung Kích QĐ3) ghi lại rằng: chính Ông sử dụng 2 quả bom CBU của KQ Biên Hòa trên chiến trường Long Khánh để chặn đứng quân địch và giải cứu Chiến đoàn 52 /SĐ 18 BB của ĐT Dũng khỏi bị tiêu diệt.

- Khi trả lời các câu hỏi của Nhà báo Vũ Mạnh Hùng trong cuộc phòng vấn dành cho Đài truyền hình Little Saigon TV tại Santa Ana và Hệ thống Truyền hình VN VBN tại New Jersey, Tướng Lê Minh Đảo cho biết: Ông không cần biết VNCH còn mấy quả bom loại này, CQ cứ tấn công thì Ông sẽ ... tiêu diệt chúng; và các cấp chỉ huy CSBV đã nhiều lần đến Trại Tập trung để hỏi Ông về quả bom này mà họ cho là bom neutrons của Mỹ (?)

- Nhà báo Mỹ Alan Dawson trong ’55 days-The Fall of South VN’ thì ghi rẳng đây là các quả bom CBU được đưa từ Utapao đến Biên Hòa vào đãu tháng 4 năm 1975.

- Tác giả Chính Đạo (Tiến sĩ Sử học), trong tâp sách 55 Ngày đêm, Cuộc xụp đổ của VNCH ghi rằng VNCH đã sử dụng cả CBU lẫn ‘Daisy Cutter’ (nghĩa là 2 loại bom..khác nhau !) tại Mặt trận Long Khánh.

- Tác giả Nguyển đức Phương trong ‘Những Trận đánh Lịch sử trong Chiến tranh VN 1963-1975 cho rằng: Tướng Toàn đã ra lệnh thả 2 quả Daisy Cutter tại Trận Long Khánh và giải thích lý do chỉ 2 quả được thả (trong số 5 quả còn lại) vì Hà nội phản kháng (!)

- Tác giả Trọng Đạt trong bài "Trận Xuân lộc Chiến thắng cuối cùng" (Nguyệt San Việt Nam Online) có ghi khá nhiều chi tiết về các quả bom này kể cả tên (viêt tắt) của các phi công đã thả (xin xem phần dưới) các quả bom đặc biệt này.

- Viện Khoa Học Quân sự của CSVN thì ghi lại (theo tài liệu của Dawson) là KQ VNCH đã thả 1 quả bom CBU-55 xuống Ngã ba Dầu Giây Long Khánh vào ngày 21 tháng 4 năm 1975.

- Như vậy quả bom thả tại Long Khánh là bom gì ?. Tác dụng của các quả bom này đã khiến CS phài la hoảng thì tại sao lại chỉ thả 1, 2 quả và ai thả ?

- Từ CBU.

Chiến trường Việt Nam đã được xem là nơi Hoa Kỳ thử nghiệm rất nhiều loại võ khí, từ võ khí quy ước đến những võ khí điện tử tối tân. Cũng tại VN, Hoa Kỳ đã tiêu thụ được khá nhiều bom-đạn còn tồn trữ từ sau Thế chiến thứ 2. Một trong những vũ khí được KQ HK sử dụng nhiều nhất là bom, và bom còn được chia thành 2 nhóm : Bom khôn (Smart bomb) và Bom ngu (Dumb bomb). Bom ngu, dĩ nhiên là do Phi công thả và do tài của Phi công để bom rơi trúng mục tiêu, còn Bom khôn thì được điều khiển bằng laser, radar để tự tìm đến mục tiêu.

Một trong những sáng kiến về Bom mà các kỹ sư võ khí HK đưa ra áp dụng tại VN là CBU hay Cluster Bomb Unit. Thật ra CBU chỉ là một áp dụng của việc nghiên cứu về loại vỏ khí có tên là Rổ bánh mì Molotov (Molotov bread basket) dùng năm 1937 trong Trận Nội chiến Tây Ban Nhạ Rổ bánh mì, đơn giản, chỉ là một thùng lớn chứa nhiều quả bom nhỏ để khi phi cơ thả xuống, thùng mở ra và rải các quả bom nhỏ trên một diện tích rộng lớn. Như thế Cluster Bomb hày Bom chùm chỉ có mục đích là mở rộng vùng sát thương của Bom khi thả xuống mục tiêụ.

Tại chiến trường VN, nhiều loại CBU đã được chế tạo: loại chống bộ binh là loại thường được dùng nhất, rồi đến loại chống chiến xa, chống các tiếp liệu quân sự có loại chứa đầy mìn và có loại chứa nhiên liệu đặc gây cháy.

- CBU chống bộ binh cũng có nhiều loại như CBU-24 chứa 600 quả bom nhỏ cở trái banh golf, mỗi quả golf nhỏ này khi nổ còn phóng ra 300 mảnh thép nhỏ chứa bên trong; CBU-46 bom chùm dạng như quả dứa, khi nổ còn tung mảnh ra xa hơn, vùng sát thương rộng hơn..Các loại CBU này thường được KQ HK sử dụng khi bay tấn công đường mòn HCM.

- Một trong những loại CBU chống chiến xa được dùng tại VN là MK-20 Rockeye, khi nổ sẽ phóng ra những bom nhỏ hình mũi tên dài 9 inches, chứa đầu nổ có thể xuyên phá lớp vỏ thép của chiến xa.

- Về CBU chứa mìn: 2 loại chính dùng trên chiến trường VN là Dragonteeth và WAAPM (Wide Area Anti Personnel Munition). Dragonteeth chứa những mìn nhỏ có khả năng gây mất..chân binh sĩ địch khi nổ, nhưng không gây chết người còn WAAPM, được giử rất bí mật trong chiến tranh VN: WAAPM được thả xuống trong các thùng nhựa plastic, khi chạm đất sẽ phóng ra các sợi thép mỏng manh như chân nhện, nếu chạm vào sợi thép, mìn sẽ nổ Bom được dùng thể thả vào các ổ phòng không của CSBV.

- Loại CBU thứ tư là là loại Bom chùm gây cháy (Cluster bomb incendiary device). Loại bom này cũng có tên là Fuel Air Explosives CBU-55 là bom thuộc loại này, chứa nhiên liệu propane: CBU-55 nặng 750 pound (khoảng 340 kg) gồm 3 ngăn: một ngăn chứa propane, một ngăn chứa hỗn hợp khí khác và một ngăn chứa ngòi nổ. CBU-55 dài khoảng 2.3 m, đường kính 0.36 cm. Có 2 loại CBU-55: Loại thứ nhất CBU-55/B chứa 3 bom BLU-73A/B đặt chung trong Hệ thống chứa SUU-49/B và loại thứ nhì là CBU-55 A/B chứa 3 BLU-73A/B trong thùng SU-49 A/B. Sự khác biệt là SUU-49B chỉ có thể thã bằng trực thăng hay phi cơ bay chậm, trong khi đó SUU-49A/B có thêm vi đuôi xếp lại nên có thể thả bằng các phi cơ bay nhanh như A-37, OV-10.. Các bom BLU nhỏ nặng khoảng 45 kg chứa ethylen oxyde lỏng. Khi nổ bom sẽ làm văng các giọt ethylen, tạo thành một đám mây nhiên liệu đường kính từ 17-25 m ở độ cao 2-3m. Đám mây này được kích hỏa bằng một ngòi nổ.. tạo thành một quầng lửa gây ngạt do thiếu oxy cho các sinh vật trong vùng.

Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam của Hà nội thì tại Việt Nam CBU-55 đã được sử dụng tại chiến trường Quảng trị (1972) và tại Bến Tre (tháng8-72) thả xuống ấp 1, xả Tam Phước và giữa tháng 7-1973, thả xuống Giồng Trôm.. Cũng theo CSBV, thì CBU-55 cũng là quả bom thả xuống Xuân lộc trong tháng 4 năm 1975 ?!.

Trong bài: ’Kỷ niệm nhỏ với Đồng đội Chiến trường xưa’ trên Nguyệt San Việt Nam On-line, Tác gỉa NgyThanh ghi lại như sau: ‘ Khi chiến xa T-54 của Cộng sản từ Tỉnh lộ 8B ở thôn Cam Võ trên bờ Bắc tràn qua sông Miếu Giang, Bộ TTM QL VNCH bí mật cho phép sử dụng lần đầu tiên trên chiến trường VN loại bom CBU-55. Trưa 1 tháng 5 năm 1972, sau khi ném ‘trái bom nguyên tử bỏ túi’ vào đoàn xe tăng đang vượt cầu Đông Hà và làm cả đoàn xe chết khựng ngay trền cầu, Thiếu úy phi công Nguyễn Hàn mang chiếc A-37 về lại Phi đoàn 528 ở Đà Nẵng bình an.. (Thiếu Úy Nguyễn Hàn sau đó đã hy sinh trong một phi vụ yểm trợ cho TĐ 8 TQLC vào đầu tháng 10-1972 tại Chợ Sài (Quảng Trị)

... đến Daisy Cutter:

Chiến trường VN được các Nhà quân sự Mỹ xem là chiến trường của trực thăng, vì trực thăng giữ nhiều vai trò quan trọng như đổ quân, chuyển tiếp liệu, tản thương. Trực thăng rất cần có được những bải đáp an toàn, đũ rộng để xoay trở tại những vùng rừng rậm nơi chiến trường. Nhu cầu được đaạt ra cho Bộ Chỉ huy QLHK là tìm một loại bom nào có đủ sức công phá để tạo ra một khoảng trống càng rộng càng tốt có thể dùng làm bãi đáp cho trực thăng.

Năm 1968, khi kiểm soát lại các kho tồn trữ võ khí, một sĩ quan KQ HK đã tìm được một số bom loại 4.5 tấn (10,000 lb) lưu trữ tại Trung Tâm tồn trữ võ khí của KQ tại Căn cứ Kitland (New Mexico). Đây là những quả bom của thập niên 50, khi Bộ Chỉ huy Không quân Chiến thuật HK còn sử dụng các Pháo đài bay B-36 làm lực lượng răn đe chính. B-36 đã được thay thế bằng các B-52 trong thập niên 60. KQ HK đã nghĩ rằng các quả bom 10,000 lb này có thễ sẽ đáp ứng được nhu cầu của Lục quân cho Lực lượng trực thăng ?

Nhưng vấn đề quan trọng nhất được đặt ra là : làm cách nào để thả những quả bom khổng lồ này ?
Không quân, trên nguyên tắc, sẽ là quân chủng đảm nhận việc thả bom, nhưng ngay lúc này KQ HK không có loại phi cơ phóng pháo nào để thả được quả bom cỡ này: Bom không thể đưa vào khoang bụng của B-52, còn các phi cơ loại phóng pháo- chiến đấu như F-100, F-105 lại không chở nổi loại bom quá nặng này, và biện pháp sau cùng là dùng các trực thăng hạng nặng hay Phi cơ vận tải để thả chúng. Có thể dùng trực thăng, nhưng với sức nặng của quả bom thì chỉ một vài loại trực thăng có đủ khả năng để chở nổi chúng: Trực thăng cần cẩu khổng lồ của US Army loại CH-54 Skycrane có thể đeo được 1 quả, nhưng bay quá chậm và mỗi phi vụ chỉ thả đưỡc 1 quả nên chi phí để thả quả bom tăng lên quá cao.

Biện pháp thứ nhì là dùng Phi cơ vận tải C-130: C-130 đã được dùng trong các phi vụ thả dù tiếp tế, khoang bụng đủ lớn để có thể chở một lúc 2 quả bom và hơn nữa tầm hoạt động của phi cơ cũng rất thích hợp nhưng vì Lục quân muốn dùng trực thăng nên họ dành quyền thả trước và không đạt được kết quả mong muốn !

Đến tháng 6 năm 1968, Chương trình dùng C-130 để thả những quả bom này được giao cho Không đoàn Vận tải Chiến thuật 463 tại Căn cứ KQ Clark (Philippines) nghiên cứu thực hiện. Thiếu tá Robert Archer, thuộc Phi đoàn 29 (KĐ 463) là ngưới đã thử thả những quả bom đầu tiên tại Căn cứ Kirtland.

Tháng 10 năm 1968, những quả bom đầu tiên được thả thử tại Vùng 1 CT dùng Hệ thống Radar MSQ-77, hướng dẫn mục tiêu, đặt dưới đất tại PleiKu và Huế. Từ tháng 12-1968, bom được thả thử theo sự hướng dẫn của các Hệ thống radar thuộc TQLC HK, và từ mùa Xuân 1969, bom 10,000 lb đã được thả thường xuyên với tên gọi là Hệ thống võ khí M121

Ngay từ đầu, việc chọn C-130 để thả bom đã được xem là rất thích hợp. Một phi cơ C-130 có thể cất cánh từ Cam Ranh, chở 2 quả bom, có thể thả tại bất cứ mục tiêu tại Nam VN chỉ sau 1 giờ baỵ Các phi công của KĐ 463 có lẽ là những nhà thả bom chuyên nghiệp nhất, thả theo sự chỉ dẫn của radar MSQ-77 và theo tín hiệu của các nhân viên điều hành dưới đất.

Để biến đổi một phi cơ vận tải C-130 bình thường sang thành phi cơ thả bom 10,000 lb, cần phải sửa đổi hệ thống liên lạc trên phi cơ để chuyên viên kỹ thuật ‘chất và thả hàng’ (loadmaster) ở trong khoang hàng hóa, có thể theo dõi được các làn sóng phát đi từ đài đặt dứới đất. Mỗi C-130 còn được trang bị thêm Hệ thống thả hàng 463L : gồm nhửng đường rầy đôi đặt trong khoang bụng phi cơ để giúp kiểm soát ‘hàng’ đặt sẵn trên một giàn gỗ (pallet), và khi thả thì sẽ thà cả giàn. Bom đặt trên giàn và được đưa trực tiếp vào khoang bụng phi cơ.

Giàn bom được thả bằng dù, khi ra khỏi bụng phi cơ, dàn tự vỡ tung ra và bom được rơi tự động, giữ chậm lại bằng một dù nhỏ hình tam giác. Một ngòi nổ xuyên qua cây cối gắn nơi mũi bom sẽ được khởi động bằng một chong chóng nhỏ: khi bom chạm đến cây sẽ phát nổ, đốn ngã hết cây cối trong vùng như chém hoa cúc (daisy cutter), và kết quả là tạo ra một khu vực tròn, trụi cây, có thể rộng đũ để 1 đến 3 trực thăng đáp xuống. Nhưng nếu ngòi nổ gắn nơi đảu bom bị tịt, thì ngòi nổ thứ nhì gắn nơi đuôi bom sẽ giúp gây nổ. Bom thường được gây nổ ở độ cao khoảng 6 m trên mặt đất và tạo ra một bãi đất trống đường kính khoảng 100 feet (33 m).

Như thế: Daisy Cutter là tên , đầu tiên, đặt cho Hệ thống võ khí M-121 này và những quả bom thả tại Long Khánh.

Đến 1970, loại bom 10,000 lb còn lại từ Thập niên 50 đã được sử dụng hết. Trung tâm Võ khí HK đã chế tạo loại bom mới, khác hơn, dùng nhiên liệu lõng, pha trộn với thuốc nổ TNT, đặt trong những ngăn khác nhau (do đó có thể xem là một loại CBU).

Loại bom này với ký hiệu BLU-82 nặng đến 15,000 lb, hình dạng như một bình chứa gaz propane khổng lồ dài 141.6 in, đường kính 54 in và được thả theo cùng phương thức như thả M-121. Đầu đạn của BLU-82 chứa 12,600lb nhiên liệu gây nỗ gồm ammonium nitrate, bột nhôm và nhựa dẻo polystyren.

BLU-82 được sử dụng lần đầu tiên trên chiến trường VN vào ngày 23 tháng 3 năm 1970 và KQ Chiến thuật HK đặt tên cho chiến dịch thả bom này là Commando Vault BLU-82 đã được dùng trong cuộc hành quân qua Campuchea (70), để tạo các bãi đáp cho trực thăng, pháo binh. Trong cuộc hành quân Lam sơn 719 của QL VNCH qua Lào, một số BLU-82 cũng đã được thả. Năm 1971, khi Không đoàn 463 HK giải tán, việc thả BLU được giao cho KĐ 374 Chiến thuật và đây là KĐ C130 sau cùng của HK hoạt động tại Đông Nam Á.

Khi sử dụng để đánh nơi tập trung quân cũa CQ, BLU-82 được thả, lúc rơi xuống cao độ 30 m, nhiên liệu rãi tỏa thành đường dài đến 300m, và đám mây nhiên liệu này được kích nổ, khi cháy nổ sẽ hút hết dưỡng khí trong một vùng, gây ngạt thở và tạo ra một chấn động theo sau.

... Ai thả và ai cho phép thả?

Không quân VNCH có 2 chiếc C-130, trang bị hệ thống thả BLU-82. Tổng cộng số BLU được giao cho KQ VN là 17 quả (trong một lớp huấn luyện cấp tốc bên Hot Cargo, thuyết trình viên cho biết sẽ mang từ Thai Lan sang 15 trái (?).

Chiếc phi cơ sau cùng của KQHK bị tổn thất tại VN là một chiếc C-130 bay từ Căn cứ Clark đến TSN, chở 2 quả BLU-82 để giao cho VNCH.

Theo tài liệu của Tác giả Trọng Đạt trong bài ‘Trận Xuân lộc, Chiến thắng cuối cùng’ trên Nguyệt San Việt Nam On-line thì qua cuộc phỏng vấn Đại Úy NHL , Phi công VN đầu tiên thả Daisy Cutter thì :

Đại Úy NHL đã thi hành 3 phi vụ thả 3 trái bom:

- Trái thứ nhất thả ở Bắc Khánh Hòa
- Trái thứ 2 ở phía Tây Nha Trang
- Trái thứ 3 , không nhớ địa điểm, nhưng nhớ là thuộc phi vụ sáng 24-4-75 (?)

Đại úy NHL cho biết: Khoảng 10 ngày trước khi Sài gòn thất thủ, phía M³ yêu cầu Không đoàn 53 Chiến thuật (thuộc SĐ 5 KQ VNCH) cử 2 sĩ quan thả bom cao độ xuất sắc để thả bom Daisy Cutter mục đích lảm chậm lại cuộc tiến quân của CSBV. KĐ 53 CT cử 2 sỉ quan trưởng phi cơ xuất sắc nhất trong việc thả bom cao độ là Đại Úy NHL thuộc PĐ 437 và Thiếu tá ĐQA thuộc PĐ 435.

Ngoài ra Đ/u cũng cho biết KQVN CH đã thả tổng cộng 10 quả Daisy Cutter, nhưng không nhớ thả lúc nào và thả tại đâụ Các quả bom do Th/t ĐQA và Th/t HN thả.

Tuy nhiên, một thân hữu KQ qua e-mail riêng có cho biết:

‘... Theo tôi biết, quả thả vào Xuân lộc 90% là do Th/T Nguyễn Tấn Minh PĐ 435. Thiếu tá Nhân , Th/tá Ngô Xuân Nhật PĐ 437 cũng đã thả BLU nhưng không chắc có phải tại Xuân Lộc không ?.
Một thân hữu khác cho biết Phi công NHL có thể (?) là Đ/u Mạc Hữu Lộc và ngoài ra còn các phi công Nguyễn Quế Sơn và Đ/u Của cũng có khả năng thả các BLU-62.

Về con số bom BLU-62 giao cho VNCH : các tài liệu hiện có vẫn chưa đồng ý với nhau:

- Tập ‘Quân Sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa’ trang 197 viết:

‘’..Trận Xuân lộc. Trong trận này các vận tải cơ C-130 Hercules thực hiện 150 phi xuất oanh tạc, sử dụng bom xăng ‘tự chế’ (gồm nhiều thùng xăng 200 lít có gắn ngòi nổ), bom chùm (gồm 3,4 trái bom nổ liên kết lại), và đặc biệt là bom CBU loại 7 tấn (15,000lb) Daisy Cutter, có sức công phá bình địa một vùng đường kính 150 m và sức sát hại trên một quy mô rộng lớn. Trái CBU đầu tiên được thả xuống cách Xuân lộc 4 km, đã khiến cả thành phố bị rúng động và mất điện, đưa tới những tin đồn B-52 oanh tạc trở lại, kết quả trọn Bộ Chỉ huy SĐ 341 của CSBV bị tiêu diệt.. Trước sau đã có 9 trái CBU được thả xuống Xuân lộc và các khu vực phụ cận ...’

- Tác giả Robert Mikesh trong ‘Flying Dragons : The South Vietnamese Air Force’ ghi lại (trang 141): ‘ Việt Nam được cung cấp tất cả 17 quả Daisy Cutter, .đả thả 15 quả, chỉ còn lại 2 quả.’

... Ai ra lệnh thả.

Cho đến nay, sau hơn 30 năm các quả bom được thả..câu hỏi ai ra lệnh thả những quả bom này vẫn chưa có câu trả lới chính thức !

Theo hệ thống quân gian thông thường, quyết định thả bom sẽ được Bộ TTM ban hành theo yêu cầu của Vị Tư lệnh chiến trường và KQ sẽ thi hành quyết định nàỵ(Trong Hồi Ký của ĐT Cao văn Viên thì đây là những yêu cầu bình thướng theo Hẹ thống Chỉ huy của QL VNCH). nhưng trên thực tế Chiến trường VN vào những ngày cuối cùng của VNCH có nhiều điều phi lý và khó giải thích !

- Tướng Nguyễn văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn 3 cho biết:

‘… Sau khi Phòng tuyến của Chiến đoàn 52BB tại Ngã Ba Dầu Giây Long Khánh.bị vỡ vào đêm 15 tháng 4 năm 1975, Ông đã xin Bộ TTM cho ném bom Daisy Cutter để ngăn sức tiến quân của CSBV. Sáng 16 tháng 4 vào lúc 11 giờ sáng 2 trái bom đã được thả xuống khu vực đóng quân của CS BV tại khu vực từ Định Quán xuống Ngã Ba Dầu Giây, loại khỏi vòng chiến hơn 10 ngàn quân CS, phá hủy nhiều Chiến xa và đại pháo của CS. Tôi đã đề nghị thả thêm 5 bom Daisy Cutter nữa nhưng được thông báo là tuy còn bom nhưng không còn đầu nổ !’.

- Tường Trần Văn Nhật (Tư lệnh SĐ 2), viết trong Hồi Ký:

‘... Chính Tướng Toàn là Tư lệnh Chiến trường đã chấp thuận cho sử dụng 2 trong số 6 trái bom (vì chỉ còn có 2 đầu đạn) Daisy Cutter thả xuống yểm trợ cho mặt trận Xuân lộc. Đáng lý ra chúng ta có đến 27 trái bom này theo quyết định của ĐT Weyand trong chuyến viếng thăm VN vào tháng 2/75 cùng với Ông Phụ Tá Bộ trưỡng QP Eric Von MarbodẨRất tiếc chỉ có 6 trái đến được VN vào cuối tháng 4/75 và không hiểu tại sao chỉ có 2 ngòi nổ’

- Vào những ngày cuối cùng của VNCH, Hệ thống Chỉ huy Quân sự của QL VNCH đã gặp nhiều trắc trở, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, tuy không còn chức vụ chính thức trong KQ, đã tự động trở về Quân đội và vẫn ra lệnh được cho các phi công ! Trong ‘The Buđha’s Child’ (trang 331) Ông ghi lại:

‘... vì quả bom có sức công phá mạnh, nên TT Thiệu sợ rằng sẽ có kẻ ném quả bom này vào Dinh do đó chỉ được phép sử dụng bom do chính Ông Ta quyết định (?). Một hôm Phòng Hành quân yêu cầu yểm trợ. Tôi không có sẵn võ khí trong tay, nên yêu cầu Vị Chỉ huy KQ cho thả , ông cho biết không có thẩm quyền. Tôi yêu cầu Vị Tổng Tham mưu trưởng ... câu trả lời tương tự ... Tôi gọi nhiều Vị Tưóng khác, tất cả đều cùng câu trả lời. Tôi biết nếu tôi gọi Thiệu, ông ta sẽ còn phải suy nghĩ, do đó tôi gọi Thủ Tướng Khiêm ... Ông trả lời ... tùy tôi và sau khi tôi giải thích nhu cầu của tình hình. Ông Khiêm cho biết: Đồng ý ... Tôi gọi lại cho Vị Chỉ Huy Hành quân và nói: OK , thả các quả bom.’ Ông này ... chấp nhận thi hành lệnh của tôi ... và các quả bom được thả ‘.

Trần Lý (Tháng 3 năm 2009).









(Nguồn: Cánh Thép)

Lính Chê Ranh Ca "Chế Linh" Đã Đồng Hóa Lính VNCH Với "Nính Vẹm"


Trương Minh Hòa

Trong hàng nam ca sĩ Việt Nam, được trung tâm Asia liệt vào tứ trụ gồm: "Hùng Cường, Nhật Trường, Chế Linh, Duy Khánh", thì ba trụ đã "giã từ gác trọ" và không ai biết: "Giờ nầy anh ở đâu?" đang tiêu diêu nơi miền Cực Lạc hay nước Chúa? Và ba trụ ấy có còn được "thế giới mới" nầy ái mộ, cho làm nghề ca hát không?.Do đó, nay chỉ còn Chế Linh, là người sống dai, sống mạnh và sống thoải mái ở hải ngoại, tiếp tục hát những bài ca Lính, dù ông nầy không đi lính, được hoãn dịch trước 1975.

Cũng giống như một số người chưa bao giờ đi lính Việt Nam Cộng Hòa, lúc đất nước đang cần thì trở thành "cư sĩ tại gia" thay vì "chiến sĩ" bảo vệ quê hương, làm "lính oan hùng đó", nên đã trở thành "cà nhỏng chống xâm lăng" trong tinh thần thề quyết: "chống Cộng tại gia" với "đánh trận đêm bảy ngày ba với vợ ... cho non nước bình yên" mà làm gia tăng quân số gia đình. Nhưng khi những cư sĩ vượt biển thành công, ra hải ngoại tự mạo nhận là quân nhân cho oai, dù không ai trả lương, chưa kể đến một số người cấp nhỏ, bỗng "vinh thăng" không người lái tại "nhà" và trở thành những ông sĩ quan lớn, từng "ngồi trực thăng, khu trục hạm, thiết giáp, nhảy dù ..." đánh nam dẹp bắc, trấn giữ biên cương, mà không cần phải học quân trường đào tạo nào cả; chắc chắc là những sĩ quan tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Đà Lạt, sau khi "phát giác" ra một số sĩ quan ngang hông mà chán ngán, vì bây giờ không còn Quân Cảnh để bắt mang về đồn về tội giả mạo, nên những ông quan loại nầy cũng nghi là đã tốt nghiệp trường đào tạo "sĩ quan tại gia" mà giới bình dân học vụ gọi là: "SĨ QUAN HIỆN VẬT VỎ CHUỐI" lắm! Chớ Võ Bị thì không tìm thấy tên trong cái CÙI.

Ngay trong quân đội đồng minh, thỉnh thoảng có một vài người trốn lính trong cuộc chiến Việt Nam, bỗng đeo huy chương đi diễn hành và tự nhận có tham dự vào "Vietnam war". Như vậy, dù trước đây, phong trào phản chiến khuynh tả có xuyên tạc, bôi nhọ cuộc chiến chống Cộng tại Việt Nam, nay thì họ đã nhìn thấy những người từng bị họ mạt sát, được công nhận và vinh danh, nên mới có hiện tượng mạo nhận từ quân nhân quân lực VNCH đến các chiến sĩ đồng minh. Trái lại, khi nói về cái thứ "quân hại nhân dân" Cộng Sản Bắc Việt và bọn du kích tay sai khủng bố miền Nam, được thế giới dùng hai chữ VIỆT CỘNG, từ báo chí đến lối nói của dân chúng, tức là bọn khủng bố Việt Cộng trở thành từ quốc tế hóa như Al Qaeda ngày nay vậy. Một số người từng trốn lính như ông Bill Clinton, hay chưa hề đi lính như Obama .... khi được bầu làm tổng thống Hoa Kỳ, trở thành "tổng tư lịnh quân đội", cũng hay có thói quen "chào tay" theo đúng quân phong quân kỷ ... đó là những "lính kiểng cao cấp" theo hiến pháp Hoa Kỳ. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tại vùng chiến khu trên đất Thái, Mặt Trận Hoàng Cơ Minh tuyên bố có hơn 10 ngàn kháng chiến quân nhưng đây là "mờ trong bóng chiều, từng đoàn quân thấp thoáng ...." là thứ lính ma, dùng để lừa đảo hàng triệu người Việt yêu nước hải ngoại để biến anh em Hoàng Cơ Minh thành "triệu phú kháng chiến", nên sau nầy khi phát giác là dỏm, nhiều người đã KHIẾN CHÁN nên "tại từ Mặt Trận" khi mà "từ đó em buồn" vì bị bè lũ "đầu tư kháng chiến" lừa đảo lòng tin mọi người.

Nam Ranh ca Chế Linh, người từng được hưởng nhiều ơn huệ miền Nam, sống và nổi tiếng nhờ xương máu biết bao chiến sĩ ngoài mặt trận, ngày đêm "trên bốn vùng chiến thuật", hy sinh hạnh phúc cá nhân để bảo vệ quê hương "xuân nầy con không về" và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Chế Linh được ra nước ngoài, tiếp tục ca hát, trở thành ca sĩ hát nhạc lính, dù là người bị LÍNH CHÊ, nên không mặc quân phục, chỉ mặc trên sân khấu, có khi đeo cả lon lá oai hùng như những chiến sĩ "dỏm" nhưng đánh trận "giả" trên sân khấu, cũng súng nổ liên hồi, đêm đêm "ánh mắt hỏa châu" và những pha trong "rừng lá thấp" và một điều chắc chắn tới 1, 000 phần trăm, là hổng bao giờ có chuyện: "Kỷ vật cho em" để rồi "ngày mai đi nhận xác chồng"; nhưng chắc chắn là sau khi "làm tròn nhiệm vụ chàng trai thời loạn chỉ có trên sân khấu" thì được trả tiền thù lao hậu hỷ, nhận những "tràng pháo kích đại pháo ... tay" của kháng thính giả ái mộ. ..... do đó, dù là LÍNH CHÊ, nhưng ca sĩ CHẾ LINH được cảm tình với đa số quân nhân và những người Việt không Cộng Sản coi là lính không đơn vị, không số quân, là lính ngang hông, chỉ thấp thoáng trên sâu khấu nhưng "Anh không chết đâu anh?".

Thời gian gần đây, Chế Linh bắt đầu tập làm quen với nón cối, dép râu, cờ đỏ sao và và Hồ Chí Minh qua vài lần về "tham quan" có lần dưới tàng lộng của Unesco về người Chàm. Cho nên cây trụ cuối cùng trong tứ trụ vang danh ngày nào trong làng tân nhạc, hình như đã được "sơn thành màu đỏ", thấp thoáng đàng sau là hình của Hồ Chí Minh. Dù có vài lần từ chối cộng tác với văn công Việt Cộng qua lời mời của Nguyễn Công Khế (Chua), như bài viết của tay nhà béo Nguyễn Vi Túy, chủ bút tờ báo Văn Nghệ ở Úc Châu trên trang Take 2 Tango, nhằm "giải độc" cho Chế Linh. Tờ báo Văn Nghệ được dân chúng đặt tên là tờ DÂM NGHỆ, là truyền thông rất ư là "nghiệp chuyên", điển hình là hết lòng binh vực cho huề thượng Thích Phước Huệ trong vụ "tịnh thất" với tín nữ Diệu Đức suốt 15 năm mới bể. Từ cái "thói đời" với: "trong thói đời, cười ra nước mắt", mà như trường hợp của Chế Linh cũng đã thay đổi khi tuyên bố "Lính nào cũng đáng ca tụng", để đáp lời yêu cầu hát nhạc lính của một trung úy bộ đội già Hồ, đi du hý tại Úc, trong lần văn nghệ ngày 1 tháng 5, năm 2009 tại nhà hàng Đại Dương, Hopkins Treet, Footscray, Victoria, Úc Châu. Đây là lời tuyên bố hết sức bất ngờ, làm bất bình những người từng ái mộ Chế Linh trong thời gian qua.

Trong Phật Giáo, bên cạnh những tu sĩ chân chính, còn có một số "mượn đạo tạo tiền" và có một số khác thì vẫn cạo đầu, y phục cà sa, đọc kinh, niệm Phật rì rầm, nhưng không hiểu Phật Pháp, trở thành "Tứ diệu Tệ: gian, dâm, tham ác" tăng, nhan nhản trong thời mạt pháp. Ca sĩ Chế Linh, người mặc chơi quân phục trên sâu khấu, hát nhạc lính, lãnh lương cao nhờ hát nhạc lính .... thế mà lại không hiểu lính thì quả không đáng làm bạn lính Việt Nam Cộng Hòa. Lính Việt Cộng gọi là bộ đội, khác xa quân lực VNCH từ y phục, "quân hàm", ý nghĩa chiến đấu ..... nên "lính Việt Cộng cũng đáng ca tụng hay sao?".

Bộ đội Cộng Sản, còn gọi là bộ đội cụ Hồ, qua tên gọi, thì đạo quân nầy là "sở hữu" riêng cho tên quốc tặc Hồ Chí Minh, còn được tục danh là "quân hại nhân dân" dù đạo quân nầy tự nhận là "quân đội nhân dân", là đạo quân phi chính nghĩa, lợi dụng hai chữ "nhân dân" để phục vụ quyền lợi ngoại bang, đàn áp nhân dân. Đây là một đạo quân chỉ có nhiệm vụ bảo vệ đảng, chớ "nhân dân, tổ quốc" thì "nào có xá chi dân người Việt Nam ....". Do chiến đấu không có mục đích chính đáng, nên không có chính nghĩa, chỉ là công cụ cho một đảng cướp, là đạo quân chỉ nhằm bảo vệ tập đoàn "Quan Thái Thú Nga Sô gốc Việt" từ 1954 đến 1991 và nay là "Tập đoàn quan Thái Thú Trung Cộng gốc Việt", do đó bộ đội Cộng Sản được coi là "đạo quân xâm lược ngoại bang gốc Việt", chỉ" bảo vệ đảng như bảo vệ con ngươi trong tròng mắt". Bộ đội chỉ nhắm mắt làm theo mệnh lệnh cấp trên, đúng là "đạo quân ROBOT bằng xương thịt" nên cứ nhào vô mục tiêu chết như con thiêu thân qua chiến thuật Biển Người, và trong bất cứ trận đánh vào, quân Cộng Sản thường lấy câu tục ngữ: "địch chết ba, tá chết láng" để làm châm ngôn chỉ đạo cho các cấp chỉ huy Việt Cộng. Là một đạo quân "xâm lược Trung Cộng gốc Việt" mới đúng là thứ "Ngụy quân", nên cái "quân hại nhân dân" đúng là "anh chàng khổng lồ nhưng câm" như lời quân công Orléans nói, khi nghe tin vua Louis 16 bị hạ bệ, lúc đó ông đang chỉ huy một đơn vị ở Algeria, nên có thái độ "án binh bất động", trong một ý nghĩa khác, áp dụng cho đạo quân "thảo khấu" của chế độ độc tài Cộng Sản, chỉ biết thi hành lịnh trên, từ trung ương đảng, mà không cần biết làm hại cho đất nước. Do lính Việt Cộng là thứ công cụ đắc lực cho một băng đảng siêu cướp Cộng Sản Việt Nam, nên "tịnh khẩu" dù biết đất nước bị chủ nó là đảng và nhà nước bán dâng cho Trung Cộng, biết mõ boxít sắp bị giặc Tàu chiếm nhưng vẫn "thanh tâm trường yên lặng", chỉ có vài tướng ngố phục viên như Võ Nguyên Giáp là ọ ẹ cho có lệ, chứ lúc tại chức thì ngậm miệng để ĐỚP chút lợi lộc do ngoại bang bố thí.

Thành tích gọi là "bảo vệ tổ quốc" của đạo quân robot Việt Cộng chỉ là bảo vệ quyền lợi ngoại bang qua:

- Cuộc chiến biên giới Việt-Trung năm 1978, mà bộ đội Việt Cộng chỉ là thứ lính "đánh dùm" cho quan thầy Liên Sô, khi thầy nghịch với Trung Cộng.

- Cuộc chiến biên giới Tây-Nam với quân Khmer Đỏ cũng mang ý nghĩa tương tự, là sự xung đột giữa hai quan thầy Nga-Tàu và hai đàn em Cộng Sản đánh nhau chí chóe.

- Trận hải chiến 1988 với Trung Cộng ở Hoàng Sa, cũng nhằm làm theo chỉ đạo của quan thầy Liên Sô.


Trong khi đó, quân lực VNCH dù không còn sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, mà một trong những lý do chánh là: bị bức tử do chính ông tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, vì lòng ích kỷ mà phá nát quân đội trước khi "thành chiến sĩ ra khơi" qua các lịnh truyền bất nhất "sớm rút, chiều tái chiếm" biến cuộc "tái phối trí lực lượng" thành "di tản chiến thuật" đưa đến thảm cảnh nầy. Nếu ông Thiệu có tấm lòng yêu nước, thì để nguyên quân đội ở quân khu 1 và 2, ra đi êm thấm, người kế vị còn đủ lực lượng để biến "mùa xuân 75" thành "tết Mậu Thân thứ hai" và không chừng tình hình Việt Nam có khả năng đảo ngược, khi mà toàn bộ lực lượng Cộng Sản Bắc Việt và du kích khủng bố miền Nam bị loại ra khỏi vòng chiến, từ đó có thể "bắc tiến", lập lại chiến thắng Đống Đa mà vua Quang Trung đã làm trong lịch sử chống ngoại xâm. Tuy không còn nữa, nhưng hình ảnh hào hùng, tinh thần chiến đấu vì dân, bảo vệ tổ quốc, mà trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 đích thực là "chống quân xâm lược Trung Cộng".

Do đó, tại hải ngoại, nhạc lính rất thịnh hành và trong nước thì nhạc lính bị chụp mũ là NHẠC VÀNG và nay còn bôi nhọ là NHẠC SẾN, nhưng dân chúng ngưỡng mộ, nghe hát hoài mà không bao giờ chán. Trải quan nhiều cuộc "khủng bố nhạc" do bộ thông tin văn hóa Việt Cộng phát động nhiều lần, mà nhạc lính vẫn "anh không chết đâu anh", vì hình ảnh người lính VNCH sống mãi mãi trong trái tim mọi người dân Việt Nam. Cho nên các sâu khấu, trung tâm nhạc hải ngoại, có ai cho hát những bài ca Việt Cộng và ca sĩ mặc đồ "chánh qui bắc Việt" với nón cối, dép râu .... nhưng lính VNCH vẫn là hình ảnh: "dù Úc Châu, hay sang Mỹ Quốc .... các anh là mãi mãi Việt Nam". Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Cộng tìm đủ mọi cách để triệt hạ quân lực VNCH, dù đã tập trung gần hết vào các trại tù khắc nghiệt để giết dần mòn trong chính sách "tắm máu khô", năm 1976, Việt Cộng vội vàng tung ra quyển sách mang tựa đề: "Bộ Mặt Thật Tướng Ngụy" để bêu xấu, nhưng không kết quả, trái lại còn phản tác dụng nữa. Trong dân chúng, Việt Cộng gọi là "Nguỵ quân" và còn dùng cả lối ca dao để tuyên truyền như câu:

"Ca đây trốc gốc cây đa trồi.
Lấy chồng lính Ngụy, ưng thằng cùi sướng hơn".

Nhiều thủ đoạn thâm độc vẫn không có kết quả, tuy nhiên, bọn Việt Cộng đã làm sai tư tưởng của sư phụ chúng là tên Hồ Chí Minh, từng "rét" quân lực VNCH trong trận Mậu Thân 1968, nên Hồ có câu: "Mỹ thua về Mỹ, anh em BINH SĨ về đâu?", chứ Hồ nào dám gọi là "lính Ngụy" mà phải gọi là "binh sĩ" là điều có thực. Quân lực VNCH từng làm bạt vía kinh hồn Viêt Cộng trong các trận đánh: Mậu Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa .... vang lừng địa danh "Bình Long, An Lộc, Trị Thiên, Bình Định ... khắp các nơi đều bị đánh tơi tả bởi địa Phương quân, nghĩa quân; nên sau 20 năm bảo vệ quê hương, tiêu diệt hết 1,5 triệu tên bộ đội Cộng Sản và tay sai, nay còn hơn 300 ngàn tên còn "biệt vô âm tín" mà đảng và nhà nước nào đi tìm, họ chỉ "hạ quyết tâm" đi tìm hài cốt lính Mỹ để có tiền mà thôi.

Do đó, khi nam danh ca CHẾ LINH, người về nước được những "đỉnh cao trí tuệ" gọi là nam RANH CA CHẾ NINH cho là "lính nào cũng đáng ca tụng" là việc làm có "ý đồ" chứ không phải tự nhiên mà Chế Linh nói như thế trước mặt nhiều người vốn từng mến mộ tài năng qua tiếng hát và những sáng tác lấy tên Tú Nhi. Người ta có quyền nghi ngờ là: gã trung úy bộ đội già Hồ tên Hải đã có "quan hệ hữu cơ" với Chế Linh trước, nên giả vờ đứng lên yêu cầu anh ca 2 bản nhạc lính của Nhật Trường để thăm dò phản ứng của người Việt hải ngoại và những người lính VNCH trong các hội quân nhân; nếu không phản ứng, thì từng bước, hình ảnh người lính VNCH và cán binh Việt Cộng được "hòa hợp hòa giải" trên sâu khấu và dần dần nhạc Việt Cộng được những trung tâm nhạc "xanh vỏ đỏ lòng" rỉ rả từng bước trình bày với "anh bộ đội". Một điều không thể đảo ngược là: trung úy bộ đội tên Hải nầy phải là dân giàu (lương bộ đội không đủ sống) nhưng có tiền xuất ngoại du hý là thành phần "đỉnh cao trí tuệ bốc lột" có quyền thế, được cử ra ngoài làm công tác. Tên Hải không thể và cũng không dám đề nghị Chế Linh hát những bài mà hắn nằm lòng như: Tình đất đỏ miền Đông, Anh quân bưu vui tính, Chào em cô gái Lam Hồng, Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây, như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng, Hà Nội niềm tin và hy vọng ..... nếu hắn đề nghị những bản đó, thì trong buổi trình diễn văn nghệ nầy có những phản ứng ngay. Đây là điều bắt buộc mà tên bộ đội già Hồ phải "nhập gia tùy tục" để làm một cuộc thăm dò phản ứng của người Việt hải ngoại.

Một điều đáng lưu ý là: ở Việt Nam, trong thời gian về dưới tàng lộng Unesco hay là giúp người Chăm .... nam danh ca Chế Linh có dám đứng trước đám đông ái mộ mà nói là: "Lính Việt Nam Cộng Hòa, bộ đội cụ Hồ .... đều đáng ca tụng" không? Chắc chắc là: "không, không, không, trăm lần không, vạn lần không", như vậy Chế Linh là thứ "khôn nhà dại chợ", khi ở nước tự do thì nói năng có lợi cho Việt Cộng, lúc về nước lại "co đầu rút cổ". Đây là thứ "văn nghệ sĩ CON DƠI", lúc ở hải ngoại thì là "bạn LÍNH VNCH" nhưng khi về Việt Nam là "đồng chí NÍNH BỘ ĐỘI CS".

Không biết Chế Linh về nước có thấy nghĩa trang "lính Việt Cộng đáng ca tụng" được giữ gìn và nghĩa trang của "lính VNCH" bị đào xới, ủi, san bằng làm kinh tế ...? Nay trong hàng ngũ ca sĩ, lại có thêm một "chuẩn văn công" với Phạm Duy, Tuấn Ngọc, Phương Dung, Hương Lan ...... đúng như người xưa đã nói: "xướng ca vô loại". Nam Ranh Ca Chế Linh được gọi là LÍNH CHÊ, nay thì cả dân và LÍNH CHỬI qua hành vi "núp bóng cầm ca, theo ma Cộng Sản".

Trương Minh Hòa
17.5.2009


Vài Suy Tư Về Ngày Quốc Hận 2009 - Hoàng Ðạo Thế Kiệt

Hoàng Ðạo Thế Kiệt

Từ 34 năm nay, mỗi năm người Việt tỵ nạn khắp nơi đều làm lễ tưởng niệm ngày Quốc Hận 30-4-75 (NQH) để đánh dấu ngày miền Nam tự do bị rơi vào tay cộng sản xâm lăng miền Bắc. Dĩ nhiên tổ chức NQH không đơn giản chỉ để tưởng nhớ đến nỗi đau thương tột cùng của dân tộc mà còn để tiếp tục công cuộc tranh đấu chống chế độ bạo tàn, thủ phạm của Ngày Quốc Hận, hiện còn đang thống trị dân ta. Chừng nào Việt cộng còn đó, còn chưa nhận tội và đền tội, và hơn nữa còn đang reo rắc hận thù, chừng đó Ngày Quốc Hận còn mang nặng ý nghĩa hận thù và đấu tranh. Ðây là điều đương nhiên, tất yếu.

Nói về ý nghĩa của Ngày Quốc Hận thì vô cùng tận. Ở đây người viết chỉ xin nói đến mấy suy tư chủ chốt chúng ta thường nghĩ đến trong mỗi mùa quốc hận, mà qua đó nói lên ý nghĩa tại sao lại có NQH, tại sao phải duy tri tinh thần Ngày Quốc Hận, và người Việt tự do cần có thái độ thế nào về Ngày Quốc Hận.

Trước hết là về Quy mô vô tiền khoáng hậu cuả Ngày Quốc Hận 75

Chúng ta ai cũng biết là trong lịch sử nước ta đã có nhiều cuộc chiến tranh, cả ngoại xâm lẫn nội chiến, và đặc biệt đã có 3 quốc hận. Đó là Hận Sông Gianh, do Trịnh/Nguyễn phân tranh gây ra. Hận Bến Hải, do Việt cộng / Thực dân toa rập gây ra. Và Hận 30-4-75, cũng do Việt cộng và cộng sản Nga-Hoa gây ra. Nhưng trong tất cả các cuộc chiến tranh và trong 3 quốc hận đó không có cuộc chiến tranh nào (kể cả với Tàu) và quốc hận nào đau thương bằng quốc hận 75, bởi vì nó tàn hại nhất và khủng khiếp nhất. Nó là là hậu quả và cũng là nguyên nhân đưa đến cái chết của trên dưới 3 triệu người, đất nước bị tan hoang, dân tộc bị cùm kẹp, nghèo đói, lạc hậu, vào hàng nhất nhì thế giới.

Trong suốt thời gian từ khi cướp được chính quyền năm 1945 cho đến khi chiếm được miền Nam năm 1975, Việt cộng đã tàn sát hàng loạt đồng bào, nhất là qua các vụ cải cách ruộng đất, chôn sống Tết Mậu thân, tập trung cải tạo, thủ tiêu các công chức cán bộ Quốc Gia xã ấp. Tệ hại hơn nữa là các cuộc chiến trực tiếp hay gián tiếp do chúng gây ra: xâm lăng miền Nam, đánh Cambốt, bị Tàu cộng trả thù (cho Cam bốt)... đã đưa đến cái chết của bao nhiêu thanh niên ưu tú. Riêng trong cuộc xâm lăng miền Nam, chúng ta đã chứng kiến những cuộc bắn giết cực kỳ dã man biết bao nhiều đồng bào trẻ thơ vô tội, đất nước khắp nơi bị tàn phá tan hoang.

Qua sự thôn tính miền Nam Tự do, Vc đã đưa cả nước ta vào tay cộng sản quốc tế, một bọn giặc chuyên lấy việc đấu tranh bạo lực làm chủ trương, cướp của giết người làm mục tiêu, và không loại trừ bất cứ biện pháp thâm độc nào để thống trị đồng bào. Hàng chục triệu người đã bị bóc lột đến tận xương tủy. Hàng triệu dân lành đã bị tàn sát, tù đầy, khủng bố. Hàng triệu người khác phải chạy trốn khỏi quê hương miền Bắc, và khỏi quê hương miền Nam, trong đó không biết bao nhiêu ngàn người đã phải bỏ thây trên đường tìm tự do.

Trong quá khứ gần 5000 năm lịch sử chưa bao giờ nước ta có một chính quyền tàn bạo hại dân hại nước đến mức độ thảm khốc như thế, chỉ thua có Khờ-me đỏ!

Ðã vậy, trên 30 năm sau chiến tranh và sau Ngày Quốc Hận, ách thống trị của kẻ gây hận không những đã không chấm dứt mà còn tiếp tục đè nặng lên dân tộc ta, cho đến tận ngày nay, và ra cả đến hải ngoại...

Với quy mô tội ác Trời không dung Ðất không tha như thế, với tội bán nước hại dân như thế của đảng Vc, lịch sử và dân tộc không bao giờ có thể tha thứ được.

Thứ đến là chính sách hận thù của Việt cộng

Chính sách hận thù của Vc trong quá khứ chắc ai cũng đã thấy. Chẳng hạn, chúng triệt hạ các giai cấp trí phú địa hào không phải vì chúng thù với cá nhân họ mà vì chính sách cuả đảng bảo phải giết hết thì chúng thẳng tay giết. Nhiều khi giết một cách tận tình, thích thú, coi như một thành tích. Cũng vậy, chúng giật mìn xe đó hay xe hoả không phải vì thù ai trên đó mà vì chính sách khủng bố của đảng, chủ trương phải giết để cho dân sợ và chính phủ gặp khó khăn.

Vì thế trước sau Vc rất quyết liệt và kiên trì trong việc thực hiện tội ác của chúng, đặc biệt là đối với các thành phần bất đồng chính kiến, đối nghịch với chúng, những người Quốc Gia. Ðiều này có nghĩa là: gây hận thù là việc tất yếu cuả đảng và chính quyền cộng sản.

Vì không thấu triệt điều đó nên có người rất ngạc nhiên là tại sao Vc một mặt ra sức kêu gọi xóa bỏ hận thù một mặt lại tiếp tục gây hận thù, với cả người sống lẫn người chết?

Chỉ cần đặt vài câu hỏi ngược lại là ta sẽ thấy phần nào tại sao:

- Tại sao trước đây Vc ra rả chửi người tỵ nạn là ôm chân đế quốc, là đĩ điếm.mà bây giờ lại đổi giọng, kêu gọi họ xóa bỏ hận thù? Vì Vc thật tâm từ bỏ chính sách hận thù hay chỉ vì tiền? Ai dám nói chúng không vì tiền mà vì đã bỏ chính sách hận thù?

- Nếu người Việt tự do dứt khoát không chịu hòa hợp hòa giải và đem người đem tiền về xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa cuả chúng thì liệu Vc có còn kêu gọi xóa bỏ hận thù nữa không? Ai dám trả lời là không? (Nghị quyết 36 đã dọa sẽ có biện pháp đối với những người ngoan cố).

- Vc đã hết gây hận thù với đồng bào trong nước chưa hay vẫn duy trì một chính sách đàn áp vô cùng khắc nghiệt, bỏ tù, khủng bố bất cứ ai bất đồng chính kiến, đòi hỏi tự do? Ai dám bảo là chúng đã xóa bỏ hận thù, hòa hợp hợp hòa giải với người dân trong nước?

- Tại sao Vc lại trả thù cả những người đã chết, những Chiến sĩ VNCH vị quốc vong thân, và đã tìm mọi cách để xóa bỏ dấu vết của nghĩa trang Quân đội Biên hoà, và hơn nữa còn áp lực cả chính phủ Mã-lai phải đục bỏ bia tưởng niệm thuyền nhân chết trên biển cả vì đi tìm tự do? Ðấy là xóa bỏ hận thù hay gây thêm hận thù?

Tóm lại chính sách của Vc là theo đuổi đến cùng để tiêu diệt người Quốc gia, xóa sạch mọi dấu vết liên hệ đến quốc gia, nhất là lá cờ Quốc-Gia và Ngày Quốc Hận. Hai biểu tượng đó làm cho chúng nhưc nhối vì nhắc nhở cho mọi người không những nhớ đến các tội ác tày trời của chúng mà còn gây trở ngại cho các mưu đồ đen tối của chúng.

Chính vì vậy mà Vc và bọn tay sai đã nỗ lực kêu gọi người Việt hải ngoại xoá bỏ hận thù. Xoá bỏ bằng mọi thủ đoạn, kể cả ma giáo, lừa gạt, bịp bợm, nhằm làm cho ta quên đi Ngày Quốc Hận, hoặc lái ngày đó sang một ý nghĩa khác, hoặc tìm cớ không tổ chức Ngày Quốc Hận. Chúng tuyên truyền rằng chỉ những kẻ ăn trên ngồi trước của chế độ miền Nam mới hận thù chúng, rằng tưởng niệm NQH mãi cũng chẳng đi đến đâu, hãy quên đi qúa khứ đau thương, hãy xoá bỏ hận thù để về góp sức xây dựng cho quê hương giầu mạnh. Chúng còn đi xa hơn, cho tay sai mập mờ biến đổi Ngày Quốc Hận thành ngày giải phóng, ngày tự do. Nhưng chúng đã thất bại. Ngày Quốc Hận vẫn được tổ chức ở khắp mọi nơi. Trong mọi hoàn cảnh, người Việt Quốc Gia chân chính vẫn luôn nhớ đến ý nghĩa Ngày Quốc Hận, và cố nóí cố làm bất cứ điều gì, dù nhỏ bé đến đâu, để duy trì Ngày Quốc Hận. Lập trường đó còn giúp chúng ta nhận diện được bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào, dèm pha, bài bác và cố tình kêu gọi xóa bỏ hận thù hay làm biến thái ý nghĩa Ngày Quốc Hận, là cs nằm vùng hay tay sai của chúng.

Xóa bỏ hận thù hay phục thù rửa hận ?

Luật pháp nước nào cũng trừng trị kẻ phạm tội, từ tội nhỏ đến tội lớn. Ðảng Vc đã bán nước hại dân, đã gây ra quốc hận và đang cỏn tiếp tục gây hận thù, thì tất cũng phải xử tội. Nhưng khác với tội phạm cá nhân, đây là tội phạm tập thể, hơn nữa lại là tập thể cầm quyền nên phải có biện pháp đặc biệt của toàn dân mới có thể phục thù xét xử được.

Nhưng rửa hận bằng cách nào cho có hiệu quả mới là điều quan trọng. Ðiều này đã được rất nhiều người quan tâm ở hải ngoại bàn đến trong suốt 34 năm qua nhưng rất tiếc chưa tìm ra giải pháp thích đáng. Tuy cùng nêu cao mục tiêu giải trừ cộng sản, có người chủ trương phải dùng vũ lực để đánh bại chúng; Có người chủ trương phải hòa hợp hòa giải với Việt cộng để dân chủ hóa chế độ của chúng; Và có người chủ trương phải quên hận thù để về hợp tác với chúng xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa của chúng.

Trong 3 giải pháp đó chúng ta thấy ngay giải pháp thứ nhất không khả thi, giải pháp thứ ba chỉ là một sự đầu hàng. Còn gỉai pháp thứ hai thì đã và đang gây ra nhiều tranh cãi. Một thiểu số tán thành giải pháp này vì bảo đó là con đường duy nhất, đi với cộng sản để loại trừ cs. Nhưng tuyệt đại đa số người Việt hải ngoại, chống cộng dứt khoát, thì coi đây là một cạm bẫy của cộng sản, chỉ nhằm dụ người Quốc gia về làm đẹp, làm tay sai cho chúng, chứ không bao giờ chúng chịu chia xẻ quyền lực với ai, nhất là chịu dân chủ hóa chế độ.

Dù sao đây chỉ là một mặt của vấn đề, mặt hải ngoại. Mặt chính là ở quốc nội. Ðồng bào trong nước sẽ tìm ra giải pháp thích đáng nhất để phục hận, giành lại tự do. Hải ngoại chỉ hỗ trợ quốc nội chứ không thể, và không có tư cách cũng như khả năng để thay thế quốc nội giải quyết vấn đề. Nhưng dù chọn giải pháp nào thì kết cục vẫn phải là rửa được quốc hận, không nhân nhượng không thỏa hiệp, có nghĩa là phải loại trừ được chế độ độc tài, tham nhũng và bất lực Vc.

Tóm lại, với quy mô tội ác vô tiền khoáng hậu của Vc, với chính sách quyết liệt và kiên trì gây thù diệt thù của chúng, người Việt tự do không còn chọn lựa nào hơn là phải duy trì bằng được NQH, nuôi dưỡng tinh thần phục thù rửa hận, cho đến khi chế độ độc tài đảng trị Việt cộng bị gỉai trừ.

Ngày Quốc Hận 2009 với hiện tình đất nước

Ai theo dõi tình hình đều thấy rõ là trong thời gian qua, nhất là từ đầu năm nay, tình hình trong nước đã trở nên rất căng thẳng. Vụ hiện gây sôi động nhất là vụ “bauxite”.

Vụ bauxite bắt đầu ra công khai từ khoảng giữa năm 2008, khi thủ tướng Vc Nguyễn tấn Dũng tuyên bố dự án bô xit là một chủ trương lớn cuả “đảng” và chính phủ, và loan báo là Trung cộng sẽ vào Cao nguyên Trung Việt để bắt đầu khai thác các mỏ bô xít tại Lâm đồng và Ðắc nông (2 mỏ Nhân Cơ và Tân Rai). Rồi chẳng bao lâu sau, Tàu cộng đã đem hàng ngàn nhân công sang để bắt tay vào việc. Mọi sự đã diễn ra rất có lớp lang, chứng tỏ Việt cộng và Tàu cộng đã bí mật dàn xếp với nhau vụ này từ lâu, nhưng vì lý do thầm kín nào đó nên không nói ra, cho đến khi khởi công khai mỏ.

Vì khai thác mỏ bô xít là một vấn đề vô cùng quan trọng, liên hệ đến mọi mặt: môi sinh, văn hoá, kinh tế, và cả quân sự v.v. mà không được đảng cộng sản đem ra bàn, ngay quốc hội cũng không hề được hỏi đến, và chỉ được biết vào phút chót, nên dư luận đã vô cùng công phẫn.

Dù Nguyễn tấn Dũng đã lớn tiếng cảnh báo rằng đây là chủ trương lớn của đảng và nhà nước, để tạo áp lực, bịt miệng những người chỉ trích và đòi hỏi phải đình chỉ việc khai thác.

Nhưng mọi tầng lớp nhân dân, từ dân thường đến các nhà khoa học, các nhà trí thức, các tu sĩ, và cả giới cựu quân nhân, như công thần hàng đầu Võ nguyên Giáp cũng đã mấy lần lên tiếng phản đối. Một số đoàn thể tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền cũng ra tuyên cáo yêu cầu chính phủ phải chấm dứt ngay việc này. Mới nhất là gần 1,000 người, trong đó có nhiều nhân sĩ, trí thức tiếng tăm hạng nhất trong nước cũng đã nhập cuộc, đòi phải xét lại dự án.

Trước làn sóng phẫn nộ của đồng bào, Việt cộng phải cho mở mấy cuộc hội thảo nói là để cứu xét vấn đề. Nhưng cuộc hội thảo quan trọng nhất do viên phó thủ tướng Hoàng trung Hải chủ trì cũng chỉ đi đến kết luận là dự án có một số sơ hở cần phải điều chỉnh lại, nhưng nói chung vẫn đúng...có nghĩa là vẫn cứ tiến hành theo quyết định của “đảng”!.

Bên bênh vực dự án thì cho rằng đây là một chủ trương lớn của đảng và chính phủ, và đã được nghiên cứu kỹ về mọi mặt, chỉ có một ít sơ hở nhỏ, chỉ cần điều chỉnh lại là xong. Mới đây phe bênh còn nói rằng có cả công ty Mỹ tham dự dự án chứ không phải chỉ có Trung cộng...

Bên chống thì nói dự án rất tai hại về mặt môi sinh (hầu hết các nhà khoa học, văn hoá trong nước đều đồng ý như vậy), không có lợi về mặt kinh tế (giá thị trường không cao hơn giá thành, nhân công Tàu tranh việc của nhân công Việt), và nhất là việc đưa hàng ngàn, có thể hàng chục ngàn công nhân Tàu vào Cao Nguyên là điều rất bất lợi cho quốc phòng, nhất là sau những sự lấn át của chúng ở biên giới và biển cả. Tin nói có cả công ty Mỹ tham dự, mãi nay mới được tung ra, chỉ có tính cách chữa cháy, vì chỉ giữ vai trò phụ, còn ở công trường khai thác thì chỉ thấy toàn người Tàu và chữ Tàu thôi, không thấy Mỹ đâu cả.

Hiện tình đang tạm đứng ở đó, chờ đợi một biến cố khác quan trọng hơn. Chỉ lúc ấy mới biết “đảng” thắng, dân lùi, hay “đảng” lùi, dân thắng.

Dù sao đây mới là điều quan trọng, chưa từng xẩy ra: sự đối đầu công khai giữa người dân với đảng cộng sản. Một khúc quanh đang xẩy ra.

Giọt nước làm tràn ly.

Vụ bô xít gần như đã trở thành “tụ điểm” cuả mọi sự phản kháng vì nó là nối tiếp của rất nhiều vụ “bô xít” khác. Nền độc tài ác trị của Việt cộng đã gây ra không biết bao nhiêu tội ác đối với dân tộc. Gần đây là các vụ dâng đất hiến biển của nước ta cho kẻ thù truyền kiếp Bắc phương. Tàu cộng đã ngang nhiên bắt Việt cộng phải cắt mấy trăm cây số vuông đất biên giới, kể cả aỉ Nam-Quan và thác Bản Giốc cho chúng, bắt Việt cộng phải mau hoàn thành việc cắm mốc biên giới để hợp thứ hóa phần đất bị xâm lấn. Hàng ngàn dặm vuông biển cả cũng đã được Việt cộng hiến cho Tàu. Tất cả đều làm trong bóng tối, không một ai được biết, trừ bọn cầm đầu Việt cộng. Khi Tàu cộng ngang nhiên chính thức sáp nhập các quần đảo Hoàng sa và Trường sa của ta vào lãnh thổ của chúng thì người dân quá uất hận, đã đứng lên biểu tình phản đối, nhưng lại bị chính bọn cầm quyền Vc thẳng tay đàn áp.

Ðến vụ làm đơn xin LHQ xác nhận chủ quyền về thềm lục điạ cuả ta, kể cả 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa, đến nay chỉ còn 2 tuần nữa là hết hạn (13-5-2009) mà vẫn chưa thấy Việt cộng làm, chắc chỉ vì sợ đụng tới Tàu cộng, vì chúng đã vẽ bản đồ công khai đưa các quần đảo Hoàng sa và Trường sa cuả ta vào lãnh thổ của chúng!

Sự sợ sệt của Việt cộng đối với Tàu cộng đã làm nhục quốc thể đến độ không còn chấp nhận được nữa.

Tuy mới đây Việt cộng có tổ chức hội thảo về biển đông, và lại vừa tuyên bố ngày 25-4-2009 sẽ lập huyện Hoàng-sa, trực thuộc Ðà Nẵng, nhưng nếu chỉ làm trên giấy tờ cho có lệ, cho đỡ bẽ mặt, như đã từng nhiều lần lên tiếng xác nhận Hoàng sa và Trường sa là của Việt-Nam, rồi thôi không làm gì thêm nữa, trong khi Tàu cộng vẫn cứ lầm lì lấn chiếm từng phần của các quần đảo đó, thì trên thực tế cũng chẳng ích gì mà còn làm cho tình thế mỗi lúc mỗi suy đồi thêm.

Tất cả những uất hận bị dồn ép đó, cùng với những bất mãn chất chứa từ bao lâu nay của dân oan v.v. nay có dịp được bùng lên trong vụ bô xít. Ðó là lý do mọi thành phần dân chúng, nhất là trí thức, đã đứng lên để phản đối chính quyền về vụ này.

Sự thần phục Trung cộng.

Vụ bô xít làm cho người ta tự hỏi, trong khi không giải quyết được bao nhiêu khó khăn to lớn khác với Tàu cộng, tại sao Việt cộng lại vác thêm gánh nặng bô xít hiểm nguy vào người? Chẳng lẽ Việt cộng không hiểu được tính cách ‘bùng nổ’ của vụ này và không biết nó sẽ đi đến đâu? Có thể nói thành công hay thất bại cũng đều bất lợi cho cả đôi bên, nhất là bên Việt cộng và Việt-Nam.

Nhìn những gì đã xẩy ra từ trước đến nay giữa 2 bên Việt/Tàu cộng, người ta buộc lòng phải nghĩ rằng Việt cộng đã bị Tàu cộng khống chế, chúng bắt làm những điều bất lợi, nhục nhã đến đâu cũng phải làm. Nhưng theo thiển ý thì đây là một sự “miễn cưỡng bị nắm đầu”, không phải vì Việt cộng quá hèn kém mà chỉ vì quyền lợi bản thân của đảng Việt cộng, đúng hơn của đám chóp bu Việt cộng. Chắc nhiều người còn nhớ, trước đây không lâu Việt cộng đã từng mấy phen chọi nhau với Tàu cộng mà không sợ, thì cớ gì bây giờ lại sợ quá đỗi như vậy, trong khi hoàn cảnh của thế giới ngày nay khó cho phép Tàu cộng đem quân xâm lăng Việt-Nam như trước?

Câu trả lời là, lúc đó Việt cộng dám chống Tàu vì được Liên bang Sô viết che chở. Mà Liên bang Sô viết thì vừa là cộng sản, vừa ở xa, lại vừa đang chống nhau với Tàu cộng, nên nhờ Liên Bang Sô Viết là đương nhiên, vì theo mà không sợ mất quyền. Còn bây giờ tuy Mỹ lớn mạnh hơn Liên Bang Sô Viết trước kia cũng như Tàu cộng hiện nay, nhưng Việt cộng biết rõ nhờ Mỹ thì Mỹ chỉ lo buôn bán trục lợi chứ không bảo đảm che chở cho chế độ Việt cộng tồn tại như Tàu. Cho nên Việt cộng đành phải đi theo Tàu cộng để Tàu cộng che chở cho bám giữ chính quyền, dù bị bọn này bóc lột vô cùng trắng trợn, dã man, và bị dân chúng nguyền rủa thậm tệ.

Như thế là Việt cộng đã tính toán kỹ lưỡng và đã làm một sự chọn lựa: thà cắt bỏ những cao điểm trọng yếu ở biên giới và nhượng những vùng biển rộng lớn lao đầy tài nguyên cho Tàu chứ không theo Mỹ để giữ nước mà mất quyền. Chính sách đi giây cuả Vc do đó là: o bế để lợi dụng Mỹ, nhưng đi với Tàu để giữ quyền bính.

Từ đó suy ra ta có thể đi đến một kết luận khá vững chắc là, Vc sẽ bám quyền bằng mọi giá, kể cả dâng đất hiến biển, cho khai mỏ, cho dânTàu ồ ạt sang làm ăn sinh sống ở Việt-Nam v.v.. Trước sự kiện đó, nếu dân tộc Việt-Nam không muốn bị nạn Tàu cộng xâm thực lần mòn, không muốn bị Vc làm nhục, thì chỉ còn có cách nổi dậy lật đổ chúng. Mong rằng sẽ có một cơ hội giúp cho dân ta rửa được cái hận 75, khi dân chúng nổi lên lật đổ bạo quyền và quân đội chợt tỉnh ngộ về vai trò của mình, còn TC thì bận tay với Mỹ.

NQH 2009 với hiện tình đất nước

Tuy việc tổ chức tưởng niệm và nuôi dưỡng tinh thần NQH hiện nay chủ yếu là do các cộng đồng người Việt tự do hải ngoại thực hiện, nhưng ai cũng biết QH 75 là cho chung cả dân tộc chứ không cho riêng dân miền Nam. Ngày đó đánh dấu một trang sử đen tối nhất của cả nước. Một chế độ cực kỳ tàn bạo đã vây phủ khắp nơi. Mất miền Nam là mất một hy vọng tràn trề để gỉai thoát đồng bào miền Bắc khỏi bàn tay sắt máu Vc.

Nhưng lịch sử dân tộc đã chứng tỏ không bạo chúa nào có thể tồn tại mãi mãi. Người dân đang dần dần đứng lên để đòi lại tự do dân chủ mà bọn cầm quyền cộng sản đã cướp đoạt của họ từ bao năm qua. Những biến chuyển mới đây đã cho thấy đồng bào không còn chịu đựng được nữa những áp bức và tủi nhục mà bạo quyền Vc gây ra. Mối liên hệ bạo quyền / người dân đã đến lúc phải được giải quyết thỏa đáng.

Là người Việt tỵ nạn cộng sản, chúng ta không khỏi vui mừng khi được thấy đồng bào quốc nội can đảm đứng lên đòi đảng cộng sản phải tôn trọng tự do và lắng nghe tiếng nói của người dân. Nếu toàn dân đồng lòng nắm lấy thời cơ, đẩy mạnh cuộc tranh đấu thì sẽ chắc chắn sẽ tạo được áp lực với chính quyền, mở rộng được con đường tranh đấu cho tự do, dân chủ.

Về phần người Việt hải ngoại, nếu chúng ta quan niệm rằng quốc nội là chính, và nay quốc nội đang chuyển mình, đang mở ra một vận hội mới mà người Việt hải ngoại hằng mong đợi, thì thiết nghĩ chúng ta cũng cần phải có thái độ tích cực hơn để kịp thời làm tròn nghĩa vụ của mình.

Tuy hải ngoại cũng có những khó khăn lớn lao vì nếp sống tự do, vì sự lệ thuộc vào tình hình địa phương, và nhất là vì sự đánh phá của bọn cộng sản nằm vùng và tay sai, nhưng cũng đã đến lúc mọi người, mọi tổ chức của người Việt Quốc Gia hải ngoại phải có biện pháp thích đáng để ổn định cộng đồng và yểm trợ quốc nội.

Trong phạm vị này, theo thiển ý, chúng ta có thể đề ra những biện pháp cụ thể, khả thi, mà nếu dứt khoát thực hiện thì thế nào cũng có kết quả khả quan, phần nào ổn định được cộng đồng và yểm trợ được quốc nội hưũ hiệu hơn. Với mục đích trên, chúng tôi xin đưa ra đề nghị 3 điểm như sau để góp ý với những đồng hương quan tâm:

- Thứ nhất là phải phân định rõ ràng ta, địch, bằng các tiêu chuẩn minh bạch, để dễ nhận diện bọn nằm vùng, không để chúng tự do đánh phá tập thể tỵ nạn của ta. (Cuối năm 2002 và 2003 chúng tôi đã viết khá rõ về điểm này trong bài “Nhu Cầu Bảo Vệ Lằn Ranh Quốc/cộng” và bài “lập Trường Chung”).

- Thứ hai là cô lập, tẩy chay bọn nằm vùng và tay sai, sau khi đã nhận diện được chúng. Ðây là điều vô cùng cần thiết, vì chỉ có biện pháp đó mới giới hạn được nỗ lực khuynh đảo của địch. (Ðiểm này cũng đã được chúng tôi trình bày trong bài Lập Trường Chính trị” nói trên)

- Và thứ ba là tạo một sự phối hợp hoạt động (chứ không phải thống nhất) giữa các tổ chức của người Việt Quốc Gia với nhau, để có đủ khả năng tranh đấu hữu hiệu với Vc.

Ðây là những việc khả thi, do ta chủ động, có thực hiện được hay không, thành hay bại, chủ yếu là do chính mình chứ không phải do ai khác. Rửa hận và tranh đấu cho tự do dân chủ không thể mãi mãi chỉ bằng lời nói hay bài viết. Phải có cả việc làm. Nếu ta có một lập trường chống cộng thực sự, và quyết tâm thực hiện thì sẽ nắm được chìa khoá thành công. Bằng không, nếu cứ bỏ lửng, thì tình trạng sẽ suy đồi thêm. Còn nếu nhẹ dạ, nghe theo luận điệu xóa bỏ hận thù, quên NQH (cũng như bỏ chào cờ Quốc Gia), thì sẽ không còn vấn đề rửa hận nữa, không còn vấn đề tranh đấu nữa, và như thế không khác gì chấp nhận vĩnh viễn chế độ độc tài đảng trị, vừa bạo tàn vừa tham nhũng lại vừa bất lực của Vc.

Hoàng Ðạo Thế Kiệt