Monday, March 30, 2009

CẢNH GIÁC NHÀ CẦM QUYỀN HÀ NỘI VỀ VIỆC PHÂN ĐỊNH THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM - Luật sư Nguyễn Hữu Thống

Chính quyền nào rồi cũng qua đi
Nhưng dân tộc và đất nước thì vẫn còn mãi
    ỦY BAN LUẬT GIA VIỆT NAM BẢO VỆ DÂN QUYỀNCẢNH GIÁC NHÀ CẦM QUYỀN HÀ NỘI VỀ VIỆC PHÂN ĐỊNH THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM
Luật sư Nguyễn Hữu Thống

Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
Từ khi biết sống hợp quần trong xã hội để thành lập quốc gia, con người đã biết đặt ra luật lệ để giải quyết các tương quan về quyền lợi và nghĩa vụ trong sinh hoạt cộng đồng.

Địa cầu gồm 3 phần đất và 7 phần nước. Nếu có luật quốc tế tại các lãnh thổ thì cũng phải có luật biển cho miền lãnh hải hay hải phận.

Ngày 10-12- 1982, 119 quốc gia đã ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển trong đó có Trung Quốc và Việt Nam. Muốn thành luật, Công Ước phải được đa số các quốc gia kết ước phê chuẩn. Ngày 16-11-1993, 60 quốc gia đã phê chuẩn Công Ước, và một năm sau, ngày 16-11-1994 Công Ước có hiệu lực chấp hành.

Danh từ lãnh thổ bao gồm cả lục địa, hải phận và không phận.

Tại vùng hải phận đường cơ sở (baseline) thông thường là lằn mức thủy triều xuống thấp.

Biển lãnh thổ (territorial sea) rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra khơi

Cần phân biệt giữa biển lãnh thổ và lãnh hải hay hải phận của quốc gia duyên hải (maritime zone).

Theo án lệ cố định của Tòa Án Quốc Tế The Hague và chiếu Điều 8 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, biển lịch sử (historic waters) chỉ là nội hải (internal waters).

Muốn có biển lịch sử phải hội đủ 3 điều kiện:

a. Quốc gia duyên hải đang hành sử chủ quyền;
b. Sự hành sử chủ quyền có tính liên tục và trường kỳ;
c. Các quốc gia kế cận và đối diện thừa nhận chủ quyền của quốc gia duyên hải.

Dầu sao biển lịch sử chỉ là nội hải tọa lạc trên đất liền, về phía bên trong đường cơ sở của biển lãnh thổ.

Như vậy biển lịch sử của Trung Hoa hay Lưỡi rồng Trung Quốc chỉ là nội hải. Nó không thể là Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á cách Hoa lục đến 2000 cây số.

Vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý để đánh cá chạy từ biển lãnh thổ ra khơi.

Thềm lục địa để thăm dò và khai thác dầu khí trùng điệp với vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá và cũng rộng 200 hải lý (370 km).

Chiếu Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, thềm lục địa pháp lý (legal continental shelf) của các quốc gia duyên hải dài 200 hải lý tính từ biển lãnh thổ ra khơi. Ngoài ra còn có thềm lục địa địa chất (geological continental shelf) có thể kéo dài tối đa đến 350 hải lý (650 km), nếu về mặt địa chất và địa hình, đáy biển là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa từ đất liền ra ngoài khơi trên triền biển sâu đến mũi xa bờ nhất của nền lục địa (continental margin).

Đó là một yếu tố đặc thù của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tại Hoàng Sa, thềm lục địa địa chất nằm trên nền lục địa, chạy thoai thoải từ dẫy Trường Sơn ra biển, phía đông Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Độ sâu nhất quanh đảo Hoàng Sa là 900 mét. Về mặt địa chất và địa hình, đáy biển Hoàng Sa là sự tiếp nối tự nhiên của dẫy Trường Sơn từ Cù Lao Ré ra các đảo Tri Tôn, Hoàng Sa và Phú Lâm. Đây là những cao nguyên của lục địa Việt Nam trên mặt biển. Nếu nước biển rút xuống 900 mét thì toàn thể các hải đảo Hoàng Sa sẽ biến thành một dẫy hành lang chạy thoai thoải từ Trường Sơn ra Biển Đông.

Năm 1925 nhà địa chất học quốc tế, Tiến Sĩ khoa học A. Krempt, Giám đốc Viện Hải Học Đông Dương, sau 2 năm nghiên cứu, phân chất đất đai, đo đạc, vẽ bản đồ các hải đảo và đáy biển đã lập phúc trình kết luận rằng: “Về mặt địa chất những đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam” (Geologiquement les Paracels font partie du Vietnam).

Trong khi đó từ quần đảo Hoàng Sa về Hoa lục có một rãnh biển sâu hơn 2300 mét. Vì đáy biển Hoàng Sa không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa từ đất liền ra ngoài biển, Trung Quốc không có hy vọng đòi nới rộng thềm lục địa Trung Hoa từ 200 hải lý đến 350 hải lý như trường hợp Việt Nam.

Vả lại các đảo Hoàng Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 17-15 bắc, cách bờ biển Việt Nam khoảng 160 hải lý và cách Hoa lục tới 270 hải lý, nên thuộc thềm lục địa của Việt Nam.

Tại Trường Sa cũng vậy. Về mặt địa chất và địa hình đáy biển, Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên từ lục địa Việt Nam ra ngoài biển. Tại bãi Tứ Chính, nơi khai thác dầu khí, biển sâu không tới 400 mét, và tại vùng đảo Trường Sa và cồn An Bang (do Việt Nam chiếm cứ), độ sâu chỉ tới 200 mét. Bãi Tứ Chính cách bờ biển Việt Nam khoảng 170 hải lý và cách Hoa lục tới 800 hải lý. Các đảo Trường Sa tọa lạc tại các vỹ tuyến 12-8 bắc (từ Cam Ranh đến Cà Mâu), cách bờ biển Việt Nam 220 hải lý và cách Hoa lục tới 750 hải lý, nên thuộc hải phận của Việt Nam.

Hơn nữa về mặt địa chất và địa hình, đáy biển Trường Sa cách bờ biển Trung Quốc bằng một rãnh biển sâu hơn 4 ngàn mét. Vì đáy biển không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa từ đất liền ra ngoài biển, Trung Quốc không có hy vọng đòi nới rộng thềm lục địa đến mức 350 hải lý. Trong mọi trường hợp, các đảo Trường Sa cách Hoa lục quá xa, từ 700 đến 800 hải lý, vượt quá mức tối đa 350 hải lý dành cho thềm lục địa địa chất, nên không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Q uốc,

Khác với vùng đặc quyền kinh tế đánh cá, thềm lục địa (pháp lý hay địa chất) thuộc chủ quyền tuyệt đối và đặc quyền chuyên hữu của quốc gia duyên hải trong việc thăm dò và khai thác dầu khí. Các quốc gia duyên hải không phải chia dầu khí cho ai, mặc dầu chưa khai thác hay không khai thác hết (các Điều 77 và 81). Các quốc gia khác không được quyền đến thăm dò hay khai thác dầu khí nếu không có sự ưng thuận minh thị của quốc gia duyên hải. Mọi sự vi phạm bằng cách chiếm cứ, dầu có võ trang hay không, cũng đều bất hợp pháp và vô hiệu lực.

Hơn nữa, tại thềm lục địa, quyền của các quốc gia duyên hải không tùy thuộc vào điều kiện phải có sự chiếm cứ (occupation), thăm dò (exploration), khai thác (exploitation) hay công bố minh thị (express proclamation). Do đó, mặc dầu không còn chiếm cứ các đảo tại Hoàng Sa từ 1974, Việt Nam vẫn không mất chủ quyền tuyệt đối và đặc quyền chuyên hữu tại quần đảo này.

Trong những năm 1974, 1988 và 1992 Trung Quốc đã chiếm cứ võ trang một số đảo, cồn, đá, bãi tại Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là những hành động vi phạm thô bạo Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Dầu sao sự chiếm cứ bất hợp pháp này cũng không có tác dụng tước đoạt chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại thềm lục địa. Hành vi bạo hành dầu kéo dài bao lâu cũng không làm mất tính bạo hành của nó. Và sự bạo hành võ trang không được viện dẫn quy chế tiêu diệt thời hiệu theo luật lệ hiện hành tại các quốc gia văn minh trên thế giới.

Đơn yêu cầu mở rộng thềm lục địa của Việt Nam

Chiếu Điều 4 Phụ Đính 2 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, các quốc gia duyên hải có quyền đệ đơn tại Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa (Commission on the Limits of the Continental Shelf) để được hưởng quy chế thềm lục địa địa chất đến mức tối đa 350 hải lý, trong trường hợp nền lục địa của quốc gia duyên hải dài hơn thềm lục địa pháp lý (200 hải lý).

Thời hạn đệ đơn yêu cầu mở rộng thềm lục địa là 10 năm kể từ khi Công Ước có hiệu lực chấp hành (tháng 11-1994).

Qua năm 1995, nhân kỳ Đại Hội Khu Vực Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) họp tại Brunei, Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Bảo Vệ Dân Quyền đã gửi 7 vị nguyên thủ quốc gia thuộc tổ chức ASEAN một bản tường trình về vụ tranh chấp tại Hoàng Sa Trường Sa trên bình diện công pháp quốc tế. (Lúc này Việt Nam đã gia nhập ASEAN). Trong phần kết luận, Ủy Ban Luật Gia yêu cầu Khối ASEAN đổi danh xưng Biển Nam Hoa (South China Sea) thành Biển Đông Nam Á (Southeast Asia Sea). Đồng thời đề nghị Khối ASEAN triệu tập những cuộc đàm phán đa phương để giải quyết toàn bộ vấn đề tranh chấp tại Biển Đông Nam Á giữa các Quốc Gia hội viên của Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á..

Riêng đối với Việt Nam, Ủy Ban Luật Gia cũng đề nghị nhà cầm quyền triệu dụng các luật gia và chuyên gia trong các tổ chức hải dương quốc tế (như Viện Hải Dương Đông Tây tại Hawaii) để lập bản tường trình về những yếu tố đặc thù liên quan đến địa lý, địa hình và địa chất tại Hoàng Sa và Trường Sa theo các tiêu chuẩn hướng dẫn của Liên Hiệp Quốc. Mục đích để kiện toàn hồ sơ yêu cầu Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa chấp thuận cho Việt Nam được mở rộng thềm lục địa từ 200 hải lý cho đến mức 350 hải lý. Về thủ tục tố tụng Ủy Ban Luật Gia cũng lưu ý rằng thời hạn đệ đơn là 10 năm chiếu Điều 4 Phụ Đính 2 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Thời hạn này sẽ mãn vào tháng 11-2004.

Từ đó đến nay đã 14 năm, nhà cầm quyền Hà Nội vẫn im lìm bất động. Hơn nữa, năm 2000, Chính phủ Hà Nội còn ký một hiệp ước bất bình đẳng về Hợp Tác Nghề Cá với Trung Quốc. Trong hiệp ước này có điều khoản quy định rằng, khi dầu khí được phát hiện, hai bên sẽ khởi sự khai thác dầu khí chung tại thềm lục địa đồng thời với sự hợp tác đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế tại Vịnh Bắc Bộ.

Theo những tin tức mới đây, căn cứ vào thỉnh nguyện của một số quốc gia hội viên, Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc đã đồng ý triển hạn cho các quốc gia kết ước hay gia nhập Công Ước trước ngày 13-5-1999 (như Việt Nam) được có thời hạn 10 năm nghĩa là đến ngày 13-5-2009 để đệ đơn yêu cầu mở rộng thềm lục địa từ 200 hải lý đến 350 hải lý.

Quyết định này căn cứ vào hai sự kiện sau đây:

1. Mặc dầu Công Ước đã có hiệu lực chấp hành từ tháng 11-1994, vậy mà 3 năm sau, mãi tới tháng 5-1997, các ủy viên trong Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa mới được tuyển chọn.

2. Hơn nữa, mãi tới ngày 13-5-1999 Ủy Ban Phân Định mới soạn thảo và công bố Cương Lĩnh hướng dẫn các quốc gia hội viên về các tiêu chuẩn phải khai trình về mặt chuyên môn và về khoa học kỹ thuật.

Vì có sự chậm trễ 5 năm, Ủy Ban Phân Định đã đồng ý cho triển hạn thêm 5 năm (từ ngày 16-11-2004 đến ngày 13-5-2009) để các quốc gia hội viên đệ nạp hồ sơ.

Điều đáng lưu ý là đơn thỉnh nguyện có thể chưa viện dẫn đầy đủ các dữ kiện và yếu tố theo các tiêu chuẩn ghi trong Cương Lĩnh về Khoa Học Kỹ Thuật ngày 13-5-1999 của Ủy Ban Phân Định. Trong trường hợp này các quốc gia đệ đơn có thể dành quyền sẽ xuất trình thêm tài liệu về những yếu tố và dữ kiện bổ túc để kiện toàn hồ sơ.

Vì những lý do nêu trên, cũng như năm 1995, một lần nữa, Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Bảo Vệ Dân Quyền cảnh giác và khuyến cáo nhà cầm quyền Hà Nội đệ đơn thỉnh nguyện tại Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc trong thời hạn luật định, nghĩa là trước ngày 13-5-2009.

Mục đích để bảo vệ và tranh thủ tối đa chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại các thềm lục địa nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cùng đồng bào trong và ngoài nước, Ủy Ban Luật Gia sẽ quan tâm theo dõi thái độ, hành động và tinh thần trách nhiệm của nhà cầm quyền Hà Nội trong việc thi hành nhiệm vụ lịch sử này. Nếu còn ngoan cố hay bất lực, bất cứ vì lý do gì, Chính Phủ và Đảng Cộng Sản sẽ phải chịu tội trước Quốc Dân và Lịch Sử.

Làm tại Hải ngoại ngày 20-2-2009

T.M. Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Bảo Vệ Dân Quyền
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống



Những con kên kên ăn xác chết - Trần Thanh

Trần Thanh

Mùa hè sắp đến! Ðối với những người Việt sống nơi xứ lạnh, ai cũng mong cho đến mùa hè để được đi sinh hoạt ngoài trời, đi cắm trại, đi du lịch đó đây, hưởng những tia nắng ấm, sau nhiều ngày làm "con gấu mùa đông" trốn biệt trong nhà, không dám thò mặt ra ngoài đường! Mùa hè cũng là mùa mà những con kên kên rất "hồ hởi phấn khởi" vì đó là dịp rất thuận tiện để bọn chúng rỉa rói, ăn no nê những xác chết của những thương phế binh, tử sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Và mùa hè chính là mùa mà các tên đầu gấu việt cộng trong Bắc Bộ Phủ rất háo hức mong đợi, vì bọn chúng có thể kiếm được bạc triệu đô la một cách rất dễ dàng mà không hề tốn một giọt mồ hôi! Kiếm tiền bằng cách nào? Xin thưa, bằng cách thúc giục bầy kên kên Việt Tân ở hải ngoại tích cực rỉa rói những xác chết, hay nói một cách cụ thể hơn: - tổ chức những hoạt động "từ thiện" để gây quỹ giúp các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, gây quỹ để trùng tu nghĩa trang quân đội Biên Hòa ..v..v...

Thoạt mới nghe qua chúng ta thấy có vẻ nghịch lý: - tại sao bọn việt gian cộng sản lại thúc giục chúng ta tổ chức những buổi văn nghệ gây quỹ giúp các thương phế binh VNCH? Ai đời kẻ thù của chúng ta mà lại rất "biết ơn" những anh em thương phế binh còn đang mắc kẹt tại quê nhà! Nhưng đó chính là một sự thật rất phũ phàng!

Bởi vì gây quỹ, tiếng là để giúp các thương phế binh VNCH, nhưng thực chất là đem tiền đi nuôi béo bọn việt gian cộng sản và cũng là dịp để những tên lưu manh, lợi dụng danh nghĩa từ thiện ăn cắp tiền, làm giàu một cách phi pháp! Những nạn nhân ở Việt Nam nghèo vẫn hoàn nghèo, họ chỉ là những cái xác chết bị lợi dụng!

Những kẻ nào đã ăn trên xương máu của những thương phế binh quân lực Việt Nam Cộng Hòa?

Ðầu tiên phải kể là bọn đầu gấu việt cộng từ trung ương xuống dưới địa phương, đến những tên cán bộ tép riu, cắc ké ở phường khóm. Tất cả bọn chúng đều thẳng tay chém chặt, ăn cướp một cách công khai những món tiền từ thiện.

Tiếp theo là những tên việt kiều lưu manh, lợi dụng danh nghĩa "từ thiện" để ăn cắp, làm giàu bất hợp pháp trên xương máu của anh em thương phế binh quân lực VNCH.

Và cuối cùng, những gì còn sót lại, khi đến tay những anh thương phế binh thì hầu như chỉ là những mẩu xương, gân. Tất cả những phần béo bở đều đã bị bọn cướp, bọn lưu manh ăn cắp, đớp hết trọi rồi! Ðược chia phần xương và gân cũng còn ... phước. Ðôi khi các nạn nhân được chia ... Zê Rô phần trăm, đói vẫn hoàn đói, nghèo vẫn hoàn nghèo!

· TRUNG TÂM BĂNG NHẠC ASIA VÀ ÐÀI TRUYỀN HÌNH SBTN

Nhạc sĩ Trúc Hồ là một trong những nhân vật chủ chốt, điều hành hai trung tâm này. Cha của ông ta, nhạc sĩ Trúc Giang, đang làm việc "từ thiện" tại Việt Nam. Trong những năm vừa qua, cứ mỗi khi hè đến, trung tâm băng nhạc Asia lại rầm rộ tổ chức những buổi văn nghệ ngoài trời, quyên tiền để giúp các thương phế binh VNCH. Số khán giả tham gia lên đến hàng chục ngàn người, số tiền quyên được lên đến hàng triệu Mỹ kim.

Người Việt chúng ta vốn dễ dãi và rộng lượng, đa số ủng hộ từ vài chục đô đến vài trăm đô. Ðối với những nghệ sĩ tham gia giúp vui văn nghệ, nhiều người đã có những nghĩa cử rất cao đẹp. Nhiều người đã lặn lội từ những tiểu bang xa xôi, thậm chí bay từ các nước khác đến Cali, làm việc từ thiện mà không hề nhận bất cứ một thù lao nào. Sau khi làm nghĩa cử cao đẹp, thưởng thức văn nghệ xong thì ai về nhà nấy, ngày hôm sau lại tất bật lo đi cày, chẳng ai bận tâm đến việc số tiền mình đã đóng góp, không biết có đến tay các anh thương phế binh hay không? Tất cả chúng ta đều đã khoán trắng cho những kẻ khoác áo "từ thiện". Số tiền đóng góp đa số là tiền mặt, rất dễ bị ăn cắp. Thậm chí nếu có làm sổ sách "kế toán" cũng sẽ bị những tên ăn cắp gian lận rất dễ dàng.

Hàng triệu Mỹ kim đóng góp cho "từ thiện" đã không được công khai tài chánh, không được phổ biến rộng rãi trên truyền thông hải ngoại. Ðáng lẽ phải có một ủy ban được bầu ra, giám sát việc thu chi một cách chặt chẽ. Danh sách họ và tên của những thương phế binh VNCH đã nhận được tiền từ thiện là bao nhiêu người? Ðịa chỉ của họ ở đâu? Nhận tiền trong thời gian nào? Những người nào đã trao số tiền đó đến tay họ? Có hình chụp làm bằng chứng hay không? Có bản photo chữ ký họ đã nhận tiền hay không? Bọn đầu gấu việt gian cộng sản đã thâu "hụi chết" là bao nhiêu phần trăm?

Tất cả những điều công khai tài chánh đều đã không được thực hiện. Do đó, chúng ta có thể kết luận rằng hàng triệu đô la do những việt kiều ở hải ngoại đóng góp đều đã bị bọn việt gian cộng sản ăn cướp và bị những tên lưu manh,lợi dụng danh nghĩa từ thiện ăn cắp!

Chúng ta đi cày hộc gạch ở hải ngoại để đem mồ hôi, xương máu của mình đi nuôi béo kẻ thù và nuôi những thằng lưu manh ăn cắp hay sao? Tại sao chúng ta lại ngu quá lâu và quá đần độn, bị lợi dụng, móc túi bao nhiêu năm nay mà vẫn chưa sáng mắt? Chúng ta phải nhanh chóng thức tỉnh, tìm phương cách làm từ thiện bằng cách khác, dứt khoát đừng bao giờ để bọn chó đẻ bòn rút xương máu của chúng ta nữa. Phải ngăn chận những con kên kên đang ăn những xác chết của những thương phế binh VNCH!

· TRUNG TÂM BĂNG NHẠC ASIA VÀ ÐÀI TRUYỀN HÌNH SBTN CÓ CHỐNG CỘNG HAY KHÔNG?

Ðã đến lúc chúng ta phải nêu lên câu hỏi này. Xưa nay, nhiều người trong chúng ta vẫn thường cho rằng trung tâm băng nhạc Asia là "chống cộng", còn Thúy Nga Paris là đi bưng bô cho việt cộng! Thật ra cả hai thằng chó đẻ đều là tay sai của cộng sản! Thúy Nga Paris đã bị rớt mặt nạ cách đây hơn 10 năm, qua vụ băng Thúy Nga số 40, chủ đề về Mẹ. Khi bị thất vọng vì Thúy Nga, chúng ta đã dồn mọi hy vọng vào trung tâm Asia, coi trung tâm này như "tiền đồn chống cộng" tại hải ngoại. Những nhân vật như Trúc Hồ và Nam Lộc bỗng nhiên trở thành những ngôi sao sáng chói, những người hùng chống cộng! Những tờ báo công an của việt cộng ở trong nước thường đăng những bài viết "chửi" trung tâm Asia là "phản động"! Nếu chỉ căn cứ vào hiện tượng bề ngoài, chúng ta sẽ dễ bị nhầm lẫn, lừa bịp. Chính trị vốn dĩ phức tạp chớ không phải đơn giản như hai với hai là bốn. Ở bất cứ sòng bài nào cũng có những tên cò mồi cờ bạc, động đĩ thì có ma cô dắt mối và trong lãnh vực "từ thiện" cũng có những tên ma cô từ thiện dắt mối cho bầy kên kên ăn xác chết! Do đó, đến thời đểm năm 2009 này, chúng ta phải rút ra một kết luận:

- Một con đĩ đã công khai làm đĩ, công khai đứng đón khách ngoài đường ở ngã ba Chú Ía.
- Một con đĩ khác đi làm đĩ một cách kín đáo hơn, khéo léo đóng kịch cho nên nhiều người ngây thơ cứ tưởng nó là con nhà lành!

· CHỐNG CỘNG HAY ÐẦU HÀNG CỘNG SẢN?


Việc chống cộng vốn đa dạng, phức tạp nhưng tối thiểu phải thể hiện được hai yếu tố quan trọng sau đây:

1. Quyết tâm xóa bỏ chế độ cộng sản và đảng việt gian cộng sản
2. Nêu đúng tên, đúng tội, nêu đúng bản chất của kẻ thù, đó là: VIỆT GIAN CỘNG SẢN. Chống cộng mà run sợ, không dám dùng đúng chữ để tố cáo tội ác của bọn chúng thì chống làm gì? Phải chăng đó là hình thức đầu hàng cộng sản?

Hiện nay nhiều cá nhân và tổ chức vẫn dùng những nhóm chữ sau đây khi đề cập đến kẻ thù:

- Chính quyền Hà Nội
- Nhà cầm quyền Hà Nội
- Chính quyền Việt Nam/ nhà nước Việt Nam
- Cộng sản Việt Nam/ cộng sản Hà Nội

Và đa số không dám viết nguyên nhóm chữ mà chỉ viết tắt: CSVN!

Một thằng ăn cướp đã cướp mất nhà của chúng ta, giết hết vợ con của chúng ta mà chúng ta vẫn không dám gọi nó là ăn cướp, phải gọi tránh đi bằng cái tên khác, nghe hiền lành hơn, ví dụ như "ông giang hồ", thì chúng ta chỉ là những thằng hèn! Chúng ta chỉ là những kẻ ngụy tín, tự lừa dối mình. Ðó là chưa kể có nhiều tên lưu manh chính trị, khoác áo chống cộng nhưng thực chất là lấy dao đâm vào sau lưng người quốc gia, như bọn băng đảng Việt Tân đang làm hiện nay!

Chính danh không có thì không thể có chính nghĩa. Ðã không có chính nghĩa thì không thể nào tập hợp được toàn dân đứng dậy lật đổ chế độ cộng sản hung tàn, bạo ngược! Nội việc làm đơn giản nhất là thể hiện sự chính danh qua lời nói mà những kẻ "chống cộng" không dám nói thì chúng ta mong chờ gì họ dám hành động???

· VINH DANH QUÂN LỰC VNCH LÀ ÐÚNG NHƯNG CHƯA PHẢI LÀ YẾU TỐ QUYẾT ÐỊNH:

Vinh danh Quân lực VNCH là cần thiết để chúng ta tiếp tục hâm nóng, duy trì bầu nhiệt huyết chống cộng và truyền lại những kinh nghiệm cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, quan trọng hơn hết là phải nêu cho được bản chất và tội ác của kẻ thù cho toàn dân biết. Tất cả những tội ác của bọn chúng đã phạm liên tục hơn 60 năm nay phải được chúng ta liên tục tố cáo qua những phương tiện truyền thông. Một khi người dân trong và ngoài nước thấy rõ tội ác của bọn cướp, sự căm phẫn của họ sẽ bùng lên, sẽ là động lực để họ đứng dậy lật đổ chế độ cộng sản.

Việc tố cáo tội ác của cộng sản cũng ví như việc châm lửa vào thùng thuốc súng. Nếu chúng ta không châm lửa thì thùng thuốc súng sẽ mãi mãi nguội lạnh và 85 triệu dân sẽ tiếp tục mãi mãi phải làm nô lệ cho bọn giặc! Thùng thuốc súng chúng ta đã có, lửa chúng ta cũng đã có trong tay nhưng không dám hoặc không thể châm! Vì sao?

- Vì một số lớn các cơ quan truyền thông hải ngoại đã ăn xôi chùa ngọng miệng, bị bọn việt gian cộng sản mua chuộc. Họ chỉ dám vinh danh Quân lực VNCH mà không dám tố cáo tội ác của cộng sản, kêu gọi toàn dân đứng dậy lật đổ bọn cộng sản!

- Vì những kẻ đục nước béo cò, làm "nghề" từ thiện sợ bị mất job! Chính những kẻ này, những việt kiều lưu manh không bao giờ muốn cho chế độ cộng sản bị sụp đổ! Nếu chế độ cộng sản bị sụp đổ thì những kẻ làm việc từ thiện sẽ bị chết đói vì đa số bọn chúng đều là những tên lười biếng, bất tài, ăn bám xã hội!

- Những tên lưu manh chính trị đi làm tay sai, chó săn cho bọn việt gian cộng sản đã tích cực tìm cách cản phá, vô hiệu hóa công cuộc đấu tranh của chúng ta, lèo lái cuộc đấu tranh của chúng ta đi xuống hố. Ví dụ như bọn chúng đã phao tin:

* Việt Nam ngày càng đi sâu vào quỹ đạo của người Mỹ
* Người Mỹ sẽ giúp Việt Nam xuống cọp được an toàn, được hạ cánh an toàn
* Có phe thân Mỹ trong trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam và phe này đang tìm cách là .... đảo chánh, lật đổ phe thân Trung Cộng!

Những sự lừa bịp này đã gây cho chúng ta một ảo tưởng rằng chúng ta không cần đấu tranh nữa mà rốt cuộc vẫn chiến thắng. Chế độ Cộng Sản sắp sửa bị tiêu vong rồi! Ðảng Cộng Sản đã và đang trở thành "bạn" của chính quyền Mỹ (đi sâu vào quỹ đạo của Mỹ), mà bạn của Mỹ tức là bạn của Việt Nam Cộng Hòa. Kẻ thù đã trở thành "bạn" rồi thì chống đối làm gì nữa!!! Nếu cứ tiếp tục chống cộng sản thì có khác gì chống Mỹ, chống lại "ông thầy" của mình!!!

Chưa hết, bọn chó săn còn tung ra luận điệu: - bây giờ là lúc người quốc gia và cộng sản phải cùng hợp tác với nhau để chống giặc ngoại xâm Trung Cộng!

· CHÚNG TA HÃY NHÌN CHO KỸ TRUNG TÂM BĂNG NHẠC ASIA VÀ ÐÀI TRUYỀN HÌNH SBTN:

- Họ chỉ dám vinh danh quân lực VNCH mà không bao giờ dám tố cáo tội ác của bọn việt gian cộng sản. Việc làm "vinh danh" của họ chỉ là hình thức làm kiểng, tựa như bọn đối lập cuội đóng tuồng, hầu che đậy những màn đi đêm lén lút bắt tay với cộng sản.

Thỉnh thoảng họ nêu lên những hình ảnh "chống cộng" như vụ chiếc cầu sập ở Cần Thơ làm chết 50 công nhân hoặc vụ hòa thượng Thích Quảng Ðộ và linh mục Nguyễn Văn Lý bị cộng sản giam cầm; tuy nhiên, đây là những việc làm dư thừa vì ai ai cũng đều biết. Vụ cầu sập, báo chí của cộng sản trong nước đã nêu rất nhiều, đâu cần phải chờ đến trung tâm băng nhạc Asia đưa tin, ở hải ngoại mới biết. Còn vụ hòa thượng Quảng Ðộ và cha Lý thì truyền thông ở hải ngoại cũng đã đưa tin rất nhiều.

- Nếu cho rằng trung tâm băng nhạc Asia là "chống cộng" thì chúng ta có thấy người MC nào của trung tâm dám nói một câu nào "chống cộng" hay không, hay chỉ khom lưng, cúi đầu xưng hô với bọn giặc bằng những nhóm chữ rất lễ phép là "chính quyền Việt Nam, chính quyền Hà Nội, nhà nước Việt Nam"?

- Ðài truyền hình SBTN đã để cho tên đại ma đầu Bùi Tín cùng những tên tay sai cộng sản như Phan Nhật Nam, Trần Phong Vũ xuất hiện trên đài, kêu gọi người quốc gia hãy bao dung với những tên phản tỉnh cuội!

- Nhạc sĩ Trúc Hồ và MC Thùy Dương đã lên đài truyền hình SBTN kêu gọi người Việt tại hải ngoại làm việc "từ thiện" bằng cách ký những giấy bảo lãnh, nuôi những trẻ em mồ côi tại Việt Nam ăn học đến hết năm 18 tuổi! Ðây là hình thức kêu gọi chúng ta hãy đóng thuế cho cộng sản! Một khi đã ký giấy bảo lãnh tức là chúng ta tự nguyện cho phép bọn giặc rút từ trương mục ngân hàng của chúng ta mỗi tháng từ 50 đến vài trăm đô và rút liên tục từ 10 đến 15 năm!!!

Trước đây vì toàn dân ta dại dột, ngu dốt, nghe theo lời lừa bịp của tên Hồ tặc Hồ Chí Minh, hậu quả là mười triệu người đã toi mạng, 85 triệu người bị bắt làm nô lệ, cho tới bây giờ vẫn chưa thoát khỏi gông cùm nô lệ. Bây giờ lại xuất hiện thêm một "bác Hồ" mới, họ Trúc, cũng lưu manh và lừa bịp không khác gì tên Hồ tặc. Nghe theo lời xúi dại của "bác Hồ", chúng ta ký giấy bảo lãnh tức là tự ký bản án tử hình cho chính mình! Ngoài việc ngu dại đóng thuế cho bọn giặc, chúng ta đã tiết lộ hết tất cả những lý lịch cá nhân của chúng ta cho bọn chúng biết, bởi vì khi điền đơn bảo lãnh, chắc chắn chúng ta phải khai rõ họ tên, địa chỉ, ngày tháng năm sinh, nghề nghiệp ..v..v... Một khi bọn giặc đã nắm được lý lịch cá nhân của chúng ta, coi như là chúng đã nắm được linh hồn của chúng ta trong tay. Nguy hiểm hơn nữa là bọn chúng có thể dùng lý lịch của chúng ta để làm giả các giấy tờ như thẻ tín dụng Visa, thẻ Passport, thẻ quốc tịch ..v..v.. và những hậu quả chết người sẽ đến với chúng ta!

- Ðài truyền hình SBTN đã trình chiếu bộ phim phóng sự dài nhiều tập mang tên là "Hành trình xuyên Việt". Chúng ta hãy đặt câu hỏi vì sao cộng sản lại cho phép phóng viên của đài truyền hình SBTN được tự do đi lại trên khắp nước để làm phim phóng sự? Chắc chắn đây phải là một sự trao đổi có lợi cho cộng sản. Và chắc chúng ta cũng chưa quên, trước đây phóng viên của đài SBTN đã về tận Hà Nội quay cảnh lụt lội, chiếu cảnh những chiếc xe tăng lội nước chạy trên đường phố Hà Nội, rồi đưa tin là sắp sửa có đảo chánh ở trong nước, để người Việt ở hải ngoại hồi hộp chờ đợi, lơ là việc chống cộng!!!

Trong bộ phim phóng sự "Hành trình xuyên Việt", phần 2, có chiếu những đoạn thời sự về cảnh những người dân miền bắc di cư vào Nam năm 1954 và những lời bình luận về việc tại sao việc tổng tuyển cử để thống nhất hai miền Nam Bắc, dự trù tổ chức vào năm 1956, không được thi hành. Những lời bình luận này có lợi cho cộng sản hay cho phía quốc gia?

Mùa hè sắp đến. Trung tâm Asia và đài truyền hình SBTN đã rục rịch quảng cáo những buổi văn nghệ gây quỹ từ thiện giúp những thương phế binh VNCH. Qua những điều trình bày tóm tắt nêu trên, chúng tôi có thể khẳng định rằng hầu hết những kẻ làm việc "từ thiện" đều là những tên lừa bịp và ăn cắp. Và cũng chính những bọn này đã tìm mọi cách để vô hiệu hóa công cuộc đấu tranh của chúng ta bởi vì bọn chúng không bao giờ muốn cho chế độ cộng sản bị sụp đổ. Cộng đồng người Việt tại hải ngoại là cái mỏ đô la vô tận, là con bò sữa rất béo, không bòn rút xương tủy, hút máu hút mủ thì uổng lắm!

Riêng đối với nhạc sĩ Trúc Hồ, giám đốc đài truyền hình SBTN thì bộ mặt đi làm tay sai cho việt cộng của y ngày càng lộ rõ. Chúng ta cũng đừng quên, cha của y, nhạc sĩ Trúc Giang đang làm việc "từ thiện" tại Việt Nam. Trước đây "bác Hồ" đã sáng tác một số bài hát mang tính cách nhân bản và "đấu tranh", và nhờ có phương tiện truyền thông trong tay nên y đã nhanh chóng nổi tiếng. Ngày nay, lợi dụng sự nổi tiếng đó, y đã kêu gọi chúng ta đi đóng thuế, đi làm nô lệ cho cộng sản! Cô MC Thùy Dương cũng vậy. Sau một thời gian xuất hiện trên băng nhạc Asia, có được chút tiếng tăm, được thiện cảm của khán giả thì cô đã vội vàng đi theo "bác Hồ" để tìm đường cứu cái .... bao tử của mình!!! Chúng ta cần phải tẩy chay và phản đối những thành phần này. Không phải vì nể nang những thành tích văn nghệ của họ mà chúng ta xuôi theo những lời dụ dỗ, rủ rê, đưa chúng ta vào chỗ chết!

Biết bao nhiêu gia đình việt kiều, những đồng bào của chúng ta tại tiểu bang Louisiana nước Mỹ đã bị tan nát nhà cửa vì cơn bão Katrina, phải sống cảnh màn trời chiếu đất, tài sản dành dụm mấy chục năm nay bỗng nhiên biến mất. Nếu có làm việc từ thiện thì phải ưu tiên cho những người này! Và hiện nay rất nhiều người Việt trên đất Mỹ đang bị phá sản, mất nhà, mất việc, trở nên thành phần homeless vì nạn suy thoái kinh tế. Nếu có tổ chức lạc quyên, từ thiện thì phải ưu tiên giúp những người này trước. Cha mẹ, anh chị em, con cái của chúng ta ngay trong gia đình không lo cứu mà lại đi lo giúp trẻ mồ côi ở Việt Nam là vì sao? Phải chăng vì làm việc "từ thiện" cho bọn việt gian cộng sản thì mới dễ lươn lẹo và ăn cắp vì khó kiểm soát!?

Hiện nay, tại Việt Nam, thành phần dân nghèo sống đầu đường xó chợ lên đến hàng triệu người. Tệ nạn xã hội nhiều như cát ở sông Hằng. Tất cả những tai họa này đều do bọn giặc cướp việt gian cộng sản gây ra. Chúng đã gây ra tai họa thì chính bọn chúng phải chịu trách nhiệm giải quyết. Tại sao kẻ ăn ốc, người đi đổ vỏ? Nếu chúng ta ngu dại cứ nai lưng ra dọn dẹp những đống rác do bọn cướp gây ra thì bọn chúng sẽ tiếp tục sản xuất ra rác! Cái vòng lẩn quẩn sẽ không bao giờ chấm dứt!

· PHẦN ÐỀ NGHỊ:


Giúp đỡ những thương phế binh VNCH là điều rất nên làm nhưng chúng ta phải làm như thế nào để đạt được kết quả hữu hiệu và dứt khoát là chúng ta không tin tưởng bất cứ một tổ chức từ thiện nào đứng ra quyên góp. Giả sử có một tổ chức uy tín, đứng đắn nào đó hoạt động nhưng chỉ được một thời gian ngắn rồi sớm muộn gì cũng sẽ bị bọn lưu manh, ăn cắp lợi dụng! Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đề nghị một vài điểm:

- Chúng ta nên tổ chức làm việc từ thiện theo cá nhân hoặc nhóm tối đa là 10 người. Những người trong gia đình, họ hàng hoặc trong những bạn bè thân thiết có thể tổ chức thành một nhóm.

Cách trao tiền:

Ðích thân người trong nhóm về Việt Nam trao tiền tận tay các anh thương phế binh. Nếu không về Việt Nam được thì ủy nhiệm cho một người đáng tin cậy ở Việt Nam trao giùm.

Khỏi đóng thuế cho việt cộng:

Chúng ta có thể dàn xếp bằng cách, ví dụ:

- Bước một: người A trao tiền Mỹ kim cho người B tại Mỹ. (người B đại diện cho người C ở Việt Nam)
- Bước hai: người C ở Việt Nam trao tiền Việt cho các thương phế binh.

Hai bên liên lạc với nhau qua điện thoại hoặc e-mail. Bọn việt cộng chỉ còn có nước ngáp gió, vô phương thu thuế!

Ðây là cách an toàn và hữu hiệu, không sợ tiền bạc bị thất thoát, rơi vào túi bọn lưu manh, ăn cắp. Nhiều người làm thành nhiều nhóm và nhiều nhóm cùng hoạt động từ thiện thì sẽ có hiệu quả ở phạm vi rộng lớn. Bằng cách này, chúng ta sẽ loại bỏ được hai con cá mập rất lớn, ăn chận hết 99% số tiền cứu trợ, đó là bọn việt gian cộng sản và cái đám việt kiều lưu manh! Chúng tôi biết có những tên việt kiều lưu manh, ôm tiền từ thiện về Việt Nam, sau khi đóng hụi chết cho việt cộng, bọn chúng đã đi vào các động đĩ chơi bời đến mệt nghỉ, lỏng đầu gối, rồi lại tiếp tục về Mỹ đi quyên tiền! (Muốn biết các động đĩ nổi tiếng thì cứ tham khảo nơi tờ báo điện tử Take-2-Tango! ) Chẳng có ai kiểm tra sổ sách bọn này cả, mà nếu có kiểm tra thì bọn chúng cũng thừa sức lừa bịp, qua mặt! Những kẻ ngu đần ở Mỹ lại tiếp tục móc hầu bao ra cúng dường cho "từ thiện" để cho những tên chó đẻ vô lương tâm tha hồ làm giàu, trác táng!!!

Sở dĩ chế độ cộng sản còn tồn tại đến ngày hôm nay là vì chúng ta đã nuôi nó, chớ bọn chúng không phải nhờ tài giỏi hay thần thánh gì. Chỉ cần triệt nguồn tiền tài trợ từ cộng đồng người Việt tại hải ngoại và các phương tiện truyền thông chống cộng hoạt động hữu hiệu là đủ sức cho toàn dân trong nước vùng dậy. Số phận của chúng ta do chính chúng ta quyết định. Người Mỹ hay ông trời không thể cứu được chúng ta.

Trần Thanh
Ngày 21 tháng ba năm 2009



HUYẾT TÂM THƯ (UBTV ĐẢNG TTVN)


ĐẢNG THĂNG TIẾN VIỆT NAM
VIETNAM PROGRESSION PARTY (VNPP)
Việt Nam, ngày 24 tháng 03 năm 2009
    HUYẾT TÂM THƯ
Kính gửi:
    - Toàn Thể Người Việt Nam trong và ngoài nước
    - Ban điều hành lâm thời Khối 8406
    - Các Tổ chức - Tôn Giáo- Đảng phái phi cộng sản
    - Các Cơ quan Truyền thông - Báo chí trong - ngoài nước
Mỗi năm vào những ngày này chúng tôi không tránh khỏi bùi ngùi nhớ đến ngày OAN NGHIỆT của Vị lãnh đạo tinh thần kính mến LM Nguyễn Văn Lý và các anh em ĐẢNG TTVN đã đấu tranh Tự Do -Dân Chủ cho ĐỒNG BÀO VN mà bị nhà cầm quyền csVN kết án OAN SAI!

Mối hận này không những riêng các thành viên Khối 8406 hay của đảng TTVN mà của cả Đồng bào và các Dân tộc yêu chuộng TỰ DO - DÂN CHỦ .

"NHẤT NHẬT TẠI TÙ- THIÊN THU TẠI NGOẠI", nhưng Cha Lý đã không ngần ngại đau khổ mà Ngài còn sẵn sàng tranh đấu trực diện và rằng: "TỰ DO HAY LÀ CHẾT" !

Gần cả cuộc đời, Ngài sống vì ĐẠO và luôn nghĩ đến việc cứu ĐỜI.

Bao nhiêu lần bị tù đày chỉ vì hai chữ TỰ DO.

Cộng sản coi TỰ DO là kẻ thù, có TỰ DO thì không thể ĐỘC TÀI, không thể ĐÈ ĐẦU - CƯỠI CỔ người dân lương thiện.

Chủ trương chính sách của cs là: "NGU DÂN & BẦN CÙNG HÓA NHÂN DÂN " !

Nghèo đói lấy đâu ăn học mà không ngu dốt, và đã dốt nát thì chỉ làm tay sai - nô lệ truyền kiếp.

Cộng sản luôn luôn dùng chiêu bài: ĐÁNH ĐỔ GIAI CẤP BÓC LỘT (Tư bản), ĐẤU TRANH GIAI CẤP ĐỂ GIẢI PHÓNG DÂN NGHÈO, nhưng chính bọn chúng không những bóc lột mà còn ăn cướp của dân một cách trắng trợn.

Tuy thế chưa thỏa mãn còn tiếp tục gây tội lỗi tày trời: CẮT ĐẤT - GIAO BIỂN ĐÔNG cho Trung cộng & CHUẨN BỊ BÁN NƯỚC nếu Đồng bào cứ im lặng cúi đầu khuất phục!
    Hỡi tất cả những Người Việt nam !
    Nước Việt Nam còn, là còn Người Việt !
    Nếu nước VN mất , thì chúng ta là người gì ???
    CHÚNG TA MỖI NGƯỜI VN THÀ CHẾT CÒN HƠN CHỨ KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN LÀ NGƯỜI TÀU !!!
Mất nước đến nơi mà nhiều người vẫn chưa thức tỉnh, vẫn còn nhẹ dạ tin nghe những luận điệu tuyên truyền lừa gạt của csVN . Thậm chí một vài tổ chức do những tên BẮT CÁ HAI TAY cầm đầu vẫn còn hy vọng sẽ có Jelsin thứ II, rồi yên tâm chờ SUNG RỤNG .

Trước lễ Giáng sinh, công an nói với anh Nguyễn Bình Thành (Đảng TTVN) rằng anh sẽ được thả trong dịp Tết Nguyên Đán.

Mặt khác cũng chính công an csVN tung tin là trong tháng 3 năm 2009 này Cha Lý và LS LTCN sẽ được thả về.

Dĩ nhiên chúng tôi mừng khi nghe tin, nhưng chúng tôi không tin !

Chúng tôi không bao giờ quên câu nói bất hủ của Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu "ĐỪNG NGHE NHỮNG GÌ CS NÓI - MÀ HÃY NHÌN KỸ NHỮNG GÌ CS LÀM " !

Chúng ta đã thấy tất cả SỰ THẬT những gì csVN đã và đang làm, chúng ta không thể thơ ngây tin tưởng bất cứ một luận điệu nào của csVN, cũng như không ỷ lại trông chờ thế lực của ngoại bang, mà chính mỗi một người dân VN phải tự đứng lên giải phóng ÁP BỨC cho chính mình dưới sự lãnh đạo của các tổ chức đấu tranh TD-DC chân chính trong nước.

Cha Lý đã nhắn nhủ: "ĐẤU TRANH PHẢI QUYẾT LIỆT, ....."

Mới đây Cha Lý đã nhắn lời ra thăm tất cả các anh em, bạn bè thân thiết và cho biết: "NGÀI LÚC NÀO CŨNG KIÊN VỮNG , CŨNG ... DÙ Ở ĐÂU"!

Vì sự nghiệp đấu tranh chung cho TD-DC Việt Nam Uỷ Ban Thường Vụ Đảng TTVN đề nghị :

Thứ nhất:

- Yêu cầu các Vị điều hành lâm thời Khối 8406 (LM Phan Văn Lợi, Kỹ sư Đỗ nam Hải, Anh Trần Anh Kim, GS Nguyễn Chính Kết) không vì bất cứ lý do gì mà bỏ tên Cha Lý trong danh sách Ban Lãnh Đạo Khối 8406, bởi Cha Lý là Người sáng lập Khối 8406 không những người Việt mà cả Thế giới ngưỡng mộ và kính trọng.

Chúng tôi cảm thấy việc bỏ tên Cha Lý ra khỏi danh sách NHƯ MỘT HÀNH ĐỘNG KÉO CỜ ĐẦU HÀNG.

Trong khi Cha Lý vẫn sống, vẫn kiên vững đấu tranh dù ở đâu. Đó là chưa nói đến việc xúc phạm DANH DỰ của Cha Lý và UY TÍN của cả phong trào đấu tranh Tự D0-Dân Chủ cho VN.

Ngay sau khi Cha Lý bị bọn csVN kết án OAN SAI theo luật rừng, Quý Vị đã bỏ tên Cha Lý trong danh sách Lãnh đạo Khối 8406, chúng tôi đã viết thư 2 lần cho LM Phan Văn Lợi đề nghị ghi tên Cha Lý vào, nhưng LM Lợi không trả lời.

Vì vậy UBTV ĐẢNG TTVN yêu cầu các Vị Lãnh đạo lâm thời Khối 8406 nói trên ghi tên Cha Lý vào danh sách BAN LÃNH ĐẠO Khối 8406 như ban đầu.

Thứ hai:

Khối 8406 là một tập hợp QUẦN CHÚNG RỘNG RÃI bao gồm các Tổ chức, Đảng phái không cs và toàn dân, trong đó Đảng TTVN là một trong những thành viên nòng cốt. Chúng tôi luôn mong muốn góp sức cùng Quý Vị để đấu tranh Tự Do-Dân Chủ một cách hữu hiệu cho đồng bào VN.

Kinh nghiệm qua các cuộc Cách mạng Tự Do-Dân Chủ tại Đông Âu và Nam Tư (Yugoslavia), họ vận động đồng bào xuống đường với sự dẩn đầu của các nhà Lãnh đạo Dân chủ cho đến ngày thành công, họ bất chấp thời gian và khí hậu lạnh. Cuộc xuống đường của đồng bào Nam Tư kéo dài hai tháng trường dưới sự DẨN ĐẦU của Vị Lãnh tụ phong trào đấu tranh TD-DC và họ đã thành công.

Vẫn biết: "Viết 10 pho triết không khó bằng thực hiện một phương châm", nhưng không có nghĩa khó không làm được. Các nước Đông Âu và Nam Tư họ làm được thì dân tộc VN cũng làm được !

Vấn đề là các Vị lãnh đạo Khối 8406 hiện nay có sẵn sàng hy sinh và can đảm như lãnh tụ của các nước nói trên hay không ?

Đảng TTVN sẵn sàng chung sức cùng Quý Vị và đồng bào khi tình huống xảy ra, trong điều kiện bảo mật vì csVN lúc nào cũng tìm kiếm Thành viên Đảng TTVN để bắt.

CSVN đã và đang sẵn sàng bán nước cho Trung cộng.

CHÚNG TA THÀ CHẾT CHỨ KHÔNG LÀM NÔ LỆ, KHÔNG ĐỘI TRỜI CHUNG !!!

Kính mong tất cả các Tổ chức - Tôn Giáo - Đảng phái và Đồng bào trong - ngoài nước cùng đồng tâm - nhất trí đứng lên CỨU NGUY DÂN TỘC & BẢO VỆ TỔ QUỐC VN !

Trân trọng kính chào

UBTV ĐẢNG TTVN

Chủ tịch
- Nguyễn Phước

Phó Chủ tịch
- Võ Đình Chương



Friday, March 27, 2009

HUYỀN SỬ TIÊN RỒNG: MINH TRIẾT UYÊN NGUYÊN CỦA DÂN TỘC - Đông Lan

Đông Lan

Huyền Thoại là tự truyện của một dân tộc được kể lại trong cái lung linh sử mệnh của dân tộc. Sử mệnh của một dân tộc là con đường tiền nhân mặc khải qua những thăng trầm, của phút nội tỉnh, những phút trổi vượt về miền tâm linh siêu việt, của những ước vọng hừng hực LỬA SINH SINH không mất đi trong hành trình sinh tử.

Do đó, Huyền sử là Tiềm Thức Cộng Thông của Dân Tộc, nơi đó tiền nhân gửi gấm linh hồn vượt không gian và thời gian qua huyền thoại.

Thật thế, Huyền sử là di bảo thiêng liêng, là giá trị tinh thần của dân tộc do bao đời kết tinh, là linh hồn của lịch sử. Huyền sử là ý nghĩa của sử, là đạo lý của sử, là mạch sống đời đời của sử. Nếu sử ký là Sử Hàng Ngang, nhằm ghi lại sự kiện bám sát vào không gian và thời gian, thì Huyền Sử là Sử Hàng Dọc, vượt lên, bao trùm không thời, đi vào cội nguồn của hồn sử. Những biến cố của sử ký có tính cách cá thể, chỉ xẩy ra một lần, trong một không gian và thời gian nhất định. Vì thế, địa danh và niên đại phải được ghi chép rõ rệt và trở thành quan trọng. Nhưng trái lại, ý nghĩa của Huyền sử nhắm tới cái gì phổ quát, vượt lý trí phân minh, đi vào miền thâm sâu của tiềm thức, tiếp cận miền vi tế của tâm linh. Vì thế những địa danh, niên đại, cũng như các nhân vật phải được hiểu một cách co dãn, trừu tượng, vì Huyền sử là đạo lý của dân tộc được gửi gấm qua những mảnh vụn lịch sử. Do đó, nếu sử ký là Sử Vòng Ngoài của những biến cố Ngoại Diện, thì Huyền Sử là Sử Vòng Trong của Tâm Linh Dân Tộc.

Hay nói cách khác, nếu sử ký là câu chuyện của Tử Sinh, thì Huyền sử là cõi Sinh Sinh Bất Tuyệt.

Do đó, muốn tiếp cận Ánh Sáng Tâm Linh của Huyền Sử, con người cần phải thả lỏng các ràng buộc của quy luật sử ký, cần dọn tâm hồn cho trống rỗng, tâm không nghiêng lệch, ô nhiễm từ bất cứ ý niệm nào. Cùng nhau, chúng ta, những người con Việt muôn phương, mở lòng ra, lòng Hư Không, và bắt đầu cung kính mở trang đầu tiên Huyền Sử Việt. Cuộc hội thoại với Tâm Linh Dân Tộc chỉ cần một hành trang duy nhất là không một hành trang gì được mang theo – Đọc Huyền Sử với Tâm Vô Tư, Vô Nhiễm, Vô Cầu.

* ( Chính Văn) Truyện Hồng Bàng

Cháu ba đời Viêm Đế họ Thần Nông tên là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi, rồi đi tuần đến núi Ngũ Lĩnh, gặp được nàng con gái Vụ Tiên đem lòng yêu mến mới cưới về, sinh ra Lộc Tục, dung mạo đoan chính, thông minh túc thành; Đế Minh lấy làm lạ, cho nối ngôi vua; Lộc Tục cố nhường cho anh, Đế Minh lập Đế Nghi làm tự quận cai trị phương Bắc, phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương cai trị phương Nam, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ Quốc.

Kinh Dương Vương xuống thủy phủ, cưới con gái vua Động Đình là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm tức là Lạc Long Quân; Lạc Long Quân thay cha để trị nước, còn Kinh Dương Vương thì không biết đi đâu. Lạc Long Quân dậy dân ăn mặc, bắt đầu có trật tự về quân thần, tôn ty, có luân thường về phụ tử, phu phụ; hoặc có lúc đi về thủy phủ nhưng trăm họ vẫn được yên ổn. Dân lúc nào có việc cần thời kêu Lạc Long Quân: “Bố đi đằng nào, không đến mà cứu chúng ta”, thì Lạc Long Quân lập tức đến ngay, uy linh cảm ứng không ai có thể trắc lượng được.

Đế Nghi truyền ngôi cho Đế Lai cai trị phương Bắc; nhân khi thiên hạ vô sự, sực nhớ đến chuyện ông nội là Đế Minh nam tuần gặp được tiên nữ Đế Lai bèn khiến Xi Vưu tác chủ quốc sự mà nam tuần qua nước Xích Quỷ thấy Long Quân đã về thủy phủ, trong nước không vua, mới lưu ái thê la Âu Cơ cùng với bộ chúng thị thiếp ở lại hành tại. Đế Lai chu du khắp thiên hạ, trải xem tất cả hình thể, trông thấy kỳ hoa, dị thảo, trân cam dị thú, tê tượng, đồi mồi, kim ngân, châu ngọc, hồ tiêu, nhũ hương, trầm đàn, các loại sơn hào hải vị, không thứ nào là không có; khí hậu bốn mùa lại không nóng không lạnh, Đế Lai ái mộ quá, quên cả ngày về.

Nhân sẵn về nên mới đem nhau kêu rằng: “Bố ở phương nào nước nam khổ về sự phiền nhiễu, không yên ổn như xưa, đêm ngày mong đợi Long Quân, nên mau về cứu nhân dân”.

Lạc Long Quân bỗng nhiên lại về, thấy nàng Âu Cơ ở một mình dung mạo đẹp lạ lùng, yêu quá mới hóa ra một chàng trai nhi lang phong tú mỹ lệ, tả hữu thị tùng đông đảo, tiếng đàn ca vang đến hành tại. Âu Cơ trông thấy mà lòng cũng ưng theo; Long Quân bèn rước nàng về núi Long Trang. Đế Lai về không thấy Âu Cơ bèn sai quân thần tìm khắp thiên hạ. Long Quân có thần thuật, biến hiện trăm cách, nào là yêu tinh quỷ mị, nào là long xà hổ tượng, kẻ đi tìm úy cụ, không dám lục đảo tận cùng. Đế Lai trở về Bắc lại truyền ngôi cho Đế Du Võng. Du Võng truyền lại cho Xi Vưu cùng với Hoàng Đế đánh nhau ở Bản Truyền và Trác Lộc không hơn nên tử trận. Họ Thần Nông biến mất.Âu Cơ ở với Lạc Long Quân, sinh ra một bọc trứng, cho là điềm không hay nên bỏ ra ngoài đồng nội; hơn bảy ngày, trong bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng là một con trai, bà đem về nuôi nấng, không phải cho ăn, cho bú mà tự nhiên trường đại, trí dũng song toàn, ai cũng uy phục, bảo nhau đó là những anh em phi thường.

Long Quân ở lâu dưới Thủy Phủ; mẹ con ở một mình, nhớ về Bắc quốc liền đi lên biên cảnh; Hoàng Đế nghe tin lấy làm sợ mới phân binh ngày đêm trấn ngự quan tái; mẹ con không về Bắc được, đêm ngày gọi Long Quân “Bố ở phương nào làm cho mẹ con ta thương nhớ!” Long Quân hốt nhiên lại đến, gặp mẹ con ở Tương Dã. Âu Cơ nói:

-Thiếp vốn người Bắc, cùng ở một nơi với quân, sinh được một trăm trai mà không có gì cúc dưỡng, xin cùng theo nhau chớ nên xa bỏ, khiến cho ta là người không chồng không vợ, một mình vò võ.Lạc Long Quân bảo:

-Ta là loài rồng, sinh trưởng ở thủy tộc; nàng là giống Tiên, người ở trên đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm dương hợp lại mà có con, nhưng phương viên bất đồng, thủy hỏa tương khắc, khó mà ở cùng nhau trường cửu. Bây giờ phải ly biệt, ta đem năm mươi trai về thủy phủ phân trị các xứ, năm mươi trai theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước nhưng có việc gì thì cùng nghe, không được bỏ nhau.

Trăm trai đều nghe mệnh, rồi mới từ giã ra đi. Âu Cơ cùng với năm mươi người con trai ở tại Phong Châu (bây giờ là huyện Bạch Hạc), tự suy tôn người hùng trưởng lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, quốc hiệu là Văn Lang; về bờ cõi của nước thì Đông giáp Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc giáp Động Đình Hồ, Nam đến nước Hồ Tồn (bây giờ là nước Chiêm Thành), chia trong nuớc làm mười lăm bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Vũ Định, Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Quế Lâm, Tượng Quận, sai các em phân trị, đặt em thứ là tướng võ, tướng văn; tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng; con trai vua gọi là Quan Lang, con gái gọi là Mỵ Nương, quan Hữu Ty gọi là Bố Chính, thân bộc nô lệ gọi là nô tỳ, xưng thần là khởi, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo, thay đời truyền cho nhau đều hiệu là Hùng Vương không đổi.

Dân ở rừng núi xuống sông ngòi đánh cá, thường bị giao long làm hại nên bạch với vua. Vua bảo rằng:

- Ở núi là loài rồng cùng với thủy tộc có khác, bọn chúng ưa đồng mà ghét dị cho nên mới xâm hại.
Bèn khiến lấy mực châm hình trạng thủy quái ở thân thể, từ đó tránh được nạn giao long cắn hại; cái tục văn thân của Bách Việt thực khởi thủy từ đấy.

Ban đầu quốc dân ăn mặc chưa đủ, phải lấy vỏ cây làm áo mặc, dệt cỏ ống làm chiếu nằm; lấy gạo cất làm rượu, lấy cây quang lang, cây soa đồng làm bánh; lấy cầm thú, cá tôm làm nước mắm, lấy rễ gừng làm muối; lấy dao cầy, lấy nước cấy đất trồng gạo nếp, lấy ống tre thổi cơm, lấy cây làm nhà để tránh nạn hổ lang; cắt ngắn đầu tóc để tiện việc vào rừng núi, con đẻ ra lót lá chuối cho nằm; nhà có người chết thì giã cối gạo cho hàng xóm nghe mà chạy đến cứu giúp; trai gái cưới nhau trước hết lấy muối làm lễ hỏi, rồi sau mới giết trâu để làm lễ thành hôn, đem cơm nếp vào trong phòng cùng ăn với nhau cho hết, rồi sau mới tương thông; lúc bấy giờ chưa có trầu cau nên phải thế.

Bách Nam là thủy tổ của Bách Việt vậy.

* Ý Nghĩa

Qua Huyền Sử Hồng Bàng, dân tộc ta có truyền thuyết về nguồn gốc Người Việt là Con Rồng Cháu Tiên.

Như đã trình bầy ở trên, huyền thoại dân tộc là lời gửi gấm sâu xa về ý nghĩa nhiều hơn sự kiện. Tiên và Rồng là hai biểu tượng chỉ Hai Linh Lực của cuộc sống. Hai sức sống ngược chiều nhau như Tiên và Rồng trong huyền thoại, ví von như Tiên ở trên núi, Rồng gốc dưới nước. Hai sức đối nghịch không giống nhau được, như Hữu -Vô, Tán- Tụ, Tử- Sinh, Tâm-Vật, Lý-Tình v.v…Sự mâu thuẫn phải gây ra ly biệt, cho nên sự chia tay của Lạc Long Quân và Âu Cơ là sự chia tay tất yếu của lý trí khi nhìn ở sự cách ly của vạn hữu. Vì, Lý Trí là Phân Biệt.

Thật thế, nếu ta thử ngắm nhìn ngoại giới với giác quan thông thường ta sẽ thấy vạn vật rõ ràng phân biệt với hai khuynh hướng cực kỳ khác biệt: Thế giới cụ thể này quả thực là có; có xác thân với bao là nhu cầu cần thỏa mãn, có cảm xúc mừng giận buồn vui với tất cả chấn động của thân tâm; có mùa trăng hạ huyền, có hương táo nồng nàn…Nhưng rồi tất cả những đọng ngừng tưởng chừng như có thật ấy rồi cũng trôi qua. Không níu giữ được mãi, nên con người mới vỡ lẽ ra cái hư vô đã ẩn tàng nơi sự vật , nơi kết tụ mong manh đã ngầm chứa sự biệt ly, trong sự sinh tồn đã có lưỡi hái huỷ diệt. Ý thức về hai sức mâu thuẫn trong bản thể vạn vật làm con người - dù mặc nhiên hay minh nhiên - xác nhận bản tính cho nó nơi chọn lựa cách thái sinh hoạt: Nếu nhận rằng bản chất đời sống là những gì hữu hạn, cụ thể, thoả mãn những giá trị mà giác quan có thể kiểm nhận được, người ta đi theo khuynh hướng duy vật hữu vi một cách tích cực. Ngược lại, con người cũng có thể chọn lựa thái độ tích cực với vô vi. Hoặc một chọn lựa dung hợp, như An Vi chẳng hạn. Nghĩa tích cực ở đây có nghĩa là coi trọng, nghiêng về một giá trị này và coi nhẹ giá trị khác, là đặt nổi yếu tố đối kháng và chọn lựa dứt khoát.

Sự việc Lạc Long Quân đề cập với Âu Cơ về các sự khác biệt, nào là: Thủy hỏa tương khắc, phương viên bất đồng chính là ý nghĩa của cái nhìn của Lý trí trên hiện tượng vạn vật. Lý trí là một khả năng hữu hiệu của con người trên bứơc đường phân tán. Nó có tính sắc bén của một con dao nên khi xử dụng lý trí trên bất cứ sự vật, sự việc gì, việc đầu tiên của lý trí là chia cắt, chẻ nhỏ, cô lập sự vật, sự việc ấy lại, nên thấy nước là nước, lửa là lửa, làm sao không bất đồng. Chỉ đặt nổi sự khác biệt, là đặt nặng đối kháng, tất phải chia lìa.

Trong đời sống, chúng ta đã biết bao lần để cho lý trí làm chủ các quyết định, chỉ nhìn thấy sự việc một chiều. Hoặc chọn cái lợi thì phải bỏ nghĩa, hoặc chọn ích kỷ thì phải dứt tình người, hoặc chọn sắc đẹp thì phải quên đi phần đức hạnh, hoặc chọn danh vọng thì phải hy sinh chính nghĩa, hoặc chọn tâm bỏ vật, chọn vô bỏ hữu… Như thế, có nghĩa là ta đã đi vào cái vấn nạn của câu chuyện mở đầu huyền sử: Câu chuyện của Lý Trí, câu chuyện của Phân Biệt, câu chuyện của sự Chia Ly, và dĩ nhiên là câu chuyện của sự Bất An, có nước mắt, hoạn nạn, khổ đau.
Nhưng câu chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ không dừng lại ở đây.

Quan trọng nhất là đoạn Giải Kết cái mâu thuẫn của đời sống phân chia bởi lý trí. Minh Triết Việt cho sự việc Âu Cơ và Lạc Long Quân cùng đồng ý với nhau, nếu có việc cần vẫn phải gặp nhau trên Cánh Ðồng Tương, và nghe lời nhau, không được bỏ nhau, lại là một Hóa giải mâu thuẫn từ nền tảng của Tâm Vô Phân Biệt. Chữ Tình được kết thúc nơi đây thay cho Lý phải là từ giác ngộ Tâm, vì nơi đáy nội tâm sâu xa thăm thẳm ấy mới dung chứa được mọi sự khác biệt, mới nhìn thấy được cái phân chia của lý trí là giả tạo, hẹp hòi, thiển cận. Trầm tư, tâm tư, thả lỏng ý thức bén nhậy đi, con người mới bắt được cái Hư Không, mới trực nhận được Hư Không ấy mới là Lẽ Thật, mới không chỉ thấy đời chỉ là phân ly, dị biệt của từng vạn vật, mới Hội Tụ về Nhất Thể, mới tìm được suối nguồn Bình An, Hạnh Phúc miên viễn giữa lòng đời.

Trong ý nghĩa đó, Huyền thoại Tiên Rồng đã muốn nói một sự Tương Quan giữa hai đối nghịch đều phải Kết Hợp làm một ở đích điểm của mâu thuẫn.

Tiên Rồng là nguồn gốc của người Việt, hay nói chính xác hơn, Tiên Rồng là Bản Thể của vũ trụ, vạn vật và con người muôn nơi muôn thuở. Thật thế, chúng ta thử quan sát và chiêm nghiệm mọi lẽ vận hành trong tự nhiên hay mỗi sinh hoạt của con người đều phản ánh nguyên lý hòa hợp trong mâu thuẫn, tương quan trong đối lập. Vạn sự vạn vật tự bản thể đều có rồi không, không rồi lại có. Nhưng làm sao ta biết được là Thực Tại là có hay không. Vạn vật nương nhau tồn tại và phân định danh phận cho nhau xuất lộ nơi từng cặp mâu thuẫn tịnh hành: Nam-Nữ, Thiện-Ác, Tiểu-Đại, Động-Tịnh, Ngày-Đêm…Trong sự tương đối ấy, mọi sự mâu thuẫn đều là điều kiện của nhau. Có xác định người nam thì mới có tiêu chuẩn y cứ mà cho rằng người kia là nữ. Vì cho rằng có điều gọi là thiện thì mới gọi điều ngược lại là ác. Có vật cho là nhỏ thì mới có vật lớn. Không có biến động thì làm sao có ý thức về thường tịnh. Không có ánh sáng ban ngày thì làm sao có bóng tối để gọi là đêm…Cho nên, chính trong mâu thuẫn, vạn vật tự xác định cái danh và phận của nhau, tự giúp nhau tồn tại, tự sinh ra nhau, và cũng sẽ tự diệt với nhau. Bản chất ấy gọi là mối tương quan nền tảng. Nếu Chân Lý là Sự Thật, thì Mâu Thuẫn là Chân Lý, Tương Quan Mâu Thuẫn là Chân Lý Tối Cao, Kết Hợp Mâu Thuẫn là Chân Lý Nền Tảng. Khi Kết Giải Mâu Thuẫn cho Tiên và Rồng không được bỏ nhau, vẫn gặp nhau ở Cánh Đồng Tương, có nghĩa là Huyền Sử Việt đã xác tín nhận thức về Chân Lý Toàn Diện ấy. Chân lý là nơi lưu thông những bế tắc. Chân lý là sự tương quan giữa hai chiều đối nghịch. Chân lý là nơi giao hòa của mâu thuẫn. Tiên tổ truyền lại bài học về Bản Tính của vạn vật tiêu biểu trên cánh đồng Tương, nơi gặp gỡ của hai lực đối nghịch Tiên Rồng. Cánh đồng Tương cũng chính làCánh đồng Tâm.

Như thế, ta có thể gọi Rồng Tiên là Âm Dương, Sắc Không cũng cùng một ý nghĩa như vậy. Rồng Tiên, Âm Dương , Sắc Không chính là Bản Thể Mâu Thuẫn bất Khả Phân Ly qua ý nghĩa của Mùa Tiên Rồng Hội Ngộ nơi Tương Dã trong Huyền Sử Việt.

Ngày nay khoa học minh chứng trong điện, cũng có hai dòng điện tiêu, tích. Phân tích một nguyên tử cho biết đó chỉ là sự cấu tạo của âm điện tử và dương điện tử. Với thuyết tương đối của Einstein thì hai thực thể cơ bản làm nên mọi hiện tượng vạn vật là Thời gian và Không gian không phải là hai thực thể độc lập không có chi liên hệ. Mà không gian và thời gian tương quan, liên kết, có thể nói vũ trụ này chỉ là một khối Không-Thời-Liên. Trong lãnh vực y khoa, cơ thể luôn sinh ra chất đề kháng với các chất có hại cho nó (bệnh chỉ là sự bất quân giữa các liều lượng của chất thuận và nghịch). Hệ thống điện toán ngày nay chỉ dựa trên sự áp dụng của hai tình trạng 0 và 1.

Như vậy theo kiểu nói của ngôn ngữ nào, biểu tượng trong huyền sử, mạch lạc trong triết lý, hay cụ thể trong khoa học, cũng đi đến những ý nghĩa như nhau về bản thể của vạn vật, và cũng là bản chất của con người: HÒA điệu giữa hai đối nghịch, Một mà Hai, Hai mà Một, Mâu Thuẫn nhưng không hủy diệt, Tương khắc Tương sinh, Sắc Sắc Không Không.

Trên chiều hướng đó, Huyền Sử Con Rồng Cháu Tiên được hiểu như hai cột trụ chống đỡ khung Tâm Thức con người của Minh Triết Việt. Khi Rồng Tiên còn chia cách, thì Rồng có thể biểu hiệu cho bản chất hướng ngoại, phân chia, suy luận, lý trí, ý thức, hiển nhiên như Tâm còn ở trong chốn đầm lầy tù hãm có tính chất vật thể giới hạn, tức Rồng mới ở giai đoạn khởi đầu của tiến trình Cá thể hóa của cõi Hiện tượng, còn nặng phần tiểu tâm, tiểu trí của cái “ta” nhỏ bé ở đợt hiện hình, ngoại diện. Còn Tiên có thể biểu hiệu cho bản chất hướng nội, tổng quát, trực giác, tâm tư, tiềm thức, nhưng Tâm vẫn còn ở trong trạng thái mông lung, hàm hồ, đồng nhất với cõi Vô thức.

Muốn thoát khỏi “gọng kềm” nhị nguyên đối kháng nêu trên, là tình cảnh phải “chọn một bỏ một”, hoặc một bên Ý Thức phân ly, tính toán sắc cạnh, hoặc bên kia, Tiềm Thức hàm hồ, âm u, tăm tối, như phải chọn hoặc Lý hoặc Tình, một vấn nạn khó khăn, mà muốn giải quyết, Hành giả phải tạo điều kiện cho Rồng Tiên Hội Ngộ. Được như vậy thì Rồng mới vùng vẫy, uốn khúc được để trở thành Rồng Thiêng, vì Rồng không còn biểu hiệu cho lý trí của ý thức cá nhân hữu hạn nữa, mà nhờ tiếp cận với Tiên, tức nội dung của Tiềm Thức thâm sâu nên Rồng đã trở thành Biểu Tượng của Ý Thức Sáng Láng Về Toàn Thể Thực Tại mang tính Vô Biên. Còn Tiên dưới ánh sáng của Ý Thức Toàn Diện của Rồng, đã vượt qua được trạng thái “vô phân biệt” Nguyên thủy của trạm Quỳnh Hư của cõi Tiềm Thức mông lung để bước vào điện GIAO QUANG của miền TÂM LINH SIÊU TUYỆT.

Rồng Phải Hội Ngộ cùng Tiên trong Ý Nghĩa con người với cái “ta” Ngoại Diện thuộc về Lý Trí Hiện Tượng có khuynh hướng liên hợp với cái “TA” uyên áo của Nội Tâm sâu thẳm. Rồng không còn là Rồng nữa với xác thân hữu hạn, mà đã “Siêu Việt” để trở thành Rồng Thiêng khi tiếp cận Giấc Mơ Tiên. Cũng tương tự, Tiên cũng rộn ràng đam mê nhiệt đới, cũng không thể khước từ trái Táo địa đàng. Tâm Thức Rồng Tiên là Tâm Thức Toàn Diện của Cơ Cấu Uyên Nguyên. Cá nhân chỉ Trọn Vẹn Hóa trong Tương Quan, Thống Nhất với Toàn Diện Tính của Bản Thể Rồng Tiên. Trong tất cả những đa đoan của đời sống chẳng qua chỉ là một trường thử nghiệm của khuynh hướng tìm về chính Mình, Bản Tính Liên Hợp, có nước mắt của chia xa và niềm hân hoan hạnh ngộ. Nói một cách khác, Chân Lý Rồng Tiên ẩn tàng nơi Tương Dã chính là Lời Hẹn của Tình Yêu giữa Đạo với Đời. Cho nên Đạo Mới Không Xa Đời.

Huyền Sử Tiên Rồng còn gửi lại ý nghĩa thêm nữa trong việc Mẹ Âu Cơ sinh được 100 trứng trong một bọc, sau này 50 con ở lại với mẹ và 50 con theo cha xuống biển. Bọc đây phải là Bọc Tâm Linh . Bọc Tâm Linh nên ôm ấp chân lý tròn đầy, chân lý kết hợp, hòa tan mọi mâu thuẫn của thế giới hiện tượng phân biệt, Chân lý Hòa Hợp, bất khả phân ly của Đạo Thể Viên Dung. Một trăm ở đây cũng là biểu tượng cho sự toàn vẹn của mỗi khả thể, 100 là cái toàn thể, toàn thiện của chân lý. Chân lý không để phần tử nào phải lẻ loi cô độc. Chân lý là tròn đầy. Chân lý như là tổng số 100.

Đi vào thể dụng của chân lý, Tiên Rồng với bọc trăm trứng giúp cho người Việt cảm thấy gần gũi nhau hơn trong ý nghĩa đều là cùng một bụng mẹ Âu Cơ, cùng phải thân yêu, đùm bọc lẫn nhau, kết quả là ta có chữ đồng bào (cùng một bọc) để gọi nhau. Và, gọi người cai quản sinh hoạt xã hội bằng “bố”, một từ mà sau này người Việt dùng để gọi cha ruột thịt của mình. Một hình ảnh thân yêu và gần gũi giữa người một nước coi nhau là con một bọc của mẹ, dân gọi vua âu yếm và tin tưởng như cha, ta thấy một dân tộc có trình độ văn hóa cao siêu và nhân bản đã biểu hiện qua Huyền sử Tiên Rồng một cách thơ mộng mà thiết thực như thế là cùng! Còn có một nền nhân bản nào cao siêu hơn?

Chúng ta hãy tìm hiểu các nền văn minh trên thế giới. Tây phương khởi nguồn từ văn minh Hy Lạp, mà theo đó, con người là con cháu của các thần thánh hung dữ và độc ác, đầy đủ thói hư tật xấu của trần gian. Con người vì vậy rất sợ hãi sự thịnh nộ và trừng phạt của các thần, nên giới thống trị dựa vào sự tin tưởng ấy để đưa đến một xã hội phi nhân bản, phân chia giai cấp, điển hình là chế độ nô lệ. Tổ sư triết học Tây phương là Socrate, Platon, Aristote đã chấp nhận và bênh vực cho chế độ nô lệ. Rồi sau đó kỹ thuật tiến dần thì chế độ nô lệ bãi bỏ, chứ không do một lý tưởng cao đẹp nhân chủ bình đẳng nào hô hào bãi bỏ. Ấn Độ cũng không hơn gì. Niềm tin vào thần thánh khiến sự phân chia giai cấp vì lý do sanh bởi chân tay của thần thánh thì phải làm nô bộc cho giai cấp sanh từ đầu của thần thánh, rốt cuộc đại đa số dân chúng làm nô bộc cho một thiểu số tư tế và quý tộc. Ta thử xem bảng thống kê về sự bãi bỏ nô lệ, mới chỉ xẩy ra chưa bao lâu: Hoa Kỳ bãi bỏ nô lệ năm 1808, Anh 1833, Pháp 1845, Bồ Đào Nha 1856.

Trở lại Ý Nghĩa Huyền Sử trên, Tiên Rồng còn mãi mãi ly biệt, khi đời còn theo quan niệm chia cắt Thực Tại Toàn Diện bằng cái nhìn của Lý Trí, như những thuyết Duy vật, Duy tâm, Duy Một Chiều Kích. Tiên Rồng chỉ được Hội Ngộ khi con người nhận thức Chân Lý Hai Chiều Toàn Diện của cuộc Nhân Sinh. Hay nói cách khác, Huyền Sử Tiên Rồng đã đưa ra 3 mệnh đề : Chính Đề là Hiện Tượng Mâu Thuẫn, Phản Đề là Lý Trí Phân Ly, Tổng Đề là Tâm Linh Vô Phân Biệt, qua sự việc Tiên Rồng chia tay rồi hội ngộ nơi Cánh Đồng Tương .

Tóm lại, qua Huyền sử Con Rồng Cháu Tiên của Việt Đạo, bài học đơn giản mà ta có thể nhận ra ngay là: “Ngoài thì là Lý, nhưng trong là Tình”. Sâu xa hơn nữa, đây là một Biện Chứng Tâm Linh Tổng Hợp Chân Thực Hiện Tượng và Bản Chất của nền MINH TRIẾT UYÊN NGUYÊN của Dân Tộc.

(Trích trong Yêu Mến An Vi, cùng tác giả)


Đông Lan