Tuesday, February 24, 2009

Cách Mạng và Phản Cách Mạng - Đỗ Thái Nhiên

Đỗ Thái Nhiên

Đảo chánh là một cuộc thay bậc đổi ngôi trên địa bàn tranh chấp quyền lực chính tri. Nhân cuộc tranh chấp này, nhà cầm quyền cũ bị lật đổ. Nhà cầm quyền mới được suy tôn. Cách mạng không phải là đảo chánh. Cách mạng bao gồm mọi suy nghĩ và hành động nhằm làm thay đổi đời sống của con người. Thay đổi ở đây phải là thay đổi theo hướng làm cho đời sống của xã hội loài người ngày càng trở nên ấm no hơn, công bằng hơn và Người hơn. Một cá nhân hoặc một tập thể tự nhận là những người phục vụ lý tưởng cách mạng. Thế nhưng, trong thực tế, công việc làm của họ đã đẩy xã hội loài người rơi xuống ngang tầm với hình thức sinh sống của một bầy động vật. Trong trường hợp này, cá nhân kia, tập thể kia hiển nhiên là những phần tử phản cách mạng.

Bây giờ, căn cứ vào ý niệm phổ quát về cách mạng và phản cách mạng như đã trình bày ở trên, chúng ta hãy nhìn vào hiện tình vận động của xã hội Hoa Kỳ và xã hội Việt Nam để có cơ hội nhận biết một cách tròn đầy và sinh động: sự chuyển động ngược chiều giữa cách mạng và phản cách mạng.

Xã hội Hoa Kỳ

Cách mạng là làm cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn. Ý dân là tiếng nói duy nhất có thẩm quyền xác định thế nào là tốt đẹp hơn. Cách mạng không thể không hành động theo ý dân. Cách mạng là xây dựng và bảo vệ dân chủ. Trong rất nhiều thập niên qua, nền dân chủ Hoa kỳ phải đối diện với hai dấu hỏi lớn: Một là: Phải chăng không xuất thận từ một gia đình quyền quý, một ngưới không thể trở thành tổng thống Hoa Kỳ? Hai là: Phải chăng người da màu, đặc biệt là người da đen, sẽ chẳng bao giờ có thể là tổng thống Hoa Kỳ? Câu trả lời nằm trong tiểu sử của tổng thống đắc cử Barrack Obama. Đồng thời nó cũng nằm trong kỳ bầu cử tổng thồng Hoa Kỳ 2008.

Tiểu sử của ông Barrack Obama

- Obama sanh ngày 04/Aug/1961 tại Honolulu, Hawai, con của ông Barrack Obama, Sr, công dân Kenya và bà Ann Dunham, một phụ nữ da trắng, cư dân của Wichita, Kansas, Hoa Kỳ.

Năm Obama lên 2 tuổi thì bố mẹ ly dị. Năm 1967 mẹ của Obama kết hôn với một người đàn ông Nam Dương. Từ đó Obama sống với mẹ và bố ghẻ để đi học tại Indonesia trong 04 năm. Năm 1971, Obama lên 10 tuổi, cậu bé này được gửi về Honolulu sống với ông bà ngoại cho đến ngày tốt nghiệp trung học năm 1979.

Rời trường trung học, Obama học đại học Occidental College tại Los Angeles. Sau đó nhập học đại học Columbia của New York. Năm 1983 Obama tốt nghiệp đại học Columbia với văn bằng cử nhân, chuyên ngành bang giao quốc tế. Các năm từ 1983 đến 1988, Obama đi làm việc kiếm tiền sinh sống tại New York và Chicago. Cuối năm 1988 Obama nhập học đại học Havard, ngành luật học. Năm 1991 tốt nghiệp tiến sĩ luật. Từ 1992-2004 dạy luật hiến pháp tại đại học Chicago. Từ 1996 đên 2004 thượng nghị sĩ tiểu bang Illinois. Tháng 11/2004 Obama đắc cử vào thượng nghị viện liên bang Hoa Kỳ. Tháng 11/2008 đắc cử tổng thống Hoa kỳ.

Cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ tháng 11/2008

Tháng 02/2007, Barrack Obama công bố ý định tranh cử chức vụ tổng thống Hoa Kỳ năm 2008.

Ngày 03/06/2008 Obama chiến thẳng nữ thượng nghị sĩ Hillary Clinton qua lần bầu cử sơ bộ để trở thành ứng viên đại diện của đảng Dân Chủ trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ 2008.

Ngày 04/11/2008 Obama chiến thắng thượng nghị sĩ Jonh McCain của đảng Cộng Hòa để trở thành tổng thống thứ 44 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Về cử tri đoàn Obama có 364 phiếu, Jonh McCain chỉ 164 phiếu. Về bầu trực tiếp của người dân Obama chiếm 53%, Jonh McCain 46%.

Như vậy trên con đường đi vào Tòa Bạch Ốc, Obama phải vượt thắng hai nhân vật da trắng. Đó là thượng nghị sĩ Hillary Clinton (Đảng Dân Chủ) và thượng nghị sĩ Jonh McCain (Đảng Cộng Hòa)
Những suy nghĩ về văn hóa Mỹ và bầu cử Hoa Kỳ 2008.

Đầu thập niên 1960, xã hội Mỹ vẫn duy trì tập tục: người da đen phải ngồi các hàng ghế sau trên những phương tiện di chuyển công cộng. Trẻ em da đen phải đi học những trường dành riêng cho da đen. Giữa đen và trắng tuy cùng là công dân Mỹ nhưng trong sinh hoạt xã hội có tới một ngàn lẽ một cái riêng … Thế rồi chỉ già nửa thế kỷ sau đó, tai sao Obama một công dân da đen, lớn lên trong cảnh đời vất vả lại có thể được quần chúng Hoa Kỳ đẩy lên ngôi vị tổng thống với số lượng phiếu bầu làm cho cả thế giới choáng ngợp? Câu trả lời dẫn chúng ta đứng trước một cuộc cách mạng rất âm thầm và mềm dẽo nhưng rất dứt khoát và bền bỉ. Đó là cách mạng văn hóa. Hai cánh tay rắn chắc của cách mạng văn hóa là giáo dục và luật pháp. Giáo dục là phương pháp giải thích và thuyết phục con người thay đôi suy nghĩ và hành động sao cho đời người ngày một văn minh hơn, người hơn. Luật pháp là công cụ răn đe và trừng phạt những ai chống lại quyền làm người của mỗi người và mọi người. Đó là lý do giải thích tại sao nhiều thập niên qua guồng máy giáo dục của Hoa Kỳ - Giáo dục học đường cũng như giáo dục xã hội thông qua các loại truyền thông – đã không ngừng truyền bá tư tưởng chống mọi hình thức kỳ thị, đặc biệt là kỳ thị màu da. Đó còn là lý do giải thích tại sao hệ thống công lý hình sự Hoa Kỳ rất quan tâm đến các loại tội ác có nguồn gốc từ tâm lý kỳ thị, gọi chung là “Hate crime laws” . Sau rất nhiều thập niên chăm chỉ làm việc, giáo dục Hoa Kỳ và luật pháp Hoa Kỳ đã gặp nhau trong ngày văn hóa Mỹ thăng hoa, ngày 04/11/2008: lần đầu tiên nước Mỹ có một vị tổng thống da đen. Đây đích thực là một cuộc cách mạng văn hóa. Cách mạng văn hóa Mỹ không bạo lực và ầm ỉ như cách mạng văn hóa Mao Trạch Đông. Cách mạng văn hóa Mỹ diễn ra trong phòng đầu phiếu, diễn ra trong tuyệt đối hòa ái. Cách mạng văn hóa Hoa Kỳ là cách mạng do tâm phục. Tâm phục trong trường hợp này là người dân Hoa Kỳ tự nguyện phục tòng quyền làm người và quyền hoạt động bình đẳng của mọi chủng tộc sinh sống trên đất nước Hoa Kỳ.

Từ cách mạng văn hóa 2008 tại Hoa kỳ, chúng ta hãy hướng mắt nhìn về quê hương Việt Nam.
Xã hội Việt Nam

Như đã trình bày ở trên, cách mạng là xây dựng một xã hội thuận lòng người, hợp ý dân. Cách mạng lá dân chủ hơn, nhân quyền hơn. Theo các chuẩn mực vừa nêu, chế độ Hà Nội ngày nay tại Việt Nam là một chế độ triệt để phản cách mạng. Thực vậy, sau đây là những bằng chứng phản cách mạng điển hình của CSVN:

1. Giáo dục phản cách mạng:

Ngày 14/11/2008 đài Á Châu Tự Do cho biết: tổ chức UNESCO vừa công bố báo cáo toàn cầu về giáo dục 2008. Báo cáo này cho thấy Việt Nam đứng thứ 79 trên tổng số 129 quốc gia, tức là tụt xuống 9 hạng so với năm 2007. Theo UNESCO, trong các năm tới giáo dục Việt Nam tiếp tục tụt hạng. Có hai lý do để Giáo dục Việt Nam tụt hạng:

Một là trong nhiều năm qua, hàng năm Việt Nam có khoảng một triệu học sinh cấp một không được đi học. Nhà cầm quyền CSVN vẫn ù lì trước vấn nạn này.

Hai là chương trình giáo dục của CSVN vẫn ngoi ngóp trong vũng lầy từ chưong. Nay học Marx, mai học Hồ. Từ chương đồng nghĩa với xa rời thực tế và nhàm chán. Thầy không muốn dạy. Trò không muốn học.

2. Luật pháp phản cách mạng:

Trong khoảng thời gian từ 1975 đến 1985 tất cả những người chống đối chế độ Hà Nội đều bị CSVN truy tố tội phản cách mạng. Sau này CSVN biến thể thành đảng của tư bản đỏ, một thể chế tham ô bậc nhất thế giới. Từ đó CSVN không còn tự nhận là “nhà nước cách mạng” nữa. Từ đó, những người đấu tranh cho tự do dân chủ bị CSVN truy tố đủ loại tội: nói xấu nhà nước, làm gián điệp, khủng bố, trốn thuế, lợi dụng quyền tự do dân chủ v.v…

Mặt khác, CSVN thường xuyên kêu gọi toàn dân chống tham nhũng. Thế nhưng những vụ đảng viên CS cướp nhà - đất của dân, những vụ tham ô lớn PMU18, vụ xa lộ Đông Tây Saigon ( PCI Nhật Bản), công ty Vedan thải chất độc xuống sông Thị Vải…tất cả chỉ là câu chuyện đầu voi đuôi chuột. Tệ hai hơn nữa nhà báo Nguyễn Việt Chiến bị phạt 2 năm tù giam chỉ vì đã giám tố cáo tham ô.

Luật pháp cộng với hệ thống tòa án của CS rõ ràng là đã hợp thành guồng máy pháp lý phản cách mạng.

3. Kinh tế phản cách mạng:

Tuyệt đa số nhân dân Việt Nam là nông dân. Hãy quan sát cung cách của CSVN trong việc chăm lo cơm áo cho nông dân, chúng ta sẽ biết được phẩm chất của guồng máy kinh tế Việt Nam.

Đầu tháng 03/2008 giữa lúc giá gạo thế giới tăng cao, CSVN ra lệnh ngưng xuất cảng gạo. Lý do: bảo đảm an ninh lương thực và kiềm chế lạm phát. Sự việc này làm cho hàng triệu tấn gạo tại đồng bằng sông Cửu Long bị ứ đọng, không bán được. Thêm vào đó, từ thượng tuần tháng 11/08 cho đến nay CSVN cho phép gao Kampuchia và gạo Thái Lan ùn ùn công khai kéo vào Việt Nam. Nông dân Việt Nam bị dè bẹp dưới khối gạo nội địa ế ẩm cộng với khối gạo thơm từ Thái và Kampuchia nhập vào. Đâu là cội nguồn của quyết định cấm xuất cảng gạo đi kèm với lệnh cho phép nhập cảng gạo? Cội nguồn kia nằm trong dự mưu tham ô của Hà Nội. Không còn nghi ngờ gì nữa: kinh tế nông nghiệp của CSVN là kinh tế phản cách mạng.

4. Chính trị phản cách mạng

Ngày 9/11/2008 trong một cuộc phỏng vấn dành cho đài BBC Luân Đôn, khi được hỏi về đòi hỏi dân chủ của người Việt Nam trong và ngoài nước, bà Tôn Nữ Thị Ninh trả lời: “Khát vọng dân chủ là của cả người dân thế giới, là xu thế của loài người … Một số người nhắc tới dân chủ để tạo sức ép hơn là vì mong muốn cái tốt đẹp cho người dân Việt Nam … Vấn đề khó là mổ sẻ thực tế cho sát hợp và nếu có đề xuất, phải khả thi”

Bà Tôn Nữ Thị Ninh nguyên là đại sứ Việt Nam tại Liên Minh Châu Âu,và là phó chủ nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại quốc hội CSVN. Qua câu trả lời của Bà Tôn Nữ Thị Ninh công luận nhận biết CSVN không thể phủ nhận ước vọng dân chủ của loài người như một công lý hiển nhiên. Thế nhưng, CS độc tài và thể chế dân chủ như nước với lửa. Vì vậy, mỗi lần nhắc tới dân chủ, CSVN vội vàng tránh né dân chủ bằng các loại nghi vấn: Rằng liệu chừng có kẻ thù địch nào đó dùng dân chủ làm sức ép hay không? Rằng liệu chừng dân chủ có khả thi hay không? Nếu thực tâm muốn thỏa mãn ước vọng dân chủ của người dân, chế độ Hà Nội hãy mạnh dạn bắt tay vào công việc kiến tạo dân chủ bằng cách tức thời thực hiện luật pháp dân chủ đi kèm với giáo dục dân chủ. Giáo dục dân chủ bao gồm giáo dục học đường và giáo dục xã hội. Giáo dục xã hội hàm chứa báo chí và các loại truyền thông dân chủ. Chừng nào CSVN còn tránh né nghĩa vụ tuân phục dân chủ, chừng đó chế độ Hà Nội còn phục vụ tư tưởng chính trị phản cách mạng.

Khảo sát cung cách của CSVN trong việc cai trị đất nước trên bốn địa bàn trọng yếu: giáo dục, luật pháp, kinh tế và chính trị, người khảo sát không thể không đi đến kết luận: chế độ Hà Nội hiển nhiên là một chế độ chống lại quyền sống của người dân, chống lại dân chủ. Nó là chế độ phản cách mạng. Một mặt CSVN long trọng nhìn nhận dân chủ là ước mơ chung của nhân loại. Mặt khác CSVN lại thường xuyên nhanh chóng dấu mặt mỗi lần phải đối diện với dân chủ. Hai mặt đối nghịch vừa nêu họp lại, tạo thành hố đào thải của lịch sử. Chế độ Hà Nội sẽ rơi xuống dưới đáy của hố kia như một hệ quả tất nhiên.

Đỗ Thái Nhiên


Sunday, February 22, 2009

Những kẻ đi làm tay sai cho việt gian cộng sản - Trần Thanh


Trần Thanh

Trong bất kỳ một cuộc chiến nào luôn luôn có hai phe đối nghịch, phe ta và phe địch. Ví dụ như khi ra trận, thấy kẻ nào đội nón cối, mang dép râu, vác súng AK là chúng ta bắn. Kẻ địch trong trường hợp này là kẻ thù hữu hình, cụ thể, nên không nguy hiểm. Tuy nhiên, có một loại kẻ thù khác nguy hiểm hơn gấp bội phần, đó chính là những kẻ nội thù, hoạt động nội tuyến. Nói rõ hơn, đó chính là những kẻ phản bội, ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản; khoác áo người quốc gia nhưng lấy dao đâm vào lưng người quốc gia!

Tên chó săn Việt Tân

Kẻ nội thù đó chính là băng đảng Việt Tân, đang hoạt động rất mạnh mẽ tại hải ngoại.Có thể nói rằng nếu không có băng đảng Việt Tân tìm cách phá hoại, vô hiệu hóa những cuộc đấu tranh của chúng ta trong suốt mấy chục năm nay thì chế độ của bọn việt gian cộng sản đã bị sụp đổ từ lâu rồi! Bọn chúng đã phá hoại như thế nào? Sau đây là những chiến thuật mà bọn chúng thường áp dụng:

1. Chiến thuật bắn vào bụi rậm:

Ví dụ một người lính ra trận, được phát 100 viên đạn và khẩu súng M16. Khi đối diện với bọn việt cộng ngoài mặt trận, anh ta chuẩn bị bắn thì bỗng nhiên có một con ma hiện ra, hướng dẫn anh ta bắn:

- Anh hãy bắn vào cái bụi rậm đàng kia, việt cộng ở trong đó!

- Anh hãy bắn .... lên trời, việt cộng ở trên đó!

- Anh hãy bắn xuống ao, việt cộng ở dưới đó!

Anh lính bị con ma hớp hồn, lừa bịp nên bắn bừa bãi vào những nơi không có kẻ địch, tiêu phí hết 99 viên đạn! Cuối cùng khi việt cộng xung phong, anh chỉ còn có một viên đạn để .... tự sát!

Mục đích của bọn Việt Tân là đóng vai người quốc gia "chống cộng", làm cho chúng ta tưởng là "phe mình", lèo lái sự đấu tranh của chúng ta đi trật mục tiêu, gây lãng phí rất nhiều công sức, tiền của mà không đạt được một kết quả gì. Ðạn bắn lên trời thì lấy gì tiêu diệt được kẻ thù! Nếu biết săn bắn, một người thợ săn giỏi chỉ cần một phát đạn là có thể bắn hạ được một con thú khổng lồ và nguy hiểm.

Ví dụ như vừa rồi tên Nguyễn Bá Cẩn đã viết một bài đăng trên báo điện tử Ánh Dương, kêu gọi người Việt trong và ngoài nước hãy đoàn kết lại để chống giặc Tàu và làm đơn khiếu nại gởi lên Liên Hiệp Quốc để đòi lại hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa! Khi viết bài, hắn còn làm mặt dày, xưng là cựu Chủ tịch Hạ Nghị Viện, Thủ tướng VNCH, kính gởi toàn thể đồng bào trong và ngoài nước!

Tưởng cũng nên nhắc lại: tên việt gian Nguyễn Bá Cẩn đã từng khom lưng quỳ lạy trước bàn thờ tên việt cộng Hoàng Minh Chính. Ai cũng biết Hoàng Minh Chính là tên đại bịp, đối lập cuội, người đã "phục hoạt" cái đảng Dân Chủ để biến thành đảng Dân Chủ 21. Hành động quỳ lạy một tên cộng sản gộc là hành vi đại hèn nhát, đầu hàng quân giặc. Những kẻ như vậy hoàn toàn không còn xứng đáng đứng trong hàng ngũ người quốc gia nữa. Vậy mà Cẩn vẫn còn làm mặt dày, viết bài xưng là cựu Chủ tịch Hạ nghị viện, Thủ tướng VNCH, kêu gọi chúng ta nên bắn vào ... bụi rậm! (một việc làm rất ruồi bu) Một thằng hèn, tư cách thua một con chó mà còn lên mặt lãnh tụ "cứu nước"! Và cái diễn đàn mà hắn mượn để lên tiếng, chính là tờ báo điện tử Ánh Dương, khét tiếng là ổ rắn độc của việt gian cộng sản tại hải ngoại!

Một cái nhà của người dân oan mà người dân còn chưa đòi được thì lấy gì để đòi hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa? Việt gian cộng sản và Trung Cộng chính là một, tuy hai mà một, cùng một băng cướp. Vậy mà bây giờ Cẩn lại kêu gọi chúng ta phải hợp tác với thằng ăn cướp để đòi lại tài sản mà chính nó đã cướp của chúng ta!

2. Làm đầu nậu "chống cộng":

Sở dĩ ta gọi là "đầu nậu" vì đây là những tên trí thức hoặc những tên trước đây đã từng có vai vế trong chính quyền và quân đội của VNCH nhưng bây giờ đã trở cờ, đi làm tay sai cho cộng sản. Bọn chúng đi làm chó săn nhưng vẫn khoác áo "người quốc gia", đứng chung hàng ngũ với chúng ta và tự cho mình có nhiệm vụ .... HƯỚNG DẪN những người khác chống cộng! Cái gọi là "hướng dẫn" chính là khuyên người lính nên bắn xuống ao! (kẻ thù không lo bắn mà lại bắn xuống ao thì đúng là tự sát!)

Những tên đang đóng vai trò này, chúng ta gọi là "đầu nậu"!

Tiêu biểu là tên luật sư Trần Thanh Hiệp. Già trên 80 tuổi rồi, đáng lẽ nên giữ gìn tư cách để thế hệ con cháu còn nể trọng nhưng Hiệp đã chọn con đường đi làm tay sai cho giặc. Hiệp đã đóng vai Tô Tần đi thuyết khách, đi chu du nhiều tiểu bang nước Mỹ và Châu Âu để thuyết phục cộng đồng người Việt nên "đổi mới tư duy chính trị", tức là tự nguyện xóa bỏ căn cước tỵ nạn chính trị của mình, đúng y chang như băng đảng Việt Tân đã từng lớn tiếng hô hào, thậm chí còn hô hào nên bỏ luôn ngày Quốc Hận 30 tháng 4!

Ngoài cái trò thối "đổi mới tư duy chính trị", Hiệp còn lên tiếng ngỏ ý xin làm "quân sư quạt mo" cho việt gian cộng sản để cải tổ luật pháp, phải phân biệt giữa pháp trị và pháp quyền!

Chắc Hiệp đã quên, hay không muốn nhớ câu nói nổi tiếng của thằng Mao Trạch Ðông: "Trí thức không giá trị bằng cục phân"! Bọn cộng sản nó có coi trí thức ra cái gì đâu mà cứ bắn tiếng rao bán cái mớ kiến thức đã mốc meo của mình trên 50 năm nay!

3. Một loại đầu nậu khác, tiêu biểu như "luật sư" Ðỗ Thái Nhiên với những câu "hướng dẫn dư luận":

- Người Mỹ đã, đang và sẽ giúp cho Việt Nam được xuống cọp an toàn!

- Người Mỹ đã, đang và sẽ giúp cho Việt Nam được hạ cánh an toàn!

Ý của đầu nậu muốn "dạy" cho chúng ta biết rằng:

Người Mỹ sẽ bảo vệ bọn việt gian cộng sản thoát khỏi mọi chuyện nguy hiểm. Ðừng có biểu tình chống đối, đừng có mong lật đổ bọn chúng. "Anh Hai" Mỹ đã bảo kê cho kẻ thù rồi, có chống đối cũng vô ích. Vậy tốt nhất là nên .... đầu hàng kẻ thù!

Những câu "hướng dẫn dư luận" của tên việt gian Ðỗ Thái Nhiên đã làm cho nhiều người nản lòng. Những người ngây thơ nghĩ rằng các "chuyên gia" chống cộng đã nói như dzậy thì chắc là tình hình chính trị sẽ diễn biến đúng như dzậy. Họ có biết đâu những kẻ như Ðỗ Thái Nhiên chỉ là những tên đi bưng bô cho việt gian cộng sản! Hắn cũng là người đã bảo vệ Alibaba rất tích cực!

Chúng ta hãy tưởng tượng: Có hai người trên chiếc xe hơi, một người đạp ga cho xe chạy tới, còn một người đạp thắng để kềm xe lại, thì tình trạng của chiếc xe sẽ như thế nào? Nếu không có sự phá hoại của băng đảng Việt Tân và nhiều băng đảng chó săn khác thì chế độ của bọn việt gian cộng sản đã bị sụp đổ từ lâu rồi, có thể cùng thời điểm với biến cố đế quốc Liên Xô và các nước chư hầu bị tiêu vong năm 1989! Bọn việt gian cộng sản không phải là thần thánh gì mà chúng có thể tồn tại được 34 năm kể từ sau 1975. Bọn chúng đã gặp muôn ngàn khó khăn khi mẫu quốc Liên Xô bị sụp đổ, kèm theo với những thất bại về kinh tế triền miên do tham nhũng và ngu dốt. Thế nhưng bọn chúng đã tồn tại được đến ngay hôm nay. Nhờ ai giúp đỡ?

Xin thưa, đó chính là nhờ bọn chó săn ở hải ngoại làm cò mồi, môi giới, kêu gọi việt kiều đi du lịch và gởi tiền về Việt Nam! Ðây là lý do chính. Cái chế độ của bọn việt gian cộng sản ví như một căn nhà đã hoàn toàn mục nát, chỉ cần đưa tay đẩy nhẹ là sập. Vậy mà chúng ta đã không phá sập được, ai là thủ phạm thì chúng ta đã biết rõ.

Vậy thì còn chần chờ gì mà không đánh tiết canh những con chó săn phản dân hại nước!

Trần Thanh
Ngày 23 tháng 2 năm 2009



Ghi dấu 30 năm lưu trú xứ người - Lưu Đàng

    1979 - 2009

    Mới mà đã 30 năm rời khỏi quê hương Việt Nam!
    30 năm cư ngụ nơi xứ sở này: Bayern - Đức quốc!
Lưu Đàng

Nhìn lại khoảng thời gian qua mà ngậm ngùi. Nhìn lại khoảng thời gian qua mà lòng luôn nhớ ơn, thật hết sức cám ơn nhân dân và chính phủ Cọng Hòa Liên Bang Đức, nôm na là Tây Đức trước kia, đã mở rộng vòng tay nhân ái cùng với một trái tim nồng thắm tình nhân loại, đón nhận và bảo bọc những người trốn chạy khỏi quê hương mình để xin tị nạn chính trị như chúng tôi: những người đã không thể sống trên quê hương của mình. Đã không thể sống trên quê hương của mình sau khi Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa bị ngã …!

Hình ảnh những ngày tháng Tư đen tối năm 1975 không sao xóa nhòa: Một khung cảnh rối loạn, một cục diện bàng hoàng, những khuôn mặt âu lo, những đăm chiêu, những bồn chồn hớt hãi, những chấp nhận chờ đợi sự đổi thay ..v..v.. Vấn đề (kín đáo) được đặt ra, bàn đến: bỏ xứ chạy đi hay ở lại?!

Thảm nạn chiến tranh triền miên trên đất nước nay có được hy vọng sẽ dần được an bình, bom đạn chết chóc rồi sẽ đi vào quên lãng! Dù gì tất cả cũng là những đứa con từ cùng bọc Mẹ Âu Cơ mà chủ nghĩa chỉ là áo khoác. Người sống được thì mình cũng sống được, dĩ nhiên thời gian đầu có khó khăn là chuyện tất nhiên và “không đâu cho bằng quê nhà!”…. Với ý nghĩ này chúng tôi ở lại, tuy những tin tức “ra khơi” của một số Bà con có khi cũng làm xao động…

Người ta thường nói: “trăm nghe không bằng mắt thấy, trăm thấy không bằng tay .. rờ!”. Nhưng rờ vào cộng sản thì không phải chỉ đứt tay mà là mất cả mạng!

Sau một ít lý thuyết khái quát nói về chủ nghĩa cộng sản, nhất là về cộng sản Việt Nam, qua sách báo mà tôi đọc được trước và sau 1975, cũng lý tưởng lắm chứ. Nào là những lãnh đạo cũng viết sách, làm thơ (cả thơ Đường nữa!), sống giản dị liêm khiết và rất gần gũi dân lao động, tay lấm chân bùn. Nào là từ chế độ xã hội chủ nghĩa, con người sẽ được hưởng nhu cầu theo sức lao động đóng góp của mình, khi tiến lên được chủ nghĩa cộng sản thì con người làm việc tùy theo sức nhưng được hưởng theo nhu cầu, nôm na làm không cần nhiều nhưng nhu cầu cần dùng trong đời sống thì.. tha hồ! Nghe qua, đọc qua thì đây đúng là “Thiên Đàng Hạ Giới! ”. Còn nữa, muốn tiến đến chủ nghĩa xã hội thì phải có con người.. xã hội chủ nghĩa, nghĩa là phải giáo dục con người (bình thường?) trở thành hạng người xã hội chủ nghĩa, nghĩa là.. làm hết việc cho nhân dân chứ không làm hết giờ ..v..v.. Điều sau này thì, tôi thật ấm ớ không hiểu kể cả sau khi hỏi thăm và nghe giải thích (lòng vòng) vẫn mù mờ. Nhưng thôi, không quan trọng.

Thời gian sau đó, khi đã trực tiếp “rờ vào cộng sản”, tôi bắt đầu xét lại ý nghĩ “ở lại” của mình. Những lần phải “học tập và suy nghĩ theo tư tưởng mới, tư tưởng … xã hội chủ nghĩa” nơi câu lạc bộ văn nghệ sĩ, nơi phường khóm, nơi “cơ quan (y tế)” đã cho tôi “sáng mắt sáng lòng” như một bài ca của chế độ!

Nơi câu lạc bộ: văn nghệ sĩ phải ghi nhớ việc đầu tiên khi sáng tác, đó là luôn thể hiện “tính đảng!”. Chẳng hạn như vẽ một bức tranh về thôn quê bình thường với nhà cửa, ruộng lúa, trâu cày ..v..v.. thì không nói lên được gì cả. Nhưng trong bức tranh với cây cờ (đỏ!) bay bay sẽ nói lên “tính đảng” và như vậy là “đạt được yêu cầu của.. đảng!”. Một quan trọng không kém là bên trên lá cờ không được có vật gì đè lên, dù là đám mây bay ..v..v….

Các nơi kia, phải ngồi nghe những cán bộ nhai đi nhai lại những giọng điệu bài bản đã học thuộc một cách nhàm chán trong cái không khí luôn nặng nề. Những cán bộ con vẹt này đang học nói và nói lại những điều đã được dạy một chiều không đòi hỏi suy nghĩ, chỉ cần nhắm mắt tin (càn)!

Càng trực tiếp đối diện với thực tại trên nhiều lãnh vực, tôi bắt đầu xao động về việc “ở lại” của mình! Một thể chế lộ mặt chỉ muốn ngu dân qua chủ trương nhồi sọ một chiều, chớ dại đặt vấn đề hoặc muốn so sánh với một đối tượng khác. Bởi chỉ nghĩ đến việc muốn so sánh đã là “đầu óc tư sản, tư bản, chưa phấn đấu trở thành con người xã hội ...”, là tư tưởng ngụy phản động vẫn còn ..v..v… và … v..v… Khốn khổ cho người dân nay đã bị một chế độ, một chủ nghĩa độc tài, độc đảng bạo trị, sắt máu, gian ác mà trước kia không thể nghĩ!

Về giáo dục một chiều (Hồng hơn Chuyên) thì.. bị xét lý lịch ba đời trước khi vào học!

Về nhu cầu vật chất thì “nắm bao tử để trị dân”, biểu ngữ này được treo nơi kho hàng lương thực Lâm Đồng (1977-1978!) bán cho các “cơ quan”, mua theo tem phiếu ấn định về chia lại cho nhân viên mà tôi đã đọc (đó cũng là thứ ơn mưa móc đảng ban cho!).

Người dân thì mua theo tem lương thực hàng tháng do đảng ấn định. Không thể mua và không có quyền theo ý muốn, ngoại trừ mua chui!

Nhưng việc sau cùng khiến tôi dứt khoát tìm cách ra đi, nếu có cơ hội, đó là Nhà tôi thuật lại lời con trai lớn của chúng tôi, cháu vừa chập chững vào nhà trẻ: cô giáo nhà trẻ dạy các cháu về nhà nghe Ba Má nói gì, lên kể lại cho cô biết!

Trong một đất nước mà trẻ thơ bị nhồi nặn biến thành những tên điềm chỉ; tương lai các cháu mù mờ bởi tùy tiện vào cái lý lịch ba đời quái ác kia; kiến thức thì thui chột như ngựa bị che mắt; cá nhân sẽ hiểm nguy nếu không luôn ngậm miệng như người câm, tai không nghe như người bị điếc và những “đầy tớ nhân dân” ngày lộ mặt cường hào ác bá ngu đần. Việc phải bỏ xứ ra đi vì tương lai các con, vì an toàn bản thân đã ngày một thêm thôi thúc.

Rồi thì cơ may đã đến nhờ sự giúp đỡ của anh em, gia đình tôi trở thành Thuyền Nhân sau khi thoát qua bão tố mà mạng sống lúc bấy giờ như chỉ mành treo chuông! Chúng tôi rời bỏ quê hương Việt Nam khoảng tháng 10 năm 1978 và đến thẳng Phi Luật Tân.

Thời gian ở trại tị nạn Phi Luật Tân chưa tới nửa năm, chúng tôi ghi danh định cư Đức quốc khi được thông báo cho hay nước này sẽ nhận (200 người!?) và Đại diện Tòa Đại sứ Đức sẽ đến phỏng vấn trước khi quyết định nhận người. (Riêng các anh em đi chung còn độc thân đã được Úc nhận ).

Cuối cùng, gia đình chúng tôi ( cùng các đồng hương ) được sang Đức vào khoảng cuối tháng Giêng năm 1979 và ở Tiểu Bang Bayern cho đến nay.

Chúng tôi được đưa về trại tạm cư, München – Allach, tái khám sức khoẻ và nơi đây, nhân viên thuộc trung tâm cứu xét và quyết định việc xin tị nạn ở Zirndorf đã đến phỏng vấn, qua sự thông dịch của các anh sinh viên du học trước 1975.

Chúng tôi được thừa nhận là Tị Nạn: “BESCHEID DES BUNDESAMTES FÜR DIE ANERKENUNG AUSLÄNDISCHER FLÜCHTLINGE IN ZIRNDORF VOM 23.05.1979 ”.

Sau thời gian 8 tháng ở làng Engelsberg Tỉnh Traunstein học Đức ngữ để “ làm vốn sinh nhai!” Thật ra có lẻ chỉ học khoảng 6 tháng, còn lại thì được đưa đi thăm viếng cũng như nghỉ ngơi một vài nơi, nhờ vậy mới biết Obersdorf, nơi thi trượt tuyết, bay lên sau khi tuột trên giàn phóng, biết Allgäu, nơi tuyết phủ hàng mấy thước trên nóc nhà ..v..v..

Trong thời gian nước Đức còn chia đôi, bên Đông cộng sản và bên Tây Tự Do tương tự như Việt Nam trước 1975, Thủ Đô Tây Đức là Bonn và mỗi năm những người Việt tị nạn đều gặp nhau để biểu tình, bày tỏ một thái độ cũng như tư cách tị nạn chính trị. Những năm đầu thập niên 80, con số biểu tình vào ngày 30 tháng Tư lên đến vài ngàn!

Cũng không quên đầu thập niên 80, Phạm văn Đồng, lúc bấy giờ là thủ tướng của csvn, sang Pháp và tại đây đã “mạt sát” người Việt tị nạn, đại ý là “hạng chai lười, ma cô ma cạo, chạy theo đế quốc kiếm bơ thừa sữa cặn” v..v.. và v..v…!

Trong các cuộc biểu tình, chúng tôi đều cố gắng tối đa để góp phần. Khi thì Bonn, khi München, khi Stuttgart ..v..v.. Không chỉ ngày 30 tháng Tư mà cả khi các "quan csvn hay các văn công của họ" ra ngoài này ve vãn!

Bức tường, thường gọi là ô nhục, Bá linh sụp đổ năm 1989, kéo theo “quê hương cách mạng tháng mười sô viết” (chi đó!) và từng mảng chủ nghĩa cộng sản Đông Âu tan theo, không bao lâu người Việt tị nạn trong mắt đảng ta hết là “hạng ma cô ma cạo ..” mà biến thành “khúc ruột (thừa!) ngàn dặm ... ”! Rồi cũng dần dần sau đó, người Việt tị nạn trước kia, nay quay về “như áo gấm về làng, thăm, chơi nơi mà ngày xửa ngày xưa bỏ chạy như sợ quỷ ăn tươi nuốt sống!” Nếu thuở đó chạy không khỏi, bị bắt lại thì sẽ ra sao?

Người đi trước hại người đi sau! Ngay cả khoảng giữa thập niên 80 cũng đã có người về chơi rồi trở ra chứ không ở lại đã là nguyên nhân để các nước thứ Ba không còn đón nhận người xin tị nạn, trong đó có cả nước Đức!. Lý do là vì an ninh cá nhân không còn gặp nguy hiểm, đe dọa. Người về rồi trở ra được an toàn! Cũng từ đó, Cao Ủy lo về Tị nạn đặt ra việc “thanh lọc” nhằm cứu xét việc tị nạn là vì lý do chính trị hay chạy tìm miếng ăn! “Thanh lọc” đã tạo ra lắm chuyện đau lòng, bất công. Tôi không quên chuyện em Phan thị Linh ở trại tị nạn Hồng Kông, bởi bị cộng sản qui tội có Cha từng cộng tác Ngụy quyền cho nên em không được học hành, tìm việc làm mưu sống. Em bị chúng cho tên vào danh sách truy tầm vì tham gia chống đối. Ấy vậy mà khi “thanh lọc” ở Hồng Kông, em bị trả về Việt Nam! (báo Kháng Chiến số 138 trang 11, tháng 12.1994!). Bản tin chùa Khánh Anh bên Pháp lúc bấy giờ cũng đăng những tin tức tương tự! Hai chị em cùng chạy, em gái khoảng 11 tuổi được xếp tị nạn, chị khoảng 15 tuổi bị cho là kiếm ăn!

Tôi tự hỏi, nếu việc “thanh lọc” áp dụng ngay từ cuối thập niên 70 thì sẽ bao nhiêu người được tị nạn, bao nhiêu bị trả về?

Thấm thoát các con chúng tôi đã lớn. Nay đã là những người trưởng thành và tự lập, những người mà ông bà ngày xưa cho rằng “tam thập nhi lập!”, nôm na ba mươi thì tính chuyện gia đình. Dĩ nhiên chúng tôi cũng đã già. Chợt nhìn lại 30 năm qua (và cả sau này!) được sống trên đất nước thật sự tự do, tôn trọng nhân bản, nhân quyền, nghĩ đến (đa số) người dân trong nước vẫn không may…!

Cũng theo thời gian, những “bí mật (quốc gia?), bao che cấm kị như mèo dấu …” mà mấy chục năm qua csvn che kín, nay đã lần lượt phơi bày. Nào “bác hồ vĩ đại” lại là tay đạo Thơ, Ngục Trung Nhật Ký không là của ông ta, nào tự ca mình “vừa đi vừa kể chuyện” (chi đó!) qua tên trần dân tiên (!). Đám thủ hạ (thi hành chỉ thị?) đua nhau tô vẽ rằng cả đời “bác” hy sinh vì dân tộc không nghĩ đến hạnh phúc cá nhân, thì nay: Bà Tăng Tuyết Minh người Tàu, vợ cưới hỏi đàng hoàng, những “nữ cán bộ hộ lý!” Nguyễn thị Minh Khai, Nguyễn thị Xuân v..v.. và mới đây nhất trang Web: www.danviet.de với bài viết mang tựa đề: Lần gặp Bác Hồ tôi bị mất trinh của Huỳnh thị Thanh Xuân ngày 29.01.2009 kể lại chuyện các em gái Khăn Quàng Đỏ bị Bác… hiện hình một thứ quỷ râu xanh!

Nghe nói Unesco trước đây có ý “phong bác là vĩ nhân” rồi sau đó hủy bỏ, không biết đúng không, bởi không khéo tổ chức này bị một vết nhơ dính vào…!

“Đáng khâm phục nhất (?)” là những người từ Vô Sản (đoàn kết lại! như lời kêu réo của họ) mà chỉ trên 30 năm, tài sản đã có bạc Tỷ Đô La. Chắc chắn đây phải là những “tay Kinh tế gia cừ khôi”, như vậy tại sao Việt Nam còn bị liệt kê vào hàng đói kém? Hay bởi vì đây chỉ là tiền chúng, bọn trung ương đảng, vơ vét công quỹ, buôn người (lao động tha phương, cung cấp nô lệ tình dục, kể cả tuổi “cháu ngoan bác hồ!”..v..v.), cướp của (đất đai dân oan). Chưa hết, còn khấu đầu triều cống dâng hiến đất đai, hải đảo của Tổ Tiên để lại cho Tàu cộng mà người dân Việt nào trong nước dám đá động đến là khóa miệng ngay..!

Nghe ai đó nói rằng, nay không còn Vô sản đoàn kết mà là Tư bản đỏ kết chặt lại!

30 năm qua, đất nước Việt Nam ngoài một vài tô phết loè người bề ngoài: tốt nước sơn, thực chất chỉ thuộc loại gỗ xấu! Nguy cơ dần trở thành một tỉnh lẻ của ngoại bang phương Bắc là điều đáng lo. Con người được giáo dục không còn để ý việc khác, ngoài miếng ăn và hưởng thụ. Ngoài một số Tư bản đỏ vơ vét tài sản chung, còn lại bao nhiêu trong số hơn 80 triệu người có đời sống (tương đối) thoải mái? Hay chỉ có những người nhờ thân nhân bên ngoài cung cấp mới thảnh thơi mà thôi? Tương tự lời nói: “đảng csvn lo chi phí cho công an và binh lính, việt kiều lo chi phí cho an sinh xã hội …” Và có người cho rằng “dịch vụ an sinh xã hội này đang ăn nên làm ra và phát đạt lắm!” Thực hư?

May thay, tuy con số còn thật hiếm hoi, các anh chị em trong nước đang đối đầu với bọn Tư bản đỏ mà không nao núng cảnh lao tù, đã là những đóm lửa hy vọng: Vẫn còn những đứa con thân yêu quyết bảo vệ Mẹ Việt Nam, là truyền nhân của ý chí bất khuất …! Cũng không quên những người từ hải ngoại trở về mà Trần văn Bá là một điển hình..v..v..và v..v.., những người “tuy đã chết nhưng vẫn sống muôn đời trong lòng dân tộc …”

1979: 30 năm trước, chúng tôi là người xin tị nạn, không vì miếng ăn.

2009: 30 năm sau, chúng tôi vẫn là người xin tị nạn. Chưa hề về VN, dù “thăm!”.

Chúng tôi thường tự nhắc chính mình: tuy không may mắn được tàu cứu vớt trên biển cả để rủi có bị “thanh lọc” cũng không bị trả lui, nhưng không vì thế mà muối mặt trở về khi mình là người tị nạn. Để cám ơn xứ sở bao che đùm bọc, được sống trọn vẹn trong tự do nhân bản, chúng tôi không thể lừa người dối mình khi mà trước kia đã xin tị nạn chính trị, không vì miếng ăn, nay quay về nơi đã từng tìm cách chạy khỏi giữa đêm tăm tối, đã từng bị họ coi như thứ “ma cô ma cạo, một thứ chó chạy tìm xương” …! Những cái lưỡi không xương của họ chẳng gạt được ai, ngoại trừ tự bản thân muốn bị gạt. Vì vậy nay mới là (ôi!) “ khúc ruột ….”.

Có hàng trăm lý do đưa ra để biện minh việc phải chạy đi và lý do nào người cũng có thể chấp nhận. Nay cũng hàng trăm lý do biện minh cho việc quay về (thăm, chơi) nhưng e rằng không thuyết phục được ai, nếu công tâm phán xét! Nếu quả thật “nặng lòng” thì “bỏ chạy” làm chi và nay “đất nước đã thoải mái, phát triển” sao không về ở luôn cho “thỏa lòng nhung nhớ?”…

Trong sự hiểu biết và suy tư còn giới hạn của mình, chúng tôi luôn nhắc nhở và tự nghĩ như vậy, dù nếu có bị cho rằng “cố chấp (?)” thì … cũng đành! Cá nhân chúng tôi chắc là đã vấp biết bao lỗi lầm, cũng có thể đang và sẽ vấp phải tiếp! Nhưng mong sẽ cố gắng hết sức, xứng đáng là người không dối gạt, không nói một đàng hành động một nẻo: chúng tôi vẫn là người xin tị nạn chính trị!

Mơ ước sau cùng trước khi vĩnh viễn giã biệt cõi tạm dung, chúng tôi hy vọng có ngày sẽ trở về, khi có điều kiện, dù chỉ thăm viếng và lúc đó sẽ nhìn được quê hương Việt Nam thân yêu thật sự Tự do, đa nguyên, đa đảng, nhân quyền, tự do Tôn giáo, Báo chí….

Rất mong!

Ghi dấu 30 năm lưu trú xứ người
1979 – 2009
Lưu Đàng


Vì sao sau một ngàn năm đô hộ, bá quyền Trung Quốc vẫn không Hán hoá được Việt Nam? - Phong Uyên


Phong Uyên

Từ thượng cổ, người Trung Hoa đã tự tạo cho mình niềm tin rằng vua chúa của họ là “Thiên tử” (con Trời), được ban cho “thiên mệnh” trị vì bàn dân thiên hạ. Từ khi vị hoàng đế đầu tiên (Tần Thủy Hoàng đế) thống nhất các nước nằm trong lưu vực sông Hoàng, nơi này được gọi là Trung Quốc – hàm ý quốc gia ở trung tâm toàn cõi đất. Trăm họ tộc Hoa người Trung quốc được coi là thần dân. Những dân tộc không cùng dòng giống với người Hoa sống ở những khoảng đất chung quanh đều bị coi là man di như Hung Nô phía Bắc, Bách Việt phía Nam. Sau nhà Tần, các triều đại nhà Hán vẫn lấy danh nghĩa làm theo “mệnh trời”, tiếp tục chính sách bành trướng của Tần Thủy Hoàng chiếm hữu đất đai của các dân tộc này sáp nhập vào Trung Quốc. Còn tinh vi hơn, đàn bà con gái của các dân tộc này bị ép lấy người Hán, để rồi con cái họ trở thành người Hán vì mang huyết thống cha theo chế độ phụ hệ một chiều của người Tàu; bằng cách này, chỉ sau vài trăm năm, các dân tộc này đều bị tuyệt giống. Thật ra, đó là cách duy nhất để cung cấp nhân công cho một nền kinh tế có căn bản là nông nghiệp, khi người Hán chỉ là thiểu số so với toàn thể số dân đại lục Trung Hoa thời đó (vào khoảng 50 triệu, bằng dân số đế quốc La Mã cùng thời). Trong khoảng một ngàn năm gần như toàn thể các tộc Bách Việt sống ở phía Nam sông Dương Tử đều đã bị Hán hoá và tuyệt chủng. Chỉ còn lại duy nhất một dân tộc thoát được nạn này là dân tộc Lạc Việt, tổ tiên chủ yếu của dân tộc Việt Nam sau này: không những không bị đồng hoá mà, kỳ diệu hơn, còn giành được độc lập, giữ được một phần đất phía Bắc và tiếp tục bành trướng về phía Nam để tạo thành một quốc gia riêng, biệt lập với Trung Quốc, điều đã khiến cho cuộc Nam tiến của người Hán xuống cực Nam của vùng Đông Nam Á bị khựng lại từ hơn một ngàn năm nay.

Tôi đã thử tìm hiểu vì sao lại có được cái phép lạ đó. Theo tôi suy nghĩ, đó là nhờ ở bốn nhân tố:

Ý thức quốc gia của người Lạc Việt đã rất sớm nẩy nở, đủ sức chống lại ý thức bá quyền Đại Hán ngay từ khởi đầu.

Tinh thần dân tộc của người Lạc Việt đã vượt qua được giới hạn bộ tộc để đủ sức đương đầu với chủng tộc Đại Hán.

Truyền thống mẫu hệ của người Lạc Việt đã vô hiệu hoá phương thức đồng hoá bằng hôn nhân của người Hán theo chế độ phụ hệ, giúp cho dân Việt Nam bảo tồn được giống nòi.

Thể chế lạc tướng - lạc hầu được tồn lưu dưới hình thức cơ chế làng xã đã giúp dân Việt bảo vệ được nền tự chủ của mình.

Tôi cũng xin nói cho rõ hơn là cái nghĩa của từ “quốc gia” tôi bàn luận ở đây không cùng nghĩa với từ “quốc gia” bây giờ, và cũng không đồng nghĩa với chữ “quốc” trong “liệt quốc” thời Chiến quốc, mà có nghĩa “quốc gia Nam Việt” đối lập với “Trung Quốc” nhà Hán.

Theo tôi, chính Triệu Đà, để phục vụ tham vọng của mình, đã là người tạo cho dân Việt ý thức quốc gia và tinh thần dân tộc theo cái nghĩa đó. Trong lịch sử nhân loại có nhiều trường hợp như vậy: Alexandre Đại đế người Macédoine làm dạng danh nước Hi Lạp. Guillaume le Conquérant người Pháp lập ra nước Anh, trong quá khứ luôn luôn thù địch với Pháp. Napoléon người Corse đã đưa nước Pháp tới tột đỉnh vinh quang. Không kể những hung thần như Thành Cát Tư Hãn người Mông Cổ lập ra nhà Nguyên, Staline người Georgie, Hitler người Áo v.v…

Ý thức quốc gia

Khi Tần Thủy Hoàng mất, Triệu Đà chỉ là một viên lệnh úy tầm thường gốc người nước Ngụy thuộc tộc Hoa, nhưng là người có chí khí, đã biết lợi dụng thời thế hợp quần một số tộc Việt để xưng đế lập ra nước Nam Việt cùng thời với Trung Quốc của Hán Cao Tổ. Theo các nhà sử học phương Tây, sở dĩ nước Tần thắng được các nước khác, không phải vì có Tần Thủy Hoàng mà vì nước Tần là nước có thể chế, có hành chính qui củ, có quân đội mạnh, vũ khí tân tiến hơn các nước khác thời bấy giờ. Từng là một viên tiểu lại của nhà Tần, Triệu Đà đã lấy kinh nghiệm nước Tần để gây dựng nước Nam Viêt thành một quốc gia tân tiến ngang, nếu không nói là hơn Trung Quốc của nhà Hán thời sơ khai, nhất là về quân sự (đánh chiếm Trường Sa). Có thể nói trên lục điạ Trung Hoa và gần như cả Đông Nam Á thời đó, chỉ có hai quốc gia ngang sức đương đầu với nhau là Trung Quốc và Nam Việt. Cả hai đều có cơ cấu phỏng theo nước Tần. Nhờ vậy người Bách Việt trong nước Nam Việt của Triệu Đà có ý thức quốc gia rất sớm và sau một ngàn năm bị đô hộ vẫn giữ được ý thức đó để tái lập lại nước Việt sau này. Người Hán cho đó là khi quân, một thế giới không thể có hai nước, một điều phạm đến “thiên mệnh” của Trung Quốc, nên dùng đủ mọi phương kế kể cả phương kế bỉ ổi nhất là mỹ nhân kế Cù thị để xoá bỏ cho bằng được nước Nam Việt. Khi tiêu diệt được nhà Triệu, nước Nam Việt bị đổi thành Giao Chỉ bộ và bị chia nhỏ thành 9 quận cho mất tang tích một quốc gia đã dám đương đầu với Trung Quốc. Tuy vậy người Trung Hoa cho tới ngày nay vẫn luôn luôn bị ám ảnh bởi một quốc gia đã dám chống đối mình ngay từ sơ khởi, nên không có gì lạ khi nhà Thanh vì mặc cảm đã bắt Gia Long phải đổi quốc hiệu mà ông dự kiến “Nam Việt” thành “Việt Nam”. Trong thâm tâm, người Tàu vẫn coi Việt Nam là Giao Chỉ quận hay An Nam đô hộ phủ. Chứng cớ là khi người Pháp mới đặt chân xuống miền Nam, hỏi mấy chú Chệt tên nước này là gì, mấy chú vẫn nói tên là “Giao Chỉ”. Tây nghe âm Tàu đọc trại là “Cochin”. Lại sợ lầm với tên đất Cochin bên Ấn Độ, nên đặt lại là “Cochinchine” để phân biệt (từ tố “-chine” có nghĩa là “Trung Quốc”).

Tinh thần dân tộc


Là một nhà chính trị khôn ngoan, Triệu Đà đưa ra chủ trương liên kết mọi tộc Việt trong nước Nam Việt với nhau (như trong câu “người trong một nước phải thương nhau cùng”), điều đã khiến cho mọi tộc Việt vượt qua được giới hạn bộ tộc của mình, đi đến một ý niệm cao hơn là ý niệm về dân tộc Việt. Tinh thần dân tộc lại càng thêm vững mạnh khi Triệu Đà đem lại cho dân tộc Việt vinh quang đầu tiên bằng chiến công đánh chiếm Trường Sa [1] của Trung Quốc. Hơn một ngàn năm sau Lý Thường Kiệt noi gương đem quân tràn qua Tàu đánh phá các châu Khâm, Liêm. Rồi lại gần 1000 năm sau nữa, sau trận Đống Đa làm nhà Thanh khiếp đảm, Thanh đế Càn Long sợ Quang Trung sang đánh và đòi đất, phải vội vàng hứa gả con gái cho và hứa trả lại Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây).

Chế độ mẫu hệ và truyền thống lạc tướng - lạc hầu

Khi lập Văn vương [2] , cháu đích tôn con Mị Nương và Trọng Thủy, lên kế nghiệp mình, Triệu Đà có ý muốn nương theo chế độ mẫu hệ của người Lạc Việt để Việt hoá dòng giống mình, ngõ hầu triều đại nhà Triệu trở thành triều đại quy mô đầu tiên của dân Việt và sau này có thể dựa vào dân tộc Việt chống lại được sự bành trướng của Trung quốc. Trong lịch sử nhân loại, những dân tộc yếu muốn bảo vê được sự sống còn của nòi giống mình trước những dân tộc mạnh hơn đều chỉ có cách là duy trì liên hệ gia đình theo mẫu hệ. Thí dụ điển hình nhất là dân tộc Do Thái, 2000 năm mất nước, phải di tản đến mọi nơi trên thế giới, trước đó đã bao lần bị lưu đầy qua nhiều nước khác mà vẫn bảo tồn được dân tộc (cùng truyền thống văn hoá) của mình nhờ – không cần biết cha là thuộc dòng giống nào – tự coi mình là người Do Thái nếu mẹ là người Do Thái. Người Hán cũng biết vậy nên đã mưu tính đưa Cù thị vào làm vợ lẽ Anh Tề để con của Cù thị (có với tình nhân của thị là Thiếu Quý) là thái tử Hưng máu Tàu 100% sau này lên ngôi đem đất nước dâng lại cho nhà Hán. Quả nhiên là như vậy: khi Minh vương Anh Tề mất, Hưng lên ngôi (tức Ai vương) tính cùng mẹ đem nước dâng cho nhà Hán. Khi tể tướng Lữ Gia biết, giết mẹ con Cù thị và sứ giả nhà Hán, đưa Dương vương có mẹ người Việt lên thay thì đã quá muộn. Lại gặp tướng giỏi nhà Hán là Phục Ba tướng quân nên dân Việt đành chịu thua. Một ngàn năm sau, khi phản công lại Lý Thường Kiệt ở Khâm châu và Liêm châu, nhà Tống lại đem tích “Cù thị vị quốc hi sinh” như một Chiêu quân cống Hồ ra ca tụng nhằm cổ võ quân sĩ. Đủ biết là sự hiện hữu của nước Nam Việt đối lập với Trung Quốc vẫn là một mối hận trong tâm thức người Tàu.

Cũng có lẽ nhờ giữ được truyền thống mẫu hệ trong phong tục nên đã có những cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và Bà Triệu. Noi gương Triệu Đà, nhiều quan lại, sĩ tử người Hán, được cử qua “Hán hoá” dân Giao Chỉ, đã lấy vợ Việt không chịu trở về Trung quốc và con cháu không những đều trở thành người Việt mà còn nổi lên chống lại người Hán như trường hợp Sĩ Nhiếp, hoặc trường hợp Vạn Xuân vương Lý Bôn… Ngoài ra, nhiều tăng thống gốc Việt hay mẹ Việt như Tăng Khương Hội còn trở về Trung Quốc thuyết giảng đạo Phật theo văn hoá và tư tưởng Việt. Có thể suy luận là trong 1000 năm bị đô hộ, sở dĩ dân Việt Nam không bị đồng hoá là vì chính sách Hán hoá “lấy vợ Việt để đẻ con Hán” lại có hậu quả ngược lại, “gậy ông đập lưng ông”, là các con cháu có “mẹ Việt” đều trở thành người Việt, giữ gìn huyết thống Giao Chỉ và truyền thống văn hoá Việt, nhờ vậy đã không những không bị Hán hoá mà ngược lại, còn “Việt hoá” người Tàu qua đô hộ. Khả năng “Việt hoá” mạnh mẽ đó không những đã giúp dân Việt bảo vệ được nòi giống của mình trước người phương Bắc mà còn có thể, trong cuộc bành trướng về phương Nam, đồng hoá những dân tộc khác từng một thời hưng thịnh như Chiêm Thành, Chân Lạp, cũng như sau này đã “Việt hoá” những người Tàu Minh Hương để mở mang miền Nam.

Truyền thống lạc tướng - lạc hầu ẩn mình dưới những cơ chế làng xã cũng đã giúp cho dân Việt bảo tồn được nền tự chủ của mình trong suốt thời kỳ bị đô hộ, vì “phép vua thua lệ làng”: phép tắc của các quan thái thú Tàu cũng không thể vượt qua được lũy tre làng. Nhờ vậy mà “ý thức quốc gia” vẫn tiếp tục trường tồn tuy bị thu hẹp trong ý thức “làng nước”: làng chỉ là nước được thu nhỏ lại, và vị Thần Hoàng được thờ ở đình làng như những anh hùng dân tộc, những bậc thánh linh thiêng sẽ phù hộ cho người dân giữ làng giữ nước; còn làng là còn nước, bảo vệ làng là bảo vệ nước.

Để kết luận

Trong lịch sử thế giới từ cổ chí kim, từ Đông qua Tây, không một dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, sau một ngàn năm bị đô hộ bởi một nước lớn và mạnh như Trung Quốc, không những vẫn bảo tồn được nòi giống mà còn vẫn giữ được cơ cấu quốc gia, và lại tiếp tục duy trì nền tự chủ của mình trong suốt thời gian một ngàn năm nữa. Đó là nhờ ở những nhân tố mà tôi đã nêu ở trên, cũng như nhờ ở sự khôn khéo của ông cha ta đã biết lúc cương lúc nhu, lúc tiến lúc lùi, tuy giữ hình thức triều cống ba năm một lần nhưng vẫn luôn luôn cảnh giác, coi phương Bắc là giặc, là kẻ thù, không bao giờ coi là bạn cả.

Chỉ có gần đây, trong khoảng thời gian 30 năm từ 1949 đến 1979, vì ý thức hệ, vì muốn độc tôn chiếm hữu quyền hành, giới cầm quyền Việt Nam mới coi kẻ thù truyền kiếp là huynh trưởng, là ân nhân, để rồi tự nguyện trở thành tên lính tiền phong, đem xương máu của chính đồng bào mình bảo vệ “ân nhân” vốn là kẻ thù đó. Khi bị người “anh em” dạy cho một bài học biên giới mới tỉnh ngộ thì đã muộn: chủ nghĩa bành trướng Đại Hán cũng vẫn y nguyên như 2000 năm về trước, cho dù được che giấu dưới chiêu bài “chủ nghĩa quốc tế vô sản”, “môi hở răng lạnh”; kế sách “Cù thị” vẫn tái diễn mà trong đó, [các lãnh tụ] Đảng Cộng sản Việt Nam không khác nào một thứ “thái tử Hưng”. Tuy nhiên, lần này, bá quyền Trung Quốc có nhiều hi vọng thành công: họ đang sử dụng ưu thế kinh tế, chính trị, quân sự của mình để tạo ra một sợi dây xích trói chặt Việt Nam bốn bề từ biên giới phía Bắc bọc qua Hoàng Sa - Trường Sa phía Đông, dọc theo sông Mê Kông từ Tây Tạng tới những nước đã bị khống chế như Lào, Cam Bốt phía Tây. Việt Nam hiện nay đã như cá nằm trong rọ. Bành trướng Đại Hán có thể tiếp tục thực hiện âm mưu làm bá chủ Đông Nam Á và Biển Đông mà gần như không còn chướng ngại vật Việt Nam.

Làm thế nào thoát được vòng cương toả của Trung Quốc để tạ lỗi với tổ tiên, với đất nước? Dù sớm hay muộn, chính quyền cộng sản Việt Nam cũng sẽ phải trả lời câu hỏi này.

Phong Uyên
——————————————————————————–
[1] Địa danh Trường Sa ở đây là thành phố cổ hiện đang là thủ phủ của tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Còn “Trường Sa” với tư cách là tên gọi quần đảo trên biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam, Trung Quốc gọi là “Nam Sa”. Đời Hán, thành Trường Sa là kinh đô của “Trường Sa quốc”, một trong số chư hầu của nhà Hán. Theo sử sách, vào khoảng sau năm 195 TrCN, Nam Việt vương Triệu Đà đã từng tấn công Trường Sa quốc, chiếm đất của nước này. Đây là hành động chủ yếu mang tính tự vệ, vì nhà Hán (sau khi Hán Cao tổ Lưu Bang đã chết, Lữ hậu thâu tóm chính sự) khi đó bộc lộ tham vọng thôn tính Nam Việt, mà Trường Sa là ngả tiến quân thuận tiện nhất. (Các chú thích đều của talawas.)

[2] Để độc giả tiện theo dõi đoạn trích dẫn sử liệu này của tác giả Phong Uyên, talawas xin tóm lược dòng chính lưu của cây phả hệ nhà Triệu (gồm cả thảy 5 đời vua) đã cai trị Nam Việt quốc, như sau: Triệu Vũ vương (tức Triệu Đà, trị vì từ 207 TrCN đến 137 TrCN), Triệu Văn vương (tức Hồ, cháu đích tôn của Vũ vương và cháu ngoại của An Dương vương Thục Phán nước Âu Lạc; 137 TrCN – 125 TrCN), Triệu Minh vương (tức Anh Tề, 125 TrCN – 113 TrCN), Triệu Ai vương (tức Hưng, 113 TrCN – 112 TrCN; thực ra Hưng là con của Cù thị [vợ lẽ Minh vương] với Thiếu Quý, tình nhân của Cù thị – cả Cù thị lẫn Quý đều là người Hán), và Triệu Dương vương (con của Minh vương với quý phi người Việt; 112 TrCN – 111 TrCN). Đến đây (năm 111 TrCN), nhà Triệu mất nước Nam Việt vào tay nhà Hán.