Saturday, April 4, 2009

Oan Hồn Người Cha Trong Ngày Vui Đại Thắng - Trần Quốc Kháng

Trần Quốc Kháng

Ai có thể làm thống kê, tổng kết xem từ ngày quê hương chúng ta sa vào thảm hoạ Cộng Sản, có mấy chục triệu người, không nhiều thì ít, không trực tiếp thì gián tiếp, là nạn nhân của đảng giặc VC? Khó khăn hơn nữa là trường hợp của hàng triệu gia đình, hoàn toàn bị tan nát.

Dù sao, chúng tôi thiết tưởng, khi mang trong lòng mối "thù nhà nợ nước" thì lẽ ra, tất cả các nạn nhân đều có ý chí, Chống Cộng hăng say. Nhưng không hiểu sao, có nhiều trường hợp, họ lại cúi đầu sống trong ô nhục, làm tôi tớ cho kẻ thù, phản bội đồng bào, "vong ân bội nghĩa" với ông cha?
Câu chuyện "Oan Hồn Người Cha Trong Ngày Vui Đại Thắng”—khởi đầu năm 1945 và kết thúc năm 1975—là trường hợp điển hình cho nhiều trường hợp khác nhau. Trong đó có nỗi oan khiên của người cha là học giả Phạm Quỳnh và sự việc ô nhục của người con là “nhạc sĩ vẹm” Phạm Tuyên.

Còn thảm cảnh nào ô nhục hơn cuộc đời của Phạm Tuyên? Sau khi đảng giặc VC đã giết cha mình, làm cho gia đình mình tan nát, làm cho đất nước tan hoang, làm cho đồng bào VN khốn khổ thì Phạm Tuyên lại đi làm tôi tớ cho kẻ thù, viết bài hát mừng VC chiếm được miền Nam ngày 30.4.1975:

"Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng...
Lời Bác dậy đã thành chiến thắng huy hoàng
Ba mươi năm đấu tranh giành trọn vẹn non sông
Ba mươi năm Dân Chủ Cộng Hòa,
kháng chiến đã thành công"

Hiển hiện, "ngày vui" ấy là ngày vui của đảng giặc VC. Ngày "đại thắng" ấy là ngày đại thắng của Quốc Tế Cộng Sản—do Nga Tàu điều khiển.

Lẽ dễ hiểu là trong cuốn "Chủ Nghĩa Quốc Tế Vô Sản", đảng giặc VC đã khẳng định, chúng là “một đơn vị của đoàn quân QuốcTế Vô Sản”. Còn Hồ Chí Minh, căn cứ vào thư của chính hắn viết cùng nhiều tài liệu khác của đảng VC thì ai cũng thấy, hắn là ‘Ðại Diện’ của Quốc Tế CS, lãnh lương của QTCS, làm theo lệnh của QTCS.

Nói cách khác, Hồ là tay sai của Nga Tàu, không hơn không kém. Chính Hồ đã để lộ vai trò tôi tớ hắn khi tuyên bố:

"Nhận chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản để giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ".

Hai chữ “cách mạng” trong câu nói của họ Hồ có nghĩa là “cách mạng vô sản”. Đó là việc áp đặt ách đô hộ Mác-Lênin trên quê hương chúng ta.

Trong 30 năm chiến tranh, dưới chiêu bài "đánh Pháp chống Mỹ", Quốc Tế CS đã sử dụng đất nước chúng làm bãi chiến trường. Quốc Tế CS đã đem "núi xương sông máu" của dân tộc VN, lót đường cho chủ nghĩa phi nhân Mác-Lênin bành trướng. Kết quả hiện thời là hàng chục năm trôi qua, sau khi năm chiến tranh chấm dứt, VN vẫn là nơi nghèo khổ, lầm than và nhiều tệ đoan xã hội nhất thế giới.

Vì vậy, khi VC tung ra bài “Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui Đại Thắng” thì dân chúng VN, đối kháng bằng cách đổi ngược tất cả lời ca cho đúng với sự thật trong lịch sử.

Ða số dân chúng trong chế độ VC, đều nghe trẻ nhỏ tụ tập chơi ngoài đường, nghêu ngao hát—sau Tháng Tư Ðen 1975:

"Như có bác Hồ trong thùng phi đậy nắp
Lời Bác nay trở thành thối hoắc trong thùng
Ba mươi năm Bác làm tan nát non sông
Ba mươi năm Dân Chủ Cộng Hoà chẳng thấy...”

Trong ngày 30 tháng 4, nếu người con là Phạm Tuyên vui mừng ca hát "như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng" thì ngược lại, oan hồn của người cha là Phạm Quỳnh, ắt hẳn phải cảm thấy, vừa ngậm ngùi, vừa tủi nhục. Ngậm ngùi trước thảm cảnh “nước mất nhà tan”. Tủi nhục vì có đứa con đi làm tôi tớ cho kẻ thù, phản dân hại nước mà lại tưởng là vinh!

* Văn Nhân Sinh Tặc Tử

Trong thời gian trước đây, nhiều cây bút lão thành đã viết bài nhằm minh oan cho học giả Phạm Quỳnh. Vấn đề này, chắc chắn sẽ đuợc lịch sử phát xét công minh. Tuy nhiên, khi đề cập đến chuyện "Văn Nhân Sinh Tặc Tử" thì thiết tưởng, cũng cần nhắc lại vài nét đại cuơng về nguời quá cố.

Qua Văn Học Sử VN, nhiều quý vị còn nhớ, Phạm Quỳnh là người có công rất lớn trong văn học. Vốn là người uyên thâm Nho Giáo và triết học Tây Phương, học giả Phạm Quỳnh còn tốt nghiệp trường Thông Ngôn (Collège Des interprêtes) năm 1908. Ông được bổ nhiệm làm việc ở trường Viễn Đông Bác Cổ. Năm 1917, ông là chủ biên và là linh hồn của Nam Phong tạp chí. Năm 1919 ông sáng lập hội Khai Trí Tiến Đức. Cả hai tổ chức văn hóa này đã "vang bóng một thời" trên hai miền Nam Bắc VN.

Năm 1932, ông được vua Bảo Đại mời vào kinh đô Huế, giữ chức vụ Thượng Thư Bộ LạI—tương đương với Thủ Tướng Chính Phủ hiện thời.

Đến năm 1945, Việt Minh Cộng Sản nổi dậy cướp chính quyền. Học giả Phạm Quỳnh bị bọn côn đồ Trần Huy Liệu, nhận lệnh của Hồ Chí Minh, đến kinh đô Huế, ép buộc vua Bảo Đại trao Ấn Tín.

Chúng còn bắt học giả Phạm Quỳnh cùng nhiều nạn nhân khác, trong đó có hai cha con ông Ngô Đình Khôi—bào huynh của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm—đem vào rừng, đập bể sọ, rồi chôn vùi trong nấm mồ tập thể với bản án “Việt gian”!

Ai can tội Việt gian? Nếu học giả Phạm Quỳnh can tội “Việt gian” vì theo học “Trường Thông Ngôn” rồi làm việc cho vua Bảo Đại thì Hồ Chí Minh can tội gì khi khi làm bồi cho thực dân Pháp trên tàu L'Admiral La Touche Tréville?

Sau khi đến Pháp, Hồ viết thư van xin bọn Thực Dân cho vào học nội trú trại “Trường Thuộc Địa”. Như vậy thì rõ ràng, sau giấc mộng làm tay sai cho Pháp không thành, Hồ xoay sang làm tay sai cho Đệ Tam Quốc Tế CS.

Còn trong lãnh vực báo chí, học giả Phạm Quỳnh là người có công hay có tội? Chúng tôi xin nêu lên nhận xét của những cây bút lão thành:

Trên trang 939 của cuốn "Thành Ngữ, Điển Tích, Danh Nhân Tự Điển" Quyển II, xuất bản tại Sài Gòn năm 1967, soạn giả là giáo sư Trịnh Vân Thanh — người bất đồng chính kiến với học giả Phạm Quỳnh mà cũng phải nhìn nhận:

"Trên lãnh vực văn hoá, Phạm Quỳnh xứng đáng là một kiện tướng có đủ năng lực, tài ba để điều khiển một cơ quan ngôn luận và có công rất lớn trong việc phát huy những khả năng tiềm tàng của Việt Ngữ và xây dựng một nền móng vững chắc cho Quốc Văn, bằng cánh tô bồi với những tinh hoa mà ông đã rút tỉa, trong những tư tưởng và học thuật của Âu Tây”.

Trên trang 76 của cuốn "Nhà Văn Hiện Đại" Tập I, soạn giả là nhà văn Vũ Ngọc Phan, đã nêu nhận xét về học giả Phạm Quỳnh:

"Ông là người chủ trương cái thuyết: đọc sách Tây là để thâu thái lấy tư tưởng, lấy tinh thần văn hóa Âu Tây để bồi bổ cho nền Quốc Văn còn khiếm khuyết, để chọn lấy cái hay của người mà dung hoà với cái hay của mình, ngõ hầu gìn giữ cho cái học của mình không mất bản sắc, mà vẫn có cơ tiến hoá được".

Hồi đầu năm 1999, chúng tôi được biết thêm 2 nhà văn khác là cụ Mạc Kinh ở Luân Đôn và cụ Duy Xuyên ở Houston, Hoa Kỳ. Cụ Mạc Kinh viết bài "Nỗi Oan Khiên Của Nhà Học Gỉa Phạm Quỳnh", đăng trên tờ Việt Báo ở Houston số 71. Còn cụ Duy Xuyên thì viết bài "Đốt Lò Hương Cũ Số 9". Trên trang 84 của tờ VB số 72, cụ Duy Xuyên đã nêu lên nhận xét về học giả Phạm Quỳnh:

"Một người chỉ dùng cây viết tô điểm thêm đậm nét dòng văn hóa Tổ Tiên, người đã mượn ba tấc lưỡi Tô Tần thuyết phục người Pháp trả lần hồi nền tự trị cho quê hương, người đã hết lòng cúc cung tận tụy phò vua trẻ hồi loan từ 1932 cho đến 1945, trung quân ái quốc một lòng một dạ, vì đã thấm nhuần Nho Gíao, lấy tam cương ngũ thường làm chuẩn, nhưng buồn thay, người quân tử gặp lúc nhiễu nhương, cây bút làm sao chống lại mã tấu, lựu đạn của bọn vô lại đầu đường xó chợ".

Quả thật là như vậy, dẫn đầu "bọn vô lại ấy" là Hồ Chí Minh. Trong những năm đầu của thảm hoạ Cộng Sản, ngoài việc thủ tiêu học giả Phạm Quỳnh, quốc tặc Hồ Chí Minh còn là thủ phạm trong các vụ thủ tiêu Đức Huỳnh Phú Sổ, các ông Lý Đông A, Trương Tử Anh, Hoàng Đạo và Khái Hưng. Hàng ngàn chiến sĩ cách mạng khác, chỉ vì có khuynh hướng Quốc Gia, mà bị họ Hồ lừa gạt và sát hại vô cùng dã man.

Tại sao, Trần Huy Liệu giết cha của Phạm Tuyên mà lại còn bắt giam anh của Phạm Tuyên là Phạm Giao và cướp luôn chị dâu của Phạm Tuyên nữa? Chuyện thê thảm xẩy ra chỉ vì, chị dâu của Phạm Tuyên—vợ ông Phạm Giao—là người đẹp nổi tiếng trường Đồng Khánh. Trước đó, Trần Huy Liệu đã say mê, theo đuổi một thời.

Nhưng Liệu là kẻ vô luân nên bị "người đẹp" khinh bỉ. Khi "nàng" kết hôn với ông Phạm Giao thì Liệu "ôm hận ngàn thu", mong đợi có dịp trả thù. Dịp ấy đã đến khi Cộng Sản cướp chính quyền năm 1945. Cụ Duy Xuyên đã nêu lên nhận xét về hành động đểu cáng và tàn ác của Trần Huy Liệu:

"Chỉ vì không lấy được người mơ ước mà Liệu đã nỡ lòng làm tan nát nhà họ Phạm và dập liễu vùi hoa để thoả mãn thú tính của một tên vô lại".

Câu chuyện đểu cáng, bất nhân không ngừng ở đó. Sau khi "người đẹp" qua tay Trần Huy Liệu thì lại lọt vào tay quốc tặc Hồ Chí Minh. Vì biết ý họ Hồ thèm muốn người đẹp nên Liệu tức tốc, gởi "nàng" đến Phủ Chủ Tịch “làm quà” biếu Bác để Bác thoả mãn nhục dục!

Như vậy thì rõ ràng, VC đã làm gia đình họ Phạm tan nát. VC đã làm đất nước tan hoang. VC đã làm đồng bào lầm than, nghèo khổ. Mang mối "thù nhà nợ nước" rõ ràng như thế mà Phạm Tuyên lại cúi đầu, đi làm tôi tớ cho Cộng Sản, viết lời ca "Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui Đại Thắng" thì còn ô nhục nào hơn! Nhiều người bảo rằng "cha nào con nấy", nhưng trong câu chuyện này thì hiển nhiên là trái ngược: "Văn Nhân Sinh Tặc Tử".

* Luận Cổ Suy Kim

Thật ra, câu chuyện nêu trên chỉ là câu chuyện điển hình. Vấn đề chính yếu được nêu lên: Từ ngày "nước mất nhà tan" đến nay, có bao nhiêu người, thay vì nung nấu trong lòng mối "thù nhà nợ nước", chống lại chế độ Mafia VC thì lại bắt tay thân thiện, hưởng ứng chiêu bài của kẻ thù tung ra? Nguyên do nào làm họ mù quáng? Họ không còn nhớ cội nguồn của bản thân họ, của gia đình họ là những nạn nhân đau thương của đảng giặc VC?

Quả thật là như vậy. Trong 2 năm 1945-1946, hàng trăm ngàn người có ông cha đã bị VC sát hại, trong các “chiến dịch” thủ tiêu, ám sát hay chém giết tập thể khi VC nổi lên cướp chính quyền. Trong những năm “Cải Cánh Ruộng Đất”, hàng triệu người có cha mẹ bị VC cướp hết cơ nghiệp, rồi đem ra đấu trường hành hạ trước khi giết hại hay tống giam.

Hồi Tết Mậu Thân năm 1958, hàng chục ngàn người có thân nhân bị VC sát hại tập thể ở Huế. Kế tiếp là sau khi miền nam thất thủ năm 1975 thì con số phỏng đoán không còn ở mức “hàng triệu” người nữa. Mà ở mức “hàng chục triệu” người—có ông bà, cha mẹ, vợ hay chồng, anh hay chị em, họ hàng hay bạn hữu v.v. bị VC đầy đọa chết trong tại tù hay bị VC xô đẩy vào đường cùng, nên sa vào thảm họa trên hành trình vượt biển tỵ nạn.

Đến nay thì hàng chục năm trời đã trôi qua. Nhiều người bị tiêm nhiễm “nọc độc trí vận” của VC cho rằng, đó là chuyện “hận thù trong quá khứ, nên bỏ qua để hướng về tương lai”. Chúng tôi xin khẳng định rằng, bản tính con người, khi biết yêu quý điều THIỆN thì tất nhiên, sẽ ghê tởm những điều GIAN dối và HẬN THÙ những kẻ gây ra tội ÁC. Mà VC là bọn đại gian, đại ác. Nên ai có lương tri cũng phải hận thù VC. Do đó, nếu thế hệ cha anh chưa xoá bỏ được chế độ Mafia VC thì thế hệ con em sẽ nối tiếp, chống Cộng đến cùng, cho đến khi nào đảng giặc VC không còn hoành hành thì đất nước ta mới có Dân Chủ Tự Do. Đồng bào ta mới ấm no, hạnh phúc.

Đó là điều sơ đẳng. Rất sơ đẳng trong đời sống. Chỉ tiếc rằng, trong khi đảng giặc VC có sở trường đại gian đại ác, nhất là kỹ thuật “lừa già dối trẻ” rất thiện nghệ thì tình trạng dân trí của khá đông đồng bào VN lại “thấp kém”.

Trong đó, người thì nhẹ dạ dễ tin; người thì cuộc sống chỉ biết “giá áo túi cơm”; người có bằng cấp chuyên môn cao, tưởng là “trí thức”, nhưng lại chỉ biết “vinh thân phì gia” hay “cháy nhà hàng phố bình chân như vại”! Mặc dù, tất cả các thành phần kể trên, đều là thành phần thiểu số, nhưng đã dẫn đến hệ quả: Mắc mưu VC hết chiều bài này đến chiêu bài khác!

Ấy là chưa kể, những người sa vào trường hợp như “nhạc sĩ vẹm” Phạm Tuyên—sau khi VC đã giết cha mình, làm cho gia đình mình tan nát, làm cho đất nước tan hoang, làm cho đồng bào VN khốn khổ—mà lại bắt tay, hợp tác thân thiện với giặc dưới nhiều hình thức khác nhau. Chẳng lẽ, họ không biết, hay đã quên cỗi nguồn của bản thân họ? Chẳng lẽ họ lại không nhận ra, hàng chục triệu đồng bào hiện nay, không nhiều thì ít, không trực tiếp thì gián tiếp, đều là nạn nhân của chế độ Mafia VC.

* Nhìn Lại Cội Nguồn

Ngược dòng thời gian thì vào đầu tháng 4 năm 1975, Quốc Tế Cộng Sản đã điều động hàng chục sư đoàn chính quy từ miền Bắc VN—với xe tăng T54, đại pháo 130 ly, hoả tiễn 122 ly và SA-7 của Nga Sô; với súng liên thanh AK và B40 của Tàu Cộng—để tiến quân, đánh chiếm miền Nam. Từ sông Bến Hải đến mũi Cà Mâu, dân chúng hoảng hốt. Hầu như ai cũng hiểu rằng, miền Nam nhỏ bé, mà lại bị cô thế, viện trợ Mỹ bị cúp, súng đạn chẳng còn bao nhiêu thì tất nhiên, VNCH sẽ xụp đổ.

Thảm cảnh "Tháng Tư Đen" diễn ra. Ở bến tàu. Ở phi trường. Ở Toà Đại Sứ Mỹ. Dọc theo quốc lộ từ miền Trung vào miền Nam. Tổng cộng mỗi ngày, hàng trăm ngàn người chen lấn nhau, đạp lên nhau, tranh giành nhau lên tàu, tranh giành nhau lên phi cơ, hoặc liều chết dùng những chiếc thuyền bé nhỏ để vượt đại dương!

Nhiều người từ Kontum, từ Pleiku, chạy ra Đà Nẵng. Cộng Sản chiếm Đà Nẵng, họ chạy vào Sài Gòn. Cộng Sản chiếm Sài Gòn, họ chạy lên Tây Ninh, băng qua biên giới, rồi vượt cả ngàn dặm rừng núi ở bên Cao Miên, để đến Thái Lan. Họ chấp nhận muôn vàn chông gai trên đường lánh nạn VC. Nào là thú dữ. Nào là Khờ Me Đỏ dã man tàn ác. Nhưng thà chết còn hơn kéo dài cuộc sống lầm than trong chế độ Cộng Sản!

Đó là sự thật trong lịch sử. Đó là kết quả của cuộc chiến 15 năm (1960-1975) do đảng Cộng Sản khởi xướng: Máu và nước mắt của tù nhân ướt đẫm khắp nơi trong trại tù đầy. Máu và nước mắt của đồng bào lai láng khắp nơi trên biển Đông.

Trong lịch sử nước nhà, một ngàn năm giặc Tàu đô hộ dân ta, một trăm năm thực dân Pháp giầy xéo đất nước ta, không ai thấy giặc ngoại xâm nào ác độc và xảo quyệt bằng giặc Cộng. Chưa có thời kỳ nào, Xã hội VN có nhiều chuyện vô luân, nhiều chuyện bất nhân như thời “Xã Hội Chủ Nghĩa”.

Chứng cớ điển hình là sau khi chiếm được miền Bắc, VC đã chủ mưu, xách động người nghèo, đấu tố người giàu. Thảm trạng cướp cuả giết người trong những năm “Cải Cách Ruộng Đất” diễn ra khắp nơi. Luân thường đạo lý trong xã hội tiêu tan. Con đấu tố cha, vợ đấu tố chồng. Họ hàng hoặc bạn hữu nghi kỵ nhau, tố cáo nhau, hậm hực tranh giành nhau từng ly từng tý!

Sau khi chiếm được miền Nam, VC “đánh tư sản” làm cho hàng triệu gia đình tan nát. Đồng thời, chúng đầy đoạ để trả thù hàng trăm ngàn Quân Nhân, Công Chức và Cảnh Sát VNCH trong ngục tù—nguỵ danh là trại “học tập cải tạo”. Thâm độc và đểu cáng nhất là chiến dịch “Hoa Nở Về Đêm”! Vì “Đảng” thừa biết, hàng trăm ngàn gia đình Quân Nhân, Công Chức, Cảnh Sát VNCH, bị sa vào cảnh bần cùng. Khi người chồng bị đầy đọa trong tù thì người vợ trẻ ở nhà, biết làm gì nuôi thân và nuôi con? Nên “Đảng” bèn bật đèn xanh, cho cán bộ, bộ đội, hay công an đến nhà dụ dỗ, hăm dọa và lừa gạt. Trước cảnh “cây gậy và củ cà rốt” có bao nhiêu thiếu phụ, vẫn giữ lòng son sắt trong khi chồng bị sa cơ? Có bao nhiêu người đã “thay dạ đổi lòng”? Có bao nhiều người bị sa ngã, hoặc bị lừa gạt?

Dù sao, lời nói của tên thổ phỉ Nguyễn Hộ vẫn là bằng cớ hùng hồn cho thấy, chiến dịch “Hoa Nở Về Đêm” là sự thật. Nhiều người còn nhớ, khi thảo luận cùng đồng đảng về cách đối xử với thành phần “Quân, Cán, Cảnh VNCH” thì Hộ công khai bảo rằng:

“Nhà của chúng: Ta ở; vợ của chúng: Ta lấy; con của chúng: Ta sai; còn chúng: Ta cho vào tù trong những khu rừng thiêng nước độc...”.

Hiện thời, hàng chục năm trời đã trôi qua—kể từ khi chiến tranh chấm dứt. Nếu phỏng theo luận điệu của VC thì “dưới ánh sáng Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”, nước VN đã “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” đến mục tiêu: Trung tâm mua bán nô lệ, kể cả nộ lệ tình dục và trẻ thơ, với giá rẻ nhất thế giới.

Điển hình là kỹ nghệ du lịch gắn liền với các dịch vụ mãi dâm — do các công ty “Quốc Doanh” hay Công An và Quân Đội VC khai khác — là một trong những tệ đoan do nhà nước XHCN chủ xướng, không thể nào chối cãi. Bên ngoài thì VC đóng kịch cấm đoán chuyện mãi dâm. Nhưng thực sự bên trong, chúng muốn sử dụng thân xác gái điếm, nhằm thu hút du khách làng chơi ngoại quốc, kiếm Ðô-La, nuôi Công An và Bộ Đội, bảo vệ chế độ.

Trong thời XHCN thì "thượng bất chánh, hạ tắc loạn". Bên trên thì trùm Mafia Đỏ làm chuyện hại dân hại nước, dâng cả lãnh thổ và lãnh hải cho Tàu Cộng. Bên dưới thì trùm Mafia Đen là Năm Cam cùng ma cô, du đãng, cướp trộm hoành hành.

Hồi đầu năm 2003 vừa rồi, báo chí VC đã tiết lộ, có cả ngàn cán bộ Cộng Sản, kể cả đảng viên cao cấp —như cựu thủ tướng VC Võ Văn Kiệt; Trần Mai Hạnh, Giám Đốc đài phát thanh VC; Phạm Sĩ Chiến, Phó Giám Đốc Viện Kiểm Soát Nhân Dân v.v.—đã đỡ đầu, che chở, hay đồng loã với trùm Mafia Năm Cam trong các “dịch vụ”: Mãi dâm, tống tiền, thủ tiêu nhân chứng, cướp đoạt tài sản của dân, buôn lậu ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ thơ ra ngoại quốc.

Thảm cảnh trên đất nước chúng ta, đại cương là như thế. Nên hình ảnh cán binh VC—chân đi "dép râu", đầu đội "nón cối" hay nón "tai bèo"—đã làm cho dân chúng VN ghê tởm:

Đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ
Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai

Vì “đời son trẻ bị dẫm nát”. Vì “tương lai bị che khuất”. Nên hàng triệu người Việt phải bỏ “quê cha đất tổ”, liều mình trốn chạy VC. Theo Liên Hiệp Quốc phỏng đoán thì tổng cộng có khoảng từ 6 đến 7 triệu thuyền nhân đã liều mạng vượt biên vượt biển. Nhưng chỉ có độ 40% là đến được bến bờ Tự Do. Phần còn lại bị chết vì đắm tàu lúc gặp bão. Vì hải tặc giết hại, hay bị chúng bắt mang đi rồi biệt tăm. Thảm cảnh đau thương diễn ra liên tiếp khoảng 10 năm trời. Máu và nước mắt của đồng bào tỵ nạn lai láng khắp nơi trên biển Đông. Muôn người khóc than ai oán. Tưởng là gỗ đá cũng mủi lòng thương. Thế mà VC lại có thể buông lời mỉa mai đồng bào tỵ nạn lúc sa vào thảm cảnh “thần sầu quỷ khốc”:

“Chúng là rác rưởi, trôi dạt khắp năm châu bốn biển. Không ai thèm vớt. Nếu có vớt thì cũng vì bắt buộc”.

Đó là lời nói của thủ tướng giặc VC là Phạm Văn Đồng. Tiếp đến là Ðỗ Mười, cũng nhân danh là Thủ Tướng, chửi bới đồng bào tỵ nạn thậm tệ:

“Chúng là bọn du đãng đĩ điếm, trốn chạy theo Mỹ Ngụy ra nước ngoài để có bơ thừa sữa cặn mà ăn ”.

Thế nhưng, khoảng 10 năm sau, bọn “lòng lang dạ thú” đánh hơi, biết trong túi người tỵ nạn có nhiều Đô-La thì chúng xoay chiều 180 độ, ngỏ lời ve vãn:

“Họ là da thịt của chúng ta. Họ là máu mủ của chúng ta. Họ là khúc ruột của chúng ta ngoài ngàn dậm”.

Quả thật là “nói như VẸM”, trâng tráo như thế là cùng! Vậy mà vẫn có người nghe!!! Chứng cớ là nhiều người đã xin kẻ thù cấp chiếu khán, “bỏ áo tỵ nạn”, mặc “áo gấm về làng”.

* Ai Mặc “Áo Gấm Về Làng”? Ai Đi Theo “Tặc Tử” Phạm Tuyên?

Đó là những người về VN với chủ đích để huênh hoang “cái tôi giàu sang phú quý”—trước thảm cảnh lầm than nghèo khổ của họ hàng hay bạn hữu và đồng bào quốc nội. Thậm chí, một số người còn vô luân và bất nhân đến độ, về VN với dã tâm, đi từ nơi này đến nơi khác để lừa gạt các thiếu nữ nghèo khổ—muốn đi Mỹ; hay mua trinh tiết của các trẻ thơ; hoặc vui thú trên thân xác của các thiếu nữ bất hạnh sinh ra trong thời XHCN!!! Nhiều kẻ thì về VN thường xuyên vì mấy ‘cô vợ non’, ‘bồ nhí’ hoặc ‘gái bao’ thúc dục!!!

Phải chăng, tất cả những thành phần này muốn quên “cỗi nguồn tỵ nạn VC”? Kẻ thì biến thành “những con kên kên” trước cảnh khổ đau của đồng bào. Kẻ thì biến thành “Việt Kiều” đúng như ý bọn Mafia mong muốn. Tệ trạng “áo gấm về làng” đã góp phần không nhỏ giúp VC vừa “được tiếng, vừa được miếng”. Được tiếng là “cởi mở”, là “đổi mơí”, là “hoà hợp hoà giải dân tộc”... Được miếng là mỗi năm có vài tỷ Đô-la.

Hiển nhiên, VC sử dụng ngân khoản ấy để mua thêm súng đạn, tăng cường phương tiện cho công an và bộ đội, để chúng có thêm sức mạnh, xiết chặt gông cùm Mác-Xít trên đầu trên cổ người dân.

Đồng thời, VC còn dùng số tiền “viện trợ” ấy để hoạt động “nằm vùng” ở hải ngoại; trả tiền cho bọn Việt gian cùng bọn bồi bút—viết báo hỗ trợ những chiêu bài của mấy tổ chức “chống cộng cuội” và đánh phá những người Quốc Gia chân chính, gây ra cảnh nhiễu nhương trong cộng đồng tỵ nạn. Hệ quả là đồng bào chán nản. Ý chí đấu tranh cũng như tinh thần chống Cộng bị suy thoái.

Có lẽ, quái gở nhất trong khối tỵ nạn là hành động của một số cựu Quân Nhân và Công Chức “trở cờ đón gió”. Dẫn đầu là vài ba Tướng Tá, đã có những hành động PHẢN PHÚC—không khác Phạm Tuyên “vong ân bội nghĩa” với ông cha. Không hiểu nguyên do nào mà cảm quan của họ đã bị tê liệt? Tê liệt đến độ không còn biết đến liêm sỉ hay danh dự của chính bản thân họ!

Chứng cớ là họ đã hưởng ứng quỷ kế xuyên tạc lịch sử của VC. Kẻ thì viết bài ca tụng tên quốc tặc Hồ Chí Minh và đảng giặc gian manh VC. Kẻ thì bịa chuyện trong “hồi ký” để bôi nhọ Chính Nghĩa của VNCH mà chính bản thân đương sự đã phục vụ gần hết đời người.

Thậm chí, có kẻ còn tự ý “bôi tro trán trấu” vào mặt, đi về VN làm công cụ tuyên truyền cho giặc. Ắt hẳn, tất cả danh tánh và hành động của họ sẽ bị “lưu xú vạn niên” trong sử sách.

Chỉ tiếc rằng, trong khi đảng giặc VC có sở trường đại gian đại ác, nhất là sách lược “Công An Trị” cùng kỹ thuật tuyên truyền để “lừa già dối trẻ” rất thiện nghệ thì tình trạng dân trí của một số khá đông đồng bào chúng ta lại “thấp kém”, nên cứ bị lừa gạt hết lần này đến lần khác.

Chỉ tiếc rằng, trong khi Chính Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc càng ngày càng sáng tỏ thì nhóm thiểu số cựu Quân Nhân và Công Chức VNCH lại “trở cờ đón gió” cùng với bọn “áo gấm về làng” đã “tiếp máu” cho VC – đáng kể nhất là mỗi năm vài ba tỷ Đô-La.

Đó là vài nguyên nhân điển hình đã “giúp” đảng giặc gian manh VC tiếp tục nắm quyền cai trị trên đất nước trong khi các nước CS Đông Âu và Ðế Quốc Ðỏ là Liên Bang Xô Viết đã tan rã từ nhiều năm qua.

Ngày Quốc Hận 30-4-03
Trần Quốc Kháng
Rev Tháng Tư Ðen 2009


Tiểu Bang Massachusetts: Cấm Sử Dụng Cờ Máu Của Việt Cộng,

Tiểu Bang Massachusetts: Cấm Sử Dụng Cờ Máu Của Việt Cộng, Chỉ Sử Dụng Cờ Vàng Đại Diện Cho Việt Nam

Nguyễn Thị Sông Hương

http://vietvungvinh.com/Portal.asp?goto=VietNam/2009/20090403_06.htm


Các Dân Biểu Thượng Và Hạ Viện Tiểu Bang Massachusetts vừa thông qua nghị quyết trong cuối tháng 3 năm 2009 là Cấm Cờ Đỏ Cộng Sản VN Được Treo ở tiểu bang nầy . Theo Nghị Quyết chung (H 3415) của Tiểu Bang Massachusetts gồm nhiều điều khoản khác nhau , trong đó có điều khoản Cấm treo cờ đỏ CSVN được thông qua với House 145-0, Senate 37-0 . Trong điều khoản ghi rõ như sau:

"BAN NORTH VIETNAMESE FLAG - This bill would provide that the old South Vietnamese flag be the only flag depicting the country of Vietnam that may be displayed at any state-sponsored public function or in any public institution of learning. Supporters note that the flag, a symbol of resilience, freedom and democracy, was the official flag of South Vietnam from 1954 until that country surrendered to North Vietnam in 1975. They say that the flag of the current oppressive Communist regime of Vietnam is offensive to many Vietnamese-Americans and should not be used at public events."

Tạm dịch: "CẤM TREO CỜ BẮC VIỆT - Nghị Quyết chỉ định lá cờ cũ Nam Việt Nam (Cờ Vàng) là lá cờ duy nhất đại diện cho quốc gia Việt Nam có thể dùng để treo trong các buổi sinh hoạt công cộng do Tiểu Bang bảo trợ hay được treo ở các cơ sở Giáo Dục công cộng . Theo các nhà yểm trợ nhận định là Cờ Nam Việt Nam (Cờ Vàng) là biểu tượng của sự Quật Cường, Nhân Ái và Dân Chủ từ năm 1954 cho tới khi đất nước rơi vào tay CSVN năm 1975 . Hơn nữa cờ CSVN là lá cờ chủ nghĩa CSVN mang tính đàn áp, kích động tinh thần người Mỹ Gốc Việt nên không thể dùng để treo trong các buổi sinh hoạt công cộng .

Điều khoản nầy được thông quốc hội Tiểu Bang Massachusetts thông qua 145-0, Senate 37-0 là một chiến thắng của Người Việt Hải Ngoại tại Tiểu Bang Massachusetts nói riêng và toàn thế giới nói chung.

Nguyễn Thị Sông Hương

http://www.wickedlocal.com/westwood/town_info/government/x1465806930/Beacon-Hill-Roll-Call

Friday, April 3, 2009

TỘI ÁC CỘNG SẢN, 30-4 - Phạm Ðào Nguyên

Phạm Ðào Nguyên

Hằng năm cứ vào ngày 30- 4, người Việt khắp nơi ở hải ngoại biểu tình, hay làm lễ tưởng niệm ngày Quốc hận. Bầu trời mờ đục che khuất dưới vòm mây xám. Năm nay trời mưa buồn lê thê như chia xẻ niềm ưu tư, và thông cảm nỗi xót xa của dân Việt trên toàn thế giới, có cả người trong nước đang bị gông xiềng dưới chế độ cộng sản.

Ngày 30-4-75 miền Nam tự do sụp đổ, đã đưa dân tộc Việt ở cả hai miền Nam Bắc đến tận cùng nỗi khổ. Nước Việt Nam đã biến thành địa ngục của trần gian. Lòng tôi bùi ngùi xúc động, nhớ lại những gì đã xảy ra trên quê hương tôi ngày ấy, 30- 4 -1975.

Bây giờ là tháng 4, tôi xin kể về những nỗi thống khổ của người miền Nam sau 1975, để chúng ta có dịp ôn cố tri tân. Sau tháng tư năm 1975, con dân nước Việt trên toàn cõi Việt nam đều ngậm ngùi rơi lệ, vì chúng ta đã mất tất cả. Một Việt nam Tự do không còn nữa, dù bạn là người miền Nam hay miền Bắc. Cho đến ngày nay, sau ba mươi bốn năm hoà bình, Việt Nam vẫn đang mãi quằn quại trong gông cùm nô lệ, đói nghèo, đàn áp, và xiềng xích của bọn cộng sản.

Bây giờ sống ở Mỹ, nhưng tôi cũng không biết tại sao tôi nhớ Việt nam? Nhiều lúc tôi hỏi chính mình, tôi nhớ qúa, nhớ con đường làng, nhớ chợ quê, nhớ ngày Tết, nhớ dòng sông! Ở đó có quá nhiều kỷ niệm, dù nhiều kỷ niệm đau thương đến với gia đình tôi. Hơn 20 năm xa xứ, tôi chưa về thăm lại một lần. Việt nam là quê hương tôi, là mồ mả cha ông, là bà con thân tộc, còn đối với người Mỹ, Việt nam vẫn mãi mãi là vết thương không bao giờ lành. Dù 30 năm sau, tất cả các cuộc chiến xảy ra, người Mỹ đã đem cuộc chiến Việtnam ra mổ xẻ, phân tích và nghiên cứu.

Tôi không phải là nhà văn, nhà báo, cũng không làm chính trị, không là cán bộ hay làm lính trước năm 1975. Tôi là một giáo viên. Nhiệm vụ của tôi là dạy dỗ con em yêu gia đình, yêu tổ quốc Việt nam, và giảng giải đời sống khoa học thực dụng chung quanh các em. Tôi chỉ mong làm tròn bổn phận một công dân trong xã hội, phục vụ nhân quần tròn trách nhiệm của mình. Tôi không tham gia chính trị, tôi cũng không cần phải liên hệ với chính trị đảng phái. Tôi sinh ra trước khi hiệp định Geneve ký kết và lớn lên ở Miền Nam; tôi được thừa hưởng mọi điều tự do tự nhiên không phân vân, hay thắc mắc. Từ sau ngày Cộng sản giết cha, cha tôi làm thầy thuốc bắc, nào có tội tình chi. Hai bác tôi là nông dân, cũng bị bắt lên núi rồi mất tích, lúc ấy tôi nhìn cộng sản như một loại khủng bố hung tàn, khi còn hai miền Nam Bắc đối nghịch nhau.

Sau 29-3-1975, tôi trở về sống ở làng quê với Cộng sản, tôi thấy rõ bộ mặt thật của cộng sản là khủng bố, độc tài và gian ác. Con người dưới chế độ cộng sản luôn luôn sợ hãi, đói nghèo, và nô lệ. Đảng cộng sản Việtnam là hiện thân của lừa bịp, láo khoét và tàn ác. Họ có khoảng chừng hai triệu người nhưng đã thống trị và đô hộ cả 80 triệu người khác dưới một chính sách ác nghiệt. Cộng sản là lũ qủy hay là loài thú dã man đội lốt người.

Bây giờ nhiều người nói rằng chuyện đã xưa rồi, hảy quên, nhớ làm gì, nhưng tôi vẫn cứ nhớ. Tôi muốn được kể cho con cháu tôi biết rằng tại sao chúng ta phải tha phương cầu thực. Tại sao các con là người Việt nam phải sống rải rác các nơi trên thế giới từ nước này đến nước khác sau ngày 30-4-75. Nhìn lại được nhau là nhờ mớ tóc đen, da vàng mũi tẹt. Gặp nhau hỏi thăm rằng anh là người Á châu? Thậm chí có người không còn muốn nhìn mình là người Việt nam. Vậy thì tôi xin viết ra đây những gì có thật bằng mắt thấy tai nghe, để con cháu tôi hãnh diện được làm người Việt nam mà không quay mặt phủ nhận gốc gác của mình.

Người Việt nam ra đi là người Việt nam đã hứng chịu chồng chất tai ương do cộng sản đổ lên đầu, sau ngày chế độ tự do miền Nam sụp đổ. Đến bây giờ sau 34 năm, Việt nam vẫn chưa có Tự do, không có quyền làm người, và dân chúng vẫn mãi đói nghèo, ngoại trừ hai triệu đảng viên. Có hàng trăm tên đảng viên cộng sản gởi tiền ở ngân hàng Thụy sĩ, mỗi người có đến từ 2-3 tỉ đô la? Tại sao chúng có nhiều tiền đến thế, mà trong khi dân chúng lại cơ hàn. Thế giới còn phải lên tiếng vì tình trạng đói nghèo của dân Việt Nam. Đàn bà, con gái, con nít, là sản phẩm để chế độ đem bán qua các gian thương cho ngoại quốc để lấy ngoại tệ!! Một dân tộc đang chìm đắm trong mọi hoàng cảnh nô lệ.

Tôi đã chứng kiến sự bạo tàn, áp chế của một chế độ đầy quyền lực sắt máu, và độc tài để cai trị nhân dân. Mạng sống của con người rẻ mạt như cỏ rác, họ muốn giết, nửa đêm gọi cửa, dẫn ra bải cát, hay triền núi bắn bỏ. Năm ba hôm sau có ai thấy được, thân nhân lượm xác về chôn. Đang đêm du kích dẫn cả bầy đến nhà, ùa vào đánh người mà có ai thèm điều tra, hay bảo vệ đâu. Ai kêu oan ta thán, chưởi bới là bị ghép phản động đưa đi tù. Nhiều danh từ mới mà người Nam chúng tôi chưa nghe thấy bao giờ như ,“Bọn ác ôn, bọn phản động hiện hành, giải phóng, cách mạng, thành phần bóc lột, tư sản mại bản, ngụy quân, ngụy quyền, hồ hởi phấn khởi, cải tạo tư tưởng, cải tạo lao động, cách mạng văn hóa, cách mạng nông nghiệp v.v...”. Tất cả những từ ngữ thật kêu này dùng để che lấp sự ngược đãi, đói nghèo, tù tội, và cướp bóc. Nhiều từ ngữ được đảo ngược lại, cũng như chính sách cai trị của họ với chính sách tự do ngày trước.

Quê tôi giải phóng bao người đói
Cả vạn khối người bị cùm gông
Bỏ tù được gọi là cải tạo
Kinh tế mới, đón người khắp phố đông

Trời Nam tan tóc loài quỷ lộng

Tiếng khóc lời than ngập non sông

Liền sau ngày 30-3-75 khi Cộng sản tiếp thu Đà Nẵng, việc đầu tiên vô nhân đạo là vào bệnh viện Duy Tân, quân du kích, và bộ đội đuổi hết những thương binh, phế binh của miền Nam ra khỏi bệnh viện. Những thương bệnh binh còn đau, vết thương chưa lành. Những chiếc xe lăn của họ bị cướp đoạt, những người lính mù lòa cõng trên vai người lính cụt chân. Những thương bệnh binh còn mang bọc ruột bên ngoài được đồng đội què quặt dìu dắt. Họ vất vưởng trên đường phố, tôi đứng nhìn theo, mắt rơi lệ, lòng ngậm ngùi.

Một cuộc giải phóng của bọn cướp của giết người đã đưa mấy chục triệu người dân Nam Việt nam đến tận cùng nỗi khổ, và đói rét khốn cùng. Cộng sản biến miền Nam nước Việt thành địa ngục của trần gian, một nơi chốn đen tối nhất của xã hội loài người trên thế giới. Thế giới của cộng sản, một thế giới chết chóc, đói nghèo và tù tội.

Khoảng 200 ngàn người thanh niên, đàn ông vì tham gia bảo vệ miền Nam nay trở thành tội phạm. Họ trở nên những tên tù. Một thứ tù được bắt đi bằng những lời lưà bịp từ chính thể gọi là Việt nam Dân Chủ Cộng hoà, Độc lập Tự do Hạnh phúc của cộng sản Việt nam. Họ gọi là hoà giải hoà hợp và đưa những người của chính quyền cũ đi học tập chính sách 10-15 ngày tùy theo cấp bực. Một sự lưà bịp trắng trợn có cần gì chứng minh không vì nó rõ ràng trước mặt, họ thành những tên tù, đúng hơn là nô dịch không có án. Nhà tù mọc lên như nấm dọc theo Trường sơn. Có người làm nô dịch đến chết vì đói vì bịnh hay lao khổ. Con người không còn là con người mà là con vật người.

Người tù ở trong một nhà tù nhỏ, và người dân ở trong nhà tù lớn hơn, nhà tù cộng sản. Mọi người sống trong bóng tối cộng sản, không có được nguồn tin tức nào từ thế giới bên ngoài. Phố xá xác xơ, nghèo đói chết chóc vất vưởng chung quanh. Mọi người hoảng sợ lẫn nhau, vì mạng lưới công an khủng bố, tổ chức cài đặt khắp nơi có hệ thống để theo dõi mọi người, từ trẻ con đến đàn bà đàn ông, anh hàng xóm tới anh bộ đội. Mạng lưới khủng bố đe dọa kinh hoàng.

Kinh tế hoàn toàn bế tắc, mọi người không có việc làm, ngoại trừ làm ruộng. Lao động là vinh quang, là chủ thuyết làm cho dân nghèo đi để trị của cộng sản hay bọn cộng sản ngu?. Người dân ăn “sắn hay củ mì”, khoai, bo bo, chút ít gạo, có khi nhiều năm trường, con người trở nên xanh xao, bịnh hoạn. Nhiều thương gia, chính khách trước đây từng ủng hộ, họ âm thầm tiếp tế cho cộng sản, giờ hoảng hốt sợ hải, chờ tới phiên mình lên đoạn đầu đài, ân hận thì đã muộn màng. Đó là trường hợp của những người có học ở miền Nam tham gia Mặt Trận giải phóng miền Nam sau tháng 4-75 chỉ tồn tại ba tháng là bị đạp đổ. Trương như Tảng bỏ chạy, Nguyễn Hữu Thọ, Đoàn văn Toại, Kiều Mộng Thu, Trịnh Ðình Thảo, Phạm văn Thảo vv... bị đá văng ra khỏi cái chính quyền cộng sản một cách thê thảm. Một số bị tù? Người Mỹ như bà Jean Fonda mặc áo bà ba đen, ôm súng AK ủng hộ Hồ chí Minh, ủng hộ cộng sản vì người Mỹ chưa từng sống dưới sự cai trị tàn bạo của Cộng sản bao giờ.

Hơn mười năm sống với cộng sản, tôi thấy bằng chính mắt, nghe bằng chính tai tôi những tội ác của chế độ cộng sản phi nhân này gây ra. Những điều kinh hoàng về chế độ mà ngày trước 75, tôi sinh ra ở miền Nam, hay bây giờ con tôi lớn lên ở Mỹ, không thể tưởng tượng là có thật.

Trước năm 75 hằng ngày tôi chứng kiến cảnh chết chóc của những người lính từ hai miền Nam Bắc trên xóm làng quê hương tôi, tuy đau khổ nhưng không khổ bằng sau 75. Sau năm 75, số người chết tương đương với những năm chinh chiến: người tự tử hàng ngày từ miền quê đến thị thành vì áp bức, vì đói nghèo, vì khủng bố. Những người thanh niên, thanh nữ bị chết bởi bắt đi khai hoang vào những bải mìn, bãi cỏ bỏ hoang từ bao lâu nay. Hễ hở ra một tiếng thở dài ta thán, cũng bị theo dõi là có tư tưởng phản động.

Người đói chết trong tù, người đói chết bên đường. Người chết ngoài biển khơi, người chết trên rừng già. Người chết vì bị giết, hay bị lao dịch. Người chết vì vượt biên bị người Miên giết, bị cộng sản bắt được giết, hay bị Thái giết. Người thất chí nói chống đối bị bắt đánh tới chết, người khác bị bỏ tù, nhà tù mở ra như nấm từ thành phố đến Trường sơn.

Miền Nam Việt nam trở thành nhà tù hay địa ngục đầy kinh dị, mà tôi, người miền Nam chưa hề tưởng tượng hay nghe nói đến, trong lịch sử loài người. Nhớ những năm 78 người vượt biên bị bắt được gọi “Phản quốc, ” bị bắn tại chỗ, thế rồi bây giờ đổi thành “Việt Kiều Yêu Nước.” Đừng nghe những gì Việt cộng nói mà hãy nhìn những gì Việt cộng làm.

Người cộng sản dùng những chiêu bài như “Nước Việt nam là một, người Việt nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi.” Hay “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.” Mục đích là muốn chiếm trọn miền Nam để cướp bóc dã man từ tài sản đến nhân mạng bằng nhiều cách, nhiều chiến thuật, chính sách ấy thực hiện liên tục móc nối nhau: Thứ nhất đưa đàn ông đi tù làm nô dịch, rồi dân ở thành phố bị cô lập đến đói, thực phẩm không được chuyển vào thành phố. Giá cả thực phẩm ở thành phố tăng vọt hàng ngày hàng giờ. Trong khi những gia đình Ngụy, nhất là những người đàn bà trước kia là công chức, nay không có việc làm, họ đem bán tất cả đồ đạc có được như đồ trang sức, áo quần, bàn ghế, tất cả những gì có thể được để đổi lấy miếng ăn.

Ai đi buôn thì bị đón bắt tịch thu dọc đường, vì người đi buôn là có tội, tội lười biếng không lao động. Chiến dịch “Ngăn sông, cấm chợ, và lao động là vinh quang,” một chính sách dã man, ăn cướp cạn, không luật pháp. Cộng sản là bọn thú đội lốt người. Luật trên đầu súng, luật của cộng sản là luật rừng của bọn cướp.

Dần dà người thành phố vì đói nghèo, đành bỏ phố mà ra đi theo áp lực của chính quyền cộng sản phải đi vào những miền mà Cộng sản đặt tên “Kinh tế mới,” để lao động. Một số đàn bà bị họ dụ dỗ, lừa đảo là đi Kinh Tế Mới để chồng con được tha về, cùng nhau lên núi tạo đời sống mới. Nhưng khi người vợ đi rồi, nhà cửa bị họ lấy bằng cách thu mua rẻ mạt, còn chồng con vẫn mãi ở trong tù. Núi non trùng điệp, rừng thiêng nước độc, những người đàn bà tay yếu chân mềm từ trước đến nay, đến đây ít tháng con cái bị bệnh sốt rét hoành hành, đói khát, chết dở sống dở, đành chạy về lại thành phố sống la lết ở rầm cầu, xó chợ qua ngày. Rồi thì công an bắt được đưa đi tù, bỏ đàn con đói khát, khốn khổ bơ vơ. Trẻ con làm đủ thứ nghề để sống, con gái làm điếm, con trai ma cô, trộm cướp du đãng. Tai họa đến thì phải đi tù. Có khi một gia đình cha bị tù vì làm việc trước 75, mẹ tù vì cư ngụ bất hợp pháp hay chống đối, còn con cái vì làm điếm, hay trộm cướp đi tù. Ai thấu cho nỗi niềm đau của dân chúng miền Nam sau thời 75.

Số đàn bà nào ù lì ở lại thành phố thì sa ngay vào chiến dịch “HOA HỒNG,” tức là những nhà đàn bà có chồng đi cải tạo, được chính quyền gởi cán bộ, bộ đội tới ở trong nhà. Họ dùng bằng được mọi thủ đoạn nhặt khoan để họ cướp vợ. Làm sao họ cướp được của rồi, họ phải cướp vợ của người miền Nam. Làm sao để người miền Nam tan tóc, đổ nát, thì họ mới vui. Biết bao người đàn bà lấy cán bộ. Bọn cộng sản đã tài chủ hóa, sở hữu hoá những nhà này, vợ này thành của họ. Những người lính hay cán bộ chính quyền cũ trình diện học tập 10 ngày, nay trở thành nô dịch vô hạn định. Làm nô dịch không án tù, không ai biết được số phận của mình. Những đứa con của họ không được tiếp tục theo học tiếp sau trung học.

Cộng sản bài trừ triệt để những người của thế hệ sau, liên hệ với người chính quyền cũ đến ba đời. Những đứa con có cha làm cho chính quyền Quốc gia chỉ còn cách cắt đá, làm đường sắt, làm công nhân, và không bao giờ có cơ hội ngóc đầu nổi. Một nạn kỳ thị khủng khiếp phủ lên đầu con dân miền Nam bằng cái “Hộ Khẩu” mà có người nói lái là hậu khổ, chưa từng có trên thế gian này, ngoại trừ người Việt nam.

Những chiến dịch khủng bố tinh thần xảy ra liên tục từ 1-5-1975, cộng sản quyét sạch văn hoá tự do bằng cách tịch thu sách báo, tạp chí, đặc san của người miền Nam, mà họ gọi là sách báo đồi trụy. Bắt đầu, họ tổ chức những đội thanh niên xung phong đi tịch thu ở từng nhà một, tất cả các lọai sách báo miền Nam. Cấm hát tất cả loại nhạc miền Nam, cộng gọi là nhạc vàng, làm con người yếu hèn. Ai cất dấu bắt được, bị bắt, bị tù.

Nhà tù nhan nhản trên miền núi, vì ở đó họ đang cần công nhân nô lệ làm nô dịch để sản xuất phụng sự cho 2 triệu cán bộ và quân đội. Những bản nhạc chém giết như “Giải phóng miền Nam, Tiếng chày trên sóc Mâm bô, Tiếng đàn ta lư, Ai yêu bác Hồ...” toàn là lời nhạc chém giết như ,“Cầm gươm ôm súng xông tới...” hát theo kiểu Tàu éo éo chói tai. Chiến dịch bài trừ này kéo dài theo thời gian từ 1-5-75 cho đến năm 1982 thì nhẹ bớt, và nỗ lực ráo riết nhất là 1981 cho đến khi thật sự không còn sách báo nữa mới thôi.

Những sách báo miền Nam được chia làm năm loại: được đăng tải trên các báo cộng sản như Tạp chí Cộng sản, Tin sáng, Quân đội nhân dân, Sài gòn giải phóng vv...

Loại A là loại sách chống cộng và ca tụng chính thể tự do của Mỹ như sách cuả Nguyễn mạnh Côn, Duyên Anh, Nhất Linh..vv... sách dịch gồm những tác giả André Gide, Pearl Buck, Pasternak v.v..
Loại B là loại sách khêu gợi, đầu độc, cộng sản gọi là văn hóa đồi trụy như của Miller, Kazan, Francoise Sagan, Trần thanh Hiệp, Thanh tâm Tuyền vv...

Loại C là loại sách tình cảm, nhạc vàng, gồm những tác giả như Bàng bá Lân, Mộng Tuyết, Tuệ Nga, Eric Sagan, S. Maugham, R. Nathan, A. Dumas, Lamartine vv..

Loại D là loại sách về tôn giáo và triết học. Trong loại này được chấp nhận một số ít vì có vài loại sách chống Mỹ.

Loại E loại phản chiến và khoa học kỹ thuật. Loại sách này nếu bắt được tạm thời tha.

Loại F là loại gồm sách đấu tranh, sáng tạo hay nghệ thuật.

Số sách tịch thu được nhiều nhất là 1981, thành phố Sài gòn khoảng 60 tấn, ba tỉnh Bình Trị Thiên khoảng 50 tấn, tỉnh Quảng Nam 10 tấn. Cùng năm này, công an lùng bắt và nhiều người còn giữ sách đã bị ra toà án nhân dân và bị đi lao dịch.

Trên mặt trận kinh tế, họ đổi tiền ba lần để bần cùng hoá người dân miền Nam. Lần thứ nhất ngày 22-9-75 với tỉ lệ là 1 đồng mới bằng 500 đồng tiền cũ giới hạn 200 đồng cho mỗi hộ. Trong đợt này họ phát hành 8 loại giấy bạc: 10 xu, 20 xu, 50 xu, 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng và 50 đồng. Rất khó khăn nhất cho người dân miền Nam là đồng bạc 50 đồng, vì không có tiền thối lại.

Lần thứ hai ngày 3-5-78 đổi tiền cả hai miền Nam Bắc. Miền Bắc 1 đồng đổi 1 đồng thống nhất, nhưng 1 đồng miền Nam bằng 8 hào thống nhất. Đợt này họ phát hành thêm 5xu, 10 xu, 20 xu, 50 xu, 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 30 đồng, 50 đồng, và 100 đồng.

Lần thứ ba đổi tiền ngày 14-9-85. Một lần nữa họ đổi tiền theo tỷ giá 10 đồng tiền cũ được 1 đồng tiền mới. Họ phát hành tiền loại 2 đồng, 10 đồng, 30 đồng, 50 đồng, 100 đồng. Năm 1978 là năm mà kinh tế miền Nam khủng hoảng nhất, dân miền Nam đói rét khủng khiếp nhất. Người miền Nam từ thiên đường rơi tỏm xuống địa ngục. Khi đói nghèo thì ta thán, bỏ chạy, còn nhân dân miền Bắc thì chịu đựng những cơn đói hành hạ từng bao nhiêu chục năm trường trước đây, họ trở nên lì hơn.

Mục đích những lần đổi tiền là làm nhỏ đi đồng tiền miền Nam Việt Nam, nghĩa là bần cùng hóa nhân dân miền Nam để cai trị. Ba lần như vậy, người miền Nam không còn gì hết, từ nghèo đến đói và tóc tang. Đồng thời cùng một lúc với các chiến dịch đổi tiền, tịch thu sách báo, họ đánh tư sản mại bản nhiều lần. Họ kiểm kê tài sản hàng hóa những thương gia miền Nam, từ thành thị đến thôn quê, rồi đưa nhóm người này vào tù. Họ lấy tất cả nhà cửa, hàng hóa, vàng bạc, đưa thương gia đi lao dịch, và vợ con đi vào kinh tế mới để sản xuất. Núi rừng thâm sơn gió chướng, bệnh hoạn giết chết bao người!

Đầu năm 1978, chiến dịch đuổi người Tàu ra khỏi nước, bằng cách thu nộp mỗi người 10-20 lượng vàng để đóng tàu bè ra đi. Người muốn đi ngoại quốc phải ký giao nhà cửa cho cán bộ quản lý hay đúng ra là hình thức ăn cướp hay hối lộ. Họ làm hỏng máy và cho những chiếc tàu ra khơi không an toàn vào ngày gió bão để giết người hàng loạt trên biển Đông. Có những tàu quá trọng tải nên vừa ra khơi là chìm, miễn sao cán bộ cộng sản lấy được tiền, vàng bạc, nhà của. Số cán bộ làm giàu rất mau lẹ trên xương máu người đồng chủng không thương tiếc, không còn có chút cảm giác của con người. Đó là loại người cộng sản, loại người lạnh máu, loại người vô nhân đạo nhất thế gian này.

Ở nông thôn, họ tịch thu ruộng đất của dân chúng, thành lập hợp tác xã. Của cải tài sản của dân nay biến thành của nhà nước hay cán bộ, và dân chúng đi làm thuê, cán bộ tính công hàng ngày. Cộng sản cấm buôn thúng bán bưng, mọi dịch vụ thương mại đi vào hợp tác xã mua bán, và dẹp chợ, vì mọi người phải đi lao động hàng ngày. Mỗi ngày làm 8 tiếng có được từ 6 đến 10 điểm đến khi chúng tính chia chỉ có hai ký lúa, khoảng 1 ký gạo? Làm sao đủ sống? Hàng năm mỗi người còn phải đóng thuế thân là 360 điểm cho xã hội chủ nghĩa. “Lao động là Vinh quang,” câu khẩu hiệu, câu châm ngôn đầu môi mép miệng của bọn cộng sản. Mọi người dân từ thành thị đến thôn quê kêu trời không thấu, ngữa mặt thấy máu rơi, tội tù và đói khổ.

Cộng sản giết người bằng những thủ đoạn âm thầm, thâm độc mà người ngoại quốc mới nhìn vào cứ tưởng là khoan hồng. Thật ra, những người miền Nam có tội tình gì? Tội bảo vệ tự do, tội chống lại sự xâm lăng của miền Bắc, tội bảo vệ tài sản mình ư? Dưới chế độ cộng sản, con người không còn quyền làm người, ra khỏi thôn là phải xin phép công an, đám giổ đám cúng phải xin phép vì luật không tụ họp quá hai người. Nếu chính quyền địa phương không cho phép thì sẽ bị bắt đi tù. Ban đêm tụi công an mật vụ đi rình từng nhà nghe thử có ai nói lời bất mãn không. Hằng ngày có ai đến nhà, họ nói gì, ai ăn ngon mặc đẹp mà khai nghèo, thì sẽ phải đi tù vì khai baó không thật thà? Không được đi lại, không được nói, không được ăn, không được đi chùa đi nhà thờ, tất cả là không. Không còn gì nữa cả dưới chế độ cộng sản. Vô sản, vô quyền, vô thần mới đúng nghĩa của chính sách của cộng sản Việt nam. Tất cả đời sống con người bị kiểm sóat, kiềm kẹp chặt chẽ bằng mọi cáh. Đi đến đâu là có mật vụ theo dỏi, ngay cả con nít cũng bị đầu độc trong việc này.

Con người dưới chế độ cộng sản là sống trong một nhà tù khổng lồ, vô cùng khiếp sợ. Việt nam, nơi tôi sinh ra, lớn lên và tôi đã tìm đường bỏ chạy. Không những riêng gì tôi, mà hàng triệu người, ai chạy được thì chạy, tìm sự sống trong cái chết. Có người nói rằng, cột đèn miền Nam nếu chạy được cũng muốn chạy, huống hồ chi con người. Ra đi để các con chúng tôi có đời sống tự do, có chút không khí tự do để hít thở, để sống và để làm lại con người. Hàng triệu người bỏ trốn, từ bỏ cái xã hội chủ nghĩa, từ bỏ cái thiên đường cộng sản, dù phải chết trên biển cả hay trong rừng già. Thiên đường cộng sản là thiên đường mù, hay thiên đường lót đầy máu của dân chúng Việt Nam.

Trên chuyến hải hành đầy gian khổ, lênh đênh trên biển khơi, đói khát với giông bão hãi hùng, cái giá của tự do quá đắt với người Việt chúng tôi. Một phần ba số người ra đi chết trên biển cả. Đến bến bờ tự do, gia đình tôi có được tự do, thì chúng tôi phải đương đầu với những khó khăn về ngôn ngữ, thời tiết, và văn hóa. Dù gì đi nữa, thì con cái chúng tôi còn có được chút không khí tự do để thở và hy vọng ngày mai. Hy vọng ngày tự do sẽ đến với dân tộc Việt nam chúng tôi sớm hơn.

Thế giới bây giờ đã thấy được bộ mặt thật của cộng sản Việt nam, ông Hồ chí Minh không còn là thần tượng của bà Jean Fonda, và những người phản chiến nước ngoài nữa. Dù cộng sản Việt nam bưng bít thế nào đi nữa, láo khoét mãi với thế giới loài người bên ngoài, để đày đọa người dân trong nước, thì bây giờ cũng không còn dấu diếm được nữa.

Thế giới của những nhà độc tài đã lần lần bị thoái hóa, và bị tiêu diệt bơỉ ánh sáng văn minh tiến bộ bên ngoài. Phải chăng tôi đang hy vọng ảo, là ánh sáng sẽ có ở cuối đường hầm, nhưng dù gì thì tôi vẫn tin và hy vọng ở ngày mai. Tất cả những nhà độc tài đã từ từ triệt tiêu vì lạc hậu và vô nhân đạo, và ngày ấy Tự do sẽ đến với Việt Nam tôi. Tự do sẽ đến để cho những người bà con tôi, thân nhân tôi, dù là con cái của đời sau, họ cũng có được chút không khí tự do, ánh sáng tự do, để hít thở, và để có được quyền sống, quyền làm người như bao người khác trên thế giới.

Phạm Ðào Nguyên

Thursday, April 2, 2009

Khi Nào Thì Hết Sợ - Trương Văn Phú

Trương Văn Phú

Gần đây trên mạng Internet liên tục xuất hiện các bài viết đề cập đến thời gian đã qua, hay còn gọi là thời kỳ đã qua. Mặc dù không đưa ra những mốc thời gian cụ thể, xong ai cũng hiểu rằng thời kỳ đó bắt đầu từ 1954 ở miền Bắc và 1975 ở miền Nam.

Một nét đặc trưng và bao trùm lên trên tất cả mọi người dân Việt Nam trong thời gian đó là: Nỗi sợ và Cái hèn.

Chính nỗi sợ làm cho chúng ta hèn. Vậy chúng ta sợ cái gì? Một điều chắc như đinh đóng cột là chúng ta sợ Cộng Sản. Với chính sách chuyên chế vô sản, với các cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng, cải cách ruộng đất,… và đặc biệt là chủ trương “Bóp lấy dạ dày nhân dân” đã làm cho dân tộc Việt Nam từ một dân tộc anh hùng trở thành một dân tộc sợ hãi và hèn nhát.

Nhân dân sợ

Khi nhìn lại hơn một triệu người dân Miền Bắc di cư vào Nam sau năm 1954. Nhìn lại tình cảnh hỗn độn, dân chúng đua nhau tháo chạy khỏi Miền Nam năm 1975 và thời gian sau đó ai trong chúng ta cũng có thể hình dung ra nổi sợ hãi người cộng sản như thế nào. Không sợ làm sao được khi mẹ tôi nấu cơm độn khoai không đủ 40% khoai liền bị lập biên bản. Ba tôi phải đem hai cái bình điện (Ắc-qui) đục ra để làm chậu trồng rau, vì sợ rằng có bình điện tức là nhà giàu, là tư sản, là có tội, là nợ máu nhân dân.

Giang hồ sợ

Có một lần khi chứng kiến hai băng đảng giang hồ đang giáp mặt nhau chuẩn bị tỉ thí trong một quán nhậu ở thành phố Nha Trang. Đôi bên đang dàn trận với khí thế hừng hực, đột nhiên một trong những người cầm đầu của một bên rút trong túi ra cái thẻ màu đỏ, đập xuống bàn kèm theo mấy câu chửi thề. Ngay lập tức băng giang hồ bên kia biết rằng mình đụng phải “thứ dữ” nên nhanh chóng rút lui, mặt xanh như đít nhái!

Trí thức sợ

Trí thức là thành phần ưu tú của dân tộc, ấy vậy mà cũng sợ, cũng hèn. Để diễn đạt nỗi sợ của trí thức, xin mượn mấy câu thơ dưới đây của nhà thơ Bùi minh Quốc:

“Bao nghẹn uất Nguyệt Nga xé trời kêu chẳng thấu
Giữa chợ đời biệt dạng Lục Vân Tiên
Hảo hớn bận giang hồ quán nhậu
Thi nhau bốc phét để quên hèn.”

Lãnh đạo tôn giáo sợ


Ở Việt Nam có hai tôn giáo lớn. Đứng đầu là Phật Giáo với hơn 80% dân số theo Phật giáo. Chỉ thấy một số ít thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất của Hòa thượng Thích Quảng Độ có thể gọi là không biết sợ. Tôn giáo lớn thứ hai là Công Giáo. Cũng vì sợ mà bao năm trời đã chấp nhận im hơi lặng tiếng mặc cho xã hội đảo điên, mặc cho luân thường đạo lý trở nên bèo dạt mây trôi.

Chính quyền sợ

Kể cũng lạ, mọi thành phần dân tộc đều sợ công sản, vậy chính quyền cộng sản thì sợ ai nữa. Nói zậy nhưng không phải zậy, đây mới chính là thành phần sợ nhiều nhất, sợ lâu nhất và hèn hơn ai hết. Cái sợ thứ nhất là: Cộng sản bé sợ cộng sản lớn. Cụ thể là hết sợ Liên Xô bây giờ đến sợ Tàu. Phái Bắc nhượng đất, phía đông nhường biển, rồi bây giờ dâng cả Tây nguyên luôn cho êm. Chưa hết, vừa rồi căng thẳng giữa các nước trên biển đông, trong khi Phi, người Mã khẳng khái tuyên bố chủ quyền của họ (dù chưa chắc là của họ) thì người ta lại thấy các bác trong bộ chính trị lục đục “đi tàu”! Cái sợ thứ hai của người cộng sản là họ sợ chính họ. Này nhé: Một Võ nguyên Giáp đang nắm binh quyền trong tay mà phải lui về làm “Kế hoạch sinh đẻ”. Một Võ Văn Kiệt khi bênh hoạn không dám nằm ở bệnh viện nhà nước mà phải nằm bệnh viện “đế quốc”. Một Lê khả Phiêu, tin vào Đức Phật, thờ Đức Phật mà sợ không dám công khai xác nhận niềm tin của mình.

Khi nào thì hết sợ?

Trong suốt một thời gian dài mà cả dân tộc đều sợ thì có một số ít các nhà yêu nước với đủ các thành phần, điển hình như: Trí thức có: Hà sĩ Phu, Nguyễn thanh Giang,… . Phía tôn giáo có Cố Giám mục Nguyễn Kim Điền, Linh mục Nguyễn văn Lý, Hòa thượng Thích Quảng Độ,… . Phía những người cộng sản có Hoàng minh Chính, Trần Độ,… họ đã vượt qua cái sợ để nói lên tiếng nói của lương tâm, của Công lý và Sự thật.

Từ những hạt giống đó đến năm 2006 thì lần đầu tiên tại Việt Nam xuất hiện một bản tuyên ngôn về Nhân quyền. Khởi đầu chỉ với vài người “không biết sợ”, sau vài tháng thì con số người “không biết sợ” đã lên đến vài ngàn người. Sau đó giới trí thức trẻ bắt đầu “hết sợ” mà điển hình là các gương mặt như Lê thị công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Quốc Quân, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Tiến Trung,…

Đến cuối năm 2008 thì lãnh đạo Tôn giáo bắt đầu “không còn sợ nữa” mà điển hình là Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt và Hội đồng Giám mục Việt Nam đã lên tiếng bênh vực cho Công lý và Hòa Bình. Hưởng ứng cho phong trào đấu tranh vì Công lý và Hòa Bình đó là giáo dân Việt Nam trong và ngoài nước. Tiêu biểu cho thành phần “phó thường dân hết biết sợ” này là Giáo dân giáo xứ Thái Hà. Với những gì được thể hiện qua quá trình đấu tranh và đặc biệt là qua hai phiên tòa vừa qua, chúng ta có thể khẳng định rằng: Nổi sợ hải đã qua đi và tiếng của Công lý, của sự thật đã xuất hiện trong người dân Việt Nam.

Vậy khi nào thi người cộng sản hết sợ và hết hèn? Khi nào thi người cộng sản khẳng khái tuyên bố họ không còn tin vào chủ thuyết Mác-Lê nữa? Khi nào thì họ đồng hành cùng dân tộc, khẳng khái bảo vệ biên cương, bảo vệ Tổ quốc mà cha ông ta để lại? Những câu hỏi này xin dành cho những nhà lãnh đạo cộng sản.

Một ngày cuối tháng 3 năm 2009
Trương Văn Phú

http://giaoxuthaiha.org/Web/ContentDetail.aspx?distid=2006