Sunday, August 1, 2010

Tinh thần Nguyễn Ngọc Huy để lại cho thế hệ trẻ - Lê Đình Anh

Lê Đình Anh

Trước năm 1975 tôi không được may mắn là học trò của GS và do không có điều kiện nên tôi không biết gì về giáo sư Nguyễn Ngọc Huy. Tôi chỉ thực sự biết đến giáo sư và tìm hiểu về ông khi quen biết với ông cựu trung tá Trần Văn Quản qua Liên Minh Dân Chủ VN do GS thành lập và có dịp tiếp xúc với GS trong chuyến ông đến thăm Úc Châu cuối thập niên 80 trước khi ông qua đời một thời gian ngắn.

Hình ảnh gày gò, ốm yếu của GS khi nói chuyện với sinh viên VN về đề tài Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam tại trường đại học RMIT luôn in đậm trong tôi mãi đến bây giờ mặc dù GS đã trở về cát bụi 20 năm rồi.

Nhân ngày giỗ thứ 20 của cố GS tôi xin mạn phép chia sẻ với quý độc giả về đề tài:
    “Tinh thần Nguyễn Ngọc Huy để lại cho thế hệ trẻ”.

    “Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”.
Vậy GS Nguyễn Ngọc Huy để lại gì cho hậu thế, tuổi trẻ Việt Nam học được gì về tinh thần Nguyễn Ngọc Huy?

Khi nhắc đến Mẹ Teresa người ta nghĩ ngay đến một con người đầy lòng vị tha, tinh thần bác ái vô bờ bến. Nói đến thánh Mohandas Gandhi của Ấn Độ người ta học được ở ông tinh thần đấu tranh bất bạo động. Thế giới biết đến cựu tổng thống Nam Phi Nelson Mandela vì người ta cảm phục ông về tấm lòng bao dung, về tinh thần yêu nước, thương nòi vượt lên khỏi mọi sân si, thù hận thường tình của con người.

Khi nhìn lại lịch sử cận đại Việt Nam, chúng ta nhớ đến nhà chí sĩ Sào Nam Phan Bội Châu với phong trào Đông du và học thuyết Duy Dân, anh hùng Nguyễn Thái Học qua câu nói: “Không thành công cũng thành nhân”, nhà cách mạng Nguyễn Hữu Thanh tức Thái Dịch Lý Đông A qua tư tưởng “nuôi thân sinh nô tài, nuôi trí sinh nhân tài, nuôi tâm sinh thiên tài”

Lời nhắn nhủ của GS Nguyễn Ngọc Huy để lại cho thế hệ trẻ là sống phải có lý tưởng, phải biết nhận lấy trách nhiệm đối với đất nước, không khuất phục trước quyền uy, có tinh thần học hỏi, cầu tiến hầu mang sở học của mình ra đóng góp cho quốc gia, dân tộc, tự trang bị cho mình một hùng tâm, một tinh thần yêu nước thương nòi, luôn tranh đấu cho lý tưởng quốc gia.

Ta hãy nghe ông khẳng định một hướng đi cho đời mình và gởi một thông điệp đến giới trẻ:
    “Những người sống là những người biết sống;
    Là những người không chịu đứng khoanh tay
    Phó đời mình cho cuộc thế vần xoay;
    Là những người không để ngày mình trống,
    Không để thân mình dạt theo làn sóng
    Trôi chập chờn như những bóng trong đêm,
    Không cam tâm nhắm mắt chẳng trông tìm
    Ðể mãn kiếp đóng vai tuồng thụ động.
Những người sống là những người dám sống:
    Là những người không biết sợ gian nguy,
    Không cúi đầu khuất phục trước quyền uy,
    Không vì cớ khó khăn mà trở bước,
    Mà nép mình nằm trong vòng bó buộc
    Của một cuộc đời chật hẹp nhỏ nhen;
    Là những người không chịu sống ươn hèn,
    Sống thừa thãi, qua ngày, không triển vọng.
Những người sống là những người dám sống:
    Là những người luôn dũng cảm hiên ngang
    Đương đầu cùng những trở lực chắn ngang;
    Là những người không hề màng vất vả,
    Nhắm mục đích thiêng liêng và cao cả
    Tiến theo đường đã định mãi không thôi,
    Lúc hết hơi mới biết đến mạng Trời
    Và nhắm mắt mới đành thôi hoạt động.
Những người sống là những người quyết sống:
    Là những người nhất định ở tiền khu,
    Lãnh vai tuồng vén ngút, quét mây mù
    Và phá lối mở đường cho cả nước,
    Ðể tiếp tục công nghiệp người lớp trước,
    Ðể bảo toàn đời sống kẻ sinh sau;
    Là những người khinh khổ cực đớn đau
    Dám liều mạng hy sinh cho nòi giống”
Ông sáng tác bài thơ: “Quyết Sống” với bút hiệu Đằng Phương trong tập thơ Hồn Việt vừa trích dẫn trên khi còn là một thanh niên rất trẻ, nhưng cuộc đời của GS đã chứng minh ông sống và hành động theo những lý tưởng mà ông theo đuổi cho đến khi nhắm mắt xuôi tay chứ không phải chỉ nói suông.Ta học được ở ông cái tinh thần “tri hành hợp nhất”, thế hệ trẻ hấp thụ được ở ông cái tinh thần yêu nước dạt dào, bầu nhiệt huyết hăng say dấn thân cho lý tưởng quốc gia, dân tộc.

Giáo sư cũng nhắc nhở thế hệ trẻ phải có trách nhiệm với đất nước, với sự tồn vong của dân tộc và đề cao vai trò của thanh niên.
    “Thanh niên Việt từ nghìn xưa dũng mãnh
    Ðã xây đắp cho nước nhà cường thạnh
    Ðỡ giang sơn trong những lúc khuynh nguỵ
    Sử Lạc Hồng từ trước đã từng ghi:
    Thanh niên Việt là trụ đồng nước Việt”
GS NNH dấn thân tranh đấu cho đất nước và gia nhập đảng Đại Việt khi còn rất trẻ. Tìm hiểu về tiểu sử của ông chúng tôi nhận thấy tinh thần hiếu học và cầu tiến của ông là tấm gương sáng ngời cho tuổi trẻ noi theo. Nhà nghèo, không có điều kiện đến trường lớp, nhưng ông đã tự học để cuối cùng đạt được văn bằng Tiến sĩ chính trị học tại Pháp. Học hỏi để tu thân, để trau giồi kiến thức hầu giúp nước, giúp đời chứ ông không màng danh lợi, địa vị, bổng lộc, giàu sang, quyền cao chức trọng. Điều đó có thể chứng minh qua chính cuộc đời của ông.

Khi tham chính ông luôn đặt quyền lợi của tổ quốc lên trên đảng phái và quyền lợi cá nhân. Ông coi tất cả những người thuộc đảng phái khác có cùng một lý tưởng quốc gia đều là anh em nên ông được sự thương mến của mọi người. Lúc dạy học ông là một giáo sư khả kính, tính tình bình dị, mộc mạc.

Với kiến thức uyên thâm, ông luôn mang hết tâm huyết truyền đạt cho môn sinh không phải chỉ có kiến thức chuyên môn mà quan trọng hơn hết là tinh thần yêu nước, hy sinh cho quốc gia, dân tộc.

Về hoạt động đảng phái ông tuyệt đối tôn trọng và áp dụng tinh thần dân chủ trong mọi sinh hoạt và ông luôn quan tâm đến người khác hơn cả bản thân mình. Giáo sư luôn nhắc nhở những chiến hữu của mình phải đấu tranh bằng con đường chính nhân quân tử, tránh những thủ đoạn, lọc lừa để đạt được mục đích nhất thời mà đánh mất lòng tin của mọi người, gây nguy hại cho tổ chức mãi mãi không thể hàn gắn được.

Suốt cuộc đời GS đã hy sinh cho quốc gia dân tộc, lúc còn trong nước cũng như khi ra hải ngoại sống lưu vong. Ông chết đi không để lại tiền bạc, tài sản cho gia đình nhưng để lại cho chúng ta một di sản vô giá, một cái tâm sáng ngời về tinh thần yêu nước. Chúng ta, vì hoàn cảnh phải rời xa quê hương lưu lạc khắp năm châu nhưng vẫn luôn hướng về Đất Mẹ. Bài học về tinh thần Nguyễn Ngọc Huy liệu có giúp cho chúng ta, nhất là thế hệ trẻ gạt bỏ mọi ích kỷ cá nhân, lòng đố kỵ nhỏ nhen, cùng bắt tay nhau đấu tranh cho một Việt Nam thực sự có tự do, dân chủ và độc lập phú cường.

Nói tóm lại GS không để lại cho chúng ta những học thuyết cao siêu mà để lại một bài học vô giá về tấm lòng vì dân, vì nước, hy sinh quyền lợi riêng tư để dấn thân mưu cầu đại cuộc qua chính cuộc đời “tri hành hợp nhất” nói và làm của ông.

Tiếc rằng Giáo Sư qua đời trước khi chủ nghĩa cộng sản Đông Âu và Liên Sô sụp đổ chứ nếu ông còn sống thêm một thời gian nữa thì biết đâu với viễn kiến chính trị rất sâu sắc có lẽ GS đã vạch ra được con đường tươi sáng hơn để giải trừ chế độ cộng sản mang lại tự do, dân chủ và phú cường cho xứ sở.

Lê Đình Anh
Mùa Đông Melbourne 2010


Hoa Kỳ và mặt trận Biển Đông - Trần Binh Nam

Trần Bình Nam

Mặt Trận Biển Đông phải chăng sẽ là mặt trận mở màn cho cuộc tranh chấp Hoa Kỳ – Trung quốc khó tránh được trong thế kỷ này?

Lợi dụng Hoa Kỳ rút lui sau khi thất bại tại Việt Nam và 15 năm sau Liên bang Xô viết (Liên Xô, nay là Liên bang Nga) sụp đổ, Trung quốc đã từng bước tiến hành một kế hoạch bành trướng để chiếm thế thượng phong trên thế giới trong thế kỷ 21. Trung quốc quan niệm rằng nếu thế kỷ thứ 19 là của Anh quốc, thế kỷ thứ 20 của Hoa Kỳ thì thế kỷ thứ 21 phải là thế kỷ của Trung quốc.
Trung quốc không quên thời huy hoàng của nền văn minh cổ đại của mình và ôm mối hận bị các nước Tây phương bắt nạt trong suốt 5 thế kỷ qua, cho nên người Trung quốc không phân biệt chính kiến – quốc gia hay cộng sản –đều ủng hộ nỗ lực này. Để chuẩn bị cho nhiệm vụ lịch sử đó Trung quốc lo phát triển kinh tế, trang bị quân sự, ổn định nội bộ và chuẩn bị tâm lý quần chúng.
Nhiều nhà quan sát Tây phương tuy đồng ý rằng một cuộc đụng độ giữa Hoa Kỳ và Trung quốc khó tránh vẫn nuôi hy vọng Trung quốc càng lớn mạnh càng thấy có nhu cầu hòa bình. Một hệ phái những nhà nghiên cứu khác tin rằng qua quá trình phát triển, hệ thống cộng sản tại Trung quốc tan rã, một nước Trung quốc dân chủ xuất hiện và sống hài hòa trong cộng đồng thế giới. Tuy nhiên dân chủ hay không Trung quốc cũng không từ bỏ mộng trở thành siêu cường số MỘT trên thế giới.

Hiện nay Trung quốc đã tung phương tiện vật chất đến Phi châu, Nam Mỹ và các nước vòng đai Đông Nam Á châu để tạo chân đứng. Lào, Cambodia, Miến Điện, Sri Lanca đều đã cắn mồi và đã nằm trong quỹ đạo của Trung quốc.

Bước đầu của Trung quốc là phải vượt qua vòng vây của miền Tây Thái Bình Dương gồm biển Nhật Bản, biển Phi Luật Tân và Biển Đông. Riêng Biển Đông là cửa chính dẫn vào eo biển Malacca và Ấn Độ Dương và cũng là vùng biển hứa hẹn nhiều tài nguyên thiên nhiên như dầu thô và khí đốt nên Trung quốc trong hơn 50 năm qua đã hướng mọi nỗ lực vào việc chiếm lĩnh Biển Đông để vừa lấy những túi dầu thiên nhiên vừa mở đường ra “biển rộng”.

Tháng 5/2009 Trung quốc cho công bố một bản đồ có hình một cái lưỡi bò bao gồm gần trọn Biển Đông nói là vùng biển thuộc chủ quyền. Tháng 3 năm nay 2010 Trung quốc nói với hai viên chức Hoa Kỳ đang thăm viếng Bắc Kinh rằng Trung quốc xem Biển Đông là vùng Trung quốc có “quyền lợi then chốt” (core interest). Trước đây Trung quốc đã xem Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương là những vùng có “quyền lợi then chốt” với nghĩa là vùng Trung quốc sẵn sàng dùng vũ lực để bảo vệ.
Hai nước bị ảnh hưởng trực tiếp nhất bởi chính sách Biển Đông của Trung quốc là Hoa Kỳ và Việt Nam.

Nếu chiến lược của Trung quốc thành công thế siêu cường của Hoa Kỳ trên thế giới sẽ bị giảm sút, cho nên Hoa Kỳ đến một lúc nào đó phải hành động để bảo vệ quyền lợi của mình. Và trong cuộc tranh chấp của hai lực lượng Việt Nam không thể không vướng vào vì Việt Nam nằm ngay trên con đường tiến (đường biển cũng như đường bộ) của Trung quốc. Tuy nhiên Hoa Kỳ và Việt Nam đều có những khó khăn nên không thể triển khai một thế đáp ứng hữu hiệu ngay từ ban đầu.

Vào thập niên 1970 quan tâm lớn nhất của Hoa Kỳ trên thế giới là Liên Xô. Sau khi tạm liên minh với Trung quốc để cùng chống Liên Xô, Hoa Kỳ yên tâm rút ra khỏi vùng Tây Thái Bình Dương. Đồng minh của Liên Xô là Việt Nam thắng trận (30-4-75) nhưng không thể làm bàn tay nối dài cho Liên Xô vì sự kềm chế của Trung quốc, một người bạn “đồng sàn dị mộng” của Hoa Kỳ sau khi được Hoa Kỳ tặng cho quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (1)

Nhưng vào cuối thập niên 1980 Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, chính sách Thái Bình Dương của Hoa Kỳ phá sản. Trung quốc thay vì là lính giữ cửa không cho Liên Xô vào Biển Đông trở thành thế lực kình chống với Hoa Kỳ. Việt Nam vì sự sống còn đã trở thành một đồng minh bất đắc dĩ của Trung quốc từ đầu thập niên 1990.

Trong bối cảnh địa lý chính trị đó, Trung quốc triển khai mạnh mẽ chính sách bành trướng thế lực ra Biển Đông. Hoa Kỳ bỗng rơi vào thế yếu chiến lược và xoay trở hết sức khó khăn. Việt Nam cũng rất lúng túng trong sự lựa chọn đối sách chống lại sự lấn chiếm Biển Đông và gặm nhắm biên giới đất liền của Trung quốc.

Nếu chỉ ghi những biến chuyển chính từ năm 1958, là năm Trung quốc ban hành quyết nghị nới rộng lãnh hải kể cả lãnh hải chung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ra 12 hải lý, cho đến năm 2010, Trung quốc đã làm nhiều hành động lấn lướt trong Biển Đông trước sự im lặng của Hoa Kỳ và Nhật Bản và sự lúng túng của Việt Nam và của các nước trong khối Asean. Hoa Kỳ chỉ thỉnh thoảng lặp đi lặp lại chính sách hai điểm tại Biển Đông của mình là: (1) không can thiệp vào sự tranh chấp các hòn đảo trong Biển Đông, (2) tôn trọng nguyên tắc quốc tế về việc lưu thông trên biển.

Bản liệt kê những hành động có tính bành trướng của Trung quốc khá dài:

1. Sau khi đã chiếm trọn Hoàng Sa năm 1974, năm 1988 Trung quốc dùng sức mạnh đánh chiếm đảo Johnson Reef South và vài hòn đảo nhỏ khác của Việt Nam trong quần đảo Trường Sa.

2. Ngấm ngầm xây dựng một căn cứ tàu ngầm tại Yulin nằm ở cực nam đảo Hải Nam (do vệ tinh thương mãi của Anh khám phá năm 2007). Căn cứ này có khả năng đồn trú một hạm đội lớn, có hầm trú ẩn cho tàu ngầm nguyên tử và cầu tàu cho mẫu hạm, giúp hải quân Trung quốc hoạt động trong vùng Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

3. Tháng Ba năm 2009 Trung quốc cho tàu ngăn cản hoạt động “dò đáy biển” của chiếc USS Impeccable của Hoa Kỳ ngoài hải phận quốc tế tại một nơi cách bờ đảo Hải Nam 104 km về phía nam. Cuộc chạm trán hết sức gay cấn tưởng chừng có thể nổ súng nếu phía Hoa Kỳ không tự chế.

4. Tháng 6/2009 khi chiến hạm Hoa Kỳ USS John McCain đang cùng với hải quân Phi Luật Tân và Mã Lai Á thao dượt, Trung quốc cho tàu ngầm lén cắt SONAR (máy dò trong nước) chiến hạm John McCain đang dòng theo.

5. Tháng Ba và tháng Tư 2010 Trung quốc cho thao dượt hải quân trong vùng Đông Nam Á xuống tận phía đông eo biển Malacca và thực tập oanh tạc các mục tiêu ngoài biển trong vùng Trường Sa. Mục đích của Trung quốc là nới rộng hoạt động của hải quân ra vùng biển Nhật Bản, biển Phi Luật Tân, biển Indonesia gồm cả quần đảo Marianas và Palau sát với đảo Guam.

6. Và như đã nói, cũng trong Tháng Ba 2010 Trung quốc nhắn với giới chức Hoa Kỳ rằng Trung quốc xem Biển Đông là vùng có “quyền lợi then chốt” của Trung quốc

Ngoài những hoạt động thách thức Hoa Kỳ, Trung quốc cũng đã làm những hành động đơn phương đụng chạm đến quyền lợi của các nước Đông Nam Á, nhất là Việt Nam như:

7. Năm 2007 áp lực công ty dầu khí BP của Anh hủy bỏ giao kèo dò tìm dầu khí ngoài khơi bờ biển Việt Nam

8. Tháng 12/2007, Trung quốc ban hành quyết định thành lập thành phố hành chánh cấp huyện Tam Sa gồm ba quần đảo Hoàng Sa, Trung Sa (Macclesfield Bank) và Trường Sa đặt trực thuộc tỉnh Hải Nam. Tỉnh này được thành lập năm 1988 sau khi tách ra khỏi tỉnh Quảng Đông.

9. Năm 2008 áp lực công ty dầu khí ExxonMobil của Hoa Kỳ hủy bỏ giao kèo dò tìm dầu khí với PetroVietnam trong Biển Đông.

10. Tháng Tư 2009 và tháng Tư năm 2010 Trung quốc đơn phương ra lệnh cấm ngư dân Việt Nam đánh cá trên Biển Đông từ 15/5 đến hết tháng 8 từ vĩ tuyến 12 trở lên. Trung quốc cho tàu của Sở Kiểm Ngư cùng với tàu chiến tháp tùng để thi hành lệnh cấm.

11. Ngày 6/5/2009 Việt Nam và Mã Lai Á nộp cho Liên hiệp quốc bản xác định vùng biển nối dài, Trung quốc đã phản đối để ngăn cản Liên hiệp quốc xét giá trị của vùng tranh chấp. Đồng thời với việc phản đối Trung quốc (như đã nói) cho phổ biến một bản đồ hình lưỡi bò bao gồm gần hết Biển Đông bảo là vùng biển của họ mà không dựa vào một căn bản quốc tế nào cả.

Trong bối cảnh này quan hệ tay ba giữa Hoa Kỳ, Trung quốc và Việt Nam là một quan hệ rất tế nhị.

Hoa Kỳ muốn thực hiện chíến lược gì tại Đông Nam Á để đối đầu với Trung quốc cũng phải bắt đầu bằng một chính sách ve vãn Việt Nam. Việt Nam nằm trên đường tiến của Trung quốc xuống vùng Nam Á châu và Úc châu, Việt Nam có khả năng nhân lực cho một quân đội hùng mạnh và Việt Nam vốn là đối thủ lịch sử của Trung quốc.

Nhưng ve vãn Việt Nam không phải dễ vì hai nước từng là kẻ thù trong một cuộc chiến đẫm máu 10 năm mới tạm hòa với nhau. Trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam không ít đảng viên cao cấp còn mang tâm lý nghi ngờ Hoa Kỳ.

Nỗ lực ve vãn Việt Nam của Hoa Kỳ bắt đầu ngay sau khi chiến tranh Việt Nam (1955-1975) chấm dứt. Tổng thống Carter muốn thiết lập bang giao với Việt Nam càng nhanh càng tốt. Nhưng đảng cộng sản Việt Nam trong cơn say chiến thắng đã đòi hỏi quá nhiều (2) và cơ hội thiết lập bang giao bị bỏ qua. Chính quyền Reagan (1980-1988) và sau đó chính quyền Bush lớn (1988-1992) bận tâm với tình hình Trung Đông và Trung Mỹ nên chỉ quan hệ với Việt Nam qua vấn đề tìm người Mỹ mất tích trong chiến tranh. Cho mãi đến năm 1995 chính quyền Clinton (1992-2000) mới thiết lập bang giao với Hà Nội.

Trong những tháng cuối cùng ở chức vụ tổng thống (sau khi tổng thống Bush nhỏ thắng cử) tổng thống Clinton đã viếng thăm Hà Nội mở đầu cho một giai đoạn quan hệ mới giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Tuy nhiên chính quyền tổng thống George Bush với bộ ba Bush, Rumsfelt, Rice quá bận rộn với cuộc chiến tranh chống khủng bố trong nước và hai trận giặc Afghanistan và Iraq nên lơ là mặt Thái Bình Dương. Cho mãi đến khi bộ trưởng Robert Gates thay ông Rumsfelt vấn đề Đông Nam Á Thái Bình Dương mới được các giới chức chính quyền quan tâm tới. Bộ trưởng Robert Gates từng là giám đốc Trung ương tình báo không quên sự quan trọng của vùng Thái Bình Dương đối với an ninh lâu dài của Hoa Kỳ, và ông Gates đã làm những gì cần thiết để chính quyền Bush và chính quyền Obama (được tổng thống Obama mời ngồi lại ở chức vụ bộ trưởng quốc phòng) quan tâm đến thái độ “coi trời bằng vung” của Trung quốc. Trong những lần đi Á châu họp hội nghị hằng năm với các bộ trưởng quốc phòng của một số quốc gia để thảo luận về an ninh ở Á châu (3) , ông Gates không lần nào quên bày tỏ sự quan tâm của Hoa Kỳ đối với vùng đất quan trọng đó.

Tuy nhiên vấn đề chính sách thuộc Tòa Bạnh Cung và Bộ Ngoại giao. Và trong gần một năm sau khi nhậm chức người ta không thấy tổng thống Obama và bà ngoại trưởng Clinton có một ý kiến rõ rệt nào về một chính sách Á châu, nếu không muốn nói là thái độ thích ứng với chính sách vươn lên siêu cường của Trung quốc.

Hai chuyến viếng thăm chính thức của bà Clinton (2/2009) và sau đó của tổng thống Obama (11/2009) cho những người lãnh đạo Trung quốc đánh giá chính quyền mới là “mềm”. Bà Clinton đến Bắc Kinh với một thái độ khiêm nhượng. Bà yêu cầu Trung quốc hợp tác cùng giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Bà nói không nên để vấn đề nhân quyền làm trở ngại sự hợp tác giữa hai nước để cùng giải quyết vụ khủng hoảng kinh tế và sự nóng dần của bầu khí quyển, mặc dù năm 1995 khi bà đến thăm Bắc Kinh với tư cách một đệ nhất phu nhân của Hoa Kỳ bà đã nhấn mạnh đến nhân quyền.

Chuyến thăm viếng Trung quốc đầu tiên của tổng thống Obama cũng vậy. Không có một sự tiến bộ nào trong quan hệ Mỹ – Trung. Truyền thông bị giới hạn tối đa. Và chỉ có những thỏa thuận không quan trọng “cho có thỏa thuận”. Còn các vấn đề quan trọng khác như điều chỉnh giá đồng yuan, và các biện pháp trừng phạt Iran nếu Iran không tuân hành đòi hỏi của Liên hiệp quốc trong lĩnh vực nguyên tử thì Trung quốc đều làm ngơ không một hứa hẹn nào cả. Kết thúc cuộc viếng thăm không có bản Thông cáo chung. Tổng thống Obama và chủ tịch Hồ Cẩm Đào xuất hiện trước báo chí mỗi người đọc một bản văn soạn sẵn 15 phút miêu tả những gì đạt được theo cách nhìn của mỗi người rồi chia tay không trả lời các câu hỏi của báo chí.

Đánh giá chính quyền Obama là “không đáng ngại” qua các tiếp xúc này, Trung quốc đã đi những bước lấn tới. Như đã nói, tháng 3/2010 Trung quốc nói thẳng với giới chức Hoa Kỳ họ xem Biển Đồng là vùng quyền lợi then chốt, và đó có thể là giọt nước sau cùng làm đầy ly nước.

Hoa Kỳ quyết định phản ứng.

Bà Hillary Rodham Clinton, với tư cách bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ đã bắn phát súng lệnh tại cưộc hội họp hằng năm của Diễn Đàn ARF (4) tại Hà Nội ngày 23/7/2010. Bà Clinton đã chọn một diễn đàn lý tưởng. Năm nay bộ trưởng ngọai giao Việt Nam Phạm Gia Khiêm đương kim chủ tịch hiệp hội Asean ngồi ghế chủ tọa hội nghị ARF.

Buổi họp của ARF là một buổi họp kín, nhưng theo ký giả Mark Landler của tờ New York Times tường trình từ Hà Nội thì bà Clinton đã xác định lập trường của Hoa Kỳ đối với Biển Đông là “Hoa Kỳ xem việc tự do lưu thông, tự do lui tới và sự tôn trọng luật lệ quốc tế trên Biển Đông phù hợp với quyền lợi của Hoa Kỳ” (The United States has a national interest in freedom of navigation, open access to Asia’s maritime commons, and respect for international law in the South China Sea.)

Liên quan đến việc Trung quốc công bố một cách lờ mờ bản đồ (hình lưỡi bò) xác định hầu hết diện tích Biển Đông là của họ mà không dựa vào một thứ luật lệ quốc tế nào cả vào đầu tháng 5/2009, bà Clinton bác bỏ sự tuyên bố chủ quyền đó và nói theo luật quốc tế về biển sự đòi hỏi chủ quyền kinh tế trong Biển Đông chỉ có thể xác định dựa trên chủ quyền hợp pháp về đất và đảo.

Bà nói Hoa Kỳ sẵn sàng yểm trợ các cuộc thảo luận đa phương để quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, và lập trường của bà được 11 nước tham dự ủng hộ với sự hiện diện của bộ trưởng ngoại giao Trung quốc Dương Khiết Trì (Yang Jiechi).

Bà Clinton cũng không quên nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ không thay đổi lập trường căn bản từng lặp đi lặp lại trước đây là Hoa Kỳ không thiên về bên nào trong các cuộc thương thảo đa phương. Trước đây Trung quốc thúc đẩy lập trường thương thuyết với từng nước một (TBN: để dễ áp lực hay mua chuộc) và chưa có nước nào công khai bác bỏ lập trường của Trung quốc, ngoại trừ Việt Nam vì quyền lợi thiết thực của quốc gia đã đòi hỏi thương thuyết đa phương.

Đứng trước lập trường “thương thuyết đa phương” của Hoa Kỳ và sự công khai ủng hộ của 11 nước phó hội khác Trung quốc bị động và bộ trưởng Dương Thiết Trì cho rằng Hoa Kỳ đã vận động trước cho lập trường của Việt Nam.

Việt Nam rất phấn khởi trước lập trường của Hoa Kỳ. Thái độ này được bày tỏ qua các bản tin trên Vietnamnet, báo Tuổi Trẻ, báo Sài gòn Giải phóng (vốn đi bên lề phải) đăng rõ ràng lập trường và lời lẽ cứng rắn của bà ngoại trưởng Clinton.

Hội nghị ARF diễn ra trước ngày 25/7 là ngày hải quân Hoa Kỳ và Nam Hàn mở màn cuộc tập trận phía đông bán đảo Triều Tiên và có dự trù cũng diễn tập trong Hoàng Hải (vùng biển Trung quốc xem là cái hồ sau lưng nhà) với sự tham dự của mẫu hạm nguyên tử tối tân nhất của Hoa Kỳ, chiếc George Washington với 5000 thủy thủ và 200 máy bay.

Việc tái khẳng định lập trường của Hoa Kỳ lần này có thể so sánh với thái độ cương quyết trước đây của tổng thống Kenndey khi quyết định phong tỏa Cuba năm 1962. Tuy nhiên lần này tổng thống Obama gặp nhiều khó khăn hơn tổng thống Kennedy.

Đối với Kennedy là quyết định “hòa hay chiến” khi Hoa Kỳ có bằng cớ Liên Xô đã đặt hỏa tiễn nguyên tử tại Cuba nhắm vào Hoa Kỳ và Hoa Kỳ có đủ khả năng “chiến” làm cho Liên Xô phải thối lui. Lần này tổng thống Obama đang đương đầu với hai trận chiến tranh và cuộc suy thoái kinh tế chưa có lối ra. Ngân sách Hoa Kỳ thiếu hụt và còn nợ hơn 2 tỉ mỹ kim. Chủ nợ lại chính là Trung quốc có khả năng tạo khó khăn tài chánh cho Hoa Kỳ.

Tuy nhiên Hoa Kỳ có lợi thế Hải quân. Hải quân Hoa Kỳ đi trước hải quân Trung quốc ít nhất là 15 năm.

Hoa Kỳ cần khai thác tối đa lợi thế thời gian này bằng cách luôn cải tiến và tối tân hóa hạm đội bằng kỹ năng cao nhất. Một khi hải quân Trung quốc còn cảm thấy sút kém hải quân Hoa Kỳ Trung quốc sẽ dè dặt hơn.

Đồng thời Hoa Kỳ không nên quá nhạy cảm đối với mặt trận tuyên truyền của Trung quốc. Cuộc thao diễn hải quân giữa Hoa Kỳ và Nam Hàn vừa qua dự tính diễn ra cả trong biển Hoàng Hải đã chỉ diễn tập trong biển phía đông Triều Tiên do sự than phiền của Trung quốc là một sự nhượng bộ không cần thiết. Sự nhượng bô này không làm cho tình hình dịu đi mà chỉ khuyến khích Trung quốc.

Hoa Kỳ cần có lập trường cứng rắn bảo vệ các công ty dầu khí của mình ký các giao kèo làm ăn hợp lệ với các nước chung quanh Biển Đông. Trước hết cần khuyến khích công ti ExxonMobil trở lại với giao kèo với Việt Nam tạm ngưng năm 2008.

Hoa Kỳ cần giúp lập một cơ cấu đa phương để dàn xếp công tác “quốc tế hóa” quyền lợi kinh tế của các nước trong vùng trong khuôn khổ Luật Biển và tình hình thực tế của diện địa.

Sau cùng Hoa Kỳ cần gây lại lòng tin nơi các nhà lãnh đạo Việt Nam để vượt thắng tâm lý nghi ngờ.
Công tác sau cùng này không phải dễ dàng nhưng có thể đạt được nếu chính quyền Việt Nam huy động được nội lực nhân dân Việt Nam qua một chương trình cải cách chính trị có nội dung dân chủ, khai dụng tối đa tài nguyên quốc gia để xây dựng một nền kinh tế tự túc có khả năng sản xuất, để từ đó xây dựng một nền quốc phòng mạnh.

Việt Nam cần nghĩ đến sự phát triển hải lục không quân, nhất là Hải quân, và trang bị vũ khí, không giới hạn ở vũ khí quy ước.

Việt Nam cần nhanh chóng biến cải cảng Cam Ranh thành một thương cảng lớn làm nơi buôn bán, ẩn nấp gió bão và tiếp tế bảo trì cho tất cả tàu thuyền mọi quốc gia trên thế giới như một phần trong kế hoạch quốc tế hóa quyền lợi trên Biển Đông.

Lời tuyên bố của bà ngoại trưởng Clinton tại Hà Nội hôm 23/7 đánh dấu chiến lược mới của Hoa Kỳ tại tây Thái Bình Dương đối với Trung quốc. Nhưng chiến lược này chỉ thành công nếu Hoa Kỳ có đủ cương quyết thực hiện, và Việt Nam có đủ không ngoan để khai dụng. Trung quốc sẽ dùng mọi phương tiện để làm nhụt chí Hoa Kỳ nhất là lợi thế “chủ nợ” và tuyên truyền bằng cách lên án Hoa Kỳ hiếu chiến, và dùng thế nước lớn để o ép Việt Nam.

Việt nam, dù muốn hay không lại nằm giữa hai lằn đạn. Hy vọng các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam nhận ra được cơ hội cứu nước trước mắt và hành động một cách xứng đáng với vai trò lịch sử của mình.

Trần Bình Nam
July 29, 2010
binhnam@sbcglobal.net
www.tranbinhnam.com

(1) Trước khi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, Hoa Kỳ đã làm ngơ để Trung quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa, chủ ý để Trung quốc làm lính chận đường tiến của Liên Xô (qua đồng minh Hà Nội) xuống Nam Thái bình Dương và Ấn Độ Dương. Xem tài liệu số 118 (1/2004) Trang Nhà www.tranbinhnam.com trang Bình Luận.
(2) Đòi Hoa Kỳ 3 tỉ mỹ kim xem như tiền bồi thường thiệt hại chiến tranh có tính hạ nhục Hoa Kỳ .
(3) Gọi là Shangri-La Dialogue, lấy tên của một khách sạn ở Singapore, nơi làm trụ sở họp hằng năm.
(4) Asean Regional Forum do Hiệp Hội Asean thành lập tháng 7/1993. Thành viên gồm chính yếu các nước trong khối Asean các quốc gia ven Thái Bình Dương. Thành viên hiện tại gồm: Australia, Bangladesh, Brunei Darussalam, Cambodia, Canada, China, European Union, India, Indonesia, Japan, Democratic Peoples’ Republic of Korea, Republic of Korea, Laos, Malaysia, Myanmar, Mongolia, New Zealand, Pakistan, Papua New Guinea, Philippines, Russian Federation, Singapore, Sri Lanka, Thailand, Timor Leste, United States, Vietnam. Mục tiêu của ARF là “kiến tạo hoà bình và an ninh trong khu vực qua hợp tác và đối thoại.


Ta không về tắm ao ta hay cấu trúc sáu tám một cội buồn - Cung Trầm Tưởng

Cung Trầm Tưởng

LỜI NHẬP

Trước hết, xin nói về nguyên nhân sự ra đời và mục đích của bài thơ này nhằm giúp độc giả hiểu thấu đáo hơn những tình ý tác giả muốn gửi tới họ thông qua bài thơ đảm nhận cùng một lúc hai chức năng: vừa là môi trường chuyển tải thông điệp, vừa chính là thông điệp.

Bài thơ ra đời từ hình ảnh một con vờ tác giả bắt gặp khi còn là một đứa trẻ thơ vào một buổi chiều thu trên mặt nước một ao tù trong cổ thành Sơn Tây. Kể từ buổi sơ ngộ bất ngờ ấy, hình ảnh con vờ ở lại luôn với tác giả như một ám ảnh mông lung, một thắc mắc mơ hồ, một xao động lăn tăn, một ký hiệu u uẩn, một đầu tư thi ca bất trắc, có nguy cơ trở thành vô sinh như thứ cau không trổ buồng. Ý tác giả muốn nói: nó có thể bị ngưng lại ở dạng một biểu tượng thuần tuý vì không có cơ duyên nảy nở thành một mãn thể ngôn ngữ là câu thơ hay bài thơ.

Có hơn một vật hình đến với ta rồi ra đi mất tích luôn: chúng không bao giờ trở thành kỷ niệm. Lý do không phải vì ký ức ta bạc bẽo với chúng mà vì khả năng ngôn ngữ của ta bất cập trước cái muôn màu muôn vẻ của thế giới sự vật. Trong đầu mỗi chúng ta có một nghĩa địa chôn không biết bao nhiêu là bóng ma tiền ngôn ngữ alogon. Cơ bản, mỗi chúng ta đều mắc ít nhiều chứng thất ngữ, căn bệnh của những thi sĩ hụt, poète manqué.

Người là động vật duy nhất có tiếng nói. Mất tiếng nói hay bị cấm nói, nó sống một cuộc sống mất quân bình. Để bù đắp, nó phải sử dụng tiếng kêu, tiếng thở dài, tiếng khóc, tiếng cười và những phương cụ khác của ngôn ngữ thân thể như cặp mắt, đôi môi, hai bàn tay, dáng đi, cách ngồi và những điệu bộ khác để tự khẳng định sự hiện hữu của mình. Nó bắt buộc phải trở lại làm con người tiền sử, một con vật không có tiếng nói, nhưng là một con vật có cái pour-soi biết mình là một con vật.

Chúng ta đang sống trong một thời đại đầy đặc điêu ngoa và xảo trá. Môi trường ngôn ngữ bị lũng đoạn bởi những âm mưu u ám của lũ phù thuỷ, lang băm chính trị đức mỏng tài thô, say mê quyền lực và bạo lực. Trong môi trường bị nhiễm độc này, con chữ trở thành một công cụ của tuyên truyền: cái bẫy gài biến người dân thành một cái máy nghe thụ động, ngu trung và một chiếc loa lặp lại không sai một chữ những khẩu hiệu, sáo ngữ, thần chú, sấm truyền, chỉ thị của bọn phù thuỷ, lang băm. Chúng còn tẩm mị dược vào con chữ để làm bại liệt óc phán đoán của người dân rồi ném họ vào những vạc lửa chiến tranh, những lò thiêu thanh tẩy chủng tộc, những cỗ máy nghiến thanh trừng giai cấp, tất cả đã ngốn ngót 200 triệu sinh linh trong chưa đầy một thế kỷ. Thế kỷ 20 là thế kỷ của một ngôn ngữ đẫm máu.

Ví thế, có những lúc ta đâm kinh tởm tiếng nói và tự đẩy mình vào một tình trạng á khẩu. Sự tự nguyện lưu vong vào cõi vô thanh này đến một lúc nào đó sẽ gây cho ta một cảm giác tắc nghẽn, khó ở. Đây chính là lúc ta cần gặp chàng diễn viên kịch câm Marceau để nhờ chàng giải toả hộ cơn bế ngữ ta đang mắc phải bằng những điệu bộ, cử chỉ của chàng. Điều tài tình là chàng đã khéo léo và linh hoạt sử dụng thân thể mình để “nói” lên một thứ ngôn ngữ tín hiệu giầu sức biểu cảm và tính ẩn dụ. Nhìn chàng diễn xuất, ta có cảm tưởng như cả thân chàng đang nhô ra khỏi cái khối en-soi u đặc của nó để phát biểu cảm nghĩ và bày tỏ thái độ bằng mắt, mũi, môi, tay, vai và cả bằng chân nữa. Nhưng vì đây là một ngôn ngữ trừu tượng, nên khả năng biểu đạt tâm tính, tình cảm của mỗi bộ phận phải được khai thác tối đa nhằm nâng cao hệ số chuyển tải thông điệp của nó. Chẳng hạn như trìu mến bằng mắt, khinh thị bằng môi, cao kiêu bằng mũi, hiếu kỳ bằng cổ, nhún/nhường bằng vai, bình chân nghe ngóng và phẫn nộ bằng tay. Kể cả sống lưng cũng được giao phó nhiệm vụ thông báo nhân cách.

Với Marceau, ngôn ngữ cử chỉ là một ngôn ngữ tín hiệu có hồn. Một thứ thể dục nhằm khai dụng tối đa những hạt mầm ngữ nghĩa ủ trong cơ bắp. Một thứ kịch nghệ toàn năng, sử dụng hết công xuất của một thân thể bén nhạy, mẫn cảm, tinh khôn, uyển chuyển, linh hoạt, vụng về một cách khéo léo, ngang phè một cách dễ thương, nhăn nhó một cách trào lộng, co ro một cách đáo để, hung hăng vô hại, vô ngôn một cách hùng hồn,. Chiếc mặt nạ chân phương, logic của phi lý, người phát ngôn câm của một nghịch dụ ngang tầm với cái nghịch lý trớ trêu của phận người. Tưởng cũng nên nêu lên một nét đặc thù khác của nghệ thuật Marceau: nó tránh sự cường điệu vì đạo đức tự thân của nghệ thuật diễn suất muốn nó phải như vậy.

Một khán giả mẫn cảm thì đọc được cái thông điệp tư tưởng mà ngôn ngữ thân thể ấy muốn chuyển đạt: đó là sự mâu thuẫn đầy tính bi hài và chưa có lời giải của thân phận con người hiện đại, đặc biệt là con người hiện đại tây phương vừa mới ngoi lên khỏi những đổ vỡ vật chất và tinh thần tan hoang do cuộc thế chiến thứ hai để lại. Một cuộc chiến tranh cực kỳ khốc liệt, đã mang trong nó mầm mống của một thế chiến mới dưới một dạng thức mới: cuộc chiến tranh lạnh, trận xung đột ý hệ mà dân tộc Việt Nam đã phải gánh chịu những hậu quả thê lương và lâu dài nhất vì những sai lầm chiến lược chết người của đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN).

TIẾNG GỌI CỦA MỘT CÕI IM

Bây giờ thì tôi hiểu tại sao hình ảnh con vờ lại ở lại với tôi. Nó ở lại vì tôi muốn giữ nó ở lại. Tôi muốn giữ nó ở lại là vì tôi thấy nó là một hình ảnh giầu tính ẩn dụ, làm liên tưởng đến một điều gì đó có ý nghĩa với thi ca. Tôi nghĩ, nếu có cơ duyên, nó có thể trở thành một thi ảnh hàm súc làm tiền đề cho một bài thơ có trọng lượng về tư tưởng, thứ poésie grave hiểu theo nghĩa heideggerienne.

Trong thời gian gần đây, nó bỗng dưng trỗi dậy từ đáy tiềm thức tôi, chập chờn mà mãnh liệt. Chứng thất ngữ tái phát, làm tôi mất ngủ hai đêm liền. Chỉ vì những thây ma tiền ngôn ngữ alogon chưa chịu chết hẳn. Rồi như một phép lạ, một chuỗi tám con chữ tôi không hề chờ đợi bỗng loé lên trong đầu tôi, làm tôi nhỏm dậy, lấy bút ghi vội xuống một tờ giấy trực sẵn ở đầu giường: Lênh chênh nhện nước con vờ lội ao. Tôi giật mình, rõ ràng vờ này và ao này chính là vờ ấy và ao ấy tôi đã bắt gặp trong cổ thành Sơn Tây năm xưa vào một buổi chiều thu, dưới chân một tháp cờ đá ong nâu sẫm và bên cạnh một đề lao tường đá xám xịt và chiếc cổng cao đen hắc sần sùi. Thì ra, tôi đã thai nghén câu thơ này từ 70 năm nay mà không hay!

Thi sĩ Valéry cho biết có nhiều bài thơ của ông ra đời từ một câu thơ ông ngẫu hứng làm ra và thấy ưng ý. Tác giả của bài thơ này cũng ở trong một hoàn cảnh tương tự. Nó ra đời từ một câu thơ bâng quơ, vô vụ lợi, tức là không nhằm phục vụ cho cho một dự án ngôn ngữ nào cả như câu thơ trên. Sau, tác giả nhận thấy câu thơ này có một nội dung tinh thần làm nghĩ đến cảnh đời ao tù nước đọng của khoảng 70% dân tộc ta đang sống tập trung vào những vùng nông thôn nghèo khổ và lạc hậu nhất của đất nước. Ngoài ra, nó còn làm tác giả nghĩ lây sang một hiện tượng phổ biến khác: đó là cái não trạng trì trệ, thụ động mà rất nhiều người Việt chúng ta cho đến thế kỷ 21 này vẫn còn mắc phải, nó bắt nguồn từ cái tâm lý an phận thủ thường, liều thuốc ngủ tạo ảo tưởng, làm cho họ không chỉ bằng lòng với mà còn cảm thấy hãnh diện về cái thân phận ao tù nước đọng của mình: Ta về ta tắm ao ta / Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.

Theo thiển ý, ta chỉ cần thay chữ ao bằng chữ sông thôi thì xoá được nghịch lý trên và làm cho ý hai câu thơ trở nên khoáng đạt hẳn lên: Ta về ta tắm sông ta / Dù trong dù đục sông nhà vẫn hơn. Lợi thế của sông so với ao là nó gợi cho ta hình ảnh một nhân sinh quan sống động, mở, luôn hướng về những chân trời khoáng đãng bao la; về biển, chốn hội tụ - mẫu số chung, văn hoá nhân loại - của những dòng văn hoá dân tộc nhân bản. Một nhân sinh quan như vậy vừa lành mạnh vừa tiến bộ, có thể làm cho dân tộc hãnh diện về nó một cách chính đáng hơn.

CÓ CHĂNG MỘT PHƯƠNG THUỐC CHO CƠN SẦU VẠN CỔ?

Ta chỉ cần nghe âm nhạc của ta, đặc biệt là cổ nhạc, thì thấy được âm chủ của quốc hồn ta. Đó là nỗi buồn vạn cổ, cái gien văn hoá vận vào ta từ ngàn trước đến bây giờ và đến cả ngàn sau nữa nếu ta vẫn nhận nó là định mệnh của ta. Nó là một dạng của bệnh tâm thần, một khuyết tật về bản thể, tạo cảm giác khó ở và là ngọn nguồn của những tình cảm tiêu cực. Như tình cảm yếm thế thấy đời là một bể khổ; hay tình cảm phẫn tồn trước sự bất công của con Tạo bắt ta phải sống lầm quê hương và lầm thế kỷ, nên ta đòi nó phải trả ta về thời ta chưa sinh ra; hay nỗi tủi phận mãn tính ấy, nó làm ta không chỉ xót xa cho ta mà còn trách cứ ta nữa: ta là một hiện hữu luôn luôn khuyết mãn, triền miên hẫng hụt, một hiện hữu không nên hiện hữu; sống cuối cùng chỉ còn vỏn vẹn là một tồn tại đơn chiều, một nội động từ, sự tự co cụm ta vào trong ta hoá thành một cõi ta âm u, bế tắc hoàn toàn.

Trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng ý hệ trầm trọng hiện nay đang diễn ra ở Việt Nam, một câu hỏi cơ bản được đặt ra cho những ai chưa chịu buông xuôi trước định mệnh: Biện pháp nào phải được sử dụng để giải quyết một lần cho xong khuyết tật về bản thể trên?

Theo thiển ý, để hiệu nghiệm, trị liệu pháp phải là một giải pháp tổng trạng (holistic) hai bước.

Trước hết, phải thanh toán chế độ cộng sản, đứa con đẻ của chủ nghĩa hư vô, vật cản chặn đường sống của dân tộc ta. Thay thế nó bằng một chế độ cộng hoà nhân bản lấy tự do chính trị và dân chủ làm hai phương tiện chủ yếu để phục vụ cho cứu cánh tối hậu là một con người tự do tổng hợp: tự do ngoài xã hội và tự do trong tư tưởng. Để đảm bảo sự liên tục và tính chính thống của tân chế độ, những định chế dân chủ vững bền phải được thiết lập và một văn hoá chính trị phải được hình thành bằng những tập quán dân chủ ăn sâu trong tâm thức người dân, hoá thành bản tính thứ hai của họ. Đồng thời, nếp sinh hoạt dân chủ ngoài xã hội phải được bổ sung liên tục bởi những thế hệ cán bộ có kiến thức và ý thức dân chủ cao, có nhiệt tình và đức độ, được đào tạo chính quy trong nhà trường với một chương trình giáo dục đề cao vai trò của chính trị học không chỉ như một khoa học quản trị quốc gia thuần tuý, mà còn là triết học chính trị và đạo đức học chính trị nữa.

Trên phương diện cá nhân, mục đích của nền cộng hoà nhân bản là tạo cơ sở cho việc hình thành một mẫu công dân với tư cách là một chủ thể tự do. Điều này cần nhưng chưa đủ để giải quyết tận căn cái vấn nạn văn hoá, nguồn gốc của nông nỗi lao đao lận đận dân tộc ta phải gánh chịu từ ngàn đời. Vì vậy biện pháp kế tiếp phải là một thứ phân tâm học nhắm vào nguyên nhân của khuyết tật về bản thể trên. Đó là não trạng con vờ, nỗi buồn truyền kiếp; cuống nhau úa trong bụng mẹ, tế bào héo trong đầu cha; sự phối giống mù quáng chết người, đẻ ra một ethos èo uột, kìm hãm sức phát triển hoàn mãn của của cái tâm lý tập thể gọi là quốc hồn. Thiếu cái nguyên lý thống nhất tối thượng này, một cộng đồng dù đồng chủng, đồng văn cũng không thể trở thành một chỉnh thể quốc gia được.

Văn hoá của một dân tộc là cái hồn của lịch sử của nó. Và, lịch sử của dân tộc ta là lịch sử của một lệ thuộc từ ngàn đời vào hệ tư tưởng Trung Hoa, nói rõ hơn là hệ tư tưởng Hán. Cho đến thế kỷ 21 này, ta vẫn sống dưới sự đô hộ văn hoá của kẻ thù truyền kiếp của ta. Điều nghịch lý là ta chống nó, nhưng ta lại thờ thần thánh của nó trong nhà ta; ta thù nó, nhưng ta lại thuộc lòng lịch sử của nó hơn là thuộc lòng lịch sử của ta; ngôn ngữ hàn lâm của ta thiếu chữ của nó thì trở nên què quặt; mà ngôn ngữ nào thì tư tưởng ấy: tư tưởng của ta, sự sao chép với dăm ba hiệu đính tiểu xảo của tư tưởng của nó; thiếu Lão, Khổng, Mạnh, hồn ta hẫng, mất điểm tựa; lịch của nó với những cát thần, hung thần, giờ tốt, giờ xấu và linh tinh được dùng làm lịch của ta; tử vi của nó, thuật bói dựa trên 15 ngôi sao giả tưởng và có lối suy diễn tuỳ tiện, coi thường logic, mê hoặc ta và được ta coi như một tương lai học chính xác; cũng thế, một sản phẩm khác của óc mê tín tàu là khoa phong thuỷ từ nguyên thuỷ là một thứ duy linh học địa lý lấy hai nguyên tố gió và nước làm phương hướng quyết định vị trí thổ phần của người chết, nó được ta coi trọng như một khoa học nghiêm túc chi phối kỹ thuật kiến trúc nhà cửa, trụ sở kinh doanh, hoàng cung, phủ chúa, miếu mạo, đền đài, mộ phần của ta; kể cả khi ta buồn ta cũng phải mượn cái buồn của Thôi Hiệu, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha, Vương Phạm Chí và linh tinh để buồn.

Một hệ luận được rút ta từ phân tâm học trên. Muốn giải quyết tận căn nỗi buồn truyền kiếp của ta, nỗi buồn nòi - chủ đề của bài viết này – ta phải giải quyết nguồn cơn của nguồn cơn: đó là cái vạn cổ sầu của Tàu. Xét rộng ra, để khôi phục Việt hồn, trị liệu pháp phải khởi sự với việc giải Hán hoá (déhanisation) tư tưởng ta đang mắc kẹt trong thiên la địa võng của những huyền sử, dã sử, phong dao, tục ngữ, tập quán, lễ nghi, phim ảnh, tiểu thuyết của Tàu. Đây, cơ bản, là một tiến trình giải phóng người tù khỏi gông cùm của một tinh thần sùng Hán và sợ Hán. Nó làm thui chột khả năng phán đoán độc lập của hắn, biến hắn thành một tên nô lệ bằng lòng với, để không nói là tự hào về, sự lệ thuộc vô điều kiện vào hệ tư tưởng Hán của mình. Sự vong thân này khoác mặc một kích thước cộng đồng: chúng ta là loại Hoa kiều hạng hai sống trên đất nước của chúng ta. Đến đây thì ta hiểu được thâm ý của người Tàu khi họ bảo Việt Nam là một phần đất tạm mất của họ.

Để có một ý niệm cụ thể về sự đô hộ văn hoá của đế quốc phương bắc lên chúng ta, ta hãy nhìn vào chẳng hạn những hiện tượng tiểu thuyết của La Quán Trung, Kim Dung, Quỳnh Dao, kiếm hiệp tàu và tầm ảnh hưởng của chúng tới nếp nghĩ và lối sống của ta. Có rất nhiều người Việt, kể cả những người tây học, đã nhẩy bổ vào và ôm chầm lấy và nằm lòng tới từng chi tiết một những cuốn tiểu thuyết tàu ấy, không hiểu rằng chúng thật ra chỉ là sản phẩm của cái chinoiserie, một tập hợp láo nháo của những hoang tưởng chết người đã làm khốn đốn chính nước Tàu trong suốt chiều dài lịch sử 5000 năm của nó. Người ta tâm đắc với những mưu mẹo của Khổng Minh, Tào Tháo; chúng còn được dùng làm bảng chỉ đường cho một số người đang cầm trong tay vận mệnh của đất nước ta nữa!

Một nước muốn độc lập về chính trị thì phải có một nền kinh tế phát triển. Nhưng nó vẫn chưa phải là một chỉnh thể quốc gia nếu nó không có một văn hoá riêng của nó, làm dân tộc của nó khác với các dân tộc khác. Khác với quan điểm của Lenin theo đó văn hoá được tạo ra bằng hoạt động của đông đảo quần chúng lao động, văn hoá ở đây được hiểu theo một nghĩa rộng hơn: nó là sự nghiệp của toàn dân, mẫu số chung của mọi thành phần xã hội, người giàu cũng như người nghèo, nông dân cũng như công nhân, lao động cũng như trí thức. Nó là nguyên lý thống nhất trăm thu về một mối, hồn khí tạo bản sắc và niềm tự hào của một dân tộc. Nó là một hiện tượng lịch sử, tập đại thành của những giá trị tinh thần tích tụ trong quá trình phát triển của một dân tộc.

Cả ba điều kiện trên mà một nước cần phải có để trở thành một chỉnh thể quốc gia, ĐCSVN với tư cách là đảng cầm quyền duy nhất trong suốt mấy chục năm nay đã không thực hiện được cho dân tộc của nó. Trái lại, cung cách hành sử khúm núm, quỵ luỵ trước Bắc triều của nó có tất cả những nét đặc thù của cái tâm lý tập thể thuở nào: tâm lý phiên quốc, tiểu nhược quốc; tâm lý chư hầu, cái phức cảm tự ti dân tộc; tâm lý triều cống: nó dâng hiến cho Bắc triều nào là biển và hải đảo, nào là đất liền và tài nguyên rừng đầu nguồn, nào là khoáng sản miền cao nguyên trung phần, nơi mà đế quốc bành trướng phương bắc đã dòm ngó từ lâu vì giá trị chiến lược vô song của nó.

Về mặt tinh thần, lịch sử cho thấy ĐCSVN phải luôn dựa vào ngoại bang để tồn tại. Nó là đứa con đẻ ngu trung của hệ tư tưởng marxist – leninist – maoist. Trên thực tế, nó chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa Mao, sự trá hình của chủ nghĩa Đại Hán truyền thống coi tộc Hán là trung tâm của loài người. Đây là dạng cực đoan của chủ nghĩa chủng tộc, có dáng dấp của chủ nghĩa chủng tộc thượng đẳng Đức Quốc xã – ta hãy nhìn vào thái độ đối xử hiện nay của người Hán với người Tây Tạng – cái tâm thái có từ thời tộc Hán chinh phục được và đặt ách thống trị cực kỳ dã man của nó lên các tộc khác mà nó gọi là di, man, mạch, cửu di bát man, mười bảy sắc dân mọi rợ.

Ở kỷ nguyên toàn cầu hoá này, quan hệ liên lập giữa các quốc gia trở nên chặt chẽ hơn và điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập một trật tự thế giới mới hài hoà hơn, công bằng hơn, bình đẳng hơn và văn minh hơn. Do đó, khó mà xẩy ra trường hợp một nước nhỏ bị thôn tính bởi nước lớn, trừ phi nước lớn cài được người của nó vào những cơ quan đầu não của nước nhỏ. Đìều bất hạnh cho chúng ta là trường hợp hãn hữu này lại xẩy ra trên ngay đất nước chúng ta. Chỉ vì những người cầm đầu ĐCSVN như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Chí Vịnh đã cam tâm nối giáo cho giặc bắc phương. Họ là sự lại giống ở cấp số nhân của những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống.

Sự phản bội dân tộc ngày càng gia tăng của tập đoàn cầm quyền của CSVN đang đặt đất nước chúng ta trước nguy cơ mất cả lãnh thổ lẫn quốc hồn. Hoạ Bắc thuộc lần thứ ba đang ló dạng ở cuối chân trời. Ta có thể mường tượng được những hậu quả gây ra cho dân tộc ta của hoạ này qua kịch bản sau. Hoa ngữ sẽ trở thành quốc ngữ, đẩy Việt ngữ xuống hàng một thổ ngữ như tiếng Mán, tiếng Chàm, tiếng Thượng, tiếng Khả lá vàng; quốc sử sẽ được viết lại theo quan điểm Đại Hán coi tộc Việt là một tộc thiểu số và lãnh thổ Việt Nam là phần đất tạm mất, nay đã thu hồi lại được; Việt Nam sẽ trở thành vệ tinh thứ năm trên lá quốc kỳ của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, v.v.

Những mất mát cơ bản trên là gì nếu không là những hậu quả gây ra bởi hoạ diệt chủng? Theo định nghĩa của công pháp quốc tế, một dân tộc bị mất lịch sử, mất văn hoá, tức là mất cội nguồn, bản sắc và quốc hồn của nó, là một dân tộc bị diệt chủng. Vâng, ĐCSVN đang đặt dân tộc Việt Nam trước một nguy cơ chưa từng thấy trong lịch sử của nó: nguy cơ bị diệt chủng.

Đường cứu rỗi phải bắt đầu với việc xét lại cái quan điểm cổ điển theo đó Việt Nam chỉ là một cậu bé tí hon sống cạnh tên khổng lồ Trung Hoa lúc nào cũng lăm le muốn nuốt chửng cậu để thoả mãn cơn mộng bá vương muôn đời của nó; và, chính cái tương quan lực lượng lớn-bé này là nhân tố quyết định đường hướng hành động của cậu bé: cậu không thể không nhún nhường, không thể không cư xử cho phải đạo - đạo Hán – không thể không chấp nhận cái thân phận vệ tinh của mình.

Quan điểm trên đúng, nhưng chỉ đúng một phần. Bởi vì trung tâm của vấn đề không phải là địa lý chính trị mà là văn hoá. Ý người viết muốn nói đến sự lệ thuộc quá đáng, để không nói là mù quáng, của cậu bé vào hệ tư tưởng của tên khổng lồ, nó làm nhụt tinh thần tự chủ của cậu. Và, tên khổng lồ biết rõ nhược điểm này của cậu, nên nó bèn sử dụng ưu thế văn hoá hầu như tuyệt đối của nó làm một thứ vũ khí mềm để khuất phục và đồng hoá cậu bé.

Vậy, đường cứu rỗi phải bắt đầu với việc tự ta giải thoát ta khỏi sự lệ thuộc thật là tai hại trên. Phản ứng hữu hiệu nhất là một phản cảm dị ứng với tất cả những cái chinoiserie của hệ tư tưởng Hán. Nhất định không bắt chước những mưu mẹo kiểu Khổng Minh của La Quán Trung. Nhất quyết không muốn làm quân tử tàu, kiếm sĩ kiểu Kim Dung, anh hùng kiểu kiếm hiệp tàu, và gì nữa. Tất cả những thứ này đều là sản phẩm của một đầu óc hoang tưởng, bệnh hoạn, nguỵ khoa học; liều thuốc ngủ đánh gục ý chí tự cường của ta; vật cản chặn đường tiến của dân tộc ta và của bản thân ta.

Đường cứu rỗi: sự kết hợp nhuần nhuyễn cái gốc minh triết quần chúng thực dụng và trong sáng của ta với tri thức duy lý có hệ thống và phương pháp suy luận chặt chẽ, mạch lạc, sáng sủa của Tây phương nhằm xua tan những đám sương u mộng của ý hệ Hán đang phủ kín hồn ta.

Đường cứu rỗi: sự bổ sung và trau giồi không ngừng tri thức ta bằng những kiến thức tích cực, những kiến thức vui: những hòn đá tảng của một nhân sinh quan mới yêu đời, ham sống, hướng thiện và yêu cái đẹp. Một nhân sinh quan của một mẫu người tổng hợp, bộ ba làm nên bởi sự cộng sinh hài hoà trong mỗi chúng ta của mẫu người cá nhân thân ái với tha nhân, mẫu người xã hội tự nguyện vì công ích và mẫu người công dân thiết tha với tổ quốc. Một nền cộng hoà được gọi là nhân bản khi nó lấy bộ ba này làm cứu cánh tối hậu của nó.

MỘT BÀI THƠ VỀ CON VỜ

Cái buồn thường dễ lây hơn cái vui. Mà cái buồn ta lây của Tàu, buồn vạn cổ, là cái buồn chết người. Thứ thuốc phiện tạo ảo tưởng, làm nhụt ý chí và bào mòn sinh lực của người nghiện. Muốn cai nó, theo thiển ý, trước hết ta phải thành thật với ta, nghĩa là ta phải biết rằng ta đang bị nó nô lệ hoá. Ta phải tự nội soi ta nhằm phát hiện những ngầm phá nó gây ra trong ngõ nghách tâm hồn ta. Phẫu não này là một ca mổ in vivo, hiểu như ta tự thực hiện nó ngay trong đầu ta nhằm trừ khử những chất độc của nỗi buồn chết người ấy mà hồn ta đang nhiễm phải. Đây là một trong những bước đầu mà trị liệu pháp tổng trạng nói trên phải thực hiện để đảm bảo cho việc giải Hán hoá của ta đạt được kết quả mỹ mãn.

Riêng đối với tác giả, hình ảnh con vờ - biểu tượng của một kiếp sống lênh chênh, phù phiếm - cứ lởn vởn đâu đó trong đầu hắn kể từ khi hắn còn là một đứa trẻ thơ. Chính nỗi ám ảnh mông lung và dằng dai này là động cơ thúc đẩy sự ra đời của bài thơ về con vờ này mà tác giả, như đã nói ở trên, đã thai nghén trong mấy chục năm trời mà không hay.

Bài thơ nên được coi như một cố gắng phác tả cấu trúc của cái gien văn hoá là nỗi buồn nòi của ta, một dị bản của nỗi buồn vạn cổ của Tàu. Đề tài thuộc phạm trù bản thể học, trừu tượng, trùng phức, nên bài thơ - một tập hợp của 28 câu lục bát – không thể không có những giới hạn nhất định của nó.

Tác giả hy vọng, với những thông tin cung cấp bởi thố lộ trên, độc giả như một du tử rong chơi trong cõi chữ sẽ cảm thấy bớt bỡ ngỡ trước cái phẫn khí quyết liệt của bài thơ ưu uất ta trách ta và ta phủ định ta này.
    TA VỀ KHÔNG TẮM AO TA
    HAY
    CẤU TRÚC SÁU TÁM MỘT CỘI BUỒN

    Buồn nòi bủa lưới giăng tơ
    Lênh chênh nhện nước con vờ lội ao.

    Sòng đời chẵn lẻ thế nào?
    - Thưa con số hẩm gieo vào cửa tôi.

    Nhau con úa dạ mẹ rồi!
    Chôn lầm mảnh đất mồ côi nhân tình.

    Tà quyền phù thuỷ âm binh,
    Nhà cò nhà vạc lục bình trôi sông.

    Tiên thiên thù oán chất chồng,
    Sống cùm kinh cụ, chết còng tân toan

    Phẫn tồn một cái búng tăn
    Ao tù diếc (1) quẫy vết nhăn mặt người.

    Cái lỳ của tĩnh trêu ngươi,
    Cái u của tịch mốc đời héo hon.

    Mười đi chín mất một còn,
    Máu trào cửa tử cờ son đẫy đùa.

    Quê cha trái đắng được mùa,
    Quả lừa thu ấy còn chua đến giờ.

    Vung tay đòi xoá ván cờ:
    Vẫn lờ đờ kiếp con vờ lội ao.

    Cái buồn huyền sử xanh xao
    Ủ mầm trong máu ngấm vào cung thương (2).

    Mười đi may có một về,
    Đường mòn con vác não nề trên lưng.

    Ba đời đời vẫn kín bưng!
    Mẹ ơi kiếp tới Mẹ đừng sinh con.


    Minnesota, ngày lễ phục sinh, năm 2010
    Cung Trầm Tưởng
(1) Cá nước ngọt, sống chủ yếu ở ao hồ, ít ở sông.
(2) Hai âm trong hệ ngũ âm: cung, thương, chuỷ, giốc, vũ; gọi chung là âm nhạc nghiêng về vãn than.


Văn Thư Ủng Hộ CĐNVQGTD tại Úc Châu

TẬP THỂ CHIẾN SĨ VIỆT NAM CỘNG HÒA HẢI NGOẠI
TRUNG TÂM ĐIỀU HỢP TẬP THỂ CHIẾN SĨ VIỆT NAM CỘNG HÒA
ÂU-CHÂU
www.trungtamdieuhopauchau.com
trungtamdieuhopauchau@yahoo.fr
    Văn Thư số :023/30072010

    Kính gửi :
BAN TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỰ DO ÚC CHÂU
TIỂU BANG NSW

Trung Tâm Điều Hợp Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Âu Châu hoàn toàn ủng hộ và hoan nghênh tinh thần của CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỰ DO ÚC CHÂU - TIỂU BANG NSW trong mục tiêu Chống Văn Hóa Vận CSVN.

Mọi hình thức văn nghệ giao lưu văn hóa có tính cách tuyên truyền gián tiếp hay trực tiếp làm lợi cho Tập đoàn lãnh đạo CSVN đều cần phải được Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Tự Do Tỵ Nạn Cộng sản và các Tổ chức, đoàn thể Quân Dân Cán Chính VNCH trên toàn cầu họp lực, chung sức ngăn chặn và tẩy chay tận gốc.

Kính chúc Ban Tổ Chức chống Văn Hóa Vận CSVN và CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỰ DO tại ÚC CHÂU - TIỂU BANG NSW gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp trong trách vụ này và tiếp tục đoạn đường tranh đấu cho lý tưởng Tự do.

Kính chào Đoàn kết và Quyết thắng.

Paris, ngày 30 tháng 07 năm 2010.

Xử Lý Thường Vụ
Trung Tâm Trưởng
TTĐH/TTCS/VNCH/ÂC

Nguyễn Nhựt Châu