Sunday, April 12, 2009

Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng NSW Úc châu - Thanh Hà


Thanh Hà

Để tưởng nhớ đến công ơn dựng nước và giữ nước của tổ tiên, Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu tiểu bang NSW Ủy Ban Văn Hóa và Giáo Dục tổ chức Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương vào lúc 2 giờ chiều thứ Bảy ngày 11 tháng Tư năm 2009 tại Trung Tâm Văn Hóa Sinh Hoạt Cộng Đồng với sự tham dự đông đảo của quý đồng hương, quý vị đại diện các hội đoàn đoàn thể, quý thân hào nhân sĩ, quý cơ quan truyền thông, báo chí. Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương đã được cử hành long trọng theo nghi lễ cổ truyền của dân tộc.

Bắt đầu lúc 2 giờ chiều, từ cổng tiền đường của Trung Tâm Văn Hóa Sinh Hoạt Cộng Đồng, Luật Sư Võ Trí Dũng Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tiểu bang NSW và quý quan khách trong quốc phục cổ truyền dân tộc cử hành nghi thức rước Linh Vị Quốc Tổ tiến vào trong Hội Trường đặt trước bàn thờ. Kế tiếp, đội múa lân Đồng Tâm biểu diễn múa lân bái lạy Bàn Thờ Quốc Tổ và kính chào quý quan khách.

Chương trình do ông Phan Đông Bích, cựu Chủ Tịch CĐNVTD/NSW, điều hợp. Khởi đầu là nghi lễ chào cờ Úc Việt và phút mặc niệm, đặc biệt tưởng nhớ Quốc Tổ Hùng Vương gồm 18 đời Vua Hùng trong 2622 năm đã có công giữ nước và dựng nước. Sau nghi lễ chào Quốc kỳ và phút mặc niệm, Luật sư Võ Trí Dũng Chủ Tịch CĐNVTD/NSW ngỏ lời chào mừng quan khách đến tham dự, qua lời phát biểu đầy đủ ý nghĩa thể hiện qua câu “Cây có Cội, Nước có Nguồn, Chim có Tổ, Người Có Tông” vì thế tất cả người Việt tỵ nạn CS khắp nơi đều luôn ghi nhớ công ơn tiền nhân đã dầy công giữ nước và dựng nước, đây là bổn phận và là sự suy nghĩ của mỗi người đối với Quốc Gia và Dân Tộc, do đó ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương luôn luôn được cử hành một cách trang trọng nhất.

Sau đó ông Nguyễn văn Giáo, cựu Phó Chủ Tịch CĐNVTD/NSW đặc trách Văn Hóa Giáo Dục, chia sẻ về ý nghĩa Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương. Trong bài phát biểu, ông đã đề cập đến hai mục đích của ngày Giỗ Tổ: nhắc nhở thế hệ trẻ lịch sử khai phá đất nước của dân tộc Việt, đồng thời tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn tiền nhân. Với lối trình bày kinh nghiệm của ông, qua hai ngôn ngữ Anh-Việt ông giải thích rất cặn kẽ những tích sử và sĩ khí của tổ tiên chúng ta về hình ảnh giang sơn gấm vóc của nước Việt Nam trải dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, sự tích Lạc Long Quân, sự tích Trầu Cau, chuyện Thánh Gióng, lịch sử 18 đời Vua Hùng.

Tiếp đến là phần phát biểu của thế hệ thứ hai sinh trưởng tại Úc Châu là em Victoria Phan Anh Thư. Em là một trong những học sinh Việt Nam xuất sắc trong kỳ thi tốt nghiệp Trung Học năm 2008 của tiểu bang NSW với kết quả UAI trên 99%. Em Phan Anh Thư và một số các bạn trẻ đã được Ban Chấp Hành CĐNVTD/NSW trao giải thưởng kỳ thi tốt nghiệp Trung Học tại Hội Chợ Tết Kỷ Sửu 2009. Em Anh Thư nói lên cảm nghĩ của em trong ngày lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương trọng đại và đầy ý nghĩa:

“Con tên Phan Anh-Thư, vừa tốt nghiệp HSC và hiện nay đang theo học năm Thứ Nhất ngành Y Khoa trường đại học New South Wales, Sydney. Con được sinh ra và lớn lên ở nước Úc, nhưng con đã được ông bà, cha mẹ nuôi dưỡng và dạy dỗ theo phong tục và lễ giáo của người Việt Nam. Cha mẹ chúng con và thầy cô ở trường Việt Ngữ đã dạy chúng con đọc, viết và nói tiếng Việt cùng những bài học về lịch sử oai hùng của đất nước Việt Nam.

Nguồn gốc của người Việt Nam thuộc dòng giống Rồng Tiên, Cha Lạc Long Quân cùng mẹ Âu Cơ đã sinh ra một trăm con và từ đó đất nước Việt Nam được hình thành qua 18 đời Vua Hùng Vương. Phong tục và lễ giáo của người Việt Nam dạy cho chúng con biết thờ kính ông bà, hiếu thảo với cha mẹ, với anh chị em trong gia đình, phải luôn thương yêu hoà thuận với nhau. Ngoài xã hội chúng con phải biết đoàn kết và tôn trọng mọi người.

Con luôn ghi nhớ công lao dựng nước của các vị vua Hùng Vương. Hình ảnh oai hùng của Hai Bà Trưng, những nữ nhi can đảm đã cứu nước khỏi quân Nam Hán vào thế kỷ Thứ Nhất. Con ngưỡng phục Đức Trần Hưng Đạo đã khôn ngoan chiến thắng quân Nguyên…

Tuổi trẻ chúng con tuy không được sinh ra và lớn lên ngay trên quê hương VN, nhưng chúng con luôn ghi nhớ mình là dòng dõi người Việt Nam và rất hãnh diện với những trang lịch sử bất khuất của một dân tộc luôn yêu thương hòa bình, tự do, độc lập và dân chủ.

Sau biến cố 1975, cộng đồng người Việt tỵ nạn CS đã định cư và hội nhập nhanh chóng vào xã hội đa văn hóa Úc Châu và đã thành công trong việc đóng góp vào nền kinh tế và nhiều hoạt động xã hội và văn hóa trong xã hội Úc.”

Em nhấn mạnh đến những nỗ lực của các thế hệ tiếp nối:

“ ....Con hãnh diện là con, là cháu của người Việt Nam tại Úc. Những anh chị cô chú trước con cũng đã noi gương ông bà, cha mẹ, với truyền thống cần mẫn của người Việt đã thành công rực rỡ trong nhiều lãnh vực từ Trung Học, Đại Học ra đến Xã Hội. Tuy nhiên, thế hệ trẻ Việt Nam cần được khuyến khích nhiều hơn nữa trong việc tham gia vào lãnh vực chính trị trong xã hội Úc.”

Em nói tiếp:

“ ....Chúng con sẽ tiếp nối dòng máu oai hùng của Con Rồng Cháu Tiên. Chúng con nguyện dùng những khả năng, những cơ hội mà chỉ thế hệ chúng con mới được hưởng, để đóng góp cho đất nước Úc, mang vinh dự về cho cộng đồng người Việt, đền đáp lại công lao của cha mẹ ông bà. Nhân ngày lễ giỗ Tổ Hùng Vương, con cầu nguyện Tổ Tiên dòng giống Việt Nam hiển linh phù hộ cho đất nước Việt Nam mau thoát khỏi thảm họa Cộng Sản để người dân Việt tại quê nhà bớt lầm than, cơ cực và thế hệ trẻ Việt Nam chúng con tại hải ngoại sớm có cơ hội đóng góp một phần xây dựng một nước Việt Nam Tự Do, Độc Lập và Dân Chủ.”

Vừa dứt lời, em Victoria Phan Anh Thư với hai ngôn ngữ Anh-Việt rất lưu loát đã nhận được những tràng vỗ tay khen thưởng.

Trước khi bước vào phần Nghi Lễ chính thức, Ban hợp ca Hương Quê trình bày nhạc phẩm “HÙNG VƯƠNG DỰNG NƯỚC” của Nhạc Sĩ Thẩm Oánh. Tất cả quan khách đồng hương tham dự cùng cất cao tiếng hát theo nhịp điệu oai hùng:

“Bốn nghìn năm văn hiến, nước Nam khang cường là nhờ công đức Hùng Vương....”

Trong không khí trang nghiêm với ba hồi chiêng trống do Hội Thân Hữu Cao Niên Việt Nam NSW đảm trách, Ban Tế Lễ gồm 9 vị trưởng thượng trong phẩm phục cổ truyền dân tộc thành kính dâng hương và lễ vật tế Tổ. Trước hương án bàn thờ Quốc Tổ nghi ngút khói hương, vị Chánh Tế trong phẩm phục đỏ đọc chúc văn “VIỆT NAM VĂN HIẾN - NĂM THỨ 4888”. Với tấm lòng tôn kính, mọi người đứng yên lặng nguyện cầu:

“…Hiện diện trước bàn thờ Quốc Tổ, Đoàn Hậu Duệ chúng con gồm Chủ Tịch CĐNVTD/NSW và Ban Chấp Hành, cùng toàn thể các đại diện đoàn thể, hội đoàn, tôn giáo, nhân sĩ và đồng hương Việt Nam thành tâm kính thỉnh:

Anh Linh:

- Thủy Tổ giòng giống Hồng lạc
- Quốc Tổ Hùng Vương 18 đời dựng nước
- Các đấng Minh Quân, Văn Thánh, Liệt nữ, anh hùng hào kiệt chống xâm lăng bảo vệ sơn hà xã tắc, mở rộng bờ cõi, các nghĩa sĩ vị quốc vong thân đem hùng khí và máu đào tô điểm đất nước Việ,t nghìn đời bền vững. Hồn thiêng sông núi, Tổ Quốc Anh Linh, xin chứng giám tấm lòng thành.

Trộm nghĩ:

Cây có Cội, nước có Nguồn, người có Tông
Trải mấy nghìn năm văn hiến
Qua bao tháng trầm biến chuyển
Công đức tiền nhân rộng như biển cả mênh mông lai láng, cao như núi non hùng vĩ bao la. Hậu thế ghi khắc ân sâu muôn đời tạc dạ, con cháu một lòng, tưởng nhớ công đức tiền nhân gầy dựng sơn hà, vun bồi xã tắc.

Nhớ gốc xưa:

Khí hùng thiêng vun vút dâng cao, khơi nguồn tộc Việt, cha Lạc Long mẹ Âu Cơ, trăm con hùng cứ cõi trời Nam, lên non xuống biển, đem tài cao mở rộng bờ cõi, đem chí lớn tô điểm cảnh núi sông, đem chí khí quật cường đánh đuổi xâm lăng, bảo vệ mảnh đất thân yêu, giữ vững nền tự chủ tổ quốc, đen an bình cho trăm họ.

Từ Trưng, Triệu, Ngô, Đinh, Lê, Lý
Đến Trần, Hồ, Lê, Nguyễn Tây Sơn
Chống Hán, bình Chiêm, Phạt Tóng
Kháng Nguyên, Phá Minh, Diệt Thanh
Nghìn năm vẫn kiên gan chống giặc phương Bắc
Tám mươi năm vẫn bề bỉ đạp đổ nền đô hộ phương Tây
Hoàng Hoa Thám hùm thiêng Yên Thế, tung hoành một cõi
Nguyễn Thái Học anh hùng bất khuất, hiên ngang đền nợ nước

Nhưng thẹn nỗi cộng sản vô lương, can tâm nô lệ ngoại bang, đem tà thuyết gieo rắc hận thù dân tộc, cương thường đảo điên, đạo lý suy đồi, con tố cha, vợ tố chồng, đau thương nghi ngút cõi trời Nam!

Lọc lừa con dân, lợi dụng chiêu bài độc lập, ga6y cảnh nồi da xáo thịt, chia đôi đất nước, mưu cầu tư lợi, áp đặt chủ nghĩa tam vô, tròng ách đô hộ, đạp đổ đạo lý dân tộc nghìn năm lưu truyền.

Phá vỡ truyền thống bất chấp cương thường, chẳng kể thiêng liêng, đầu năm ngày Tết xua quân tàn sát dân lành, biến đêm Giao Thừa thành đêm tang tóc thê lương, ôi đau bao thương xiết kể!

Theo gương người xưa, hỏi tội những đứa con hoang, đánh mất nguồn gốc dân tộc, rước tà thuyết ngoại lai về dầy mả tổ, bức hiếp dân lành, tước đoạt quyền sống con người, chiến sĩ miền Nam anh dũng quật cường, đứng lên làm lịch sử.

Một Nguyễn Khoa Nam, một Lê văn Hưng, một Trần văn Hai, một Lê Nguyên Vỹ, một Nguyễn văn Phú và còn biết bao anh hùng chiến sĩ vô danh tuẫn tiết, vì nghĩa khí hiên ngang, quyết không đầu hàng bè lũ phả quốc, phản tổ tiên giòng giống, xem đồng bào ruột thịt như kẻ thù, xem đất nước như của riêng, ải Nam Quan bán đứng, nước biển Đông cắt lìa, can tâm mãi quốc cầu vinh, ôi đau đớn xót xa chi bằng!

Hôm nay nhân ngày Giỗ Tổ
Trải tấm lòng thành, thắp nơi hương thơm, hồn thiêng sông núi
Tổ Quốc ngàn đời, cúi xin chứng giám, phù trợ độ trì
cho con cháu nối dòng tinh anh, chí vững dạ bền, đồng tâm hiệp lực giải trừ quốc nạn, chung sức xây dựng Tổ Quốc tươi sáng phục hồi đạo lý nghìn xưa nung đúc.

Cho muôn dân Lạc Việt sống cảnh thanh bình
Cho hoa Tự Do nở rộ trên quê hương
Cho Dân Tộc hết lầm than, sống với phẩm cách con người

Thành kính thượng hưởng.

Tiếp đến, là phần dâng hương lạy bàn thờ Quốc Tổ từ những đồng hương tham dự.

Sau đó bà Phạm Ánh-Linh, Phó Chủ Tịch CĐNVTD/NSW đặc trách Văn Hóa và Giáo Dục là Trưởng Ban Tổ Chức đã ngỏ lời chân thành cảm ơn sự hiện diện của tất cả quý đồng hương, quý vị đại diện các hội đoàn đoàn thể, quý thân hào nhân sĩ, quý cơ quan truyền thông, báo chí. Chúng ta hiện diện nơi đây trong tinh thần con cháu một nhà, Bà xin được tri ân sự đóng góp của các hội đoàn, các đoàn thể, các hội thân hữu, các anh chị em văn nghệ sĩ và tất cả mọi thành viên trong Cộng Đồng đã đóng góp sức lực, tài năng và công quả giúp cho buổi Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương được trang trọng và thành công.

Giúp vui phần văn nghệ ghi ơn Quốc Tổ Hùng Vương do chị Thạch Thảo điều hợp. Ban Sóng Thần trình bày nhạc phẩm “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” của Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang, Ban Mầm Non Việt Úc (The Viet Joeys) do các em bé gái trai trong những bộ quốc phục Việt Nam thật dễ thương múa “Thương Ông Bà Nội Ngoại” với giọng ca tài năng trẻ của em Lê Trung Nhân, 6 tuổi, em đoạt giải Nhất Ca Hát Thiếu Nhi Mừng Xuân Kỷ Sửu 2009. Ca Sĩ Bích Hà với tiếng hát truyền cảm qua nhạc phẩm “Người Tình Không Chân Dung” của Nhạc Sĩ Hoàng Trọng, đoàn vũ Hương Quê với các chị nổi bật trong những tà áo dài màu Hồng trình diễn vũ khúc “Bông Hồng Việt Nam” thướt tha duyên dáng và tiết mục đơn ca Vọng Cổ “Con Rồng Cháu Tiên” do cô Ngọc Vân trình bày thật điêu luyện.

Chương trình chấm dứt bằng tiết mục hưởng lộc Tổ gồm nhiều món ăn được bày biện rất thịnh soạn, đẹp mắt và hấp dẫn.

Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương hàng năm ở những nơi trên thế giới nơi có người Việt tỵ nạn CS định cư đã trở thành truyền thống, thể hiện lòng tri ân công đức tổ tiên. Người Việt Nam tỵ nạn CS ra đi bao giờ cũng mang theo tấm lòng với quê hương Việt Nam, dù ở phương trời nào luôn nhớ về cội nguồn, không quên được quê Cha đất Tổ.

Thanh Hà
Từ Trung Tâm Văn Hóa và Sinh Hoạt Cộng Đồng - Sydney
Ngày 11 tháng Tư Đen năm 2009

http://lyhuong.net/viet/index.php?option=com_content&view=article&id=875:875&catid=39:sinhhoatcongdong&Itemid=58

Thanh Hà
Từ Trung Tâm Văn Hóa và Sinh Hoạt Cộng Đồng - Sydney
Ngày 11 tháng Tư Đen năm 2009




Hình ảnh Thanh Hà



Saturday, April 11, 2009

Hoàng Sa, 35 năm sau - Lương Văn Phước

Lương Văn Phước

Khai hỏa

Ngày 19 tháng giêng năm 1974, hồi 10 giờ 24 phút sáng, Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 bắn một viên đạn đại bác 76 ly theo lệnh của HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc. Tiếng súng từ HQ 10 là lệnh khai hỏa, và bốn chiến hạm Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa tại Hoàng Sa đồng loạt nổ súng vào bốn chiến hạm Trung Cộng, trận hải chiến Hoàng Sa bắt đầu. Không có vẻ gì là bị bật ngờ, các tàu Trung Cộng cũng đã bắn trả dữ dội vào các tàu ta.

Trung Cộng không bất ngờ vì đã bắn trước.

Chúng tôi nói là Trung Cộng không bị bất ngờ, bởi vì chính họ đã đến Hoàng Sa gây hấn, và đã nổ súng trước trên đảo vào toán Ngưới Nhái, lúc đó vào khoảng 9 giờ sáng cùng ngày, làm HQ Trung Úy Lê Văn Đơn, Trung Sĩ NN Đinh Hữu Từ, Hạ Sĩ NN Đỗ Văn Long, Hạ Sĩ NN Nguyễn Văn Tiến tử thương, Khi chúng đã gây thương vong cho ta, thì dĩ nhiên chúng đã phải nghĩ đến việc bị ta trả đũa. Trong trận Hoàng Sa, địch bắn trước trên bờ, và ta đã phản công trên biển.

Tương quan lực lượng

HQ VNCH đã khai hỏa trận hải chiến dù biết rất rõ là lực lượng ta chỉ có vậy, chỉ có những đơn vị hiện có mặt tại chiến trường. Các chiến hạm tiếp viện thì còn ở rất xa không thể đến Hoàng Sa kịp thời. Các phi đoàn F5 và A37 của KQVN tuy túc trực ở Đà Nẵng, nhưng những loại phi cơ này không thể bay tới Hoàng Sa. Kế hoạch dùng dương vận hạm (LST) làm bãi đáp cho trực thăng cũng không được thực hiện. Tóm lại HQVN không có không trợ, cũng như không có sự yểm trợ nào khác tại Hoàng Sa.
Lực lượng trừ bị Trung Cộng gồm nhiều phi cơ MIG đủ loại và nhiều chiến hạm phóng hỏa tiễn, đặc biệt là Khinh tốc đỉnh Komar với vận tốc cực nhanh, trang bị hỏa tiễn có thể bắn trúng mục tiêu cách xa vài chục cây số.

Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ 5

Trận đấu pháo giữa bốn chiến hạm HQ VNCH và bốn chiến hạm Trung Cộng kết thúc vào khoảng 11 giở, sau 36 phút giao chiến. Ba mươi sáu phút trong cơn mưa đại pháo, quả là một thời khoảng dài đằng đẵng.

Sau 36 phút đó, 3 chiến hạm của TC bị loại khỏi vòng chiến.

Về phía ta, HQ 10 chìm, HQ 16 bị thiệt hại nặng, HQ 4 bị thiệt hại nhẹ.

Riêng HQ 5, chiến hạm đã chiến đấu thật hữu hiệu trong cuộc giao tranh. Trong 15 phút đầu, chưa kể các súng 40 ly, 20 ly, chỉ riêng khẩu đại bác 127 ly đã bắn được trên 100 quả. Vào lúc này, HQ 10 đang chìm, HQ 16 đang lâm vào tình trạng nguy ngập, trên HQ 4, đại bác 76 ly tự động lai bị trở ngại và có nhịp bắn quá chậm, nên các chiến hạm Trung Công dốc toàn lực tấn công HQ 5. Pháo tháp 127 ly trúng đạn, làm chết trưởng khẩu, nhiều pháo thủ bị thương, hệ thống vận hành thủy lực bị tê liệt. Rồi hệ thống giải nhiệt của súng 40 ly đôi bị hư hỏng, rồi súng 40 ly đơn ở sân sau bị trúng dạn. Trong khi dó vỏ tàu bị lủng một lỗ lớn dài 3ft rộng 5 ft. Văn phòng cơ khí bị trúng đan 100 ly, vài đám cháy xảy ra trên chiến hạm. Hầm đạn 127 ly phải dược làm ngập nước để tránh bị phát nổ. Trung tâm truyền tin cũng bị trúng đạn 100 ly khiến HQ 5 mất liên lạc với các đơn vị bạn

Nhờ sự bình tỉnh và hiểu biết tường tận vế kiến trúc chiến hạm của Cơ Khí Trưởng HQ Thiếu Tá Trần Đắc Nguyền; nhờ sư lanh lẹ, kinh nghiệm và tận tụy của toàn thể nhân viên Cơ Khí, Điện Khí và Phòng Tai mà những thiệt hại đã được cưú chữa kịp thời, không lan rộng thành những nguy cơ trầm trọng, và sau đó, HQ 5 đã phục hồi khả năng tác chiến nhanh chóng. Nhân viên Vô Tuyến và Điện Tử cũng đã cấp thời thiết trí hệ thống ăng ten tạm để chiến hạm có thể liên lạc trở lại với các đon vị bạn và Bộ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải.

Sau khi truyền tin được tái lập, HQ 4 và HQ 5 được lệnh trở lại Hoàng Sa để cứu vớt các toán đào thoát và để tiếp tục giao chiến, và nếu cùng kiệt, sẽ ủi bãi để dùng thân xác làm chứng tích cho chủ quyền lãnh thổ. Cả hai chiến hạm lập tức quay trở lại vùng Hoàng Sa, nhân viên trên HQ 5 vẫn bình tĩnh chu toàn nhiệm vụ của mình tại nhiệm sở. Nhưng độ nửa giờ sau, lệnh này được hủy bỏ, chúng tôi nghĩ rằng phải do một chức quyến cao cấp hơn BTL Hải Quân. Hạm Trưởng cho HQ 5 giải tán nhiệm sở tác chiến lúc 15:00, và cùng HQ 4 trở về Đà Nẵng. Vế nhân mạng, 3 chiến sĩ của HQ 5 đã hy sinh trong trận hải chiến: HQ Trung Úy Nguyễn Văn Đồng, xuất thân Khóa 25 VBQG Đà Lạt, là Trưởng Ngành Trọng Pháo, là trưởng khẩu 127 ly; Trung Sĩ I TP Phạm Ngọc Quang, phụ tá ngành TP; và Thượng Sĩ I Điện Tử Nguyễn Phú Hảo, phụ tá ngành Điện Tử.

Chúng tôi xin dâng nén hương lòng lên anh linh của 3 đồng đội đã hy sinh tại Hoàng Sa và hương linh của HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc đã từ trần tại Hoa Kỳ vào ngày 12 tháng 2 năm 1999.

Chúng tôi cũng xin gửi lời chào kính mến đến Hạm Trưởng, Hạm Phó và toàn thể quý chiến hữu thủy thủ đoàn Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ 5.

Tại sao chúng ta phải giành lại Hoàng Sa và Trường Sa?

Những tử sĩ đã anh dũng đền nợ nước, chúng tôi những người còn sống đến ngày hôm nay, luôn luôn canh cánh bên lòng một mối trăn trở mình đã không hoàn thành sứ mạng. Ba mươi lăm năm đã qua, nếu quốc gia Việt Nam hùng mạnh, lãnh thổ, lãnh hải được bảo vệ vẹn toàn, nếu đồng bào trong nước được sống an vui trong một xã hội mà quyền làm người được tôn trọng, trong tự do, trong một nền dân chủ thượng tôn pháp luật, thì chúng tôi cũng an lòng tự mình phai mờ theo năm tháng.

Nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược. Dựa vào công hàm bán nước của Phạm Văn Đòng ngày 14 tháng 9 năm 1958, bá quyền Trung Cộng đã dùng mọi phương thức để khẳng định rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của chúng. Có thể nào dân tộc Việt Nam làm ngơ chấp nhận, hay hỏi một cách khác, tại sao chúng ta nhất định phải bảo vệ và dành lại Hoàng Sa và Trường Sa. Thông thường, những câu trả lời thường nhắc tới vị trí chiến lược của hai quần đảo này trên Biển Đông, tới tài nguyên thiên nhiên nằm dưới thềm lục địa, nhưng trên hết, cũng như đối với Ải Nam Quan, chúng ta phải dành lại Ải Nam Quan vì đó là biểu tượng thiêng liêng cho cuộc đấu tranh dành tự chủ độc lập của dân tộc, chúng ta phải dành lại Hoàng Sa, Trường Sa vì quân xâm lăng sẽ không dừng lại ở đó nếu chúng ta khiếp nhược đầu hảng. Sự nhịn nhục cam chịu của Âu Châu trong thời kỳ tiền đệ nhị thế chiến, đã thêm dầu vào ngọn lửa cuồng vọng của Hitler; sự đầu hàng triều cống của cộng sản Việt Nam đang làm cho Trung Cộng thêm hung hãn.

Dã tâm xâm lăng của TC

Quả thực như vậy, gần đây Trung Cộng đã không cần che đậy dã tâm chiếm đoạt lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam và bành trường thế lực trên Biển Đông. Họ đã và đang tấn công trên mọi phương diện bao gồm hành chánh, quân sự, ngoại giao và kinh tế:

Trung Cộng đã bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào một đơn vị hành chánh của Trung Quốc, gọi là Huyện Tam Sa. Đây là lời tuyên bố thật rõ ràng với chính quyền Hà Nội: Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Cộng.

Trung Cộng đã dựa vào chuyện rước đuốc Thế Vận Hội, để đưa một đoàn quân cò quạt nghênh ngang vào Thành Phố Sài Gòn đúng vào ngày 29 tháng tư. Rõ ràng là Trung Cộng muốn nhắc nhở cho Cộng Sản Viêt Nam nhớ rằng chính nhờ sự giúp đỡ, viện trợ của Trung Cộng mà CSVN mới chiếm được miền Nam. Bây giờ, muốn được tồn tại, CSVN cũng lại phải nhờ đến Trung Cộng. Ơn nghĩa phải nhớ, nợ nần phải trả, số phận của CSVN đang ở trong tay Trung Cộng.

Trung Cộng đã và đang áp lực các hãng dầu lớn, như hãng British Petroleum của Anh, hãng Exxon Mobile của Mỹ, hay một chiếc tàu tìm mỏ dầu của Na Uy, làm việc cho một hãng của Nga phải từ bỏ việc hợp tác với Việt Nam trong việc khai thác dầu hỏa ở Biển Đông. Trung Cộng đang lớn tiếng chứng tỏ với quốc tế rằng chủ quyền của họ bao trùm Hoàng Sa, Trường Sa,và phần lớn Biển Đông.
Trung Cộng càng hung hăng, thì CSVN càng khiếp nhược, như khi bị ép buộc phải đón tiếp chiến hạm Trịnh Hòa vào Đà Nẵng, chúng đã chỉ thị cho các cơ quan truyền thông của chúng chỉ được “tuyên truyền chừng mực, không ồn ào”, và phải dùng cái tên xa lạ Zheng He, tránh cái tên Trịnh Hòa, hầu tránh sự chú ý của người dân trong nước.

Còn nữa, ông Lê Công Phụng, đại sứ của Hà Nội tại Hoa Kỳ, nguyên là trưởng ban đàm phán về biên giới với Bắc Kinh, đã tuyên bố “Sống bên cạnh nước lớn thì phải biết cách sống. Đây là kinh nghiệm của ông cha sống bên cạnh xứ láng giềng lớn, thì mình phải học theo các cụ”. Tôi không hiểu ông Lê Công Phụng nói đến ông cha nào, chắc là Hồ Chí Minh, hay Phạm Văn Đồng, người đã ký công hàm dâng biển dâng đảo. Còn tổ tiên của dân tộc Việt Nam:

Lý Thường Kiệt đã đánh đuổi quân nhà Tống
Ngô Quyền đã dẹp tan quân Nam Hán
Trần Hưng Đạo ba lần đại phá quân Nguyên
Bình Định Vương Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh
Quang Trung Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh.

Các thế hệ tiếp nối, từ triều đình quân tướng đến thân hào nhân sĩ thứ dân, đều đã quật cường nêu cao ngọn cờ tự chủ.

Hơn nửa, bây giờ đâu phải là thời Trung Cổ, bây giờ thông tin nhanh chóng, loài người đã biết tôn trọng lẽ phải và sự công bằng. Những chính phủ lên cầm quyền một cách hợp pháp, theo các nguyên tắc dân chủ, đều đối xử với nhau tương kính, binh đẳng. Chẳng qua, CSVN nhờ Trung Cộng mà chiếm được quyền lãnh đạo, dựa vào Trung Cộng để tiếp tục nắm giữ địa vị, đàn áp những nhà dân chủ, bòn rút tài nguyên quốc gia, mới phải khiếp nhược trước Trung Cộng. Vì thế, …

Chúng ta không mong gì đảng CSVN bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ. Công việc này là trách nhiệm chung của dân tộc Việt Nam, ở trong hay ngoài nước.

Đồng bào trong nước đã đứng lên. Nhà báo Điếu Cày và sinh viên học sinh Sài Gòn đã đứng lên. Cô Phạm Thanh Nghiên ỏ Hà Nội đã tố cáo Phạm Văn Đồng và bức công hàm dâng biển, dâng đảo cho Trung Cộng 50 năm về trước, và cô đã bị giam. Thày giáo Vũ Hùng ở Hà Tây cũng đã bị bắt vì tham gia các hoạt động chống bá quyền Trung Cộng.

Đồng bào trong nước, tay không tất sắt, đang dũng cảm nói lên tiếng nói của lương tâm. Cho nên, sống tự do an lành nơi hải ngoại, chúng ta phải làm tất cả những gì có thể làm được để yểm trợ các nhà tranh đấu trong nước.
Ít nhất, chúng ta phải làm ba điều:

1. Thứ nhất, và rất quan trọng: Chúng ta phải để cho giới trẻ gánh vác cuộc tranh đấu nầy. Chúng ta phải tín cẩn và tin tưởng nơi người trẻ tuổi. Mặt trận chính của người Việt hải ngoại trong cuộc chiến này là báo chí, luật pháp và ngoại giao. Những thế hệ Việt Nam được gầy dựng trong nền giáo dục ở hải ngoại có thừa khả năng để hoạt động trong những lãnh vực này. Với người tuổi trẻ, chúng ta phải vạch rõ nguồn gốc của vấn đề, chúng ta phải thuyết phục họ đứng về chính nghĩa, chúng ta thúc đẩy họ hành động và tạo cơ hôi cho họ phát triển tài năng. Trong ý nghĩ này, chúng tôi rất vui mừng nhận thấy trong hội trường có nhièu khuôn mặt trẻ, có đại diện của Tổng Hội Sinh Viên New England, có đại diện của Đoàn Thanh Thiếu Niên Hướng Việt Thành Phố Worcester. Những người trẻ tuổi nầy đang nối tiếp chúng ta làm tròn sứ mạng.

2. Thứ hai, chúng ta phải liên tục phản kháng, thưa kiện việc xâm lăng của Trung Cộng với những cơ chế luật pháp và dư luận quốc tế. Đừng để việc Trung Cộng chiếm giữ đất đai, hải đảo của ta trở thành chuyện đã rồi. Danh từ luật pháp là Quyền Thủ Đắc - Adverse Possession. Chi tiêt chuyên môn chúng tôi xin nhờ đến các luật gia, ở đây chỉ xin nêu lên rằng trong quốc tế công pháp cũng có môt nguyên tắc tương tự như nguyên tắc giải quyết sự tranh dành đất đai của hai người hàng xóm, nghĩa là, nếu ngưới láng giềng cùa ta lấn đất, mà ta không tranh cãi, thưa kiện, xây dựng cái gì đó để chứng tỏ quyền sở hữu trong vòng một thời gian nhất định, thì ta sẽ mất mảnh đất đó.

3. Thứ ba, chúng ta phải tích cực yểm trợ các nhà đấu tranh trong nước, đang tranh đấu cho dân chủ, tự do, nhân quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ trong nước. Sự yểm trợ của chúng ta phải thiết thực và cụ thể. Chúng ta kêu gọi các tổ chức quốc tế, các chính quyền dân chủ bảo vệ sự an nguy của họ, chúng ta tiếp tay, tiếp sức phổ biến tư tưởng và họat động đấu tranh của họ đến mọi người dân trong nước, chúng ta phải đóng góp tiến bạc và vật dụng để họ có phương tiện hành động.
Ngoài ra, hiện tại giới trè ở Michigan phát động chiến dịch Tháng Tư Đen. Họ kêu gọi chúng ta không về VN, không gửi tiền về VN trong tháng tư năm 2009. Mục tiêu là để đòi hỏi CSVN phải trả tự do cho những tù nhân lương tâm, như LM Nguễn Văn Lý, LS Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, và nhiều người nữa. Chúng tôi kính mong quý vị hổ trợ mạnh mẽ và hưởng ứng chiến dịch này.

Khi nào giành lại được Hoàng Sa – Trường Sa.

Chúng tôi vững tin rằng một ngày không xa nữa, nhân dân Việt Nam sẽ lật đổ bạo quyền CSVN để hồi phục dân chủ, tự do, nhân quyền về trên quê hương. Ngày đó, quốc gia Việt Nam sẽ được đại diện bởi một chính quyền thực sự dân chủ, được sự ủng hộ của đa số dân chúng và được sự kính nể của cộng đồng quốc tế. Quốc Gia Việt Nam sẽ hưng thịnh, với quân đội hùng mạnh. Ngày đó dân tộc Việt Nam tự do sẽ ngồi ngang hàng với Trung Cộng để đòi lại Ải Nam Quan và 700 km2 đất đai dọc theo biên giới Hoa-Việt; sẽ đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa và 10,000 km2 trên Biển Đông.

Chúng tôi không phải là một nhà hùng biện chuyên nghiệp, chúng tôi chỉ là một quân nhân, hầu hết đời lính chiến đấu trong sông ngoài biển, nay dàn trải tấm lòng mình qua những lời mộc mạc chân tình, nếu có điều gì sơ xuất xin quý vị rộng lương tha thứ. Chúng tôi xin kính chúc quý đọc giả khỏe mạnh, muôn điều như ý, vạn sự lành trong năm mới.

17-01-2009
Lương Văn Phước
(Phát biểu trong lễ Tưởng Niệm 35 Năm Hải Chiến Hoàng Sa tại Boston 1-17-09)



Jane Fonda tại một nhà hàng ở Montana - Lê Minh Khôi

Jane Fonda tại một nhà hàng ở Montana

Người sưu tầm và chuyển ngữ: Lê Minh Khôi
http://nguoivietboston.com/?p=7961

*

Đài Phát Thanh America FM đang truyền thanh một phần của chương trình “Có Ai Đang Nghe Không” sáng nay. Câu hỏi đầu tiên là: Hôm nay qúy vị có truyện nào đáng kể trong tiết mục “Có biết tôi là ai không?” thường lệ không?

Một phụ nữ gọi vào nói rằng: cách đây vài năm khi đến thăm người cậu tại trai chăn nuôi ở Billing, tiểu bang Montana, bà có dịp đi ăn tối tại một nhà hàng mà không giữ chỗ trước. Thực khách phải đợi chừng 45 phút, và trước đó đã có nhiều chủ nông trại và các bà vợ xếp hàng đứng chờ.

Ted Turner và người vợ đã ly dị là Jane Fonda vào nhà hàng và muốn có một bàn. Người nữ tiếp viên cho biết là phải đợi 45 phút. Jane Fonda liền hỏi người tiếp viên:

- “Cô có biết tôi là ai không?”

Người nữ tiếp viên trả lời:
- “Biết chứ, nhưng mà Bà vẫn phải đợi 45 phút” Jane Fonda lại hỏi:
- “Quản Lý hiện có ở đây không?”.

Khi người quản lý bước ra, ông ta hói khách:
- “Thưa tôi có thể làm gì được không ạ?”

Ted Turner và Jane Fonda hỏi:
- “Ông biết chúng tôi là ai chứ?”

Viên quản lý nhà hàng trả lời:
- “Biết chứ, nhưng mà những người đến trước cũng đang chờ, tôi không thể sắp chỗ cho hai người trước họ được” Ted liền ngỏ ý muốn nói chuyện với chủ tiệm. Khi chủ tiêm bước ra, Jane Fonda lại hỏi:

- “Ông biết tôi là ai không?”

Chủ tiệm trả lời:
- “Có, biết chứ (bởi vì tôi không quên được kẻ đã đâm sau lưng tôi). Mà bà có biết tôi là ai không? Tôi là chủ nhà hàng này và tôi là cựu chiến binh chiến trường Việt Nam. Ông bà không những không được sắp chỗ ngồi trước những bạn bè và láng giềng của tôi đang đứng đợi ở đây, mà còn không có chỗ tối nay và các tối khác! Chào ông bà!”.


Chuyện chỉ xảy ra ở Hoa Kỳ. Một quốc gia thật tuyệt vời phải không? Hay là gì?
Với quý vị đọc được chuyện này, đây là chuyện có thật và tên của nhà hàng là:
Sir Scott’ Oasis Steakhouse, 204 W. Main St., Manhattan, MT 59741

Nếu Quý Vị đến đây, xin ngã mũ chào, và thưởng thức một đĩa steak, thưởng cô tiếp viên.
Hãy chuyển cho nhau tin này! Chúng ta không bao giờ quên kẻ phản bội đất nước chúng ta.

Lê Minh Khôi
http://nguoivietboston.com/?p=7961


Bất Tuân Dân Sự - Đỗ Thái Nhiên

Đỗ Thái Nhiên

Ngày 29/03/2009, từ Thanh Minh Thiền Viện, Saigon, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo đã ký một văn bản có tiêu đề là: “ Lời Kêu Gọi Một Tháng Biểu Tình Tại Gia Để Chống Việc Lấy Vàng Dân Tộc Đổi Nhôm Nước Ngoài”.

“Lời Kêu Gọi” có ba trọng điểm sau đây:

1. Trọng điểm thứ nhất: Sự việc CSVN mở cửa cho Trung Quốc vào Tây Nguyên khai thác bauxite là một hành động bất chấp ý kiến phản đối của giới khoa học kỹ thuật , giới an ninh quốc phòng và của toàn dân. Về mặt kinh tế, lợi nhuận do việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên mang lại quá thấp so với chương trình xử dụng Tây Nguyên để trồng cây công nghiệp. Trồng cây công nghiệp, đất có thể tái sinh liên tục. Khai thác bauxite, đất phải chết theo qui trình: bốn tấn bauxite sản xuất một tấn nhôm, đồng thời đẩy vào môi sinh ba tấn đất đỏ.

Đây là một loại hợp chất độc hại có tác dụng tiêu hủy cây xanh, ô nhiểm nguồn nước, nhiễu loạn thời tiết…Về mặt an ninh quốc phòng, “Lời Kêu Gọi”cho rằng câu chuyện Mị Nương làm mất nỏ Thần vào tay Trọng Thủy ngày xưa đang diễn ra tại Trường Sơn ngày nay. Chẳng những mất Trường Sơn mà biển Đông, điển hình là Hoàng Sa và Trường Sa cũng đã vuột khỏi tầm tay Việt Nam.

2. Trọng điểm thứ hai: mất núi, mất biển chỉ còn lại là TIẾNG DÂN. Tiếng dân nêu bật ba đòi hỏi:

- Một là yêu cầu nhà cầm quyền CS Việt Nam khẩn cấp nộp hồ sơ xác nhận thềm lục địa Việt Nam tại Ủy- Ban- Ranh- Giới- Thềm- Lục- Địa của LHQ trước ngày 13/05/2009, đúng theo đòi hỏi của luật biển 1982.

- Hai là yêu cầu nhà cầm quyền CSVN hãy công bố cho toàn dân biết hai mật ước về lãnh thổ, lãnh hải CSVN ký với Trung Quốc các năm 1999-2000. Sự công bố này phải kèm theo những bản đồ thích nghi. Yêu cầu một là cửa ngõ mở vào yêu cầu hai.

- Ba là yêu cầu nhà cầm quyền CSVN hãy triệu tập Đại Hội đại biểu toàn dân bao gồm chuyên gia kinh tế, khoa học, quân sự cùng đại biểu các thành phần dân tộc trong và ngoài nước. Hội đồng này sẽ đưa ra những quyết định thích nghi đối với sự việc bauxite Tây Nguyên.

3. Trọng điểm thứ ba: nhằm gây sức ép để buộc chế độ Hà Nội phải thực thi ba đòi hỏi nói ở trọng điểm thứ hai, Hòa Thượng Thích Quảng Độ tha thiết kêu gọi trọn tháng 05/2009:

- Đồng bào Quốc Nội: biểu tình tại gia, công nhân đình công, thương buôn bãi thị, sinh viên, học sinh bãi khóa…

- Đồng bào Quốc Ngoại: ngưng du lịch Việt Nam, ngưng gửi tiền về Việt Nam, ngoại trừ trường hợp khó khăn khẩn cấp.

Lời kêu gọi vừa kể cho rằng một tháng biểu tình tại gia là hành động bất tuân dân sự. Vậy thì, bất tuân dân sự là gì?

Chủ đề bất tuân dân sự đã được một tác giả người Hoa Kỳ, ông Henry David Thoreau viết ra trong luận án “Civil Disobedience” từ năm 1849. Với thời gian, lý luận về bất tuân dân sự ngày càng trở nên rộng khắp, tinh vi và uyển chuyển hơn.

Bất tuân là thái độ bất hợp tác của thuộc viên đối với thượng cấp, của bị trị đối với thống trị, của người dân đối với nhà cầm quyền. Hình luật qui định những việc làm bị cấm: cấm trộm cắp, cấm giết người, cấm lường gạt. Mặt khác hình luật cũng trừng phạt những việc do không làm mà thành tội: không cứu người lâm nguy, không đóng thuế, không đi quân dịch. Những “không làm” vừa kể gọi chung là bất tuân. Làm thế nào bất tuân nhưng không phạm pháp, kể cả luật pháp của chế độ độc tài? Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã ung dung đáp trả câu hỏi vừa nêu bằng liều thuốc “Vô chiêu thắng hữu chiêu”. Sau đây là ý nghĩa của vô chiêu:

Về phương diện luật pháp, luật dân sự là bộ môn luật học có chủ đích giải quyết mọi va chạm giữa con người với con người bằng những giải pháp hòa hoãn. Án văn tòa dân sự chỉ dạy bồi thường, không phạt tù, không tác hại tới danh dự của cá nhân bị đơn. Ngược lại luật hình sự là bộ môn luật học có mục đích răn đe và / hoặc trừng phạt những người có ác ý gây rối an ninh trật tự xã hội, xúc phạm đến uy tín và / hoặc thân thể của người khác.

Về phương diện quân sự, nói tới quân sự là nói tới động binh, nói tới vũ khí các loại, nói tới chiến tranh. Phản diện của quân sự là dân sự.

Quan hệ giữa quân sự và dân sự chẳng khác nào hai cánh cửa có chung một bản lề. Bản lề kia đã được diễn tả trong một phương châm rất gãy gọn. “Động vi binh, tĩnh vi dân”.

Nhìn chung, dân sự là đời sống thong dong, đời sống tĩnh, đời sống không bị khống chế bởi các loại thế lực khác nhau: chính trị, quân sự, kinh tế, tài chính…Đời sống “phi-khống-chế” vừa kể, chẳng khác nào hình ảnh quả lắc của đồng hồ treo tường. Quả lắc chạy qua phải hay trái. Đó là những hành động thái quá hay bất cập. Khi quả lắc chạm đường thẳng đứng kéo dài từ 12 giờ xuống 6 giờ tức là quả lắc đi vào điểm trung. Nhiều điểm trung kết thành trung đạo. Quả lắc không thể không lắc. Quả lắc không thể từ bỏ khuynh hướng tìm về trung đạo. Đó là định luật biến nhưng bất biến của Dịch Học. Từ quả lắc đồng hồ, chúng ta hãy trở về với đời sống phi-khống-chế của xã hội dân sự. Trung đạo đối với xã hội dân sự là dòng sống trên đó dân chủ, nhân quyền được tôn trọng tròn đầy.

Hiện tình lịch sử Việt Nam cho thấy xã hội đang bị khống chế bởi chế độ độc tài, tham ô, bán nước, nói chung là xã hội bị đè bẹp dưới vô số tình huống thái quá và bất cập. Muốn tìm về trung đạo, tìm về dân chủ, nhân quyền, xã hội dân sự không còn chọn lựa nào khác hơn là từ chối tuân hành mọi mệnh lệnh độc tài, nhất là mệnh lệnh cấm người dân không được phản đối thế lực xâm lược Bắc Kinh.

Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ chỉ danh hành động bất tuân kia là bất tuân xuất phát từ xã hội dân sự, gọi tắt là bất tuân dân sự. Như vây bất tuân dân sự triệt để đồng dạng với hiện tượng quả lắc đồng hồ. Hiện tượng này là sự “hình ảnh hóa” phản ứng có được do tác động của qui luât tìm về trung đạo trong Dịch Học. Phản ứng do tác động của qui luật triết học có nghĩa là con người dù muốn hay không muốn, phản ứng kia vẫn xảy ra.

Một trong những nguyên tắc hàng đầu của hình luật là nguyên tắc cấm tòa án hình sự không được phép trừng phạt người dân về một tội mà đương sự không có quyết ý phạm pháp. Nhà báo từ chối khai trước tòa nguồn gốc của một bản tin không vì nhà báo này muốn chống lại tòa án mà chỉ vì đương sự quyết tâm tôn trọng lương tâm nghề nghiệp của ký giả. Đó là hồ sơ hình sự điển hình của trường hợp thiếu quyết ý phạm pháp. Cũng vậy, bất tuân dân sự không nhằm tạo bất ổn xã hội mà chỉ là phản ứng tự nhiên của những công dân chịu tác động bởi qui luật tìm về trung-đạo-dân-chủ-nhân-quyền của Dịch Học.

Nói ngắn và gọn: bất tuân dân sự là một hành động nằm ngoài sự chi phối cùa hình luật. Bất tuân dân sự là một hành động hợp pháp. Nhân quyền hiểu theo nghĩa bao la nhất, sâu và cao nhất là quyền của mỗi cá nhân đựoc tham dự vào hành động bất tuân dân sự nhằm đưa đẩy xã hội nhiễu nhương trở về với trạng thái hiền hòa và hạnh phúc của trung đạo.

Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ tích cực làm cho lịch sử Việt Nam hanh thông bằng một chương trình hành động xây dựng trên hai yếu tố: Thế hành động và lực hành động:

1. Thế hành động: Bất tuân dân sự là thế hợp pháp vì nó hoàn toàn không có ý chí phạm pháp. Bất tuân dân sự là thế hợp lòng dân vì nó nhẫn nại nhưng cương quyết đẩy xã hội Việt Nam về hướng trung đạo. Từ đó, Bất tuân dân sự là thế chính nghĩa.

2. Lực hành động: Thế chính nghĩa thuyết phục và hấp dẫn quần chúng. Quần chúng là cội nguồn của lực hành động. Lực hành động sẽ trở thành lực bất động nếu không có phương pháp hành động đi kèm. Phương pháp hành động của Đại Lão Hòa Thượng Quảng Độ là: trọn tháng 05/2009, quốc nội biểu tình tại gia, quốc ngoại không du lịch, không gửi tiền về Việt Nam.

Câu hỏi cần đặt ra là: Với thế và lực như đã trình bày liệu chừng chương trình Bất Tuân Dân Sự có dẫn đến thành công hay không? Thế thắng hay thế bại trong dòng lịch sử không thể ngắn gọn như đáp số của một bài toán cộng. Muốn khảo sát để có thể xác định kẻ thắng người bại trong trận đấu giữa Bất Tuân Dân Sự và chế độ Hà Nội, người khảo sát cần phải lý luận bằng lịch sử quan. Thực tiễn đời sống và lý luận triết học đã nêu bật lịch-sử-quan-lấy-Con-Người-làm-tiền-đề-triết-học.

Lịch sử quan này khẳng định: Thế và lực phục vụ dân chủ nhân quyền chắc chắn phải thắng. Trên con đường tiến tới thắng lợi cuối cùng, tùy theo tình hình quốc nội và quốc tế, Bất Tuần Dân Sự cần rất nhiều cụ thể hóa và biến hóa. Luận về lẽ thắng bại của Bất Tuân Dân Sự dẫn tới ba suy nghĩ căn bản sau đây:

1. Bất Tuân Dân Sự có Thế, có Lực.

2. Bất Tuân Dân Sự đang đi đúng xu thế của lịch sử.

3. Trên con đường tiến tới thắng lợi dứt điểm, Bất Tuân Dân Sự đã và đang du nhập và phát triển tính Tây Tạng vào công cuộc đòi hỏi dân chủ nhân quyền tại Việt Nam. Tính Tây Tạng là lời bộc bạch rằng: trong đấu tranh, con người phải biết xem ý chí phản kháng bất công quan trọng hơn lẽ thành, bại. Không thể có thắng lợi nếu không có ý chí phản kháng. Ý chí phản kháng là dấu hiệu mạnh mẽ nhất, cao cấp nhất của nhân cách.

Ba suy nghĩ vừa trình bày là sự khẳng quyết Bất Tuân Dân Sự sẽ thắng. Bất Tuân Dân Sự là một công trình tim óc tuyệt hảo được Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ mang cống hiến cho dòng sử Việt trong thời kỳ đất nước lâm nguy.

Đỗ Thái Nhiên