Tuesday, January 3, 2012

Nhạc

Việt Nam Tôi Đâu ???
Nhạc và lời Việt Khang trình bày
(Võ Minh Trí)
Chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam ...



Anh Là Ai ??
Nhạc và lời Việt Khang trình bày
(Võ Minh Trí)


Một Mai Giã Từ Vũ Khí
Ngân Khánh
Trình bày: Duy Khánh




Thursday, December 29, 2011

Cuối năm 2011. Địt mẹ ! tao chửi chúng mày một tiếng đảng cộng sản Việt Nam - teolangthang

Địt mẹ, đảng cộng sản Việt Nam
    LỜI CẦU NGUYỆN CỦA LS LÊ DUY SAN
    1. Việt Cộng chết hết và chết một cách thảm khốc cả gia đình và dòng họ.
    2. Thân Cộng chết hết và chết một cách thảm thương cả gia đình và dòng họ.
    3. Những kẻ có những lời nói, hành động cố ý làm lợi cho Việt Cộng hay gây chia rẽ hàng ngũ người Việt Quốc Gia, mạ lỵ những người chống Cộng cũng chết hết và chết một cách thảm hại cả gia đình và dòng họ.

Vô Tôn Giáo - Đinh Lâm Thanh

Đinh Lâm Thanh

Theo "lý lịch trích ngang" của 16 ủy viên bộ chính trị trung ương đảng cộng sản Việt Nam thì không một tên nào có cha mẹ cũng như không theo bất cứ một đạo nào. Đó là chủ trương vô gia đình, vô tôn giáo và vô tổ quốc theo cái thuyết khốn nạn mà các tay tổ cộng sản đẻ ra nhằm biến con người thành con vật để dễ dàng cai trị ! Như vậy bất cứ tên cộng sản lớn nhỏ nào cũng không xứng đáng để được gọi là con người. Chúng còn tệ hơn cả loài thú dữ, dù ăn thịt đồng loại, nhưng con vật vẫn còn biết được đâu là tổ ấm gia đình, đâu là phần đất cần phải bảo vệ. Cọp beo, trăn rắn, kên kên …. lúc chập chững còn biết nguồn gốc tổ ấm, bám theo cha mẹ, tìm về hang động, bảo vệ lẫn nhau và chung sức chống đối kẻ thù hơn những tên cướp xuất thân từ rừng xanh, khi khôn lớn thì tự cho mình từ đất chui ra và từ chối luôn cả cha lẫn mẹ. Vậy chúng là thành phần đội phân trồi lên, chẳng khác gì dòi bọ ở các hầm cầu. Còn nữa, đã là cộng sản thì chúng luôn luôn kỵ tôn giáo và xem ‘đạo’ như một thứ thuốc phiện ru ngủ con người đồng thời là mầm mống nguy hiểm chống lại chế độ của chúng.

Có thể nói rằng, loài người là một tuyệt phẩm mà Thượng Đế đã tạo ra, nhưng muốn được gọi là con người thì phải có một bộ óc hiểu biết và một con tim nhạy cảm hơn các loài động vật khác…để từ đó con người mới biết tôn trọng lẫn nhau, sống hòa hợp, phân công và góp sức xây dựng một xã hội tốt đẹp và tiện nghi. Nhưng cái gì có thể giúp cho con người làm được những điều nầy? Phải chăng vai trò giáo dục có thể giúp con người biết điều hay lẽ phải, biết tôn trọng luật pháp, biết tu thân tích đức và làm lành tránh dữ…Như vậy muốn trở nên một con người hữu ích thì phải có một ‘lực’ linh thiêng nào đó để kềm ép thể xác tránh được những cái dục vọng, gian ác tầm thường trong mỗi con người. ‘Lực’ đó chính là căn bản của tôn giáo.

Khi đề cập đến vấn đề tôn giáo, xin hiểu rộng và đừng hạn chế trong một phạm vi hạn hẹp là tôn giáo chỉ có thờ phượng các Đấng Thượng Đế, Chúa, Allah, Phật, Ông Bà … mà phải nói đến các hình thức tôn giáo lớn nhỏ khác của loài người vượt qua ranh giới không gian và thời gian. Ví dụ như từ Thần Sông, Thần Núi, Thần Biển, Thần Rừng, Thần Đất, Thần Mưa, Thần Gió… đến Ông Voi (cá), Ông Địa, Ông Táo, Ông Tài, Ông Phước, Ông Lộc, Ông Thọ cũng như Đình Làng, Cây Đa, Khóm Tre, Gốc Cây, Ngọn Cỏ … đối với người Việt Nam nói riêng, hoặc Á Châu hay các sắc tộc khác, nói chung, là những Vị Linh Thiêng mà con người dựa vào đó để tin tưởng, khấn vái, cầu xin và sám hối. Vậy có thể nói rằng dù ở thời đại hay chân trời góc biển nào, đã là con người, không nhiều thì ít cũng mang nguồn gốc ‘hữu thần’ trong quả tim và trí óc, nghĩa là chấp nhận sự hiện diện các Đấng Linh Thiêng trong đời sống của họ để tôn sùng, cầu xin, sám hối và (được) phán xét.

Tại sao cộng sản sợ tôn giáo?

- Thứ nhất: Tôn giáo là niềm tin và điểm tựa của đời sống tâm linh, là đường dẫn con người đến với Đấng Linh Thiêng. Kẻ có tôn giáo tức là có đời sống hướng thiện, thường nghĩ rằng trần thế chỉ là tạm bợ, họ tin tưởng có thưởng có phạt trong kiếp sau, do đó họ phải làm lành tránh dữ, chống lại những gì giả dối gian manh thiếu luân lý đạo đức. Vậy, đối với cộng sản, bất cứ tôn giáo nào cũng là những cái gai nguy hiểm đối với chế độ, chúng chủ trương phải nhổ bỏ tận gốc. Nhưng thực tế, cộng sản đã lầm và lịch sử chứng minh rằng không bao giờ chúng diệt được cái gốc hữu thần trong con người. Vậy để gây chia rẽ các khối tôn giáo chính thống, chúng phải dựng lên một hình thức tín ngưỡng mới là thần thánh hóa các tên lãnh tụ để bắt dân chúng phải tôn thờ nhằm thế chỗ Thượng Đế, Chúa, Phật, Thần Thánh …

- Thứ hai: Tôn giáo là những tổ chức mạnh mẽ về đời cũng như đạo, có chiều sâu, có căn bản, có thực lực về lượng và phẩm thì đây chính là mối nguy trầm trọng đối chế độ cộng sản. Trên 60 năm qua chúng đã hoàn toàn thất bại trong âm mưu xóa sổ các tôn giáo lớn tại Việt Nam. Để đối phó với vấn đề nầy, bọn việt gian cộng sản đã quỷ quyệt dùng vật chất mua chuộc những kẻ tu hành còn nặng nợ trần gian, hoặc biến công an thành tu sĩ để lập những tổ chức tôn giáo quốc doanh nhà nước và đặt dưới quyền điều động của Mặt Trận Tổ Quốc. Do đó hiện giờ các tôn giáo lớn tại Việt Nam đều có hai giáo hội hoạt động song song, một bên được ưu đãi và bên kia bị cô lập, theo dõi, kiểm soát và hăm dọa.

Để đi vào chi tiết, tại sao phải có tôn giáo trong đời sống con người? Vậy xin tóm tắt qua ba lãnh vực.

Tôn giáo là nguồn gốc tình người:

Đạo nào cũng dạy con người phải biết thương yêu, đùm bọc, chia sẻ từ miếng cơm manh áo cho nhau. Tình yêu không chỉ hạn chế trong phạm vi gia đình, dòng họ, bạn bè, lối xóm với nhau mà phải bao gồm giữa những con người cùng chung dòng máu, giữa dân tộc nầy sắc dân khác, kể luôn đối với kẻ thù. Xã hội dưới chế độ cộng sản mất hẳn tình thương, do đó người ta không lạ gì khi hận thù vẫn còn phủ kín trên mảnh đất quê hương. Thù hận từ trong gia đình, thôn xóm ra đến xã hội, giữa kẻ nghèo người giàu, giữa người Bắc với Nam, giữa hai chế độ mới cũ, giữa tôn giáo nầy với tôn giáo kia. Hơn nữa tình trạng vô tôn giáo đã thật sự đưa con người dưới chế độ cộng sản hiện nay đến tình trạng ‘người bóc lột người’ một cách tàn nhẫn mà loài người không bao giờ tìm thấy trên quả đất nầy! Cũng vì thiếu tình người mà hàng trăm khách qua đường đã ngoảnh mặt làm ngơ khi một em bé bị tai nạn nằm rên la suốt cả nửa ngày ngay giữa đường chính trong thành phố. Đây chính là hình ảnh rất thực chứng minh tình người đã biến mất tại Việt Nam hiện nay.

Tôn giáo là cội nguồn đạo lý:

Tôn giáo dạy con người phải biết đạo làm người, đạo đối với cha mẹ, đạo với tổ quốc (bảo vệ giang sơn), đạo với Trời Đất. Một xã hội thiếu đạo đức thì con người không còn biết trái phải và chỉ hành xử với nhau theo bản năng vật chất và nhục dục. Cũng tại Việt Nam vì thiếu đạo đức, người trở thành con thú, cha mẹ cần tiền bán con vào động điếm, vợ chồng giết nhau chỉ vì chút lợi nhỏ, hàng xóm chém nhau chẳng qua một miếng ăn. Cũng vì vắng đạo đức mà hiệu trưởng biến trường học thành động đĩ để bán dâm cho cấp trên, bọn cầm quyền đóng thùng xuất khẩu hàng triệu gái ra nước ngoài làm vợ người, cán bộ ăn cắp tiền và phẩm vật cứu trợ của nạn nhân bảo lụt, các nhà tu hành ngủ với tín đồ phật tử và lấy tiền dâng cúng để bao gái. Những tệ trạng nầy xảy ra hằng ngày dưới cái thiên đường ‘đỉnh cao trí tuệ’ cộng sản. Và cũng vì vắng đạo đức, nhiều khách sạn nhà nước đã biến thành ổ mại dâm để cho hàng ngàn sinh viên học sinh tại Hà nội hành nghề ! (tin ngày 23.12.2011).

Tôn giáo là căn bản xã hội:

Nếu không có tôn giáo, nghĩa là thiếu công bằng, luật nằm trong tay kẻ mạnh, như thế xã hội mất hẳn tính chất minh bạch của con người khi đối xử với nhau ngay từ hạ tầng cơ sở. Dưới, mạnh ai thì nấy cướp cạn. Trên, bóc lột đã có môn bài. Không ai sợ tội, không ai khuyên nhủ và cũng không một lực nào để ngăn cản tội ác đang bộc phát và hoành hành trong mỗi con người. Một xã hội mà trên tham lam vơ vét của người nghèo, ăn cắp tài sản quốc gia thì không thể nào ngăn cấm răn đe cấp dưới làm lành tránh dữ và giáo hóa uốn nắn họ trở về với đường ngay lẽ phải.

Tóm lại nếu một xã hội vắng tình thương và thiếu đạo đức thì sẽ trở thành một địa ngục, ở đó vật chất và quyền lực là nấc thang để phân loại con người và là vũ khí để hành hạ chém giết lẫn nhau. Chính vì vô tôn giao, việt gian cộng sản đã biến dân lành Việt Nam thành những tên lưu manh, đểu cáng, trộm cắp, móc túi theo tư tưởng và lời dạy của già dịch mang tên Hồ. Thành phần nầy có mặt đầy dẫy không những từ hạ tầng cơ sở như đường phố, bến chợ mà còn trong các cơ quan du lịch, thương mại và ngoại giao tại nội địa cũng như hải ngoại.

Để kết luận, một đám người từ rừng chui ra, chỉ biết dùng bạo lực để biến đất nước thành một xã hội vô tổ quốc, vô gia đình nhất là vô tôn giáo thì lương tâm, quả tim và đầu óc của bọn chúng hoàn toàn bị tiêu diệt bởi nhục dục và tham vọng. Chúng là những khối thịt, chỉ biết ăn thật no hưởng thật nhiều và vơ vét cho đầy túi. Như vậy đất nước Việt Nam trên nửa thế kỷ nay bị cai trị bởi đám súc vật nầy thì thế giới đâu có lạ khi xã hộiViệt Nam ngày nay dưới chế độ cộng sản không còn chút gì để gọi là đạo lý và tình người…

Đinh Lâm Thanh

Saturday, December 24, 2011

Cánh chung luận là gì? - L.m. Andre Đỗ Xuân Quế o.p

    Cánh chung luận là gì?
"Đó là một sự mạo nhận không mấy lương thiện, một sự gán ghép giả tạo, vì “Mác-xít là một hệ tư tưởng vô thần cho nên không có cánh chung luận”. Đúng như thế, chứ không phải ngược lại."

L.m. An-rê Đỗ Xuân Quế o.p

Cụm từ này khó hiểu vì không có trong từ điển và trong đời thường. Trong tự điển, chỉ thấy những từ như chung kết, chung cục, chứ không thấy cánh chung. Còn trong đời thường, chỉ thấy nói đến cánh chim, cánh cửa, cánh kiến, cánh nhạn v.v…, chứ không thấy nói đến cánh chung, sở dĩ như vậy vì từ cánh chung mới xuật hiện vài chục năm nay thôi, khi linh mục Nguyễn Thế Thuấn nói đến “nhỡn giới cánh chung” ở trang 560 trong bản dịch Kinh thánh của mình. Đàng khác, cánh chung là một cái gì rất xa lạ đối với đời thường của dân chúng.

Khi muốn dịch từ eschaton ƐσχαƮoν (những sự sau) trong Kinh thánh và eschatos logos ƐσχαƮoς λογος (lời về sự sau) trong thần học, nhiều người không biết dùng từ nào, nên mượn từ cánh chung của linh mục Thuấn cho tiện. Từ đó dần dần cánh chung trở thành chữ phổ thông trong sách báo công giáo.

Vậy chính ra, cánh chung là gì và cánh chung luận là thế nào? Theo nguyên ngữ Hy lạp eschaton là những sự sau và eschatos logos là lời về những sự sau. Eschatos logos trở thành eschatology trong tiếng Anh và eschatologie trong tiếng Pháp. Đây là môn học về những sự sau, gọi là tứ chung hay bốn sự sau, tức sự sống, sự chết, thiên đàng, hỏa ngục trong khoa thần học công giáo mà hiện nay người ta nói cách văn vẻ là cánh chung luận.

Sự sống, sự chết, thiên đàng, hỏa ngục là nội dung được bàn đến trong cánh chung luận. Đây là những tín điều người công giáo phải tuyên xưng trong các Chúa nhật và các ngày lễ trọng. Họ buộc phải tin rằng khi chết rồi, mỗi người phải ra trước tòa Chúa để bị phán xét về các việc mình làm khi còn sống. Nếu ăn ngay ờ lành thì được thưởng. Nếu ăn ở bất nhân thì bị phạt. Người lành được thưởng trên thiên đàng còn kẻ dữ bị phạt sa hỏa ngục. Bài Tin Mừng trong lễ Chúa Giê-su Vua vũ trụ cho thấy cảnh tượng đó đối với những người ăn ngay ở lành:

“Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng, Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.” (Mt 25,34-36)

Còn đối với những kẻ bất nhân :

“Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỉ và các sứ thần của nó. vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng.” (Mt. 25, 41-43)

Ngày cánh chung là ngày cuối cùng, ngày chu kỳ lịch sử loài người hoàn tất, ngày Chúa ngự giá mây trời mà đến trong tư thế lẫm liệt uy hùng, để phán xét người sống và kẻ chết.

Qua những lời Chúa phán trong ngày phán xét chung, những người được ân thưởng là những người làm những việc từ thiện bác ái. Những người này không phải là những người chỉ biết sống cho riêng mình mà là những người có các mối liên hệ với xã hội, với con người. Các Ki-tô hữu được thánh Phê-rô và thánh Phao-lô dạy rằng quê hương của họ ở trên trời: “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta” (Pl 3,20) và họ ở trần gian này như lữ khách: “Anh em thân mến, anh em là khách lạ và lữ hành, tôi khuyên anh em hãy tránh xa những đam mê xác thịt vốn gây chiến với linh hồn”. (1 Pr 2,11)

Quê trời là đích điểm cùa những người tin Chúa. Vì thế, cánh chung phải là ngày các Ki-tô hữu nhắm tới. Vì ngày đó mà họ cố sống theo lời Chúa dạy, khi còn ở trần gian này.

Quê hương Ki-tô hữu ở trên trời và họ ở trần gian này như những lữ khách, nhưng không phải vì thế mà họ xa lạ với trần gian. Hiến chế Vui mừng và Hy vọng cũng như học thuyết xã hội của Hội thánh luôn đặt Ki-tô hữu trước những bổn phận đối với trần gian theo cái nhìn của đức tin. Phải góp phần vào việc xây dựng xã hội trần gian để đem ơn cứu độ của Chúa cho xã hội đó.

Căn cứ vào nội dung môn cánh chung luận trong thần học công giáo thì không một triết thuyết hay chủ nghĩa nào có thể mang danh hiệu là cánh chung luận, vì triết thuyết hay chủ nghĩa đó không nhìn nhận Thiên Chúa là Chủ tể càn khôn và cùng đích của loài người, Đấng thưởng người lành và phạt kẻ dữ trong ngày chung thẩm. Vì vậy, nói rằng:

“Bất cứ một tôn giáo nào cũng hàm chứa bên trong một cánh chung luận, triết thuyết nào có khả năng cung cấp cho con người một cánh chung luận hấp dẫn, cũng có nghĩa là cung cấp một niềm hy vọng có sức thuyết phục thì triết thuyết đó cuốn hút con người. Tôi lấy một cái thí dụ, ta đang sống rất là cụ thể trong một đất nước xã hội chủ nghĩa, dựa trên cái nền tảng triết học của Marx. Thế thì có nhiều người có thể nghĩ Mác xít vốn là một hệ tư tưởng vô thần cho nên là không có cánh chung luận. Không phải thế, trái lại nó có một cánh chung luận rất là hấp dẫn, rất là cụ thể, nó đã trình bày cái điểm tới của lịch sử nhân loại, là một xã hội cộng sản hoàn hảo trong đó: không còn cảnh người bóc lột người, mà mỗi một người trong anh chị em và tôi chỉ cần làm việc theo khả năng còn nhu cầu có bao nhiêu là cứ việc xài. Người ta sống với nhau trong tình huynh đệ, một thiên đàng tại thế, và khi mà có cái điểm tới của lịch sử cả nhân loại như thế, thì mỗi cá nhân trong lịch sử đó khám phá ra cái ý nghĩa của một sư hy sinh mình chịu. Tôi chết đi nhưng sư nghiệp của tôi vẫn còn tồn tại mãi trong nhân dân. Tôi hy sinh nhưng mà sự hy sinh đấy không vô nghĩa, bởi vì nó xây dựng cho thế hệ tương lai, xây dựng cho nhân dân, Trong cái cánh chung luận rất là cụ thể và hấp dẫn và chính vì thế nó đã cuốn hút cả triệu con người chấp nhận bao nhiêu hy sinh để xây dựng tương lai, cho nên có chứ không phải không đâu…” (Ngưng trích bài giảng về lễ Chúa Giê-su Vua vũ trụ ngày 20.11.2011 đọc thấy trên mạng NVCL của ĐC Phê-rô Nguyễn Khảm).

Thì đó là một sự mạo nhận không mấy lương thiện, một sự gán ghép giả tạo, vì “Mác-xít là một hệ tư tưởng vô thần cho nên không có cánh chung luận”. Đúng như thế, chứ không phải ngược lại.

Thuyết Mác-xít có chăng thì chỉ là một cái bánh vẽ, một sự mơ tưởng hão huyền về một tương lai tốt đẹp cho con người, một sự ru ngủ những người cả tin vào những lời đường mật của những kẻ khéo nói có tài che đậy, để lường gạt thiên hạ mà thôi. Cứ nhìn xem những gì đã xẩy ra hay còn đang xẩy ra tại những nước áp dụng chủ nghĩa Mác-xít mà Cuốn sách đen về chủ nghĩa Cộng sản, là đủ thấy.

L.m. An-rê Đỗ Xuân Quế o.p.