Saturday, April 18, 2009

Ý Kiến Của Cựu Chiến Binh Charlie Lynn Về Triển Lãm Nambang - Mai Phương

LGT: Vụ triển lãm Nam bang bởi Casula Powerhouse Art Center ở Sydney về cuộc chiến Việt nam đã tạo nên những chỉ trích trong cộng đồng VN tại Sydney và đưa đến những cuộc biểu tình chống đối. Bài viết của Charlie Lynn, cho người đọc thấy cái nhìn của một người Úc, một cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam, về cuộc triển lãm này. Nhưng cái nhìn này không quan trọng.

Điều đáng chú ý là Lynn khi ghi lại những chú giải trên các bức tranh đã cho thấy sự bệnh hoạn của - những "nghệ nhân"- tác giả của những tấm tranh trưng bầy. Và qua đó sự thiên lệch không thể chối cãi của ban tuyển chọn tác phẩm trưng bầy.

---------------
    Ý Kiến Của Cựu Chiến Binh Charlie Lynn Về Triển Lãm Nambang Tại Trung Tâm Nghệ Thuật Casula Powerhouse

Bản dịch do Mai Phương
April 16, 2009

http://tamthucviet.com/articleview.aspx?artId=%C5%93B%1B^


Bộ Trưởng bộ Cựu Chiến Binh Alan Griffin khai mạc cuộc triển lãm tranh Nambang tại Casula Powerhouse Arts Centre với một thú nhận hạ thấp trình độ thưởng thức “nghệ thuật” của ông ta xuống, rằng ông ta bị chứng loạn sắc. Ông ta nói thêm ông thấy có một số những tranh ảnh trưng bầy mang tính “xúc phạm” nhưng đã bỏ qua không phê phán. “Nghệ thuật” là tùy theo cảm quan của người thưởng lãm. Tôi là một trong những người chia xẻ quan điểm này của ông Alan.

Một đám đông những người chống đối đứng vẫy cờ Việt Nam Cộng Hòa là một chỉ dấu sớm về sự nhận định chân thật nói trên của ông Bộ Trưởng.

Tục lệ “thui chó” thấy lạ và được nhiều người chú ý. Việc trưng bầy bức tranh của Sean Gladwell, con trai một cựu chiến binh ở VN, là một điểm nổi bật. Thân phụ của Sean là Mark một người bạn cũ của tôi và tôi thật vui được gặp lại ông sau nhiều năm cách biệt. Sau chiến tranh VN, ông ấy đã có nhiều ám ảnh cần phải xua đuổi.

Tôi sững sờ trước sự ám ảnh qua bức tranh “Người chết” của Ron Beattie. Tôi đã từng thấy cái áo khoác đó ở trên mình những cựu chiến binh Úc trong nhiều năm qua. Tôi bước qua những bức vẽ miêu tả những câu chuyện về Cộng sản miền Bắc VN và tự hỏi đó có phải đó có phải là nguyên nhân của cuộc biểu tình ngoài kia hay không? Tôi nhận thấy những bức tranh này hay hay và không thấy điều gì trong đó có thể xúc phạm. Sau này tuy nhiên tôi đã hiểu ra, những điều xúc phạm đã không ở trên những bức tranh này.

Tôi bước tới trước một bức tường rộng nhất, dễ thấy nhất, có vẻ như trưng bầy những hình ảnh hoạt hoạ về chiến tranh VN, tôi nghĩ chắc đây là những hình vẽ đem lại một chút thoải mái cho thấy tính khôi hài của những nhà đi khai phá của chúng tôi . Nhưng không! Cả bức tường là một sự trình bầy thô bạo, xúc phạm, không mảy may có tính chất hài hước, với mục đích nhục mạ John Howard.

Vậy thì những bức tranh này có liên quan quái gì tới chiến tranh VN, tôi tự hỏi? Tôi biết rằng nội dung cuộc triển lãm nói về thời hậu chiến ở VN, nhưng qua đó mà đả kích cam kết của John Howard trong cuộc chiến chống khủng bố tại Iraq và Afghanistan thì thật là quá xa vời: “George W Bush cần một con khỉ không có khối óc, một con khỉ sẵn sàng bán linh hồn cho quỷ sứ….. mi là môt tên mạt hạng, ích kỷ, tồi bại,” đó là lời ghi dưới hình vẽ John Howard đu đưa trên một cành cây, bằng một tay còn tay kia cầm trái chuối. Nhưng mà còn tệ hại hơn nữa.

Người nghệ sĩ này rõ ràng loạn trí. Người phụ trách cuộc triển lãm đã sai lầm khi để cái cảm tính xúc phạm của tác giả được trưng bày ra như một “nghệ phẩm”.

Một trưng bày khác diễn tả một chiến binh Hoa Kỳ tại VN cũng mang tính xúc phạm như vậy. “Anh ta đi tới đó, lột hết quần áo của cô ta, dùng dao nhọn, cắt từ cửa mình của cô lên cao ngang mức nhũ hoa, móc hết các bộ đồ lòng ra khỏi bụng cô gái, và ném ra xa. Sau đó anh ta cúi xuống lột từng miếng da trên thân thể cô gái, rồi bỏ mặc cô ta ở đó … như một dấu hiệu của một điều gì hay một cái gì đó.”

“Dừng lại một phút.” tôi tự nhủ: “Thế còn sự tàn bạo của CS đối với miền Nam VN thì sao?” Trong khi sự tàn bạo của người Mỹ được phanh phui từng chi tiết ghê sợ trong các cuộc điều tra công khai về tội ác chiến tranh. Thì cộng sản chỉ thản nhiên bắn chết các người tố cáo. Đó là điều khác biệt căn bản giữa chế độ cộng sản và chế độ dân chủ.

Sự tàn bạo của CS đã được che dấu trong cuộc triển lãm này. Bây giờ tôi bắt đầu hiểu được những lý do của sự tụ tập chống đối của những người biểu tình bên ngoài.

Những “trại học tập cải tạo” của CS cũng là những hậu quả chiến tranh trầm trọng cho bao nhiêu người VN đang sinh sống tại Úc. Một số người sau khi “tốt nghiệp” các trại tù cải tạo này đã mang hằn những vết sẹo trên thân thể và trong tâm hồn do những năm tháng bị tra tấn và bị tẩy não trong trại tập trung. Những người này cảm thấy cuộc trưng bày tranh ảnh [Nam Bang] đã phản bội lại họ.

Trở lại vấn đề John Howard. Nếu họ đả kích John Howard thì họ nghĩ sao về Gough Whitlam?

Tài liệu giấy tờ trong những năm gần đây đã phanh phui những điều Whitlam đã làm để lấy lòng chính quyền CS miền Bắc. Whitlam không cho phép các người tỵ nạn hay các thuyền nhân nhập cư vào Úc. Ông ta cũng phản bội ngay cả các nhân viên VN đã phục vụ trong tòa Đại Sứ của chúng ta: “Những nhân viên VN phục vụ trong tòa đại Sứ Úc được các hiệp hội thuộc đại sứ quán Úc xác định là không ở trong tình trạng nguy hiểm, do đó “không”, xin nhắc lại lần nữa là “không” được phép nhập cư vào Úc.” Đó là những lời lẽ bỉ ổi được Whitlam gửi đi trước ngày Saigon thất thủ.

Nếu không có Malcolm Frazer và John Howard thì đã không có Cộng Đồng VN tại Úc. Cũng không có những tranh ảnh về thời hậu chiến VN để cho các nghệ nhân VN triển lãm hôm nay. Đây là điều đã không được mô tả ra ra trong cuộc triển lãm Nambang.

Tôi không phải là một nhà phê bình nghệ thuật và cố gắng giữ cho đầu óc cởi mở với cuộc triển lãm và để hiểu nó muốn nói gì. Tôi ra về với ấn tượng rất mạnh là cuộc triển lãm này còn hơn là một diễn đàn để nhửng người “ ghét Howard” và thích CS xì ra cái những sự giận dữ méo mó của họ.

Charlie Lynn
Cựu chiến binh cuộc chiến VN.
PO Box 303
Camden 2570
Charlie@kokodatreks.com.au

Bản dịch do Mai Phương
----------------------------------------
    Nambang Exhibition – Casula Powerhouse Arts Centre
Feedback by Charlie Lynn

Veterans Affairs Minister Alan Griffin opened the Nambang exhibition at the Casula Powerhouse Arts Centre with a self-deprecating remark about his understanding of ‘art’ which was not helped by a slight colour-blindness affliction. He did add that he found some of the displays ‘confronting’ but passed no judgement. ‘Art’ is in the mind of the beholder. I was one of many who shared his sentiments.

A large rally of protesters waving Republic of Vietnam flags was an early indication of the veracity of the Ministers observations.

The traditional ‘burning of the dog’ was interesting and well received. Viewing a display by the son of a Vietnam Veteran, Sean Gladwell, was a highlight. His father Mark, is an old friend and it was great to catch up with him after many years. He had many demons to fight after the war.

I was transfixed on the haunting Image of a Dead Man by Ron Beattie. I have seen that jacket on many vets over the years. I moved past the paintings depicting the communist North Vietnamese stories and wondered if that was what the protest rally was about. I found them interesting and saw found nothing in them that could offend.
I later realised it was what they didn’t depict that was offensive.

I then moved up to the largest, most visible wall that seemed to display cartoons of the war – a bit of light relief depicting our Diggers humour in Vietnam no doubt. Wrong. The entire wall was a crude, humourless, offensive display against John Howard.

What the hell has this got to do with the Vietnam War I thought? I knew the exhibition was about the aftermath of Vietnam but lampooning John Howard’s commitment to the war against terrorism in Iraq and Afghanistan is a long bow. ‘George W Bush needed an ape without a brain. An ape who would sell his soul to the devil himself . . . you miserable bastard selfish prick’ captioned a farting John Howard swinging from a tree with one hand and holding a banana in the other. It got worse.

The artist was obviously deranged. The curator erred by allowing his offensive bile to be displayed as ‘art’.

Another display depicting the American soldier in Vietnam was equally ‘confronting’. ‘He went over there, ripped her clothes off, and took a knife and cut her vagina almost all the way up, just about to her breast, and pulled her organs out, completely out of her cavity, and threw them away. Then he stooped and knelt over and commenced to peel every bit of skin off her body and left her there . . . as a sign of something or other’.

‘Wait a minute’, I thought. ‘What about the atrocities committed by the Communists against the South Vietnamese? ‘ While American atrocities are revealed in all their gory detail during public investigations into war crimes, Communists just shoot the whistleblower. It’s a fundamental difference between communist and democratic societies.
The Communist atrocities had been airbrushed from the exhibition. Now I was beginning to understand the reasons behind the rally outside.

Communist ‘re-education camps’ are also serious aftermath of the war for many Vietnamese living in Australia. A number of ‘graduates’ bearing the physical and emotional scars of years of torture and brainwashing in these camps feel betrayed by the exhibition.

So back to John Howard. If they were going to lampoon him, what about about Gough Whitlam?

Cabinet papers released over recent years reveal the extent to which Whitlam went to appease the Communist government in North Vietnam. Whitlam would not allow Vietnamese refugees or ‘boat people’ to come to Australia. He even betrayed the Vietnamese who worked for our embassy. "Locally engaged [Vietnamese] embassy staff are not to be regarded as endangered by their Australian embassy associations and therefore should not, repeat not, be granted entry to Australia," was the shameful instruction he sent just before the fall of Saigon.

After Whitlam’s sacking Liberal Prime Minister Malcolm Fraser reversed that inhumane decision and provided safe-haven for thousands of Vietnamese refugees, or ‘asylum seekers’ in today’s parlance. John Howard was a key member of the Fraser cabinet when that decision was made.

If it was not for Malcolm Fraser and John Howard there would not be a Vietnamese community in Australia. There would not be any ‘aftermath’ from the Vietnamese artists to display. This is not depicted in the Nam Bang exhibition.

I am not at art critic and I tried to be keep an open mind about the exhibition and what it was supposed to represent. I left with the strong feeling that it was little more than a platform for ‘Howard haters’ and communist sympathisers to vent their twisted spleens.

Charlie Lynn
Vietnam Veteran
PO Box 303
Camden 2570
Charlie@kokodatreks.com.au

Thấy Gì Qua Đoạn Phim Thuyền Nhân Trên Đài CBS Chiếu Vào Cuối Tháng 6 Năm 1979? - Nguyễn Thị Mầu Tím

Nguyễn Thị Mầu Tím


(1) Gia đình vượt biển đi tìm tự do (2) Mẹ khóc cho các con và đất nước


(3) Tuổi thơ VN sau hàng kẽm gai (4) Cuộc sống dân nghèo dưới chế độ CS



http://www.cbsnews.com/video/watch/?id=4462053http://www.cbsnews.com/video/watch/?id=4462053

Trưa này được xem một đoạn phim chuyển đến từ một người bạn. Sững người và bất ngờ với các hình ảnh trên film, những hình ảnh mà đã gợi đến cho tôi một cái gì mà tôi không nghĩ là sẽ có bao giờ muốn thấy lại. Tôi bất chợt òa khóc theo những âm thanh ồn ào phát ra từ màn ảnh nhỏ. Đoạn phim này là một clip video của đài truyền hình CBS, thâu vào cuối tháng 6 năm 1979 về các “thuyền nhân Việt Nam hay boat people, ” cho thấy cảnh một con tầu nhỏ đầy người là người, các thuyền nhân đứng chen chúc, rướn mình, đu người trên thân tầu, vẫy tay reo hò mừng rỡ khi thấy người và bến bờ, khiến cho con tầu nhỏ đã lắc lư lại càng lắc lư thêm khi tiến gần vào bờ biển Malaysia.

Hình ảnh con tầu vừa tấp gần, những người trên tầu lao xuống nước. Những phụ nữ và trẻ em yếu sức được những thuyền nhân vượt biển đến trước, chạy ra đón, dìu, đưa vào trong bờ trông thật là cảm động. Trong số những người giúp dìu các thuyền nhân vào bờ, đã có ký giả Ed Bradleys của đài truyền hình CBS. Nhóm người vượt biển đầy may mắn này, những người mà được thế giới gọi chung tên “Boat People,” tuy nhiên đã không thấy tiều tụy lắm như một số những người vượt biển khác. Có lẽ nhóm người này họ may mắn không phải trải qua những ngày tháng dài quằn quại trên biển cả như một số những thuyền nhân khác.

Nói chung tuy nhiên, dù may mắn hay kém may mắn, những “Boat people" Việt Nam này đều đã có cho mình một quyết định can đảm giữa cái sống và cái chết. Bởi vì trước khi rời Việt Nam đi tìm tự do, những người vượt biển đều không biết những gì sẽ xẩy đến cho họ: hoặc là họ sẽ phải chết trên biển cả vì đói khát và sóng dữ; hoặc là họ và gia đình sẽ bị hải tặc Thái Lan chém giết, chặt đầu chặt tay, để cướp nữ trang; hoặc bị hải tặc Thái Lan hãm hiếp, vân vân, nhưng họ vẫn quyết định ra đi bởi vì bên cạnh những sự nguy hiểm thấy trước, họ vẫn có một tia hy vọng nhỏ, là nếu thoát được những hiểm nguy và sống sót, họ và gia đình có thể sẽ có một tương lai an bình, hạnh phúc trên một đất nước tự do dân chủ, có nhân bản, có tình người. Còn hơn là họ phải sống dưới một chế độ cộng sản đầy những sự giả dối “Nhân Dân Làm Chủ, Nhà Nước Quản Lý, Đảng là Công Bộc” nhưng trong thực tế nhân dân chỉ là những đàn cừu được chăn dắt bởi đảng và nhà nước CSVN. Cuộc sống dưới chế độ là những ngày tháng lăn xả trong sự lọc lừa, hung bạo, tàn nhẫn, đạp lên nhau mà sống. Các cán bộ đảng viên đa số thì tham nhũng, háo sắc. Thông tin chỉ là để phục vụ cho giai cấp thống trị cho nên luôn luôn bưng bít sự thật. Tin tức thì chỉ được tuyên truyền một chiều, hầu ngu dân dễ trị. Giáo dục thì vừa tạo ra những thế hệ bù nhìn, bạc nhược, vừa hình thành ra một guồng máy tay sai đắc lực. Dưới chế độ Cộng sản Việt Nam đó, người dân khắp nơi đã phải cay đắng thốt lên câu là nếu có điều kiện thì “cái cột đèn cũng phải ra đi.”

Chỉ có mươi phút nhưng đoạn băng của đài CBS đã lôi tôi trở về một quá khứ những tưởng đã quên hay không muốn nhớ vì những ký ức kinh hoàng. Đoạn phim đã khiến cho tôi vô cùng xúc động. Bao hình ảnh cũ ùa về. Nước mắt lăn tuôn. Từ đáy lòng tiếng òa bật vỡ. Tôi thấy lại hình ảnh của tôi được khiêng xuống nằm trong một khoanh nhỏ dưới góc hầm tầu, rã rời, thiêm thiếp, môi sưng vều, mặt nhợt nhạt vì đói, vì khát, vì sức nóng gay hắt, dữ đội của không gian đại dương. Tôi lại thấy tôi mất sức, nằm bất động trên bong tầu, không còn thấy đói khát mà chỉ tha thiết nhớ về quá khứ, không còn sợ chết mà chỉ thấy ăn năn về những hành động vô tình nếu có, đã gây ra sự buồn tâm cho mẹ, cho gia đình anh chị em, và bạn bè thân hữu …. Nhìn những mảnh ván, những vật dụng cá nhân, những con búp bê nổi trên mặt nước, tôi hiểu được trước sau rồi sự chết cũng sẽ tới. Những con chim bay lượn trên cao, có lẽ chúng đang chờ một xác người lại được thả xuống biển thủy táng. Trong tiếng rì rào của gió biển, tôi bất chợt bật oà tiếng gọi ... Mẹ ơi… và trong khoảng khắc nhớ đến mẹ thật nhiều, hiểu được những hy sinh cao cả của mẹ tôi đối với anh em chúng tôi. Ôi những bà mẹ VN, thật là đáng kính.
    Mẹ bóc cho con chiếc bánh chưng
    Con ăn no dạ kẻo đói lòng
    Mai đây cách biệt đường muôn lối
    Thương nhớ chỉ còn trong giấc mơ
Đã 34 năm trôi qua, chế độ CSVN cho đến ngày hôm nay với người Việt Nam vẫn là một chế độ phi nhân phi nghĩa. Từ khi cướp được miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước, lãnh đạo cộng sản miền Bắc đã không đem đến một điều gì tốt đẹp cho dân tộc. Sự thay đổi nếu có thì chỉ với những cán bộ đảng viên hay người dân từ các vùng do cộng sản cai trị vốn sống nghèo khổ, lại được tuyên truyền là người dân miền Nam dưới chế độ Mỹ Ngụy cũng đã phải ăn cơm bằng gáo dừa, phụ nữ thì bị hà hiếp, thanh niên thì bị bắt đi chiến trường phục vụ cho tham vọng đế quốc Mỹ, nhà cửa miền Nam điêu tàn dột nát, nhưng chừng thấy ra không phải là như thế. Và họ tuy nhiên, một cách thản nhiên, đã quên đi những lừa gạt của các lãnh đạo CS, để mà, những gì lấy được, cướp được, từ những người dân miền Nam thua trận thì cũng cứ lấy. Để rồi đến ngày hôm nay, bản thân họ và gia đình họ lại bị chính chế độ tham nhũng hiện hành bóc lột và cướp đoạt.

Đó là về dân, còn về lãnh đạo CSVN thì ngoài những sự lường gạt người dân miền Bắc để khiến bao thanh niên thanh nữ phải oan uổng hy sinh cho một cuộc chiến đấu vô nghĩa, sự thành công của đảng CS và nhà nước CSVN là để phục vụ cho một thế giới đại đồng cộng sản và giai cấp lãnh đạo chứ không phải cho dân tộc. Nói đến chế độ CSVN hiện hành, người Việt nghĩ ngay đến một thể chế tham nhũng, biến thái, độc tài, dâng đất, dâng biển cho ngoại bang. Chế độ đó đã tiêu diệt các tinh hoa, văn hóa nước nhà cùng lúc thâu nhận những cái xấu của người. Trong khoảng trên dưới một thập niên gọi là đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam tràn ngập phong cách sinh hoạt đồi trụy, sa đọa phi nhân, của những xã hội tư bản Tây phương vật chất lâu đời nhất, bóp nghẹt mọi cơ hội đi lên của dân tộc.

34 năm đi qua, đau đớn, nổi trôi cùng vận nước. Tóc nay đã bạc. Nhưng mừng thay thế hệ tiếp nối hải ngoại đã được nhìn thấy. Cộng đồng người Việt hải ngoại đã có những dấu hiệu phát triển vững mạnh, đã học hỏi từ bài học quá khứ và cùng hướng về phía trước trong tinh thần quật cường độc lập, sẵn sàng góp tay trong mục tiêu chấm dứt chế độ Cộng sản biến thái, tự do dân chủ nước nhà. Còn trong nước, biết đến bao giờ người Việt mới thật sự thấy được vấn đề, mới can đảm đứng lên đòi lại phẩm giá con người Việt Nam đã bị chà đạp từ khi chế độ CS lên nắm quyền? Đến bao giờ VN mới thật sự chấm dứt được các thảm nạn mua bán tình dục tuổi thơ và phụ nữ VN cũng như xuất cảng tuổi trẻ VN ra ngoại quốc làm tôi tớ cho người, để chính phủ thâu thuế trên mồ hôi nước mắt của dân?

Nguyễn Thị Mầu Tím
Tháng Tư Đen, ngày 16 tháng 4 năm 2009


Hoàng Sa, Trương Sa Là Lãnh Thổ Của VN Từ Lâu Đời Ðã Bị csVN Dâng Bán Cho Tàu Cộng - Mường Giang


Mường Giang

Tháng 7-1954 ngay khi chữ ký trên văn bản ngưng bắn tại Genève chưa ráo mực, thì Hồ Chí Minh đã nghĩ ngay tới chuyện chiếm miền Nam. Do ý đồ trên, Hồ đã gài lại một số lớn cán binh bộ đội nằm vùng khắp lãnh thổ VNCH, khi có lệnh tập kết. Ðể chuyển quân cũng như tiếp tế, Hồ mở con đường chiến lược Trường Sơn trên bộ, xuyên qua lãnh thổ Lào và Kampuchia . Về mặt biển, Hồ thành lập đường 559B giao cho Ðồng văn Cống chỉ huy. Và dĩ nhiên dĩ nhiên, muốn an toàn, đầu tiên là phải nhổ tuyệt hai tiền đồn của QLVNCH trấn đóng trên quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, đất đai thuộc lãnh thổ từ lâu đời của dân tộc Ðại Việt, đã được tổ tiên bảo toàn từ thời Hậu Lê, Nhà Nguyễn.. nằm trong Ðông Hải.

Theo bản tin của UPI-AFB ngày 23-9-1958, được báo chí của Trung Cộng lẫn Việt Cộng đăng tải. Những tài liệu này, hiện vẫn được lưu trữ tại các thư viện quốc tế như Luân Ðôn, Paris, Hoa Thịnh Ðón, Bắc Kinh ... kể cả Hà Nội. Nhờ đó, ta mới biết được, vào ngày 14-9-1958, Phạm Văn Ðồng lúc đó là thủ tướng,theo lệnh của chủ tịch nước và đảng VC là Hồ Chí Minh, đả cam kết với Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Cộng, bằng văn kiện xác quyết như sau ‘ Chính phủ VNDCCH, tôn trọng quyết định, lãnh hải 12 hải lý cũng như hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, là Tây Sa-Nam Sa, của Trung Cộng’. Ngày 22-9-1958, Ðại sứ VC tại Bắc Kinh là Nguyễn Khang, dâng văn kiện xác nhận điều trên, do Phạm Văn Ðồng ký, lên Thiên Triều. Ngay cả khi đã cướp chiếm được hoàn toàn miền Nam VN, vào tháng 5-1976, trên tờ Sài Gòn Giải Phóng của VC nằm vùng Ngô Công Ðức, Lý Quý Chung.. vẫn còn đăng lời xác nhận của đảng VC, là Hoàng Sa-Trường Sa là của Trung Cộng. Khôi hài hơn, VC nói, vì ta và Tàu sông liền sông, núi dính núi, nên Hoàng Sa-Trường Sa, của ai cũng thế thôi, nên VC muốn lấy lại đảo,lúc nào Trung Cộng vẫn sẵn sàng giao trả ‘. Luận điệu trên, rõ ràng VC đã xác nhận VN là thuộc địa của Tàu Cộng. Dù ngày 14-3-1988, VC và Trung Cộng đã giao tranh đẳm máu tại Trường Sa. ngay sau đó, trên tờ Nhân Dân, số ra ngày 26-4-1988, VC vẫn xác nhận sự kiện Hồ Chí Minh bán hai đảo cho Tàu năm 1958 là đúng. Bởi có vậy, Trung Cộng mới viện trợ súng đạn, gạo tiền và cả triệu quân , để VC đánh chiếm VNCH từ 1955-1975.

Theo sử liệu cũng như những di tích còn sót lại tại Quảng Ngãi, đã xác nhận từ thời Các Chúa Nguyễn Ðàng Trong vào giữa Thế Kỷ XVII, đã có Ðội Hoàng Sa với nhiệm vụ bảo vệ hải đảo này. Ðội được tập trung tại Vươn Ðồn, để luyện tập cũng như sửa chữa thuyền bè và nhận lệnh thượng cấp. Trước khi xuất quân, Ðội đến Miếu Hoàng Sa tế lễ. Ðây là một ngôi nhà gồm 3 gian, làm bằng gỗ tốt, lợp tranh dầy, mặt Miếu quay ra cửa Sa Kỳ, trước có 2 cây gạo cổ thụ. Trong Miếu thờ Một Bộ Xương Cá Ông rất lớn. Theo người địa phương, hơn 300 năm về trước, Ông lụy tại Hoàng Sa, nhưng đã được Hải Ðội dìu về đất liền. Sau ba năm chôn cất, những người lính, thỉnh cốt vào thờ trong Miếu . Từ đó về sau, hằng năm vào tháng 6, khi những người lính ,mãn phiên từ Hoàng Sa trở về, dân làng tổ chức cúng lễ tại Miếu, gọi là ‘ Ðánh Trống Tựu Xôi’.

Từ thị xã Quảng Ngãi qua cầu Trà Khúc, bỏ quốc lộ 1 vào quốc lộ 24B, ngang qua Làng Sơn Mỹ dưới chân Núi Thiên Ấn chừng 5 km, thì rẽ vào một con đường đất đỏ, chạy giữa sông Kinh và rừng dương sát biển. Ðó là xã Tịnh Kỳ, thuộc Huyện Sơn Tịnh, nơi khai sinh Hải Ðội Hoàng Sa, khoảng mấy trăm về trước, thời các Chúa Nguyễn, Nam Hà, thuộc Ðại Việt.

Theo Quảng Ngãi địa dư chí, vùng đất này trước năm 1898 thuộc trấn Bình Sơn. Năm Thành Thái thứ 10, tách ra thành 2 Huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh.. Sau tháng 8-1945, khu Tịnh Kỳ được hoàn thành bởi ba xã An Kỳ-An Vịnh và Kỳ Xuyên. Xưa vùng này là một cù lao, nằm cách đất liền, phải dùng ghe vào các bến Mỹ Khê, Chợ Mới, Sa Kỳ hay xa hơn là Thị Xã Quảng Ngải và các Thị Trấn Ba Gia, Ðồng Ké, Sông Vê, Ba Tơ.

Từ năm 1993, qua việc xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất nên hải cảng Sa Kỳ đã được mở rộng, đồng thời với con đường , chạy từ cầu Khê Kỳ, qua Cửa Lở tới Kỳ Xuyên. Có lẽ do địa thế sông nước bao quanh, nên từ mấy trăm năm về trước, Các Vị Chúa Nguyễn đã chọn An Vĩnh làm căn cứ , đặt Hải Ðội Hoàng Sa, với nhiệm vụ bảo vệ hải đảo, cũng như khai thác các tài nguyên ngoài Ðông Hải. Ðình làng An Vĩnh trước đây rất đồ sộ, là nơi Xuân thu nhị kỳ cúng tế những người lính Hoàng Sa, nay đả đổ nát chỉ còn lại Chiếc Cổng Tam Quan. Ðiều này đủ để minh chứng với thế giới, việc Quần Ðảo Hoàng Sa-Trường Sa là lãnh thổ lâu đời của Ðại Việt. Người Tàu chỉ ỷ vào sức mạnh cũng như lợi dụng tờ văn khế bán nước của Phạm Văn Ðồng năm 1958 nhưng trên hết là sự đồng thuận của CSVN, để cướp chiếm lảnh thổ nước ta, như sau này chúng đã làm tại biên giới Việt Trung, Biển Ðông, Quần Ðảo Hoàng Sa-Trường Sa và mới nhất là Cao Nguyên Nam Trung Phần qua cái gọi là khai quặng Bau-xít.

Ở đây, hiện còn nhà thờ Cai Ðôi Phạm Quang Ánh, là người được Vua Gia Long cử ra Hoàng Sa năm 1815, đo đạc, khảo sát lộ trình và tổ chức Hải Ðội. Ông được nhà Nguyễn phong chức Thượng Ðẳng Thần khi mất. Tóm lại, từ thời các Chúa Nguyễn (1558-1783), nhà Tây Sơn (1788-1802), Nhà Nguyễn (1802-1945), đã có Hải Ðội Hoàng Sa. Ðặc biệt, năm 1836, Minh Mạng thứ 17, quần đảo Paracel hay bãi cát vàng, được Công Bộ, đặt tên là ‘ Bản Quốc Hải Cương Hoàng Sa Xứ, Tối thị Hiểm Yếu’.

Từ năm 1954, Hoàng Sa là một đơn vị hành chánh thuộc tỉnh Quảng Nam-VNCH, được Tiểu Ðoàn 1/TQLC bảo vệ. Từ năm 1959 tới 1974, Ðảo do các Ðơn Vị DPQ/Quảng Nam trú đóng. Quần Ðảo Trường Sa ở phía Nam, cũng là một đơn vị hành chánh , của tỉnh Phước Tuy và do DPQ của tỉnh này bảo vệ, cho tới ngày 30-4-1975. Hai quần đảo trên luôn được Hải Quân VNCH yểm trợ, tiếp ứng và canh chừng cho tới đầu tháng 1-1974, Hoàng Sa mới mất vào tay Tàu đỏ sau một trãn Hải Chiến kinh hoàng tại Biển Ðông giữa QLVNCH và Trung Cộng.

1. QUẦN ÐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CỦA VN:

Về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo chính sử cũng như những tài liệu của ngoại quốc như Ðại Nam thực lục, Ðại Nam nhất thống chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn, Hoàng Việt địa dư chí thời vua Minh Mạng, Quảng Ngãi tỉnh trí của các Tuần Vũ Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Ðình Chi, Quảng Ngãi nhất thống chí của Lê Ngại.đều đề cập tới và xác nhận đó lãnh thổ lâu đời của Ðại Việt. Với các tác phẩm ngoại quốc, có nhiều thiên ký sự của các giáo sĩ Thiên Chúa trên tàu Amphitrite, viết năm 1701, của Ðô Ðốc Pháp tên là D’Estaing viết năm 1768 rằng :’ Sự giao thông giữa đất liền và các đảo Paracel (Hoàng Sa) rất nguy hiểm, khó khăn nhưng Người Ðại Việt chỉ dùng các thuyền nhỏ, lại có thể đi lại dễ dàng.’ Nhưng quan trọng nhất, là tác phẩm viết về Hoàng Sa của Ðổ Bá tự Công Ðạo, viết năm Chính Hòa thứ 7 (1686), trong đó có bản đồ Bãi Cát Vàng :’ Ðảo phỏng chừng 600 dặm chiều dài và 20 dặm bề ngang. Vị trí nằm giữa cửa Ðại Chiêm và Quyết Mông. Hằng năm vào cuối mùa đông, các chúa Nguyễn Ðàng Trong, cho Hải Ðội Hoàng Sa gồm 18 chiến thuyền đến nơi tuần trú.’ Năm 1776, trong tác phẩm ‘ Phủ Biên tạp lục’, Lê Quý Ðôn đã viết một cách rõ ràng: ’Trước đây, các Chúa Nguyễn đã đặt Ðội Hoàng Sa 70 suất, tuyển lính tại Xã An Vĩnh, cắt phiên mỗi năm vào tháng 2 ra đi, mang theo lương thực 6 tháng. Dùng loại thuyền câu nhỏ, gồm 5 chiếc, mất 3 ngày 3 đêm, từ đất liền tới đảo.’

Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của VN ngay khi người Việt từ đàng ngoài tới định cư tại Phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi vào khoảng thế kỷ thứ XV sau tây lịch. Hai qua72n đảo trên nằm ngoài khơi Ðông Hải : Hoàng Sa ở phía bắc và Trường Sa nằm về cực nam gần Côn Ðảo.

+ QUẦN ÐẢO HOÀNG SA

Nằm giữa hai kinh tuyến đông 111-112 độ và vĩ tuyến bắc 15 độ 45 - 17 độ 05. Ðây là một chuổi đảo gồm 120 hòn lớn nhỏ nhưng qui tụ thành bốn nhóm chính. Muốn tới đảo, nếu khởi hành từ Ðà Nẳng, bằng tau của Hải quân phải mất 10 giờ (chừng 170 hải lý), theo hướng 083. Bốn nhóm đảo chính là :

- NHÓM NGUYỆT THIỀM (CROISSANT): gồm các đảo Cam Tuyền hay Hửu Nhật (Robert), hình tròn, diện tích om2032, là đảo san hô nên có nhiều phốt phát. Toàn đảo chỉ có chim hải âu trú ngụ , tuyệt nhiên không có bóng người. Ðảo Quang Hòa Ðông (Duncan), diện tích 0 km2 48, phía đông đảo là rừng cây phốt phát và nhàn nhàn, phía tây toàn san hô là mơi trú ngụ của chim hải âu. Ðảo Quang Hòa Tây (Palon Island) , hình tròn, diện tích 0km241, trên đảo toàn cây nhàn nhàn và phốt phát , đảo toàn san hô chỉ có chim ở. Ðảo Dung Mộng (Drummond) hình bầu dục, diện tích 0km241, toàn đảo chỉ có nhàn nhàn và phốt phát. Giữa đảo có một vùng đất rộng, thời Ðệ 1 Cộng Hòa trước tháng 11-1963, Tiểu Ðoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến trấn đóng tại đây để bảo vệ lãnh thổ. Hiện trên đảo vẫn cò hai ngôi mộ lính VNCH và 3 ngôi mộ cổ khác với mộ bia viết bằng chử Hán.

Trong số này quan trong nhất vẫn là đảo Hoàng Sa (Pattle) có hình chữ nhật, chu vi 2100m, diện tích 0km230. Ðảo nay đã được khai phá từ lâu đời, nên có nhiều công trình kiến trúc như Ðồn quân trú phòng, Sở khí tượng, Hải đăng và cầu tàu để các chiếm hạm Hải quân/VNCH cập bến. Trên đảo có một ngôi miếu cổ thờ Bà Chúa Ðảo và do một Trung đội Ðịa Phương Quân thuộc Tiểu Khu Quảng Nam trấn đóng.

Ðảo Vỉnh Lạc hay Quang Ảnh (Money) nằm biệt lập không thuộc nhóm đảo Nguyệt Thiềm, hình bầu dục, diện tích 0, 50 km2. Trên đảo toàn nhàn nhàn, phốt phát và một loại cây cao trên 5m, có trái như mít. Toàn đảo không có người ở.

Ðảo Linh Côn (Lincoln) cũng năm biệt lập và đã bị Ðài Loan cưởng chiếm vào tháng 12-1946 khi Trung Hoa Dân Quốc, được lệnh LHQ tới đảo giải giới quân Nhật đang trú đóng trên đảo.

- NHÓM TUYÊN ÐỨC (AMPHITRITE): cũng bị Ðài Loan chiếm năm 1946, nằm về phía bắc đảo Hoàng Sa, gồm 16 đảo nhỏ , trong số này quan trong nhất có đảo Phú Lâm (Woody Island) , dài 3700m, rộng 2800m. Trên đảo có nhiều cây ăn trái như dừa, được Nhật Bổn khai thác phốt phát từ thời Pháp thuộc. Năm 1950, Trung Cộng đánh đuổi Tưởng Giới Thạch chạy ra đảo Ðài Loan, chiếm lục địa và luôn các hải đảo của VN, xây phi trường, làm đường xá, lập căn cứ quân sự. Ðây là nơi giặc Tàu phát xuất, tấn công chiếm các đảo của VN sau này.

* QUẦN ÐẢO TRƯỜNG SA:


Gồm chín đảo lớn nhỏ, nằm giữa hải phận của cac nước VN, Phi Luật Tân, Srawak. Trong số này đảo lớn nhất là Trường Sa (Sparley) , dài 700m, ngang 200m, nằm ở kinh tuyến 114 độ 25 và vĩ tuyến 19 độ 10 bắc. Ðảo cấu tạo bởi san hô, có nhiều hải âu trú ngụ, đẻ trứng rất to. Trên đó có nhiều loại cây ăn trái vùng nhiệt đới như dừa, bàng, mù u, nhàn nhàn, rau sam

2. TRUNG CỘNG CƯỚP CHIẾM HOÀNG SA CỦA VN:

Thật sự người Tàu chỉ chú ý tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN từ đầu thế kỷ XX vì dầu hỏa, khí đốt và vị trí chiến lược của hai đảo trên. Sự tranh dành cướp chiếm bắt đầu từ thời VN bị thực dân Pháp đô hộ, vì mất chủ quyền nên không vòm binh lực để bảo vệ lãnh thổ riêng của mình.

- 1907 Tổng đốc Quảng Châu đòi chủ quyền trên đảo Hoàng Sa.
- 1909 Hải quân Nhà Thanh tới Hoàng Sa hai lần, cắm cờ trên đảo và bắn 21 phát đạn đại bác để thị oai.
-Ngày 30-4-1921 chính quyền Quảng Ðông, ký văn thư số 831 tự động sáp nhập quần đảo Hoàng Sa của VN vào đảo Hải Nam nhưng đã bị Triều đình Huế phản đối dữ dội vào năm 1923.
- Năm 1933 , Pháp vì bị báo chí trong nước phản đối dữ dội, nên đã đem hải quân ra đánh đuổi quân Tàu, chiếm lại quần đảo Hoàng Sa, lập đồn binh, cầu tàu, đài khí tượng trên hai đảo chính Hoàng Sa, Trường Sa.
- Tháng 12/1946 Ðài Loan lợi dụng việc giải giới Nhật, đã chiếm đảo Phú Lâm trong nhóm Tuyên Ðức trong quần đao Hoàng Sa. Ðảo này lại lọt vào Trung Cộng khi Mao Trạch Ðông chiếm lục địa Trung Hoa.
- Ngày 4/12/1950 Chu Ân Lai lớn tiếng đòi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN.
- Năm 1956 Trung Cộng lén lút chiếm thêm đảo Linh Côn trong quần đảo Hoàng Sa, đang thuộc chủ quyền VNCH.
- Ngày 21/12/1959 Hải quân VNCH với sự trợ chiến của Tiểu đoàn 1 Thủy Chiến Lục Chiến , đã đánh Tàu Cộng , chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Duy Mộng, Quang Hòa trong nhóm Nguyệt Thiềm, bắt giữ 84 tù binh và 5 thuyền binh nguy trang tàu đánh cá. Ngày 27/2/1959 Trung Cộng sau khi thua trận, đã ra thông cáo mạt sát Chính phủ VNCH xâm phạm chủ quyền của Tàu, vì chính Hô Chí Minh cũng như Pham văn Ðồng đã chính thức xác nhận bằng văn kiện, là hai quần đảo trên qua tên Tây Sa, Nam Sa là lãnh thổ của Trung Hoa. Tuy nhiên để giữ hòa khí giữa hai nước, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã thả hết số tù binh trên về nước.

Từ ngày 4-9-1958, Trung Cộng vẽ bản đồ mới và tuyên bố lãnh hải của mình là 12 hải lý. Bản tuyên cáo này chỉ có Bắc Hàn công nhận đầu tiên. Tại Bắc Việt, Hồ Chí Minh họp đảng để nhất trí và ban lệnh cho Phạm Văn Ðồng , ký nghị định công nhận ngày 14-9-1958. Ngày 9-1-1974, Kissinger tới Bắc Kinh mật đàm với Mao Trạch Ðông, được cho coi văn kiện mà Phạm Văn Ðồng đã ký xác nhận , hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VNCH, chính là hai đảo Tây Sa-Nam Sa của Tàu. Theo văn kiện và tuyên cáo lãnh hải 12 hải lý, thì chính VNCH đã chiếm đất của Trung Cộng, từ năm 1958, do VC làm chứng và xác nhận. Ðược cơ hội vàng ròng, tên cáo già Kissinger tương kế tựu kế, nhân danh Nixon, bật đèn xanh, cho Mao đánh VNCH, đề thu hồi lãnh thổ.

+ HẢI CHIẾN HOÀNG SA THÁNG 1/1974 GIỮA QLVNCH VÀ TÀU ÐỎ:

Tính đến năm 1974, khi xảy ra trận hải chiến Hoàng Sa, Hải quân VNCH rất hùng hậu với quân số trên 40.000 người (sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ) , phân thành 5 vùng duyên hải và 2 vùng sông ngòi. Hải quân có một hạm đội gồm 83 chiến ham đủ loại. Ðể bảo vệ các sông ngòi, kênh rạch ở Nam phần, Hải quân đã thành lập 4 Lực lượng dặc nhiệm hành quân lưu động, gồm LL tuần thám 212, LL thủy bộ 211, LL trung ương 214 và LL đặc nhiệm 99. Ngoài ra còn Lực lượng Duyên phòng 213, Liên đoàn Tuần giang, 28 Duyên đoàn, 20 Giang đoàn xung phong, 3 Trung tâm Huấn Luyện Hải quân và nhiều căn cứ yểm trợ khắp nơi. Khi xảy ra cuộc hải chiến, Ðề đốc Trần Văn Chơn là tư lệnh Hải quân. Tóm lại Hải quân VNCH rất hùng mạnh trong vùng Ðông Nam Á.

Ngay từ thời thượng cổ , người Tàu luôn kính nể dân Việt vì ‘ họ tuy ở núi mà rất thạo thủy tánh, láy thuyền làm xe, lấy chèo làm ngựa. Ðến thì như gió thoảng, đi thì khó đuổi theo. Tính tình khinh bạc, hiếu chiến, không bao giờ sợ chết và luôn luôn quật khởi với kẻ thù ‘.Bởi vậy suốt dòng lịch sử , Hải quân Việt đã ba lần oanh liệt chiến thắng quân Tàu trên Bạch Ðằng Giang và sông Như Nguyệt. Sau năm 1975, nhiều tài liệu mật nhất là của Mỹ được bạch hóa, trong đó có tương quan lực lượng hải quân giữa Trung Cộng vùng đảo Hải Nam so vớo Hải quân của VNCH thì thua xa và rất yếu. Tình trạng này tới năm 1979 tình trạng quân sự của Trung Cộng vẫn còn lạc hậu, cho nên khi Ðặng Tiểu Bình muốn dạy VC một bài học về quân sự, lại bì thằng đàn em phản bội đá giò lái. Nhưng dù bị Mỹ dùng viện trợ ngăn cản, đâm sau lưng, Hải quân VNCH trong suốt hai mươi năm (1955-1975) , đã anh dũng giữ vững lảnh hải của đất nước một cách gần như trọn vẹn, trước sự dòm ngó tranh dành hải đảo của cac nước Trung Cộng, Ðài Loan, Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Nam Dương và Kampuchia..

Sau khi đạt được thắng lợi ngoại giao với Hoa Kỳ qua cặp Nixon-Kissinger, đồng thời với sự đồng lỏa của Việt Cộng, nên giặc Tàu quyết tâm chiếm cho bằng được hai quần đảo ngoài Ðông Hải của VNCH. Dã tâm càng lớn từ năm 1973, sau khi được tin các hảng dầu thăm dò cho biết vùng này có trử lượng rất lớn về dầu khí. Lúc đó VNCH cũng đã bắt đầu ký nhiều hợp đồng, cho phép các hảng dầu tới hai vùng đảo trên khai thác.Thế là ngày 11-1-1974, Trung Cộng lại tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa. Ngày 19-1-1974, bất thần Trung Công tấn công Hoàng Sa, gây nên trận hải chiến, tuy ngắn ngủi nhưng đẫm máu. Trung Cộng dù chiếm được đảo nhưng thiệt hại gấp 3 lần VNCH.

Quần đảo Hoàng Sa thời Ðệ I Cộng Hòa (1955-1963) thuộc tỉnh Quảng Nam. Cũng trong thời kỳ này, chính phủ đã ban hành sắc lệnh số 134/NV ban hành năm 1956, sáp nhập quần đảo Trường Sa, vào tỉnh Phước Tuy. Nghị định số 241/BNV ban hành ngày 14-12-1960, do chính Tổng thống Diệm bổ nhiệm Nguyễn Bá Thước làm Phái viên hành chánh Hoàng Sa. Lại phối trí Tiểu đoàn 1 TQLC trú đóng khắp các đảo, để bảo vệ lãnh thổ VNCH.

Theo sử liệu, trong trận hải chiến này, lực lượng hải quân của Trung Cộng rất hùng hậu vì đã chuẩn bị trước. Thành phần tham chiến gồm : Hộ tống hạm 271 Kronstadt, Ðại Tá Vương Kỳ Uy là hạm trưởng, tử thương. Hộ tống hạm 274 Kronstadt, Hạm trưởng là Ðại Tá Quan Ðức. Ðây cũng là Soái hạm, chỉ huy trận chiến, gồm Tư lệnh là Ðô Ðốc Phương Quang Kính, cũng là Phó tư lệnh của Hạm Ðội Nam Hải. Sau trận đánh, toàn bộ chỉ huy của Trung Cộng trên Soái Hạm này, gồm 2 Ðề Ðốc, 4 Ðại Tá, 6 Trung Tá, 2 Thiếu tá và 7 Sĩ Quan Cấp uý, đều bị trúng đạn đại bác tử thương. Trục lôi hạm 389, hạm trưởng là Trung Tá Triệu Quát tử thương. Trục lôi hạm 396, Hạm trưởng là Ðại Tá Diệp Mạnh Hải, tử thương. Phi Tiễn Ðỉnh 133 Komar, có hỏa tiễn địa điạ Styx, Hạm trưởng là Thiếu tá Tôn Quân Anh. Phi tiễn đỉnh 137 Komar, có hỏa tiễn địa địa Styx, Hạm trưởng là Thiếu Tá Mạc Quang Ðại. Phi tiễn đỉnh 139 Komar có hỏa tiên, Hạm trưởng là Thiếu tá Phạm Quy. Phi tiễn đỉnh 145 Komar có hỏa tiễn, Hạm trưởng là Thiếu Ta Ngụy Như và 6 Hải Vận Hạm chở quân chiến đấu. Ngoài ra còn một lực lượng trừ bị gồm 2 Tuần Dương Hạm, 4 Pháo Hạm, 4 Khu trục Hạm , trang bị hỏa tiễn Kiangjiang, 2 Phi đội Mig 19 và 2 phi đội Mig 21, do tư lệnh Hạm Ðội Nam Hải, tổng chỉ huy.

Bên VNCH, lực lượng tham chiến gồm Khu Trục Hạm HQ4 Trần Khánh Dư, Hạm Trưởng Trung Tá HQ.Vũ Hữu San. Tuần Dương Hạm HQ5 Trần Bình Trọng , Hạm trưởng Trung Ta HQ Phạm Trọng Quỳnh. Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10, Hạm Trưởng Thiếu Tá HQ.Ngụy Văn Thà. Trong khi giao chiến, HQ10 bị trúng đạn, toàn thể thủy thủ xuống xuồng nhỏ, thì Hạm Trưởng ở lại tuấn quốc với chiến hạm. Tuần Dương Hạm HQ16, Hạm Trưởng là HQ.Trung Tá Lê Văn Thư. Về lực lượng trừ bị,, có Tuần Dương Hạm HQ6 Trần Quốc Toản, Hộ Tống Hạm HQ11 Chí Linh và Phi Ðoàn F5-A37, nhưng vì ở cách xa chiến trường, nên khi chưa tới nơi, thì chiến cuộc đã tàn. Riêng Sư Ðoàn 1 Không Quân, không can thiệp.. Kết quả, phía VNCH, các chiến hạm 4,5 và 16 bị hư hại nặng nhưng chạy được về Ðà Nẳng sửa chữa và tiếp tục hoạt động sau đó. Chỉ có Chiến Hạm HQ10 bị chìm, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà, bị thương nhưng quyết ở lại chết với tàu. Về phía Trung Cộng, Tư Lệnh Mặt Trận, Bộ Tham Mưu và 4 Hạm Trưởng tử thương. Hộ Tống Hạm 274 bị chìm, Hộ Tống Hạm 271 và 2 Trục lôi hạm 389-396 bị hư nặng và phá hủy cùng với 4 ngư thuyền bị bắn chìm

Có một điều bi thảm mà hiện nay ai cũng biết, là hầu hết các Chiến hạm mà Hoa Kỳ đã viện trợ cho Hải Quân VNCH, đều được hạ thủy năm 1940, loại phế thải được tân trạng. Bốn Chiến hạm tham chiến năm 1974, được coi là tối tân nhất , vì HQ4 hạ thủy năm 1943, HQ5 hạ thủy năm 1944, HQ10 hạ thủy năm 1942 và HQ16 hạ thủy năm 1942. Riêng các vũ khí trên tàu, các loại súng liên thanh đều được gở bỏ , khi cho VNCH. Nhưng dù quân lực Miền Nam ít, chiến hạm vừa cũ kỹ lại nhỏ, vũ khí trang bị, chỉ có đại bác nhưng vì Các Sĩ Quan Hải Quân VNCH đều được huấn luyện như Âu Mỹ, rất thiện chiến và tài giỏi. Cho nên đã tác xạ rất chính xác, làm nhiều tàu giặc cũng như Hạm trưởng tử thương. Tệ nhất là người Mỹ, lúc đó vẫn còn là đồng minh của QLVNCH, vẫn đang có hiệp ước hỗ tương chiến đấu và bảo vệ cho nhau. Vậy mà khi cuộc chiến xảy ra, Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ đang tuần hành gần đó, chẳng những đã không lên tiếng, không can thiệp mà ngay thủy thủ VNCH bị chìm tàu,, cũng không thèm cứu vét, theo đúng luật hàng hải quốc tế.

Theo các nhân chứng đã tham dự cuộc hải chiến kể lại, thì lúc đó các chiến hạm của Hải quân/VNCH , đã chống trả với giặc rất dũng mãnh, nên chỉ trong mấy phút đầu, đã có nhiều tàu chiến của Trung Cộng đã bị bắn chìm. Về phía VNCH, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HO.16, bị bắn trúng bánh lái và sườn tàu, được HQ.11 dìu về Ðà Nẳng. Trên chiến trường lửa máu, chỉ còn HQ.10 và Hộ tống hạm Nhật Tảo, vùng vẩy chiến đấu vời hằng chục chiến hạm của Trung Cộng, được Không quân từ các căn cứ trên dảo Hải Nam tới yểm trợ.

Cuối cùng Hộ tống hạm Nhật Tảo đã bị bắn cháy và chìm giữa biển Ðông. Hạm trưởng chiến hạm này là Trung Tá HQ.Ngụy Văn Thà,tốt nghiệp khóa 12 sĩ quan hải quan Nha Trang, sinh năm 1943 tại Trảng Bàng, Tây Ninh. Khi tàu lâm nạn, với tư cách là chỉ huy trưởng, Trung Tá Thà đã ra lệnh cho Hạm Phó là Thiếu Tá HQ. Nguyễn Thành Trí, sinh năm 1941 tại Sa Ðéc, Tốt nghiệp khóa 17 sĩ quan hải quân/Nha Trang, hướng dẫn số quân nhân còn sống sót, trong tổng số 80 người trên tàu, dùng bè cao su về đất liền. Riêng Ông ở lại chết với tàu.

Trên biển, Thiếu tá Trí vì bị thương nặng nên đã chết trên bè, trước khi các quân nhân còn lại, được thương thuyền Skopionella của Hòa Lan, trên đường từ Hồng Kông đi Tân Gia Ba, cứu sống vào đúng đêm giao thừa Tết âm lịch Nhâm Dần (1974). Sau đó 22 quân nhân này được một chiến hạm cũa Hải Ðội 1 Duyên Phòng, đón về đất liền. Còn 16 Biệt Hải của Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt, có lệnh giữ đảo Vĩnh Lạc, sau khi Hòang Sa thất thủ, đã dùng bè cao su vượt biển về đất liền. Lênh đênh nhiều ngày trên sóng nước, nắng mưa gió lạnh, cuối cùng cũng được một Tàu đánh cá cứu thoát đưa về điều trị tại Quân Y Viện Qui Nhơn, 2 người chết vì đói lạnh, số còn lại may mắn thoát được tử thần.

Cuộc hải chiến chấm dứt, các chiến hạm của VNCH đều rút lui, vì Hoàng Sa đã thất thủ. Bấy giờ giặc Tàu mới bắt đâu thu dọn chiến trường và xua quân chiếm đóng tất cả các đảo. Về phía VNCH còn kẹt lại trên đảo, gồm Trung đội DQP.Quảng Nam, các quân nhân Hải quân, 7 Sĩ quan công binh trong toán khảo sát địa chất, 4 nhân viên sở khí tượng và 1 người Mỹ làm việc ở Tòa lãnh sự Hoa Kỳ thuộc Quân đoàn 1. Tổng cộng là 42 người, đều bị giặc bắt làm tù binh, giải về thành phố Quảng Châu và giam trong một trại tù, cạnh dòng sông Sa Giang. Ðây cũng chính là nơi mà hơn mấy chục năm về trước, liệt sĩ Phạm Hồng Thái đã gieo mình tự vẫn, để không bị sa vào tay giặc Pháp, sau khi ném bom ám sát hụt Merlin, toàn quyền Ðông Dương đang có mặt tại Hồng Kông.

Lúc đó đúng 8 giờ sáng ngày mồng một tết nguyên đán, thời gian hạnh phúc nhất của các dân tộc Á Ðông vui xuân theo âm lịch, trong đó có VNCH. Riêng 42 tù binh VN liên tục bị bọn an ninh Trung Cộng , tra vấn, bắt buộc phải nhận tội là đã chiếm đóng bất hợp pháp lãnh thổ của Tàu. Nhưng rồi không biết vì sao, Ðặng Tiểu Bình ra lệnh phóng thích tất cả, đưa tới Hồng Kông để mọi người hồi hương.

Lịch sử lại tái diển, ngày 14-3-1988, Trung Cộng lại nổ súng vào Hải quân Việt Cộng, tại quần đảo Trường Sa. Trong cuộc hải chiến ngắn ngủi này, vì VC chỉ phản ứng có lệ, nên tài liệu cho biết phía Trung Cộng , không có ai bị tử thương cũng như tàu chìm. Ngược lại, bên VC có nhiều tàu chiến bị chìm, gồm : Chiến Hạm Thượng Hải của Tàu viện trợ , 1 Tuần Dương Hạm củ của VNCH để lại, 1 Hải Vận Hạm của Nga Sô viện trợ và trên 300 lính Hải quân bị thương vong.

Từ sau ngày 30-4-1975 chiếm được cả nước VN, đảng VC lúc nào cũng rêu rao khoắc lác về độc lập tự do, vẹn toàn lãnh thổ. Thế nhưng mọi sự đã lộ nguyên hình, khi thành tích bán nước cho Tàu, phản bội quê hương bị toàn dân trong và ngoài nước phanh phui nguyền rủa. Nhờ đó, mà những cái loa Việt Gian bợ đít VC từ bấy lâu nay tại hải ngoại, mới chịu khép miệng, vì không còn biết đâu mà mò.

Theo đó, ta biết trong năm 1999 và 2000, bọn chóp bu đảng gồm Ðổ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Ðức Mạnh, Trần Ðức Lương, Phan Văn Khải, Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Minh Triết và nhất là Nguyễn Tấn Dũng cùng toàn lũ trong Chính trị Bộ, đã lén lút , ký kết 2 Hiệp Ước bất bình thường, vô lý, phản bội dân tộc, trong sự Bán Ðất Biên giới và Bán Vịnh Bắc Phần, cho giặc Tàu

Từ năm 1884, Pháp coi như chính thức đô hộ VN. Từ đó thực dân độc quyền ký kết , các hiệp ước song phương và những công ước quốc tế, về luật biển, hải đảo cũng như biên giới giữa các nước. Năm 1885, Pháp ký với Mãn Thanh hiệp ước Thiên Tân, hủy bỏ sự liên hệ giữa Nhà Nguyễn VN và Trung Hoa, hủy bỏ ấn phong vương, phân định lại đường ranh giới bằng cọc cắm và bản đồ. Năm 1887, Pháp và Trung Hoa lại ký Hiệp Ước Brévié, phân ranh vùng Vình Bắc Phần, từ Trà Cổ (Móng Cáy), dọc theo kinh tuyến Ðông 108. Theo đó, phía tây đảo Bạch Long Vĩ là lãnh hải của VN, phía đông là của Trung Hoa. Về sự tranh chấp hai quần đảo Hoàng SaTrường Sa, cũng được quốc tế giải quyết năm 1882, theo công ước luật biển. Tháng 11-1993, công ước trên được LHQ phê chuẩn và thi hành vào năm 1994, với 170 quốc gia công nhận, trong đó có Trung Cộng và VC. Tóm lại đảng VC đã dối trá quốc dân VN, lén lút họp kín với Giặc Tàu trong 20 phiên họp kín. Rồi cũng tự động bí mật ký kết, còn quốc hội VC thì cũng lén lút thông qua.

Tóm lại, tất cả những ký kết điều hoàn toàn sai trái về pháp lý quốc tế và đạo lý dân tộc, đi ngược lại truyền thống hòa bình, tự chủ, không lấy thịt đè người của bản tuyên ngôn nhân quyền. Tất cả đều là những âm mưu xâm lăng, hay nói đúng hơn chính Hồ Chí Minh và đảng VC đã rước voi Tàu về dầy mã Việt, ngay từ khi bắt đầu nhận viện trợ của Trung Cộng năm 1950 cho tới cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2 (1960-1975) chấm dứt. Trung Cộng lợi dụng quân viện và nhất là trong cuộc chiến biên giới năm 1979 giữa Việt-Trung, đã xua hàng triệu dân Tàu gốc thiểu số tại các tỉnh biên giới, lấn đất dành dân, sâu trong nội địa VN. Theo báo chí ngoại quốc, VC đã bán cho Trung Cộng tại biên giới Việt Hoa, hơn 15.600 km2 và 20.000 km2 lãnh hải trong vịnh Bắc Phần.. Như vậy tại Miền Bắc, ngày nay VN đã mất hẳn những địa danh hồn thiêng sông núi như Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, và Ðồng Ðăng với Phố Kỳ Lừa

Từ năm 1930 tới nay, Hồ Chí Minh và đảng VC, chỉ vì lợi lộc cá nhân và đảng hệ, mà cõng voi về đầy xéo đất nước, làm cho voi quen đường, chẳng những lấn đất dành biển, mà còn ngổ ngáo sử dụng một mình một chợ thượng nguồn các con sông thiêng của VN, từ sông Hồng, sông Ðà, Lô, Thái Bình ở Bắc Phần cho tới sông Cửu Long tại miền Nam, khiến cho nước ta, từ hăm chin năm nay, chịu không biết bao nhiêu thiên tai bảo lụt, thiệt hại mùa màng tật bệnh, vì những hiện họa của Tàu đổ xuống các dòng sông, theo nước xuống tận đồng bằng sông Cửu Long và ra biển. Rồi đây, VN sẽ lãnh tất cả những chất độc như Cyanide, arsenic, acid.. từ các quặng mỏ trong tỉnh Vân Nam, đổ xuống dòng sông Mekong ra biển. Chưa hết, Trung Cộng chẳng những đã xây các đập thủy điện khổng lồ tại Mãn Loan, Cảnh Hồg, Ðại Chiến Sơn.. và Hồ chứa nước Lạn Thương Giang, trên sông Mêkong. Mà còn xúi các nước Thái, Miến, Lào cũng góp phần làm hủy hoại tận tuyệt con sông thiêng, khiến cho một ngày đó, phù sa sẽ không còn bồi đắp Mũi Cà Mâu và hủy diệt toàn bộ thủy tộc trên biển đông, vì hệ sinh thái cạn kiệt.

Dân chúng VN bao đời sống nhờ biển cá, VC ngày nay đem biển bán cho giặc Tàu, khiến cho nguồn lợi thủy sản bị hao hụt trầm trọng, tài nguyên dưới đáy biển bao đời, nay thuộc về ngoại bang.

Tháng 1-2005, ngư dân tỉnh Thanh Hóa, như thường lệ hành nghề trong lãnh thổ của tổ tiễn tại Vịnh Bắc Việt nhưng đã bị lực lượng quân sự của Trung Cộng bắn giết một cách tàn nhẫn tận tuyệt, bất chấp lòng nhân đạo và luật lệ của quốc tế. Sự cố đau lòng tủi nhục trên, khiến cho cả nước kể cả hải ngoại, ai cũng rớt nước mắt vì thường đồng bào mình, cũng như thân phận nhược tiểu VN và kiếp đời nô lệ dưới thiên đường xã nghĩa. Thì ta VC đã đồng thuận với Trung Cộng, cố tình dàn ra một bẩy để ngư dân sụp và coi như chuyện đã có không cần phải giải thích hay thông báo gì gì, cho tất cả người trong nước biết, là từ nay cấm bất cứ ai, không được bén mảng, tới nơi chốn, mà hai đảng đã mua bán xong xuôi, nếu không bị Trung Cộng giết hay cướp bóc tài sản, thì ráng chịu. Rồi nay mai, Trung Cộng sẽ khai thac dầu hỏa trong vịnh Bắc Phần, nạn tràn dầu, ô nhiễm chất phế thải sẽ khiến cho đồng bào duyên hải gánh chịu. Ðó là chưa nói tới, ngư dân sẽ bị Tàu cấm hành nghề , vì biển củ đả bị đảng bán cho giặc, vịnh Bắc Việt trở thành Vịnh Hải Nam của người Tàu.

Năm 1473, khi Thái bảo kiến dương bá Lê Duy Cảnh, được giao nhiệm vụ trấn giữ Ải Nam Quan, Vua Lê Thánh Tông đã ân cần nhắn gửi người ra đi :’ Một thước núi, một tấc sông của ta, không được bỏ. Nếu ngươi làm mất, tội đó phải tru di’. Lý Thường Kiệt khi đại chiến với quân Tống, dã viết ‘ Nam Quốc Sơn Hà, Nam Ðế Cư’ xác quyết đất đai của người Việt muôn đời là của Nước Việt, không có ai được quyền xâm lấn hay bán nhượng. Trái lại VC thì lúc nào cũng to miệng nhục mạ nhà Nguyễn, vua Gia Long là cõng rắn cắn gà nhà, quy tội cho người Việt không cọng sản là Việt gian, Mỹ Ngụy.. Nhưng cuối cùng, khi Pháp rời Ðông Dương năm 1955, đã trả lại sông núi cho người Việt, không thiếu một tất đất, kể cả những cơ sở, đồn điền cũng giao hoàn. Suốt thời gian nội chiến 1955-1975, VNCH không hề bán nhượng cho Hoa Kỳ một cọng cỏ vì tới sáng ngày 30-4-1975, Mỹ đã rút hết về nước. Trái lại VC trong suốt bao năm, làm đủ chuyện phản tặc, từ công nhận Hoàng Sa-Trường Sa là của Tàu, rồi tiếp tục bán nhượng đất đai, sông núi của Tổ Quốc, đó là chưa nói tới, cái sự đem đất thế chấp làm vốn, để đầu tư với Tư bản kiếm tiền bỏ túi.

Trước năm 1975, lúc nào cũng nói VNCH tham nhũng, độc tài, Diệm-Nhu, Thiệu ốKỳ chạy theo Mỹ, nay rõ ràng hơn chính đảng VC và Hồ Chí Minh, mới đích thực sự là đầy tớ, hết Nga tới Tàu, nay sắp bỏ chân qua Mỹ-Nhật. Còn Cán bộ đảng thì tham nhũng, hốt trọn tài sản của dân nước, chuyển hết ra nước ngoài, rửa tiền , đầu tư, làm giàu và hưởng thụ, ai chết mặc bây. Ðó chính là thành tích lịch sử của Ðảng VC trong ba mươi năm quốc hận.

Mạnh được yếu thua là phương châm xử thế lâu đời của Trung Hoa. Bởi thế qua suốt mấy ngàn năm lập quốc, vì thái độ trên đã làm cho nước Tàu loạn lạc triền miên hầu như thời nào cũng có. Tóm lại người Hán dù là ai chăng nửa, chắc sẽ chẳng bao giờ quên đuợc nổi hận nhục trong thời gian nước Tàu bị liệt cường xâu xé từng mảnh. Người Anh đã chiếm Hồng Kông làm thuộc địa, còn Thượng Hải là tô giới. Tại đâythực dân đã lập bảng niêm yết nghiêm cấm, không cho người Hoa và Chó vào vườn hoa hay những nơi công cộng, dành cho người ngoại quốc. Trước cảnh đau hận của dân tộc Hán, một học giả Nhật đã cảm khái viết :

'Á lục tiên hiền, ưng nhất tiếu
Anh nhân diệt hoản, sở cầm tù
Tùng kim hoán cải, công viên bảng
bất cám Anh nhân, cập cẩu lai ‘.

Liên Bang Sô Viết nay đã tan rã, chỉ còn lại đế quốc Trung Hoa là một tập hợp của nhiều vùng đất của các dân tộc Mãn, Mông, Tạng, Hồi và Bách Việt , bị người Hán xâm lăng và cưởng chiếm . Một đất nước mênh mông với hàng ngàn dân tộc dị chủng, luôn mang thù hận và nghi kỵ, Trung Hoa không sớm thì muộn cũng sẽ bị tan rã như các đế quốc La Mã, Ai Cập, Thổ Nhỉ Kỳ, Mông Cổ, Hung Nô và gần nhất là Ấn Ðộ, Nam Tư và Liên bang Sô Viết.

Dân tộc Việt trong dòng sông lịch sử, cũng đã chấp nhận luật chơi ‘ mạnh được yếu thua’, cho nên nay vì bất hạnh bị đảng VC hèn mạt cầm quyền, đã phải liên tục mất mát đất đai biển đảo vào tay giặc Tàu. Nhưng lịch sử luôn là sự trùng hợp, chắc chắc con cháu người Việt trong tương lai gần, se quật khởi chiếm lại tất cả lãnh thổ. kể cả hai quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bị VC dâng bán cho giặc khi cầm quyền. Thời nhà Trần, quân Ðại Việt dưới tài lãnh đạo của các vua Trần và Hưng Ðạo Ðại Vương, một lòng tử chiến nên cuối cùng đã chiến thắng quân Mông-Nguyên ba lần, khi chúng xâm lăng Ðại Việt. Nhờ vậy :ngày nay ta mới có :

‘ Nam quốc sơn hà, Nam đế cư
tiệt nhiên định phận tại thiên thư
như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
nhữ đẳng hành khan thử bại hư ‘

Thương biết bao những anh hùng vị quốc, trong đó có những chiến sĩ Hải quân năm nào, đã anh dũng chống giặc Tàu xâm lăng, như tổ tiên ta đã bao đời banh thây đổ máu để có ‘ Nam quốc sơn hà, nam đế cư ‘ Ðảng CSVN bây giờ đã trốn hết trách nhiệm bảo vệ đất nước và sự tồn vong của dân tộc, chỉ biết cuí đầu tuân phục theo mệnh lệnh của Tàu Cộng ,độc tài độc ác, tham nhũng thối nát và mãi quốc cầu vinh một cách công khai thách đó cả nước qua hành động điên rồ khi rước kẻ thù không đội trời chung là Tàu Cộng vào Cao Nguyên Nam Trung Phần, qua cái gọi là ‘ khai quặng Bau-xít ‘

Nhưng giờ đây thế giới đã thấy rỏ, đồng bào trong và ngoài nước cũng thấy rõ. Cho nên mọi người đều nổi giận trước hành động bán nước công khai của đảng VC. Bởi vậy sớm muộn gì cả nước cũng sẽ đứng dậy để lật đổ ngụy quyền Hà Nội, dành lại quyền làm chủ đất nước, quyền chống lại sự xâm lăng của giặc Tàu. Lịch sử đã từng minh chứng ‘ không có một kẻ thù hay đế quốc nào có thể tồn tại ở VN khi cả nước đoàn kết quyết tâm chống giặc thù ‘.

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 4-2009
Mường Giang



Tình nghĩa loài chim VS Tình nghĩa csVN với người dân

    Tình nghĩa loài chim
Here his wife is injured and her condition is fatal.
She was hit by a car as she swooped low across the road.



Here he brought her food and attended to her with love and compassion.


He brought her food again but was shocked to find her dead.
He tried to move her....a rarely-seen effort for swallows!


Aware that his sweetheart is dead and will never come


Back to him again, he cries with adoring love.
He stood beside her, saddened of her death.


Finally aware that she would never return to him, he
Stood beside her body with sadness and sorrow.


Millions of people cried after watching this picture in America and Europe and even in India ...
It is said that the Photographer sold these pictures for a nominal fee to the Most famous newspaper in France.

All copies of that newspaper were sold out on the day. These pictures were published.
And many people think animals don't have a brain or Feelings?
    Đây Tình nghĩa csVN với dân oan Huyện Kiên Lương
Dân Oan Huyện Kiên Lương Cương Quyết Bảo Vệ Đất








Cảnh sát cơ động chuẩn bị đàn áp dân.






Cảnh sát cơ động đàn áp dân oan.



Cảnh sát cơ động dùng chó uy hiếp dân



Những viên đạn CSCĐ bắn dân được thu gom lại tại hiện trường


Dân Oan Huyện Kiên Lương, Tỉnh Kiên Giang